Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

Vượt lên thử tháchXXX

Vượt lên thử thách

Giá dầu thô lên cao tạo một lực đẩy tạm thời cho nền kinh tế Việt Nam, xuất khẩu khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, gia công hàng hóa mặc dù đóng vai trò quan trọng nhưng không thể là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc và bền vững trong một vài thập niên tới. Việt Nam nên tìm cách sử dụng tốt hơn khả năng công nghệ và khoa học kỹ thuật của chính mình [1] .

Phát triển nền kinh tế tri thức, bắt đầu từ khoa học kỹ thuật và công nghệ, củng cố giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Khai thác, ứng dụng những thành quả khoa học kỹ thuật tiên tiến vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Khoa học kỹ thuật kết hợp chặt chẽ với việc canh tân đổi mới sẽ là tiền đề để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và giữ vững thế cạnh tranh trên thương trường. Toàn cầu hóa là tăng cường sự tương quan, trao đổi và tác động lẫn nhau giữa các nền kinh tế, nó có tầm ảnh hưởng sâu rộng và đầy ý nghĩa đến xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị. Làm sao Việt Nam thích nghi trong bối cảnh thế giới mới? Làm sao Việt Nam tận dụng những thành quả khoa học và kiến thức của nhân loại để hiện đại và công nghiệp hóa đất nước? [2]
Hội nhập kinh tế, sẽ cho phép các hãng xưởng có thể sắp xếp sản xuất toàn cầu một cách nhanh hơn và gần hơn trước đó. Và hiển nhiên là sự gia tăng tốc độ về chuyển vận hàng hóa, phục vụ, thông tin, tin tức, quản lý… cũng như thay đổi khả năng và phương thức giáo dục, khoa học, nghiên cứu và hợp tác. Tri thức, thông tin, và công nghệ là những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển. Phát huy triệt để tiềm năng các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, máy tính (computing power)…, lao động và nguồn vốn sẽ trở nên hiệu quả hơn nhiều; sản xuất nhiều hơn với ít kinh phí hơn; thu nhập tăng lên với ít sức lao động hơn.
Chiến lược phát triển
Yếu tố căn bản quyết định sự hưng thịnh của nền công nghệ là đường hướng phát triển khoa học kỹ thuật và sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật phải đặt nền móng trên nhu cầu phát triển và đòi hỏi của xã hội. Nói một cách khác, sự phồn vinh của xã hội ngày nay phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học. Do đó, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đóng một vai trò to lớn trong tiến bộ xã hội. Việt Nam hội nhập thành công vào nền kinh tế toàn cầu hay không, chủ yếu phụ thuộc vào khả năng thu thập, đồng hóa, ứng dụng, khai thác, và quảng bá kiến thức cũng như công nghệ. Từng bước nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động, đồng thời đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với đầy đủ tài năng, khả năng và kỹ năng, từ đó nhanh chóng cho ra đời những sản phẩm có trình độ công nghệ và chất lượng cao, nội địa hóa từng phần sản phẩm bằng sự thông minh và trình độ khoa học kỹ thuật của con người Việt Nam. Lấy khoa học công nghệ làm lực bẩy để phát triển, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn đời sống, từ đó dẫn đến sự phát triển của nhiều ngành thương mại, cũng như tạo được nhiều cơ hội phát triển và kinh doanh. Điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam.
Đối diện hiện thực
Mặc dù rất nhiều nhà khoa học Việt Nam có bằng cấp cao, nhưng phần lớn lại theo đuổi các hoạt động liên quan rất ít đến khoa học. Có thể giải thích điều này do việc thiếu trang thiết bị cần thiết cho việc nghiên cứu và thiếu những nỗ lực cộng tác để theo kịp đà tiến bộ hiện nay, bên cạnh đó, với mức lương thấp và thiếu những điều kiện thuận lợi khiến nhiều chuyên gia, khoa học gia đành rời bỏ công việc sử dụng tài năng và kỹ năng của họ. Hơn nữa, sự cách biệt quá xa về lĩnh vực khoa học công nghệ giữa Việt Nam và thế giới là trở lực chính yếu cho việc phát triển một nền kinh tế tri thức tại Việt Nam; trừ khi các khoa học gia, kỹ thuật gia… được đào tạo một cách thích hợp, nếu không, họ sẽ không thể thích nghi với tiến độ phát triển công nghệ ngày một càng thay đổi nhanh chóng.
Chính phủ nên thiết lập các công quỹ nhằm thu hút và đáp ứng việc sử dụng tài năng cũng như trau dồi hơn nữa kỹ năng và nghiệp vụ của những khoa học gia, kỹ thuật gia. Mặt khác, gia tăng cơ hội nghiên cứu khoa học sau đại học sẽ giúp Việt nam tái xây dựng nguồn nhân lực cho nền công nghệ và khoa học. Chính phủ nên tạo điều kiện cho những khoa học gia trẻ, tài năng, nhiều triển vọng có cơ hội nghiên cứu tại các trường đại học hàng đầu thế giới với mục đích gầy dựng một hàng ngũ khoa học nòng cốt cho đất nước. Hơn thế nữa, chính phủ cần đầu tư và tạo lập những cơ hội nghiên cứu, giảng dạy tại Việt Nam để khi về nước, họ vẫn có cơ hội tiếp tục làm công việc mà họ hằng mơ ước. Vấn đề nan giải hiện nay là tiền lương, cộng với mức thuế quá cao, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định trở về nước, và là trở ngại không nhỏ cho việc thu hút đông đảo những tài năng mà đất nước cần.
Chính phủ trung ương, hệ thống giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và các ngành công nghiệp không thể hoạt động riêng rẽ biệt lập mà phải liên kết chặt chẽ thành một khối và nắm giữ vai trò chỉ huy với mục đích chỉ đạo, khuyến khích, hỗ trợ và triệt để phát huy tiềm năng khoa học kỹ thuật cho công cuộc phát triển kinh tế. Nhưng thực tế Việt Nam lại khác hẳn, các ngành công nghệ, các phân viện nghiên cứu, hệ thống giáo dục đào tạo hoạt động quá riêng rẽ và biệt lập. Định hướng phát triển công nghệ lại thiên về lợi ích ngắn hạn trước mắt, sự hợp tác thiếu đồng bộ về chiến lược phát triển khoa học công nghệ giữa các phân viện nghiên cứu và các ngành công nghệ gây nên sự lãng phí trầm trọng và kém hiệu quả.
Vai trò của chính phủ trung ương đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, và là tiền đề của mọi sự thành công. Nhưng chính phủ trung ương chưa có chính sách phát triển khoa học công nghệ một cách thỏa đáng, hơn nữa, thiếu ngân sách đầu tư và thiếu các dự án, công trình nghiên cứu khoa học trọng điểm. Điều quan trọng hơn, là thiếu những yếu tố cần thiết như nhân lực chẳng hạn, để đưa những dự án thành hiện thực.
Kinh tế nước ta với đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên khả năng nghiên cứu và tiềm năng bị giới hạn. Việc đầu tư vào kỹ thuật mới, và cải tiến kỹ thuật còn tương đối thấp. Hơn nữa, những khó khăn về kỹ thuật và nhân lực cộng thêm quá tốn kém trong việc nghiên cứu làm chùn bước các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc đầu tư để phát triển. Với những giới hạn này, việc tạo ra môi trường thuận lợi là một trong những công việc hàng đầu của Chính phủ.
Chặng đường phía trước
Chiến lược phát triển khoa học công nghệ phải đặt nền tảng trên nhu cầu phát triển và đòi hỏi của xã hội. Tạo cơ hội cho khoa học công nghệ thực sự là động lực quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Rút ngắn khoảng cách về khoa học kỹ thuật so với thế giới bằng cách thu thập, ứng dụng công nghệ tân tiến vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, từng bước nội địa hóa từng phần và tạo nên sản phẩm đặc trưng Việt Nam.
Đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa chính phủ trung ương, các phân viện nghiên cứu, giáo dục đào tạo và các ngành công nghiệp nhằm kích thích, khuyến khích sức sáng tạo, đảm bảo sức mạnh, chất lượng, đồng thời phát huy tiềm năng tiềm lực của khoa học kỹ thuật để từ đó hình thành và phát triển những công ty mới cũng như giúp đẩy mạnh và thương nghiệp hóa những kỹ thuật mới. Mặc khác, hỗ trợ các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp để tăng trưởng hiệu suất, chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh trên thương trường và tính hiệu quả. Có nhiều hình thức hợp tác, từ cộng tác trong việc nghiên cứu đến chuyển giao công nghệ, từ hợp đồng giao ước đến nhượng quyền sản xuất… Nhưng điều đặc biệt quan trọng là đảm bảo sự trong sạch rõ ràng, và hiệu quả.
Việt Nam cần sử dụng hiệu quả nguồn vốn hơn nữa. Mọi tài sản, nguồn vốn có sẵn cần được sử dụng hiệu quả một cách tối đa. Ngân sách dành cho khoa học công nghệ hiện nay chiếm 1% trên tổng số GDP, thấp hơn so với các nước trong khu vực, lại thêm phân bố dàn trải, việc nghiên cứu không có định hướng chiến lược, mục tiêu cụ thể, dẫn đến lãng phí và kém hiệu quả. Do đó chính phủ cần tập trung nguồn vốn vào các mục tiêu trọng điểm cụ thể, có công cụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả đầu tư, điều chỉnh ngân sách cho các lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ có hiệu quả thiết thực trong nền kinh tế.
Kích thích và khuyến khích các tổ chức kinh doanh, các thành phần kinh tế xã hội tăng cường hơn nữa đầu tư phát triển khoa học công nghệ, phát huy sức sáng tạo, nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới và cải tiến kỹ thuật. Trong khi các ngành công nghiệp, các đơn vị kinh tế doanh nghiệp hiện nay phần lớn thiên về chế tạo và sản xuất nên rất hạn chế về khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm với công nghệ và kỹ thuật mới. Lẽ ra, điểm khiếm khuyết này phải được bổ sung bằng cách thắt chặt mối quan hệ hợp tác hơn nữa với các phân viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ lẫn nhau. Nhưng thực tế thì ngược lại, và kết quả là phần lớn những nghiên cứu khoa học không áp dụng vào thực tế đời sống và không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của xã hội và doanh nghiệp đòi hỏi. Cho nên dẫn đến tình trạng cán bộ nghiên cứu khoa học sống nhờ vào cơ chế phân chia ngân sách khoa học công nghệ hàng năm, các trường đại học, các phân viện nghiên cứu chưa có khả năng sống bằng chính kết quả nghiên cứu cuả mình. Để khắc phục tình trạng này, chính phủ nên có cơ chế chính sách thông thoáng hơn, cũng như cần cải tổ về tổ chức với mục đích tăng cường hiệu quả ứng dụng nghiên cứu khoa học vào đời sống, giúp các trường đại học, các phân viện nghiên cứu có cơ hội tự sống bằng chính khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ của mình. Ngoài ra, chính phủ cũng nên cho phép các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu được quyền uyển chuyển, linh động hơn và trực tiếp hợp tác cùng các công ty, xí nghiệp, các đơn vị kinh doanh... nhằm tư vấn, đề xuất, giải quyết các giải pháp, thí nghiệm trước khi sản xuất ở qui mô lớn (pilot manufacturing), chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới, nâng cao sức cạnh tranh và thương hiệu sản phẩm.
Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò rất quan trọng trong việc sáng tạo, quảng bá khoa học, kiến thức, và tạo nên nhiều doanh nghiệp mới trên thương trường. Vì vậy chính phủ cần xem xét thật kỹ lưỡng.
Nỗ lực hơn nữa trong sự hợp tác ở tầm quốc gia và quốc tế nhằm khuyến khích, tăng cường sự thâm nhập và góp phần vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng để Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trước những thách thức mới trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu và giữ vững thế đứng trên thương trường.
Nguồn vốn là vấn đề nan giải nhất hiện nay cho tham vọng nâng cấp nền kỹ thuật công nghệ nhằm phục vụ công cuộc hiện đại hóa nước nhà. Việt Nam trước tiên nên tận dụng tiềm lực xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, hải sản… từng bước cải thiện và nâng cấp công nghệ nhằm sản xuất nhiều sản phẩm tốt hơn với giá trị thành phẩm cao hơn. Từ đó làm đà phát triển cho giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hóa đất nước. Song song, cần cải cách hệ thống doanh nghiệp quốc doanh, một khu vực kinh tế kém hiệu quả, nhưng chiếm phần lớn số vốn nhà nước. Ngoài ra tạo môi trường đầu tư thông thoáng nhằm hấp dẫn đầu tư nước ngoài.
Phạm Đức, 35 tuổi, theo học cử nhân tại Cal Poly, San Luis Obispo, cao học tại San Jose State University, tiến sĩ tại Santa Clara University. Tiểu sử được lưu trong các tập tiểu sử danh nhân: Marquis Who’s Who in the World (Danh nhân thế giới), Marquis Who’s Who in America (Danh nhân nước Mỹ), Marquis Who’s Who in Science and Engineering, Marquis Who’s Who Finance and Business, American’s Registry of Outstanding Professionals, Strathmore’s Who’s Who in Business Leader. Hội viên hàn lâm viện, hội viên Sigma-Xi; the Scientific Research Society. Từng làm việc tại các công ty Advanced Research, Inc. Micro lambda Wireless, Inc. Netro, Corp. Remec, Inc. Vishay Semiconductor, Inc. Silicon Valley Power Amplifier, Inc. qua các chức vụ chủ tịch công ty, giám đốc điều hành, kỹ sư chế tạo, kỹ sư dự án, kỹ sư nghiên cứu. Đồng thời là thành viên trong ban cố vấn đầu tư các công ty Gerson Lehrman Group, Vista Research Inc. chuyên tư vấn về sách lược đầu tư cho các công ty đầu tư, chính phủ các nước, và các tập đoàn trong việc nghiên cứu thị trường và chiến lược kinh tế. 
Chú thích:
[1] http://vietnamnet.vn/.
[2] http://vietnamnet.vn/.
28/4/2006
Phạm Đức
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

 33333