Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Âm nhạc cổ điển

Âm nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc nghệ thuật được bắt nguồn từ truyền thống tế lễ ở phương Tây, bao gồm cả nhạc tôn giáo và nhạc thế tục trong một khoảng thời gian dài từ thế kỷ 11 đến nay.
Nhạc Âu Châu được phân biệt rõ ràng với nhiều loại nhạc không có nguồn gốc từ châu Âu và nhạc thị trường bởi những hệ thống ký hiệu âm nhạc của chính nó được sử dụng từ thế kỷ 16. Ký hiệu âm nhạc ở phương Tây được các nhà soạn nhạc sử dụng để quy định cho người biểu diễn về cao độ, tốc độ, phách, nhịp điệu riêng và cách thể hiện chính xác nhất của một đoạn nhạc. Thể loại nhạc này cho phép mọi người có thể biểu diễn tùy hứng và cải biên tự do, mà chúng ta thường xuyên được nghe trong những dòng nhạc nghệ thuật không bắt nguồn từ châu Âu (như trong nhạc Ấn Độ cổ điển và nhạc dân gian của Nhật Bản) và nhạc thị trường.
Thuật ngữ "nhạc cổ điển" không xuất hiện cho đến đầu thế kỷ 19, khi người ta nỗ lực "phong thánh" cho khoảng thời gian vàng son của Johann Sebastian Bach và Beethoven. Tham khảo mới nhất của thuật ngữ này được ghi lại bởi Từ điển tiếng Anh Oxford là khoảng vào năm 1836.
Các tác phẩm âm nhạc cổ điển được phân chia theo các giai đoạn chính sau:
Trung cổ: thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi đơn âm với các ca khúc thế tục.
Phục hưng (Renaissance): khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.
Baroque: khoảng 1600-1750, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.
Cổ điển (Classicism): khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.
Lãng mạn (Romanticism), 1815-1910: là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.
Thế kỷ 20: thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện đại và Hậu Hiện đại.
Âm nhạc đương đại: thuật ngữ thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.
Tiếp đầu ngữ tân thường được dùng để chỉ âm nhạc thế kỷ 20 hay đương đại được soạn theo phong cách của các giai đoạn trước đây, như cổ điển, lãng mạn, v.v... Ví dụ như tác phẩm Classical Symphony của Prokofiev được coi là một tác phẩm "Tân Cổ Điển".
Việc chia các thời kỳ âm nhạc phương Tây ở một mức độ nào đó là không hoàn toàn chặt chẽ, các giai đoạn thể gối lên nhau. Ngoài ra mỗi giai đoạn lại có thể được chia nhỏ theo thời gian hoặc phong cách.
Biểu đồ dưới đây liệt kê các nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng nhất theo các thời kỳ. Xem danh sách đầy đủ hơn tại Biểu đồ niên đại các nhà soạn nhạc cổ điển.
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Âm nhạc thời kỳ Baroque
Âm nhạc thời kỳ Baroque là một phong cách âm nhạc phương Tây, được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1600 đến 1750. Nó nối tiếp Âm nhạc thời kỳ Phục Hưng và là giai đoạn trước Âm nhạc thời kỳ Cổ điển. Từ "Baroque" là tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là Ngọc trai xấu xí.
Âm nhạc thời kỳ này cho thấy được sự sáng tạo các âm sắc. Trong giai đoạn này các nhà soạn nhạc và các nghệ sĩ biểu diễn sử dụng nhiều các kỹ thuật phức tạp, thực hiện thay đổi trong ký hiệu âm nhạc và phát triển các kỹ thuật chơi nhạc cụ mới. Âm nhạc baroque mở rộng quy mô, phạm vi và tính phức tạp của hiệu năng nhạc cụ và cũng thiết lập các thể loại âm nhạc như opera, cantata, oratorio, concerto, sonata. Nhiều thuật ngữ âm nhạc và các khái niệm từ thời kỳ này vẫn còn đang được sử dụng cho đến ngày hôm nay.
Thuật ngữ "Baroque" thường được sử dụng bởi các sử gia âm nhạc để mô tả một loạt các phong cách từ một vùng địa lý rộng, chủ yếu là ở châu Âu, bao gồm một khoảng thời gian hơn 150 năm. Trong một thời gian dài nó được sử dụng như một thuật ngữ quan trọng đầu tiên được áp dụng cho kiến trúc nhưng trong thực tế nó đã xuất hiện trong các tài liệu tham khảo về âm nhạc.
Vào khoảng những năm 1600 ở châu Âu, một số thay đổi khác biệt xuất hiện trong cách tư duy về mục tiêu, văn bản và hiệu suất của âm nhạc. Một phần những thay đổi này đã được cách mạng, thận trọng phát động bởi một nhóm trí thức ở Florence được gọi là Camerata, đã tiến hóa thành tiền thân của phong cách baroque. Quá trình chuyển đổi bắt nguồn từ các trung tâm văn hóa của miền bắc nước Ý, sau đó lan sang Rome, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và cuối cùng đến Anh.
Một sự thay đổi giữa thời kỳ Phục hưng và phong cách Baroque có thể được phân biệt bởi dàn nhạc hoặc các nhóm nhạc cụ. Nhạc cụ hoặc giọng hát được nhóm lại với nhau được gọi là phối ngẫu.
Các hình thức âm nhạc:
· Overture: là một hình thức âm nhạc của Pháp phổ biến thời Baroque
· Allemande: là một điệu nhảy phổ biến có nguồn gốc từ thời kỳ phục hưng ở Đức
· Courante: là một điệu nhảy sống động của Pháp
· Sarabande: là một điệu nhảy ở Tây Ban Nha
· Gigue: là một điệu nhảy có nguồn gốc từ Anh
· Gavotte
· Bourrée
· Minuet
· Passepied: là một điệu nhảy dân gian miền nam nước Pháp, tại các tỉnh ở Vavarais như Languedoc, Dauphiné, và Provence.
· Rigaudon
Các thể loại âm nhạc:
- Thanh nhạc: Opera, Masque, Oratorio, Passion, Cantata, Mass, Anthem, Monody, Chorale
- Khí nhạc: Chorale composition, Concerto grosso, Fugue, Suite (Allemande, Courante, Sarabande, Gigue, Gavotte, Bourrée, Minuet, Passepied, Rigaudon), Sonata (Sonata da camera, Sonata da chiesa, Trio sonata), Partita, Canzona, Sinfonia, Fantasia, Ricercar, Toccata, Prelude, Chaconne, Passacaglia, Chorale prelude, Stylus fantasticus.
Các nhạc cụ chính thường được sử dụng:
- Bộ dây: Violin, Viol, Viola, Cello, Contrebass, Lute, Theorbo, Mandolin, Guitar, Harp.
- Bộ gỗ: Recorder, Bassoon
- Bộ đồng: Horn, Sackbut, Cornett, Serpent
- Bộ đây phím: Clavichord, Harpsichord, Organ
Các nhà soạn nhạc:
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Âm nhạc thời kỳ Cổ điển
Thời kỳ cổ điển trong âm nhạc phương Tây thường được chấp nhận là bắt đầu vào khoảng năm 1730 và kéo dài cho tới 1820. Tuy nhiên, thuật ngữ âm nhạc cổ điển được sử dụng trong một ý nghĩa thông tục để mô tả một loạt các phong cách âm nhạc phương Tây từ thế kỷ 9 đến nay, và đặc biệt là từ thế kỷ 16 hoặc thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bài viết này là về thời gian cụ thể 1750-1820.
Giai đoạn cổ điển nằm giữa Âm nhạc thời kỳ Baroque và Âm nhạc thời kỳ Lãng mạn. Những nhà soạn nhạc nổi tiếng trong thời này là Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, và Ludwig van Beethoven; những tên tuổi khác đáng được nhắc tới bao gồm Gioachino Rossini, Luigi Boccherini, Muzio Clementi, Antonio Soler, Antonio Salieri, François Joseph Gossec, Johann Stamitz, Carl Friedrich Abel, Carl Philipp Emanuel Bach, và Christoph Willibald Gluck. Ludwig van Beethoven thỉnh thoảng cũng được xem như là nhà soạn nhạc thời Lãng mạn hay trong thời kỳ chuyển tiếp sang nhạc thời Lãng mạn. 
Franz Schubert cũng là một nhạc sĩ trong thời kỳ chuyển tiếp, tương tự như Johann Nepomuk Hummel, Mauro Giuliani, Friedrich Kuhlau, Fernando Sor, Luigi Cherubini, Jan Ladislav Dussek, và Carl Maria von Weber. Giai đoạn này đôi khi được gọi là kỷ nguyên Vienna Cổ điển, bởi vì một số nhà soạn nhạc như Wolfgang Amadeus Mozart, Joseph Haydn, Antonio Salieri và Ludwig van Beethoven đều có một thời gian làm việc ở Viên, hoặc như Franz Schubert sinh ra ở đó.
Âm nhạc thời kì cổ điển có kết cấu nhẹ hơn và đơn giản hơn so với Âm nhạc thời kỳ Baroque Tính đa dạng và tương phản ngày càng trở nên rõ rệt hơn trước cùng với sự thay đổi phổ biến thường xuyên về âm sắc, giai điệu có xu hướng ngắn hơn và nhịp điệu rõ ràng hơn.
Dàn nhạc đã tăng kích cỡ và phạm vi, đàn Harpsichord dần được thay thế bởi đàn Piano và từ đây nhạc cụ này ngày càng trở nên phổ biến, thông dụng hơn.
Các thể loại được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này là sonata, Tam tấu đàn dây, Tứ tấu đàn dây, Giao hưởng, concerto, Dạ khúc và Divertimento. 
Các nhạc cụ chính thường được sử dụng:
- Bộ dây: Violin, Viola, Cello, Contrabass
- Bộ gỗ: Basset clarinet, Basset horn, Clarinette d'amour, Classical clarinet, Chalumeau
- Bộ đồng: Buccin, Ophicleide.
- Bộ dây phím: Clavichord, Fortepiano, Harpsichord 
Các nhà soạn nhạc:
Mời thưởng thức một số tác phẩm thời kỳ Cổ Điển:
W.A. Mozart - Piano Sonata No 11 in A - Major, K.331 (Olga Jegunova)
L.V. Beethoven- "Moonlight" Sonata op 27 # 2 Mov 3 (Valentina Lisitsa)
Joseph Haydn - Cello Concerto No. 1 (Mstislav Rostropovich)

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Âm nhạc thời kỳ Phục Hưng
Âm nhạc thời Phục Hưng là âm nhạc được viết tại Châu Âu trong thời kỳ Phục Hưng. Các nhà nhạc sử học - với những bất đồng đáng kể - đều thống nhất cho rằng thời kỳ này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 15 với sự lụi tàn của thời kỳ Trung cổ, và kết thúc vào khoảng thế kỷ 17, với sự tiếp nối của giai đoạn âm nhạc Baroque, do đó trong những các hiểu khác, âm nhạc Phục Hưng đã bắt đầu manh nha trước thời kỳ Phục Hưng trong lịch sử khoảng một trăm năm. Cũng như những môn nghệ thuật khác, âm nhạc thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự phát triển của giai đoạn lịch sử cận đại: sự nâng cao ý thức về quyền con người; sự phục hồi của văn chương và di sản nghệ thuật Hy Lạp và La Mã cổ đại; sự gia tăng của những cách tân và khám phá; sự phát triển của các tập đoàn thương mại; sự lớn mạnh của giai cấp tư sản; và phong trào Cải cách Kháng cách. Xã hội đầy biến động này làm nảy sinh một ngôn ngứ âm nhạc chung, thống nhất, chẳng hạn phong cách nhạc phức điệu của Trường nhạc Pháp-Flemish.
Chống lại những phức tạp của Ars nova, hầu hết các nhà soạn nhạc đầu thế kỉ 15 ưa thích phong cách âm nhạc đơn giản hơn với những giai điệu chảy trôi êm ả, những hòa âm nghe êm tai hơn và ít nhấn mạnh vào đối âm hơn. Nhà soạn nhạc người Anh John Dunstable là người đầu tiên đẩy mạnh việc hướng tới một phong cách đơn giản hơn. Những nét thanh nhã trong phong cách của ông sớm được các nhà soạn nhạc khác ở lục địa châu Âu tiếp thu, đặc biệt là những người phục vụ các công tước Bourgogne miền bắc nước Pháp. Những nhà soạn nhạc Bourgogne này nổi tiếng bởi những chanson trong đó một bè giọng thể hiện giai điệu chính và một hoặc hai bè khác đảm nhiệm vai trò phần đệm. Những người Bourgogne, đầu tiên là Machaut, cũng phát triển thông lệ sáng tác mass với các phần như một tổng thể hòa nhập. Kết quả là mass trở thành một thể loại bất hủ, về tầm vóc có thể sánh với các bản giao hưởng thế kỷ 19. Các mass sử dụng một bè cao nhất thường được dựa trên những chanson hay những giai điệu thế tục khác. Thực tế này phản ánh ảnh hưởng gia tăng của mối quan tâm đến mảng thế tục trong thời Phục Hưng.
Trong viết nhạc đối âm, những nhà soạn nhạc thời Phục hưng dựa nhiều vào việc mô phỏng, sự trình bày liên tiếp, gần gũi về khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng ý đồ giai điệu. Kỹ thuật mô phỏng đã được sử dụng từ cuối thế kỷ 14 nhưng trong thời Phục hưng nó đã trở thành một yếu tố cấu trúc chính trong âm nhạc. Nếu một bè giọng bắt chước một bè giọng khác một cách nhất quán trong một khoảng cách thời gian dài vừa phải, hai bè giọng sẽ hình thành nên một luân khúc. Trong âm nhạc thời Phục hưng, những cặp bè giọng chuyển dịch trong một canon suốt cả tác phẩm hay một phần tác phẩm trong khi những mô phỏng ngắn hơn diễn ra trong những bè giọng khác.
Nhà soạn nhạc nhiều tài nhất đầu thời Phục hưng là Guillaume Dufay. Ông đã viết các motet có sự phức tạp gần với phong cách của ars nova cũng như các chanson theo một kiểu mới hơn và nhẹ nhàng hơn. Nhà soạn nhạc nổi bật về thể loại chanson là Gilles Binchois. Ảnh hưởng của những nhà soạn nhạc Bourgogne đến giữa thế kỉ 15 đã suy giảm. Từ khoảng năm 1450 đến khoảng 1550 hầu hết các chức vụ về âm nhạc quan trọng ở châu Âu do những nhà soạn nhạc sinh vào thời đó ở Hà Lan, Bỉ và những vùng của nước Pháp kề cận đó nắm giữ. Những nhà soạn nhạc này thường được gọi là người Hà Lan theo tên vùng đất quê hương họ.
Một trong những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của nghệ thuật âm nhạc châu Âu thời Phục Hưng là sự gia tăng mức độ sử dụng quãng ba (ở thời Trung cổ, các quãng ba bị coi là quãng nghịch). Nhạc phức điệu ngày càng trở nên trau chuốt hơn trong suốt thế kỷ 14, với các giọng mang tính độc lập cao: đầu thế kỷ 15 cho thấy sự đơn giản hóa, với các giọng thường thiên về tính uyển chuyển. Điều này có thể thực hiện được nhờ vào sự gia tăng đáng kể về âm vực trong âm nhạc - so với thời kỳ Trung Cổ, biên độ âm vực hẹp tạo ra sự tương phản lớn khi chuyển đoạn.
Các đặc tính về âm vực (trái với âm điệu) của âm nhạc thời kỳ Phục Hưng bắt đầu bị phá vỡ dần vào giai đoạn cuối bởi việc gia tăng sử dụng các quãng năm, cái sau này đã phát triển thành một trong những đặc tính về âm điệu.
Những đặc điểm cơ bản của Âm nhạc Phục Hưng là:
Âm nhạc dựa trên các điệu
Kết cấu phong phú hơn từ bốn phần trở lên.
Kết cấu âm nhạc thiên về hòa quyện hơn là tương phản
Hòa âm được chú trọng hơn với các dòng và chuỗi hợp âm
Nhạc phức điệu là một trong những thay đổi tiêu biểu cho âm nhạc thời kỳ Phục Hưng. Nó có vai trò thúc đẩy việc sử dụng các dàn hợp tấu lớn ơn và đòi hỏi một dàn nhạc cụ có khả năng hòa quyện lẫn nhau trong toàn bộ biên độ âm vực.
Các thể loại nhạc tôn giáo chủ yếu tồn tại qua suốt thời kỳ Phục Hưng là mass và motet, và một số thể loại khác được phát triển vào giai đoạn cuối, đặc biệt khi các nhà soạn nhạc lễ nghi bắt đầu áp dụng một số thể loại nhạc thế tục (chẳng hạn như madrigal) để thực hiện ý tưởng của riêng mình.
Các thể loại linh nhạc phổ biến bao gồm mass, motet, madrigali spirituali và laude.
Trong giai đoạn này, nhạc thế tục đã có những đóng góp lớn, với sự phát triển phong phú về thể loại. Nhưng cần cẩn trọng khi đánh giá về cái gọi là sự bùng nổ về tính đa dạng vì công nghệ in ấn được phát minh vào thời kỳ này vừa giúp cho sự truyền bá âm nhạc được rộng rãi hơn đồng thời giúp việc lưu giữ các bản nhạc thời kỳ này cũng trở nên dễ dàng hơn so với âm nhạc thời kỳ Trung cổ. Có thể nói phần lớn âm nhạc thời kỳ Trung cổ đã bị chôn vùi theo thời gian và vẫn là bí mật với nhân loại ngày nay. Nhạc thế tục thời kỳ Phục Hưng gồm có các ca khúc cho một hoặc nhiều giọng, chẳng hạn như ở các thể loại frottola, chanson và madrigal. 
Nhạc thế tục là thể loại âm nhạc độc lập với các nhà thờ. Những phong cách chủ yếu có lied của Đức, frottola và madrigal của Ý, chanson của Pháp, và villancico của Tây Ban Nha. Các thể loại nhạc thế tục có lời bao gồm madrigal, frottola, caccia, chanson với hình thức rất phong phú (rondeau, virelai, bergerette, ballade, musique mesurée), canzonetta, villancico, villanella, villotta, và lute song. Một số hình thức kết hợp như motet-chanson và motet thế tục cũng xuất hiện.
Nhạc không lời thời kỳ này gồm có hợp tấu consort cho recorder và viol cùng một số nhạc cụ khác, vũ nhạc cho hợp tấu. Các thể loại phổ biến gồm toccata, prelude, ricercar, canzona, và intabulation (intavolatura, intabulierung). Hợp tấu vũ nhạc không lời có thể chơi bằng basse danse (hay bassedanza), pavane, galliard, allemande, hoặc courante.
Vào cuối thời kỳ này, một số thể loại tiền thân của opera cũng được biểu diễn như độc xướng, hài kịch madrigal và intermedio.
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Âm nhạc thời kỳ Trung cổ
Âm nhạc thời Trung cổ là những tác phẩm âm nhạc phương Tây được viết vào thời kỳ Trung cổ (khoảng 500-1400). Thời kỳ này bắt đầu với sự sụp đổ của Đế chế La Mã và kết thúc vào đầu thế kỷ 15. Thời điểm ra đời và sụp đổ của thời kỳ Trung cổ và sự bắt đầu của thời kỳ Phục hưng rất khó xác định; các mốc thời gian lấy trong bài viết này thường được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu âm nhạc.
Nhạc trung cổ bao gồm cả nhạc tôn giáo và nhạc thế tục. Trong thời thượng kỳ trung cổ, thể loại nhạc Liturgy (một thể loại nhạc dùng trong các nghi lễ tôn giáo), chủ yếu là Thánh ca Gregoria, là nhạc đơn âm. Các thể loại nhạc phức điệu Polyophony bắt đầu phát triển vào giai đoạn Trung kỳ Trung cổ, trở lên thịnh hành vào cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14. Sự phát triển của những thể loại âm nhạc này thường có liên quan tới nhạc Ars nova. Một thể loại vượt xa về mức độ tinh tế là motet, phát triển từ thể loại clausula của nhạc nhà thờ thời trung cổ và sau này trở thành thể loại nhạc phổ biến nhất trong nhạc phức điệu thời kỳ trung cổ. Trong khi những bản motet đầu tiên là nhạc liturgy hoặc nhạc tôn giáo, vào cuối thế kỷ 13 thể loại này đã mở rộng ra gồm cả nhạc thế tục và nhạc theo chủ đề, ví dụ như nhạc về tình yêu cung đình. Cuối cùng, nhạc không lời cũng được phát triển trong thời kỳ này, nhờ vào sự phát triển của nhạc kịch truyền thống và nhu cầu tăng cao của các cung đình. Vũ nhạc, thông thường được ứng tác dựa trên những câu thơ quen thuộc, là thể thoại nhạc không lời lớn nhất đương thời. Tiêu biểu như thể loại nhạc thế tục Ballata, rất thịnh hành trong thời kỳ Trecento thế kỷ 14 ở Italia, có nguồn gốc từ vũ nhạc không lời thời trung cổ.
Ở thời Trung cổ, hầu hết các nhạc sĩ chuyên nghiệp đều được nhà thờ Cơ đốc giáo tuyển dụng. Vì nhà thờ đối lập với ngoại giáo liên quan đến Hy Lạp và La Mã cổ đại nên nó không khuyến khích việc biểu diễn âm nhạc Hy Lạp và La Mã. Hậu quả là loại âm nhạc này bị tàn lụi. Người ta biết rất ít về thể loại thánh ca không nhạc đệm được sử dụng trong những nghi lễ nhà thờ thời kỳ đầu. Tuy nhiên thể loại thánh ca Cơ đốc giáo xuất hiện được bắt nguồn từ âm nhạc lễ nghi của đạo Do Thái và những giai điệu thế tục thời đó. Những giai điệu thánh ca phát triển ở Roma được sáng tác và ấn định cho những trình tự cụ thể trong những nghi lễ nhà thờ trong thời kỳ từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 7. Thánh ca La Mã được biết tới như thánh ca Grêgôriô theo tên của Giáo hoàng Grêgôriô I, Giáo hoàng Vĩ đại, người có thể đã sáng tác một số giai điệu và là người tích cực khuyến khích các nhà thờ sử dụng âm nhạc được lễ nghi hóa một cách có thứ tự. Vì Grêgôriô và các Giáo hoàng về sau ưa thích thánh ca Grêgôriô hơn những thể loại khác đã phát triển ở châu Âu, thánh ca Grêgôriô cuối cùng đã thế chỗ cho hầu hết những thể loại khác. Phong cách thánh ca Grêgôriô và các thể loại thánh ca khác được gìn giữ trong nhiều bản thảo viết tay. Các ký hiệu âm nhạc được sử dụng trong những bản thảo viết tay này thuộc hệ thống ký hiệu neume, cội rễ sớm nhất của hệ thống ký hiệu âm nhạc hiện đại.
Âm nhạc Trung cổ sử dụng rất nhiều nhạc cụ bộ dây gảy như đàn luýt, mandore, gittern và harp psaltery. Đàn dulcimer, tương tự như psaltery và zither, có nguồn gốc thuộc bộ dây gảy nhưng đến thê kỷ 14 nó trở thành nhạc cụ bộ gõ nhờ sự xuất hiện của kỹ thuật chế tạo mới có thể tạo ra được dây đàn bằng kim loại.
Âm nhạc thời kỳ Trung cổ đặt ra nền tảng thực hành về lý thuyết và ký âm cái sẽ hình thành lên cả nền âm nhạc phương Tây của ngày hôm nay mà đóng góp quan trọng và rõ ràng nhất là sự phát triển của một hệ thống ký âm hoàn thiện; tuy nhiên chính những nguyên lý tiền đề, đặc biệt là về nhịp điệu và âm sắc, cũng có vai trò quan trọng không kém trong sự phát triển của âm nhạc phương Tây sau này
Ảnh hưởng của nhạc trung đại có thể thấy rõ ở âm nhạc cổ điển phương Tây (chẳng hạn như các tác phẩm của Johannes Brahms). Nó cũng ảnh hưởng tới nhạc Rock cổ điển từ năm 1950 tới 1970, có thể thấy trong các tác phẩm The House of the Rising Sun (vốn là một bản dân ca của Mỹ được thu âm thành công bởi ban nhạc The Animals vào năm 1964) và Stay Away, Joe (ca khúc của Sid Wayne và Ben Weisman sử dụng trong bộ phim cùng tên năm 1968). Tại Berlin, năm 1989, sự kết hợp của âm nhạc trung cổ và heavy metal đã hình thành lên ban nhạc Corvus Corax, với phong cách âm nhạc được gọi là "Mittelalter metal", hoặc Rock Trung cổ, được mô tả như một sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới, và được kế thừa bởi In Extremo, Subway to Sally, Morgenstern và nhiều nghệ sĩ khác. Léonin và Pérotin có ảnh hưởng trực tiếp tới các nhạc sĩ của thể loại nhạc tối thiểu như Steve Reich. và La Monte Young.
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Nhạc đương đại
Trong định nghĩa rộng và phổ thông, Nhạc Đương Đại (Contemporary music) là nhạc thời hiện tại, nhạc đương thời, là bất kỳ âm nhạc nào được viết trong ngày nay, có thể thuộc nhiều thể loại nhạc khác nhau.
Tuy nhiên, về mặt thuật ngữ âm nhạc chuyên môn và phân chia thời kỳ âm nhạc, Nhạc Đương Đại được hiểu là sự hiện đại hóa của loại Nhạc nghệ thuật (art music, còn gọi là "Dòng nhạc chính thống" hay "nhạc bác học"), đặc biệt là khí nhạc của dòng nhạc cổ điển và bán cổ điển Tây phương, là sự mở rộng của Nhạc Cổ điển Đương đại và có thể bao gồm những loại nhạc sau đây:
Thời kỳ sau năm 1945, Âm nhạc hiện đại (hay còn gọi là "Trào lưu nhạc mới" - Modernism) sau khi Anton Webern qua đời (kể cả Âm nhạc chuỗi (serial music hay total serial music), Âm nhạc cụ thể (concrete music, có thể là sự sắp đặt âm thanh với các tiếng động thu từ thế giới tự nhiên), Nhạc thể nghiệm (experimental music), Nhạc phi giai điệu hay Nhạc phi chủ âm (atonal music, tức là nhạc không được viết theo một giọng (gamme, key) nhất định), v.v...
Trong ý nghĩa thâu hẹp, Nhạc Đương Đại được hiểu là Nhạc Cổ điển Đương đại (sau năm 1975), bao gồm Âm nhạc hậu-hiện đại (post-modern music), Nhạc âm phổ (spectral music), Nhạc tối giản (minimalist music), Nhạc điện thanh (electro acoustical music hay electronic-computer music), Nhạc ngẫu nhiên (aleatoric music) v.v...
Nói chung trong nghĩa hẹp, trước hết Nhạc Đương Đại bao gồm những tác phẩm khí nhạc thuộc dòng nhạc chính thống của châu Âu đầu thế kỷ 20 - những tác phẩm âm nhạc phủ nhận hệ thống giọng điệu đã tồn tại gần 3 thế kỷ. Nhạc Đương Đại hiểu theo nghĩa này là nhạc được phát triển lên từ âm nhạc cổ điển, gồm các dòng nhạc soạn cho dàn nhạc giao hưởng, cho hòa tấu hoặc độc tấu nhạc cụ, cho dàn hợp xướng. 
Trong bối cảnh Nhạc phổ thông, từ ngữ Nhạc Đương Đại đôi khi được đùng để mô tả vài xu hướng nhạc đương thời [5]. Các loại hình nhạc Pop (Nhạc phổ thông), nhạc Jazz của thập niên 80 và 90, tuy có thể coi là đương đại trong thời kỳ đó, nhưng sẽ không còn được xem là đương thời trong thế kỷ 21 hiện tại. Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp âm nhạc, đặc biệt trong 5 năm gần đây đã giới thiệu nhiều thể loại nhạc chưa bao giờ nghe nói tới trước đó. Do đó, thuật ngữ Nhạc Đương Đại còn có thể được định nghĩa thay đổi, theo xu hướng thị trường hiện nay.
(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Theo https://sites.google.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...