Việt Nam trước những
thách thức hội nhập
Mức lạm phát hằng năm hai con số từ năm 2006, bột phát mạnh
hai quý đầu năm 2008 đã gây không ít khó khăn cho đời sống dân chúng và làm xôn
xao giới đầu tư nước ngoài, có thể thấy được qua những bản tin, các bài bình luận
trên các tạp chí lớn The Economist, Herald Tribune, The New York
Times... Dưới tựa đề “Lạm phát thử thách sự phát triển của Việt Nam”, trong bài
báo đăng trên Asia Times ngày 18/3/2008, Andrew Symon nhận định: “Quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
đang đối đầu với thử thách mới - nạn lạm phát phi mã. Thành bại của chính sách
cải cách, cho đến nay được đánh giá là thành công, sẽ còn tùy thuộc vào sự khéo
léo của các biện pháp kinh tế và tài chính đối phó với nạn lạm phát của các nhà
làm chính sách.” [1]
Các biến chuyển của lạm phát đã trở nên phức tạp hơn khi nó cộng hưởng với các
vấn đề kinh tế vĩ mô khác, và mối quan ngại hiện nay không chỉ dừng lại ở lạm
phát, mà ở bình diện rộng lớn và nghiêm trọng hơn là sự ổn định của nền kinh tế.
Tháng 5/2008, các hãng đánh giá định mức tín nhiệm Standard & Poor’s của
Hoa Kỳ và Fitch Ratings có trụ sở tại London đã hạ triển vọng định mức tín nhiệm
nợ ngoại tệ của Việt Nam, phân tích rằng “những rủi ro kinh tế vĩ mô và sự phụ
thuộc vào nguồn vốn bên ngoài của Việt Nam là những lý do chính dẫn tới sự tụt
hạng này” và “Phản ứng chính sách của Việt Nam vừa chậm, vừa không đủ. Lạm phát
tăng tốc có thể gây ra những rủi ro đối với sự ổn định của hệ thống ngân
hàng” [2].
Qua tài liệu Toàn cầu hóa và điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam: vài bài
học từ kinh nghiệm của Thụy Điển của các chuyên gia Ari Kokko (Đại học
Kinh tế Stockholm), Kerstin Mitlid (Ngân hàng Trung ương Thụy Điển) và Arvid
Wallgren (Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Chính sách - Thụy Điển), ấn hành
tháng 7/2007, từ sau đây sẽ ký hiệu là tài liệu [Ari] [3], vấn đề lạm phát
được thảo luận trong khung khổ rộng lớn hơn - sự ổn định kinh tế vĩ mô
(macroeconomic stability) trong mối tương quan với phát triển và trong bối cảnh
của thời kỳ hội nhập - với bốn luận điểm quan trọng, được giới thiệu ở phần dẫn
nhập [Ari, p. 1-2] và bổ sung trong phần kết [Ari, p. 25-27]:
Mặt dù đã trải qua nhiều thử thách và những biến động bên
ngoài nghiêm trọng (external shock), nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được mức
phát triển khá cao và tương đối ổn định từ hai thập niên qua. Song, những thách
thức mà Việt Nam phải đối đầu ngày càng trở nên phức tạp, và trên nhiều phương
diện, cũng tương tự như những vấn đề của các quốc gia có mức phát triển cao
hơn. Vào thời đại mà tiến trình toàn cầu hóa diễn ra một cách nhanh chóng, thì
trọng tâm của việc điều hành kinh tế vĩ mô là nhằm thực hiện được sự cân đối
bên ngoài (external balance) và bên trong (internal balance) - với hai vấn đề
then chốt là ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái (exchange rate) - và đồng
thời đạt được mức phát triển cao, khả dĩ đáp ứng được các yêu cầu chính trị của
nền kinh tế.
Trong khi yêu cầu chính trị của Thụy Điển liên quan đến việc
duy trì sự phồn thịnh của quốc gia và mức thất nghiệp thấp, thì tại Việt Nam, nỗ
lực đạt mức phát triển cao không chỉ để đáp ứng đòi hỏi cải thiện mức sống, bắt
kịp và hòa nhập với nền kinh tế khu vực Đông Á, mà còn nhằm biện minh
(justify) cho hệ thống chính trị một đảng, duy trì khu vực kinh tế nhà nước,
trong bối cảnh quốc tế với nhiều nền kinh tế chỉ huy khác đang trải nghiệm những
cải cách trên cả hai mặt kinh tế lẫn chính trị.
Nhưng Việt Nam lại khác biệt với các nước có trình độ phát
triển cao hơn về công cụ điều hành kinh tế vĩ mô. Trong khi hai mục tiêu chính
của việc điều hành kinh tế vĩ mô, kể từ khi công cuộc cải cách khởi đầu, vẫn
không thay đổi, là nhằm duy trì giá cả ổn định và mức phát triển cao, thì việc
thực hiện những yêu cầu này ngày càng trở nên khó khăn hơn vì những thách thức
mới phát sinh trong tiến trình chuyển đổi và toàn cầu hoá nền kinh tế. Ngày
nay, sau những cải cách mở cửa nền kinh tế và những cam kết qua các hiệp ước quốc
tế, Việt Nam chỉ có thể sử dụng một cách hạn chế các biện pháp can thiệp
trực tiếp, rất hiệu quả vào những thập niên trước đây khi nền kinh tế còn tương đối
đơn giản và khép kín; trong khi đó, hệ thống những công cụ chính sách gián tiếp,
vốn thường được sử dụng trong các nền kinh tế thị trường tại các quốc gia phát
triển, ngày càng trở nên cần thiết cho việc điều hành nền kinh tế mở và hội nhập
của Việt Nam hôm nay, thì vẫn còn yếu kém.
Trên tiến trình hoàn thiện và hoàn tất công cuộc cải cách nền
kinh tế theo định hướng thị trường, đặc biệt trên lĩnh vực tài chính, trong bối
cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam sẽ phải đương đầu với sự bất ổn gia tăng.
Từ góc độ này, [Ari] điểm lại những kinh nghiệm của Việt Nam
liên quan đến việc điều hành kinh tế vĩ mô trên những chặng đường phát triển,
thảo luận các vấn đề hôm nay, xem xét và đối chiếu với một vài kinh nghiệm của
trường hợp Thụy Điển. Những phân tích của [Ari] sẽ được cập nhật và bổ sung
trong phần kết, với những số liệu, các phân tích gần đây, đặc biệt từ các
chuyên gia nước ngoài với bề dày nghiên cứu về các vấn đề Việt Nam.
I. Các vấn đề kinh tế vĩ mô trên những chặng đường phát triển
Cuộc tấn công vào Campuchia năm 1978 khiến nền kinh tế thêm suy yếu và lệ thuộc
nặng nề hơn vào Liên Xô khi các nước phương Tây cắt hầu hết viện trợ. Vào đầu của
thập niên 80, Việt Nam bắt đầu thử nghiệm những cải cách mới, cho phép nông dân
và doanh nghiệp được bán phần sản phẩm tự quản. Kết quả đạt được tuy chỉ rất hạn
hẹp, song những trải nghiệm ban sơ này cũng đã gợi lên được khái niệm và viễn cảnh
của nền kinh tế thị trường, làm động lực cho những cải cách sâu rộng hơn sau
này.
Phát triển và ổn định (1986-1992) [Ari, p. 2-5]: Chính sách cải cách của
thời kỳ đổi mới bắt đầu giữa thập niên 80, đánh dấu bước đầu quan trọng của tiến
trình chuyển đổi nền kinh tế, từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường,
và đồng thời đối phó với căn bệnh lạm phát đã trở nên trầm kha. Vì vậy, lạm
phát là vấn đề, ổn định và phát triển là mục tiêu chính của kinh tế vĩ mô trong
giai đoạn này. Khi chính sách đổi mới ban hành năm 1986 với chủ trương nền kinh
tế nhiều thành phần, phi tập trung hóa (decentralization) và giải thể chế độ
bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thì trên thực tế, nhiều biện
pháp cải cách quan trọng đã được thử nghiệm. Nhưng nỗ lực ổn định nền kinh tế
trong những năm đầu cải cách đã không đạt kết quả: tín dụng trong nước tăng đến
430% năm 1986 mà hầu hết là các khoản vay của DNNN, mức lạm phát vẫn ở con số
400% năm 1988, và tình trạng sản xuất, đặc biệt khu vực nông nghiệp, vẫn trì trệ.
Tuy nhiên, nhờ vào viện trợ của Liên Xô và hoạt động sản xuất của các DNNN có
phần gia tăng với cơ chế phi tập trung, mức phát triển kinh tế của Việt Nam vào
năm 1988 đã đạt được 6%.
Song biến cố Liên Xô sụp đổ, kéo theo việc bị cắt nguồn viện trợ vào năm 1989,
đã buộc Việt Nam phải tiến hành cuộc cải cách quyết liệt hơn, với ba biện pháp
chính: tăng lãi suất để thu hút tiền gửi tiết kiệm và định mức trần tín dụng
(credit ceiling) nhằm hạn chế tín dụng - cắt giảm thâm thủng ngân sách bằng
cách cho phép thu chi phí học đường, bệnh viện, và cắt giảm “biên chế” (= nhân
lực hưởng lương, được đãi ngộ suốt đời và không thể bị sa thải) - thắt chặt
ngân sách trợ cấp và cho vay đối với các DNNN. Các biện pháp tài chính này
được thực hiện dễ dàng vì hệ thống ngân hàng hoàn toàn do nhà nước quản lý. Đồng
thời, nhiều quyết định quan trọng nhằm kích thích phát triển cũng đã được thực
hiện, bao gồm việc giải thể các nông trường, từ bỏ kiểm soát giá cả, tăng cường
quyền tự quản cho các DNNN, phá giá đồng bạc, bãi bỏ một số hạn chế đối với hoạt
động xuất nhập khẩu, và ban hành luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI).
Những biện pháp cải cách năm 1989 đã có tác dụng nhanh chóng, với sự giảm mức lạm
phát từ 400% xuống còn 74% năm 1989, và 32% năm 1992. Nền nông nghiệp cá thể
chuyển mình mạnh mẽ, từ một nước nhập cảng lương thực nặng nề vào giữa thập
niên 80, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu lương thực lớn
nhất vào đầu thập niên 90. Hoạt động của các DNNN cũng bắt đầu phục hồi, nhờ tận
dụng cơ chế phi tập trung và nền kinh tế mở cửa, sự tiếp cận và liên doanh với
đầu tư nước ngoài, và sự kiện Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất dầu [thô]
đáng kể. Năm 1991, các định mức tín dụng bắt đầu được nới lỏng, và đầu tư xã hội
cho giáo dục và y tế được phục hồi. Mức phát triển GDP cũng tăng dần, đạt khoảng
7-8% năm 1992.
Chính sách cải cách theo định hướng thị trường và mở cửa nền kinh tế, song song
với việc rút quân khỏi Campuchia năm 1989, có tác dụng quan trọng trên cả hai
phương diện kinh tế lẫn chính trị: bang giao với Trung Quốc, với các nước khối
ASEAN và phương Tây được bình thường hóa, và nguồn viện trợ phát triển (ODA),
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bắt đầu tăng dần từ năm 1989, mở đầu
cho một thời kỳ phát triển cao hơn, nhưng đồng thời, cũng làm bộc phát những vấn
đề kinh tế vĩ mô mới.
Cơ cấu kinh tế và cán cân bên ngoài (1992-1997) [Ari, p. 5-11]: Với sự ổn
định kinh tế vĩ mô và tiến trình chuyển đổi bước sâu dần vào cơ chế thị trường,
nền kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh trong giai đoạn 1992-1997, đạt mức tăng
trưởng trung bình 8,8%, và lạm phát cũng giảm dần xuống mức bình thường, dưới
10% từ 1995. Những chỉ dấu kinh tế quan trọng của thời kỳ này cho thấy tiết kiệm
và đầu tư nội địa tăng cao, ngoại thương mở rộng, xuất nhập khẩu tăng nhanh,
nguồn vốn và công nghệ FDI tiếp tục gia tăng, đạt 2,4 tỷ USD năm 1996. Giai đoạn
này cũng đánh dấu bước tiến quan trọng trên quá trình hội nhập, với sự kiện Hoa
Kỳ hủy bỏ lệnh cấm vận năm 1994, Việt Nam trở thành hội viên tổ chức ASEAN và nộp
đơn xin gia nhập WTO năm 1995. Và không kém quan trọng, cũng vào năm 1995, Việt
Nam đã tái lập quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế: Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB).
Nhưng những thành quả ấn tượng trên cũng không che giấu được những mặt yếu kém
về cơ cấu kinh tế và sự mất quân bình trong cán cân thanh toán (balance of
payment):
Chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (import-substituting
industry) được thực hiện qua hệ thống các rào cản phức tạp và thiếu minh bạch,
mà hậu quả là nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, do phải lệ thuộc nặng nề
vào nhập cảng máy móc, nguyên liệu, và bán thành phẩm. Vào năm 1996, cán cân
vãng lai thâm hụt 2.6 tỷ USD, chiếm 13% GDP, và điều này đã đặt lên hai nghi vấn
là liệu Việt Nam có khả năng đối phó với thâm thủng tài chính mà không để xảy
ra tình trạng bất ổn định kinh tế, và có thực tâm tiếp tục tiến hành công cuộc
cải cách, mở cửa nền mậu dịch quốc tế?
Một vấn đề khác liên quan đến cơ cấu là nền kinh tế bị lệ thuộc nặng nề vào khu
vực nhà nước và sự liên đới giữa các DNNN với chính sách thay thế nhập cảng.
Các nghiên cứu của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh năm 1996 cho thấy hầu hết các DNNN hoạt
động thua lỗ, với công nghệ lạc hậu, gây ra khoảng nợ lớn đáng kể, và doanh thu
tùy thuộc nặng nề vào các biện pháp bảo hộ. Nguy cơ là nếu cứ tiếp tục duy trì
tình trạng cô lập đối với sự cạnh tranh trên thị trường thế giới bằng cách dựa
vào chính sách thay thế nhập cảng, các DNNN có thể tồn tại mà không cần phải tiếp
tục cải cách để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, vào giai đoạn phát triển này, tình trạng yếu kém của khu vực kinh tế
tư nhân, hoạt động trong một môi trường cạnh tranh rất khó khăn, và sự
hình thành của các nhóm lợi ích đặc quyền trên cơ sở những mối liên kết giữa
các DNNN, các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp liên doanh, và các
viên chức có quyền thế, là những thế lực đang thụ đắc lợi lộc từ chính sách
thay thế nhập cảng, có khả năng ảnh hưởng đến chính sách, đã trở thành những
nguy cơ mới đối với quá trình chuyển đổi và phát triển.
