Những sự lạ trong làng thơ Việt
Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói lên đến tận Thiên Tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Thằng nào đốt rơm?
(Thơ dân gian)
Rượu và hoa
Tôi vẫn hằng tin rằng thơ là rượu. Có người nghiện rượu thì cũng có người nghiện
thơ. Thấy thơ là say như điếu đổ, như người dân quê tôi say hát giã gạo: ”Đêm
khuya nghe tiếng chày khắc cối. Bạt gia đình ra đi…” Nhiều người đẹp vì mê thơ,
say thơ mà mê luôn người làm thơ, dù nhà thơ đều nghèo kiết xác. Rượu thì từ cổ
xưa đến giờ vẫn rượu ấy, men ấy. Say cho đến tận cõi chân tâm! Rượu ta, rượu
Tây vẫn là rượu ấy, khó nhầm! Tôi cũng hằng tin thơ là hoa, hương hoa. Như cây
cỏ, mỗi hồn người khai nở một hương sắc riêng chẳng giống nhau bao giờ. Nhưng tất
cả vẫn là hoa ấy! Đã rượu thì có rượu nặng rượu nhẹ, có rượu gạo, rượu vang, rượu
whisky, rum... Đã hoa tất có hoa dại, hoa lai giống, hoa ghép cành nở muôn hồng
nghìn tía. Lai giống ghép cành tạo ra hoa ấy, những bông hoa lớn hơn, hương sắc
quyến rũ hơn. Nhưng vẫn là hoa ấy, cái đẹp vĩnh cửu ấy!
Cái sự rượu và hoa ấy thật tự nhiên. Thơ cũng vậy. Có thơ cổ, thơ mới, thơ ta,
thơ Tây, lại có thơ do lai giống mà thành. Đã là lai tạo tất có tốt có xấu, có
thất bại, có thành công. Thơ Mới (1932 - 1945) là đứa con xinh đẹp, quyến rũ của
sự lai tạo lớn giữa thi nhân Việt với nền thơ Pháp thế kỷ XIX. Thơ Mới lên ngôi
thống soái thi đàn Việt, ngoài cái mới, cái lạ, cái hay nhiều người đã bàn đã
nói, nó còn chứng tỏ một điều thật hệ trọng ít người để ý: Có sự đồng điệu lớn
trong hồn thơ ta và thơ Tây! Ấy là sự gặp gỡ của Con Người Cá Thể Nhân Loại!
Thơ Mới rồi cũng cũ đi, vì con người luôn luôn đi tìm chính mình ở phía trước. Ở
phương Tây, ngay các nhà thơ Việt Nam vừa tiếp cận với nền thơ lãng mạn Pháp,
thì có nhóm thơ đã từ bỏ loại thơ sụt sùi, sướt mướt này để tìm đến những cách
tân trong thơ. Thơ họ dồn nén hơn, thực hơn, mạnh bạo và trần trụi hơn. Cho
nên, sau Thơ Mới, có thể sẽ có một cuộc lai giống thơ lần nữa, làm cho thơ Việt
mới hơn, hợp thời, hợp người hơn chăng?
Việc đề xướng loại thơ không vần những năm 50 mà đại biểu là Nguyễn Đình Thi,
Trần Dần, sự táo tợn và mạnh bạo trong ngôn từ và cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền
ở miền Nam những năm 60 đều gây dị ứng đối với nhiều người làm thơ, kể cả các
nhà thơ tiền chiến mà trước đó trên chục năm họ là lớp tiên phong bảo vệ, hô
hào đổi mới trong thơ. Những năm gần đây Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Văn Cầm
Hải, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh v.v… đều là những người tiên phong trong trong
lao động chữ thơ, cấu trúc câu thơ. Tuy nhiên, nhiều nhà thơ, nhiều tập thơ có
cách biểu hiện lạ hoặc mạnh bạo, trần trụi hoặc đi vào những khu vực mới của
tâm trạng... bị nhiều người đời chê bai. Có tập bị “đánh” tới tấp. Một số tờ
báo gọi loại thơ này là “lai căng”, “thơ dịch”, “thơ bí hiểm”, “hũ nút”, thậm
chí không ngại dùng đến các từ “bệnh hoạn”, “dâm ô”, “thơ tục”... Rồi bị “rút
phép thông công”, bị xay bột… Hình như đang có một sự “độc quyền” trong in ấn,
thưởng thức thơ. Đến nỗi có nhóm thơ phải tự in thơ mình bằng vi tính rồi đi tặng
người đọc. Sao chúng ta không bình tĩnh, công bằng, độ lượng hơn với những tìm
tòi, thể nghiệm như thế? Sự ra đời của Thơ Mới 60 năm trước không là bài học nhỡn
tiền rất quý hay sao? Tôi thấy rất lạ, rất lạ!.
Một và tất cả
Đọc lại tuyển tập Những gương mặt thơ mới gồm 2 tập (NXB Thanh Niên,
1994) tôi chợt phát hiện ra một sự lạ lý thú. Hai tuyển tập với 1000 trang in
thơ và phát biểu của 173 tác giả (chưa là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nên mới
gọi là gương mặt mới). Trong phần tự bạch, hai phần ba số tác giả (trên
100 người) cho rằng thơ hiện nay là “lạm phát”, “dở”, “thơ in báo nhiều nhưng
không khác gì hàng nội hóa ế ẩm”. Có người ví thơ hiện nay như “mì ăn liền”,
“thơ thông tấn”, “thơ dỏm”. Thậm chí có một số tác giả trẻ chưa từng có tên
trên thi đàn bao giờ, nay được tuyển vào tập thơ cũng lớn tiếng chê thơ hôm
nay! Sau khi “phán xét” nền thơ chung, tất cả các “gương mặt thơ mới” ấy đều khẳng
định rằng họ cố gắng để có được tiếng thơ “đích thực”. Có nghĩa là cái nền thơ
thì dở, chỉ duy nhất họ là “chân thơ”, có nghĩa là “trừ họ ra”, tất cả đều
xoàng cả! Đó mới là sự “lạ lùng quá, lạ lùng không chịu nổi!” (Bắt chước Olga
Bergholz).
Ôi, có được một hai tác giả thơ “đích thực”, “chân thơ” như thế thật là diễm
phúc cho nền thi ca Việt Nam! Nhưng đọc cả trăm nhà thơ ai cũng lớn tiếng “chê”
thơ chung và tự nhận mình là thơ đích thực ấy, tôi mới té ngửa ra rằng: Ở xứ ta
tất cả các nhà thơ đều dở, trừ một người, đó là người đang “phán xét thơ”!
Nhưng oái ăm thay, cả nhà thơ duy nhất đó lại bị 99 nhà thơ khác xếp vào loại
thơ “dỏm”! Có nghĩa rằng các nhà thơ Việt Nam ta tất cả đều “siêu thơ”, thật
thơ và tất cả đều “thơ mì ăn liền”, “ế ẩm”. Lạ lùng nhất là vừa qua, một tổ chức
có tên là Trung tâm Văn hoá Doanh nhân không liên quan gì đến thơ cả, cũng đứng
ra tổ chức bình chọn “100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX” (có lẽ để đánh quả thương
hiệu?). Và kết quả công bố danh sách 100 bài, thì nhiều nhà thơ, kể cả người trong
ban tuyển chọn, tuyên bố là “chỉ có 50%, thậm chí chỉ 30 bài là hay thực sự”.
Có nhiều người do mối quan hệ “có đi có lại” mà chọn bài của họ, nên không phải
là thơ hay mà là thơ trung bình yếu. Ấy là thơ Việt đang có vấn đề. Tôi thực sự
hoang mang khi sự lạ lùng buồn cười nói trên có cả trên những trang “thảo luận
về thơ” trên báo Văn nghệ thời gian vừa qua. Nhà thơ nào cũng phán
quyết, chê bai thơ hiện nay, trừ anh ta ra! Cái tương quan “một và tất cả” này
xin các nhà thơ lý giải giùm cho! Biết tin ai đây!.
Thơ và giải thưởng
Nhìn lại phần thế kỷ 20 và 7 năm đầu thế kỷ XXI đã qua, chưa bao giờ ở nước ta
lại nhiều cuộc thi thơ, nhiều giải thưởng thơ như vài chục năm lại đây. Báo
trung ương thi thơ, báo địa phương cũng thi thơ, báo Tiền Phong thi
thơ, báo Phụ Nữ cũng thi thơ. Quân đội thi thơ, dân sự thi thơ, các
ngành các giới thi thơ. Ngành công an thi thơ, ngành pháp luật thi thơ, ngành
sinh đẻ có kế hoạch cũng thi thơ v.v… Cứ như thơ là thuốc chữa bách bệnh vậy.
Đã thi là có giải thưởng. Lại có loại giải thưởng định kỳ 5 năm như Giải thưởng
Văn học Nghệ thuật Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước; rồi giải thưởng hàng năm
như giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam; giải thưởng văn học miền núi,
giải thưởng văn học thiếu nhi, “văn học công nhân” (!), “văn học công an”
v.v... Năm rồi lại có giải thưởng của ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học
Nghệ thuật Việt Nam trao cho các tác phẩm “xuất sắc” của các hội viên địa
phương (?). Bây giờ thơ đều do các tác giả tự bỏ vốn in, nên chỉ in 500 bản tặng
bạn bè. Cho nên thơ ở Hà Nội thì Hà Nội đọc, thơ ở Sài Gòn thì Sài Gòn đọc. Vì
thế mà thơ các tác giả ở tỉnh lẻ, dù hay đến mấy, cũng không bao giờ được các
nhà thẩm định thơ của Hội Nhà văn dòm ngó đến! Vì thế, nên trung ương có giải
thưởng văn học, các tỉnh cũng phải sinh ra giải thưởng văn học của tỉnh. Ví dụ
giải thưởng văn học Hùng Vương của Vĩnh Phú, giải thưởng Văn học
Cố Đô của Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Du của Hà Tĩnh, Hạ Long của
Quảng Ninh, giải thưởng Lưu Trọng Lư của Quảng Bình, Đào Tấn của
Bình Định v.v... Có thể nói không ai thống kê hết các giải thưởng văn học nghệ
thuật, giải thưởng thơ mấy năm qua. Như vậy thơ được thẩm định, được bình giá,
được xếp đặt ngôi thứ liên tục và các nhà thơ được giải cũng nhiều không kể xiết,
có người giành được một lúc nhiều giải thưởng!
Ở địa phương nọ, tôi thấy trong mấy năm qua có chục anh chị làm thơ, lần lượt
người nào cũng được giải thưởng không cuộc thi này thì cuộc chấm khác. Thế là
cuối cùng thơ của ai cũng đương nhiên thuộc vào loại “thơ được giải” (tức thơ
hay)! Nhìn rộng ra cả nước cũng vậy, trong chục năm qua có tới ba phần tư số hội
viên thơ của Hội Nhà văn Việt Nam đã được lên ngôi do giành được các giải thưởng
về thơ ở trung ương, địa phương, các cấp, các ngành, các báo... Đương nhiên cuộc
thi thơ nào cũng “rất” công tâm và “vì nghệ thuật”! Cũng cần nói thêm là nhiều
loại giải thưởng văn học (trong đó có thơ) như thế cũng phát triển với kinh tế
thị trường. Giá trị vật chất các giải thưởng thơ ngày càng “đậm đà” hơn. Từ 2
triệu, 5 triệu một giải nhất cách đây 3 năm nay đã lên tới 10, 15, 20 triệu!
Hàng tốt thì giá phải cao chứ! Như vậy là thơ ta đang phát triển. Cứ nhìn vào đội
ngũ trùng điệp các nhà thơ nhận được giải thưởng của xứ ta ai dám bảo thơ không
phát triển?
Ấy thế mà lạ lùng thay, nhà thơ, nhà phê bình nào cũng kêu ca, la ó về một nền
thơ làng nhàng, chỉ biết “ăn theo” trên các trang báo. Có điều gì bất ổn, chính
xác hơn là sai lạc ít nhất là một trong hai phía: Các nhà chấm giải và các nhà
phê bình, phán xét thơ. Còn bản thân thơ thì cố nhiên nó vẫn thế, chưa có cuộc
cách mạng thực sự nào từ Thơ Mới đến nay. Biết ai đúng ai sai mà phân xử đây?
Khó thật, lạ thật!.
Ai là “nhà thơ”?
Nhà thơ hiểu nghĩa của công việc là người làm thơ (Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội năm 1977 định nghĩa nhà thơ “là người chuyên sáng tạo văn
có vần để biểu thị hoặc gợi mở tình cảm bằng âm thanh, nhịp điệu, hình tượng”),
tức cũng như nhà nông là người làm ruộng, nhà giáo là người dạy học. Ấy là cách
gọi tên theo công việc làm. Cái danh xưng nhà nông ấy không hề có các thứ bậc
kèm theo như “nhà nông trung ương”, “nhà nông địa phương”, “nhà nông trẻ”, “nhà
nông già”... bao giờ cả! Nhà nông ít chữ nghĩa, nhưng họ lại hiểu rất đúng
nghĩa chữ “nhà nông” của mình, còn các nhà văn thì sao? Xin thưa đây là sự lạ!
Nhà thơ Việt Nam ta có thứ bậc hẳn hoi: “nhà thơ trung ương”, “nhà thơ địa
phương”, “nhà thơ trẻ”, “những gương mặt thơ mới” v.v... Tất cả đều được xếp ghế,
xếp chiếu rất cẩn trọng như các loại cấp bậc nhà binh hay học hàm học vị trong
khoa học. Do sự xếp ghế, xếp chiếu ấy mà “các nhà thơ trung ương” có cách ăn
nói, phán xét theo một thứ ngôn ngữ riêng phù hợp với “địa vị cao” của mình. Từ
đó sinh ra một cuộc chạy đua vào Hội Nhà văn Việt Nam. Không phải chạy bằng thơ
hay, văn tốt, mà chạy bằng tiền, quà cáp, nhậu nhẹt, bằng vận động đồng hương,
bạn bè, thân quen. Cứ đến những ngày Hội đồng thơ, Ban chấp hành Hội Nhà văn họp
bỏ phiếu kết nạp hội viên mới là tin tức náo loạn giới cầm bút, những cú điện
thoại tới tập gửi tới các thành viên hội đồng. Một nhà thơ sau cuộc “chạy chí
chết” ấy, vào được Hội Nhà văn rồi, thở phào nói với tôi: ”Thế là em toại nguyện
rồi. Bây giờ thì chả cần viết lách gì nữa!”. Sự lạ ấy ai cũng biết từ rất nhiều
năm nay nhưng ai cũng tuân thủ, không có ý kiến khác. Buồn hơn là không ai ngạc
nhiên với điều đó cả!
Lạ lùng hơn nữa là có một qui định không thành văn nào đó, không hiểu xuất phát
từ ông “quan thơ” nào, người ta chỉ gọi những người làm thơ là hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam hiện nay là NHÀ THƠ, còn những người làm thơ khác đều không được gọi
như thế, mà khi cần phải giới thiệu với công chúng thì họ bị gọi là “tác giả
thơ”, hoặc “người làm thơ trẻ”! Xin nêu một ví dụ sốt dẻo nhất. Trong tuyển tập
2 tập ngàn trang mà tôi nhắc tới ở trên, nhà xuất bản và người tuyển chọn đã xếp
các nhà thơ có tên tuổi ở miền Nam (cũ) như Bùi Giáng, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Tuệ
Mai... vào Những gương mặt thơ mới, tức là lớp thơ “đàn em”, mới phát hiện
ra hay mới xuất hiện! Thực ra các ông Bùi Giáng, Nguyên Sa, Du Tử Lê... đã là
nhà thơ nổi tiếng lừng lững trong những năm 60 của thế kỷ, khi mà nhiều nhà thơ
Việt Nam (Tức Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) chưa biết thơ là gì. Thậm chí rất
nhiều người đến nay cũng không thể sánh được với sự nổi tiếng của các nhà thơ
miền Nam cũ đó! Tôi là một người làm thơ đi học và trưởng thành ở miền Bắc cũng
thuộc được đôi bài của Bùi Giáng, Nguyên Sa... từ mấy chục năm trước, sao lại gọi
là “gương mặt thơ mới”? Có phải vì các ông ấy không là hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam? Lạ thật! Lạ thật! Một điều lạ lùng nữa là THƠ VIỆT, NHÀ THƠ VIỆT NAM,
nhưng chỉ có những “nhà thơ nhà nước”, “nhà thơ quốc doanh” ăn lương cách mạng;
còn hàng trăm hàng ngàn nhà thơ Việt ở miền Nam cũ, hay đang ở hải ngoại thì
không được liệt vào đội ngũ nhà thơ Việt. Cái sự phân biệt đó thể hiện trong việc
tham gia các tuyển tập thơ, hay tham gia xét giải thưởng về thơ hay văn chương
Việt. Chúng ta đang tự làm bé mình đi, làm yếu mình đi. Gần đây trên Tạp
chí Thơ hay một số tuyển tập do nhà nước xuất bản có khắc phục chuyện phân
biệt đối xử này, như in thơ Thanh Tâm Tuyền và một số tác giả khác. Nhưng chưa
có một văn bản chính thức nào của các cơ quan quản lý văn hóa về việc xem xét
những nhà văn ở miền Nam trước năm 1975 và ở hải ngoại để mời họ về lại trong đội
ngũ nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Chúng ta hô hào đoàn kết, hòa giải dân tộc, hướng
đến tương lai, nhưng đó mới là khẩu hiệu, mà chưa được tổ thức thực hiện một
cách riết róng. 32 năm Thống Nhất Tổ Quốc rồi, không làm được việc ấy là một sự
lạ lùng đáng xấu hổ!.
Thảo luận gì?
Có ai đó thống kê rằng, ở xứ ta mỗi ngày bình quân có hai tập thơ được ấn hành.
Có nghĩa là mỗi năm khiêm tốn cũng có tới 700 tập thơ ra đời. Đó là chưa kể thơ
in trên sáu trăm tờ báo và tạp chí trong nước, thơ của người Việt ở hải ngoại.
Nhiều người gọi thời kỳ này là “Giai đoạn bùng nổ thơ”. Có người lại lo rằng
“thơ bị lạm phát”, bị xuống giá. Có người lại mừng: có “bó đũa ắt có cột cờ”!
Người già trong làng thơ (hoặc đang có nguy cơ hết khả năng sáng tạo thơ) thì
ca cẩm: thơ lớp trẻ thiếu vốn sống, thiếu chiều sâu tâm thức và sự điềm đạm,
thiên về xảo thuật chữ, ngoa ngôn! Lớp trẻ lại ngán lớp thơ già cứ giữ mãi điệu
“ru em” vần vè ê a cũ, cứ như đặt lời mới cho làn điệu dân ca đã có sẵn từ ngàn
năm! Thế là thảo luận, tranh luận. Thế là sừng sộ, đao búa chan chát. Cuộc chiến
không có hồi kết trên các mặt báo.
Trong lúc đó một hiện tượng lạ xuất hiện trong thơ mấy năm gần đây lại rất ít
nhà phê bình, chú ý phân tích. Đó là sự trở lại của thơ tình kiểu “tiền chiến”.
Buồn chán, ủ ê, đau khổ, tuyệt vọng, sướt mướt. Loại thơ tình (nam nữ) này chiếm
hơn hai phần ba số thơ ấn hành hàng ngày. Những người đang yêu làm thơ tình đã
đành, những người không có mảnh tình rách cũng làm thơ tình! Đến cả các nhà thơ
già lớp chống Pháp, các nhà thơ “tiền chiến” bảy tám chục tuổi cũng trở lại với
thơ tình! Phải chăng chúng ta đang ở xứ sở của tình yêu? Tôi không phản đối thơ
tình. Nhiều thơ tình càng tốt chứ sao! Nhưng tôi thấy lạ là những bài thơ thể
hiện thiên chức công dân của nhà thơ, những bài thơ chiến đấu cho sự công bằng
xã hội, cho một xã hội dân chủ - tự do, thơ chia sẻ số phận đắng cay của người
lao động trước sự áp bức của bất công và cường quyền của quan tham, quan liêu,
những bài thơ thế thái nhân tình... từng nở rộ trong những năm đầu đổi mới, mở
cửa, bây giờ thấy thưa vắng, hiếm hoi dần đi.
Vì sao vậy? Có phải là các nhà thơ Việt Nam không tiếp cận được với xã hội thời
kinh tế thị trường đang phân cực quyết liệt, nhiều nguy cơ mới đe dọa nhân phẩm
và đạo lý đang xuất hiện và tác oai tác quái? Có phải các nhà thơ đã hèn kém
đi, ích kỷ hơn, hay tại môi trường sáng tạo đã đổi khác? Xin mạo muội đặt một
câu hỏi lớn ở đây để các nhà lý luận, phê bình, các nhà thơ cùng nhau thảo luận.
Hãy thảo luận điều gì làm cho thơ có ích với đời, với những phận người, với
chính sự bùng cháy kỳ diệu của thi ca tự do!.
Huế, 1994-2007
Ngô Minh
Theo http://www.talawas.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét