Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

XXXPhát biểu trong cuộc hội thảo văn học tại Seattle Public Librairy

Phát biểu trong cuộc hội thảo
văn học tại Seattle Public Librairy

Trước tiên tôi có mặt nơi đây trong tư cách của một nhà văn độc lập, không đại diện cho bất kỳ một tổ chức
nào. Bởi vì tôi nghĩ rằng một nhà văn nên có mặt trong một cuộc hội thảo văn học về đất nước mình. Cho dù tôi là một nhà văn không còn được sinh sống trong lòng đất nước, nhưng không một ai có thể cấm được những ước mơ của tôi dành cho xứ sở đã sinh ra tôi, đã ươm tôi khôn lớn. Hơn thế nữa, tôi cũng đã từng chiến đấu cho phần đất này, phần đất đã gây dựng tôi từ một người lính bình thường trở thành một nhà văn.
Chiến tranh Việt Nam đã tàn được 20 năm, so với đời người thì đó là một thời gian khá dài, nhưng so với lịch sử thì khoảng thời gian đó chẳng qua chỉ là một cái chớp mắt. Tuy nhiên trong cái chớp mắt của lịch sử này, hàng triệu người nằm xuống do rất nhiều nguyên nhân mà trong đó nguyên nhân lớn nhất chính là hậu quả của những trận chiến tranh đã ngự trị trên đất nước này hàng hai, ba thế kỷ liền.
Chính vì chiến tranh và chỉ nội trong trận chiến cuối cùng, những hậu quả của nó đã làm cho dân tộc Việt Nam hao tổn sinh lực đến độ hàng triệu người chết, hàng triệu gia đình tan nát, và hàng triệu người phải sống xa tổ quốc. Chiến tranh đã khiến cho đất nước trong nhiều năm liền hoàn toàn không phát triển so với các lân quốc trong vùng. Trong công cuộc đòi hỏi một nền độc lập cho tổ quốc, không một quốc gia Á Phi nào trả một cái giá đắt như dân tộc Việt Nam, một cái giá mà nhiều thế hệ sau này sẽ phải còng lưng gánh chịu do những sai lầm của những thế hệ trước.
Nghĩ cho cùng, chiến tranh tuy đã tàn hai mươi năm, nhưng lòng hiếu chiến, sự thù hận vẫn còn ngự trị trong lòng người chiến thắng cũng như chiến bại. Trong suy nghĩ của một nhà văn, tôi cho rằng không thể dùng súng đạn bắn vào lòng mỗi con người để triệt đi lòng hiếu chiến, và lòng thù hận. Chính bản thân tôi cũng đã chịu những hậu quả của trận chiến tôi đã tham dự, chính bản thân tôi cũng đã chịu cảnh chia ly, gia đình tan nát, anh em thất tán khắp mọi nơi, do đó tôi hiểu được chiến tranh sẽ mang đến cho con người cái gì: Kẻ thắng thì tranh giành, xâu xé vì quyền lực. Còn người thua thì nói làm sao cho cùng những thống khổ của trần gian.
Cách đây hai tuần lễ, trong buổi hội thảo tương tự như buổi hội thảo hôm nay, diễn ra tại San Francisco để giới thiệu cuốn sách The Other Side of Heaven này, một cuốn sách nói về hậu chiến tranh Việt Nam, nhà văn Nguyễn Mộng Giác phát biểu về sự cần thiết của tiếng nói thứ ba, tiếng nói của những người không may mắn nằm trong phe thắng trận, hay khác đi, tiếng nói của những nhà văn miền Nam đang sống lưu vong trên khắp thế giới. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho rằng: ”...Tiếng khóc, nỗi đau vốn không có biên giới. Hạt nước mắt nào cũng giống nhau, đã nhớ đến hai giọt nước mắt, cớ sao lại quên giọt nước mắt thứ ba”. Tôi chia sẻ quan điểm của nhà văn Nguyễn Mộng Giác và xin bổ túc cho quan điểm này: Tiếng nói đó phải được cất lên bằng tấm lòng nhà văn mở ra, và những tác phẩm đó phải được viết vì nhu cầu của văn học, chứ không phải nhu cầu của chính trị của bất cứ một thế lực nào.
Bởi lẽ anh Nguyễn Mộng Giác và tôi là hai nhà văn, không hoạt động chính trị, nên không thể phát biểu bằng cách xuống đường hoan hô đả đảo, bằng những diễn đàn chính trị, bằng những tranh cãi trong các hội trường với những bài diễn văn tưởng như có thể bạt núi, lấp sông. Những bài diễn văn từ bất cứ phía nào mới vô dụng làm sao, bởi vì nếu thật sự chúng hữu dụng thì đời sống của dân chúng chắc hẳn phải tươi đẹp hơn. Là nhà văn, chúng tôi phát biểu bằng những tác phẩm của chúng tôi, và điều quan trọng nhất đối với những tác phẩm này chính là chúng tôi phải viết như thế nào để có thể đi vào lòng người. Hay khác đi, tác phẩm phải phản ảnh được hiện thực của đời sống, và phải có đủ tính văn học để có thể tồn tại với thời gian.
Nếu như trong tác phẩm, chúng tôi vẽ lại cái nền của cuộc chiến, sự thô bạo của những con người, sự tàn ác đôi khi mất nhân tính của những con người trong chiến tranh, sự nghèo đói, sự lạc hậu, sự chậm tiến, sự thù hận... là bởi vì cuộc sống hiện thực đang đầy dẫy những điều đó. Mô phỏng lại xã hội một cách trung thực, cả bề rộng lẫn bề sâu, chúng tôi tin rằng qua các tác phẩm của chúng tôi, những thế hệ sau sẽ nhìn vào những điều tiêu cực của xã hộI chúng tôi đang sống, như là một thí dụ xấu phải tránh. Mô tả những điều đó, không có nghĩa chúng tôi cổ võ lòng thù hận, mà trái lại chúng tôi muốn cảnh tỉnh những thế hệ đến sau để kêu gọi lòng nhân ái.
Chính vì vậy mà tính văn chương trong các tác phẩm này cần thiết. Bởi vì nếu không đạt được tiêu chuẩn văn chương, thì những tác phẩm của chúng tôi có khác gì một xấp truyền đơn dầy, không thể nào chạm tới tấm lòng người đọc. Trong chiến tranh, tôi đã đọc những tác phẩm kêu gọi lòng thù hận quá nhiều. Các thế hệ trước tôi, và thế hệ tôi đã thừa mứa thù hận, khiến cho máu chẩy thành sông và xương cao thành núi. Hai mươi năm sau chiến tranh, tôi mong rằng các nhà văn trước tôi, các nhà văn đồng thời với tôi, và các nhà văn sẽ đến sau tôi trong nước cũng như ngoài nước, sẽ cống hiến cho người đọc những tác phẩm viết bằng tấm lòng nhà văn, với nghệ thuật cao, chứ không phải là những tác phẩm đúng đường lối, hợp lãnh đạo, theo nhu cầu... Nói cho cùng mọi chuyện rồi cũng qua đi, cho dù bất cứ ai cũng không thể sống hoài hoài trên mặt đất. Cái tồn tại chính là những điều tốt đẹp trong đời sống, mà những tác phẩm văn chương đích thực là một trong những điều tốt đẹp này.
Tôi cũng nghĩ là nhà văn phải được toàn quyền mơ ước. Nhưng mơ ước không có nghĩa là dối trá với độc giả, vẽ lên những điều không thật về một xã hội giả tưởng mọi điều đều tốt, mọi con người đều thánh thiện. Trước khi có được những con người như mơ ước của xã hội ngày mai, bằng văn chương nhà văn phải vẽ cho kỳ được con ngườI của xã hội hôm nay, cùng những guồng máy trì trệ đã làm những rào cản không cho con người tiến tới phía trước. Nương vào đó, những lứa người tới sau có thể kiện toàn được xã hội của họ, tạo dựng một đờI sống càng ngày càng gần với sự toàn thiện. Nếu một nhà tu lên đường với niềm tin thì nhà văn phải lên đường với lòng thành thật. Chỉ có tấm lòng của nhà văn mở ra, nhiên hậu những tấm lòng khác sẽ bớt khép lại.
Tôi không bao giờ nguôi niềm tin tưởng về tương lai dân tộc tôi, một dân tộc thông minh, hiếu hòa. Nhưng lịch sử mọi dân tộc đều có thịnh và suy. Ba thế kỷ suy yếu vì chiến tranh đã quá đủ, do đó trong tư cách của một người cầm bút, tôi đến đây để kêu gọi lòng nhân ái nơi mọi con người.
Ðã đến lúc mọi nhà văn phải quay lưng lại với những thỏa hiệp tới từ bất cứ đâu. Ðã đến lúc mọi nhà văn phải dùng ngòi bút của mình của mình để mở một trận đánh khác, một trận chiến không dùng súng đạn. Bởi vì vũ khí của nhà văn là ngòi bút cùng những suy nghĩ trong đầu, những thổn thức trong tim, những ước mơ về một tương lai tươi sáng. Ðể có thể đạt được những điều này, cái đích mà nhà văn nhắm tới là những tấm lòng đã khép lại, thành quách mà nhà văn phải triệt hạ là những suy nghĩ trì trệ, lỗi thời. Ðây là trận đánh giữa nhân ái và bạo lực, giữa tha thứ và cố chấp, giữa lương thiện và bất lương, giữa chân thật và giả dối, giữa sáng suốt và tăm tối, giữa thiện và ác... Sẽ không có máu đổ trong trận chiến này. Nơi trang sách mở ra, chỉ có tấm lòng của những nhà văn hiển hiện.
Ðã đến lúc các nhà văn không thể dùng ngòi bút của mình để tuyên dương những điều không thật, viết những điều không thật. Ðã đến lúc các nhà văn phải nhìn thẳng vào lương tâm mình, viết ra một phần nhỏ sự thật trong tầm nhìn của mình. Gom những mẩu sự thật của các nhà văn, những thế hệ sau sẽ có được sự thật. Ít nhất các nhà văn phải tạo được cho các thế hệ sau mình một cơ hội chạm mặt với sự thật.
Ðây chính là trận chiến của ngày mai. Trong trận chiến này mọi nhà văn phải đi hàng đầu, làm những cái gạch nối cho quá khứ liền với hiện tại, để thẳng tới tương lai.
Tôi chân thành cám ơn những người đã thực hiện cuốn sách The Other Side of Heaven, một tuyển tập quy tụ được nhiều nhà văn từ các phe tham chiến. Nhà văn Wayne Karlin đã viết trong lời mở đầu của cuốn sách này: Trong chiến tranh ông đã nhiều lần nhắm bắn kẻ địch. Và biết đâu chừng những nhà văn khác trong cuốn sách này, như Lê Minh Khuê chẳng hạn chính là một cái đích trên đường nhắm từ lỗ chiếu môn, tới đỉnh đầu ruồi nơi nòng súng của “người lính” Wayne Karlin trong chiến tranh cũ.
Hai mươi năm đã qua, tôi tin rằng thời gian là một liều thuốc nhiệm mầu, đã tẩy được những mầu sắc u ám trong lòng những nhà văn, nhờ đó cuốn sách được ra đời. Ðôi khi con người phải biết quên đi những đau thương, những thảm họa để sống thanh thản hơn. Trên tro tàn nguội lạnh của trận chiến cũ, trên cái nền xám xịt của chiến tranh còn sót lại, hai mươi năm sau cuốn sách The Other Side of Heaven ra đời. Ðây chính là một trong những bông hoa của tình người đã nở một cách muộn màng. Tôi tin tưởng rằng đang có những công trình tương tự, nơi những người cầm bút khác. Tôi vững tin rằng sẽ có những vườn hoa đang được ươm tại bên đây và bên kia Thái Bình Dương. Tôi tin rằng con cháu tôi sẽ có lần dạo chơi trên những vườn hoa này.
Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn ban tổ chức cuộc hội thảo đã cho tôi cơ hội nói lên những suy nghĩ của cá nhân tôi. Trong trường hợp những phát biểu của tôi không hợp lòng quý vị, xin nhận nơi đây lời xin lỗi của tôi. Bởi vì xét cho cùng những lời kêu gọi nhân ái của một nhà văn là vô hại. Lòng nhân ái không làm tổn thương đến tấm lòng của bất cứ một cá nhân nào. Lòng nhân ái cũng không chống lại quan điểm của bất cứ một đoàn thể nào, một tổ chức nào, một thế lực nào. Xin thành thực cám ơn quý vị.
12.1995, nhân dịp ra mắt cuốn sách The Other Side of Heaven.
23/3/2005
Hoàng Khởi Phong
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

000000Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề triết học

Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề  triết học Mục lục Lời dẫn nhập Quyển một Vấn đề triết học và truyền thống tư tưởng Việt Nam Tập I: Vấn...