Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

Lịch sử văn học phương Tây thế kỷ XIX và thế kỷ XX

Lịch sử văn học phương Tây 
thế kỷ XIX và thế kỷ XX  
Chương 1
VĂN HỌC LÃNG MẠN PHÁP 
I.HOÀN CẢNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC LÃNG MẠN PHÁP:
1.Tiền đề lịch sử xã hội: 
Xã hội Pháp trước cách mạng 1789 với tình trạng phân hóa đẳng cấp (tu sĩ, quý tộc, bình dân) với những đặc quyền đặc lợi thuộc về  hai tầng lớp trên, gây bất bình đẳng trong xã hội. Bên cạnh đó là sự bất  hợp lý về cơ cấu xã hội, văn hóa tinh thần, tư pháp, chính trị, giáo dục. Lối sống xa xỉ của triều đình Louis XVI đưa tới khủng hoảng tài chính nặng nề, dẫn đến khủng hoảng chính trị là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ của cách mạng Pháp 1789, là cuộc cách mạng chống phong kiến đầu tiên của nước Pháp và cũng là của toàn nhân loại. Khẩu hiệu Tự do, bình đẳng, bác ái được lòng người trông đợi trong suốt  thế kỷ XVIII đã được cách mạng Pháp đề  ra. 
Trong những năm cuối của thế kỷ XVIII, nước Pháp đã trải qua nhiều xáo trộn chính trị với các thời kỳ của cách mạng Pháp như Quốc ước  hội nghị 17992-1795 thành lập đệ  nhất cộng hòa, Chấp chánh nghị hội 17995-1799, chế độ tổng tài 1799-1802 với đệ nhất tổng tài Napoléon Bonaparte. Ngoài ra sự kiện 1793 cũng là điểm mốc đáng ghi nhớ của cách  mạng Pháp (phái Jacobin cực  đoan nắm chính quyền thi hành chính sách tàn sát đẫm máu).
Sự tan vỡ của huyền thoại Napoléon cũng là một tiền đề cho sự ra đời của văn học lãng mạn Pháp. Napoléon là người đã vượt lên đứng đầu trong các biến cố của lịch sử nhờ tài năng quân sự và chính trị. Napoléon là người đã là cuộc chính biến  thành lập nền Ðế chế thứ nhất và lên ngôi Hoàng đế từ năm 1804-1814. Ðó là triều đại đã để lại nhiều sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như bộ luật dân sự (Code civil, 1804), chiến thắng Austerlitz 1805, nhiều khải hoàn môn nổi tiếng. Napoléon từng là thần tượng của cả một thế hệ thanh niên Pháp về chiến công, về tài năng. nhưng đồng thời, tiếp theo đó là sự tan vỡ của huyền thoại về vinh quang và chiến thắng(được phản ánh trong nhiều tác phẩm hiện thực và  lãng  mạn đương thời). Thần tượng này bắt đầu sụp đổ khi Napoléon đẩy mạnh chính sách xâm lược thực dân trên nhiều châu lục như Âu, Á, Phi, Mỹ. Nước Pháp phải gánh vác nhiều chi phí nặng nề cho chiến tranh. Nhân dân mệt mỏi, cộng với tâm trạng chán nản của tầng lớp thanh niên bị biến thành lính viễn chinh xâm lược, và sự phản kháng của nhiều tầng lớp xã hội trước cảnh tàn phá giết chóc của chiến tranh phi nghĩa. Cuối cùng sau thất bại ở Waterloo và cuộc trở lại một trăm ngày, Ðế chế I đã thực sự chấm dứt.                
2. Tiền đề văn  hóa tinh thần
2.1. Từ thế kỷ triết học sang thế kỷ lãng mạn: Thế kỷ XVIII- Thế kỷ ánh sáng là một thế kỷ mà văn chương Pháp đã dành trọn thời gian để hướng về mục tiêu khai sáng, đổi mới nền văn hóa tinh thần của nước Pháp hướng về nền cộng  hòa dân chủ tự do. Ðó là thế kỷ của văn chương triết học, văn chương chính luận và bút chiến, văn chương luận đề hướng về mục tiêu chống phong kiến, chống cơ chế văn hóa tinh thần trung đại, cỗ vũ cho một nền văn học mới với những mục tiêu nhân bản mới. Do đó cách mạng 1789 là một biến cố được nhân dân Pháp trông đợi, trong đó không loại trừ những người thuộc tầng lớp quý tộc phong kiến.
Cuối thế kỷ XVIII là thời kỳ phát  triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tình cảm (Sentimentalisme), là thời kỳ tiền lãng mạn, được coi là tiền thân của chủ nghĩa lãng mạn Pháp sẽ phát triển mạnh mẽ và thống trị văn đàn Pháp trong ba thập niên đầu của thế kỷ XIX. Những tên tuổi nổi tiếng của chủ nghĩa tình cảm như Bernadin de Saint Pierre với Paul và Virginie thể hiện khát vọng về một chốn ẩn cư giữa thiên nhiên và tình yêu, lên án sự tha hóa của xã hội văn minh với đời sống con người; J. J. Rousseau với nhiều tiểu luận, tiểu thuyết, đặc biệt là tác phẩm La Nouvelle Héloise chống tinh thần luân lý cứng nhắc, cổ vũ cho tự do, say sưa mô tả niềm đam mê của tình yêu cá nhân, vẻ đẹp của tình yêu trong thiên nhiên, tràn đầy cảm xúc âm nhạc và thơ ca, vượt ra khỏi rào chắn của tôn ti đẳng cấp. Rousseau là người tiên phong của chủ nghĩa tình cảm. Tư tưởng của ông là nguồn cảm hứng cho thế hệ lãng mạn tiếp theo
2.2 Mối giao lưu văn học giữa Pháp và các nước châu Âu: Nếu chủ nghĩa cổ iển thế kỷ XVII hoàn toàn là một "đặc sản Pháp" (spéciliquement francais), thì chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu mang tính chất toàn châu Âu (mouvement européenne). Văn học lãng mạn Pháp có những côị nguồn riêng từ dân tộc, nhưng đồng thời nó cũng chịu một số ảnh hưởng nhất định của thị hiếu âm u trong những bi ca của lãng mạn Anh trong thơ của Gray, Hervey, Young và đặc biệt là ảnh hưởng rộng rãi của Byron. Văn học lãng mạn Ðức cũng có nhiều ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt là thơ ca và tiểu thuyết của Goethe như Tình sầu của chàng Werther được thanh niên Pháp yêu mến một thời.
2.3 Những đặc điểm chính về nội dung và nghệ thuật của văn học lãng mạn Pháp
Sau những phấn khởi đầu tiên, nhiều biến cố lịch sử đã hướng cách mạng Pháp không theo con đường của tự do bình đẳng bác ái. Chế độ độc tài Napoléon đã hủy diệt khái niệm tự do mà cách mạng Pháp đã dày công khởi xướng. Thực chất chính sách của Naapoléon là hủy diệt tự do cá nhân và cổ vũ  cho trào lưu Tân cổ điển (Néoclassicisme). Tầng lớp quý tộc cũ bị mất đặc quyền đặc lợi thất vọng đã đành, nhân dân nói chung và nhiều tầng lớp thanh niên, nhiều nhân vật văn học đã từng ngưỡng mộ đế chế cũng trở thành thất vọng. Hiện tượng này dẫn đến sự phủ nhận thực tại sau cách mạng thể hiện qua nhiều thái độ khác nhau. Sự phủ nhận của các tầng lớp nhân dân đối với xã hội mới được thiết lập sau cách mạng Pháp do nhiều nguyên nhân khác nhau, mối thất vọng sâu xa về cơ chế xã hội mới đã không đáp ứng được khát vọng tự do dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, dẫn đến nhiều thái độ khác nhau trước thực tế xã hội và trong sáng tác văn học là một tiền đề đã dẫn đến sộ ra đời của văn học lãng mạn Pháp. Theo Marx, chủ nghĩa lãng mạn là "phản ứng đầu tiên đối với cách mạng Pháp và tư tưởng khai sáng gắn liến với cuộc cách mạng đó". Hoặc theo Emile Faguet. "chủ nghĩa lãng mạn là sự khước từ thực tại và nguyện vọng muốn thoát ra khỏi thực tại đó".
Văn học lãng mạn trước hết là sự trở về với tự nhiên và tình cảm. Thế giới nội tâm, tình cảm của con người với nhiều traạng thái khác nhau chính là đối tượng mới của sáng tạo văn học. Chủ nghĩa lãng mạn là "cuộc chiến thắng của chủ nghĩa tự nhiên và sự bộc bạch caái Tôi". Cá nhân đòi hỏi được giải phóng. Trong sáng tác, vai trò củaa cá nhân rất quan trọng, thế giới chủ quan của nhà văn đóng vai tò trung tâm và quyết định. Nguyên tắc Tự do được đề cao. Victor Hugo, chủ soái của trường phái lãng mạn viết trong lời tựa Cromwell "Ba nguyên tắc? không. Chỉ có một. Ðó là tự do. Tự do trong nghệ thuật và tự do trong cấu trúc" 
Chủ nghĩa lãng mạn cũng là "thị hiếu về ước mơ, về sự huyền diệu và phóng khoáng, của trí tưởng tượng vượt khỏi lề thói". Vì thế, lý tưởng lãng mạn đôi khi làmm biến dạng thực tế để phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ và tình cảm.
Những chủ đề quan trọng và quen thuộc của văn học lãng mạn bắt nguồn từ cảm thức về thời đại, về lịch sử, về thân phận con người trong đó. Con người thất vọng, bàng hoàng trước những cơn lốc của lịch sử, trước sự trôi chảy của dòng đời theo những biến đổi của thời gian, dẫn đến những suy tưởng về dòng đời, về định mệnh, về tôn giáo, về vĩnh cửu...
Nhân vật lãng mạn là người thực hiện các suy tưởng lãng mạn, các phản kháng lãng mạn, các thái độ lãng mạn thường giống nhau: nặng chất suy tưởng, thiên về đời sống tình cảm, cô đơn và u sầu, xa cách và nổi loạn, không thoả hiệp được với thực tại cuộc đời, thường có kết thúc mang tính bi kịch, dù họ là nhân vật lãng mạn hướng nội hay lãng mạn hướng ngoại, tiêu cực hay tích cực.Tuy có một số nhà văn lãng mạn thường đưa vào thơ ca những nỗi u sầu, những nỗi xao xuyến và kể cả những trạng thái xuất thần, nhưng cũng có một số nhà văn đã không gắn bó mãi với tâm tình riêng tư, mà tự mang lấy sứ mệnh xã hội, hình thành trong thơ ca cảm hứng về thế kỷ của mình. Ðó là những nhà văn lãng mạn tích cực. Chẳng hạn như Hugo đã quan niệm rằng nhà thơ "phải đưa nhân dân đến một tương lai chiến thắng".
2.4. Những đặc điểm về nghệ thuật
- Tự do là nguyên tắc  lớn nhất của chủ nghĩa lãng mạn. Với chủ nghĩa lãng mạn, đã xuất hiện "một nền văn học được giải phóng" trên nhiều bình diện: thơ ca, tiểu thuyết, sân khấu. Chủ nghĩa lãng mạn đã giải phóng thơ ca, cách tân sân khấu với vở Hernanie 1830. Nhờ nguyên tắc tự do, chủ nghĩa lãng mạn đã đem lại một làn sóng tiểu thuyết cực kỳ phong phú và đa dạng. Bài tựa Cromwell của Victor Hugo cũng xác định: "Ba nguyên tắc? không, chỉ có một. Ðó là tự do. Tự do trong nghệ thuật và tự do trong cấu trúc"
- Các thủ pháp nghệ thuật được ưa thích của chủ nghĩa lãng mạn như phong vị ngoại lai (exotique) thể hiện trong cách lựa chọn đề tài, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật không phải là những khung cảnh, con người quen thuộc ở thị thành, cung đình, mà ở những nơi xa lạ, những thời điểm xa xưa, những tập tục khác thường... là một phương thức hữu hiệu đem lại phong vị tươi mới cho tác phẩm. Nguyên tắc tự do góp phần trẻ hóa lối hành văn, cách gieo vần, cách  sử dụng các biện pháp tu từ, cách lựa chọn các không gian và thời gian nghệ thuật. Và do nhiệt tình, sôi nổi  muốn tự thể hiện, chia xẻ và thuyết phục, văn chương lãng mạn nói chung thường mang tính hùng biện.
- Ở từng nhà văn còn có các thủ pháp riêng. Chateaubriand nổi tiếng với sự tưởng tượng phong phú, nghệ thuật văn xuôi điêu luyện tài hoa, gơi cảm và đầy màu sắc, đặc biệt  trong văn xuôi tả cảnh đầy chất pittoresque. Ða số các nhà thơ, nhà văn từ thời chủ nghĩa tình cảm như Rousseaau, De Staell cho đến thời lãng mạn như Lamartine, Musset, Hugo, George Sand...đều có tài trong nghệ thuật mổ xẻ phân tích các tâm tình và trạng thái lãng mạn . Ðặc biệt nhất là Hugo, người đã thể hiện được cả một hệ thống nghệ thuật riêng của mình với một loạt các thủ pháp nghệ thuật đặc thù như tương phản, cường điệu, trữ tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác việt (sublime) và cái thô kệch (grotesque).
- Nói tóm lại, theo nhận xét của các nhà phê bình, thì nghệ thuật lãng mạn có khả năng dung nạp rộng rãi các phương tiện thể hiện. "Tinh thần lãng mạn chính là sự nối kết liên tục các yếu tố đối kháng nhau: Tự nhiên và nghệ thuật, thơ ca và văn xuôi, sự nghiêm túc và thú vui, kỷ niệm và dự cảm, tư tưởng trừu tượng và những cảm giác sống động, sự sống và cái chết...hòa lẫn với nhau một cách mật thiết trong thể loại lãng mạn (A W Sleigel). Nói chung, với chủ nghĩa lãng mạn, thơ ca cũng như văn xuôi Pháp đã tiến một bước rất dài với những thành tựu rực rỡ.
II.TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 
1. Thời tiền lãng mạn:
- Jean Jacques Rousseau (1712-1778), nhà văn Pháp gốc Thụy Sĩ, là một trong những trụ cột của văn học ánh sáng Pháp với những tư tưởng mới về giáo dục, xã hội, nghệ thuật. Ngoài những tác phẩm thể hiện tinh thần ánh sáng, tác phẩm nổi tiếng tiêu biểu cho chủ nghĩa tình cảm, tiền thân của chủ nghĩa lãng mạn laà tiểu thuyết dưới dạng thư từ La Nouvelle Héloise (Nàng Héloise mới) cổ vũ cho tự do trong tình yêu, trong hôn nhân, mô tả những thi vị của tình yêu trong thiên nhiên, thơ ca và âm nhạc. 
- De Stael (1766-1817), nhà văn nữ của thời kỳ tiền lãng mạn, một trong những người đầu tiên đã đưa ra những yếu tố lý thuyết về văn học lãng mạn, về "cái tôi" trong văn chương với các tác phẩm tiêu biểu như Về nước Ðức, Về văn học . 
- Benadin de Saint Pierre (1737-1814), tác giả của Paul và Virginie, một tiểu thuyết đánh dấu những đổi mới đầu tiên về cảm hứng tình yêu, cảm hứng thiên nhiên và phong vị ngoại lai, là những nét đặc thù của văn học lãng mạn. 
2. Thời lãng mạn: 
- Chateaubriand (1768-1848), là người đã thể hiện những đề tài đặc thù của chủ nghĩa lãng mạn như tôn giáo, tình yêu, phong vị exotique, sự cô đơn của cái tôi cá nhân trong nhiều tác phẩm như Atala, René, Những kẻ tuẫn đạo (Les Martyrs), Tinh anh của đạo cơ đốc (Le Génie du Christianisme)... Ông còn nổi tiếng về sự điêu luyện tài hoa trong ngôn ngữ văn xuôi. 
- Lamartine (1790 - 1869): Nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đầu thế kỷ XIX với tập thơ Trầm tư, Những hòa điệu, biểu tượng của thơ lãng mạn ở cảm hứng tình yêu, cái tôi, sự cô đơn, hư vô, cái chết. Lamartine nổi tiếng về sự hài hòa phong phú, duyên dáng trong hình ảnh và nhạc điệu thơ. 
- Alfred de Musset (1810-1857): Nhà thơ, nhà viết kịch và viết văn xuôi lãng mạn, nổi tiếng với Chùm thơ đêm, Tâm sự đứa con thời đại, Lorrenzaccio. Tác phẩm của ông nhấn mạnh tính nội tâm trong thơ, nỗi đau trong tâm tình lãng mạn, nỗi cô đơn trong khát vọng lãng mạn muốn nổi loạn chống lại những cái ác trong cuộc đời, vươn đến cái đẹp và sự hoàn thiện. Ông là bước nối ban đầu từ khuynh hướng lãng mạn tiêu cực sang khuynh hướng lãng mạn tích cực. 
- Mérimée (1803-1870) Tác giả của nhiều truyện ngắn có nghệ thuật văn xuôi trong sáng, điêu luyện, đậm đà phong vị exotique phối hợp với màu sắc lịch sử. Tác phẩm tiêu biểu: Colomba, Carmen. 
- Alexandre Dumas cha (1802-1870): Nổi tiếng với những tiểu thuyết lãng mạn có màu sắc lịch sử, hay nói cách khác, là những tiểu thuyết dã sử được hư cấu thêm thắt và thi vị hóa, thêm kịch tính gây hấp dẫn. Tác phẩm tiêu biểu là Ba chàng ngự lâm (Les trois mousquetaires) 
- Georges Sand (1804-1876) Nữ văn sĩ, tác giả của nhiều tiểu thuyết lãng mạn mang tính luận đề về vấn đề phụ nữ, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong tình yêu, trong hôn nhân. Ðây là nhà văn lãng mạn tích cực đã hướng tình yêu lãng mạn đến những khát vọng trong sáng, lành mạnh, hướng về hạnh phúc chân chính của con người. Tác phẩm tiêu biểu như Cô bé Phadette, Horace, Indiana, Cái đầm ma..    
- Victor Hugo (1802-1885): Nhà lý luận, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà tiểu thuyết nổi tiếng của chủ nghĩa lãng mạn. Trong các thập niên đầu của chủ nghĩa lãng mạn, ông là chủ soái đã đưa trào lưu lãng mạn lên đến chỗ toàn thắng chủ nghĩa cổ điển, chiếm lĩnh vị trí thống trị trên văn đàn Pháp. Hugo là một tác gia có tầm cỡ thế kỷ, người đã phối hợp sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo với nghệ thuật lãng mạn, đã xây dựng được riêng cho mình một hệ thống thi pháp thơ, thi pháp tiểu thuyết độc đáo. Tác phẩm tiêu biểu: 
- Về tiểu thuyết: Nhà thờ Ðức bà Paris (Notre Dame de Paris), Những người khốn khổ (Les Misérables), Năm 93 (Quatre Vingt treize), Lao động trên biển (Travailleurs sur mer), Người cười (L'homme qui rit) 
- Về thơ: Ðoản thi và Ballade, Về phương Ðông, Tiếng hát buổi hoàng hôn, Tiếng nói nội tâm, Lá thu, Bài ca của phố và rừng, Năm khủng khiếp, Nghệ thuật làm ông... 
- Về kịch: Hernanie, Ruy Blas, Nhà vua vui chơi... 
Chương 2
VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN PHÁP 
I. HOÀN CẢNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN PHÁP
1. Tiền đề lịch sử xã hội cho sự ra đời của văn học hiện thực phê phán Pháp
 Cần chú ý các điểm sau:
- Sự hình thành và thống trị của chủ nghĩa tư bản trên các nước Tây Âu phát triển như Anh, Pháp. Hậu quả là sự thay đổi sâu sắc bộ mặt xã hội do phân hóa đẳng cấp, do sự xuất hiện của các tầng lớp thống trị và bị trị mới (tư bản và vô sản). Sự thay đổi về kinh tế xã hội kéo theo sự thay đổi về văn hóa tinh thần, sự khủng hoảng về tư tưởng xã hội, đạo đức.
- Sự ra đời của nhiều học thuyết chống tư bản trong thời kỳ đầu như chủ nghĩa xã hội không tưởng của Owen, Saint Simon và Fourrier, chủ nghĩa cơ đốc xã hội của Lamenais.
- Sự xuất hiện của phép biện chứng của Hégel. Sau đó là biện chứng duy vật làm nền cho chủ nghĩa cộng sản của Marx. Tuyên ngôn cộng sản ra đời năm 1848.
Tất cả những tiền đề trên tác động sâu sắc đến sự hình thành của cảm hứng phê phán xã hội và con người trong cơ chế tư sản, tác hại của lợi nhuận, của đồng tiền trên mối quan hệ giữa người và người trong cuộc sống, làm tha hóa con người do dục vọng và đồng tiền.           
2. Tiền đề văn hóa tinh thần 
Với sự lùi dần của mỹ học lãng mạn trong hoàn cảnh xã hội mới vì không đáp ứng được những đổi thay của thời đại mới, tâm tư mới, xu hướng "tôn trọng thực tế" (Le respect du réel) xuất hiện thay cho sự tưởng tượng, mơ mộng và tính chủ quan cực đoan trong sáng tạo văn chương lãng mạn. "Sự phản ứng hiện thực" (La réaaction réaliste) phủ định tư duy siêu hình, đòi hỏi nhà văn phải có khả năng quan sát, tiếp nhận và phán xét thế giới bên ngoài. Các quan niệm mới xuất hiện như "nghệ thuật là tấm gương trên đường, phản ánh khi thì trời xanh, khi thì bùn lầy" (Stendhal); "lý tưởng của một nhà văn vô ngã là khả năng biến hóa đa dạng: vừa là nạn nhân vừa là đao phủ, quan tòa và bị cáo, lần lượt diễn các vai của mục sư và người lính, cái cày của nông phu, sự ngây thơ của quần chúng và sự ngu xuẩn tiểu tư sản" (Balzac). Nhà văn muốn nhấn mạnh đến khả năng biến hóa và hội nhập vào các tầng lớp xã hội để thể hiện cho đúng bản chất của nhiều loại con người, chứ không đặt nặng việc thể hiện cái tôi cá nhân. Hiện thực khách quan ở nhiều mặt như lịch sử, xã hội, tâm tình của các tầng lớp xã hội phải là cảm hứng chính cho sáng tạo văn chương. 
- Sự phát triển khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến ở phương tây vào đầu thế kỷ XIX cũng tác động lớn đến sự ra đời của xu hướng hiện thực. Những phát hiện mới về thế giới và con người đã tác động mạnh đến tư tưởng của nhà văn. Ðặc biệt học thuyết Darwin có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về sự hình thành và biến đổi của tính cách trong hoàn cảnh, về sự vận động của tính cách do ảnh hưởng của môi trường. 
3. Ðặc điểm về nội dung và nghệ thuật của văn học hiện thực phê phán phương tây thế kỷ XIX 
- Về nội dung: phê phán xã hội tư bản và các tiêu cực của nó đã làm tha hóa con người trong mối quan hệ trục giả dối, tố cáo sự nô lệ của con người trước danh vọng, vật chất tiền tài, biến con người thành lạnh lùng tàn nhẫn dưới sự chỉ huy của đồng tiền.
Nội dung đó đã gây ấn tượng về văn học hiện thực phê phán như là một trào lưu sở trường về việc mô tả cái xấu, cái ác. Trong văn học hiện thực phê phán, nhân vật chính thường không phải là nhân vật chính diện. Các nhân vật anh hùng, nhân vật tích cực bị mờ nhạt. Nhà văn hiện thực phê phán thường không thành công với loại nhân vật này. Các nhân vật nổi tiếng của họ thường là nhân vật phản diện, nhân vật tha hóa. Do đó sự thể hiện các quan điểm tiến bộ, nhân đạo của nhà văn hiện thực phê phán thường là gián tiếp chứ không trực tiếp.
- Về nghệ thuật: Những nguyên lý cơ bản của văn học hiện thực phê phán thường được nhắc đến qua tóm tắt nổi tiếng sau đây của Engels "Ngoài những chi tiết cụ thể, lịch sử, còn phải nói đến sự xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình". Tất nhiên nghệ thuật hiện thực phê phán không chỉ có thế. Trong quá trình hình thành và phát triển của nó, cũng có sự đan xen pha  lẫn với nhiều xu hướng nghệ thuật khác. Vì thế, trong tác phẩm hiện thực phê phán, các yếu tố đề tài, chủ đề, nhân vật, bút pháp cũng rất phong phú. Chủ nghĩa hiện thực phê phán Tây Âu đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, nhiều đóng góp có ý nghĩa vào việc hoàn chỉnh thể loại tiểu thuyết hiện đại.  
II. TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
Stendhal (1783-1842) từng tham gia cuộc chiến lãng mạn đầu thế kỷ XIX ở Pháp, được coi như nhà văn chuyển tiếp giữa lãng mạn và hiện thực. Trong tiểu thuyết của ông, các nhân vật trung tâm một mặt thể hiện những hoài vọng về cái đẹp, cái hoàn thiện và lý tưởng về con người có ý chí muốn vượt qua những thử thách để khẳng định mình. Mặt khác, thực tại xã hội nghiệt ngã với những quan hệ tính toán lọc lừa đã đẩy các nhân vật của ông đi vào bế tắc và hủy diệt. Khát vọng, lý tưởng thường bị rơi vào tình thế mỉa mai.Trong thế giới của Stendhal, những bản tình ca thơ mộng luôn được kết thúc bằng những bi kịch của xã hội đẳng cấp, xã hội đồng tiền.Những khát vọng tự do, khát vọng khẳng định cá nhân thường bị méo mó, đổ vỡ thảm hại hoặc dang dở. Các tiểu thuyết và truyện ngắn của ông rất nhất quán trong chủ đề tư tưởng, trong quan niệm nghệ thuật về con người, trong kiểu nhân vật thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của ông.
Tác phẩm tiêu biểu: Ðỏ và đen (Le Rouge et le Noir), Tu viện thành Parme (La Chartreuse de Parme). Các truyện ngắn nổi tiếng như Vanina Vanini, Nữ tu viện trưởng Castro.   
Honoré de Balzac (179-1850) cây bút sung sức của văn học hiện thực phê phán Pháp. Ðây là một nhà văn phức tạp, hội tụ trong bản thân nhiều mâu thuẫn lớn giữa nhân sinh quan, quan niệm nghệ thuật và thực tế cuộc sống cũng như thực tế sáng tác. Là một nhà văn hiện thực phê phán lên án kịch liệt đồng tiền và thế giới được điều hành bởi đồng tiền trong tác phẩm, nhưng đồng thời ông cũng là một con người thích làm giàu, kinh doanh, thích sống xa xỉ sang trọng. Ông căm ghét bảo hoàng, thấy rõ đó là một lực lượng suy tàn không thể cứu vãn, nhưng trong cuộc sống ông là kẻ tha thiết muốn gia nhập thế giới quý tộc thượng lưu. Ngay cái tên của ông cũng được quý tộc hóa. Tuy nhiên không thể phủ định tài năng lớn cũng như phong cách nghệ thuật độc đáo của ông, dù đó "là một lối viết đã không được hiểu trong một thời gian dài".
Tiểu thuyết của ông thể hiện được hầu hết các đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của văn học hiện thực phê phán Pháp giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX. Ông đã dày công nối kết gần 100 tác phẩm lại thành một tổng thể dưới cái tên chung là Tấn trò đời, với mong muốn thể hiện được một bức tranh toàn cảnh về xã hội Pháp thế kỷ XIX được nhìn qua nhãn quan riêng của ông, với cách nhìn đó, ông cũng tạo ra được một thế giới nghệ thuật riêng của mình, độc đáo và không trùng lặp, mô phỏng bất kỳ ai. Tác phẩm nối tiếng có Miếng da lừa, Hoa huệ trong thung, Lão Gôriô, Ơ giê ni Grăngđê, Vỡ mộng..           
Gustave Flaubert (1821-1880) Nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, với một số chuyển hướng của dòng văn học này. Có thể nói rằng đây là một nhà văn "buồn" nhất trong văn học Pháp thế kỷ XIX, với một chủ nghĩa bi quan hoài nghi phủ trùm lên mọi cuộc sống và mọi số phận. Trong tiểu thuyết, một mặt ông  lên án cái ác, nhưng mặt khác, các khát vọng lãng mạn cũng bị chế giễu, nhân vật lãng mạn bị châm biếm,trở thành những bức chân dung đáng thương, thảm hại. Bút pháp châm biếm, cô đọng, sắc sảo của ông gần như chỉ phát huy mạnh mẽ trong việc thể hiện những bế tắc của đời sống con người. Các tác phẩm hay nhất của ông như Bà Bôvary, Một tấm lòng chất phác, Giáo dục tình cảm và tác phẩm dang dở cuối đời là Bouvard và Pécuchet thể hiện sự  nhất quán của một quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người hoàn toàn bế tắc và bi đát. Con người luôn bị lừa dối hoặc tự lừa dối, luôn luôn thất bại và vỡ mộng. Mọi khát vọng chỉ là ảo tưởng. Con người sống tốt đẹp hay sống xấu xa thì cũng cùng chung một kết thúc mà thôi.        
Guy de Maupassant (1850-1893) Là học trò xuất sắc của Gustave Flaubert, được ông thầy nghiêm túc và thận trọng rèn luyện kỹ càng. Vì thế, Guy de Maupassant đã tiếp nhận được của thầy mình một phong cách ngôn ngữ cô đọng, sắc cạnh, lạnh nhạt, khách quan rất phù hợp với quan niệm "nhà văn không xen vào tác phẩm". Mặt khác, ông cũng tiếp nhận ở Flaubert phần nào đó sự bi quan và hoài nghi trong quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người. Tuy nhiên, Guy de Maupaassant cũng là một nhà văn đầy cá tính. So với thầy, ông có phần sinh động mềm dẻo hơn trong cách nhìn về cuộc sống và con người. Với nhiều năm sống cuộc đời viên chức nhỏ, quen thuộc với cái nghèo, cái thấp bé nhỏ nhoi trong cuộc đời, ông có biệt tài miêu tả thế giới này một cách sâu sắc. Mặt khác, khi thành danh, nổi tiếng và giàu có, ông cũng có điều kiện tiếp xúc, quan sát giới thượng lưu và biết thể hiện thái độ của mình trong khi phê phán nó.
Guy de Maupassaant viết tiểu thuyết và sở trường nhất của ông là truyện ngắn. Các chủ đề lớn trong tác phẩm của ông là chủ đề về thân phận con người bé nhỏ trong xã hội, chủ đề phê phán xã hội đồng tiền, chủ đề chiến tranh và chủ đề về tình người, lòng nhân đạo. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông như Viên mỡ bò, Một cuộc đời, Ông bạn đẹp. Ông có khoảng 300 truyện ngắn, trong đó có nhiều truyện hay.
Chương 3
CHỦ NGHĨA TỰ NHIÊN PHÁP 
Chủ nghĩa tự nhiên trước hết là một trào lưu tư tưởng, lý luận xuất hiện ở Pháp và một số nước Âu Mỹ vào đầu thế kỷ XX, và đã một thời tác động rất mạnh vào văn học Âu Mỹ vì nó ra đời dựa trên những thành tựu của khoa học tiên tiến có nhiều sức thuyết phục, nhất  là đối với các nhà văn trẻ đang khao khát tìm kiếm một phương thức nghệ thuật mới đủ sức thể hiện những nhận thức mới của họ về cuộc sống và con người trong một thực tại xã hội phức tạp mà lý luận những trào lưu cũ tỏ ra không còn đủ sức đáp ứng cho nhu cầu tái hiện nó.
Học thuyết tự nhiên thực sự không phải là một biến cố lạ lùng hay là một cuộc cách mạng táo bạo trong văn học. Trước đó, từ thời Balzac, Flaubert, Guy de Maupassant, Goncourt... xu hướng này đã xuất hiện cùng lúc với hiện tượng các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực rất quan tâm đến khoa học, đặc biệt là y học trong việc miêu tả con người. Nhưng để chính thức xuất hiện là một học thuyết, chủ nghĩa tự nhiên đã được Emile Zola phổ biến trong những bài viết được ông công bố từ năm 1866. Học thuyết này được gợi lên khi Zola tiếp xúc với tinh thần khoa học của bộ Encyclopédie, và trực tiếp là qua các tác phẩm như Khảo luận về di truyền tự nhiên của Lucas, Nguồn gốc các loài của Darwin, Ðường vào y học thực nghiệm của Claude Bernard và lý luận về tiểu thuyết thực nghiệm của Hippolite Taine. Zola đã vận dụng các lý thuyết của Claude Bernard vào trong việc miêu tả "đời sống của những dục vọng và trí thức". Ông sử dụng phương pháp thực nghiệm với mục đích "tìm ra những mối quan hệ liên kết một hiện tượng nào đó với nguyên nhân tiếp theo, tìm ra những điều kiện cần thiết của sự thể hiện các hiện tượng đó". Chủ nghĩa tự nhiên đã bổ sung sự thực nghiệm y học vào quá trình nhận xét, khảo sát thực tế khách quan của các nhà hiện thực thế hệ trước. Zola xác nhận: "Khoa học cũng nằm trong khu vực của các nhà tiểu thuyết, là kẻ muốn phân tích con người trong các hoạt động cá nhân và xã hội. Chúng ta tiếp tục nhận xét và trong công việc nghiên cứu sinh lý học là sự tiếp nối công việc của các nhà hóa học và vật lý học. Tóm lại chúng ta phải mổ xẻ các tính cách, các đam mê, các hành vi của con người như các nhà khoa học tiến hành các thí nghiệm trên các thực thể vô cơ, như một nhà sinh lý học trên cơ thể các vật sống".
Ra đời trong giai đoạn mà chủ nghĩa hiện thực không còn đủ sức đáp ứng cho nhu cầu nghệ thuật  trong thời đại mới có nhiều biến chuyển sâu sắc về xã hội cũng như văn hóa tinh thần, khoa học kỹ thuật và khoa học tự nhiên, Chủ nghĩa tự nhiên là một tìm tòi của các nhà lý luận, nhà văn đương thời với ý hướng tìm ra một phương thức mới hữu hiệu hơn để mô tả cuộc sống của con người, tìm hiểu và lý giải nó với các nguyên tắc sau:
- Thái độ khách quan, phi chính trị trước xã hội.
- Giải thích các hiện tượng xã hội và tâm lý bằng những giải pháp thuần sinh vật, thay thế những điển hình bằng những nguyên mẫu có tính tư liệu.
- Nhấn mạnh các nhân tố huyết thống, môi trường và những "mô măng lịch sử", thay thế con người xã hội, con người tâm lý bằng con người sinh vật, con người sinh lý và con người bệnh lý. Zola cho rằng "chủ nghĩa tự nhiên trong văn học cũng là sự giải phẩu chính xác, tiếp nhận và khắc họa sự vật như hiện trạng của chính nó" trên nguyên tắc của Claude Bernard "luân lý hiện đại tìm những nguyên nhân, cắt nghĩa và hành động trên những nguyên nhân đó".
Như vậy, chủ nghĩa tự nhiên rõ ràng đã bộc lộ những yếu điểm khi nó muốn thay thế sáng tạo văn học bằng những yếu tố phi văn học, dẫn đến thái độ lệch lạc. Vì thế nó đã không thể có một sức sống lâu dài. Ngay trong sự nghiệp sáng tác của người chủ soái của trường phái tự nhiên là Zola cũng cho thấy giá trị sự nghiệp của ông không phải được khẳng định trên nền tảng của chủ nghĩa tự nhiên, mà là ở yếu tố khác, như ông từng khẳng định "Lý tưởng của chúng ta là tình yêu và những xúc cảm, nước mắt và nụ cười. Chúngta xây dựng bút pháp vaà nghệ thuật bằng xác thịt và tâm hồn. Nếu các bạn hỏi rằng tôi vừa làm gì trong thế giới này, thì tôi, người nghệ sĩ sẽ trả lời rằng: Tôi vừa sống ở trên cao"
Tác giả tiêu biểu 
Emile Zola (1840-1902) là người cổ vũ sôi nổi cho chủ nghĩa tự nhiên bằng sự nghiệp sáng tác đồ sộ của mình. Là nhân viên của một nhà xuất bản, Zola đã có cơ hội tiếp xúc với các tri thức khoa học, văn học và bắt đầu sáng tác văn chương. Ông nhanh chóng rời xa khuynh hướng lãng mạn trữ tình, đến với chủ nghĩa tự nhiên qua các tác phẩm đầu tay của ông như Thérèse Raaquin, Madeleine Férat... Ông còn viết các tác phẩm lý luận như  Tiểu thuyết thực nghiệm, Chủ nghĩa tự nhiên trên sân khấu. Mô phỏng theo ý tưởng của nhà hiện thực tiên phong Balzac, ông đã dần hoàn thành bộ tiểu thuyết Gia đình Rougon Macquart gồm 20 cuốn, như kiểu Tấn trò đời. Gia đình Rougon Macquart miêu tả "lịch sử xã hội và tự nhiên của một gia đình dưới thời đế chế", trong đó có nhiều tác phẩm hay như Quán rượu, Germinal, Nana, Hiệu hạnh phúc các bà...
Tuy nhiên, Zola không đơn giản là một nhà tự nhiên chủ nghĩa maáy móc. Ngược lại, nhiều tác phẩm đã cho ta thấy sức sáng tạo phong phú cũng như cảm hứng về cuộc sống và con người của Zola không bao giờ bị giới hạn. Ngay khi đang vận dụng chủ nghĩa tự nhiên trong một số tình huống, Zola cũng đã là người đã "lựa chọn nhân dân", "gắn bó với quần chúng và thể hiện bằng ngôn ngữ quần chúng". Ông đã nhiều lần thể hiện các đề tài về xã hội khắc nghiệt và số phận con người trong xã hội đó, bị chi phối bởi cả hai yếu tố nội tại và ngoại cảnh. Vì thế, không bất ngờ chút nào khi trong một số các nhận xét kết luận về ông, có ý kiến cho rằng""cuộc sống đã hấp dẫn Zola dù cho cuộc sống đó là dồi dào phong phú hay có nguy cơ biến mất đi", và Zola ở một mặt nào đó, qua một số tác phẩm như  Germinal, Quán rượu, Hiệu hạnh phúc các ba ìcũng là "một nhà văn hiện thực chủ nghĩa mang hơi hướng sử thi" khi mô tả "những đám đông chứa đựng tình cảm tập thể của những con người cùng chia xẻ nỗi khốn quẫn hoặc một niềm vui".
Chương 4
VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY NỬA ÐẦU THẾ KỶ XX 
I.HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1. Về mặt lịch sử 
Sang đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một hiện tượng nổi bật của nền văn minh vật chất Âu Mỹ. Ðó là sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật trong đều khắp các ngành y học. Ðây là thời kỳ nở rộ của các thành tựu và sáng tạo. Chỉ trong vòng vài chục năm nó đã làm thay đổi bộ mặt của Âu Mỹ vốn đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ qua, đem lại sự giàu mạnh cho phương tây tiên tiến .
Nền kinh tế giàu mạnh một mặt là niềm tự hào của Âu Mỹ. Nhưng mặt khác đó cũng là một trong những nhân tố đưa các cường quốc Âu Mỹ bước vào thời kỳ củaa chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và tư bản lũng đoạn. Ðó cũng là thời kỳ lan rộng của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới, các thứ chủ nghĩa dân tộc quá khích và cực đoan, gây ra nhiều hậu quả trong mối quan hệ giữa người và người, mà trầm trọng nhất là 2 cuộc chiến tranh thế giới 1914 và 1918. Hai cuộc chiến tranh đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, từ việc tranh giành ảnh hưởng, chia chác các quyền lợi của các cường quốc đến việc thực hiện các tham vọng làm bá chủ hoàn cầu, thực hiện các chủ trương độc tôn dân tộc.
Hai cuộc chiến tranh đó còn là sự khẳng định tiếng nói chính nghĩa, lòng yêu tổ quốc, yêu tự do hòa bình và yêu mến con người, chiến đấu vì tự do hạnh phúc của con người chống lại các thế lực bạo quyền. Trong cuộc chiến đấu đó có phần đóng góp to tát của chủ nghĩa Mác Lênin và các lực lượng hòa bình, dân chủ, nhân đạo ở khắp nơi trên thế giới.
2. Về văn hóa tinh thần
Nền văn minh vật chất mới, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã giúp con người phát hiện ra những bí mật của đời sống, của tự nhiên, của vũ trụ. Sự xuất hiện các thuyết lượng tử, phân tử, thuyết tương  đối, những phát hiện y học về thân thể con người... đã làm người ta thấy rõ hơn những vấn đề có tính chất khám phá, những phát hiện về thế giới mà triết học duy lý trước đó đã không thể giải quyết được. Ðiều này kéo theo sự lung lay, sự nghi ngờ nền tảng tinh thần cũ và yêu cầu xem xét lại những giá trị đó sau khi người ta thấy rằng có một số những chân lý khoa học và tư tưởng của thế kỷ trước thực sự không còn chính xác nữa. Con người bắt đầu đối diện với sự hoài nghi.
Xã hội Âu Mỹ nhanh chóng đi vào kỹ nguyên văn minh vật chất và nhiều kỳ vọng về tương lai. Nhưng con người cũng đã sớm nhận ra rằng họ đã hoàn toàn thất vọng, khi nền văn minh vật chất đã phản bội lại con người, là kẻ sáng tạo ra nó. Mặt khác nó trở thành chủ nhân của con người, biến con người thành nô lệ của xã hội mày móc văn minh. Xã hội tiền tài vật chất chi phối và quyết định cuộc sống cũng như hành động của con người.
Ðối diện với sự hoài nghi về cái cũ lẫn cái mới, bầu không khí văn hóa tinh thần của tây phương đi vào khủng hoảng sâu sắc. Ðây là thời kỳ người ta luôn bị ám ảnh bởi khái niệm "cuối thế kỷ": suy đồi, mệt mỏi, một tình trạng mà nhà nghiên cứu Albérès viết "Thối nát suy vong và già nua lẫm cẩm với mầm non hăng hái đâm chồi trộn lẫn nhau. Không ai biết tương lai ra sao. Lòng tin tưởng tôn giáo đã mất, lòng tin tưởng khoa học cứu thế đã đem lại ảo tưởng cho con người trong suốt một thế kỷ nay cũng không còn. Quan niệm duy tâm mới chưa cấu thành. Ðó mới còn là một ước vọng mờ mịt và vì thế nó càng làm cho con người hoang mang rối loạn trước thực tại phủ phàng củ đời sống". Triết học duy lý lung lay và hậu quả của sự thất vọng ấy là con người bắt đầu hướng về những giá trị đặc dị và bất thuận lý về thị dục, về lòng nhiệt thành, bản năng, tình cảm, đức tin...
Tất cả những khủng hoảng đó đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong trạng thái đặc biệt của nền văn học Âu Mỹ thời kỳ này. Ðứng trước hoàn cảnh đó đã xuất hiện nhiều thái độ, phản ứng khác nhau của nhiều tầng lớp nhà văn. Từ đó đã dẫn đến việc hình thành những khuynh hướng văn học trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ đầu thế kỷ cho đến sau hai cuộc thế chiến.
- Khuynh hướng chống tri thức xuất hiện và lan truyền mạnh vào những năm cuối thế kỷ XIX bước sang đầu thế kỷ XX. Nó bắt đầu từ sự sụp đổ của các nền tảng tư tưởng duy lý, khi "vũ trụ duy lý đã biến thành vũ trụ phi lý". Nhận thức về sự đe dọa của nền văn minh mới cũng đem đến sự hoài nghi cái mới. Huyền thoại về sự tiến bộ đã trở thành nỗi thất vọng về tiến bộ, khi con người nhận ra rằng nền văn minh vật chất không phải bao giờ cũng là bạn đồng hành của văn minh tinh thần mà con người mong mỏi.
Khuynh hướng chối bỏ tri thức được thể hiện mạnh mẽ nhất trong trực giác thuyết của Henri Bergson. Học thuyết này kêu gọi con người hãy cảm nhận đời sống một cách uyển chuyển, sống động và trực tiếp bằng chính các giác quan của mình chứ không qua hệ thống tri thức duy lý, qua những quan niệm sẵn có về đời sống và thế giới. Quan niệm này đã ảnh hưởng sâu rộng đến văn học châu Âu đầu thế kỷ 
- Văn học phi lý với chủ đề bao trùm là thân phận con người sẽ chi phối mạnh mẽ văn học phương tây trong giai đoạn tiếp theo, với các khuynh hướng của các thời kỳ trước và sau hai cuộc chiến tranh thế giới, từ văn học phi lý thời Kafka, kịch phi lý trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, đến chủ nghĩa hiện sinh rồi hiện sinh phi lý phát triển mạnh vào những thập niên 50,60 ở Pháp. Nói chung trào lưu văn học phi lý có những đặc điểm như sau: Thái độ không chấp nhận xã hội tư sản và nền văn minh tư sản, tố cáo những khủng hoảng, bế tắc về mặt tinh thần, là nền văn học của những nạn nhân viết về những nạn nhân, thường nêu lên những quan niệm bi đát về thân phận con người, phủ nhận lý trí, gạt bỏ lý tính trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. 
- Dòng văn học phản chiến xuất hiện trong hai cuộc chiến tranh thế giới ở cả Châu Âu và châu Mỹ, đồng hành với nền văn học hiện thực nhân đạo và tiến bộ. 
- Ðặc biệt, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mác Lênin cũng là một trào lưu đáng kể, phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa và một số nhà văn Âu Mỹ hướng về chủ nghĩa xã hội trong mục tiêu xây dựng một thế gới hòa bình, không áp bức bóc lột và phát triển hoàn thiện con người. 
II. TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
1. André Gide (1869-1951)
André Gide (1869-1951), nhà văn Pháp, người tiêu biểu nhất của khuynh hướng chống tri thức đầu thế kỷ, với những mâu thuẫn cực đoan trong tinh thần tư tưởng cũng như trong bút pháp của ông. Nổi tiếng ở cá tính khác thường, sự táo bạo, trắng trợn chống lại các nền tảng tinh thần cũ, nhưng mặt khác ông cũng có những tác phẩm có ngôn ngữ văn chương thơ mộng, tài hoa, được gọi là bậc thầy của ngôn ngữ văn chương. Tác phẩm tiêu biểu có  Khung cửa hẹp, Kẻ vô luân, bọn làm bạc giả, Khúc nhạc lòng vị mục sư... 
2. Franz Kafka  (1883-1921)
Franz Kafka (1883-1921) Nhà văn Tiệp, người khơi nguồn cho văn học phi lý châu Âu. Ông đã để lại nhiều tác phẩm độc đáo về ý tưởng, về đề tài thân phận con người và đồng thời cũng độc đáo về thi pháp tiểu thuyết. Tác phẩm tiêu biểu: Lâu đài, Vụ án, Hóa thân. 
3. Jean Paul Sartre
Jean Paul Sartre là nhà tư tưởng hiện sinh, nhà văn hiện sinh chủ nghĩa của nước Pháp, đã từng có những ảnh hưởng to lớn trên văn đàn Pháp trong nhiều thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ II. Ông viết nhiều tác phẩm lý luận, triết học và tiếu thuyết. Tác phẩm tiêu biểu: Hữu thể và hư vô, Buồn nôn, Những nẻo đường của tự do. 
4. Albert Camus (1913-1960)
Albert Camus (1913-1960) Nhà văn Pháp, nhà lý luận, nhà viết kịch, nhà tiểu thuyết hiện sinh với chủ đề thân phận con người. Tác phẩm tiêu biểu có Ngộ nhận, Kẻ xa lạ, Dịch hạch, Người đàn bà ngoại tình, Bạo chúa Cakligula... 
5. Ernest Hemingway (18991961)
Ernest Hemingway (1899- 1961) Nhà văn Mỹ, tiêu biểu cho nền văn học chống chiến tranh và mô tả số phận con người trong chiến tranh. Sau chiến tranh thế  giới thứ hai, ông định cư hẳn tại Cuba và viết nhiều tiểu thuyết mang màu sắc Trung Mỹ, những tác phẩm suy gẫm về thực chất của cuộc đấu tranh sinh tồn. Hemingway nổi tiếng về một thi pháp tiểu thuyết độc đáo, là người đã có khả năng biến văn chương báo chí thành văn chương tiểu thuyết, đã thực hiện nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm của mình như nghệ thuật tảng băng trôi, độc thoại nội tâm... Tác phẩm tiêu biểu: Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Ông già và biển cả... 
6. Samuel Beckett (1906-1989)
Samuel Beckett  (1906-1989) Nhà văn, nhà viết kịch gốc Ailen, từng sáng tác bằng tiếng Anh, sau đó khởi đầu và nổi tiếng với sự nghiệp viết kịch phi lý bằng tiếng Pháp trong những thập niên 50, 60. Ðây là một tên tuổi nổi tiếng trên sân khấu phản kịch hay kịch phi lý với nhiều tác phẩm muốn nói lên sự trầm uất và nỗi thất vọng của con người, các tấn bi kịch của con người vì phải sống trong các cảm giác chờ đợi vô vọng. Nhà viết kịch phi lý chứng kiến sự vô nghĩa của kiếp người mà không có cách bộc lộ hay giải quyết nó. Sự bế tắc này được thể hiện qua sự bế tắc của ngôn ngữ kịch, hành động kịch và nhân vật kịch. Tác phẩm chính: Trong khi chờ Godot, Tàn cuộc, Ôi những ngày tươi đẹp.
Lê Ngọc Thúy
 Theo https://websrv1.ctu.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ ...