Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

XXXXChuyện phi chính trị - Hoan hô đề nghị của ông Võ Văn Kiệt

Chuyện phi chính trị - Hoan hô
đề nghị của ông Võ Văn Kiệt

Tôi có cái tánh hay "hoan hô", mấy anh chị em làm việc chung trong cộng đồng đều biết, nên sau khi đọc xong ba vấn đề mà ông Võ Văn Kiệt đề nghị chánh phủ Việt Nam phải giải quyết ngay trong năm 2006, tôi đã thiếu điều buột miệng kêu lên ba tiếng "hoan hô". Lời chưa thốt ra khỏi miệng, đã cảm thấy ngường ngượng, như bị... hoan hô lộn. Có lẽ vì bị điều kiện hoá theo cái kiểu, ai mà đi khen phía "bên kia" bao giờ. Dĩ nhiên không phải là bên kia thế giới, mà là bên kia lằn ranh quốc - cộng. Tuy nhiên, khi nghĩ kỹ lại tôi thấy nếu có đề nghị nào yêu cầu tăng cường việc phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, cải tiến đời sống nông dân, và ngăn ngừa tai nạn giao thông để bảo vệ tánh mạng của dân chúng, thì dù nó có xuất phát từ mười lằn ranh "bên kia", cũng không nên ngại hoan hô.
Theo chỗ tôi hiểu thì đó lại chính là nội dung của ba vấn đề mà ông Võ Văn Kiệt đã đưa lên báo Thanh Niên Online ngày 27.01.2006. Về những đột biến khí hậu, ông cảnh báo “trong năm 2005, đặc biệt dồn dập vào những tháng cuối năm, đầy những triệu chứng bất thường. Cơn bão số 7 ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ; hạn hán nghiêm trọng tại một số địa phương trong cả nước; lũ bất thường và biển tràn bờ gây sạt lở ở nhiều vùng duyên hải Nam Trung Bộ, mực nước sông Hồng, dòng sông trọng yếu cung cấp nước tưới cho cả một vùng rộng lớn các tỉnh phía Bắc khô cạn chưa từng thấy; một mùa đông lạnh giá bất thường ngay cả ở những tỉnh phía Nam và nhiều diễn biến thời tiết lạ thường khác, phải chăng là những tín hiệu cảnh báo sớm về một thời kỳ bất ổn của khí hậu toàn cầu đang hình thành và đã bắt đầu ảnh hưởng đến nước ta."
Để đối phó với những nguy cơ này và những vấn đề môi trường liên hệ đang đe dọa đất nước, ông yêu cầu, “Trước mắt không nên dừng lại ở mức kêu gọi mà phải ngay lập tức ra lệnh cấm phá rừng phòng hộ nuôi tôm; xử lý nghiêm những ai vi phạm, những ai dung dưỡng, cho phép hoặc làm ngơ; gấp rút trồng lại rừng phòng hộ ven biển. Cần tập trung vào những vùng xung yếu. Phải tiến hành ngay các biện pháp xây dựng hệ thống rừng phòng hộ, đê kè, di dời dân cư. Cần sớm có chương trình nghiên cứu, sửa đổi Pháp lệnh Đê điều và công trình thủy lợi. Trước mắt, Chính phủ cần gấp rút xây dựng một nghị định về đầu tư, xây dựng và quản lý hệ thống đê ven biển ở bán đảo đồng bằng Nam Bộ (từ Gò Công đến Hà Tiên), một vùng đặc thù khác biệt với hệ thống đê điều ở Bắc và Trung Bộ. Trên cơ sở đó, tiến hành quy hoạch lại toàn bộ hệ thống đê điều, từng bước hiện đại hoá, nhất là hệ thống đê ven biển".
Bên cạnh đó ông còn đề nghị, “cần gấp rút khảo sát ngay toàn bộ hệ thống đê điều, nhất là hệ thống đê ven biển, gấp rút nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp đủ cơ sở khoa học để củng cố và bảo vệ tuyến đê này trước khi quá muộn".
Đúng vậy, nhìn vào những thiên tai gần đây trên thế giới, từ nạn sóng thần cuốn trôi bao nhiêu mạng người trong chớp mắt ở một số nước Á châu, tới bão Katrina làm vỡ đê, gây lũ lụt, tàn phá kinh hoàng, đến độ khó tưởng tượng được nó có thể xảy ra trên một quốc gia hùng mạnh nhứt trên thế giới, và mới đây là nạn sạt đất chôn trọn một ngôi làng ở Phi Luật Tân, chúng ta thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc phòng chống thiên tai. Tương tự đối với những suy thoái của môi trường, nếu để nước tới chân mới nhảy, thì hoặc đã "quá muộn", hoặc quá tốn kém để cải thiện, nhứt là đối với một nước còn nghèo khó như nước ta. Trong nhiều trường hợp, dù có đủ điều kiện tài chánh, kỹ thuật, và kiến thức khoa học, cũng không thể một sớm một chiều mà cải tiến tình trạng của môi trường được. Để phục hồi trạng thái cân bằng của một hệ thống sinh thái của môi trường, thường cần một thời gian khá dài, có thể từ nhiều năm đến nhiều chục năm. Không khác gì việc chăm lo cho sức khoẻ của con người, phòng bệnh vẫn hơn trị bệnh.
Một số vấn đề ông Kiệt đưa ra, theo chỗ tôi biết, lại đang ở tình trạng cần phải được "trị bệnh", chứ không còn là "phòng bệnh" nữa. Cấp bách là vậy. Nhưng càng đáng quan ngại hơn là mặc dù những nguy cơ mà ông Kiệt cảnh báo, đều rất thực, đó lại chỉ là một phần nào của sự thực về vấn đề suy thoái môi trường ở Việt Nam. Như tiếc là không nghe ông nhắc đến sự an nguy của con sông Cửu Long. Có thể vì ông thấy nó ít cấp bách hơn. Cũng có thể trong môi trường chính trị hiện tại, để tránh mang lại thêm những tranh chấp nội bộ trước kỳ Đại hội X, ông thấy chưa tiện đưa ra một vấn đề có thể ảnh hưởng tới mối bang giao với các quốc gia ở thượng nguồn. Nhưng chúng ta không thể im hơi lặng tiếng được, vấn đề môi sinh của sông Cửu Long là vấn đề sống còn trực tiếp của miền Nam, và vì vậy cũng là vấn đề an nguy của cả nước, và nó không là một vấn đề chỉ thuộc nội bộ của Việt Nam. Những hành động khai thác dòng sông một cách quá tải hay vô trách nhiệm bởi các quốc gia ở thượng nguồn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng của đoạn sông chảy qua nước ta, như làm sút giảm lượng tôm cá để cung ứng cho một dân số ngày càng đông, hay lượng nước ngọt để tưới ruộng đồng. Chúng ta cần đến những hậu thuẫn quốc tế, những hỗ trợ từ các quốc gia trên thế giới, và các hội đoàn bảo vệ môi trường, để bảo vệ "sinh mạng" con sông Cửu Long. Chánh quyền Việt Nam, bất kỳ do đảng phái nào chấp chánh, có trách nhiệm phải lên tiếng vận động sự hỗ trợ của thế giới để cứu nguy con sông Cửu Long. Người Việt ở hải ngoại với nhiều phương tiện và điều kiện hơn người ở trong nước cũng có thể dấy động phong trào tranh đấu quốc tế bảo vệ môi trường sông Cửu Long như một số người đang cố gắng làm (thí dụ như trong nhiều số báo Đi Tới phát hành tại Montreal, Canada).
Gần đây, báo Thanh Niên Online, ngày 15.02.2006, cũng có phổ biến "Những con số về môi trường đáng sợ" khác, như "Một kết quả phân tích gần đây của Trung tâm phân tích thí nghiệm TP. HCM cho thấy lượng benzen trong không khí tại các trục giao thông chính của thành phố đã lên đến mức báo động đỏ với nồng độ benzen trung bình là 33,6 microgam/m3, cao gấp 6,72 lần tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới là 5 microgam/m3. Các nhà khoa học cho rằng nếu dưạ vào kết quả này thì nguy cơ mắc bệnh bạch cầu đối với những người luôn hít thở không khí tại TP.HCM có thể cao gấp 5,4 lần so với những khu vực khác."
Bài báo còn cho biết, "Vấn đề nghiêm trọng không kém là tình trạng ô nhiễm trầm trọng trên lưu vực sông Đồng Nai, nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho TP. HCM và một số tỉnh thành khác. Bản báo cáo kết quả điều tra công phu gây chấn động tại một hội nghị môi trường mới đây của Phó giáo sư - tiến sĩ Huỳnh Thị Minh Hằng và các cộng sự thuộc Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia TP. HCM cho thấy lưu vực sông Đồng Nai bị ô nhiễm có ảnh hưởng đến khoảng 15 triệu người sống ở 4 thành phố trực thuộc tỉnh, 19 quận nội thành của TP. HCM, 8 thị xã và 85 thị trấn. Sự ô nhiễm ấy xuất phát từ chất thải của 116 khu đô thị có quy mô khác nhau; 47 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung; trên 50.000 cơ sở sản xuất công nghiệp; 73 bãi rác; hàng nghìn cơ sở chăn nuôi có quy mô công nghiệp; hàng chục bến cảng ... Chỉ tính riêng 47 khu công nghiệp tập trung (trong đó có 16 khu đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung) thì có đến 31 khu công nghiệp xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý để hoà vào nguồn nước của hệ thống sông Đồng Nai với khoảng 111.605m3 nước thải mỗi ngày, trong lượng nước đó có gần 15 tấn TSS, 18,6 tấn BOD5, 76,9 tấn COD; 1,6 tấn Nitơ ..."
Báo Thanh Niên Online cũng trích dẫn một nhận định của các nhà khoa học như sau: "Trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có rất nhiều dòng thải mà trong thành phần của chúng có chưá các chất nguy hại như các a-xit, ba-zơ, các kim loại nặng như Hg, Pb, Zn, Cr, Ni,..., thuốc bảo vệ thực vật, dầu mỡ khoáng, vi trùng gây bệnh... Nếu các dòng thải này không được kiểm soát và quản lý tốt thì khả năng gây ô nhiễm, huỷ hoại môi trường và nguồn nước là rất lớn."
Sau khi trình bày những biện pháp do Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất để bảo vệ môi trường, nhà báo Trần Thanh Bình đã đặt câu hỏi ”Những biện pháp trên vẫn còn đang trên giấy, trong khi hàng triệu người dân vẫn đang phải hứng chịu từng ngày sự ô nhiễm môi trường có tác động trực tiếp đến sức khoẻ. Ai sẽ chịu trách nhiệm về vấn đề này?"
Một câu hỏi có vẻ... ngây thơ cụ, nhưng lại hoàn toàn hợp lý trong một quốc gia mà luật pháp không minh bạch, và chánh quyền chưa bao giờ gánh chịu trách nhiệm về một sai lầm nào trước dân chúng.
Trở lại với ba vấn đề mà ông Võ Văn Kiệt đưa ra, vấn đề thứ hai là việc thất thoát luá của nông dân, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông cho biết, ”Theo con số thống kê, năm 2005 tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch ở ĐBSCL khoảng 13-16% (riêng vụ hè - thu lối 20%), với sản lượng 19,1 triệu tấn thì con số này không nhỏ chút nào. Khối lượng khổng lồ đó có khả năng nuôi sống dân cư một quốc gia có dân số trung bình trong khu vực. Cả triệu tấn luá đó còn phải tính đến hàng trăm ngàn tấn phân bón, hàng ngàn tấn thuốc trừ sâu, hàng trăm công trình thuỷ lợi và biết bao mồ hôi, công sức của người trồng luá đã đổ trên đồng ruộng."
Và ông đã hỏi, ”Một vấn đề lớn như thế, lẽ nào những người có trách nhiệm không đau xót, băn khoăn? Lẽ nào những tổn thất như thế chỉ đáng được đánh giá là những tổn thất bình thường, người dân làm ra hạt lúa phải tự mình gánh chịu, phải tự mình mầy mò kiếm tìm giải pháp? Giải pháp nào cho hàng triệu nông dân một nắng hai sương đây?"
Trời! Nếu người cộng sản nào cũng biết nghĩ như vậy, và người quốc gia nào cũng đồng ý, thì nói gì chuyện phát triển xứ sở, mình xây thiên đàng cũng còn được.
Vấn đề thứ ba mà ông Kiệt đưa ra là hiểm họa về tai nạn giao thông. Theo ông ”Một vấn đề nhức nhối khác đang diễn ra từng ngày, từng giờ, gây không ít đau thương cho cộng đồng mà cho đến nay, nhân dân ta vẫn phải đau lòng chịu đựng là 'tai nạn giao thông'. Hiện nay, ở nước ta, hàng năm trung bình có khoảng 11.000 gia đình phải gánh chịu tang tóc do tai nạn giao thông, số thương tật còn nhiều hơn gấp bội". Và ông đã đốc thúc chánh phủ tìm những biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông.
Đây có lẽ là động cơ chánh đã khiến tôi viết bài này. Và là một lý do rất cá nhân. Nguyên, năm trước vợ chồng tôi có dịp về Việt Nam thăm nhà sau gần 40 năm xa xứ. Lần đầu tiên tôi được gặp gia đình bên vợ, trong số đó có cậu em út ở Long Xuyên. Dù chỉ mới gặp gỡ có mấy ngày, nhưng tình cảm họ hàng cũng đã có dịp nảy nở đủ để lúc rời quê hương không khỏi mang theo nhiều quyến luyến, đặc biệt là đối với "cậu út nó". Bất ngờ, vưà trở qua đây được vài tháng thì "cậu út nó" chết, vì tai nạn xe cộ. Tin sét đánh này đã là một cú "sốc" lớn đối với tôi, và mang lại một nỗi đau buồn gấp bội phần cho vợ tôi, vì trong trường hợp của vợ tôi thì sau gần ba mươi năm mới gặp lại em mình, chưa thoả tình thương nhớ thì "nó" đã vĩnh viễn ra đi. Chúng tôi biết làm gì đây. Sau đó, mỗi khi đọc tin tức trên mạng, thấy những con số thống kê về tai nạn giao thông ở Việt Nam tôi thường in ra cho vợ tôi đọc, mong đem lại được một câu trả lời nào đó cho câu hỏi "tại sao" mà vợ tôi thường hỏi, dù tôi vẫn biết những con số đó không thể đem lại một câu trả lời thỏa đáng được. Không ai nên lấy nỗi khổ của người khác để làm vơi nỗi khổ của mình. Có một điều chúng tôi học hỏi được ở xứ sở này, là trong những trường hợp tương tự, người ta có thể tìm được một nguồn an ủi lớn lao qua những việc làm có thể mang lại ý nghĩa cho cái chết của người thân của mình. Như vận động với chánh quyền để thực hiện những biện pháp bảo vệ sự an toàn của người dân trên các ngả đường giao thông, để tránh cho những người khác, hay những gia đình khác, cái điều bất hạnh mà mình đã gặp phải. Trong ý nghĩ này, chúng tôi xin được hỗ trợ đề nghị của ông Võ Văn Kiệt, và cầu mong cho ông được thành công trong những vận động cần kíp này.
23/2/2006
Nhị Quý
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bí quyết thành công của tiểu thuyết Tố Tâm

Bí quyết thành công của tiểu thuyết Tố Tâm Có thể coi Hoàng Ngọc Phách – tác giả  Tố Tâm  là người đổi mới tiểu thuyết vì  Tố   Tâm  của ô...