Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

Kinh tế Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập

Kinh tế Việt Nam
trước ngưỡng cửa hội nhập

Sau gần hai thập niên cải cách, Việt Nam đã được các tổ chức kinh tế và tài chánh quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có mức phát triển kinh tế nhanh trong khu vực Đông Á và các nước đang phát triển trên thế giới. Nhưng đồng thời Việt Nam đang phải đối đầu với một số vấn đề khá nghiêm trọng, là những trở lực cho sự phát triển kinh tế trước ngưỡng cửa hội nhập. Cho đến nay, các hạn chế này vẫn chưa phải là những trở ngại lớn trong một nền kinh tế mà trình độ phát triển và hội nhập thế giới chưa cao, các hoạt động kinh doanh còn tương đối đơn giản và các quy định, tiêu chuẩn trong giao dịch thương mại quốc tế vẫn chưa ràng buộc chặt chẽ, song sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển cao hơn và cánh cửa hội nhập đang mở rộng qua hàng loạt hiệp ước thương mại song phương vừa ký kết và việc sắp sửa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước tạo ra một sân chơi bình đẳng, qua đó các giao dịch kinh doanh sẽ ngày càng phức tạp, cạnh tranh càng khốc liệt và đòi hỏi minh bạch hơn. Ví dụ, do nền pháp lý còn non yếu, việc thiết lập và xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh doanh hiện cơ bản vẫn dựa trên uy tín, lòng tin và các cơ chế không chính thức sẽ không còn phù hợp khi hoạt động kinh doanh trở nên quy mô và phức tạp hơn. Các doanh nghiệp và ngân hàng nhà nước sẽ gặp nhiều khó khăn do những biện pháp hỗ trợ ngầm buộc phải huỷ bỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các ngân hàng nước ngoài sẽ ngày một lớn mạnh. Mở rộng cửa hội nhập vì thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Không phải quốc gia nào cũng thành công như Trung Quốc, do vào thời điểm gia nhập WTO, quốc gia này đã đạt được năng lực cạnh tranh khá vững vàng. Ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), đã khuyến cáo: nếu thiếu chuẩn bị, Việt Nam có thể trở thành Mexico thứ hai sau khi gia nhập WTO [1]. Báo cáo của Oxfam cũng nhận định rằng những những điều kiện ngặt nghèo bị áp đặt để Việt Nam được vào WTO có thể sẽ gây thiệt hại đến các thành phần kinh tế yếu kém.
Đón đầu những thách thức gây go sẽ gặp phải khi gia nhập WTO, những năm gần đây Việt Nam đã ban hành hàng loạt cải cách, thực hiện các thử nghiệm trên nhiều lĩnh vực kinh tế. Phân tích những thành tựu và năng lực cạnh tranh, những hạn chế và các biện pháp của “đợt cải cách vòng hai” là nội dung chính của bản Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006 [2] phổ biến tháng 12/2005 tại hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam. Đây là một tài liệu nghiên cứu rất công phu, hơn 200 trang, được Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ABD), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh, Chương trình Phát triển Kinh tế Tư nhân Mê-Kông (MPDF) của công ty Tài chính Quốc tế cùng soạn thảo, và được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) góp ý kiến. Việc thu thập tài liệu cho các nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển và chuyển biến nhanh như Việt Nam thường gặp khó khăn, do đó bản báo cáo đã tham khảo rất nhiều tài liệu; những phân tích, nhận định đã thận trọng đối chiếu các công trình nghiên cứu từ nhiều nguồn, nhiều thời điểm khác nhau. Song song với các số liệu thu thập từ các cuộc điều tra do các tổ chức kinh tế tài chánh thế giới thực hiện, các nhà tài trợ còn tham gia hỗ trợ các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng số liệu, như WB đối với các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê (TCTK), hay cơ quan Phát triển Quốc tế Thuỵ Điển trong cuộc nghiên cứu tham nhũng gần đây của Ban Nội chính Trung ương. Trong Khuôn khổ của một bài viết ngắn, chúng tôi xin tổng hợp và cô đọng lại một số vấn đề cốt lõi trong bản báo cáo để giới thiệu với bạn đọc. Phần tổng quan cho ta thấy cái nhìn bao quát về hiện tình kinh tế Việt Nam. Trong phần kế tiếp, nền kinh tế Việt Nam sẽ được soi rọi qua sự phân tích những chuyển biến về cơ cấu (thành phần) kinh tế và các đánh giá về chỉ số phát triển và năng lực cạnh tranh. Hướng về tương lai trong bối cảnh hội nhập và phát triển, các hạn chế trong môi trường đầu tư, vai trò của chính quyền địa phương, những tác động về mặt xã hội và môi trường, và nội dung của cuộc cải cách vòng hai sẽ được bàn thảo sâu rộng.
1. Tổng quan: Thành quả ấn tượng và những hạn chế ràng buộc
Kể từ khi bắt đầu cuộc cải cách kinh tế cách đây gần hai thập kỷ, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng rất đáng kể, GDP tăng trung bình 5,9% tính từ 1993, song hệ số Gini đo lường bất bình đẳng xã hội qua việc phân tích mức chênh lệch lợi tức chỉ tăng chút ít, lên 0.37% vào năm 2004. Chính sách cho vay vốn thực hiện rộng rãi với các hộ nông dân và doanh nghiệp nhỏ đã góp phần đáng kể vào sự thành công của công cuộc xoá đói giảm nghèo: từ 1993, tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ 57% xuống dưới mức 20% hiện nay. Hai con số này, hệ số Gini tương đối thấp và tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh, cho thấy “những lợi ích do tăng trưởng mang lại được chia sẻ rộng rãi trong xã hội”. Tính đa dạng của các khu vực doanh nghiệp là một trong những đặc điểm chính, có thể nói là điểm mạnh trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam. Do áp dụng chiến lược phát triển với vai trò chủ đạo của nhà nước, nên hiện nay vẫn còn hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đã bắt đầu quá trình tái cơ cấu dài hạn được tiến hành từng bước. Số lượng DNNN đã giảm đáng kể qua việc giải thể hay sáp nhập các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, và qua cổ phần hóa mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Việt Nam là “một trong những nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới xét theo giá trị tương đối”. Trong khu vực kinh tế tư nhân, gần như một nửa số hộ gia đình ở Việt Nam có hoạt động kinh doanh nhỏ dưới hình thức này hay hình thức khác. Những năm vừa qua đã có hiện tượng bùng nổ trong việc đăng ký kinh doanh tư nhân. Hiện nay khối doanh nghiệp tư nhân đã chiếm đến 33% giá trị ngành công nghiệp chế tạo, mang lại việc làm cho 21% lực lượng lao động. Vốn đầu tư khu vực tư nhân tăng nhanh trong những năm gần đây, hiện chiếm tới 1/3 tổng số vốn đầu tư hàng năm. Tổng số vốn đầu tư huy động của Việt Nam đã đạt 38% GDP năm 2005, là một tỉ lệ rất cao theo tiêu chuẩn quốc tế.
Mặt dù có những biến chuyển quan trọng theo chiều hướng tích cực, các nhà tài trợ không khỏi quan ngại về sự phân bố qui mô doanh nghiệp thiếu hợp lý: giữa hai cực - rất nhiều các hộ kinh doanh, những doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vài ngàn DNNN, công ty nước ngoài - vẫn còn thiếu vắng các doanh nghiệp qui mô vừa và sự hiện diện hiếm hoi của những công ty tư nhân có qui mô lớn. Điều này cho thấy vẫn còn những “rào cản cho sự phát triển doanh nghiệp khu vực tư nhân”.
Những kết quả rất ấn tượng cũng không che lấp một thực tế là các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế đáng kể trên bốn lãnh vực chính: vốn, đất, cơ sở hạ tầng, và kỹ năng lao động. Các doanh nghiệp lớn trong nước vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Dịch vụ tín dụng bị chi phối nặng nề bởi các Ngân hàng Thương mại Nhà nước (NHTMNN) hoạt động kém hiệu quả đã dẫn đến sự tích tụ một khối lượng đáng kể các khoản nợ xấu. Thị trường vốn (chứng khoán) chính thức kém phát triển, nhưng thị trường phi chính thức giao dịch các chứng khoán không niêm yết hoạt động khá sôi động cho thấy thị trường này có khả năng phát triển nếu được qui định đúng đắn. Môi trường pháp lý về quyền sử dụng nhà đất phức tạp và bất nhất, vấn đề quản lý đất rừng bao gồm cả khu vực dân tộc thiểu số, và việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp trên quy mô lớn sao cho sự đền bù được thỏa đáng và tránh được nạn tham nhũng là những khó khăn trên thị trường đất. Tìm được lao động có kỹ năng và giữ được lâu dài các nhân viên giỏi là những trở ngại được các doanh nghiệp xếp là hạn chế lớn thứ ba. Và sau hết, mặc dù sự phát triển cơ sở hạ tầng trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, nhất là điện khí hóa và điện thoại, song các doanh nghiệp vẫn phàn nàn về cơ sở hạ tầng giao thông không đầy đủ, giá điện và điện thoại đắt đỏ. Nhưng trái với suy nghĩ thông thường, những cản trở của hệ thống pháp lý, các thủ tục hành chánh quan liêu và tình trạng tham nhũng đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam lại không bị các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra coi là nghiêm trọng. Vấn đề này cần được mổ xẻ thêm trong phần phân tích về môi trường đầu tư.
Các đánh giá về phát triển và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam từ những góc nhìn khác nhau đã dẫn đến các kết quả khác biệt đáng kể. Các học giả thường dựa trên đặc điểm của khung pháp lý điều tiết các hoạt động doanh nghiệp và những nhân tố đánh giá tiềm năng theo tiêu chuẩn quốc tế đã xếp hạng Việt Nam khá thấp, ở nửa cuối của bảng xếp hạng thế giới hay khá nhất cũng chỉ ở gần khoảng giữa bảng. Song các nhà đầu tư chú trọng hơn về phương diện thực tế, lại đánh giá Việt Nam khá cao, thuộc vào nhóm một phần tư đầu tiên, hoặc thậm chí còn cao hơn.
Mặt dù vẫn tồn tại những hạn chế nghiêm trọng, các doanh nghiệp tại Việt Nam không phải đối đầu với nguy cơ mất vốn do bất ổn định xã hội, tội phạm hoặc các chính sách không dự báo trước được, là những trở ngại cơ bản và quan trọng hàng đầu các nhà đầu tư thường gặp phải tại nhiều quốc gia đang phát triển khác. Các mục tiêu cho tương lai vẫn thường được nhấn mạnh tới tốc độ tăng GDP, nhưng hiện nay Việt Nam đã có thể có tham vọng cao hơn, đó là trở thành một nước có thu nhập ở mức trung bình và đồng thời tạo điều kiện để sự tham gia hoạt động kinh tế và việc chia sẻ các thành quả sẽ trải rộng trong xã hội qua quá trình tăng trưởng. Và điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cuộc cải cách mạnh mẽ và sâu rộng hơn.
2. Các thành phần kinh tế - Cơ cấu và chuyển biến
Hiểu rõ các bộ phận cấu thành nền kinh tế, mối quan hệ giữa các bộ phận này, và những chuyển biến theo thời gian rất hữu ích cho việc phân tích những hoạt động kinh tế tại Việt Nam. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 6 năm 1986 đã xóa bỏ “quản lý tập trung quan liêu dựa trên bao cấp nhà nước” và chuyển sang nền kinh tế “nhiều thành phần theo định hướng thị trường”.
Theo Điều tra Mức sống Hộ gia đình của Tổng cục Thống kê (TCTK) năm 2004, tính bao gồm các hộ nông dân hoạt động kinh doanh vào mùa nhàn rỗi, hiện có đến khoảng 9.3 triệu hộ kinh doanh, tức hơn một nửa số hộ gia đình ở Việt Nam. Cuộc Điều tra Giá trị Thế giới (World Values Survey, WVS) đưa đến một kết luận khá ngạc nhiên rằng người Việt có chí làm ăn hơn cả người Hoa. Hai ngành kinh doanh phổ biến nhất của hộ doanh nghiệp là thương nghiệp (40%) và chế biến, chế tạo (25%). Các hộ doanh nghiệp ngày càng mang tính chuyên nghiệp, tỷ lệ thua lỗ giảm dần, còn rất thấp. Tuy nhiên, lao động khu vực hộ doanh nghiệp có chiều hướng giảm, từ 30% năm 1993 xuống 25% 2004; có thể do sự thu hút của việc làm được trả lương của các doanh nghiệp, tăng nhanh từ 16% lên 27% trong cùng thời kỳ.
Khuôn khổ pháp lý cho doanh nghiệp tư nhân được thiết lập năm 1990, nhưng sự nở rộ của hoạt động doanh nghiệp tư nhân bắt đầu từ năm 2000, khi Luật Doanh nghiệp ban hành đã đơn giản hóa thủ tục đăng ký rất đáng kể. Số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký chính thức và đi vào hoạt động từ đó tăng nhanh, bao gồm các doanh nghiệp mới thành lập, các hộ doanh nghiệp được nâng cấp, và doanh nghiệp hoạt động không chính thức trước đây. Số lượng doanh nghiệp thực sự hoạt động chiếm hơn một nửa số đăng ký, khoảng 65 ngàn doanh nghiệp. Theo phân tích của IMF, nhiều doanh nghiệp mới đăng ký do nguồn vốn của kiều bào dưới danh nghĩa người thân đang sống trong nước. Loại hình công ty đơn giản như một chủ hay trách nhiệm hữu hạn chiếm đến 90% tổng số; tuy nhiên, gần đây đã có xu hướng hình thành các công ty loại hình phức tạp hơn như công ty cổ phần (CTCP). Vào năm 2002, doanh nghiệp tư nhân một chủ trung bình có 15 nhân viên; công ty trách nhiệm hữu hạn là 38 và CTCP 53. Khách hàng phần lớn là cá nhân (67%), doanh nghiệp tư (20%) và DNNN (9%). Chỉ có 2% doanh nghiệp tư nhân có thị trường chính là thị trường xuất khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự hình thành của những doanh nghiệp có quy mô lớn như Biti’s, Kinh Đô và Cà phê Trung Nguyên hiện vẫn còn hiếm hoi.

Sau khi quốc hữu hóa 1500 doanh nghiệp tư nhân của miền Nam năm 1978 thành 650 DNNN, số doanh nghiệp nước tiếp tục tăng, vào cao điểm năm 1986 có đến hơn 12 ngàn doanh nghiệp. Nhưng xu hướng này bắt đầu đảo ngược từ đó, do việc giải thể và sáp nhập các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Đến tháng 4/1994 số lượng DNNN đã giảm xuống còn khoảng phân nửa, 6.264. Công cuộc cổ phần hoá bắt đầu từ 1998, diễn tiến chậm chạp, trong những năm đầu giống như là tư nhân hoá trong phạm vi nội bộ. Tuy nhiên, gần đây việc cổ phần hoá và bán đấu giá cổ phần những công ty lớn thành công đã thu hút được đầu tư từ bên ngoài. Trung bình, nhà nước nắm giữ khoảng 46%, người lao động giữ 38% và cổ đông bên ngoài 15%. Đến nay đã có 2.500 DNNN cổ phần hoá. Đồng thời, việc thành lập DNNN mới cũng đã thực sự kết thúc vào năm 2001. Cả hai điều này dẫn đến việc giảm đáng kể số lượng DNNN, và tăng số lượng CTCP. Hiện nay, có khoảng 3.200 DNNN đang hoạt động. Đến cuối năm 2006 sẽ có khoảng 3.500 CTCP có vốn đầu tư của nhà nước, trong đó có 900 doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối. Có ba loại hình DNNN: doanh nghiệp thuộc tổng công ty trực thuộc Văn phòng Chính Phủ, doanh nghiệp trực thuộc bộ chủ quản, và doanh nghiệp trực thuộc chính quyền cấp tỉnh.
Luật Đầu tư Nước ngoài ban hành năm 1986. Vai trò của FDI được nhấn mạnh trong Đại hội Đảng 2001, và từ đó phạm vi cho phép hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài được mở rộng nhanh chóng. Việt Nam đã trở thành nước dẫn đầu nhận FDI trong số các quốc gia đang phát triển. Lượng FDI tích tụ đến năm 2004 khoảng 30 tỉ đô la, chiếm khoảng 10% GDP mỗi năm vào thời kỳ trước khi có cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 và những năm gần đây. Các quốc gia châu Á đóng góp phần quan trọng nhất: Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản. Ngoài châu Á, Pháp, Hà Lan, Anh và Hoa Kỳ là những nước đầu tư quan trọng. Việc các quốc gia châu Á chiếm đa số có thể do họ có khả năng thích ứng với môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, các giao dịch còn dựa vào lòng tin và uy tín. Tỉ trọng vốn đầu tư theo ngành: dầu khí (100%), lắp rắp ô tô (84%), điện tử (45%), dệt may (41%), hóa chất (38%), thép (32%), xi măng, cao su, nhựa, lương thực và đồ uống (25-30%). Điều đáng chú ý là sự chuyển đổi cơ cấu FDI: tỉ trọng vốn của các công ty liên doanh với nhà nước giảm dần, số lượng công ty liên doanh với tư nhân và công ty 100% vốn nước ngoài tăng nhanh. Từ năm 2000, công ty 100% vốn nước ngoài chiếm đến 90 % tổng số vốn đầu tư và 83% số dự án. Một đặc điểm nữa là qui mô vốn đầu tư trung bình của FDI tương đối nhỏ xét theo tiêu chuẩn quốc tế và chỉ có 80 [3] trong số 500 công ty đa quốc gia đang có mặt tại Việt Nam, so với con số 400 tại Trung Quốc.
Sự chuyển đổi các thành phần kinh tế theo chiều hướng giảm dần DNNN, tăng trưởng khu vực tư nhân và FDI là bước tiến quan trọng, đã mang lại những thành quả kinh tế rõ rệt. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là khoảng giữa rất nhiều những doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp quy mô lớn là sự thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô vừa. Sự kiện này này cho thấy vẫn còn những rào cản trên con đường phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Từ góc độ năng lực cạnh tranh trước ngưỡng cửa hội nhập đang mở rộng qua việc gia nhập WTO, khu vực tư nhân của Việt Nam không những thiếu vắng doanh nghiệp tầm trung, mà cả các doanh nghiệp quy mô lớn.
3. Các chỉ số phát triển và năng lực cạnh tranh
Các chỉ số kinh tế thường được đánh giá ở cấp doanh nghiệp khi so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp theo loại hình, hay ở phạm vi quốc gia khi đối chiếu với các nền kinh tế trên thế giới. Hiểu rõ thế mạnh và yếu của mỗi khu vực kinh tế, và quốc gia như một tổng thể từ nhiều góc nhìn khác nhau sẽ giúp cho việc hoạch định chính sách hiệu quả hơn trên bước hội nhập và phát triển.
Các nghiên cứu gần đây của Liên hiệp quốc (UNICEF) và TCTK cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không những đã tiếp nhận đến khoảng 35% trên tổng số 1.4 đến 1.5 triệu lao động gia nhập thị trường lao động hàng năm, so với DNNN 7%, mà còn đạt hiệu quả cao nhất trong việc tạo việc làm với chi phí thấp nhất, kế đến là doanh nghiệp FDI, DNNN. Xét về hàm lượng vốn đầu tư cho mỗi lao động, chỉ số có tác dụng làm tăng sản lượng trên mỗi lao động, vốn đầu tư hàng năm của Việt Nam không ngừng gia tăng, hiện khoảng 38% GDP, nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao nhất thế giới. Điều đáng khích lệ là tỉ phần vốn đầu tư nhân khu vực tư tiếp tục tăng nhanh, hiện chiếm đến một phần ba tổng số vốn huy động.
Phân tích về hiệu quả sử dụng vốn (năng suất tổng hợp), doanh nghiệp FDI đạt năng suất cao nhất. Hiệu quả DNNN và tư nhân thấp hơn, song vẫn còn cao hơn so với tiêu chuẩn quốc tế. Điểm đáng lưu ý là các DNNN hoạt động hiệu quả hơn sau khi cổ phần hoá. Ước tính năng suất trên phạm vi quốc gia, Việt Nam đạt tỉ số tương đối cao 2-3%, so với con số trung bình từ 1 đến 4% tại nhiều nước khác. Không bao gồm giai đoạn khủng hoảng Đông Á năm 1997, tỉ số năng suất Việt Nam đạt được còn cao hơn, đến 4% vào năm 1990 và 6% thời điểm hiện tại, một con số khó tin nhưng đã được kiểm chứng từ nhiều nguồn số liệu độc lập.
Theo kết quả của cuộc điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh Tranh do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (UNCTAD) sử dụng các chỉ số như mức độ mở cửa, chính phủ, tài chính, cơ sở hạ tầng, quản lý, lao động và thể chế, thứ hạng của Việt Nam đã được cải thiện dần, từ 90 trên tổng số 100 quốc gia năm 2000 lên 70/100 vào năm 2005. Trong bảng xếp hạng Hoạt động Kinh doanh do công ty Tài chánh Quốc tế (IFC) và WB xem xét 10 vấn đề như bảo vệ đầu tư, tín dụng, giấy phép, thuế, hợp đồng và tuyển dụng lao động, vị trí của Việt Nam dao động quanh nhóm 70 trên 100 quốc gia. Chỉ số Tiềm năng FDI của tổ chức Liên hiệp quốc UNCTAD phản ảnh độ hấp dẫn đầu tư, sử dụng 12 nhân tố như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu so với GDP, mật độ sử dụng điện thoại, tỷ lệ sinh viên đại học trên dân số, luồng vốn FDI, xuất khẩu tài nguyên, đã đánh giá Việt Nam khá cao, hạng thứ 68 trong tổng số 140 quốc gia.
Trong khi cả ba phướng pháp xếp hạng trên nhấn mạnh đến môi trường quy chế và những nhân tố tiềm năng, thì các nhà đầu tư chú trọng hơn về môi trường thực tiễn. Ví dụ, trong khi các học giả nhấn mạnh đến hệ thống pháp lý yếu kém về quyền sở hữu đất đai và các hợp đồng giao dịch như là những trở ngại chính đối với kinh doanh thì các nhà đầu tư tại các nước đang phát triển đã quen thuộc với các hoạt động không chính thức, dựa trên cơ sở lòng tin và uy tín. Từ góc nhìn này, khi xếp hạng tỉ trọng luồng vốn FDI trên GDP của những nền kinh tế có GDP hơn 10 tỷ đô la của các cuộc điều tra của UNCTAD (2005) và JBIC (2004), Việt Nam đã được vị trí cao hơn, hạng thứ 25 trong tổng số 88 quốc gia. Việt Nam thậm chí còn được đánh giá cao hơn nữa trong con mắt các nhà đầu tư Nhật Bản; cuộc cuộc điều tra năm 2004 đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ tư trên toàn thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ khi được hỏi về các quốc gia có nhiều triển vọng đối với các hoạt động kinh doanh trung hạn.
Một cách đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam khác là xem xét kết quả hoạt động kinh tế của Việt Nam trên thị trường thế giới. Những cải cách về mậu dịch quốc tế năm 1991 và năm 1993 đã cho phép doanh nghiệp mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu. Hàng rào quan thuế và hạn ngạch nhập khẩu tiếp tục được tháo gỡ đáng kể khi Việt Nam gia nhập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) năm 1995, Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ năm 2001 và qua các nghị định ban hành năm 2004. Kết quả, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức độ mở cửa khá cao với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đạt trên 130% GDP và xuất khẩu đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm 18% tính từ năm 2000. Nguồn nhập khẩu chính của Việt Nam là các quốc gia đang phát triển, trong khi đó các nước công nghiệp Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản chiếm hơn một nửa xuất khẩu của Việt Nam. Mô hình thương mại của Việt Nam có phần giống Trung Quốc, và về mặt nào đó, Việt Nam cũng đang trở thành một trong các công xưởng của thế giới. Điều đáng quan ngại là khu vực tư nhân phần lớn vẫn còn hướng nội, hiện chỉ có 9% doanh thu trực tiếp từ xuất nhập khẩu; các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa liên kết tốt với các nhà sản xuất trong nước trong việc cung ứng nguyên liệu và linh kiện cho sản xuất. Tăng cao tỉ phần đầu vào cho sản phẩm xuất khẩu không những đẩy mạnh sản xuất trong nước mà còn giảm được kim ngạch nhập khẩu.
Nghiên cứu Đánh giá Môi trường Chính sách và Thế chế Quốc gia (CPIA) của WB có thể xem là phương thức đáng tin cậy nhất, được sử dụng như công cụ để quyết định ngân sách hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển. CPIA tổng hợp 16 chỉ số trên bốn lãnh vực chính: quản lý kinh tế vĩ mô, cải cách cơ cấu, hòa nhập và công bằng xã hội, và quản lý và thể chế khu vực công.
Mô hình 3.6 xếp hạng và so sánh Việt Nam với các nước Đông Á: chỉ số được đánh giá từ 1 - điểm thấp nhất vòng trong cùng, và 5 - điểm cao nhất vòng ngoài cùng. Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá khá cao so với các nước khu vực Đông Á; các điểm mạnh chính là quản lý kinh tế vĩ mô, chính sách tài khoá, tài chính công, bình đẳng giới tính và nguồn nhân lực. Các điểm yếu: về cơ cấu như chính sách thương mại, khu vực tài chánh và môi trường điều tiết kinh doanh; lĩnh vực thể chế gồm huy động thu ngân sách, minh bạch, trách nhiệm giải trình tham nhũng.
Về xếp hạng tổng thể CPIA năm 2004 trên 135 quốc đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam là 1 trong số 13 quốc gia đạt 3.7 điểm, vị trí cao hơn 73 nước và thấp hơn 48 nước khác. Khi thu nhỏ trong 81 quốc gia có lợi tức thấp trong nhóm, chỉ có 13 nước có điểm cao hơn 3.7.
4. Môi trường đầu tư - Đặc điểm và những hạn chế ràng buộc
Những hạn chế đối với sự phát triển và hoạt động doanh nghiệp được xếp hạng dựa trên sự đánh giá của các doanh nghiệp qua các cuộc điều tra. Hiểu rõ các đặc điểm và những mặt hạn chế của môi trường đầu tư là cơ sở để phác họa các chính sách cải cách và đường hướng phát triển lâu dài trong tiến trình hội nhập và phát triển.
Tiếp cận nguồn vốn
Tiếp cận nguồn vốn là hạn chế hàng đầu trong bốn trở ngại chính. Tuy vẫn chưa bắt kịp các lân bang như Trung Quốc, Thái Lan và Malysia, nhưng độ sâu tài chánh của Việt Nam được cải thiện nhanh với khoảng 25 triệu tài khoản tiết kiệm, huy động tiền gửi tín dụng tăng trung bình 25% một năm, và tỷ lệ tín dụng trong nước trên GDP vẫn ở mức an toàn. Các cuộc điều tra cho thấy việc cho vay vốn đã được thực hiện rộng rãi đối với hộ nông dân và những doanh nghiệp nhỏ, ngay cả ở những vùng sâu và xa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn trong nước gặp khó khăn tiếp cận vốn, do cơ sở cứu xét cho vay lệ thuộc quá đáng vào tài sản thế chấp, trong khi việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lại rất nhiêu khê và mất thời gian. Vấn đề nghiêm trọng thứ hai là sự tồn tại những khoản nợ xấu khổng lồ. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là hoạt hoạt động tín dụng thiếu hiệu quả của bốn Ngân hàng Thương Mại Việt Nam (NHTMVN) lớn, chiếm đến 70% tổng giá trị tín dụng và 70% tổng tài tản trong hệ thống ngân hàng, không tuân thủ định hướng lợi nhuận vì bị chi phối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) và các cấp chính quyền địa phương, và cơ chế giải quyết các khoản nợ xấu hoạt động kém hữu hiệu. Quyết nghị 493 ban hành tháng 4/2005 đã có những cải cách triệt để hơn như việc sử dụng tiêu chuẩn quốc tế vào việc định lượng nợ xấu, lập quỹ dự phòng bảo hiểm nợ khó đòi, và tăng vốn NHTMNN lên 8% theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng thực hiện hai biện pháp sau này cần khoản vốn đến 8% GDP, và giải pháp phù hợp nhất là phát hành trái phiếu sẽ dẫn đến việc tăng tổng giá trị nợ của Việt Nam. Theo nghiên cứu của WB và IMF, trong giả định ở mức phát triển hiện nay, khoản nợ quốc gia sẽ tăng từ 42,2% GDP hiện nay lên 48,7% năm 2010. Trên thực tế, vì phần đáng kể trong khoản nợ là các khoản vay ưu đãi, nghĩa là giá trị hiện tại thực (net present value) của nghĩa vụ nợ dài hạn phải trả ít hơn đáng kể so với hiện giá (face value), thì gánh nặng cải cách có thể làm tăng nợ của nhà nước thực sự là từ 28% GDP hiện nay lên 35,2% năm 2010, một con số khá cao, nhưng vẫn có thể kiểm soát được.
Các ngân hàng liên doanh chiếm khoảng 15% tổng tín dụng, kết quả hoạt gần đây đã khả quan hơn, thể hiện qua việc mua bán cổ phiếu của các ngân hàng này trở nên sôi động. Các ngân hàng có vốn nước ngoài hiện chỉ chiếm 10% giá trị tín dụng, trước đây họ chỉ được phép thành lập ngân hàng liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, nhưng gần đây đã được cho phép góp vốn hoặc mua cổ phiếu các ngân hàng tín dụng như ngân hàng ANZ và Standard Chartered đã mua cổ phiếu của hai ngân hàng trong nước là Sacobank và ACB. Sự lớn mạnh của các ngân nước ngoài sẽ là thử thách cho các NHTMNN, như cuộc điều tra đã cho thấy là khách hàng sẽ sẵn sàng chuyển sang các ngân hàng nước ngoài vì các lý do thủ tục đơn giản và tính chuyên nghiệp.
Bên cạnh thị trường tín dụng, thị trường vốn (chứng khoán) chính thức đã khởi đầu hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 và Hà Nội 2005 vẫn còn nhỏ, chưa đủ khả năng cung cấp những nguồn vốn lớn cho các dự án mới. Nhưng sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán không chính thức qua giao dịch các chứng khoán (cổ phiếu) không niêm yết cho thấy thị trường vốn có khả năng phát triển khi có các quy định điều tiết phù hợp. Các biện pháp ban hành gần đây nhằm đẩy mạnh thị trường chứng khoán chính thức bao gồm việc chỉ thị các DNNN được cổ phần hóa nhanh chóng yết danh cổ phiếu, tăng tỉ phần cổ phiếu nước ngoài được phép giữ từ 30% lên 49%; và hỗ trợ thành lập quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài. Thị trường chứng khoán không chính thức hoạt động rất sôi nổi trong khi thị trường chính thức lại phát triển chậm chạp cho thấy nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp không tham gia thị trường chính thức để né tránh công khai hoá hoạt động kinh doanh vì lý do thuế; điều này chỉ có thể giải quyết được qua việc nâng cao tiêu chuẩn minh bạch doanh nghiệp nói chung. Sự tham gia ngày càng đông đảo của các doanh nghiệp có uy tín cao đối với công chúng rất cần thiết để làm tăng gia sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán chính thức.
Tiếp cận đất đai
Tiếp vận đất đai là khó khăn được xếp hàng thứ hai mà các doanh nghiệp đang đối đầu. Quá trình cấp chủ quyền cho bất động sản diễn ra chậm chạp, đặc biệt là ở thành thị đã gây không ít trở ngại cho hoạt động kinh doanh trong việc thuê mua đất đối với doanh nghiệp FDI, thế chấp để vay vốn đối với doanh nghiệp lớn trong nước, và sự phát triển của thị trường bất động sản. Những biện pháp cải cách năm 2004, 2005 là những bước tiến đáng kể nhằm đơn giản hoá thủ tục và thời gian xin cấp đất, quy trách nhiệm cấp đất cho Sở Tài nguyên Môi trường là đầu mối duy nhất, và mở rộng các cơ chế thuê mua đất đối với các doanh nghiệp. Nhưng việc tách riêng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, được đảm trách bởi hai cơ quan khác nhau có khả năng sẽ dẫn đến trình trạng thiếu nhất quán, làm chậm lại tiến trình cấp quyền sử dụng đất ở khu vực đô thị. Tình trạng bong bóng giá đất là vấn đề thứ hai. Giá nhà đất tiếp tục tăng mạnh trong những năm gần đây trong khi giá cho thuê nhà đất giảm và ổn định cho thấy có hiện tượng đầu cơ trong giao dịch đất đai. Tuy nhiên, số lượng giao dịch giảm rõ rệt từ đầu năm 2005 cho thấy thời kỳ bong bóng nhà đất đã qua. Những biện pháp cải cách quan trọng của Luật Đất đai ban hành gần đây là thống nhất giữa giá gốc do nhà nước ấn định và giá chuyển nhượng thực tế, thường là kẽ hở cho tham nhũng; việc đánh thuế 5% trên giá giao dịch đất đai, thuế suất tuy không cao so với tiêu chuẩn quốc tế nhưng cũng không nhỏ nhằm giảm thiểu việc mua đi bán lại trong một thời gian ngắn, tạo ra cơn sốt giá cả; và cấm các đơn vị phát triển nhà cửa bán các lô đất đã được quy hoạch xây dựng nhà trước khi hoàn thiện xây dựng hạ tầng cơ sở và nhà ở. Một vấn nạn nữa là trong khi việc chuyển đổi đất nông nghiệp ở vành đai thành phố diễn ra chậm chạp, không kịp đáp ứng với nhu cầu phát triển, thì các DNNN chiếm dụng đất dư thừa, thường gọi là đất nhàn rỗi, đem cho thuê lại để kinh doanh. Luật Đất đai mới yêu cầu các DNNN trả lại đất nhàn rỗi, nhưng thực hiện chỉ thị này trên thực tế gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi hành động quyết liệt của chính quyền địa phương như Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện.
Việc thực thi các biện pháp ban hành năm 1993 và 2003 thúc đẩy việc dồn điền đổi thửa để giải quyết trình tranh đất nông nghiệp bị phân chia manh mún theo chính sách trước đây đã diễn ra chậm chạp và vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Những rào cản hành chính đối với việc cho phép nông dân chuyển sang trồng trọt các loại cây sinh lợi nhiều hơn là nguyên nhân khác hạn chế hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Các cải cách nhằm tái cơ cấu và quản lý đất rừng bao gồm việc tách rời hoạt động kinh tế và quản lý rừng và đặt dưới sự quản lý của hai cơ quan độc lập, giải thể và cải tiến các lâm trường vốn thường mang tiếng quản lý kém hiệu quả. Việc chuyển giao đất rừng cho cộng đồng địa phương quản lý có thể mang lợi ích cho hàng triệu gia đình và thừa nhận truyền thống quản lý đất đai lâu đời của người dân tộc, một vấn đề gai góc chính phủ đang đối đầu. Hiện nay, trên cả nước đã có khoảng 2.5 triệu héc-ta đất rừng đang được cộng đồng quản lý.
Vấn đề sau cùng không kém phức tạp và gay go là việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp. Cuối năm 2004, đã có 192 khu công nghiệp trên 13 tỉnh, chiếm 30 ngàn héc-ta. Trong một số trường hợp, sự phản đối của các hộ dân dẫn đến sự bất ổn xã hội và trì hoãn quá trình giải phóng mặt bằng một cách đáng kể. Các cuộc điều tra cho thấy nguyên nhân gây ra tranh chấp thường vì đất thu hồi thiếu giấy tờ hợp pháp, giá bồi thường không thoả đáng, sự chậm trễ trong việc giải quyết tái định cư, và tình trạng tham nhũng ăn chặn, lợi dụng sự chênh lệch giữa giá chính thức và giá bán đất thực tế. Kể từ 2004, Luật qui định uỷ ban nhân dân các tỉnh phải quy hoạch các vùng tái định cư, nhưng việc thực hiện vẫn còn rất hạn chế. Từ năm 2005, một biện pháp mới nhằm khuyến khích đầu tư, theo đó các nhà đầu tư chỉ phải trả tiền thuê đất, chính quyền địa phương sẽ chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và các chi phí liên hệ.
Chú thích:
[1] “Vào WTO: Đừng để Việt Nam thành Mexico thứ hai!”
http://www.fetp.edu.vn/.
[2] Bản tiếng Anh: “VietNam Development Report 2006”, bản tiếng Việt: “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006”
[3] Theo Bộ KH-ĐT, cho tới nay đã có 106 tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam - http://www.tuoitre.com.vn/.

Thị trường lao động
Lao động là “tài sản chính của Việt Nam” trong quá trình phát triển, dù rằng do một số mặt hạn chế, các doanh nghiệp đã xem đây là cản trở đứng thứ ba sau nguồn vốn và đất đai. Nền kinh tế phát triển nhanh tạo nhu cầu lao động tăng vọt, dẫn đến hiện tượng di chuyển kép: di chuyển về nghề nghiệp từ việc làm nông nghiệp sang các việc làm phi nông nghiệp và sự di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị, trong đó lao động nữ chiếm phần lớn. Lao động nông nghiệp đã giảm từ khoảng 50% năm 1990 xuống dưới 40% hiện nay, 30% dân số Thành phố Hồ Chí Minh là dân ngoại tỉnh là một trường hợp điển hình. Ý thức kỷ luật, chăm chỉ, hiếu học, và chi phí lương thấp là những đặc điểm và thế mạnh của lao động Việt Nam. Theo Điều tra Mức sống Hộ gia đình (ĐTMSHGĐ) 2004, tính cả giá trị lợi ích bằng hiện vật, mức lương trung bình khoảng 824 nghìn/tháng cho lao động đơn giản, 220-250 đôla cho kỹ sư, và 500 đôla cho cán bộ văn phòng. Sự tồn tại của hai mức lương tối thiểu hiện nay áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài phải được loại bỏ khi Việt Nam gia nhập WTO, vì chế độ này mâu thuẫn với nguyên tắc “đối xử quốc gia”. Nhưng nếu chỉ chú trọng vào mức lương sẽ dẫn đến việc không đánh giá đúng lao động ở Việt Nam vì đã “bỏ qua ý thức đạo đức làm việc rất đáng chú ý của xã hội Việt Nam”. Những dữ kiện về quá trình tăng trưởng việc làm trả lương và bình đẳng hoá tiền lương cũng rất đáng chú ý. Bảng tổng kết các cuộc điều tra của TCTK, Điều tra Mức sống Dân cư và ĐTMSHGĐ dưới đây cho thấy sự gia tăng rất đáng kể tỷ lệ việc làm trả lương, từ khoảng 16% năm 1993 lên 27 % năm 2004. Riêng khu vực tư nhân bao gồm FDI chiếm hơn 18 % dân số trong tuổi lao động. Sự khác biệt về tiền lương giữa hai miền Nam và Bắc, nam và nữ đã giảm rõ rệt. Chẳng hạn, mức lương trung bình ở Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1991 xấp xỉ gấp đôi ở Hà Nội và Hải Phòng; đến năm 1997, khoảng cách này dao động trong khoảng từ 30 đến 50%. Mức lương chênh lệch giữa nam và nữ vào đầu thập niên 90 là 32% giảm xuống còn 16% năm 2004.
Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam thấp và không đáng ngại vì đa số những người thất nghiệp đều còn trẻ, là những người tương đối có trình độ gia nhập thị trường lao động. Mặt khác, vẫn tồn tại tình trạng thất nghiệp ngầm trong các DNNN. Trung bình có 49 lao động (19%) bị mất việc trong quá trình cổ phần hoá của 2.228 DNNN đã bộc lộ trình trạng thừa biên chế này. Việc trình độ học vấn ngày càng được đánh giá cao khi ấn định mức lương là yếu tố tích cực, song đồng thời cũng manh nha cho sự hình thành một dạng bất bình đẳng khác trong quá trình phát triển. Sự thiếu hụt lao động có tay nghề và tỷ lệ luân chuyển quá cao đối với lao động có trình độ, đặc biệt tại miền Nam, là mối quan ngại lớn đối các doanh nghiệp. Tỷ lệ luân chuyển lao động từ 2001-2003 lên đến 43,4% trong các xí nghiệp nước ngoài. Tình trạng này cho thấy cần phải xem xét lại chính sách đào tạo dạy nghề tại Việt Nam. Song chừng nào vẫn còn khoảng cách về công nghệ giữa các doanh nghiệp, sẽ khó có thể làm giảm được tỷ lệ luân chuyển, vì người lao động sau khi học được kỹ năng ở các doanh nghiệp có công nghệ cao sẽ dễ dàng được thu nhận tại các doanh nghiệp đang cần các kỹ năng ấy với mức lương cao hơn.
Cho đến khi Luật Lao động ban hành năm 1994, chỉ có người lao động trong khu vực nhà nước được hưởng quyền an sinh xã hội. Tỷ lệ lương đóng cho Chương trình Bảo hiểm Xã hội (BHXH) là 20%, trong đó có 15% do doanh nghiệp đóng góp. Tiến trình mở rộng an sinh xã hội diễn ra chậm nhưng đáng kể; số lao động được hưởng chương trình BHXH đã tăng từ hơn 3 triệu năm 1996 lên xấp xỉ gấp đôi vào năm 2004. Quan hệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp có hai đặc điểm đáng chú ý. Tình trạng tranh chấp lao động tại Việt Nam tương đối thấp; hầu hết những cuộc đình công xảy ra ở các công ty nước ngoài ở miền Nam. Thứ hai, bản bán cáo của các doanh nghiệp Đài Loan cho thấy tinh thần đấu tranh của công nhân Việt Nam rất cao: “Bạn không thể động đến được người lao động Việt Nam, chứ đừng nói là lạm dụng họ. Họ dễ tham gia vào các cuộc phản đối tập thể. Ở Trung Quốc, chúng tôi dùng cách quản lý theo Đài Loan, trừng phạt, thậm chí cả đánh đập. Ở Việt Nam việc bảo vệ quyền của người lao động rất nghiêm nhặt. Đây là điều chúng tôi hoàn toàn không ngờ tới”. Bản báo cáo kết luận cần phải thay thế biện pháp “quân sự” áp dụng tại Trung Quốc bằng biện pháp “mềm dẻo” tại Việt Nam.
Hạ tầng cơ sở
Tuy có đến 20% doanh nghiệp nhất là khu vực FDI cho rằng hạ tầng cơ sở là “trở ngại nghiêm trọng” nhất cho hoạt động của doanh nghiệp vì hạ tầng giao thông thiếu thốn và giá điện, điện thoại cao, nhưng nhìn chung, Việt Nam đã “duy trì được tốc độ tăng trưởng đáng khâm phục về hạ tầng cơ sở kể từ năm 1990”. Năm 2004, điện khí hoá đã đạt 100% ở thành thị và 88% tại nông thôn. Hệ thống đường bộ tăng từ 96 lên 224 ngàn km từ năm 1990 đến năm 2004, trong đó tỷ lệ đường tốt tăng từ 37% lên 45% từ năm 1997 đến năm 2002. Số điện thoại trên 100 người dân tăng từ 1,1 năm 1995 lên 9,2 năm 2002. Từ năm 1993 đến năm 2004, nước sạch tăng 35% - 87%, nhà vệ sinh từ 10% - 32%. Nhìn chung, sự phát triển hạ tầng cơ sở đã dẫn đến giá cả dịch vụ ngày càng gần hơn với mức giá trong khu vực:
Khoảng 9% GDP được đầu tư cho hạ tầng cơ sở hiện nay là một tỷ lệ khá cao. Tỷ trọng đầu tư của tư nhân trong lĩnh vực này tăng lên khoảng 16% trong những năm gần đây là một con số khích lệ, nhưng cần được tiếp tục nâng cao qua các biện pháp hỗ trợ thu hồi vốn và khuyến khích cạnh tranh. Mặt khác, vì việc thu hồi vốn rất chậm và thấp không hấp dẫn đối với khu vực tư nhân, việc phát triển hạ tầng cơ sở trong những năm tới vẫn sẽ phụ thuộc chính vào đầu tư công; do đó, cần phải phân tích nghiêm ngặt hơn về lợi ích tài chánh và kinh tế trong việc lựa chọn dự án và tăng tính minh bạch trong việc huy động vốn và quản lý dự án là những mặt yếu kém và dễ phát sinh tham nhũng hiện nay.
Nhưng điều làm ngạc nhiên nhiều người đang theo dõi kinh tế Việt Nam là những cản trở của hệ thống pháp lý, các thủ tục hành chánh quan liêu và tình trạng tham nhũng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không bị các doanh nghiệp tham gia cuộc điều tra coi là nghiêm trọng, ở mức độ thấp hơn hẳn so với các nước khác ở Đông Á hay các khu vực khác trên thế giới. Sự giải thích vì sao hệ thống pháp lý không được coi là có tầm quan trọng cao có thể do mối giao dịch giữa các doanh nghiệp cơ bản vẫn dựa vào chữ tín và các phương thức thô sơ nhưng đáng tin cậy để bảo đảm mức an toàn. Các thủ tục đơn giản hoá từ năm 2000 theo Luật Kinh doanh, được bổ sung với cơ chế một cửa về thủ tục cấp giấy phép có thể là lý do tại sao tệ trạng quan liêu không bị đánh giá là nghiêm trọng. Nhưng việc coi tham nhũng không phải là hạn chế quan trọng là điều bất ngờ hơn cả. Mặc dù Tổ chức Minh bạch Quốc đã xếp hạng tham nhũng tại Việt Nam rất cao, nhưng nhiều cuộc điều tra khác nhau đều đã dẫn đến cùng kết luận: Tham nhũng xảy ra rất phổ biến, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp chỉ ở mức độ nhỏ, thông qua nhiều khoản hối lộ nhỏ, chiếm khoảng 0,7% tổng doanh số, thấp hơn so với những quốc gia khác ở cùng trình độ phát triển. Bốn cơ quan chính phủ bị xếp hạng tham nhũng cao nhất trong cả hai cuộc điều tra của WB và Ban Nội chính Trung ương: Cảnh sát giao thông, hải quan, địa chính và thuế vụ. Có thể giải thích quan điểm dễ tính của các doanh nghiệp là vì họ đã làm quen với tham nhũng và số tiền hối lộ trung bình 1,8 triệu là nhỏ đối với doanh nghiệp. Nhưng điều này không phủ nhận những hình thái tham nhũng khác trong các DNNN, cũng như các dự án đầu tư công, và những tác động trên mặt đạo đức xã hội, đời sống của các thành phần kinh tế yếu kém trong xã hội. Những khoản chi phí không chính thức, từ việc “học thêm tự nguyện”, đến các chi phí y tế ngoài khả năng trang trải có thể gây phẫn nộ với người dân.
5. Hội nhập phát triển và nội dung của cuộc cải cách vòng hai
Những cải cách nhằm tuân thủ các quy định của WTO và cải thiện năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế sẽ thúc đẩy năng suất từ trung đến dài hạn, song đồng thời cũng sẽ là những thử thách đối với các doanh nghiệp Việt Nam và có thể tác động tiêu cực đến môi trường và một số khu vực sản xuất ngắn và trung hạn. Quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu qua việc tham gia khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và hiệp ước song phương Việt-Mỹ, đã giúp cho thị trường trở nên cạnh tranh hơn và buộc các doanh nghiệp trong nước phải thay đổi cơ cấu và tăng năng suất. Song việc gia nhập WTO sẽ còn đẩy chương trình cải cách đi xa hơn nữa nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp công và tư, trong nước và nước ngoài. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, ngày càng lớn mạnh và trở nên phức tạp hơn, vì thế yêu cầu cải thiện môi trường pháp lý minh bạch và hiệu quả ngày càng khẩn thiết.
Con đường hội nhập

Hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu đã gỡ bỏ dần khi Việt Nam gia nhập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) năm 1995, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ năm 2001 và các nghị định ban hành năm 2004. Việt Nam cũng đã cam kết với WTO sẽ hạ mức thuế quan xuống thấp hơn nữa, trung bình 18%. Con số này tương đương với mức trung bình của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO và sẽ tiếp tục giảm qua các cuộc đàm phán song phương. Số lượng các mặt hàng phải chịu hạn ngạch nhập khẩu đã giảm xuống từ năm 1999, đến cuối năm 2005 căn bản chỉ còn áp dụng với đường và xăng dầu. Vì Việt Nam không được hưởng những ưu đãi dành cho những nước nghèo nhất, các chế độ trợ giá phải bãi bỏ sau khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, với tư cách một quốc gia đang phát triển, Việt Nam vẫn có thể bảo lưu một số biện pháp hỗ trợ 10% giá trị sản lượng. Trên thực tế, chỉ có đường là sản phẩm còn nhận trợ giá đáng kể, cần phải cắt giảm. Ngoài ra, các biện pháp trợ giá vẫn cho phép trong một số lĩnh vực như hạ tầng cơ sở, môi sinh, phát triển vùng yếu kém và các công trình nghiên cứu. Từ năm 2001, những cải cách thuế quan đã giảm phân nửa mức bảo hộ trong ngành chế tạo, nhưng các trợ giá ngầm hiện nay như Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu, Quỹ Hỗ trợ Phát triển, và các ưu đãi dành cho các DNNN sẽ phải được hủy bỏ để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn theo nguyên tắc của WTO. Trường hợp các công ty thương mại quốc doanh hiện đang chiếm lĩnh một nửa số giao dịch ngoại thương là một ví dụ.
Từ năm 2002 đến 2006 Việt Nam đã cơ bản viết lại hầu hết các luật và quy chế tác động hoạt động thương mại và các thủ tục pháp lý, bao gồm Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp… Ví dụ, Luật Đầu tư mới cấm không được yêu cầu các nhà đầu tư phải mua hoặc sử dụng sản phẩm và dịch vụ nội địa, không được bị bó buộc phải xuất khẩu một tỷ lệ hàng hoá nhất định, hoặc sản phẩm phải tuân theo tỷ lệ nội địa quy định. Các hoạt động hậu cần thương mại như bến cảng và hải quan cần phải cải thiện để hỗ trợ quá trình hội nhập. Phần lớn các bến cảng hiện nay đều quá tải, công tác bảo dưỡng và quản lý kém, cần sự tham gia của tư nhân nhiều hơn nữa trong việc huy động nguồn vốn để đẩy mạnh cạnh tranh và làm giảm giá thành. Ngành Hải quan bị đánh giá là kém hiệu quả và nhũng nhiễu. Quốc hội gần đây đã thông qua Luật Hải quan nhằm cải cách lĩnh vực này qua việc thay đổi quy trình làm việc, các biện pháp kiểm tra hành vi sai trái của cán bộ hải quan, và những quy định cho phép việc mở rộng hoạt động quản lý cảng cho tư nhân.
Vấn đề là vệ sinh an toàn thực phẩm và sở hữu trí tuệ không kém phần quan trọng trong giao thương quốc tế. Nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh không những tăng cao hiệu suất kinh tế trong ngành xuất khẩu mà còn vì sức khỏe của người dân, rất phù hợp vào thời điểm này do các mặt hàng có giá trị cao như trái cây, rau quả, thịt và hải sản đã tăng đáng kể trong mười năm qua. Việc thực thi mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ “vừa may mắn vừa không may” đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. May mắn vì nó sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và bảo vệ bản quyền sáng chế và nhãn hiệu các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ làm cho việc sử dụng phần mềm trở nên đắt đỏ. Nhưng điều đáng quan ngại hơn là có thể làm giảm khả năng tiếp cận với các loại thuốc phổ thông có ảnh hưởng đến sức khỏe của đại chúng mà thuốc kháng virus HIV/AIDS là một ví dụ.
Một mối quan ngại khác là cũng như Trung Quốc, Việt Nam có thể “bị ép chấp nhận quy chế kinh tế phi thị trường”. Phương pháp này “giảm đáng kể gánh nặng phải đi tìm bằng chứng” trong các vụ kiện phá giá, dẫn đến hệ quả Trung Quốc đã trở thành mục tiêu cho một phần năm số vụ kiện chống phá giá trên toàn thế giới. Những đòi hỏi ngày càng khắt khe hơn đối với thành viên mới, buộc họ phải nhượng bộ để đổi lại sự ủng hộ của các thành viên cũ trong việc xin gia nhập.
Vai trò các tỉnh địa phương và các cải cách trong nước
Quá trình phân cấp và trao ngày càng nhiều quyền quyết định cho chính quyền địa phương dẫn đến sự khác biệt lớn trong xu thế phát triển kinh tế. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong lĩnh vực đất đai, thuế vụ và khuyến khích đầu tư rất quan trọng, từ việc phân vùng, chuyển đổi loại đất và định giá đất, đến phê duyệt các dự án đầu tư dưới 20 triệu đô la [1] và xây dựng các khu công nghiệp. Do cơ chế phân cấp và sự thiếu nhất quán và chồng chéo của các quy định và luật, khả năng lãnh đạo cấp tỉnh trong việc diễn giải và thực thi chính sách trở thành yếu tố chính yếu cho sự thành công của cuộc cải kinh tế địa phương. Mặt khác, chính sách phân quyền cũng dễ dẫn đến việc lạm quyền, nhất ở lĩnh vực đất đai như những vụ tai tiếng đã xảy ra tại các tỉnh Bạc Liêu, Kiên Giang, Khánh Hòa, thị xã Đồ Sơn và Phú Thọ.
Sự tương phản lớn lao của các chỉ số phát triển kinh tế giữa các tỉnh cận kề và có điều kiện phát triển tương tự ở mỗi miền (bảng 11.1) như GDP, tỷ lệ nghèo, số lượng doanh nghiệp, tích luỹ đầu tư đã cho thấy rõ tầm quan trọng của việc phân cấp và chất lượng quản lý. Ví dụ sản lượng công nghiệp ở Đà Nẵng cao hơn Huế gấp bảy lần và lượng vốn đầu tư nước ngoài ở Bình Dương cao hơn Long An cũng đến bảy lần.
Điều đáng lưu ý là qua cuộc điều tra trên, chính quyền của ba tỉnh có mức phát triển mạnh - Bình Dương, Đà Nẵng và Vĩnh Phúc - cũng được các doanh nghiệp đánh giá cao trong việc thực thi các chính sách khuyến khích tư nhân, cấp giấp phép nhanh và thông tin thông thoáng. Cuộc điều tra chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của USAID và nhiều nghiên cứu khác đều cho thấy thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai dẫn đầu cả nước trên các chỉ số phát triển. Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ các tỉnh nghèo trong việc hiện đại hoá qui trình lập kế hoạch và phân bổ ngân sách, các cuộc điều tra đánh giá như PCI [2] rất quan trọng cho việc khuyến khích cạnh tranh, thăng thưởng và ràng buộc trách nhiệm các cấp chính quyền tỉnh đối với các hoạt động kinh tế địa phương.
Những cải cách vòng thứ nhất đã cho phép hình thành các loại doanh nghiệp khác nhau và giảm nghèo. Cuộc cải cách vòng thứ hai cần thiết để đương đầu với các vấn đề ngày càng phức tạp khi nền kinh tế phát triển cao hơn và cánh cửa hội nhập rộng mở. Tham vấn là cơ chế quan trọng giúp tăng chất lượng các kế hoạch phát triển được áp dụng từ năm 2001 và mở rộng đáng kể trong quá trình lập kế hoạch kinh tế 2006-2010 thu thập ý kiến phản hồi từ các tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ và các hiệp hội kinh doanh trong nước và nước ngoài.
Trên mặt trận kinh tế, Việt Nam cần phải tăng hiệu quả huy động vốn và quản lý tốt hơn tài sản nhà nước. Việc cải tổ huy động vốn bắt đầu với việc cải cách hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, các NHTMNN phải hoạt động theo định hướng lợi nhuận, thoát khỏi áp lực ngầm từ chính quyền địa phương và NHNNVN duyệt cho vay phi thương mại hoặc phục vụ mục tiêu chính trị. NHNNVN cũng phải đặt lại vị trí thích đáng, không phải kiểm tra các giao dịch đơn lẻ với các yêu cầu pháp lý quá chi tiết mà phải tập trung vào chức năng giám sát và thực hiện chính sách tiền tệ. Đầu năm 2005, NHVNNN đã đưa ra đề án cải cách hệ thống ngân hàng đầy tham vọng: sẽ chuyển đổi NHVNNN thành một ngân hàng độc lập, tách biệt NHNNVN và NHTMNN, hoàn thành cổ phần hoá các NHTMVN từ 2006-2009 và giảm sở hữu nhà nước xuống mức qui định đã cam kết với WTO, và cải thiện nguồn nhân lực và công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng. Thị trường chứng khoán chính thức và không chính thức rất cần thiết để bổ sung hệ thống ngân hàng. Các qui định cứng nhắc nhằm bảo đảm sự an toàn trong việc giao dịch trên thị trường chính thức đã ảnh hưởng tiêu cực đến lượng giao dịch cần phải thay thế bằng các hệ thống thông tin đáng tin cậy về chứng khoán và người môi giới. Tính minh bạch cũng cần phải được nâng cao đối với thị trường không chính thức OTC để buộc những người buôn bán và môi giới phải chịu trách nhiệm các hành vi sai trái.
Tiến trình cổ phần hóa DNNN cần phải sớm hoàn tất và việc quản lý các DNNN còn lại cần phải tách khỏi các bộ chủ quản để có thể đẩy mạnh cạnh tranh. Luật Doanh nghiệp mới quy định phải hoàn tất cổ phần hoá trong vòng bốn năm. Hiện có 2500 trong tổng số 4000 DNNN thuộc diện cổ phần hoá đã hoàn tất tiến trình này. Song ngay cả khi kế hoạch được thực hiện đúng theo kế hoạch, thì đến năm 2007 Việt Nam vẫn sẽ còn 1.800 DNNN với tổng số vốn lên đến 25% GDP. Điều đáng quan ngại là “chẳng có nhiều mô hình nhà nước kiểm soát phần lớn lượng vốn của nền kinh tế mà vẫn thành công”. Hiện nay có những thảo luận giảm số DNNN xuống còn con số 1000 doanh nghiệp hoặc chuyển đổi sang quản lý kiểu tư nhân, như cho phép công ty thuê giám đốc điều hành từ nước ngoài. Vinashin, công ty đóng tàu lớn nhất Việt Nam, rất năng động, là DNNN đầu tiên đã thuê giám đốc nước ngoài, và dự kiến sẽ có khoảng 100 doanh nghiệp có sở hữu nhà nước khác sẽ thực hiện trong thời gian tới.
Nếu tính bao gồm cả vốn huy động qua nợ dài hạn, tổng số vốn của các DNNN còn có thể còn cao hơn gấp đôi. Điều này cho thấy việc cải cách hiệu quả và tính minh bạch của cơ chế quản lý vốn của nhà nước rất quan trọng. Các cơ cấu thể chế mới nhằm cải thiện quản lý vốn ban hành gần đây bao gồm việc thành lập Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC) tháng 7/2005, là cơ quan duy nhất nắm quyền sở hữu vốn nhà nước của các DNNN được cổ phần hoá, đánh giá và giải thể những doanh nghiệp kém hiệu quả, và thành lập Công ty Mua bán Nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) hoạt động độc lập với NHTMVN. Việc chuyển quyền sở hữu ra khỏi các bộ ngành và cơ quan chính phủ sẽ loại bỏ các xung đột về quyền lợi giữa sở hữu và ra quyết định, nhưng đồng thời có cơ may nảy sinh các giao dịch không minh bạch vì liên quan đến những khoản tiền khổng lồ.
Những cải cách về mua sắm công, chiến lược chống tham nhũng và cải thiện hệ thống tư pháp sẽ là những bước quan trọng trong tiến trình phát triển và hội nhập. Việc xây dựng bản tin mua sắm điện tử nhằm tăng cường tính công khai và minh bạch của đấu thầu sắp hoàn thành và Luật mua sắm vừa được thông qua sẽ giúp củng cố khuôn khổ pháp lý còn rời rạc. Nhưng với số lượng các nhà cung cấp còn hạn chế, đặc biệt với các công trình dân dụng, thường mở ra khả năng thông đồng giữa các nhà thầu, chủ yếu là DNNN. Chiến lược chống tham nhũng không thể chỉ chú trọng đến trừng phạt mà phải bao gồm việc đơn giản hóa thủ tục, như cơ chế một cửa, phát triển giao dịch điện tử để giảm quyền lực tuỳ tiện của cán bộ nhà nước, và cần đặt mức phạt không quá cao để những người vi phạm ít có động cơ hối lộ. Luật chống tham nhũng thông qua cuối năm 2005 là một bước tiến khác, quy trách nhiệm cho thủ trưởng, giám sát tài sản của công chức nhà nước và họ hàng trực thuộc. Phương tiện thông tin đại chúng cũng có thể giúp khám phá các trường hợp tham nhũng nếu các nhà báo được bảo vệ. Về phương diện pháp lý, các phương thức đơn giản, dựa vào địa phương hay uy tín trong việc xác minh quyền sở hữu đất đai hay ký kết các hợp đồng không còn phù hợp trong nền kinh tế phát triển phức tạp hơn. Vì thế việc xây dựng một hệ thống tư pháp có khả năng diễn giải và thực thi hiệu quả pháp luật, giải quyết các tranh chấp thường xảy ra trong kinh doanh, như chiến lược cải cách tư pháp vừa được thông qua gần đây, là một yêu cầu rất cấp thiết.
Sau cùng, nâng cấp dịch vụ xã hội y tế, giáo dục và bảo hiểm xã hội phải là những ưu tiên hàng đầu của đợt cải cách vòng hai để những phúc lợi mang lại do sự phát triển sẽ được san sẻ rộng rãi trong đại chúng. Hệ thống y tế và giáo dục xây dựng vào thời kỳ bao cấp đã không còn phù hợp với với những yêu cầu mới của thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường khi các chi phí xã hội này trở nên quá tốn kém đối với các thành phần kinh tế yếu kém. Về giáo dục, cần cải thiện tình trạng chất lượng giáo dục không đồng đều và gánh nặng chi phí chính thức và không chính thức (học thêm) qua việc phân bổ thêm ngân sách cho các vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số. Trong lĩnh vực y tế, Quỹ Chăm sóc Sức khỏe cho Người nghèo thành lập năm 2002 là một bước tiến đáng kể, song vẫn cần cải thiện về phương thức thanh toán và kết hợp với chương trình bảo hiểm y tế của các công ty để cung cấp dịch vụ y tế rộng rãi cho đại chúng. Hệ thống bảo hiểm xã hội được mở rộng đáng kể từ năm 1995 bao gồm cả khu vực tư, nhưng nói chung vẫn còn vẫn non yếu, cần cải cách những thiếu sót hiện nay như không khuyến khích thời gian đóng bảo hiểm lâu dài, báo cáo thu nhập đầu đủ hơn, qui định mức lương hưu gần hơn với chuẩn thống kê, và mở rộng diện bao phủ cho nông dân và lao động tự do. Theo thời gian, vai trò của các doanh nghiệp càng quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục đại học, và kể cả các chương trình hưu trí.
Liệu Việt Nam có phải trả giá về mặt xã hội hay môi trường cho hội nhập và phát triển?
Xét từ khía cạnh chất lượng của phát triển kinh tế, ảnh hưởng bất lợi đối với các thành phần yếu kém trong xã hội và trình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn là những quan tâm hàng đầu và câu hỏi lớn của các quốc gia đang phát triển khi bước vào con đường hội nhập và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá lấn chiếm đất nông nghiệp, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ dân số các gia đình không có đất ở nông thôn từ 8% năm 1993 lên 12% năm 2004. Tuy nhiên, các cuộc điều tra cho thấy tình trạng mất đất không đi với nghèo đói, mà hầu như ngược lại, khi đời sống của ba phần tư dân số không có đất trong số tỷ lệ gia tăng nói trên đã được cải thiện. Vùng đất Tây Nguyên lại có những đặc điểm khác biệt: sự di dân ồ ạt và hình thành các lâm trường quốc doanh đã thành công trong việc nâng cao sản lượng nông nghiệp, nhưng đồng thời khiến người dân tộc mất dần đất đai, lui sâu vào rừng và trở thành thiểu số trên chính vùng đất của họ, tạo nên những căng thẳng xã hội, điển hình là cuộc biểu tình và bạo loạn năm 2001. Để giải quyết tình hình căng thẳng nay, chính phủ cam kết sẽ cấp đất và trợ cấp cho tất cả các hộ dân tộc thiểu số, và đến nay chương trình đã thực hiện được khoảng hai phần ba kế hoạch.

Hội nhập vào nền kinh tế thế giới có thể sẽ tạo thêm việc làm trong một số ngành đồng thời làm mất việc làm trong những ngành mà hoạt động sẽ bị thu hẹp lại. Một đánh giá về tác động của việc gia nhập WTO đã tập hợp hơn 20 nghiên cứu gần đây cho thấy hội nhập toàn cầu có thể dẫn đến việc mở rộng các ngành dệt may, thương mại và vận tải, xăng dầu và nhớt, và các sản phẩm giấy. Những ngành có thể thu hẹp gồm thiết bị và máy móc, thiết bị điện, dịch vụ cá nhân và phương tiện giao thông. Các nghiên cứu đã không cho thấy được thay đổi lớn nào về tình trạng nghèo đói hay bất bình đẳng bắt nguồn từ việc hội nhập kinh tế toàn cầu. Nhìn chung, kết quả các đánh giá trên chỉ cung cấp những chỉ số khái quát về các tác động có thể xảy ra, chứ không phải là những con số ước tính chính xác. Vì thế, cách đối phó với những tác động khó tiên đoán này giống như vấn đề của các nhà bảo hiểm, thay vì cố phỏng đoán xem mối nguy hại xảy ra ở đâu, sẽ ước tính thiệt hại chính xác khả năng và thời điểm xảy ra, và kịp thời hỗ trợ một cách thích đáng.
Phương án trợ cấp người lao động bị mất việc trong khu vực công, qua quỹ an sinh xã hội đã hoạt động khá hữu hiệu từ ba năm nay, hỗ trợ trên 100 ngàn lao động bị xếp vào diện dôi dư. Nhưng không thể nới rộng quỹ trợ cấp này cho khu vực tư vì sẽ quá tốn kém; thay vào đó, công nhân sẽ nhận trợ cấp thôi việc từ các doanh nghiệp. Phương án hỗ trợ các tỉnh nghèo qua việc tái phân phối ngân sách giữa các tỉnh đã có hiệu quả trong những năm gần đây, cần được tiếp tục đẩy mạnh vì phù hợp với quy tắc của WTO. Hơn thế nữa, tính tập trung theo địa lý cuả một số loại cây có thể dẫn đến những tác động tiêu cực tại một số vùng khi thị trường giá cả trên thế giới dao động mạnh.
Tóm lại, với một thị trường lao động linh hoạt như Việt Nam, những tác động có thể nhìn thấy được dường như không lớn. Tuy nhiên điều này không đúng đối với những tác động vào môi trường: tiêu chuẩn môi trường thấp tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành này để giảm chi phí sản xuất thấp nhất so với các nước khác. Một cuộc nghiên cứu đa ngành gần đây cho thấy các hoạt động kinh doanh gây ô nhiễm cao phát triển nhanh hơn các ngành ít gây ra ô nhiễm, đáng kể nhất phải kể đến ngành than, các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu như các làng nghề thủ công, ngành nuôi tôm, cá.
Trong phần mở đầu, chúng tôi đã trích lời ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc, khuyến cáo Việt Nam cần phải chuẩn bị để sẽ không trở thành Mexico thứ hai khi quốc gia này đã dành quá nhiều quyền ưu tiên cho công ty nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu đã không mang lại sự phát triển kinh tế vì hầu hết lợi nhuận đều lọt vào tay các nhà đầu tư nước ngoài. Một lần nữa chúng tôi xin mượn lời của ông Jonathan Pincus trong phần kết của bài viết. Ông Jonathan Pincus nhận định rằng việc gia nhập WTO là điều cần thiết, sẽ giúp Việt Nam cải thiện vị trí trong thương trường quốc tế, nhưng con đường trước mặt sẽ còn lắm chông gai. Ví dụ, về vấn đề cạnh tranh trên thị trường thuỷ sản và ngành dệt may, ông đã nhắc nhở: “Không là thành viên WTO, Việt Nam không có bất cứ quyền lực gì trong thị trường thuỷ sản và dệt may, nhưng khi là thành viên thì Việt Nam vẫn có vị trí yếu. WTO không hoàn hảo mà dường như là tổ chức của các nước giàu. Nếu anh là một nước giàu, anh sẽ được nhiều hơn nước nghèo. Dù sao là thành viên WTO vẫn tốt hơn ở ngoài. Việt Nam nên nghĩ rằng việc gia nhập WTO là bắt đầu một quá trình hơn là kết thúc. Sau khi đã là thành viên của câu lạc bộ đó, hãy cùng các nước đang phát triển khác đàm phán với các nước giàu hơn”.
(Các chữ viết tắt:
ABD - Ngân hàng Phát triển châu Á
CPIA - Đánh giá Môi trường thể chế và Chính sách Quốc Gia
CTCP - Công ty cổ phần
DNNN - Doanh nghiệp nhà nước
DTMSHGD - Điều tra mức sống hộ gia đình năm
IFC - Công ty Tài chánh Quốc tế (IFC)
FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF - Quỹ Tiền tệ Quốc tế
NHNNVN - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTMNN - Ngân hàng Thương mại Nhà nước
TCTK - Tổng cục Thống kê
UNDP - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
USAID - Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
UNCTAD - Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc
VNCI - (Sáng kiến Cạnh tranh Viêt Nam). 2005. Các biện pháp khuyến khích và tài chính cho đầu tư trong nước ở Việt Nam: Có hiệu quả hay không? Tài liệu nghiên cứu chính sách sách số 2 của VNCI. VNCI, Hà Nội.
WB - Ngân hàng Thế giới
WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới).
Chú thích:
[1] Theo Bộ KH-ĐT, cấp tỉnh và thành phố sẽ được cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài đến 50 triệu đô la - http://www.diza.org.vn/.
[2] Kết quả điều tra PCI năm 2006: Các tỉnh phía Nam chiếm ưu thế -
http://www.vneconomy.com.vn/.
Chúng tôi dự tính làm PCI trong ba năm đầu liên tiếp -http://www.vneconomy.com.vn/.
6/5/2006
Trần Bình
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chứng tích hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ từ năm 1632 đến nay: Tiến trình của Kinh Lạy Cha Lời người dịch:  Chúng tôi trích hai bản...