Cuộc khủng hoảng châu Á (1997-1997) [Ari, p. 11-14]: Khác với nhiều nước
châu Á, Việt Nam chỉ chịu ảnh hưởng nhẹ trong cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra hồi
năm 1997. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nền kinh tế Việt Nam vững mạnh,
mà chỉ vì nền kinh tế vẫn đang ở thời kỳ chuyển đổi, được chi phối bởi các biện
pháp kiểm soát mang tính định lượng, chẳng hạn, tỷ giá hối đoái cố định, hoạt động
ngoại thương được quy định chặt chẽ, và Việt Nam vẫn chưa có thị trường chứng
khoán. Hai yếu tố bị ảnh hưởng đáng kể nhất từ cuộc khủng hoảng là gánh nợ quốc
gia gia tăng, và nguồn vốn FDI giảm mạnh, khiến cán cân thanh toán trở nên bị
thâm thủng nghiêm trọng.
Do kinh doanh kém hiệu quả, các DNNN tiếp tục vay mượn, làm gia tăng mức nợ
trong nước lẫn nợ nước ngoài. Các quyết định đầu tư của các DNNN và cho vay của
hệ thống ngân hàng thường bị chi phối vì các mục tiêu chính trị, và một phần của
đầu tư bị phân tán vào các hoạt động kinh doanh mang tính đầu cơ nhiều rủi ro,
mà hậu quả là tình trạng nợ xấu lan rộng, làm suy yếu hệ thống ngân hàng, do
hơn phân nửa dòng chảy tín dụng có liên quan đến các DNNN. Vào cuối năm 1996, nợ
nước ngoài lên đến 8,3 tỷ USD, hay 35% GDP, và nợ đáo hạn nước ngoài tăng lên
12,7% trên tổng số nợ, hay bằng 100% dự trữ ngoại tệ thực có (capital and
reserves) vào lúc đó.
Vấn đề thứ hai là nguồn vốn ngoại tệ FDI bắt đầu giảm dần từ 1996, trong khi đó
nhập siêu lại tăng dần, chiếm 15% GDP năm 1996. Để bù đấp khoản thiếu hụt trên
cán cân thanh toán, do chi tiêu gia tăng (nhập siêu) và nguồn ngoại tệ giảm
(FDI), VND được phá giá 30% (depreciation) trong hai năm 1997-1998, với mục
đích là đẫy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ.
Các biện pháp khác đối phó với tình trạng nợ xấu và các cân thanh toán mất cân
đối được ban hành như hạn chế tín dụng và thắt chặt nhập khẩu. Biện pháp cắt
giảm nhập khẩu thực hiện dễ dàng thông qua hệ thống cấp phép (licensing
system) đã đạt hiệu quả khá nhanh chóng, với mức tăng nhập khẩu giảm xuống
chỉ còn vài % năm 1997, trong khi mức tăng xuất khẩu ở khoảng 20%, nên mức nhập
siêu đã giảm xuống dưới mức 10%. Nhưng đồng thời, các biện pháp kiểm soát mậu dịch
cũng làm lung lay niềm tin các nhà đầu tư về chính sách hội nhập, mà hậu qua là
FDI giảm mạnh vào những năm 1997-1998, và đà tăng trưởng kinh tế cũng giảm
theo, với mức tăng trưởng những năm 1998, 1999 chỉ bằng khoảng phân nửa của mức
tăng trưởng trên 8% vào năm 1997.
Từ những vấn đề kinh tế vĩ mô phát sinh trên những chặng đường phát triển, có
thể rút tỉa những bài học quan trọng:
Giai đoạn của những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90
cho thấy tầm quan trọng của cán cân bên trong, với sự điều hòa hợp lý giữa
phát triển và ổn định giá cả.
Nguồn ngoại tệ dồi dào đổ vào trong những năm đầu thập niên
90 đã tạo ấn tượng rằng cán cân bên ngoài không đáng phải quan tâm. Nhưng khi
cuộc khủng hoảng xảy ra - nguồn ngoại tệ FDI giảm mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến cán cân thanh toán quốc tế - cho thấy rằng cán cân bên ngoài không
những quan trọng trong dài hạn, mà còn cả trong ngắn hạn.
Ngoài ra, kinh nghiệm phát triển của khu vực, đặc biệt là
“phép màu” Đông Á, chứng minh ích lợi to lớn có thể mang lại từ hội nhập quốc
tế.
Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế hiệu quả cần phải cân đối
được cả cán cân bên trong lẫn bên ngoài. Và trong bối cảnh của thời kỳ hội nhập,
những vấn của Việt Nam hôn nay cũng tương tự như những thử thách của các nền
kinh tế nhỏ và mở.
II. Những vấn đề hôm nay [Ari, p. 14-18]
Nền kinh tế Việt Nam phát triển khá thuận lợi trong những năm gần đây, với nhiều
vấn đề của thập niên trước dường như đã đi dần vào ổn định. GDP tăng trưởng
trung bình hàng năm trên 7% từ năm 2000, tương đương với 40% lợi tức đầu người.
Xuất khẩu tăng hơn gấp đôi tính từ 2001. Việt Nam cũng đạt những bước quan trọng
trong quá trình hội nhập nền mậu dịch quốc tế. Năm 2000, đã hoàn thành mục tiêu
hạ thấp mức quan thuế xuống 5% thể theo quy định của hiệp ước thương mại AFTA với
khối ASEAN. Cũng trong năm này, Hiệp ước Thương mại Song phương (BTA) được ký với
Hoa Kỳ theo những điều kiện rất thuận lợi; Việt Nam được nhanh chóng xâm nhập
vào thị truờng rộng lớn này, trong khi chỉ phải mở cửa mậu dịch theo từng giai
đoạn. BTA cũng mở đường cho Việt Nam bước xa hơn trên lộ trình hội nhập, với việc
gia nhập WTO vào tháng giêng năm 2007. Về sản xuất, khu vực FDI không ngừng
tăng trưởng, chiếm 15% GDP, một phần năm (1/5) vốn đầu tư, và hơn phân nửa
(1/2) giá trị xuất khẩu. Sự phát triển của kinh tế tư nhân cũng rất đáng khích
lệ, đặc biệt trong vai trò tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 1,5 triệu người
gia nhập thị trường lao động hàng năm, trong các ngành sản xuất đòi hỏi ít vốn,
thâm dụng lao động, là lãnh vực mà Việt Nam hiện có lợi thế cạnh tranh.
Song mặc dù nền kinh tế đang trên đà phát triển thuận lợi và những thành quả đạt
được là khá ấn tượng, Việt Nam hiện vẫn phải đối đầu với những vấn đề kinh tế
vĩ mô ngày một phức tạp và tinh vi hơn, trong đó, hai vấn đề nổi cộm nhất là nạn
lạm phát, và tình trạng quá tải, kém hiệu năng của khu vực công.
Mức lạm phát bắt đầu leo thang từ năm 2003, không những tác động đến giá cả
trong nước, mà còn cả cán cân bên ngoài, là hai yếu tố then chốt giữa cho nền
kinh tế được ổn định. Việt Nam duy trì tỷ giá cố định với USD (fixed exchange
rate). Khi đồng USD mất giá đáng kể từ năm 2002, đồng bạc Việt Nam (VND) cũng
giảm giá theo, và điều này thuận lợi cho chính sách đẫy mạnh xuất khẩu, vì hàng
xuất khẩu giảm giá, tăng tính cạnh tranh. Nhưng với xu hướng tăng tốc của lạm
phát, [Ari] nhận định rằng Việt Nam sẽ khó có thể duy trì được tỷ giá ổn định
khi mức lạm phát của Việt Nam đang tiếp tục cao hơn mức lạm phát của Hoa Kỳ một
cách đáng kể. Điều này có nghĩa là VND mang giá trị cao hơn giá trị thật
(appreciation), khiến hàng xuất khẩu đắt, hàng nhập khẩu rẻ, làm gia tăng thâm
thụt của cán cân vãng lai (current account) và tăng áp lực phá giá đồng bạc
(VND). Mặt khác, sự phá giá VND có thể tạo ra bất ổn kinh tế vĩ mô, tăng giá nhập
khẩu và gây thêm áp lực lạm phát.
Nguy cơ về sự bất ổn định kinh tế vĩ mô trong thời kỳ mở cửa và hội nhập ngày
càng gia tăng. Một thập niên trước đây, kim ngạch xuất và nhập khẩu chỉ chiếm
70-80% GDP, tỷ lệ này nay đã vượt quá 130%, và điều này có nghĩa là nền kinh tế
Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng lớn hơn nhiều trước mọi biến động trên thị trường mậu
dịch thế giới. Thứ nữa, vào thập niên trước, Việt Nam có thể kiềm chế hữu hiệu
những biến động bên ngoài bằng những biện pháp kiểm soát định lượng về tín dụng,
mậu dịch, cũng như hối đoái. Ngày nay, những biện pháp này ngày nay đã không
còn mang lại hiệu lực mong muốn, vì sự hạn chế ở mức độ được cho phép sử dụng,
cũng như hiệu quả, do những ràng buộc của các hiệp ước thương mại quốc tế, việc
mở rộng nền mậu dịch và hệ thống tài chính. Trong bối cảnh hiện tại của nền
kinh tế mở, lãi xuất và tỷ giá hối sẽ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong
việc điều hành nền kinh tế quốc gia.
Thêm vào đó, chính sách đặt nặng phát triển trong mối tương quan phát triển và ổn
định - vì lý do chính trị - cũng đã góp phần tạo thêm áp lực lạm phát. Ngày
nay, những áp lực đầu tư nhằm giảm mức chênh lệch lợi tức trong các tầng lớp xã
hội và giữa các vùng, miền ngày một gia tăng. Tình trạng bất bình đẳng này là hậu
quả sau nhiều thập niên “xã hội hoá” chi phí các dịch vụ xã hội thiết yếu như y
tế và giáo dục lên vai người dân, và việc tập trung đầu tư hạ tầng quanh hai
thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn.
Tình trạng quá tải và kém hiệu quả của khu vực công là vấn đề nổi cộm thứ hai của
kinh tế vĩ mô, đã được [Ari] đưa vào phân tích.
Sự khống chế của khu vực công và hiệu năng của khu vực này vẫn luôn là mối
quan ngại của các nhà tài trợ và các nhà quan sát. Khu vực này chiếm tới 55-60%
vốn đầu tư và gần 40% GDP, nhưng chỉ cung cấp khoảng 10% lực lượng lao động.
Nguồn tài lực quốc gia rất lớn vẫn tiếp tục chảy vào DNNN và các công trình hạ
tầng qua những dự án, mà hầu hết được đánh giá là yếu kém từ khâu hoạch định
cho đến thực hiện, khiến các nhà phân tích không thể không đặt dấu hỏi về khả
năng nhanh chóng cải thiện cơ sở hạ tầng, là mạch nghẽn chính của nền kinh tế
hiện nay, và khả năng tồn tại của các DNNN trước tình hình cạnh tranh ngày càng
trở nên gay gắt của thời kỳ hội nhập, từ hàng hóa nhập cảng, đến các doanh nghiệp
FDI, và khu vực kinh tế tư nhân.
Nguồn vốn đầu tư trong và nước ngoài hiện ở mức độ cao, tương đương với Trung
Quốc, không làm giảm mối quan ngại về sự đầu tư quá tải và kém hiệu năng của
khu cực công, mà trái lại, nó còn giúp cho sự hình thành các nhóm quyền lợi
(interest group), được hưởng lợi nhờ vào các dự án đầu tư đến từ nguồn vốn rất
lớn này, và do đó sẽ tìm mọi cách duy trì nguyên trạng, ngăn chặn mọi thay đổi
cần thiết từ các chính sách cải cách. Vì vậy, việc thiết lập cơ chế hiệu quả nhằm
bảo đảm cho nguồn đầu tư công đạt kết quả cao nhất là ưu tiên hàng đầu của kinh
tế vĩ mô hôm nay.
Một hệ thống ngân hàng có hiệu năng cao và hoạt động độc lập có thể giúp cho việc
điều hợp nguồn vốn và đầu tư một cách hợp lý và hiệu quả, là định chế tài chính
quan trọng trong các nền kinh tế phát triển. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng
nhà nước mặc dù đã được cải thiện, song vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự chi
phối chính trị, dẫn đến các dự án kém hiệu quả và những khoảng nợ xấu rất lớn.
Do đó, cải thiện hiệu năng và tăng cường tính độc lập bằng cách “biến Ngân hàng
Nhà nước thành một ngân hành trung ương thực thụ” là một trong những đề xuất
quan trọng của nhóm Havard trong chiến lượt phát triển Việt Nam năm 2010–2020
[LC, Phần 5, VII.4] [4].
Tuy nhiên, những năm gần đây, tỷ phần tín dụng cấp cho các DNNN thông qua ngân
hàng thương mại nhà nước giảm dần, do hệ thống ngân hàng nhà nước đang chịu áp
lực ngày một mạnh mẽ phải cải thiện năng lực quản lý và tính độc lập. Song, đây
không phải là một chuyển hướng tích cực, mà ngược lại, vì việc cấp tín dụng
cho khu vực công đang được chuyển dần qua các tổ chức tài chính phi quốc
doanh - nơi mà sự kiểm soát càng ít chặt chẽ và kém minh bạch hơn. Quỹ Hỗ
trợ Phát triển được thành lập 1999, chiếm đến hơn 10% GDP và trên chiều hướng
gia tăng, cung ứng vốn cho các DNNN và công trình hạ tầng, từ nguồn viện trợ
phát triển ODA, trái phiếu chính phủ, và quỹ Bảo hiểm Xã hội (SIF). Năm 2006,
IMF đã đưa ra cảnh báo về những rủi ro của việc sử dụng nguồn vốn rất lớn này
và đề nghị các biện pháp công khai hóa và minh bạch hóa tài chính. Một nguồn
tài trợ không thông qua hệ thống ngân hàng khác nữa là trái phiếu phát
hành trên thị trường quốc tế, mở đầu tại New York vào cuối năm 2005, với trị
giá 750 triệu USD. Nếu không phải do nhà nước bảo đảm, mà được phát hành bởi
chính Vinashin (Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Việt Nam), thì theo [Ari], trái
phiếu này ắt phải được xếp hạng kém (junk bond) và khó mà bán ra hết được. Hiệu
quả sử dụng nguồn vốn đã là một vấn đề; việc phát hành trái phiếu trên thị trường
thế giới còn đi ngược lại với mục tiêu duy trì ổn định giá cả, vì không những tốn
kém hơn trái phiếu USD phát hành từ trong nước, mà còn tạo ra tiền lệ vay mượn,
lệ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, trong trình trạng mà lạm phát đang xấu dần.
III. Vài bài học từ kinh nghiệm của Thụy Điển [Ari, p. 18-25]
Nền kinh tế vĩ mô của Thụy Điển vào thập niên 70 có nhiều nét tương đồng với Việt
Nam ngày nay, được điều hành bằng quy định (regulations) trên nhiều phương diện,
đặc biệt ở lĩnh vực tài chính. Những quy định này đã từng rất hiệu quả cho công
cuộc điều hành nền kinh tế Thụy Điển từ nhiều thập niên, trở thành trở lực cho
sự phát huy các lợi ích của thời kỳ thị trường tài chính tự do hóa, và hiệu lực
của chúng cũng bị mất dần khi các thành phần kinh tế đã tìm được cách luồn lách
sự kiểm soát của hệ thống. Những hạn chế và ràng buộc đã làm giảm tính năng động
và cạnh tranh của nền kinh tế, và khiến hệ thống ngân hàng không phát triển được
khả năng ứng phó với các biến động và rủi ro. Đầu tư khu vực công chiếm đến khoảng
50% dòng chảy tín dụng toàn quốc, tập trung cho các dự án xây nhà rẻ tiền cho
người dân có lợi tức thấp, trợ cấp thất nghiệp, và bù thâm hụt ngân quỹ quốc
gia, đã trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, và làm phát sinh lạm phát. Các biện
pháp kiểm soát lạm phát, như định mức trần tín dụng và trần lãi suất, dự trữ bắt
buộc, kiểm soát đầu tư nước ngoài, và duy trì hệ thống tỷ giá hối đoái cố định
để bảo vệ tín dụng trong nước và điều tiết nguồn vốn nước ngoài, đã không đạt kết
quả. Lợi tức đầu người đứng hàng thứ 3, 4 trên thế giới vào đầu thập niên 70 đã
tụt dần xuống hạng 20 vào đầu thập niên 90. Cuộc cải cách kéo dài gần hai thập
niên, trải qua nhiều biến động, thăng trầm, đã chuyển đổi Thụy Điển từ một nền
kinh tế chịu sự kiểm soát nặng nề bởi quy định, sang một nền kinh tế mở, tự do
hoá (với sự dỡ bỏ các quy định, deregulation), qua sự tháo gỡ các hạn chế định
lượng trong nước vào giai đoạn 1980-1985, chuyển qua chế độ tỷ giá thả nổi năm
1992, và những cải cách trong quy trình thiết lập và kiểm soát ngân sách, đã
giúp Thụy Điển phục hồi nền kinh tế, trở lại vị trị là thành viên của nhóm 10
quốc gia có lợi tức đầu người cao nhất. Những kinh nghiệm này được trình bày
chi tiết trong bài viết của Ari Kokko, Kerstin Mitlid và Arvid Wallgren [Ari],
và được tóm lược vào ba điểm (bài học) chính dưới đây:
Bài học thứ nhất là về tự do hoá thị trường tài chính. Cuộc cải
cách trên lĩnh vực tài chính diễn ra khi hệ thống ngân hàng chưa có đủ năng lực
và kinh nghiệm đương đầu với các biện pháp kiểm soát rủi ro, hoạt động trong
môi trường cạnh tranh của một nền tài chính được tự do hóa. Hệ quả xảy ra cũng
tương tự như tình trạng của các nước châu Á trước thời kỳ khủng hoảng 1997, là
dòng chảy tín dụng gia tăng rất nhanh, đặc biệt giá cổ phiếu và nhà đất dâng
cao, gây tác dụng lan truyền đến giá cả, và làm gia tăng áp lực lạm phát.
Tự do hóa thị trường tài chính sớm muộn sẽ phải diễn ra tại Việt Nam: nền kinh
tế thị trường ngày một mở rộng, song song với sự phát triển của nền ngoại thương,
do đó Việt Nam sẽ khó có thể tiếp tục duy trì sự kiểm soát chặt chẽ thị trường
tài chính.
Bài học thứ hai là về công cụ điều hành kinh tế vĩ mô. Với hệ
thống tỷ giá hối đoái cố định, cán cân trong và ngoài nước bị lệ thuộc vào
chính sách tài khóa (ngân sách, đầu tư công, thuế), đồng thời hạn chế phạm vi
và hiệu lực của việc thực thi chính sách tiền tệ (lãi suất, cung cầu tiền tệ).
Chính sách tài khoá kém hiệu quả dẫn đến tình trạng lạm phát tăng cao, tạo nguy
cơ cho đồng bạc tăng giá (appreciation), khiến thâm hụt cán cân thương mại gia
tăng. Lãi suất leo thang do lạm phát dẫn đến việc gia tăng vốn vay từ nước
ngoài với lãi suất thấp hơn, nhằm quân bình cán cân vãng lai và đáp ứng nhu cầu
đầu tư sản xuất, khiến tình trạng lệ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài thêm trầm
trọng.
Sự phá giá đồng bạc (devaluation) thông thường sẽ giúp cải thiện cán cân mậu dịch
trong ngắn hạn, do khuyến khích xuất khẩu (giá hàng xuất khẩu giảm) và giảm nhập
khẩu (hàng nhập khẩu đắt hơn). Nhưng mặt khác, việc phá giá đồng bạc có thể làm
gia tăng áp lực lạm phát vì hàng nhập cảng tăng giá, dư nợ nước ngoài tăng, và
nghiêm trọng hơn, là một khi bị lạm dụng, nó có thể sử dụng thường xuyên như một
phương thuốc chữa chạy căn bệnh mãn tính là năng lực cạnh tranh kém, và do đó,
khuyến khích sự trì hoãn các nổ lực cải cách cần thiết để chữa trị dứt điểm gốc
rễ căn bệnh - là cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Với tỷ giá hối đoái thả nổi, một số vấn đề trên đây có thể được giải quyết. Tuy
nhiên, việc thực thi tỷ giá thả nổi hiệu quả đòi hỏi ngân hàng trung ương phải
hoạt động độc lập, theo đuổi mục tiêu rõ rệt là duy trì sự ổn định giá cả.
Nhưng Việt Nam hiện đang thiếu một ngân hàng nhà nước độc lập và những công cụ
duy thị trường của chính sách tiền tệ.
Bài học thứ ba là Thụy Điển đã cân bằng một cách uyển chuyển
hai vế của phương trình phát triển. Mối tương quan giữa mục tiêu phát triển và
cải cách dài hạn với việc duy trì sự ổn định đã được điều chỉnh, cân đối theo từng
thời kỳ, theo điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép. Về phương diện này, [Ari] nhận
định rằng chính sách của Việt Nam nghiêng nặng về vế phát triển.
Từ những thập niên qua, sự phát triển kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối ổn
đính, cho phép tập trung nổ lực vào phát triển. Nhưng quá trình chuyển đổi từ một
nền kinh tế còn chịu sự kiểm soát chặt chẽ sang hệ thống kinh tế thị trường,
trong bối cảnh toàn cầu hoá, tình hình bất ổn định sẽ gia tăng. Những phân tích
và tiên đoán của [Ari] gần một năm trước đã xảy ra. Lạm phát và sự ổn định kinh
tế vĩ mô đang là vấn đề nghiêm trọng của Việt Nam hôm nay.
IV. Phần kết
Song song với phần nghiên cứu của nhóm Ari Kokko, các phân tích của các nhà
nghiên cứu, các tổ chức tài trợ, và các nhà đầu tư về các biến động gần đây có
thể giúp làm rõ nét hơn các vấn đề mấu chốt khá phức tạp của tình trạng lạm
phát và bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam:
1. Tại buổi tọa đàm “Lạm phát tại Việt Nam” ngày
3/4/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế cấp
cao của UNDP tại Việt Nam cho rằng “nguyên nhân sâu xa của lạm phát tại Việt
Nam là tỷ lệ đầu tư công chiếm quá phân nửa, trong khi suất sinh lời
của khu vực này rất thấp (ước khoảng 3%) và vì thế chu kỳ đốt nóng nền kinh tế
trở nên tồi tệ hơn. So sánh giá trị gia tăng theo từng khu vực kinh tế, lấy mốc
2000 - 2005, khu vực tư nhân và khu vực có vốn FDI là những khu vực có giá trị
gia tăng cao nhất (164% và 56%) so với khu vực nhà nước (10%).” (Từ sau đây,
nguồn dẫn liệu này sẽ được ký hiệu là [UN] [5].) Tình trạng quá tải,
hiệu quả thấp, năng lực cạnh tranh yếu kém của khu vực công và tác động của nó
đối với lạm phát cũng được nhấn mạnh trong bài phân tích Lựa chọn Thành
công của nhóm Havard, và là một trong hai trọng điểm phân tích của [Ari].
Trong cuộc giải trình trước Quốc hội đầu tháng 6 vừa qua về các nguyên nhân
chính của lạm phát, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã thừa nhận “do đầu tư kém
hiệu quả, làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm và của nền kinh tế thấp; đây là
nguyên nhân sâu xa gây lạm phát và đã tồn tại nhiều năm nhưng vẫn chậm được khắc
phục” [Báo cáo] [6] và đặt ra mục tiêu
cắt giảm 10% đầu tư công. Song, điểm khác biệt cơ bản với các nhà phân tích/
nhà tài trợ về chiến lược phát triển là nhà nước chủ trương tiếp tục duy trì
khu vực công với quy mô lớn, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, trong khi
các chuyên gia kinh tế/ các nhà tài trợ nhấn mạnh đến việc công khai hóa, minh
bạch hóa, thu gọn và chuyển giao dần khu vực kinh tế nhà nước qua khu vực tư
nhân.
Về những biến chuyển phức tạp của kinh tế vĩ mô, Jonathan Pincus đã nhận định:
“Nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến những bất ổn định kinh tế vĩ mô là do sự
bùng nổ luồng vốn vào Việt Nam, giá lương thực và lạm phát tăng, cùng với thâm
hụt thương mại tăng dẫn đến nền kinh tế phát triển quá nóng. Sự bùng nổ của luồng
vốn đầu tư vào cũng tạo nên hiện tượng bong bóng tại thị trường bất động sản.”
[UN]
2. Yếu tố “bùng nổ luồng vốn” cũng là trọng điểm trong
phân tích của tập đoàn Merill Lynch ngày 23/5/2008, qua nhận định: “Nền kinh tế
đã nhận một lượng vốn vượt quá khả năng hấp thụ của nó. Sau khi gia nhập WTO, vốn
FDI năm 2007 tăng nhanh chiếm 8,1% GDP (5,7 tỷ USD), vốn ngoài FDI đạt 12,7 %
GDP (8,9 tỷ USD) [Merrill] [7]. Sự cộng hưởng của
luồng ngoại tệ này với tín dụng trong nước năm 2007 tăng đến 54% (25% năm
2006), và vốn đầu tư trong nước (khu vực công khoảng 20% GDP), khiến cung tiền
tệ tăng quá nhanh so với mức tăng trưởng GDP. Theo nhóm Havard, tốc độ tăng
cung tiền ở mức trên dưới 25% trong khi cung hàng hóa chỉ tăng dưới 10% đã tạo
ra áp lực lạm phát [LC, Phần 3 IV.4.1].
Một phần quan trọng từ luồng ngoại tệ này đổ vào thị trường bất động sản và chứng
khoán cũng là mối quan ngại của nhóm Havard: “một lượng tiền lớn có nguồn gốc
tham nhũng, rửa tiền, và đầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản
và chứng khoán, tạo nên bong bóng tài sản.” [LC, Phần 3 IV.4.2] Theo số liệu Tổng
cục Thống kê công bố ngày 28/5/2008, chưa kể 3,91 tỷ USD đầu tư vào 16 dự án
khách sạn, du lịch, FDI về bất động sản được cấp phép trong 5 tháng đầu năm
2008 lên tới 7,97 tỷ USD [8].
3. Về tình trạng thâm hụt thương mại, nhóm nghiên cứu của
Merill Lynch có đồng quan điểm với Jonathan khi cho rằng thâm hụt thương mại là
một trong những nhân tố quan trọng của tình trạng bất ổn định hiện nay, nêu lên
con số thâm hụt cán cân vãng lai năm 2007 tăng lên 6,4 tỷ USD, chiếm 9,1% GDP.
Theo số liệu cập nhập trên tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam tháng 5/2008,
thâm hụt thương mại năm 2007 bằng 29,1% kim ngạch xuất khẩu (14,1 tỷ USD);
riêng bốn tháng đầu 2008, thâm hụt tăng vọt lên 11,4 tỷ USD, bằng 60,8% kim ngạch
xuất khẩu [9]. Theo báo cáo của
Thủ tướng Dũng trước Quốc hội đầu tháng 6, kim ngạch nhập cảng hiện gần bằng
90% GDP [Báo cáo].
Mặc dù mức thâm hụt thương mại là nghiêm trọng, cán cân thanh toán tuy giảm mạnh
so với năm 2007 (8,2 tỷ USD) [Merrill], song hiện vẫn mang dấu dương (700 triệu
USD), và dự trữ ngoại hối ở khoảng 20 tỷ USD [Báo cáo] nhờ vào sự gia tăng liên
tục mấy năm qua của dòng vốn FDI, đầu tư gián tiếp (FII), viện trợ phát triển
(ODA), và kiều hối. Trong khi luồng ngoại viện ODA và kiều hối tương đối ổn định,
thì luồng vốn FDI và nhất là vốn gián tiếp có khả năng biến động và ảnh hưởng
quan trọng đến sự ổn định của nền kinh tế.
4. [Ari] cho rằng có mối quan hệ rõ rệt giữa dòng vốn FDI
và cán cân thương mại. Giai đoạn 1995-1996 là thời điểm FDI tăng mạnh nhất của
thập niên 90, cũng là những năm cán cân vãng lai thâm hụt lớn nhất, khoảng 13%
GDP, vì nhu cầu nhập khẩu thiết bị và bán thành phẩm gia tăng. Song về lâu dài,
vì đầu tư FDI có hiệu quả cao và chiếm tỷ lệ quan trọng trên tổng xuất khẩu, do
đó góp phần tích cực cho việc quân bình cán cân thương mại [Ari, p. 9]. Ông
Sean Doyle, Đại sứ Phái đoàn Ủy ban Châu Âu (EC), trong buổi công bố báo cáo
đánh giá về thực trạng phát triển kinh tế 2008 Việt Nam ngày 30/5/2008, cũng đã
làm rõ mối quan hệ giữa FDI và thâm hụt thương mại, nhưng cho rằng “một phần lớn
vốn vào Việt Nam không được triển khai ngay là yếu tố cộng hưởng gây lạm
phát” [10].
Mặt khác, nhóm Havard qua tài liệu Lựa chọn Thành công cũng đã nhắc
nhở: “Nên nhớ rằng sự bùng nổ FDI cũng đã từng xảy ra và chấm dứt ở nhiều nơi
khác trong khu vực Đông Nam Á.” [LC, Phần 4 V.2] Tờ The Economist, trong
bài bình luận “Những con hổ bặt tiếng gầm”, số tháng 3/2008, còn cảnh báo xa
hơn về những bất trắc của sự quá lệ thuộc vào FDI ở các nước Đông Nam Á: “Họ sẽ
luôn phải gánh chịu những rủi ro vì những xí nghiệp [FDI] này có thể dời đến một
nơi nào đó ở Trung Quốc, nơi mà giá thành thấp hơn và thị trường nội địa lớn
hơn” [11]. Tại Việt Nam, vốn
FDI cũng đã từng tụt mạnh khi cuộc khủng hoảng Á châu xảy ra năm 1997-1998, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến cán cân thanh toán.
Vốn đầu tư gián tiếp, theo phúc trình của chính phủ, hiện khoảng 8 tỷ USD
[Báo cáo], là nguồn vốn ngắn hạn và dễ biến động. Hiện đang có những lo ngại là
dòng vốn này sẽ chảy ra nước ngoài truớc tình trạng VND đang mất giá. Nhóm
nghiên cứu Merrill Lynch ước tính Ngân hàng Nhà nước sẽ mất khoảng từ 1 đến 2 tỷ
USD dự trữ mỗi tháng [Merrill].
5. Cơ cấu nhập khẩu là một mối quan ngại khác, theo tác giả
Ngọc Minh trên tờ Thanh Niên, khi cho rằng một phần quan trọng của nhập khẩu
được sử dụng vào các dự án công kém hiệu quả và để đáp ứng với tình trạng yếu
kém của ngành sản xuất nguyên liệu và bán thành phẩm cho hàng xuất khẩu [12]. Sự yếu kém của
ngành công nghệ sản xuất phụ kiện và nguyên liệu cho hàng xuất khẩu không những
gia tăng nhập xuất đáng kể mà còn làm suy yếu khả năng cạnh tranh với các nước
trong vùng.
6. Khả năng quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô cũng đã được
nhóm nghiên cứu Merrill Lynch nêu lên: “Việc có phải chính sách vĩ mô đã gây ra
tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam hiện nay hay không là một câu hỏi gây tranh
cãi”. Đây cũng là một trong hai vấn đề quan yếu được nhóm Havard điểm đến khi đề
xuất các biện pháp cải cách nhằm giảm phát và cải thiện hệ thống tài chính:
“Phân tích của bài viết này đã chỉ ra rằng lạm phát ở Việt Nam là kết quả của
những chính sách sai lầm của chính phủ, chủ yếu xuất phát từ sự yếu kém trong
quản lý - điều hành kinh tế vĩ mô và hoạt động đầu tư công kém hiệu quả. Chính
phủ Việt Nam cần phải tái lập sự kiểm soát về các chính sách kinh tế vĩ mô. Để
hoạch định chính sách một cách thích hợp trong bối cảnh môi trường vĩ mô của Việt
Nam đã trở nên hết sức phức tạp đòi hỏi phải có một đội ngũ các chuyên gia
kỹ trị. Có vẻ như trong chính phủ hiện nay đang thiếu các chuyên gia như vậy
một cách trầm trọng, hay giả sử có một nhóm chuyên gia như vậy thì tiếng nói của
họ cũng không đến được tai công chúng cũng như những nơi cần đến.” [LC, Phần 5
VII.4]
Trên một phương diện khác, sự thiếu phối hợp giữa các bộ và giữa các chính
sách biểu lộ những mặt yếu của việc điều hành kinh tế vĩ mô. [Ari] nêu lên
trường hợp khối lượng trái phiếu quốc gia phát hành bởi Bộ Tài chính lớn hơn
đáng kể khi so với khối lượng trên thị trường mở của ngân hàng nhà nước [Ari,
p. 17]. Jonathan ví von nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước (chính sách tiền tệ) nhằm
giảm khối lượng tiền tệ lưu hành như là động tác “đạp phanh”, thì đồng thời
Chính phủ (chính sách tài khóa) lại “đạp ga” (chi tiêu nhiều hơn), khiến lạm
phát càng gia tăng [UN].
7. Biến động về giá cả đã gây xáo trộn không ít cho nền
kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, Jonathan nhấn mạnh “Việt Nam
cần phải nhận thức rằng bên cạnh những vấn đề chung của toàn cầu, cũng tồn tại
những vấn đề rất riêng của Việt Nam và cần được giải quyết tại Việt Nam.” [UN]
Trong hai mặt hàng chịu nhiều biến động nhất là dầu và gạo, thì Việt Nam là nước
sản xuất với sản lượng lớn. Đại sứ Phái đoàn Uỷ ban Châu Âu (EC) tại Việt Nam,
ông Sean Doyle, nhận xét: “Tôi cũng xin lưu ý, Việt Nam là nước xuất khẩu lương
thực chủ chốt” [13]. Nhóm Merrill
Lynch cũng đã nêu lên sự kiện Việt Nam là nước sản xuất dầu, vì thế, khi giá cả
chịu chịu ảnh hưởng của giá dầu gia tăng, thì đồng thời Việt nam cũng được hưởng
lợi nhờ vào giá dầu tăng mạnh. Và nhóm Havard cũng đã lưu ý rằng mức lạm phát của
các quốc gia trong khu vực thấp xa khi so sánh với Việt Nam [LC, Phần 3
IV.4.1].
8. Sau cùng, những nét tương phản về kinh tế vĩ mô của Việt Nam
khi so sánh với các quốc gia trong khu vực, qua sự phân tích của nhóm Merrill
Lynch (xem Phụ lục), có thể giúp làm rõ thêm một số vấn đề của Việt Nam
hôm nay:
- Trong khi cán cân vãng lai của Việt Nam đang bị
thâm hụt lớn, thì tại phần lớn các nước đang phát triển châu Á, cán cân này
đang thặng dư. Điều này sẽ giúp cho các nước trong vùng dễ dàng hơn trong việc
nâng giá đồng nội tệ để chống lạm phát, giảm nhẹ bớt yêu cầu phải tăng cao lãi
suất.
- Vốn ngoại tệ ngoài FDI tại các nước này không lớn như tại
Việt Nam (12,7 % GDP), do đó thuận lợi hơn trong việc điều hành chính sách tiền
tệ, và mức rủi ro của luồng vốn này chảy ra nước ngoài đột xuất cũng thấp hơn.
- Những lợi thế quan trọng khác sẽ giúp cho các quốc gia trong
khu vực dễ dàng hơn trong việc duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô: nguồn dự trữ
ngoại hối cao hơn, nợ nước ngoài thấp hơn, và ngân sách quốc gia cân đối hơn.
Những nỗ lực của Việt Nam hiện đang tập trung trên hai vấn đề trọng điểm - giảm
lạm phát và giảm thâm hụt thương mại - với các biện pháp tăng lãi suất, tiết giảm
dòng chảy tín dụng, thắt chặt đầu tư công, nhà đất, và gần đây nhất là tăng tỷ
giá hối đoái (giảm giá VND). Những biện pháp này có thể tạm thời hạ nhiệt cơn sốt
lạm phát, nhưng để nền tài chính được thực sự khoẻ mạnh, đủ sức đương đầu với cạnh
tranh và những biến chuyển của thời kỳ kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập,
thì căn bệnh kinh tế Việt Nam ắt phải cần liều thuốc mạnh, trị tận gốc rễ những
tồn đọng đã lâu năm, là những vấn đề mang tính cơ cấu, và những vấn đề vượt ra
ngoài phạm vi chuyên môn.
Theo [Ari], những công cụ tài chính áp đặt định lượng và can thiệp trực tiếp
vào thị trường tài chính, ngoại thương và hối đoái đã từng giúp nền kinh tế Việt
Nam vượt qua những biến động và duy trì được mức phát triển khá cao trong những
thập niên trước đây, thì nay không những chỉ có tác dụng giới hạn, mà còn kìm
hãm tính năng động và cạnh tranh của nền kinh tế, và khiến hệ thống ngân hàng
không phát triển được khả năng ứng phó với các rủi ro và biến động của thời kỳ
toàn cầu hóa và khi thị trường tài chính đang trên tiến trình tự do hóa.
Đồng quan điểm với [Ari], Jonathan Pincus cho rằng Việt Nam “cần phải tái cơ cấu
(hệ thống tài chính), vì nó đã được thành hình trong một hệ thống kinh tế
khác... Mô hình kinh tế hiện đại hôm nay cần một ngân hàng trung ương hiện đại,
có khả năng ứng phó kịp thời và hiệu quả với những biến động trên thế giới có ảnh
hưởng đến Việt Nam.” Jonathan Pincus khuyến nghị: “Nên tăng tính đầu tư
hơn tính chính trị đối với các dự án vĩ mô mà suất sinh lời hiện rất thấp”,
vì rằng “có một nghịch lý tồn tại từ năm 2005 đến nay, là gần như Việt Nam cho
vay chủ yếu theo diện chính sách chứ không cho vay vì lãi suất, vì
thương mại.” [UN]
Quy mô của khu vực kinh tế nhà nước và hoạt động thiếu độc lập của các định chế
tài chính không những đã làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, do
tình trạng đầu tư công thiếu minh bạch, kém hiệu quả, và những khoản nợ xấu to
lớn, mà còn khiến hệ thống tài chính trở nên xơ cứng và yếu kém; trong khi đó,
năng lực cạnh tranh và khả năng điều hành kinh tế vĩ mô là những nhân tố thiết
yếu cho sự phát triển bền vững, khi nền kinh tế ngày càng trở nên phức tạp
trong bối cảnh của thời kỳ hội nhập.
Song, cải cách đầu tư công và hệ thống tài chính nhằm nâng cao tính minh bạch
và hiệu quả lại là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cực kỳ khó khăn, vì rằng cả
quy mô của đầu tư công lẫn tình trạng kém minh bạch và thiếu kiểm soát chặt chẽ
chính là đầu mối của nguồn lợi lộc kếch xù mà các nhóm đặc quyền đặc lợi, rất
có thế lực trong guồng máy nhà nước, đang thụ đắc. Các nỗ lực cải cách của WB
và IMF, thông qua “Chương trình Hành động” nhằm tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp
nhà nước từ năm 1995, theo [Ari], đã không mấy thành công [Ari, p. 10].
Và trong khi những thách thức của thời kỳ hội nhập ngày càng phức tạp và khó
khăn, thì sự thành bại của công cuộc cải cách sẽ không chỉ là những thay đổi hạn
hẹp ở lĩnh vực chuyên môn, mà chủ yếu là ở thực tâm và quyết tâm của các nhà
lãnh đạo Việt Nam, như nhóm Havard đã nhấn mạnh trong tài liệu Lựa chọn
Thành công: “Rõ ràng là rào cản lớn nhất trên con đường phát triển của Việt Nam
và các nước Đông Nam Á không phải là những khó khăn mang tính kỹ thuật, mà là
quyết tâm chính trị.” Đó là “quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đoạn tuyệt với sức
trì kéo của nguyên trạng”, “quyết tâm chống lại những lực lượng phản đối cải
cách”, “là ý chí thực hiện cho bằng được những quyết sách tuy khó khăn về mặt
chính trị, nhưng có lợi cho quốc kế dân sinh - chất xúc tác cần thiết cho cải
cách ở Việt Nam.” [LC, Phần 5 VI]
Chú thích:
[1] Andrew Symon, “Inflation
tests Vietnam’s growth”, Asia Times.
[2] Kiều Oanh, “Fitch Ratings hạ triển vọng định mức tín nhiệm của Việt Nam”
và Mai Phương, “S&P hạ triển vọng định mức tín nhiệm của Việt Nam”, Thời
báo Kinh tế Việt Nam.
[3] Ari Kokko,
Kerstin Mitlid and Arvid Wallgren, “Internationalization
and macroeconomic management in Vietnam: Some lessons from Swedish experiences”,
S-WoPEc (Scandinavian Working Paper in Economics); ký hiệu nguồn: [Ari].
[4] Nguồn trích dẫn
được tham chiếu từ tài liệu Lựa
chọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam,
Nhóm chuyên gia Đại học Harvard, www.diendan.org; ký hiệu nguồn: [LC].
[5] Xuân Thái, “Khuyến nghị chống lạm phát của UNDP”, Thời báo Kinh tế Việt
Nam, và “UNDP economist urges Vietnam to reduce inflation to single
digit”, English.VietNamNet.vn; ký hiệu nguồn: [UN].
[6] Nguồn trích dẫn
được tham chiếu từ tài liệu “Chúng tôi đủ khả năng giữ ổn định VND” của Nguyễn Hoài, Thời
báo Kinh tế Việt Nam (ghi lại cuộc trao đổi giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và
Kinh tế gia trưởng của Tập đoàn JP Morgan Chase, ông David Fernandez, ngày
5/6/2008; một số ý kiến của Thủ tướng Dũng trong cuộc trao đổi này đã được phản
ánh trong bản Báo cáo của Chính phủ Việt Nam tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII); ký
hiệu nguồn: [Báo cáo].
[7] Nguồn trích dẫn
được tham chiếu từ tài liệu “Vietnam: anatomy of an inflation shock”, đăng trong tuần
san The Asian Macro Weekly do Merrill Lynch & Co. bảo trợ; ký hiệu nguồn
[Merrill].
[8] “Gần
8 tỷ USD vốn ngoại rót vào bất động sản”, FastMoney.vn
[9] Ngọc Minh, “Thâm hụt thương mại không thể coi thường!”,
ThanhNien.com.vn
[10] Mạnh Chung,
Hương Loan, “EU vẫn lạc quan về kinh tế Việt Nam”, Thời báo Kinh tế Việt
Nam.
[11] “Những con hổ bặt tiếng gầm”, The Economist, bản dịch tiếng
Việt của Nguyễn Gia Thưởng đăng trên ThongLuan.org
[12] Ngọc Minh, “Thâm hụt thương mại không thể coi thường!”,
ThanhNien.com.vn
[13] Mạnh Chung,
Hương Loan, “EU vẫn lạc quan về kinh tế Việt Nam”, Thời báo Kinh tế Việt
Nam.
Phụ lục. Biểu đồ các chỉ dấu kinh tế Việt Nam trong tương
quan với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. (Nguồn: Merrill Lynch & Co., CEIC Data, IMF)
1. Lạm phát (độ tăng tỷ đối của chỉ số giá tiêu dùng tính ra % của
năm sau so với năm trước): Trên đồ thị là biến thiên của 3 mã chỉ số – độ tăng
giá sau mỗi năm (%YoY) của hàng thực phẩm (food), hàng phi thực phẩm (nonfood)
và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).2. Tỷ giá hối đoái VND/USD:3. Tín dụng: Dòng chảy tín dụng dâng lên đột biến
trong năm 2007.4. Cán cân ngân sách (% của GDP):5. Các số liệu vĩ mô quan trọng: Cán cân thanh toán
(balance of payment, tỷ USD) - bao gồm cán cân vãng lai (current account
balance) và cán cân vốn (capital account balance: FDI và những luồng vốn khác
như ODA, vốn vay, dự trữ ngoại hối, chứng khoán) - giảm từ 8,2 tỷ USD năm 2007
xuống còn 700 triệu USD vào tháng 5/2008 (theo báo cáo của Chính phủ Việt Nam).6. Cán cân vãng lai (% của GDP):7. Nợ nước ngoài (% của GDP):8. Dự trữ ngoại tệ (% của nợ ngắn hạn nước ngoài):
3/6/2008
Trần Bình










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét