Con tàu nhỏ cuối cùng rời thương cảng…
Trưa ngày 30-4-1975. Chiếc xe tăng với lá cờ xanh đỏ và ngôi
sao vàng húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập. Đó là tiếng gõ cửa của định mệnh, tiếng
chuông báo tử cho số phận miền Nam. Giữa lúc mọi người chen nhau trên đại lộ Thống
Nhất với ánh mắt ngơ ngác, hiếu kỳ thì cách đó không xa, trên bến Bạch Đằng,
hàng trăm con người đang hoảng loạn trong tuyệt vọng, dáo dác tìm nhau, gọi
nhau í ới. Ngoài xa, trên dòng sông, những chiến hạm, những thương thuyền hôm
nào tụ tập về đây, giờ đã rời xa tự lúc nào, để lại mặt sông buồn hiu hắt. Giữa
đám đông thẫn thờ, mệt mỏi, sầu úa ấy bỗng xuất hiện một anh chàng áo lính tuổi
trung niên để râu mép, điển trai bước vội về một chiếc tàu nhỏ trống trải đang
neo đậu bên bờ sông. Anh bước xuống tàu. Đó là chiếc tàu tuần duyên bị hư hỏng,
đang nằm chơ vơ chờ sửa chữa, trên tàu chỉ có một anh thượng sĩ già cùng một
anh binh nhì trẻ tuổi.
- Có thuyền trưởng ở đây không?
- Dạ thưa sếp, thuyền trưởng bỏ đi đâu không rõ.
- Tàu chạy được không?
- Tàu chỉ còn một máy, máy kia hỏng.
- Trên tàu còn gì?
- Chỉ còn một thùng dầu. Thức ăn không, nước uống không, la
bàn không, máy truyền tin hết pin…
- Được rồi, ta cứ đi.
Anh chàng liều mạng ấy chính là nhà thơ - thiếu tá hải quân
Trần Thiện Hiệp, người anh thúc bá của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Anh loay hoay
cho nổ máy thật vụng về, vì tuy là lính hải quân nhưng bao nhiêu năm anh chỉ ở…
trên bờ! Mù tịt về chuyện lái tàu, nhưng một liều ba bảy cũng liều. Anh chàng cựu
học sinh Phan Bội Châu, Phan Thiết ngổ ngáo đáo để ấy thời điểm năm 1957 từng đạp
xe xuyên Việt từ Bến Hải đến Cà Mau. Lần này anh chỉ đi một mình vì vợ con đã
nhảy tàu trước đó, không biết lưu lạc tới đâu.
Nghe tiếng máy tàu, cả đám người chuyển động, vội vã chen
nhau xuống tàu. Chẳng mấy chốc, hơn 200 con người gồm lính tráng, thanh niên,
phụ nữ, trẻ con nằm ngồi la liệt, yên vị trên chiếc tàu nhỏ bé không biết sẽ
đưa họ đến bến bờ nào. Người ta thoáng thấy trong đám người ấy có hai nhân vật
quan trọng: trung tướng Trần Văn Trung và trung tướng Vĩnh Lộc. Không biết ông
Vĩnh Lộc khi ấy có đem theo cô ca sĩ Minh Hiếu không? Cuối cùng con tàu nặng nề
ấy cũng quay mũi thuyền hướng về phía biển, buồn bã rời bến sông Sài Gòn, băng
qua sông Lòng Tảo rồi đi giữa xanh um Rừng Sác, lặng lẽ giã từ phố phường thủ
đô vàng son một thuở.
Đó là chiếc tàu cuối cùng trên sông Sài Gòn mang theo những
người ra đi trong buồn tủi.
Họ mong ước sẽ đến được bến bờ tự do trong may mắn. Nhưng cuộc
đời có chiều lòng người không đây? Nhất là chuyến tàu này không được ai chuẩn bị
hành trang cho cuộc hải hành dài ngày. Nó đang bơ vơ, lạc lõng giữa đại dương
mênh mông khi ra tới hải phận quốc tế lúc hoàng hôn xuống dần. Rồi màn đêm phủ
lên con tàu tội nghiệp. Có người báo cho thuyền trưởng - vị thiếu tá liều lĩnh
- rằng có một số người đang bàn bạc dưới hầm tàu. Anh ta vội đi xuống để xem
tình hình. Thì ra có một số người đề nghị tàu nên quay trở lại Sài Gòn vì đây
thật sự là cuộc phiêu lưu khi trên tàu không có thực phẩm, nước uống, không có
la bàn định hướng thì mọi người rồi sẽ chết đói thôi, chưa kể sóng gió bão
bùng. Thuyền trưởng ra lệnh thu hết vũ khí có trên tàu, đem cất vào kho rồi yêu
cầu mọi người tiếp tục hành trình. Tuy vậy tàu không biết còn đi đâu nữa vì
không biết phương hướng. Thuyền tắt máy, dập dềnh trên sóng biển và chờ đợi một
phép mầu. Từ xa xuất hiện một chiếc thuyền lớn với ánh đèn sáng choang. Mọi người
mừng thầm. Chiếc tàu lớn ngày mỗi đến gần nhưng khi gặp tàu vượt biển, mọi ngọn
đèn trên tàu lớn bỗng tắt ngấm. Thì ra đó là chiếc tàu buôn, họ không muốn giúp
đỡ nên tắt đèn rồi lẳng lặng bỏ đi. Tuyệt vọng và thảm sầu.
Có ai đó tìm được một hai pháo sáng lăn lóc ở một góc tàu.
Thuyền trưởng huy động mọi người đóng góp pin vuông nếu có, để cho máy truyền
tin hoạt động. Cuối cùng cũng đủ cho máy chạy được nhưng không ai biết tần số.
Thuyền trưởng mày mò tìm kiếm, cuối cùng cũng gặp được tần số của một hạm đội Mỹ,
họ cho biết sẽ đến ngay. Mất mấy tiếng đồng hồ để tàu chiến xuất hiện, thiếu tá
thuyền trưởng cho tung pháo sáng để làm dấu hiệu cho biết vị trí. Nhưng rồi tàu
chiến đến ra dấu hiệu bằng ngón tay chỉ xuống biển, ám chỉ phải ở yên tại chỗ,
họ sẽ liên lạc với một hạm đội hải quân Việt Nam đến giúp đỡ. Lại trải qua một
đêm dài chờ đợi. Bình minh đến trong niềm mong ước vô biên. Thế rồi mọi người
thoáng thấy từ nơi xa xăm xuất hiện tháp cao của một chiến hạm, nhưng cũng phải
mất gần năm tiếng đồng hồ chiến hạm mới đến gần. Điều đầu tiên mọi người được
chiến hạm giúp đỡ cấp thời một ít lương thực và nước uống. Nỗi vui mừng tràn ngập.
Chiến hạm dùng dây kéo chiếc tàu tuần duyên chạy về vịnh Subic của Philippines
và phải mất bảy ngày đêm mọi người mới đến được trại tị nạn ở đây.
Vị thuyền trưởng cùng đám người vượt biển nhiều may mắn và hạnh
phúc. Chuyến đi để lại một dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ lính này. Sau
này anh hồi tưởng kỷ niệm ấy trong một bài thơ thắm đẫm cảm xúc:
CÕI SẦU CÒN ĐÓ
Con tàu nhỏ cuối cùng rời thương cảng
Trưa ba mươi mưa bụi khóc Sài Gòn
Đường ven sông cây lá bỗng héo hon
Từng góc phố dâng cao triều uất hận.
Chưa tử chiến phải đành cam bại trận
Thẹn mấy mươi năm ân sủng quốc gia
Mười lăm năm tay súng giữ quê nhà
Trong cuộc chiến ba mươi năm chống cộng.
Nhìn thủ đô đầu hàng như ảo mộng
Mà đành cam đào ngũ bỏ quê hương
Con tàu trôi trong tủi nhục đoạn trường
Ta cúi mặt để tự mình khinh miệt.
Sông Đồng Nai bỗng thành dòng vĩnh biệt
Nước đỏ ngầu tựa máu vỡ buồng tim
Chí làm trai nghe bão tố nhận chìm
Ta bật khóc giữa ngày đầu quốc nạn.
Trời Rừng Sác gợn mây buồn bảng lảng
Như xẻ chia niềm đau xót người đi
Đồn bên sông còn đó lá quốc kỳ
Vọng gác vắng người trai hùng giữ nước.
Kênh Lòng Tảo nước hai dòng xuôi ngược
Lục bình trôi, nắng hiu hắt cuối trời
Như phận người vô định hướng ra khơi
Nghe cay đắng thấm dần trong xương tủy.
Mỗi tháng Tư ta hướng về cố lý
Qua màn sương mờ mịt đất tạm dung
Nỗi đớn đau vẫn thăm thẳm vô cùng
Thân chiến mã đã mang thương tàn phế.
Nhớ ngày nào vũ đình trường ngạo nghễ
Cao tay thề vì Tổ quốc tận trung
Dưới quân kỳ quyết chiến đấu đến cùng
Đặt danh dự lên vai người lính chiến.
Nay còn đây trong cõi sầu miên viễn
Đếm lá rơi khi nắng úa thu tàn
Đốt lửa hồng soi bóng lúc đông sang
Và tự vấn nghìn câu không giải đáp.
Trần Thiện Hiệp
(Trích trong tập thơ Cây Lá Phận Người).Nhà thơ Trần Thiện Hiệp (ngậm tẩu) cùng bạn bè tại quán cà
phê ở quận 1, SG. Tập thơ thứ chín của anh xuất bản năm 2017. Nguyễn Phú Yên
Nhà thơ Trần Thiện Hiệp (ngậm tẩu) cùng bạn bè
tại quán cà
phê ở quận 1, SG.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét