Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

XXXXChâu Á và sự hình thành trung tâm kinh tế và quyền lực mới

Châu Á và sự hình thành
trung tâm kinh tế và quyền lực mới

Trong cuộc phỏng vấn vào đầu thu năm 2004 trên chương trình PBS The Charlie Rose Show, ông Lý Quang Diệu đã tiên đoán Châu Á sẽ tiếp tục phát triển, trở thành trung tâm kinh tế và quyền lực lớn của thế giới trong những thập niên tới. Gần đây, trả lời cuộc phỏng vấn báo Times số ngày 5.12.2005, tựa đề hình bìa “The Man Who Saw It All” (ám chỉ ông Lý), ông còn đi xa hơn khi nhận định rằng sự hình thành Liên hiệp Châu Á chỉ còn là vấn đề thời gian khi được hỏi về khả năng liên kết giữa các quốc gia vùng Châu Á, nhân cuộc họp lần đầu tiên giữa 10 quốc gia Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) và các nước Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ, Úc, New Zealand và Trung Quốc diễn ra tại Kuala Lumpur (Malaysia) ngày 14.12.2005. [1]
Để đánh giá những nhận định trên của ông Lý, người mà báo Times cho rằng “những ý tưởng của ông đã giúp cho sự hình thành của Châu Á ngày nay”, chúng ta thử tìm hiểu về nội lực lẫn tiềm lực của các quốc gia Châu Á qua sự phân tích các chỉ số kinh tế và vị trí của các quốc gia này trong số 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới. Ngoài ra, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần đào sâu hơn về Trung Quốc và Ấn Độ, hai nền kinh tế lớn của Châu Á đang trên đà phát triển nhanh nhưng vẫn còn nhiều biến động, có sức mạnh nguyên tử lẫn tham vọng chính trị mà hệ quả của những chính sách của các nước ấy trong những thập niên tới sẽ không thể không ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và cán cân quyền lực toàn cầu.
GDP - Tổng sản lượng quốc gia là chỉ số kinh tế chính yếu đo lường sức mạnh của một nền kinh tế, thường được tính theo đơn vị USD. Những năm gần đây, mãi lực bình quân (purchasing power parity - PPP), theo đó giá trị GDP được điều chỉnh theo chỉ số giá cả của quốc gia sở tại, cũng được dùng song song hay thay thế cho GDP khi tính toán về các chỉ số kinh tế. Đơn vị này được sử dụng trong bảng xếp hạng GDP trên thế giới năm 2005 của CIA - The Word Fact Book (CIA-TWFB) [2] như sau:
Châu Á: Trung Quốc (2), Nhật Bản (3), Ấn Độ (4), Nam Hàn (14), Indonesia (15), Đài Loan (17), Thái Lan (20)
Châu Âu: Đức (5), Anh (6), Pháp (7), Ý (8), Tây Ban Nha (13), Thổ Nhĩ Kỳ (19)
Bắc Mỹ: Hoa Kỳ (1), Canada (11), Mexico (12)
Nam Mỹ: Brazil (9)
Các khu vực khác: Nga (10), Úc (16), Iran (19)
Theo phương cách xếp hạng trên, Châu Á đã chiếm 7 trong số 20 quốc gia có GDP-PPP đứng đầu thế giới, dẫn đầu với Trung Quốc (2 - 8.2 trillion), Nhật Bản (3 - 3,9), và Ấn Độ (4 - 3,7), so với các cường quốc: Hoa Kỳ (1 - 12,4 trillion), Đức (5 - 2,4), Anh (6 - 1,9), Pháp (7 - 1,8), Ý (8 - 1,6). Tổng kết tình hình kinh tế Châu Á năm 2004 và viễn tượng phát triển giai đoạn 2005-2007 [3] , Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã nhận định: “Năm 2004, các quốc gia đang phát triển tại Châu Á đã đạt được mức tăng trưởng cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chánh Châu Á năm 1997-1998. Hầu hết các quốc gia trong vùng có đến bốn tỷ dân này đều đạt mức phát triển trên 5%, là một sự kiện rất có ý nghĩa. Tính theo PPP, mức phát triển đạt được còn cao hơn, 7,7%”. Những quốc gia đạt mức phát triển cao nhất trong vùng bao gồm Trung Quốc (9,1%), Kzakhstan (9,1%), Singapore (8,1%), Hongkong (7,9%), Việt Nam (7,7%), Ấn Độ (7,1%) và Malaysia (7,1%) [4] . Cũng theo ABD, mức phát triển của khu vực trong sáu tháng đầu năm 2005 rất khả quan và dự đoán mức tăng trưởng GDP giai đoạn 2005-2007 là 6,5 - 6,9% (hoặc 7,1 – 7,5% tính theo mãi lực bình quân PPP)”. Trong cùng thời kỳ này, bản tường tình gần đây của Ngân hàng Thế giới [5] cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP năm 2004 của thế giới (3,8%) và hai nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu: Hoa Kỳ (4,2%) và Châu Âu (1,7%); dự báo cho những năm 2005, 2006, 2007 của thế giới (3,2%, 3,3%, 3,3%), Hoa Kỳ (3,5%, 3,5%, 3,6%) và Châu Âu (1,1%, 1,4%, 2%).
Chúng ta hãy tiếp tục tìm hiểu các chỉ số kinh tế quan trọng khác, biểu hiện các mặt khác nhau của nền kinh tế: xuất nhập cảng, dự trữ ngoại tệ, nợ nước ngoài và chỉ số tái đầu tư, cũng dựa trên số liệu xếp hạng của CIA, TWFB, tính theo USD2:
Xuất - nhập khẩu
Châu Á: Trung Quốc (3/3), Nhật Bản (4/6), Hongkong (10/10), Nam Hàn (11/13), Singapore (15/15), Đài Loan (17/16), Malaysia (20/21)
Châu Âu: Đức (1/2), Pháp (5/5), Anh (6/4), Ý (7/7), Hà Lan (8/8), Bỉ (12/12), Tây Ban Nha (16/11), Thụy Sĩ (19/17)
Bắc Mỹ: Hoa Kỳ (2/1), Canada (9/9), Mexico (14/14)
Các khu vực khác: Nga (13/18)
Các nền kinh tế phát triển không những có kim ngạch xuất khẩu cao mà còn có sức tiêu thụ mạnh mẽ từ nội địa, là đòn bẩy để sản xuất tăng trưởng. Thật vậy, số liệu trên đã cho thấy 15 trong số 20 quốc gia có GDP-PPP đứng đầu cũng là những quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu cao nhất, trong đó có 7 nước Châu Á, dẫn đầu là Trung Quốc (752/632 tỷ USD), Nhật Bản (550/451) và Hongkong (268/292), so với các cường quốc kinh tế thế giới: Đức (1016/801 tỷ USD), Hoa Kỳ (927/1727), Pháp (443/473), Anh (373/484) và Ý (372/369). Theo nhận định của ABD3, mức tăng trưởng xuất khẩu và sức tiêu thụ nội địa là hai trong những yếu tố chính giúp các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á đạt tăng trưởng GDP cao: xuất khẩu gia tăng 19,3% năm 2003 và 25,5% năm 2004. Đồng thời, mức nhập cảng của hầu hết các quốc gia trong vùng đều tăng nhanh, do lợi tức đầu người tăng trưởng liên tục những năm gần đây, những cải cách tháo gỡ hàng rào quan thuế và giá dầu tiếp tục gia tăng. Nếu khắc chế được lạm phát và khiếm hụt mâu dịch, mức tăng trưởng tiêu thụ nội địa sẽ làm giảm sự lệ thuộc mất cân đối vào xuất cảng của các quốc gia trong khu vực Châu Á.
Dự trữ ngoại tệ
Châu Á: Nhật Bản (1), Trung Quốc (2), Đài Loan (3), Nam Hàn (4), Ấn Độ (5), Singapore (7), Hongkong (8), Malaysia (11), Thái Lan (18)
Châu Âu: Đức (9), Pháp (12), Thụy Sĩ (13), Ý (17), Anh (19), Thổ Nhĩ Kỳ (20)
Bắc Mỹ: Hoa Kỳ (10), Mexico (15)
Nam Mỹ: Brazil (14)
Các vùng khác: Nga (5), Algeria (16)
Nợ nước ngoài
Châu Á: Nhật (7), Hong Kong (16), Trung Quốc (20)
Châu Âu: Anh (2), Đức (3), Pháp (4), Ý (5), Hà Lan(6), Tây Ban Nha (8), Ireland (9), Bỉ (10), Thụy Sĩ (11), Thụy Điển (13), Áo (14), Đan Mạch (17), Bồ Đào Nha (18), Na Uy (19)
Bắc Mỹ: Hoa Kỳ (1), Canada (12)
Nam Mỹ: Brazil (8), Argentina (11)
Các khu vực khác: Úc (15)
Chín trong số 20 quốc gia có số dự trữ ngoại tệ cao nhất năm 2004 thuộc khu vực Châu Á, ở các vị trí 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 8; dẫn đầu là Nhật Bản 845 tỷ USD, Trung Quốc 795 và Đài Loan 269. Ngược lại, sáu quốc gia có số nợ nước ngoài cao nhất, từ hạng 1 đến 6, không thuộc khu vực Châu Á, đứng đầu là Hoa Kỳ 8.8 trillion tỷ USD, Anh 7.1, Đức 3.6, Pháp 2.8, Ý 1.7. Theo ABD3, sự tăng trưởng kinh tế của các nước đang mở mang Châu Á (không bao gồm Nhật Bản) đã dẫn đến trữ lượng ngoại tích lũy tăng cao, đạt 1624 tỷ USD tính đến cuối năm 2004.
Tái đầu tư - % GDP
Châu Á: Trung Quốc (4 – 43%), Nam Hàn (11 – 31%), Sinagpore (58 – 23.3%), Nhật Bản (46 – 24.4%), Ấn Độ (44 – 24.8%), Hongkong (73 – 21%), Thái Lan (10 -32%) Đài Loan (83 – 20.8%), Indonesia (71 – 21.5%)
Châu Âu: Tây Ban Nha (19 - 28%), Ý (99 – 19.3%), Pháp (98 – 19.4%), Đức (121 – 17.1%), Anh (125 – 16.3%)
Bắc Mỹ: Canada (88 - 20%), Mexico (78 - 21.1%),Hoa Kỳ (123 – 16.8%)
Nam Mỹ: Brazil (92 - 20%)
Các khu vực khác: Nga (116 – 17.5%)
Cũng theo nhận định của ABD3, sự hồi phục về đầu tư kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của Châu Á trong những năm gần đây, đặc biệt vùng Đông Á và Nam Á, khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chánh Châu Á năm 1997. Nhìn chung, tỷ lệ tái đầu tư (%GDP) của hầu hết các quốc trong vùng đều tăng trưởng. Hơn thế nữa, các quốc gia Châu Á còn có ưu thế đã thu hút được nguồn đầu tư mạnh mẽ từ nước ngoài (FDI). Theo số liệu của Liên hiệp quốc [6] , FDI của khu vực Châu Á phục hồi và tăng trưởng nhanh: 94 tỷ USD (2002), 107 (2003) và 166 (2004). Những quốc gia dẫn đầu FDI năm 2004 gồm có Trung Quốc 62 tỷ USD, Hongkong 33, Singapore 21, Nam Hàn 21 và Ấn Độ 6. ABD3 dự báo Châu Á vẫn sẽ là khu vực hấp dẫn đầu tư trên thế giới, FDI tại các quốc gia đang phát triển khu vực này sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới.
Chi phí quốc phòng: Hoa Kỳ (1 - 371 tỷ USD), Trung Quốc (2 - 67 tỷ), Nhật Bản (3 - 46), Pháp (4 - 45), Anh (5 - 43), Đức (6 - 35), Ý (7 - 28), Nam Hàn (8 - 20), Ấn Độ (9 -19), Saudi Arabia (10 – 18), Úc (11), Thổ Nhĩ Kỳ (12), Brazil (13), Tây Ban Nha (14), Canada (15), Hà Lan (16) , Do Thái (17), Đài Loan (18), Mexico (19), Nga [7]
Không phải ngẫu nhiên khi 17 trong số 20 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng là những quốc gia có chi phí quốc phòng cao nhất, trong số đó có 5 quốc gia thuộc khu vực Châu Á. Kinh tế và quốc phòng luôn hỗ trợ lẫn nhau, và các cường quốc vẫn thường sử dụng chính sách “cà rốt” và “cây gậy” để bảo vệ quyền lợi sinh tử và khuyếch trương uy thế, ảnh hưởng của mình. Ngoài ra, xuất khẩu vũ khí không những mang về cho quốc gia xuất cảng nguồn ngoại tệ rất đáng kể mà còn thường được sử dụng để gây ảnh hưởng về mặt chính trị, nên cũng cần lược qua những quốc gia có kim ngạch xuất cảng vũ khí cao nhất năm 2004 [8] : Hoa Kỳ 18,5 t ỷ USD, Nga 4,6, Pháp 4,4, Liên hiệp Anh 1,9, Đức 0,9, Canada 0,9, Trung Quốc 0,7, Israel 0,5, Libya 0,3, Brazil 0,3.
Ấn Độ vươn mình trở thành cường quốc thực sự: Cho đến những năm gần đây, nhắc đến Ấn Độ chúng ta thường liên tưởng đến sự lạc hậu và nghèo khó triền miên. Nhưng thời gian qua, báo chí Tây phương đã đề cập đến quốc gia này như một nước đạt mức phát triển cao và có khả năng trở thành cường quốc trong tương lai không xa. Với dân số đứng hàng thứ nhì trên thế giới 1,1 tỷ, có vũ khí hạt nhân, GDP-PPP xếp hạng thứ 4 và thứ 12 theo USD, dự trữ ngoại tệ thứ 5, chi phi quốc phòng thứ 9 và mức tăng trưởng kinh tế tăng nhanh trong nhiều năm gần đây, những dự đoán trên quả thật rất có cơ sở. Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ [9] và CIA, TWFB2, những cải cách kinh tế theo hướng thị trường từ năm 1991 của Ấn Độ đã gặt hái kết quả rất khả quan: GDP tăng trưởng trung bình 6,8% từ 1994, thành phần trung lưu lớn mạnh khoảng 320 - 340 triệu. Nhờ vào lực lương chuyên viên đông đảo, có trình độ cao và sành sõi Anh ngữ, Ấn Độ đã trở thành quốc gia xuất cảng quan trọng về phần mền (software) và các chuyên viên vi tính; thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ trong lãnh vực công nghệ thông tin và đang trở thành trung nghiên cứu và sản xuất dịch vụ liên quan đến phần mềm. Kim ngạch xuất khẩu phần mềm năm 2004 đã đạt được 17,2 tỷ USD. Bản tin của BBC ngày 7.12.2005 đã loan báo quyết định của Microsoft đầu tư 1,7 tỷ USD vào Ấn Độ, và chỉ hai hôm trước đó, Intel đã đầu tư 1 tỷ USD vào xứ sở này. Các công ty có tầm cỡ thế giới khác như General Motors, Phillips, Bell Labs, Yahoo, Google, SAP cũng đã đặt cơ sở nghiên cứu và phát triển phần mềm (R&D) tại đâỵ. Trị giá đầu tư từ nước ngoài vào thị trường chứng khoán Ấn Độ năm 2005 đạt mức kỷ luật 10.7 tỷ” USD, nâng tổng trị giá cổ phiếu lên hơn 40%, như theo bản tin BBC ngày 6 2 2006, đã cho thấy các nhà đầu tư thế giới đang tin tưởng vào triển vọng của nền kinh tế Ấn Độ.
Nhưng để vươn mình trở thành cường quốc thực sự, Ấn Độ cần phải khắc phục sự trì trệ trong việc thực hiện những biện pháp cải cách kinh tế, từ việc tư hữu hoá khu vực kinh tế quốc doanh, đến tu chỉnh các đạo luật khuyến khích FDI; tháo gở hàng rào quan thuế trung bình hơn 20%, cao hơn gấp hai lần con số của các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á; kiềm hãm tỷ lệ dân số gia tăng 1,6%; giảm thiểu tỷ số dân nghèo 25% và khiếm hụt ngân sách 9%. Ông Raghuvan Rajan, chuyên gia hàng đầu của quỹ tiền tệ thế giới IMF gần đây đã nhận định “chính phủ Ấn Độ đã bắt đầu hành động” [10] . Theo kết quả cuộc thăm dò do hãng tin Reuters thực hiện, đăng trên BBC ngày 9.6.2005 [11] , Ấn Độ đứng đầu danh sách những quốc gia được xem là địa điểm hấp dẫn nhất cho đầu tư kinh tế trong ngắn hạn, và chỉ đứng sau Trung quốc trong đầu tư dài hạn.
Trên tạp chí Times số phát hành ngày 12.12.2005 [12] , Bộ trưởng Tài chánh Ấn Độ, Ông Palaniappan Chidambaram đã ví von đất nước mình như một con chim trong đàn, mà Trung quốc là con chim đầu đàn. Ông gọi tính hữu hiệu trong sự chỉ đạo kinh tế của Trung Quốc là “hiệu quả khắc nghiệt” (brutal efficieny) và thừa nhận sự lãnh đạo thiếu hiệu quả của chính phủ ông được thành lập từ liên minh của 12 đảng phái khác nhau nên khó có thể đạt được những quyết định nhanh chóng về các chương trình kinh tế. Nhưng ông vững tin với một dân số trẻ, 350 triệu dưới 15 tuổi, so với dân số chóng già nua của Trung quốc là hệ quả của chính sách “hiệu quả khắc nghiệt”, Ấn Độ rất có khả năng sẽ vượt qua Trung Quốc trong những thập niên tới.
Trung Quốc - sự phát triển kinh tế ngoạn mục và những vấn nạn: Nhận định về sự phát triển của Trung Quốc, ông Ted C. Fishman đã viết: “Tính từ sự trỗi dậy của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ trong cuộc Cách mạng Kỹ nghệ vào thế kỷ 19, không một xứ sở nào thách thức phần thế giới còn lại một cách lẹ làng và đầy sức mạnh trên nhiều mặt trận như Trung Quốc” [13] . Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tổng hợp những dữ kiện quan yếu giúp chúng ta có đuợc một cái nhìn bao quát, bắt đầu bằng những đánh giá của Hoa Kỳ, qua bộ Ngoại giao9 và cơ quan tình báo CIA-TWFB2. Khởi đầu cuộc cải cách và mở cửa từ năm 1979, nền kinh tế Trung Quốc đã thực sự khởi sắc hơn một thập niên sau, GDP đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới, trung bình 10% cho giai đoạn 1990-2004 và tăng 10 lần so với năm 1979. Ngày nay, Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới tính theo mãi lực bình quân (PPP) và thứ 6 theo USD; dự trử ngoại tệ thứ 2 (610 tỷ USD/2004) và chi phí quốc phòng thứ 2 (67 tỷ USD/2004). Tổng kim ngạch mậu dịch năm 2004 đã đạt hơn 1100 tỷ USD, vượt qua Nhật Bản và đứng thứ 3 thế giới sau Hoa Kỳ và Đức, với mức thặng dư mậu dịch đạt 32 tỷ USD, 162 tỷ với riêng Hoa Kỳ. Khu vực kinh tế tư nhân bành trướng nhanh chóng, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia. Trung Quốc có tỷ số tái đầu tư rất cao, 45% GDP năm 2004 và là quốc gia dẫn đầu về mức đầu tư nước ngoài (FDI), 64 tỷ USD năm 2004. Tổng số FDI tích lũy lên đến 563,8 tỷ USD và 50% kim ngạch xuất khẩu đến từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Những sự kiện quan yếu đáng ghi nhận khác như việc thừa nhận quyền tư hữu; bán cổ phần các ngân hàng nhà nước lớn nhất ra công ty nước ngoài; nâng giá đồng Yuan lên 2,1% và chuyển qua một hệ thống hối xuất mới theo đó đồng Yuan sẽ được định giá dựa trên một nhóm ngoại tệ thay vì chỉ có đồng Mỹ kim. Sự tiếp cận với thế giới bên ngoài qua việc sử dụng Internet gia tăng nhanh chóng, hơn 100 triệu người tính đến cuối năm 2005, được đánh giá như một nhân tố tích cực.
Sự bùng phát của nền kinh tế của Trung Quốc trong những thập niên qua đồng thời cũng phát sinh nhiều vấn đề nan giải. Tính ổn định và mức phát triển kinh tế của đất nước này trong những thập niên tới sẽ tùy thuộc vào khả năng giải quyết các vấn nạn mà chính quyền Trung Quốc đang đối đầu. Chính sách “một con” đã hạn chế được dân số gia tăng, nhưng cũng biến Trung Quốc thành một trong những quốc gia có dân số già nua nhanh nhất trên thế giới. Các đô thị kỹ nghệ và nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng. Hằng trăm ngàn lao động thặng dư ở khu vực nông thôn đổ xô ra thành phố và lực lượng công nhân bị mất việc do chính sách tư hữu hoá và giải thể các xí nghiệp quốc doanh tạo thêm gánh nặng công ăn việc làm vốn đã khó khăn cho thế hệ mới lớn. Khu vực kinh tế quốc doanh vẫn còn cồng kềnh, chiếm khoảng 40% GDP, nhiều xí nghiệp kém hiệu quả, tồn tại nhờ vào trợ cấp chính phủ. Hệ thống ngân hàng nhà nước đương đầu với những khoản nợ tồn động khó đòi và nạn tham nhũng vẫn là một vấn nạn lớn. Sự phát triển tập trung ở đô thị quanh vùng duyên hải tạo nên sự phát triển mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, bộc phát những căng thẳng về xã hội. Những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đặt trọng tâm vào việc cải thiện ngành quản lý, đã đạt được những tiến triển đáng ghi nhận về thị trường tài chánh và các doanh nghiệp nhà nước. Các đạo luật bảo vệ môi sinh chặt chẽ và hiệu quả hơn.
Những đúc kết của Trung ương tình báo và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã khá bao quát và đầy đủ, chúng tôi chỉ cập nhật những sự kiện có ý nghĩa xảy ra gần đây. Tờ The Economist trong bài bình luận ngày 13.12.2005 đã nhấn mạnh đến tính cách bất thường về con số tăng vọt của các cuộc bạo động, từ 10 ngàn vụ năm 1994 lên 74 ngàn 2004, và việc nhanh chóng trừng phạt viên chức chỉ huy cuộc đàn áp biểu tình của nông dân tại DongZou tháng 12 vừa qua. Theo bản tin BBC ngày 19.1.2006, các cuộc bạo động năm 2005 tăng 6%, lên 87 ngàn vụ. Chính phủ Trung Quốc đang đau đầu với bài toán nan giải, làm thế nào giữ được mối quân bình giữa sự tôn trọng quyền lợi chính đáng của nông dân, thực thi nghiêm túc các cuộc bầu cử cấp thôn xã một cách dân chủ như đã hứa và đồng thời vẫn duy trì được sự trung thành của các cấp chính quyền địa phương, là nền móng của quyền lực chính phủ trung ương. Quyết định hủy bỏ thuế nông nghiệp từ năm 2006 ban hành tháng 12 vừa qua [14] cho thấy mối quan ngại của chính quyền Trung Quốc đối với vấn đề nhạy cảm và hệ trọng này.
Thặng dư sản xuất tại Trung Quốc (overheating) do sự đầu tư dư thừa và khả năng tiêu thụ nội địa thiếu cân đối là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Trung Quốc đang nỗ lực hạn chế đầu tư trong những khu vực có khả năng phát sinh thặng dư, đặc biệt ngành xây dựng. Với mức tiết kiệm khu vực đô thị rất cao 23% lợi tức cá nhân so với Hoa Kỳ gần như 0%, mức tiêu thụ tăng tưởng 18% mỗi năm so với Hoa Kỳ 2%, ngân hàng đầu tư Credit Suisse First Boston (CSFB) tiên đoán trong vòng 10 năm, Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ là quốc gia có mức tiêu thụ cao nhất [15] . Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ về mức tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, TV, tủ lạnh, phôn di động; đứng đầu thế giới về tiêu thụ thép, thịt, than đá [16] ; thứ 2 về dầu, thứ 4 về xe hơi… Các bản tin mới đây cho thấy dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc năm 2005 tiếp tục tăng nhanh, 34.3%, đạt 818.9 tỷ USD; đồng thời dự trữ ngoại tệ của Nhật bản tăng lên 846.9 tỷ USD. Ngày nay, Trung Quốc và Nhật Bản là hai chủ nợ lớn nhất của thế giới và Hoa Kỳ. Thặng dư mậu dịch Trung Quốc tăng từ 30 tỷ USD 2004 lên 90 tỷ 2005. Và không phải chỉ có hàng hóa thông dụng cho cuộc sống hàng của Trung Quốc tràn ngập khắp thế giới như chúng ta vẫn thường thấy, theo bản tin của Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD) tháng 12.2005, “Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ về xuất cảng hàng hoá ngành truyền thông và thông tin (ICT) như máy vi tính, phone di động, máy hình điện tử…” [17] . Năm 2003, Trung Quốc đã là quốc gia sản xuất xe hơi lớn thứ tư thế giới với 4 triệu chiếc. Theo bản tin của báo Asia Times ngày 22.3.2005, tổ chức tư vấn hàng đầu châu Âu Capgemi đã tiên đoán: với mức thu hút từ 60 đến 80% tổng đầu tư trên thị trường thế giới của các công ty sản xuất xe hơi lớn như General Motors, Volkswagen, Toyota và Nissan, Trung Quốc sẽ trở thành quốc sản xuất xe hơi lớn nhất trong vòng 3 đến 5 năm tới [18] . Ông José Ángel Gurría, tân Chủ tịch OECD và cũng là cựu Bộ trưởng Tài chánh Mexico, dự báo Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc kinh tế số 1 trong ba thập niên. Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ giữ vai trò quan trọng hơn trong giao dịch hối đoái và mậu dịch trên thế giới, và sẽ tiếp tục là quốc gia thu hút đầu mạnh [19] . Tờ The Economist trong bài bình luận “The World in 2026”, dự đoán Trung Quốc sẽ có khả năng vượt qua nền kinh tế Hoa Kỳ khoảng năm 2026. Dựa trên mãi lực bình quân, nhiều kinh tế gia dự đoán Trung Quốc sẽ có nền kinh tế lớn nhất sớm hơn thế nữa.
Trung Quốc - cơ hội hay hiểm họa?
Các yếu tố ảnh hưởng đến những quyết định của quốc gia và cách hành xử cá nhân cũng có những điểm tương đồng. Người nghèo khó cùng đường sẽ dễ làm càn, thí mạng hơn kẻ có của ăn của để. Sự dốt nát, hệ quả của nghèo khó, và sự khép kín với thế giới bên ngoài dễ dẫn đến thái độ độc đoán, cực đoan và cuồng tín. Một Trung Quốc hôm nay phát triển, mở cửa và hội nhập với thế giới sẽ tăng cơ hội và giảm thiểu hiểm họa so với nước Trung Quốc lạc hậu tăm tối, cô lập và giáo điều của những thập niên dưới triều họ Mao. Hơn thế nữa, ngày nay khi nền kinh tế được toàn cầu hóa cao độ, không một cường quốc nào có thể tự đứng vững và phát triển nếu thiếu sự hợp tác của các khối kinh tế khác. Nền kinh tế thế giới dựa trên nhiều khối kinh tế lớn mạnh sẽ phát triển vững vàng và ổn định hơn là dựa trên ưu thế độc tôn của chỉ một cường quốc. Michael Schuman trong số báo Times số ra ngày 9.5.2005, tựa đề “Sự phát triển các thành phần tiêu thụ của Trung Quốc sẽ cần thiết cho nền kinh tế thế giới đang lệ thuộc nguy hiểm vào Hoa Kỳ” đã nhận định: Các nhà kinh tế khẩn trương cảnh cáo nền mậu dịch thế giới đang quá lệ thuộc vào tiêu thụ của Hoa Kỳ. Đến một lúc nào đó, Hoa Kỳ buộc sẽ giảm tiêu thụ để khắc chế trình trạng thâm hụt cán cân mâu dịch và ngân sách, nền kinh tế thế giới sẽ phải chịu thiệt hại15.
Cuộc họp lần đầu tiên của 16 quốc gia Châu Á tại Kuala Lumpur tháng 12 vừa qua đã không đạt được kết quả hệ trọng nào ngoài quyết định sẽ tiếp tục cuộc họp hàng năm để bàn thảo sâu rộng hơn về sự hợp tác giữa các quốc gia trong vùng. Những nhà bình luận nghi ngờ về sự hình thành của liên hiệp Châu Á phân tích rằng do sự kình địch và cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc trong vùng, các cuộc thảo luận như thế sẽ chỉ làm tăng thêm mối căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực. Các quan sát viên lạc quan về khả năng hình thành của liên hiệp Châu Á đã so sánh cuộc họp của 16 quốc gia Châu Á tại Kuala Lumpur với cuộc họp của các lãnh tụ châu Âu năm 1955 đặt nềm móng cho sự hình thành của Liên hiệp Châu Âu. Ông Lý Quang Diệu tiên đoán sự hình thành của Hiệp hội Châu Á sẽ trải là một quá trình lâu dài, đến hai, ba thập niên1. Hai ông Yiyi Lu và Chris Hughes thuộc viện Nghiên cứu an ninh của Đài Loan nhận định: những người hoài nghi đã không nhận thức được rằng sự phát triển mối liên kết của những quốc gia Đông Á sẽ không theo một mô hình có sẵn nào cả, mà là con đường của chính riêng mình. Và trong một diễn đàn đa quốc gia, sự cạnh tranh không nhất thiết sẽ là chướng ngại vật, ngược lại có thể là nhân tố tích cực cho sự hội nhập của khu vực [20] . Báo Yômiưri của Nhật Bản số ra ngày 13.1.2006 đưa tin Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đang chuẩn bị công bố đơn vị tiền tệ chung Châu Á (ACU) vào đầu tháng 3.2006. ACU sẽ được dùng làm tiêu chuẩn đánh giá các biến động giá trị của 13 đồng tiền ở Châu Á. Báo Yômiưri nhận định việc công bố ACU là bước đầu nhằm tiến tới việc ban hành một đồng tiền chung Châu Á. Châu Âu cũng đã công bố một đơn vị trao đổi tiền tệ tương tự như ACU năm 1979 trong giai đoạn khởi đầu của việc thiết lập một hệ thống tiền tệ chung của châu Âu trước khi đơn vị tiền tệ này được thay thế bằng đồng euro tháng 1.1999 [21] .
Chậm hay nhanh, ở mô hình tổ chức và mức độ hội nhập khác nhau, cũng như Euro các quốc gia Châu Á sẽ vượt qua được các dị biệt về văn hoá, chính trị để tiến tới một cơ chế hợp tác sâu rộng hơn vì lợi ích kinh tế của mỗi quốc gia trong vùng, như theo kết luận công trình nghiên cứu của Viên Nghiên cứu các Quốc gia đang Phát triển (RIS) [22] . Sự hội nhập trong khu vực sẽ dẫn đến việc hợp tác chặt chẽ hơn trong vùng không những sẽ giúp các quốc gia Châu Á đương đầu hữu hiệu hơn với những vấn đề hệ trọng và khẩn cấp chung, như nguy cơ của bệnh cúm gia cầm hiện nay hay cuộc khủng hoảng tài chánh Châu Á năm 1997, mà còn làm tăng khả năng cạnh tranh của toàn khu vực với các tập hợp kinh tế lớn mạnh khác trên thế giới như Châu Âu và Bắc Mỹ (the North American Free Trade Agreement).
Nếu như sự hình thành của Liên hiệp Châu Á vẫn còn là một dự đoán chưa rõ nét, thì sự bùng phát của các nền kinh tế Châu Á, đặc biệt Trung Quốc và Ấn Độ, đã bắt đầu từ hơn hai thập qua và vẫn đang tiếp diễn là sự kiện trọng đại trong lịch sử hiện đại. Châu Á đang chuyển mình lớn mạnh, sẽ giữ vai trò quan trọng hơn trong mối quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế và cán cân quyền lực toàn cầu trong những thập niên tới.
Chú thích:
[1] The Man Who Saw It All, http://www.time.com/.
[2] CIA, The Work Fact Book, http://www.cia.gov/.
[3] ADB, Developing Asia: Economic highlights of 2004 and prospects for 2005-2007, http://www.adb.org/.
[4] CIA, TWFB
[5] The World Bank's annual Global Economic Prospects (GEP) report for 2006, http://www.finfacts.com/.
[6] United Nations, WORLD FDI flows grew an estimated 6 per cent in 2004, ending downturn, http://un.by/en/.
[7] CIA, TWFB không số liệu chi phí quốc phòng của Nga, nhưng theo infoplease.com, năm 2004 Nga đã chi 19,4 tỷ $US, xếp hạng thứ 8 trên thế giới, http://www.infoplease.com/.
[8] BBC, Arms trade key statistics, http://news.bbc.co.uk/.
[9] U.S. Department of State, http://www.state.gov/.
[10] BBC, India's economy packs more punch, http://news.bbc.co.uk/.
[11] BBC, India 'tops for Asian investment', http://news.bbc.co.uk/.
[12] Times, “India's Real Growth Rate”, http://www.time.com/.
[13] talawas, Thức giấc cùng Trung Quốc, http://www.talawas.org/.
[14] China axes ancient farm tax, http://www.fin24.co.za/.
[15] Times, “Hey, Big Spenders!”, http://www.time.com/.
[16] Times, “China emerges as global consumer”, http://news.bbc.co.uk/.
[17] China overtakes U.S. as world’s leading exporter of information technology goods, http://www.oecd.org/.
[18] http://business.clemson.edu/.
[19] OECD, Chief cites 'stable' global outlook, http://www.iht.com/.
[20] The East Asia Summit, Kuala Lumpur, 14 December 2005: issues and outcomes
http://www.aph.gov.au/.
[21] ADB, Plans to release ACU average, http://www.yomiuri.co.jp/.
[22] RIS Studies on Regional Cooperation and Economic Integration in Asia, http://www.newasiaforum.org/.

25/1/2006
Trần Bình
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ

Vọng âm - Một tiểu thuyết dày công tư duy và lao động quá khứ Nhà văn Nguyễn Thu Hà vừa có buổi ra mắt tiểu thuyết “Vọng âm” (NXB Công an ...