Báo cáo về tình hìnhlương thực, thực phẩm
Ở Việt Nam có một huyền thoại thường nghe nhắc đến về miền Bắc
xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Theo huyền thoại này, mặc
dù phải chi viện nặng nề cho cỗ máy chiến tranh, nhân dân miền Bắc vẫn đoàn kết
thắt lưng buộc bụng, chia sẻ ngọt bùi, hy sinh tất cả cho sự nghiệp thống nhất
dân tộc và xã hội chủ nghĩa. Xã hội miền Bắc là một bức tranh lý tưởng, trái
ngược hẳn với một miền Nam thối nát đầy tệ nạn tham nhũng, đĩ điếm, người bóc lột
người. Thực tế dĩ nhiên phức tạp hơn nhiều, như chúng ta đã biết qua các bài viết
trên talawas của Vũ Ngọc
Tiến và Trần Vàng
Sao. Tài liệu dưới đây (chụp và đánh máy lại từ tài liệu lưu trữ gốc ở
Trung tâm Lưu trữ III, Hà Nội, hồ sơ số 435, phông Bộ Lương thực-Thực phẩm
[vĩnh viễn], 21 trang) cho thấy sự khác biệt giữa hai miền có thể có, nhưng
không quá tương phản như huyền thoại. Xã hội miền Bắc không phải bình đẳng mà
thực tế chia ra về cả kinh tế lẫn chính trị. Tầng lớp quốc doanh được hưởng mọi
ưu đãi. Hai tầng lớp kia chịu nhiều kỳ thị, đẩy đến chỗ họ phải bươn chải kiếm
sống bất chấp mọi hình thức đàn áp (hàng ngàn người bị cưỡng bức lao động hàng
năm). Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi, tầng lớp quốc doanh không phải chỉ gồm
toàn anh hùng lao động hay công nhân gương mẫu. Nạn “chân ngoài dài hơn chân
trong” khá phổ biến. Nhiều cán bộ công nhân quốc doanh cấu kết với hai thành phần
kia để bòn rút tiền lương và nguyên vật liệu nhà nước (chủ yếu là hàng nhập khẩu
từ gạo cho đến sắt thép). Trộm cắp, buôn lậu và đĩ điếm có thể ít hơn miền Nam
dưới chế độ tư bản, nhưng không phải là hiếm. Dĩ nhiên chỉ một tài liệu nhỏ làm
sao diễn tả trọn vẹn thực tế phức tạp của miền Bắc trong những năm chiến tranh
gian khổ. Chúng tôi đăng tài liệu này với hy vọng những công trình nghiên cứu
tương lai có thêm một tư liệu hữu ích. Talawas
Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 1970
Kính gửi: Bộ trưởng Bộ Lương thực, Thực phẩm
Báo cáo
Tình hình điều tra và nghiên cứu để thi hành chủ trương phân phối lương thực và
hàng hóa công nghệ thuộc nhu cầu định lượng, kết hợp với quản lý lao động ở khu
vực phi nông nghiệp của Thành phố Hà Nội.
Sau một tháng đi phổ biến dự thảo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ về chủ
trương phân phối hàng hoá theo nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, và phổ biến dự
thảo chính sách phân phối về lương thực, kết hợp với điều tra nghiên cứu tình
hình ở 3 khu vực: Cơ quan và xí nghiệp; Hợp tác xã thủ công và phục vụ; Khu vực
kinh tế cá thể và nhân dân, thấy những tình hình cụ thể và những ý kiến qua lại
về chủ trương chính sách và biện pháp thực hiện ở mỗi khu vực như sau:
I. Khu vực cơ quan và xí nghiệp
Trong 7 cơ quan xí nghiệp (nhà máy dệt 8-3, cơ khí Mai Ðộng, cơ khí Trần Hưng Ðạo,
Bộ Tài chính và 3 đơn vị công trường thuộc Bộ kiến trúc) đoàn đã đến, đều là những
đơn vị đang có phong trào cải tiến quản lý lao động, định mức lao động cho từng
loại công việc tương đối hợp lý và có nền nếp, như cơ khí Mai Ðộng, cơ khí Trần
Hưng Ðạo và công trường 101 của Bộ kiến trúc; nhưng vấn đề chung nhất hiện nay
trong quản lý lao động thì nơi nào cũng đang còn lúng túng về xây dựng định mức,
về biện pháp quản lý lao động, v.v…; trong công nhân thì những hiện tượng nghỉ
việc tự do vẫn còn xảy ra ở một số khá đông, nhất là ở xí nghiệp như xí nghiệp
8-3, là 1 trong những đơn vị kém hơn các đơn vị khác về quản lý lao động; theo
số liệu thống kê của phòng lao động, tiền lương của xí nghiệp cho biết thì năm
1969, xí nghiệp có 6.683 công nhân (4,830 nữ), thành 1.469.525 ngày công theo định
mức, nhưng đã nghỉ 276.660 ngày công, bằng 18% tổng số ngày công, trong đó cụ
thể của mỗi loại ngày nghỉ trong năm 1969:
|
1. Nghỉ đẻ: |
37.088 công = |
2,5% tổng số ngày công |
|
2. Nghỉ phép: |
39.569 |
2,6% |
|
3. Nghỉ ốm: |
117,621 |
8,0% |
|
4. Nghỉ con ốm: |
45,632 |
3,1% |
|
5. Họp và học: |
3,591 |
0,24% |
|
6. Tai nạn lao động: |
610 |
0,03% |
|
7. Việc công |
620 |
0,04% |
|
8. Việc riêng |
11,715 |
0,79% |
|
9. Không có lý do |
11,005 |
0,74% |
|
10. Nguyên nhân khác |
69 |
0,007% |
|
Cụ thể |
Giá cung cấp |
giá cao |
Thu chênh lệch |
|
|
60% bột mì |
= 8.183kg |
2.939đ48 |
8.193đ00 |
5.253đ52 |
|
40% gạo |
= 5.463 |
2.075,94 |
10.708,48 |
8.632,54 |
|
---------- |
------------ |
------------ |
------------- |
|
|
13,656 |
5.016đ42 |
18.901,48 |
13.886,06 |
Vì tình trạng phân phối bình quân và bao quá rộng của chính sách, nên trong những ngày nghỉ bất hợp pháp này, tuy công nhân không được trả lương, nhưng lương thực thực phẩm và các hàng công nghệ theo định lượng vẫn đảm bảo giữ nguyên, đã gây nên tâm lý chán nản và bất bình trong những người tích cực lao động. Do đó, trong những buổi họp mặt với chị em của phân xưởng dệt sợi, nhuộm và động lực, họ đã nói rõ là phần thực chất nội dung, những ngày nghỉ của một số người như: có người nghỉ việc riêng hay nghỉ tự do, về gia công dán hộp, dán túi cho mậu dịch, hoặc làm hàng thủ công, làm đồ chơi của trẻ em như mũ kỳ lân, đèn ông sao v.v… để thêm thu nhập, có người vì mệt mỏi, lười nhác dựa vào lương của bố mẹ như Vũ Thị Loan 98 Thuỵ Khuê tự ý bỏ việc không làm hàng tháng, chị Hoà Lò Ðúc dựa vào lương chồng để chơi, một tháng chỉ đảm bảo 14-15 ngày công là cao lắm rồi; cá biệt có người bỏ xí nghiệp 3 tháng liền đi buôn chuyến, đủ tiền mua 1 xe đạp rồi mới trở về nhà máy; còn phổ biến là mỗi tháng nghỉ 4, 5 ngày ngoài chế độ, ngay cả ngày nghỉ vì con ốm mẹ nghỉ, hoặc bản thân ốm, cũng thường có những nội dung tương tự như nghỉ tự do.
Vì điều kiện sản xuất dây chuyền đảm bảo hoạt động bình thường của nhà máy, và các phân xưởng, các tổ sản xuất phải đảm bảo định mức kế hoạch đơn vị mình, nên ca nào có 1, 2 người nghỉ thì cả tổ phải cố gắng đảm nhiệm hoàn thành kế hoạch của tổ đó; cá biệt có tổ sản xuất nghỉ tới 50% số người, như tổ vận chuyển than vào lò có 11 người, nhưng thường chỉ có từ 6 đến 7 người/ ca, vẫn phải hoàn thành khối lượng công việc của 11 người/ca. Người nghỉ việc tự do vẫn hưởng đủ tiêu chuẩn chế độ, người phải gánh vác khối lượng việc của người nghỉ lại chưa được phụ cấp thêm tý gì trong những trường hợp này.
Ngoài ra, chị em còn cho biết ở nhà máy hiện nay, những người chuyên từ việc nặng sang việc nhẹ vẫn giữ nguyên tiêu chuẩn của việc nặng là phổ biến. Chính vì vậy mà sau khi phổ biến phần dự thảo chính sách về lương thực đối với cán bộ công nhân viên, thì hầu hết các cơ sở đoàn đã đến, từ anh chị em trực tiếp sản xuất đến cán bộ lãnh đạo, đều nhất trí tán thành với nội dung chính sách và biện pháp là:
a. Chính sách:
- Nghỉ việc ngày nào (không có lý do hợp lệ hợp pháp) thì phần lương thực ngày đó không được mua giá cung cấp, phải mua giá cao.
- Tự ý bỏ việc thì bỏ chế độ cung cấp lương thực, nếu muốn được cấp tiếp phải trở về cơ quan cũ đơn vị cũ để sản xuất, muốn đi sang cơ quan, xí nghiệp khác phải được sự thoả thuận của cơ quan xí nghiệp cũ giới thiệu phần lương thực, thì mới được cấp tiếp lương thực ở nơi mới đến.
- Mỗi cán bộ công nhân viên phải chuyển phần lương thực của bản thân có ở sổ gia đình nhập vào sổ lương thực tập thể cơ quan xí nghiệp quản lý, hằng tháng xét duyệt phần lương thực của mỗi người qua bảng chấm công phát lương, để làm căn cứ phát tem lương thực cho tháng sau.
- Ngành lương thực sẽ có 1 loại tem lương thực khác màu hoặc có ký hiệu đặc biệt để bán lương thực theo giá cao, giao cho cơ quan xí nghiệp xét duyệt ngày công để cấp phát hằng tháng cho những người có những ngày nghỉ không có lý do hợp lệ hợp pháp.
Trong quá trình trưng cầu ý kiến với các đơn vị và ý kiến qua lại trong đoàn, cũng có những ý kiến hơi khác một chút như:
1. Có ý kiến đề nghị hằng tháng cơ quan xí nghiệp chỉ giới thiệu, hoặc thông báo danh sách anh A chị B v.v…, đến phòng lương thực, tháng này phải rút bao nhiêu kg lương thực theo tiêu chuẩn để phòng lương thực báo cho cửa hàng bán giá cao cho những anh A chị B đó v.v…
Làm như thế nghe chừng đơn giản nhưng rất phức tạp; vì công văn của cơ quan đó sẽ không đến phòng lương thực được kịp thời vì nhiều lẽ… mà lương thực trong nhà họ đã hết, thì việc quyết định bán lương thực cho gia đình ấy thế nào? v.v… Ý kiến này rõ ràng là không có cơ sở để nghiên cứu được.
2. Một số ý khác cho rằng: số cán bộ công nhân viên nghỉ tự do tuy có, nhưng tỷ lệ không nhiều, nhất là ở cơ quan hành chính sự nghiệp thì hiện tượng nghỉ tự do càng không rõ nét như ở xí nghiệp, nên không muốn chuyển phần lương thực của bản thân cán bộ công nhân viên từ sổ gia đình vào sổ lương thực tập thể của cơ quan xí nghiệp, e rằng thêm phức tạp cho cơ quan; chỉ muốn chuyển về cơ quan, xí nghiệp quản lý sổ lương thực của những người có biểu hiện chây lười, vô kỷ luật thôi.
Ý kiến này có lý, muốn hạn chế cái gọi là “xáo trộn” nhưng thực tế sẽ càng không ổn định, vì số người nghỉ tự do vô kỷ luật thì có thể tháng này là anh A tháng sau lại là anh B chị C v.v…, cơ quan tiếp tục đi quản lý thêm 1 số sổ lương thực của những người này thì lại càng gây thêm lộn xộn về tổ chức chính trị. Ở cơ quan mà họ chưa thấy rằng: các cơ quan và xí nghiệp ở Hà Nội hiện nay vẫn quản lý 1/2 hoặc 1/3 cán bộ công nhân viên có trong sổ lương thực tập thể rồi, nay chỉ quản thêm phần còn lại thì có gì là xáo trộn? Mặt khác, nếu cơ quan xí nghiệp mà không quản phần lương thực của cán bộ công nhân viên, thì cũng chẳng thực hiện được chủ trương phân phối kết hợp với quản lý lao động ở mỗi cơ quan, mỗi xí nghiệp v.v… Ý kiến này phân tích đến cùng thì vô tình đã phản đối lại chủ trương lấy việc phân phối lương thực làm đòn bảy cho quản lý lao động ở cơ quan và xí nghiệp, nên đã không được đa số tán thành.
3. Riêng ý kiến của đồng chí phó giám đốc nhà máy dệt 8-3 thì tán thành về chủ trương chính sách này, nhưng sợ quản lý không nổi, muốn đề nghị cơ quan khác (lao động lương thực) quản giúp, còn nói chung các đồng chí Ðảng ủy giám đốc công đoàn của 8-3 thì rất tin tưởng là có thể quản được, tuy có thêm phần phức tạp, nhưng đều thấy rằng: quản lý tốt việc phân phối lương thực là 1 then chốt để quản lý lao động của xí nghiệp.
II. Khu vực hợp tác xã thủ công và phục vụ
Toàn thành Hà Nội có 3 ngành nghề của lao động thủ công như:
|
1. |
Thủ công và phục vụ có = |
38.978 người trong đó: |
|
|
340 hợp tác xã (HTX) có = |
23.522 xã viên |
|
|
971 tổ sản xuất |
10.107 tổ viên |
|
|
cá thể có |
4.372 người |
|
2. |
Vận tải thô sơ và bốc vác có 41 HTX gồm: 4.131 xã viên. |
|
|
3. |
Xây dựng và sửa chữa nhà cửa 4 HTX gồm: 2.235 xã viên. |
|
Tổng số ngành nghề trên, kể cả tập thể và cá thể, có 45.344 người (số người làm
các nghề thủ công và phục vụ chiếm đại bộ phận = 39.000 người).
Sau khi đi trưng cầu ý kiến, kết hợp nắm tình hình ở 12 cơ sở của mỗi loại
ngành nghề từ tổ sản xuất đến hợp tác xã, để thấy được một số đặc điểm tình
hình như sau:1. Cơ cấu tổ chức và tính chất hoạt động của HTX (hợp tác xã)Hợp tác xã thủ công ở các tỉnh thường hình thành trên cơ sở truyền thống của 1
nghề nào đó trong một khu vực dân cư nhất định, cho nên mỗi khi hình thành 1 tổ
chức sản xuất thủ công là có ngay cơ sở lãnh đạo của chi bộ Ðảng đoàn được chặt
chẽ, họ thu hút được mọi tầng lớp tham gia sản xuất, người tốt chiếm đại bộ phận
để dìu dắt cải tạo người xấu, còn ở Hà Nội thì khác hẳn, các hợp tác xã tổ chức
ra phần lớn là những người không đủ điều kiện (tiêu chuẩn chính trị) tuyển dụng
vào cơ quan xí nghiệp, và 1 số ít đã bị cơ quan xí nghiệp đào thải ra, được hợp
nhau lại để có 1 đăng ký sản xuất hợp pháp, cho nên rất ít HTX có chi bộ Ðảng
lãnh đạo (khu Hoàn Kiếm có 78 HTX, chỉ có 47 HTX có đảng viên sinh hoạt ở 40
chi bộ), tỷ lệ người tốt so với HTX ở các tỉnh thì chắc chắn là thấp, và hoạt động
kinh doanh sản xuất của những HTX này thường mang nhiều tính chất tư bản chủ
nghĩa, cạnh tranh chạy theo lợi nhuận, chưa thể hiện rõ nét vai trò vị trí kinh
tế tập thể của chủ nghĩa xã hội, như HTX nông nghiệp và thủ công nghiệp thuần
tuý ở các tỉnh khác; vì vậy hiện nay có khoảng 70% số HTX có hợp đồng gia công
cho Nhà nước hoàn toàn hoặc 1 phần, còn lại là kinh doanh tự do, tự sản tự
tiêu, ngoài việc hợp đồng gia công với những công ty hoặc cơ quan, bộ đội trong
thành Hà Nội ra, HTX còn tự do hợp đồng sản xuất với các tỉnh khác, không thông
qua liên hiệp xã quản lý, do đó có tháng có HTX giao dịch từ 10 đến 20 khách
hàng như HTX cơ khí Tây Sơn, Duy Nhất ở Cửa Nam, Gió Ðông Hàng Bài. Và họ sẵn
sang tự ý bỏ hợp đồng khi giá cả không thoả đáng, ít lợi nhuận v.v… có những
HTX nói là đã gia công cho Nhà nước 100%, cũng vẫn còn nhận làm ngoài kế hoạch
để tăng thu nhập, thậm chí còn lợi dụng cả công cụ của tập thể hoặc của Nhà nước
để thu nhập cho cá nhân. Ðây là chuyện phổ biến của các loại HTX mà đoàn đã đến
(trừ HTX dệt Thành Công).Ngoài ra có loại nghề tự sản tự tiêu không được phép sản xuất nhưng họ vẫn hoạt
động được như: đúc, nhuộm lậu, dập chắn bùn xe đạp bằng nguyên liệu của nhà nước
quản lý, tuy bị ngăn cấm nhưng không ngăn nổi họ, là vì yêu cầu của nhân dân rất
lớn, trong khi đó quốc doanh chưa có điều kiện sản xuất để đáp ứng được yêu cầu
cho dân, như ngõ 331 Bạch Mai có gồm 200 nhà làm nghề này.2. Tình hình lao động và quản lý lao động của HTXCác HTX tự thu hút kết nạp xã viên rất nhiều, không có cơ quan nào khống chế chỉ
tiêu lao động của họ, nên có loại xã viên tham gia sản xuất thực sự, có loại sản
xuất rất ít; loại này vào HTX để có danh nghĩa về chính trị (là tầng lớp người
thứ 2 sau cán bộ công nhân viên) cho bản thân và con cái họ; nhất là những HTX
kiến trúc tự thuê mướn nhân công, kê danh sách xã viên rất nhiều để xin rút tiền
ở ngân hàng về trả lương cho công nhân, như tháng 5 năm 1970 xin rút 25.000đ00,
liên hiệp xã chỉ duyệt 15.000đ00, tháng 6 xin rút 38.000đ00, chỉ duyệt
18.000đ00, trả lương xong không hề kêu ca gì về thiếu lương cả, chứng tỏ họ man
khai danh sách khá nhiều, có khi còn man trá để xin cấp lương thực chênh lệch nữa
(cần có dịp kiểm tra khâu lương thực đối với HTX xây dựng này).Việc quản lý lao động của HTX cũng trên cơ sở trả lương theo sản phẩm và có
phúc lợi vật chất kích thích, nên thường là họ huy động được toàn bộ lao động
vào sản xuất, và có cường độ lao động cao từ 10 giờ trở lên. Có xã viên còn đưa
con cái đến giúp đỡ bố mẹ 1 số việc phụ. Do đó họ thường vượt kế hoạch so với
chỉ tiêu lao động và thời gian hoàn thành (họ hơn xí nghiệp quốc doanh trong vấn
đề quản lý lao động); mặt khác, trong xã viên còn đem hàng về gia công lại cho
những người không ở HTX, để vừa góp phần hoàn thành kế hoạch nhanh, vừa thêm
thu nhập cho xã viên (may mặc). Ngoài những công cụ sản xuất của tập thể ra, mỗi
gia đình xã viên thường có đủ đồ nghề riêng ở nhà (may đo, chữa đồng hồ, sản xuất
tôn thiếc…) để làm riêng thêm thu nhập.3. Sự quản lý các nghành nghề của cơ quan Nhà nước chưa thể hiện sự tập
trung thống nhất vào chính quyền khu và thành quản lý, hiệu lực của chính quyền
chưa được phát huy, mà thường mỗi ngành quản lý một nghề như:- Các ngành nghề may đo, dệt, da, giấy, cơ kim khí hoá chất, gỗ
tre, mây song, văn phòng phẩm và công nghiệp khác do liên hiệp xã thủ công của
khu, thành quản lý.- Nhuộm, giặt là, sửa chữa đồng hồ, chế biến lương thực (bún,
mì sợi, bánh đa, dong riềng) do thương nghiệp quản lý (cấp đăng ký).- Chụp ảnh truyền thần, tranh vẽ do văn hóa quản lý.- Vận tải xe bò, ngựa, ba gác, xích lô, bốc vác, sửa chữa xe
thô sơ và cơ giới do liên hiệp xã vận tải quản lý.- Sửa chữa và xây dựng nhà cửa do phòng nhà đất quản lý.- Sản xuất bánh mỳ do công ty bánh mỳ quản lý.- Sửa chữa xe đạp do công ty mô tô xe đạp quản.- Các tổ sản xuất và cá thể sản xuất hoặc buôn bán do văn phòng ủy ban các khu phố trực tiếp phụ trách xét cấp đăng ký.Kể ra mỗi ngành trực tiếp quản lý mỗi nghề có tác dụng sâu
sát về chuyên môn, nhưng về mặt chỉ đạo chấp hành các chính sách về cải tạo
quan hệ sản xuất rõ ràng là phân tán rời rạc, và tất nhiên không tránh khỏi cục
bộ địa phương chủ nghĩa trong hoạt động kinh tế ở khu vực tập thể.1. Hợp đồng kinh tếa. Các cơ quan gia công thường là bất bình đẳng trịch thượng đối với hợp
tác xã thủ công như:- Không cung cấp đủ nguyên liệu cho HTX. Có mặt hàng cần 35 thứ
nguyên liệu và phụ liệu như va ly, nhưng chỉ đảm bảo được 15 thứ, còn mặc cho
HTX tự kiếm.- Nguyên liệu không đúng chất lượng như: sản xuất kìm lại không
có thép CT 45 và thuốc tôi, lại đưa loại thép khác, dẫn đến kết quả sản phẩm
không đúng chất lượng, không thu hóa, làm đọng vốn của HTX, như HTX cơ khí Hồng
Hà.- Tùy tiện thay đổi mặt hàng như công ty kim khí cấp I gia công
cho HTX Việt Hưng 72 Hàng Chiếu, sản xuất 3000 đôi vành xe đạp nhuộm, HTX vừa
chuẩn bị xong khuôn mẫu thiết bị để sản xuất, hết trên 10.000đ00, thì công ty lại
báo không sản xuất, không cấp nguyên liệu nữa, bỏ mặc HTX chịu khoản chi phí
kia.- Nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà còn chiếm dụng 63.000đ00 vốn của
HTX Hữu Nghị giấy đã gần 2 năm nay chưa trả.Qua những hiện tượng trên, thấy rõ các cơ quan gia công của
nhà nước đã gây nhiều khó khăn cho HTX, làm trái với thông tư 32 TTg ngày [1]… của Hội đồng Chính phủ đối với việc
phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp địa phương; nhưng họ vẫn sống được, họ
vẫn phải chịu sự chi phối của cơ quan gia công, họ không dám kiện lại cơ quan
gia công, chính là họ sợ cơ quan không giao việc tiếp cho họ. Mặt khác, họ đã
triệt để lợi dụng giấy tờ của cơ quan gia công để tìm kiếm nguyên liệu, cuối
cùng vẫn là moi vật tư của Nhà nước ra thôi; giới thiệu đi mua 1, họ có thể mua
10 hoặc nhiều hơn nữa để sản xuất mặt hàng mới. Ngoài ra, họ cố tình tăng công
thức nguyên liệu lên để rút vật tư nguyên liệu của Nhà nước ra, như HTX Gió
Ðông sản xuất huy hiệu cho quân đội bằng sắt máy bay hiện nay, đã làm xong hợp
đồng rồi, vẫn còn hàng 100kg mảnh máy bay nữa.Tổ sản xuất nút chai Chi-Mai, sau 1 tháng sản xuất hết hợp đồng, vẫn còn thừa 2
kg nhựa PVC v.v… Những nguyên liệu còn lại này sẽ là những mặt hàng mới nhà nước
sẽ không quản lý được của họ. Ðiều này có thể cơ quan gia công chưa biết rõ mặt
trái đó, hoặc biết rồi nhưng cũng phải lờ đi, hoặc có sự ăn cánh với nhau giữa
cán bộ nhà nước đi gia công, thu hoá sản phẩm, nên đã buông lỏng giám sát quản
lý nguyên liệu. Chính vì thế họ vẫn có thu nhập cao và chưa dám tố cáo trước
pháp lý về những hiện tượng cơ quan gia công thiếu bình đẳng, trịch thượng với
họ.b. Ðối với các HTX vận tải và kiến trúc thì lại bắt bí cơ quan gia công; tuy bề
ngoài họ vẫn lấy đúng giá cước nhà nước quy định đấy, nhưng họ bắt bí cơ quan
gia công bằng cách tự tăng chỉ tiêu tấn cây số vận chuyển, tăng độ dốc, tăng cấp
đường loại II, tăng cước phí bốc dỡ v.v… để tăng thu nhập. Vì ngoài họ ra, thì
chẳng ai có khả năng làm được, nên cơ quan gia công phải theo yêu sách của họ.Thí dụ: Sở giao thông Hà Nội quy định mỗi xe bò phải đi 17T/km ngày, họ tự nâng
lên 21T/km ngày để làm căn cứ tính tiền công với các cơ quan gia công.Ngày công bốc vác họ cũng tăng độ dốc để tính công, như phòng lương thực Hoàn
Kiếm đã phải trả công bốc vác 1 bao bột mì 50-70kg từ xe vào xếp trong kho hết
0đ70; họ nói là độ dốc càng cao, tiền cũng càng đắt.HTX Kiến Trúc thì khai tăng nguyên liệu, tăng định mức lao động, để tăng ngày
công, trên cơ sở đó để ký hợp đồng với cơ quan gia công; ngoài ra còn khai tăng
công thức nguyên liệu để rút nguyên liệu của nhà nước ra để bán lại cho dân hoặc
cho cơ quan khác mới khi thuê họ làm mà thiếu thứ nguyên liệu đó, như Học viện
Thuỷ Lợi hiện đang thuê HTX 318 quét vôi sửa chữa nhà hết 51.000đ00, mà vôi là
do hợp tác xã nói là mua giúp với 1 giá đắt hơn giá chỉ đạo.Qua những dẫn chứng trên, đã thấy rõ hiệu lực của hợp đồng rất ít giá trị về
pháp lý.Tình hình thu nhậpDo cách làm ăn trên của các cơ quan gia công khi thì hữu khuynh buông lỏng quản
lý, khi thì bị họ bắt bí, cho nên HTX thu nhập khá cao ở cả 3 nguồn thu:a. Thu nhập nằm trong sự quản lý của HTX để công khai tính toán
với nhà nước, làm căn cứ rút tài khoản.b. Thu nhập tiền mặt do HTX nhận làm hàng ngoài kế hoạch.c. Thu nhập của từng xã viên làm riêng (đã nói ở cuối đặc điểm
2).Sự thu nhập cao thấp khác nhau ở 3 nguồn thu đó là tuỳ ở tính
chất sản xuất và sự quản lý sản xuất của HTX để quyết định; nếu như HTX không bố
trí công việc được liên tục, xã viên phải nghỉ việc, họ về làm riêng ở gia đình
họ, thì nguồn thu thứ 3 sẽ cao. Hoặc là sau khi làm xong hợp đồng gia công 1 mặt
hàng, trong khi chờ đợi kế hoạch tiếp của HTX, nhận làm thêm một loại mặt hàng
cho 1 cơ quan khác ở tỉnh khác để thu tiền mặt, thì giá cả khác xa chỉ đạo, nguồn
thu nhập thứ hai cũng sẽ cao v.v… Hiện nay, nguồn thu thứ nhất được công khai
báo cáo thì:Bình quân đầu người từ
|
43đ – 55đ |
của HTX dệt |
|
60đ – 85đ |
của HTX cơ kim khí sửa chữa |
|
100đ – 140đ |
của HTX vận tải xe bò |
|
120đ – 200đ |
của HTX xích lô chở khách |
|
200đ – 250đ |
của HTX kiến trúc |
|
300đ – 400đ |
của xích lô chở hàng kiêm bốc xếp. |
|
Thủ công cá thể |
2.484 người, |
có 1.275 là nữ |
|
Tiểu thương cá thể |
4.507 |
4.507 là nữ |
|
Học sinh phổ thông |
4.600 |
2.091 |
|
Nội trợ |
6.590 |
6.590 |
|
Lao động linh tinh khác |
1.235 |
1.261 [1] |
|
Chưa có việc làm thực sự |
3.310 |
1.895 |
|
Tổ sản xuất |
2.264 |
1.340 |
2. Biện pháp sử dụng lao động: ngoài những người ở hợp tác xã và tổ sản xuất
ra, thì đến nay (tháng 7 năm 1970), khu Hoàn Kiếm đã cho đăng ký kinh doanh:1.400 người sản xuất thủ công cá thể trong số 2.484 người;2.579 người buôn bán cá thể trong số 4.507 ngườiSố còn lại khoảng 4,500 người vận động đi làm xa hoặc vào HTX
họ cũng không đi xa và không vào HTX hoặc cho đi rồi lại quay về buôn bán linh
tinh như:
|
Năm 1968 giới thiệu đi công trường: |
1.500 người |
bỏ về 900 |
|
Năm 1969 |
1.300 |
800 |





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét