Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Mức phát triển kinh tế khá cao trong hơn một thập niên qua,
và các cam kết rộng mở cửa mậu dịch và nền kinh tế, thông qua các hiệp ước song
biên (bilateral) và đa biên (multilateral) mà quan trọng hơn cả là việc gia nhập
WTO là những nhân tố chính khiến vốn đăng ký FDI tăng mạnh trong hai năm qua.
Tuy nhiên, nếu FDI đăng ký (registered FDI) thể hiện sức hấp dẫn của
đầu tư, dựa trên sự thẩm định tiềm năng và viễn cảnh phát triển của một nền
kinh tế, thì vốn [đã] thực hiện (implemented FDI) mới là con số
thực. Vốn FDI thực hiện phản ảnh tính khả thi của các dự án, độ thông thoáng của
môi trường đầu tư, và hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Chính vì thế, các tài liệu
nghiên cứu về FDI trên thế giới thường sử dụng FDI thực hiện trong các phân
tích và so sánh.
Việc thẩm định tiềm năng và thành quả thực hiện FDI của Việt Nam cũng cần được
đặt trong mối tương quan với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là với các nước
có điều kiện phát triển tương tự, các quốc gia đang cạnh tranh FDI với Việt
Nam, và các nền kinh tế phát triển thành công. Thứ nữa, hiểu rõ hơn các khái niệm
về FDI và, rộng hơn, những chuyển biến của nguồn đầu tư này trên bình diện thế
giới có thể giúp nắm bắt dễ dàng hơn xu hướng phát triển của FDI, hiện là nguồn
tài chính quan trọng nhất cho sự phát triển của các quốc gia đang phát triển.Quá trình phát triển của các quốc gia đang phát triển cũng cho thấy hai mặt của
nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nguồn FDI dồi dào không nhất thiết sẽ dẫn đến
sự phát triển và phồn vinh. Cho đến nay, chỉ có một số rất ít quốc gia đã phát
huy được những lợi thế của nguồn đầu tư quan trọng này vào công cuộc phát triển
xứ sở một cách thành công. Ở hầu hết các nước đang phát triển, hoạt động kinh
doanh của các nhà đầu tư nước ngoài đạt hiệu quả cạnh tranh cao, lợi nhuận lớn,
nhờ tận dụng được nguồn nhân lực và nguyên vật liệu rẻ, thành công đẩy mạnh xuất
khẩu và khai thác thị trường nội điạ. Trong khi đó, người dân bản xứ tuy có
thêm công ăn việc làm và cuộc sống có phần cải thiện, song về cơ bản, thì nghèo
vẫn hoàn nghèo và nền công nghiệp quốc gia vẫn lạc hậu.Là một quốc gia đang phát triển, cần nguồn FDI để phát triển xứ sở, lẽ dĩ nhiên
Việt Nam phải biết trân trọng động lực và mục tiêu kinh doanh rất chính đáng của
các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng không thể mãi là một
xưởng chế tạo hàng rẻ tiền cho thế giới, mà sẽ phải vươn tới để có được một vị
trí xứng đáng trong cộng đồng kinh tế toàn cầu.Báo cáo Đầu tư Thế giới hàng năm (WIR) do Diễn đàn Thương mại và Phát triển
của Liên hiệp quốc (UNCTAD) ấn hành tháng 10/2007 phân tích và đánh giá tiềm
năng và thành quả thực hiện FDI của 144 quốc gia trên thế giới là nguồn tài liệu
rất quý báu để tìm hiểu về các hoạt động đầu tư [1]. Ngoài ra, các thẩm
định và khuyến nghị của các chuyên gia Harvard về chiến lược phát triển của Việt
Nam 2010–2020 qua tài liệu Lựa chọn Thành công [2] được phổ biến gần
đây, phần liên quan đến các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, là một trong
những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng khác.
I. Tổng quan:
FDI thực hiện của Việt Nam thường được đề cập trong các báo cáo với các số
liệu khác biệt, gây không ít khó khăn cho người theo dõi và nghiên cứu. Theo
phân tích của Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2006 do Ngân hàng Thế
giới (WB) ấn hành thì vốn FDI thực hiện do UNCTAD cung cấp thấp hơn các số liệu
của Tổng cục Thống kê (TCTK) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), vì đã loại trừ vốn
vay, và do đó, sát với nguồn vốn cổ phần đầu tư (equity inflows) nhất. FDI do
TCTK cung cấp bao gồm cả vốn vay trong nước, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tính cả
vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp FDI [3], trong khi đó, WIR
(UNCTAD) tính vốn vay nước ngoài là một phần của FDI chỉ khi nào nguồn vốn này
được vay từ công ty mẹ (intra-company loan).FDI thực hiện hàng năm do UNCTAD và TCTK cung cấp chênh lệch khá lớn
(Bảng 1), tuy nhiên, tổng số FDI thực hiện tích lũy (FDI stock) từ
hai nguồn số liệu này không khác biệt đáng kể (xem phần những biến động của
nguồn FDI).
|
Nguồn |
1990-2000 (trung bình năm) |
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
Tổng số vốn thực hiện |
|
UNCTAD |
1.322 |
1.450 |
1.610 |
2.021 |
2.315 |
33.451 |
|
TCTK |
1.946 |
2650 |
2853 |
3309 |
3.956 |
37.272 |
Khu vực FDI được WIR phân thành ba nhóm: các quốc gia phát triển, các
quốc gia đang phát triển, và các quốc gia có nền kinh tế chuyển
tiếp. Nhóm các quốc gia phát triển bao gồm cả một số nước châu Á và châu Đại
dương (Oceania) như Nhật, Úc, New Zealand. Tuy nhiên, các quốc gia công nghiệp
mới (newly industrialized countries, NICs) như Singapore, Nam Hàn, Hong Kong,
Đài Loan vẫn được phân vào nhóm quốc gia đang phát triển. Khu vực các quốc gia
chuyển tiếp gồm 19 nước Đông Nam châu Âu và khối CIS (Cộng đồng Các quốc gia Độc
lập, Commonwealth of Independent States), như Liên bang Nga, Romania, Bulgaria.
Mặc dù các quốc gia này cũng là các quốc gia đang phát triển và chỉ chiếm tỷ trọng
rất nhỏ FDI trên thế giới, song do tính đặc thù của nền kinh tế, được phân
thành nhóm riêng. Nguồn FDI tiếp nhận của khối kinh tế chuyển tiếp rất khiêm tốn
(5.2%) khi so sánh với nhóm các quốc gia đang phát triển (29%) và các quốc phát
triển (66%). Liên hiệp Âu châu (EU) chiếm tỷ trọng FDI lớn nhất trong nhóm các
quốc gia phát triển, và châu Á đang giữ ưu thế trong các hoạt động FDI tại các
quốc gia đang phát triển.
FDI nhận và xuất là hai hình thái hoạt động đầu tư giữa các quốc gia. Mỗi
quốc gia đều vừa tiếp nhận vốn đầu tư từ nước ngoài (FDI inflows), và xuất vốn
đầu tư ra nước ngoài (FDI outflows). Tuy nhiên, vì Việt Nam hiện vẫn là quốc
gia nghèo, vốn FDI-xuất không đáng kể - 356 triệu USD tính đến cuối năm 2006 [6], nên từ FDI thường
được dùng đồng nghĩa với FDI-nhận. FDI của các quốc gia phát triển chiếm tỷ trọng
áp đảo cả hai đầu vào và đầu ra: 66% FDI-nhận so với 34% của các nước đang phát
triển, và 84% FDI-xuất so với 16%. Tuy nhiên, tỷ trọng FDI của các quốc gia
đang phát triển tiếp tục gia tăng, ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong
các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế trên thế giới. Mặt khác, trong khi phần
lớn các hoạt động đầu tư tại các nước phát triển diễn ra dưới hình thức mua lại
hay sáp nhập, thì thành lập doanh nghiệp mới là dạng đầu quan trọng của các quốc
gia đang phát triển. Trong bài viết này, từ “nguồn” FDI được sử dụng đồng nghĩa
với FDI nhận (FDI inflows).
Thành phần FDI được cấu tạo dựa theo phương thức mà nhà đầu tư thụ đắc
doanh nghiệp: FDI M&A (merge & acquisition FDI) - nhận được từ mua hoặc
sáp nhập các doanh nghiệp đang hoạt động, và FDI “xanh” (green field
FDI) - nhận khi thành lập doanh nghiệp mới. FDI thực hiện dưới hình
thức M&A chiếm tỷ trọng khống chế, đặc biệt tại các quốc gia phát triển,
trong khi FDI xanh chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, song lại rất quan trọng tại các quốc
gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp. Đầu tư thông qua M&A
tuy không trực tiếp tăng gia năng lực sản xuất trong ngắn hạn, nhưng những cải
thiện về mặt tổ chức và quản trị doanh nghiệp nhập từ nước ngoài thường dẫn đến
sư gia tăng các dự án mới FDI xanh trong dài hạn [WIR, p. 9] [7]. Cuộc điều tra do
WB thực hiện năm 2002 cho giai đoạn 1987-1999 tại 21 nước phát triển và 61 nước
đang phát triển cũng dẫn đến một kết luận tương tự [8].
Năm 2006, trị giá các giao dịch M&A lên tới 880 tỷ USD, chiếm tỷ trọng quan
trọng trong tổng số FDI-nhận (1306 tỷ USD) và FDI-xuất (1023 tỷ USD). Nhóm các
quốc gia phát triển chiếm đến gần 90% giá trị các hoạt động M&A. Tuy nhiên,
tầm quan trọng của hình thức đầu tư này đang tăng dần tại các quốc gia đang
phát triển, khi các nền kinh tế mới nổi như Trung quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga và
các quốc gia công nghiệp mới châu Á mua lại ngày càng nhiều các doanh nghiệp lớn
của các quốc gia phát triển: 65 tỷ USD năm 2006, tăng 50% so với năm trước. FDI
M&A cũng chiếm tỷ trọng quan trọng tại các quốc gia đang phát triển vào cao
điểm thực hiện tiến trình tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước, như đã xảy ra
khu vực Châu Mỹ La tinh vào thập niên 90 [9]. Tại Việt Nam, FDI
thực hiện dưới dạng thức M&A chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nhưng tăng dần theo
xu hướng chung, năm 2006 đạt 245 triệu USD, từ 61 triệu USD năm 2005 [10]. Từ một góc độ
khác, thành phần FDI dựa trên ba nguồn tài chính: vốn cổ phần (equity capital),
lợi nhuận tái đầu tư (reinvested earnings), và vốn vay từ công ty mẹ
(intra-company loan) [WIR, p. 245].
Các lĩnh vực đầu tư gồm có cơ bản (primary/ natural resouces), chế
tạo (secondary/manufacturing), và dịch vụ (sevices). Ngành dịch
vụ cung cấp các sản phẩm phi vật thể (intangible products) như các dịch vụ
ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, địa ốc, giao thông, truyền thông, tiện ích
công cộng (điện, nước...). Dịch vụ là lĩnh vực quan trọng nhất: FDI-nhận tích
lũy (stock) tăng từ 49% năm 1990 lên 61% năm 2005, trong đó, các ngành công nghệ
liên quan đến hạ tầng tăng trưởng mạnh nhất. Chế tạo là lĩnh vực lớn
thứ hai, nhưng tỷ trọng giảm dần từ 41% năm 1990 xuống 30% năm 2005. Tuy nhiên,
sự chênh lệch về tỷ trọng FDI-nhận trong mỗi lĩnh vực dịch vụ và chế tạo giữa
các quốc gia phát triển và đang phát triển không lớn như thường nghĩ: dịch
vụ (62% - 59%), và chế tạo (29% - 31%). [WIR, XVI, p. 22]. Lĩnh vực cơ bản bao
gồm các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên, như lâm - nông nghiệp và khai
khoáng, chiếm khoảng 10% trên tổng số FDI, trong đó, dầu và khoáng sản chiếm tỷ
trọng lớn nhất. Hoạt động khai thác dầu và khoáng sản tăng mạnh trong khoảng thời
gian gần đây vì giá cả tăng cao và do một số quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn
Độ muốn bảo toàn nguồn nguyên liệu chiến lược này.
Các công ty đa quốc gia (transnational corporations, TNCs) đóng vai trò rất
trọng yếu, thực hiện các hoạt động đầu tư trên thế giới. Các hoạt động của TNC
hiện chiếm 10% GDP và 1/3 xuất khẩu toàn cầu [WIR, XVI], với 78 nghìn công ty mẹ
và 780 nghìn công ty chi nhánh ở nước ngoài đang hoạt động trên thế giới. Hoa
Kỳ là quốc gia có nhiều công ty chi nhánh ở nước ngoài nhất, kế đến là Đức
và Nhật. Các công ty chi nhánh, trong đó vốn đầu tư của Hoa Kỳ chiếm cổ phần đa
số, đang sử dụng 9 triệu lao động. Trung Quốc là nước có nhiều công
ty nước ngoài đang hoạt động nhất, chiếm khoảng 1/3 tổng số công ty nước ngoài
với lực lượng 24 triệu lao động. Tuy nhiên, sự kiện các công ty nước ngoài tại
Trung quốc chỉ chiếm 2% FDI-nhập cho thấy rằng hầu hết các công ty hoặc là rất
nhỏ hoặc là công ty liên doanh. Một đặc điểm đáng chú ý khác là với mức gia
tăng lao động của các công ty nước ngoài trên thế giới tăng chậm hơn FDI,
cho thấy khuynh hướng đầu tư đang nghiêng dần về các công nghệ đòi hỏi nhiều
vốn và kỹ năng cao. Các quốc đang phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp hiện
chỉ chiếm 20 nghìn trên tổng số 78 nghìn công ty mẹ, nhưng lại là địa bàn hoạt
động của phần lớn các công ty chi nhánh nước ngoài: 518 trên 780 ngàn. Một chuyển
biến đáng lưu ý là TNC của các quốc gia đang phát triển và chuyển tiếp
phát triển nhanh hơn các quốc gia phát triển (biểu đồ I.6). Sự kiện này giải
thích sự gia tăng hoạt động đầu tư trong vùng giữa các quốc gia đang phát triển
(south-south FDI) và các giao dịch đầu tư M&A của các quốc này đang đổ vào
nước phát triển ngày một nhiều. [WIR, XVI, p. 10]. Theo Báo cáo phát triển năm
2006 (WB), vào cuối năm 2005, 80 trong số 500 TNC lớn nhất thế giới hiện đang đầu
tư tại Việt Nam, so với 400 tại Trung Quốc [11]. Quy mô trung
bình của các dự án cũng biến thiên theo từng thời kỳ: 23 triệu USD năm 1996; 5
triệu USD năm 2000; 2,5 triệu USD năm 2003 [12] và 11 triệu USD
theo số liệu năm 2007 [13].
Các biến động của nguồn FDI: nguyên nhân của những biến động của nguồn FDI
hàng năm hay tổng số tích lũy (stock) của một quốc gia không chỉ đơn thuần là số
vốn các nhà đầu tư nước bỏ ra để xây dựng doanh nghiệp mới hay mua lại hoặc sáp
nhập doanh nghiệp đang hoạt động. Những biến động của FDI trong năm 2006 có thể
giúp hiểu rõ hơn những yếu tố quan trọng tác động đến nguồn vốn đầu tư
này. Tái đầu tư từ lợi nhuận kinh doanh (reinvested earnings) ước
tính chiếm 30% FDI thế giới và 50% tại các nước đang phát triển, và 201 tỷ USD
trong tổng số vốn 217 tỷ FDI của Hoa Kỳ [WIR XV, p. 70]. Giá cổ phiếu chứng
khoán tăng không những làm tăng giá trị các giao dịch M&A, các doanh
nghiệp FDI đang hoạt động, mà còn tăng mãi lực và động lực cho nhà đầu tư mở rộng
hoạt động đầu tư [WIR XV, p. 5]. Cắt giảm hoạt động đầu tư (divestment/disinvestment)
dưới hình thức bán hay đóng cửa doanh nghiệp đang hoạt động là nguyên nhân chính
khiến nguồn FDI tại Nhật Bản [WIR, p. 69] và Hàn Quốc giảm mạnh [WIR, p. 42].
Ngoài ra, nguồn FDI có thể giảm xuống khi các doanh nghiệp FDI trả nợ vay
của công ty mẹ như Vương quốc Liên hiệp Anh, hay tăng lên do vay thêm vốn
của công ty mẹ để mở rộng hoạt động kinh doanh như trường hợp của Thụy Điển
[WIR, p. 68].
II. Bức tranh FDI thế giới năm 2006:
FDI-nhận tăng 38%, đạt 1306 tỷ USD, là mức kỷ lục cao thứ nhì từ trước đến nay.
Hai yếu tố quan trọng tác động đến mức tăng trưởng kỷ lục này là cổ phiếu thị
trường chứng khoán được giá và lợi nhuận kinh doanh cao.
FDI-nhận của khu vực các quốc gia phát triển đạt 857 tỷ USD, tăng 45% so với
năm 2005, hơn hai lần FDI năm 2004, và chiếm 66% FDI thế giới [WIR,
p. 66]. Hoa kỳ tái chiếm vị trí số một (175 tỷ USD), kế đến là Vương quốc Liên
hiệp Anh (140 tỷ USD), Pháp (81 tỷ USD). Khối EU nhận 531 tỷ USD, 44% FDI thế
giới. FDI thực hiện dưới hình thức M&A đạt 728 tỷ USD; 90% trong số đó diễn
ra giữa các quốc gia phát triển, và 65 tỷ USD đến từ các quốc gia đang phát triển.
FDI xanh cũng có xu hướng gia tăng, từ 4662 dự án năm 2005 lên 5197 dự án năm
2006.
FDI-nhận khu vực các quốc gia đang phát triển tăng 21%, 379 tỷ USD, chiếm 29%
FDI thế giới, là kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Châu Á vẫn duy trì
thế mạnh trong việc thu hút FDI, tiếp nhận 260 tỷ USD, hơn 2/3 tổng số FDI của
các quốc gia đang phát triển, với các nước đứng đầu bảng: Trung quốc (69 tỷ
USD), Hong Kong (43 tỷ USD), Singapore (24 tỷ USD), và Ấn Độ (17 tỷ USD) [WIR,
XVIII]. Châu Mỹ Latin và vùng Caribbean là khu vực tiếp nhận lớn thứ
hai, 84 tỷ USD; Mexico (19 tỷ USD) và Brazil (19 tỷ USD) đang dẫn đầu khu vực
[WIR, p. 54]. Châu Phi có vị trí yếu thế nhất, với con số khiêm tốn
FDI-nhận 36 tỷ USD, với Ai Cập là quốc gia dẫn đầu châu lục: 10 tỷ USD.
FDI-nhận Khu vực các quốc gia chuyển tiếp tăng 69%, đạt 69 tỷ USD, 5% FDI thế
giới. Năm quốc gia dẫn đầu FDI gồm theo thứ tự: Liên bang Nga (28,7 tỷ
USD), Romania (11,4 tỷ USD), Kazakhstan (6 tỷ USD), Ukraine (5,2 tỷ USD) và
Bulgaria (5,2 tỷ USD) [WIR, pp. 61, 90]. Các quốc gia chuyển tiếp nhận nguồn đầu
tư khá lớn trong lĩnh vực cơ bản, chiếm gần ¼ FDI trên thế giới của riêng lĩnh
vực này [WIR, p. 22].
FDI-xuất đạt 1216 tỷ USD: FDI của các quốc gia phát triển tăng 45% so với
năm 2005, chiếm 84% FDI toàn cầu. Xu hướng FDI-xuất vượt trội FDI-nhận của khu
vực các nước phát triển vẫn tiếp tục năm 2006, với FDI-xuất cao hơn FDI-nhận
165 tỷ USD. Hoa Kỳ tái chiếm vị trí hàng đầu FDI-xuất, 217 tỷ USD, phần lớn do
nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận kinh doanh. FDI khối EU giảm nhẹ, 572 tỷ USD,
chiếm gần phân nửa tổng số FDI-xuất thế giới, và 7 trong số 10 nước có FDI-xuất
lớn nhất thuộc khối này: Pháp (115 tỷ USD), Tây Ban Nha (90 tỷ USD), Thụy Điển
(82 tỷ USD), Vương quốc Liên hiệp Anh (79 tỷ USD), Đức (79 tỷ USD), Bỉ (63 tỷ
USD), và Ý (37 tỷ USD). FDI-xuất của Nhật Bản đạt 50 tỷ USD: đầu tư vào châu Á
gia tăng với tỷ trọng 35%, vượt qua FDI đầu tư vào Bắc Mỹ (19%), và xấp xỉ với
FDI vào khu vực tây Âu (36%) [WIR, XIV, p. 69].
Tỷ trọng FDI-xuất của các nước đang phát triển và chuyển tiếp có vị thế khiêm tốn;
tuy nhiên, liên tục gia tăng từ 2003, đạt 193 tỷ USD năm 2006, chiếm 16%
FDI thế giới. Châu Á không những chiếm hơn 2/3 FDI-nhận của các quốc gia đang
phát triển, mà còn giữ ưu thế trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài, chiếm 61%
(117 tỷ USD) FDI-xuất của khu vực các nước đang phát triển và chuyển tiếp.
III. Khu vực Đông, Nam và Đông Nam Á:
Châu Á được phân thành 4 khu vực: Tây Á, Đông Á, Nam Á, và Đông Nam Á. Năm 2006, FDI Tây Á tăng 44%, đạt 60 tỷ USD, tập trung chủ yếu trong ba nước: Turkey, Saudi Arabia và the United Arab Emirates. Do mối quan hệ đặc biệt, các khu vực Đông, Nam, và Đông Nam Á được WIR phân tích như một tiểu nhóm. Các nền kinh tế lớn của Đông Á gồm: Trung Quốc, Hong Kong, Hàn Quốc và Đài Loan; Nam Á: Ấn Độ; Đông Nam Á: Singapore. Vì mối tương quan yếu giữa Việt Nam và các quốc gia trong vùng, nội dung phần kế tiếp sẽ đi sâu hơn về các chuyển biến và xu hướng phát triển FDI của khu vực Đông - Nam - Đông Nam Á.
Những nét chính của bức tranh FDI khu vực năm 2006: Biểu đồ II.6. cho thấy
vốn FDI đổ vào khu vực trong giai đoạn 1995–2006 không ngừng gia tăng, với Đông
Á và Đông Nam Á chiếm tỷ trọng khống chế. Tuy khu vực Đông Á vẫn tiếp tục nhận
phần lớn nguồn FDI, nhưng xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài đang nghiêng dần
về Nam Á và Đông Nam Á. Tại Đông Á, FDI đang chuyển hướng vào các ngành công
nghệ đòi hỏi kỷ năng và gia tăng giá trị cao. Về phương thức đầu tư, FDI thực
hiện dưới hình thức M&A của khu vực tăng 19%, đạt 54 tỷ USD; trong khi đó,
FDI xanh cũng tăng cùng tốc độ, 19%, với con số kỷ lục 3515 dự án. Các hoạt động
đầu tư (outflows) của khu vực tăng đáng kể, đặc biệt từ Trung Quốc và Ấn Độ, và
đồng thời các hoạt động FDI giữa các quốc gia trong vùng cũng tăng mạnh trong
hai năm 2005–2006. Một nguyên do quan trọng khác giải thích sự gia tăng hoạt động
đầu tư trong vùng là sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia (TNC) trong khu vực.
Trong số bảy TNC lớn nhất thế giới hiện nay là của các nước đang phát triển,
thì sáu TNC thuộc khu vực Đông - Nam - Đông Nam Á. Khu vực cũng chiếm 78 trên tổng
số 100 TNC lớn nhất của các nước đang phát triển, trong đó Hong Kong có 25 TNC,
Đài Loan 18, Singapore 11 và Trung Quốc 10 (WIR, XVI, p. 25).FDI-nhận (inflows) năm 2006 của khu vực tăng 19%, đạt 200 tỷ USD, chiếm 77% FDI
của các quốc gia đang phát triển Châu Á, và 53% của các quốc gia đang phát triển
trên thế giới. Trung Quốc, Hồng Kông là hai quốc gia dẫn đầu FDI khu vực và các
quốc gia đang phát triển trên thế giới. Singapore, Ấn Độ giữ vị trí thứ 3, 4
trong khu vực.
Đông Á tiếp tục là khu vực nhận FDI nhiều nhất của châu Á,
tăng nhẹ (8%) năm 2006. Trung quốc dẫn đầu (69 tỷ USD), kế đến là Hồng
Kông (43 tỷ USD), Đài Loan (7 tỷ USD), và Nam Hàn (5 tỷ USD). Sự kiện FDI Trung
Quốc giảm nhẹ (4%) lần đầu tiên sau 7 năm tăng liên tục được giải thích do nguồn
đầu tư vào lĩnh vực tài chính sút giảm, phí tổn sản xuất tăng, nguồn lao động
vùng duyên hải thiếu hụt, và chính sách khuyến khích đầu tư vào các tỉnh nội địa,
dành ưu tiên đầu tư công nghệ có giá trị gia tăng cao cho các tỉnh phát triển.
Mức tăng trưởng FDI cao của Hồng Kong (28%) và Đài Loan (360%)
chủ yếu do các giao dịch M&A tăng mạnh, trong khi FDI của Hàn Quốc lại
giảm nhiều vì các hoạt động M&A sụt giảm đáng kể và một số doanh nghiệp FDI
giải thể. Tuy nhiên, FDI thuộc các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao
rót vào Hàn Quốc lại gia tăng.
FDI Đông Nam Á tăng đáng kể (25%), với con số kỷ lục 51 tỷ USD. FDI đổ
vào Singapore, trung tâm thương mại và tài chính của khu vực, tăng 65% (24
tỷ USD), chiếm gần một nửa FDI của cả vùng, phần lớn từ các hoạt động M&A ở
lĩnh vực dịch vụ. FDI Thái Lan tăng 9% (9 tỷ USD), trong đó, nguồn đầu
tư M&A từ Singapore chiếm tỷ trọng quan trọng. FDI Malaysia tăng 53% (6 tỷ
USD) và Philippines 26% (2,3 tỷ USD), là con số kỷ lục của mỗi nước, với một phần
quan trọng FDI của Philippines đến từ Hoa Kỳ qua M&A. FDI Indonesia giảm 33%,
còn 5,6 tỷ USD, và Việt Nam tăng 15%, đạt 2,3 tỷ USD.
FDI Nam Á tăng vọt (125%), với con số kỷ lục 22 tỷ USD, trong đó, FDI của Ấn
Độ chiếm phần lớn FDI khu vực, 17 tỷ USD, tăng 153%, và bằng FDI của 3 năm
truớc (2003–2005) gộp lại. Nền kinh tế đạt mức phát triển cao, và lợi tức người
dân tăng khiến thị trường tiêu thụ nội địa tăng phần hấp dẫn là hai nguyên nhân
của mức tăng vọt này. Pakistan là nước tiếp nhận FDI cao thứ nhì của
Nam Á, FDI năm 2006 tăng mạnh (4,3 tỷ USD) nhờ mức tăng trưởng kinh tế khá cao
và việc đẫy mạnh chính sách tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.
FDI-xuất (outflows) khu vực tăng 60%, đạt 103 tỷ USD, dàn trải trên cả ba khu vực
Đông - Nam - Đông Nam Á. Trong số các quốc gia công nghiệp mới châu Á, nguồn
FDI từ Hong Kong có lớn nhất, tăng 60% lên 43 tỷ USD. FDI-xuất của Singapore tăng
trở lại (8,6 tỷ USD), phần lớn dưới dạng M&A, trong khi đó đầu tư của Nam
Hàn (5 tỷ USD) chủ yếu đổ vào FDI xanh.
Tỷ trọng nguồn FDI từ Trung Quốc và Ấn Độ tăng mạnh, từ 10% năm 2004
tăng lên 25% trên tổng số FDI-xuất của cả khu vực năm 2006, thách thức sự khống
chế truyền thống các hoạt động đầu tư của các quốc gia công nghiệp mới châu Á.
Những hoạt động đầu tư vươn ra nước ngoài của hai quốc gia này nhắm tới nguồn
nhiên liệu chiến lược dầu khí, xây dựng thương hiệu, tiếp thu kỷ thuật, mở rộng
dịch vụ tài chính. Mặc dù phải đối đầu với nhiêu trở lực, như từ phía Hoa Kỳ chẳng
hạn, tài sản ngân hàng nhà nước của Trung Quốc ở nước ngoài cũng đã lên 28 tỷ
USD [WIR, p. 47]. Hoạt động đầu tư từ hai quốc gia này, cùng với các giao dịch
M&A của các nước công nghiệp mới châu Á, đặc biệt Singapore, góp phần quan
trọng cho sự nở rộ các giao dịch M&A tại Âu châu, nhất là năm 2006 [WIR, p.
44].
FDI-xuất của Trung Quốc tăng 32%, 16 tỷ USD, và FDI-xuất tích lũy đạt 72 tỷ
USD. Một phần quan trọng của FDI này đổ vào các quốc gia đang phát triển và
chuyển tiếp. Gần đây, Trung Quốc thiết lập quỹ đầu tư quốc doanh 200 tỷ USD
trích từ nguồn dự trữ khổng lồ hơn 1000 tỷ. Đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ năm
2006 tăng 4 lần, đạt 9,7 tỷ USD. Nhưng khác với Trung Quốc, hoạt động đầu tư của
Ấn Độ chủ yếu được thực hiện bởi các tập đoàn tư nhân.
Những hoạt động đầu tư lớn nhất trong khu vực: Bức tranh các hoạt động đầu
tư của khu vực hiện rõ nét hơn qua các dữ kiện đúc kết trong bản II.5 WIR, liệt
kê 15 hoạt động đầu tư lớn nhất giữa hai quốc gia (bilateral flows and
stock) năm 2005 của Đông-Nam-Đông Nam Á, cao nhất từ Hong Kong đổ vào
Trung Quốc (19 tỷ USD), và thấp nhất (289 triệu) do Ấn Độ đầu tư Singapore. Bảng
II.5 được chúng tôi tổng họp, nhóm lại theo quốc gia đầu tư để thấy rõ hơn tiềm
năng các nguồn đầu tư cũng như khả năng thu hút đầu tư của các nước trong khu vực.
Một vài sự kiện đáng chú ý từ các số liệu này:
- Nguồn FDI tích lũy từ Hong Kong đổ vào Trung Quốc (242 tỷ
USD) lớn thứ 2 trên thế giới, chỉ sau FDI của Vương quốc Liên hiệp Anh đầu tư
vào Hoa Kỳ (282 tỷ USD), và FDI ngược dòng từ Trung Quốc vào Hong Kong, 164 tỷ
USD, là lượng FDI lớn thứ 8 thế giới.
- Ngoài nguồn vốn truyền thống đến từ các quốc gia công nghiệp
mới (Hong Kong, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore), FDI từ các nền kinh tế mới nổi
trong vùng đang lớn dần. Các nước này vừa là đối thủ cạnh tranh FDI với Việt
Nam, vừa trở nên nguồn đầu tư ngày một quan trọng.
- Việt Nam không nằm trong danh sách các nước trong khu vực nhận
FDI từ 15 giao dịch đầu tư lớn nhất từ khu vực năm 2005; số liệu FDI tích lũy của
Việt Nam do chúng tôi bổ túc để so sánh nguồn FDI tích lũy của Việt Nam với các
nước trong vùng.
Bảng “FDI Đăng ký và thực hiện 1988-2006 ” cũng do chúng
tôi tổng hợp nhầm cung cấp một hình ảnh bao quát và đầy đủ hơn về nguồn FDI tại
Việt Nam, bao gồm 17 nước có vốn đăng ký trên 1 tỷ USD [14] và 17 quốc gia có
vốn thực hiện lớn nhất. Các số liệu này cho thấy các quốc gia trong khu vực
chiếm tỷ trọng khống chế trên cả nguồn FDI đăng ký lẫn FDI thực hiện:
Cuộc điều tra thẩm định tiềm năng và thành quả thực hiện nguồn FDI được UNCTAD
(WIR) thực hiện hàng năm, dựa trên số liệu trong 3 năm liên tiếp của 144 quốc
gia. Chỉ số tiềm năng được đánh giá căn cứ trên các 12 chỉ số đo lường
năng lực cạnh tranh và môi trường đầu tư, là những yếu tố ảnh hưởng đến sức thu
hút nguồn FDI: lợi tức cá nhân, mức tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu/GDP, xuất
khẩu dịch vụ, FDI thực hiện, thị phần nhập cảng phụ tùng điện tử và auto, tài
nguyên thiên nhiên, tỷ trọng học sinh đại học/ dân số, chi phí sử dụng nghiên cứu
và phát triển, mức sử dụng các tiện ích truyền thông hiện đại (telephone bàn,
di động), mức tiêu thụ điện/ đầu người, và độ rủi ro đối với nhà đầu tư [17]. Chỉ số đo
lường thành quả thực hiện FDI là tỷ số giữa tỷ trọng nguồn FDI quốc gia/thế
giới và tỷ trọng GDP quốc gia/thế giới. Tỷ số lớn hơn 1 cho thấy thành quả thực
hiện FDI của quốc gia này cao hơn so với tỷ lệ tương ứng của tổng sản lượng quốc
gia, và ngược lại [18].
Hai chỉ số trên đây được WIR tổng hợp vào bảng (ma trận) I.8, xếp thành 4 nhóm:
các nước dẫn đầu (chỉ số tiềm năng cao và thực hiện cao), nhóm thực hiện trên
tiềm năng (tiềm năng thấp, thực hiện cao), nhóm thực hiện dưới tiềm năng (tiềm
năng cao, thực hiện thấp), và nhóm các quốc gia yếu kém nhất (cả hai chỉ tiêu đều
thấp). Đối chiếu với WIR năm trước, kết quả các nhóm quốc gia không mấy thay đổi;
tuy nhiên, tính từ thập niên qua, thứ hạng của Thái Lan được cải thiện đáng kể,
trong khi vị trí của Indonesia tụt từ nhóm dẫn đầu xuống nhóm thấp nhất.
Với chỉ số tiềm năng thấp (80/144) và chỉ số thực hiện FDI trên 1 (1,343), Việt
Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thực hiện trên tiềm năng. Tuy nhiên, cũng cần
lưu ý rằng, trong nhóm các quốc gia có chỉ số thực hiện FDI thấp bao gồm cả Hàn
Quốc, Đài Loan và phần lớn các nước công nghiệp như Hoa Kỳ, Nhật, Đức, Pháp, Ý,
Tây Ban Nha, Canada, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Australia... vì mức tăng trưởng GDP của
các nền kinh tế phát triển thường chậm lại và tỷ lệ đầu tư FDI trên GDP cũng thấp
hơn các quốc gia đang phát triển. Chỉ có vài nước công nghiệp, cùng với Hong
Kong và Singapore, thuộc nhóm có chỉ số thực hiện cao như Vương quốc Liên hiệp
Anh và Hòa Lan.
Mặc khác, tiềm năng thu hút FDI của Việt Nam lại được đánh giá cao qua cuộc Điều
tra Đầu tư Thế giới giai đoạn 2007-2009, bản I.13. [WIR, p. 30]. Những đúc
kết sau đây phản ảnh ý kiến của 192 công ty đa quốc gia tham gia cuộc điều tra:
- Đông - Nam - Đông Nam Á vẫn dẫn đầu là khu vực hấp dẫn FDI nhất,
kế đến Bắc Mỹ, EU.
- Trung Quốc và Ấn độ dẫn đầu bản, được 52% và 41% công ty chọn
là địa điểm đầu tư hấp dẫn nhất, do quy mô quốc gia, sự tăng trưởng thị trường
nội địa, và công nhân rẽ. Trung Quốc đang nỗ lực thu hút đầu tư công nghệ cao, Ấn
độ có tiềm lực lớn về thị trường trong nước, nhưng đồng thời cũng đang đương với
nhiều khó khăn.
- Việt Nam đứng hạng thứ 6, được chọn bởi 11% công ty tham gia,
với triển vọng thu hút mạnh FDI lĩnh vực chế tạo, trong khi Thái Lan đang hấp dẫn
FDI các ngành công nghiệp gia tăng giá trị cao. Theo một cuộc điều tra khác thực
hiện năm 2006 (JBIC), bốn nước này (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam)
cũng đứng đầu trong số năm nước được các công ty đa quốc gia của Nhật Bản chọn
là địa điểm ưu tiên đầu tư cao nhất.
V. Phần kết:
Những dữ kiện và phân tích của Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR) năm 2007
và các nguồn tài liệu khác đã cho thấy toàn cảnh và xu hướng của các hoạt động
đầu tư trên thế giới, đặc biệt khu vực láng giềng của Việt Nam - vùng Đông -
Nam - Đông Nam Á:
1. Liên hiệp Âu Châu, Bắc Mỹ và Nhật Bản vẫn tiếp tục chi phối
các hoạt động đầu tư trên thế giới, đặc biệt về nguồn (inflows) FDI. Tuy nhiên,
bộ mặt của các hoạt động đầu tư trong thập niên qua đã trở nên đa dạng hơn,
với sự tham gia ngày một gia tăng của các nước đang phát triển, đặc biệt khu vực
châu Á: các nước công nghiệp mới và các nền kinh tế mới nổi. Một xu hướng khác
không kém phần quan trọng đã góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng này là sự lớn
mạnh của các công ty đa quốc gia khu vực Đông - Nam - Đông Nam Á và sự gia tăng
các giao dịch đầu tư giữa các quốc gia trong vùng. Hai xu hướng trên đây
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, vì nguồn đầu tư đến từ các quốc
gia trong khu vực - Nhật Bản và các nước công nghiệp mới - chiếm tỷ lệ vượt trội,
và đồng thời, nguồn đầu tư từ các nước mới nổi, đặc biệt Trung Quốc và Ấn Độ,
đang tăng dần.
2. Thành quả thực hiện FDI của Việt Nam tính theo tỷ lệ tương ứng
với sản lương quốc gia (GDP) giai đoạn 2004–2006 được WIR đánh giá trên tiềm
năng, với 1,343 điểm, thứ hạng 78/144, cao hơn Indonesia (0,908), Phillipines
(0,747), Ấn Độ (0,568), và thấp hơn Trung quốc (1,472), Malaysia (1,693), và
Thailand (2,075). Tuy nhiên, với nguồn FDI thực hiện khiêm tốn 2,3 tỷ USD vào
năm 2006, Việt Nam không (hay chưa) được WIR đề cập đến như một trong những quốc
gia đang phát triển có nguồn FDI quan trọng của vùng Đông - Nam - Đông Nam Á.
Việt Nam không nằm trong danh sách 10 quốc gia dẫn đầu FDI trong vùng năm 2006
(Bảng II.9), và mặc dù các nước trong khu vực hiện là nguồn đầu tư lớn nhất của
Việt Nam, song Việt Nam lại không có trong danh sách của 15 giao dịch đầu tư lớn
nhất giữa hai quốc gia trong vùng năm 2005 (Bảng II.5, WIR). Mặt khác, với mức
phát triển khá cao và ổn định trong gần hai thập niên qua, FDI tích lũy của Việt
Nam đã vượt qua Philippines và Indonesia (Bảng 4). Và điều này cũng không đáng
ngạc nhiên, khi cả hai nước này đều có thứ hạng cao hơn cả Việt Nam về tham
nhũng và thấp hơn về môi truờng đầu tư, qua các tường trình của Transparency
International và WB năm 2007.
3. FDI đăng ký của Việt Nam vượt nhanh trong hai năm 2006 (10,2
tỷ USD) và 2007 (20,3 tỷ), chủ yếu là do tác động từ sự kiện Việt Nam vừa trở
thành thành viên của WTO, do đó cũng cần có thời gia để đánh giá việc thực hiện
các dự án đầu tư mới, các cam kết khi gia nhập WTO và hiệu ứng của những thực
hiện này. Tuy nhiên, số liệu Bảng 1 từ nguồn UNCTAD cho thấy mức tăng trưởng
FDI thực hiện của Việt Nam tăng tương đối chậm, từ 1,5 tỷ USD năm 2003 lên 2,3
tỷ năm 2006, với mức tăng bình quân năm là 17%.
4. Với chỉ số tiềm năng FDI giai đoạn 2003–2005 đạt 0,166, hạng
thứ 80/144, Việt Nam được WIR đánh giá có tiềm năng FDI thấp – thấp
hơn Philippines, Malaysia, TháiLan, Trung Quốc, và cao hơn Ấn Độ, Indonesia.
Song, trong cuộc Điều tra Quốc gia [có tiềm năng FDI] Đứng đầu Thế giới
giai đoạn 2007-2009, Việt Nam lại được các công ty đa quốc gia đánh giá cao với
thứ hạng 6 trên thế giới, và trong khu vực, chỉ thấp hơn Trung Quốc và Ấn Độ.
Việc đánh giá tiềm năng FDI của Việt Nam không đồng nhất này (hạng thứ thấp
khi dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường kinh doanh về mặt lý thuyết,
và hạng thứ cao hơn nếu dựa theo các phản ảnh từ thực tế của các nhà đầu tư)
phù hợp với kết quả điều tra trên Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2006 (WB).
Các chuyên gia thực hiện báo cáo WB giải thích có thể vì các nhà đầu tư đã trở
nên quen thuộc với tham nhũng (tuy lan tràn nhưng tổn phí không đáng kể khi so
sánh với các nước cùng trình độ phát triển), và với các giao dịch dựa trên sự
tín nhiệm hơn là các ràng buộc pháp lý trong bối cảnh của hệ thống pháp luật
còn nhiều bất cập. Một số luận điểm khác nhấn mạnh đến ưu thế của nguồn lao động
rẽ, cần mẫn, năng động và vị trí địa lý thuận lợi – vừa kề cận Trung Quốc trong
khi các nhà đầu tư đang có xu hướng phân tán nguồn FDI để giảm bớt rủi ro vì
nguồn vốn hiện đang tập trung quá lớn vào quốc gia này, vừa nối kết Trung Quốc
và các nước Đông Nam Á, là khu vực đang thu hút mạnh nguồn FDI. Phong trào bài
Nhật nổi lên tại Trung Quốc trong những năm gần đây cũng khiến Nhật Bản e dè
hơn với Trung Quốc và nhích lại gần hơn với Việt Nam trong hoạt động đầu tư.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét