Hai khía cạnh của một kỳ thi
Trong tình hình nước ta hiện nay, việc tồn tại kỳ thi tuyển
sinh vào đại học là một thực tế khó có thể làm khác được. Đã có lúc các quan chức
của Bộ Giáo dục và Ðào tạo thí điểm dùng kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT để
chọn học sinh vào đại học và sự thất bại của ý tưởng này như thế nào thì đã rõ.
Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ muốn phân tích hai khía cạnh được xem là
quan trọng nhất của kỳ thi tuyển sinh. Một là kỳ thi phải tuyển được những học
sinh học khá hơn vào đại học. Thứ hai là kỳ thi tuyển sinh này, chính xác hơn
là đề thi, có ảnh hưởng quan trọng tới việc dạy và học ở bậc THPT.
Tôi muốn nhấn mạnh là chúng ta cần chọn những học sinh khá hơn vào đại học, bởi
lẽ số học sinh trúng tuyển của mỗi trường là theo chỉ tiêu đã được ấn định từ
trước. Các trường không được phép thấy năm nay có nhiều hoặc ít hơn học sinh giỏi
để tự động thay đổi chỉ tiêu này. Vì vậy có những học sinh không đủ năng lực để
tiếp thu học vấn ở bậc đại học vẫn có thể đỗ và ngược lại. Hiện nay đa số các
trường vẫn đang sử dụng cách thi viết truyền thống để chọn số học sinh khá hơn
này. Do hạn chế về mặt thời gian, năng lực của cán bộ ra đề thi nên để ra được
một đề thi không bị sai, đảm bảo phân loại được học sinh không phải là một việc
dễ dàng. Chưa nói đến đề thi có nhiều câu hỏi hay, kích thích sự sáng tạo và
đem lại sự thích thú cho người làm bài thi. Có không ít các đề thi có câu hỏi
không rõ ràng khiến các em học sinh không biết mình phải trình bày như thế nào
mới là đủ, thậm chí còn không biết chính xác đề thi hỏi gì (không tính đến học
sinh không xác định được yêu cầu của đề thi do trình độ kém). Thế mới có chuyện
trong quá trình chấm thi có thể phải bổ sung đáp án đến vài lần (còn một lần
thì không hiếm). Có đề thi không sai nhưng đọc đáp án thì sai, ngôn ngữ dễ hiểu
ở đây là nếu tác giả của đề thi tự làm đề do mình ra rồi để người khác chấm lại
sẽ không được 10 điểm! Ðấy là chưa kể đến những cái sai không gây chết nguời,
không làm ảnh hưởng tới kết quả bài làm của học sinh nhưng về mặt khoa học thì
khó có thể chấp nhận. Ví dụ như đề vật lý: hiện tượng vật lý trong đề thi cùng
một lúc có vài định luật nghiệm đúng, nhưng đề thi chỉ cần áp dụng máy móc biểu
thức của một định luật đã ra kết quả như đáp án rồi! Nhưng nếu áp dụng một định
luật khác đáng lẽ phải đúng trong trường hợp này thì sẽ thu được một số kết quả
"ngớ ngẩn" hoặc chứng minh được định luật này là sai! (đề thi của một
trường đại học ở Hà nội năm 1999, ngay năm sau đề vật lý của trường này lại gây
nên một vụ ầm ĩ nữa). Cụ Newton đă bị một "quả tạ" rơi trúng đầu (xin
lỗi cụ Newton!). Ðể đảm bảo "an toàn" tác giả của các đề thi đã phải
rất cố gắng trong việc tổ hợp các bài toán nhỏ thành các bài toán tổng hợp hơn,
có các nghiệm đơn trị, với lời giải chính tắc và quen thuộc. Chính vì vậy, để học
được cách giải chính tắc cho hàng loạt các dạng toán đủ mọi thể loại của các
môn học, các em học sinh đã phải vất vả nhọc nhằn suốt 3 năm học Trung học ở
trường và trong các lớp luyện thi, cho một việc đơn thuần là ghi nhớ cách giải
rồi làm thật nhiều các bài tập tương tự để hình thành kỹ năng giải toán. Thực
chất cuộc thi của chúng ta vẫn chỉ là một kỳ kiểm tra trí nhớ và kỹ năng làm
bài của thí sinh mà thôi. Giáo viên cũng buộc phải dạy theo cách này vì thực tế
cần phải dạy như vậy để các em còn phải đi thi. Thì giờ đâu mà cùng với học trò
thưởng thức cái hay cái đẹp của chính các công thức hay các định luật được nhắc
đến trong mỗi giờ học. Các em có thể thuộc rất nhiều dạng toán sau các kỳ luyện
thi và tính các tích phân vèo vèo nhưng vẫn có thể trả lời rằng "vật nặng
thì bao giờ cũng rơi nhanh hơn vật nhẹ". Kết quả của lối học này là luôn
băn khoăn, lo lắng, thậm chí sợ sệt, không biết làm thế nào để vượt qua được một
dạng bài mới. Họ không dám hoặc không có thói quen sẵn sàng để làm một phép thử
hay tự tìm cách để vượt qua bài toán này. Ðây không biết có phải là sản phẩm
mong muốn của chúng ta không. Cả thầy và trò cặm cụi thi đua "chạy
maraton" suốt ba năm trời để cuối cùng nếu may mắn hơn nhận được tin vui đỗ
vào đại học thì lại thấy chợt buồn vì cũng đã chứng minh được rằng sản phẩm của
ba năm đó là những học sinh còn kém trong việc tự học, ít có thói quen tự suy
nghĩ tìm tòi. Và rất mệt rồi, nên em cần phải nghỉ ngơi trong thời gian học ở đại
học. Còn thầy cô lại phải chạy tiếp một vòng đua maraton khác giống hệt lúc trước.
Dạy, Học và Thi. Nếu chỉ có thế thôi thì thật buồn, đó đâu phải là mục đích tối
thượng của giáo dục là hình thành nhân cách con người. Hay rất cụ thể là đào tạo
những công dân có thói quen suy nghĩ, có đủ năng lực sáng tạo, đảm đương được với
những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại, vì tương lai tươi sáng của dân
tộc.
Thi xong rồi nhưng chắc các em cũng chưa hết lo, không biết do thời tiết nóng bức
hay do phải chấm thật nhanh mà các thầy có thể chấm sai làm mình bị oan ức gì
không. Và sự lo này của các em không phải là không thực tế, với số bài thi nhiều
như vậy, thời gian thì không nhiều lên, năng lực của cán cán bộ chấm thi không
phải đã "đảm bảo an toàn tuyệt đối" nên chuyện sai sót là chắc chắn xảy
ra (nếu chúng ta để các giám khảo "thi thử", rồi chọn những vị được 5
điểm vào chấm thì không biết có bao nhiêu phần trăm số giám khảo sẽ bị loại).
Sai lầm phần nhiều rơi vào các thí sinh không "dốt hẳn" và không
"giỏi hẳn".Ðể tránh thiệt thòi cho các thí sinh, Bộ Giáo dục và Ðào tạo
cần thanh tra kỹ ngay cả ở lần chấm phúc khảo. Bởi biết đâu vì một cái gì đó gọi
là danh tiếng của trường mà việc chấm ở lần phúc khảo này "vẫn" bị
sai. Những trường sau lần chấm phúc khảo có nhiều học sinh từ trượt thành đỗ
thì rõ ràng là không hoan nghênh nhưng những trường có ít học sinh từ trượt
thành đỗ thì nên thanh tra lại!
Theo ý kiến của riêng tôi, một trong số các chủ trương đúng ít ỏi của Bộ Giáo dục
và Ðào tạo là chủ trương chuyển hình thức thi viết truyền thống sang hình thức
thi bằng trắc nghiệm khách quan đối với một số môn. Xét ở khía cạnh chọn học
sinh khá hơn thì với cả hai hình thức thi những học sinh "giỏi thật"
chắc chắn sẽ đỗ, những học sinh "dốt thật" sẽ trượt. Tuy sẽ vẫn có một
sự may rủi với các học sinh trung bình không dốt mà cũng chẳng giỏi, nhưng với
hình thức thi trắc nghiệm khách quan, sự may rủi với những học sinh này sẽ giảm
thiểu do sai sót ở khâu chấm thi sẽ không còn. Việc chấm thi sẽ không còn mất
quá nhiều công sức và thời gian nữa, kết quả lại có được nhanh chóng. Cái được
này cũng là một cái được lớn. Tuy vậy có nhiều băn khoăn rằng với thi trắc nghiệm
học sinh sẽ trở thành các cái máy, chỉ biết bấm máy tính để thử kết quả. Ta sẽ
không biết quá trình tư duy để đi đến câu trả lời của thí sinh diễn ra như thế
nào. Tôi không thấy sự thuyết phục trong lập luận này. Tôi nghĩ rằng cần phải
biết quá trình tư duy của các em học sinh ngay trong quá trình dạy và học chứ
không phải chờ đến kỳ thi vào đại học mới cần biết điều đó. Việc dạy học đúng
nghĩa phải hình thành và phát triển tư duy của học sinh. Những nếu học sinh cứ
học thuộc cách giải của các dạng bài , không cần dành thời giờ mà suy ngẫm , mà
để tự tìm ra lời giải hay, lời giải đẹp cho bài toán thì liệu em đó có thông
minh hơn không.
Muốn chọn được chính xác thì đề thi trắc nghiệm đòi hỏi phải có một lượng câu hỏi
rất lớn sao cho những học sinh giỏi nhất cũng chỉ đủ thời gian làm hết các câu
hỏi trong thời gian cho phép. Các thí sinh có thể đoán mà chọn câu trả lời
nhưng xác suất cao nhất cũng không thể có được một phần tư tổng số điểm nếu mỗi
câu hỏi có 4 phương án trả lời. Khi soạn câu hỏi người ra đề đã phải tính tới
khả năng này. Anh ta không thể làm thay đổi bảng xếp hạng của các thí sinh để
có thể từ trượt thành đỗ được. Ðề thi sẽ bao quát hầu khắp các kiến thức được đề
cập trong chương trình nên tránh được hiện tượng học sinh chỉ tập trung vào học
một số vấn đề chính. Với đề thi tự luận, để làm được phần lý thuyết (nếu có)
thì cứ học thật thuộc mà không cần hiểu chu đáo hoặc hiểu đúng, thậm chí không
cần hiểu gì. Học sinh luôn phải học thuộc đến nỗi phát sợ quyển sách theo mình
mấy năm trời, thi xong chỉ muốn vứt đi! Cũng có một"cái lợi" là thầy
cô luôn thuộc giáo án mà chẳng cần phải đọc thêm sách tham khảo làm gì cho mệt!
Phần bài tập như đã nói ở trên học sinh phải cố mà giải thật nhiều bằng các
cách giải đã học được ở các lớp luyện thi hay trong một "rừng" các
tài liệu tham khảo. Trong khi đó yêu cầu của các câu hỏi lý thuyết trong đề thi
trắc nghiệm đòi hỏi phải hiểu đúng, đầy đủ và biết so sánh giữa các phần kiến
thức khác nhau trong chương trình mới mong trả lời đúng và nhanh các câu hỏi,
không phải cứ học thuộc như một con vẹt mà có thể trả lời được. Chọn được câu
trả lời đúng không dễ như nhiều người nghĩ. Tất nhiên đề thi tự luận cũng có thể
có những câu hỏi như thế song không thể hỏi được nhiều. Ðề thi nào bắt giải
thích nhiều quá thì thế nào cũng "cãi nhau to". Không may mà chính
tác giả cũng giải thích sai thì "đại hoạ", thôi thì cứ trình
bày"như sách" cho "an toàn ".
Thí sinh không phải cứ dùng máy tính mà bấm ra được các phương án trả lời của
các câu hỏi trong đề thi trắc nghiệm. Anh ta phải có một kiến thức vững chắc,
toàn diện, có khả năng định hướng tư duy tốt, rất nhanh nhẹn trong các thao tác
tư duy mới mong tìm được cách giải đúng và tất nhiên cũng phải biết bấm máy
tính nhanh thì mới kịp thời gian. Trong quá trình học bắt buộc anh ta phải học
đúng, học thông minh, học đầyđủ, học toàn diện cả kiến thức, các phương pháp tư
duy và kỹ năng tính toán mới hy vọng thành công khi làm bài thi trắc nghiệm.
Anh tư duy tồi rõ ràng sẽ không thể tìm được nhiều đáp số đúng trong một bài
thi đòi hỏi tốc độ như thi trắc nghiệm. Số câu trả lời đúng tìm được trong cùng
một thời gian cũng là một chỉ số quan trọng để đánh giá và so sánh quá trình tư
duy của học sinh. Các thầy cô và học trò sẽ bắt buộc phải tiếp cận vấn đề dưới
nhiều góc độ, nhiều cách khác nhau. Họ sẽ mệt mỏi và sung sướng khi phải suy
nghĩ và đọc nhiều sách tham khảo hơn.
Tất nhiên từ việc anh hiểu, tư duy tốt, tìm ra lời giải nhanh chóng đến việc
phát biểu thành lời chứng tỏ những điều anh học được đã là của chính anh là cả
một khoảng cách. Vì vậy nếu muốn chọn được những học sinh mà tương lai sẽ trở
thành các nhà khoa học thì cần phải thách thức họ với những đề thi tự luận đòi
hỏi trình độ tư duy cao. Nhưng vì số người tương lai trở thành nhà khoa học bao
giờ cũng ít nên chỉ nên áp dụng hình thức này khi cần tuyển sinh viên cho các lớp
năng khiếu hay tài năng thôi. Còn đa số sẽ học để có thể "phát biểu thành
lời" trong việc tập làm các đề tài, các bài tập lớn trong quá trình học đại
học, vì thế cách thi cử và đánh giá ở bậc học này cũng nên có những thay đổi
thích hợp. Thật ra trong quá trình học ở bậc phổ thông trung học nếu học sinh
đã được làm quen với việc viết các tiểu luận nhỏ là lý tưởng nhất. Nhưng thực tế
nước ta hiện nay khó có thể làm được.
Với những phân tích "dài dòng" ở trên tôi một lần nữa ủng hộ việc
dùng hình thức thi trắc nghiệm trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học với điều kiện
phải có thời gian và tập trung được tâm huyết, tài năng của các thầy giáo giỏi
trong việc soạn đề, còn với một đề thi tồi thì cách thi nào cũng là dở cả.
17/8/2002 Đào Tuấn ĐạtNguồn: Một bản trước của bài này đã được đăng trong tạp chí "Thế giới mới" số 448.
17/8/2002
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét