Các nhà Nho, thầy đồ xưa đều
có “nghề” viết câu đối. Nguyễn Khuyến, Tú Xương, cả bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân
Hương... đều tỏ ra rất thú vị khi sáng tác câu đối về đề tài xuân tết, hoặc tiệc
lễ của gia đình, đám tiệc… để chúc mừng, chia vui, an ủi động viên, hoặc châm
biếm, phê phán... Có câu đố chữ Hán, chữ Nôm, hoặc nửa chữ Hán, nửa chữ Nôm. Về
thể loại có câu đối theo thể thơ dân tộc, câu đối phú, hay câu đối Đường luật.
Câu đối theo thể thơ Đường mỗi vế có 5, 7 chữ, viết theo niêm luật thơ Đường.
Câu đối phú nhiều chữ hơn, viết theo lối văn biền ngẫu.
Với truyền thống yêu chuộng
thư pháp, từ xưa người Việt đã có thói quen xin chữ, treo đôi câu đối trong nhà
vào mỗi dịp đón tết cổ truyền. Đó cũng chính là một trong những thú chơi xuân
tao nhã, một biểu hiện của đời sống văn hoá không thể thiếu, xuất phát từ sự
ngưỡng mộ cái đẹp, tôn trọng chất tinh tế, thâm thuý và hóm hỉnh của thú chơi
chữ từ những chữ nghĩa của văn chương, thơ phú tiếng Việt.
Cụ Tam nguyên Yên Đổ hẳn đã
quá bận rộn vào những ngày giáp Tết khi phải viết câu đối cho bà con, làng xóm.
Gửi trong câu đối đâu chỉ cái tài dụng ngôn từ, hoa tay viết chữ rồng bay phượng
múa, mà còn cả cái tình, tấm lòng của cụ đối với làng quê, mỗi con người. Tương
truyền trước cụ Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương khi còn là cô học trò búi tóc đuôi
gà đã thể hiện khẩu khí, tài chơi chữ ngay khi vô ý bị trượt ngã, trước tiếng
cười trêu chọc của bọn học trò trai:
Giơ tay với thử trời cao thấp
Tài ứng khẩu câu đối thời
con gái của Hồ Xuân Hương như đã dự báo trước một cá tính độc đáo, một phong
cách đặc biệt của con người này. Và con người ấy khi trưởng thành, qua bao sóng
gió cuộc đời, cảm cho thân phận mình và giới nữ đã làm thơ thách thức đối với một
trật tự đẳng cấp phong kiến nghìn đời. Cá tính ấy đâu phải ngẫu nhiên, đấy là
tiếng vang dội của một cao trào nông dân khởi nghĩa thế kỷ XVII, XVIII; là tiếng
nói đanh thép, dõng dạc của quần chúng hùng mạnh, quyết liệt; đồng thời cũng là
sự thể hiện nỗi ấm ách, bực bội không giải toả được của cá nhân, của nữ giới -
những con người tài hoa, giàu sức sống, khao khát tự do và tình yêu chân thật lại
gặp bất hạnh. Thơ Hồ Xuân Hương pha lẫn tiếng cười ngạo mạn, ngang tàng, thoải
mái với những giọt nước mắt và tiếng thở dài của một tâm trạng đầy mâu thuẫn...
một bản lĩnh dám chọi lại cả một xã hội đầy thành kiến hủ bại, thậm chí thách
thức với cả vũ trụ càn khôn (Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/ Lại đây cho chị
dạy làm thơ...; Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
!...) Đồng thời là một tâm sự cô đơn, chơi vơi có lúc muốn nhắm mắt xuôi
tay, đến hương xuân cũng tẻ nhạt chán chường, bởi tình xuân lai láng, mà tình đời
lại hụt hẩng, tạm bợ, mong manh (Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến/ Dong lèo thây
kẻ rắp xuôi dòng; Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con
con...) Nhưng có lúc lại là một tấm lòng son tươi rói trẻ trung, đầy ắp
xuân tình, xuân sắc (Chơi xuân kẻo nữa xuân đihết... ; Đôi lứa như in tờ giấy
trắng/ Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh; Êm ái chiều xuân tới khán đài/ lâng
lâng chẳng chút bợn trần ai; Chơi xuân đã biết xuân chăng tá?...). Xem cái
cách Hồ Xuân Hương phóng bút tài hoa, trào lộng viết câu đối tết càng ngưỡng mộ
danh xưng Bà chúa thơ Nôm, càng hiểu vì sao lại có những vần thơ nổi loạn,
ngông nghênh, oái oăm, ngang ngược:
Tối ba mươi, khép cửa càn
khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới.
Sáng mồng một, lỏng then tạo
hoá, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào.
Câu đối trên xuất phát từ tục
vẽ cung bắn quỷ. Những ngày trước tết, ở nhiều làng Bắc bộ, ngoài tục dựng cây
nêu, người ta còn vẽ những hình cánh cung bằng vôi ở sân hoặc ngoài cổng để bắn,
đuổi xua ma quỷ. Ma vương đối lập với thiếu nữ trong câu đối
của Hồ Xuân Hương tất nhiên còn có nghĩa khác. Chính sự trào lộng, sự ẩn ý tinh
nghịch ấy đã làm nên phong cách độc đáo cho thơ Hồ Xuân Hương. Nhưng đâu chỉ là
sự mỉa mai châm chọc, sáng tác vào dịp xuân, nữ sĩ dùng răn đời cũng là tự răn
mình, qua đây còn biểu hiện sự hiểu biết về phong tục, tập quán nhiều nơi trên
đất nước.
Hồ Xuân Hương đã mượn cái cười
để đánh cho đau vào cái xã hội mà trái tim và cuộc đời bà đã bị guồng máy oan
nghiệt của nó nghiến nát, như câu tục ngữ: khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt. So
sánh với cái cười của hài kịch Moliere, thế kỉ XVII ở Pháp, càng thấm thía hơn
chất thơ máu và nước mắt khuất sau cái áo khoác của câu đố, của thơ trào phúng
Hồ Xuân Hương, như nhà thơ Pháp Alfred de Musset ở thế kỉ XIX đã viết:
Cái vui cười mạnh chắc rất
buồn và rất sâu
Đến nỗi mới cười xong ta thấy
cần phải khóc.
Hồ Xuân Hương đã nói một
cách trần trụi, chân thực với tất cả sự sâu sắc của xúc cảm, sự mạnh mẽ của ý
thức phản kháng, gắn chặt đời mình cùng số phận chị em phụ nữ trong xã hội cũ.
Cái tài ngôn ngữ, văn chương thơ phú giúp khẳng định thêm bản lĩnh, khí phách,
tâm hồn bà. Xem cái cách ra câu đối không giống ai của Xuân Hương, rồi cái cách
dùng toàn vị thuốc bắc an ủi bà lang khóc chồng, ta càng trân trọng tài và tình
gửi gắm qua thơ Xuân Hương:
Văng vẳng tai nghe tiếng
khóc gì
Thương chồng nên nổi khóc tì
ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam
thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại!
Quy thân liên nhục tẩm mang
đi!
Đằng sau cái giọng trêu cợt,
bông đùa, ta nhận sự cảm thông sâu sắc của nữ sĩ cho cảnh goá bụa, như kiểu nói
tinh tế của ca dao: Gió đưa hoa cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng
cay. Hơn thế, Hồ Xuân Hương còn khuyên chị em đừng mãi gục đầu khóc than,
tỉ tê mà thẹn:
Văng vẳng tai nghe tiếng
khóc chồng
Đáo để, tài hoa, mà đầy ứ hồn
dân gian, cảm quan nghệ thuật của Hồ Xuân Hương nghiêng hẳn về phía người bình
dân, khác hầu hết các danh sĩ đương thời. Chữ nghĩa của bà sống động như cuộc sống
hằng ngày, nó biến hoá khôn lường bởi tất cả sự éo le, kì lạ, hiểm hóc của trò
đố chữ dân gian.
Nữ thi sĩ Nga Blaga
Đimitrôva trân trọng dịch và giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương qua tuyển tập Thơ
Hồ Xuân Hương và tuyển tập Thơ Việt Nam xuất bản ở Liên Xô,
Bungari năm 1973. Chị viết về Hồ Xuân Hương: Là một trong những hiện tượng
độc đáo nhất không chỉ ở Việt Nam mà ở trong toàn bộ cái nguồn thơ mà tôi đã được
biết của nền thơ thế giới qua tất cả các thời đại. Đó là nữ sĩ với cái tên
hương mùa xuân. Khi tôi truyền đạt cái độc đáo trong thơ Việt Nam, thì bạn bè của
tôi đã dừng lại trước cái tên này với một sự ngạc nhiên cao độ. (Theo Xuân
Diệu: Bình luận các nhà thơ Cổ điển Việt Nam). Nhận định của nữ thi sĩ đã
nói hộ chúng ta lời kết khi tìm hiểu đôi câu đối và những dòng thơ xuân của Hồ
Xuân Hương.
Mùa xuân và sự cảm nhận bao
hương tình, hương sắc thanh xuân trong thơ xuân mà bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân
Hương đã lưu lại, ban tặng cho đời.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Văn hoá văn nghệ Trung
ương.Văn hoá Việt Nam (tổng hợp 1989-1995. Bài Câu đối Việt Nam). Hà
Nội 1989.
- Xuân Diệu. Bình luận các
nhà thơ cổ điển VNam. NXB Trẻ 2001.
Huỳnh Diệu





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét