Đời sống xã hội càng văn
minh bao nhiêu, nỗi bất an của cuộc mưu sinh nặng nhọc ngày càng tăng, đời sống
tâm hồn càng công thức, xơ cứng bao nhiêu, thì một trong những khao khát thẳm
sâu của con người là tìm tới một nơi chốn trở về, mong tìm đến sự cân bằng,
bình an, như một sự giải thoát trong tâm hồn. Vì vậy, trở về với cái tự nhiên của
con người, và thể hiện những khát vọng ấy qua một điểm nhìn đặc biệt: cái nhìn
đồng thoại về thế giới, là một trong những nội dung của thơ ca hiện nay.
Cái nhìn đồng thoại là cách
nhìn thế giới bằng con mắt trẻ thơ để trình bày một quan niệm độc đáo về thế giới
và con người với một tấm lòng thành thực nhất. Có thể coi đây như là một kiểu tư
duy thơ hiện đại: dùng cái khởi nguyên để làm thước đo vạn vật.
Đó là cái nhìn thế giới một
cách tự nhiên, tươi tắn, ngỡ ngàng, nồng nhiệt như cái nhìn trẻ thơ với thiên hướng
tìm về một thiên đường đã mất nhưng vẫn sống mãi trong tiềm thức tuổi thơ, một
tuổi thơ của tất cả mọi người. Người ta vẫn nói: Thi ca là giấc mơ về tuổi thơ
của nhân loại, có lẽ một phần vì lí do đó.
Hiện tượng này không hiếm
trong nghệ thuật thế giới: tranh của M. Chagall, tranh H. Rousseau, thơ
Êxênhin, thơ Cố Thành, văn xuôi của J. R. Jimenez. Người ta nhận xét về tranh của
M. Chagall (họa sĩ Nga): “Nhờ cái nhìn đặc biệt về cuộc sống, tình cảm chân
thành sâu sắc, với những cảm xúc tinh khiết và huyền ảo mang đầy phong vị cổ
tích, nghệ thuật của Chagall mãi mãi thuộc về nhân loại” (1). Picasso cũng nói
về Chagall: “Hẳn là có những thiên thần trong đầu họa sĩ Chagall” (2). Đó là những
bức tranh vẽ ông già đang khăn gói đi trên nền trời, đôi vợ chồng hạnh phúc bay
lơ lửng giữa không trung, những bông hoa trong vườn to tướng và đỏ rực… Bên cạnh
đó là tranh của H. Rousseau (họa sĩ Pháp), người đã tạo nên trường phái hội họa
Ngây thơ (Naif) ở Pháp. Trong tranh của H. Rousseau, toàn bộ thế giới không được
vẽ theo nguyên tắc tả thực mà theo nguyên tắc ngây thơ hóa. Tranh vẽ thành phố
thì “con tàu như gấp bằng giấy, những ngôi nhà mái đỏ nhấp nhô, mùa thu vàng đẹp
đến nao lòng” (3). Vẽ rừng thì “cảnh tượng huyền bí mênh mông, một chất thơ bí ẩn,
cái đẹp hoang sơ mộng mị” (4). Đặc biệt, trong tranh của cả Sagall và Rousseau,
những ước mơ bình dị của con người hiện lên vừa trần tục vừa thuần khiết như
trong cõi thần tiên, truyện cổ tích vậy.
Còn ở Trung Quốc, “Cố Thành
nổi tiếng là nhà thơ mông lung, thơ anh là một thế giới đồng thoại, thế giới đồng
thoại trong thơ anh được xây đắp bởi những giấc mộng, ánh mắt trẻ thơ, thiên
nhiên thuần khiết, thanh âm tươi non và màu sắc sáng chói. Anh xem đấy là nơi
ngụ cư của cái đẹp. Thơ anh thức tỉnh hồi ức và tiềm thức tuổi thơ, một tuổi thơ
không thuộc về cá nhân riêng lẻ nào mà thuộc về nhân loại” (5). Anh nổi tiếng với
những câu thơ như: Dịu dàng một trận gió, Trộm mất mái chèo của ta, Nước hồ xanh
thẳm, Lấp lánh cười đùa, Có lẽ trận mưa mùa hạ, Làm hồ chứa nước mênh mang,
Trên ngọn liễu thấp thoáng. Khuynh hướng này là sự hoàn nguyên hoàn toàn và ẩn
đằng sau nó một cái nhìn mang tính triết lí và sự tồn tại của những chủ đề vĩnh
cửu: con người tự nhiên.
Trong thơ, đó là một thế giới
trong trẻo, nguyên sơ, thanh khiết như thời khởi nguyên của nó. Các tác giả đều
viết về một làng quê riêng của mình, nhưng không gian, thời gian của làng quê ấy
đều đã được đẩy vào những chiều kích khác thường của một thiên đường đã mất. ở
đó, con người hòa mình vào một thiên nhiên tinh khiết, chưa có sự can thiệp của
đời sống công nghiệp, chưa có sự hủy diệt và tan rã. Tất cả còn nguyên vẹn, đơn
sơ, lắng đọng kì lạ…Trăng, sao, cây, lá đều thuần khiết, trong sáng, tự nhiên: mùa
xuân chưa có mưa phùn, cánh hoa chưa biết sương và cành lá chưa biết mưa… (Nguyễn
Quyến), ngày chưa mở- lời chưa ngỏ -gió mây chưa về quần tụ (Nguyễn
Bình Phương). Các tính từ tuyệt đối được sử dụng nhiều: hồ nước trong vắt,
ý nghĩ trong vắt, ánh sáng quá trong, lá mơn mởn… Con người sống thân thiết êm
đềm, hòa mình vào thiên nhiên, cảm nhận được sự trinh nguyên của thiên nhiên ngấm
vào mình:
Những xôn xao lùa qua hơi ẩm
Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương
Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm
Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng
Ơi… ơi… ơi, những con đường thân thuộc
Như những ngón tay người yêu lùa mãi vào chân tóc
Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích
Tôi lách mình qua khe cửa, ơi… ơi (Ban mai- Nguyễn Quang Thiều)
Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương
Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm
Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng
Ơi… ơi… ơi, những con đường thân thuộc
Như những ngón tay người yêu lùa mãi vào chân tóc
Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích
Tôi lách mình qua khe cửa, ơi… ơi (Ban mai- Nguyễn Quang Thiều)
Thiên nhiên ấy vừa yên ả,
thanh bình, vừa xa xăm huyền hoặc. Không có những biến cố lớn, chỉ có: chiều
dịu dàng, những ngọn ban mai mơn mởn rướn mình (Nguyễn Quyến). Có thể cảm
nhận được mùi bùn ngai ngái, làn khói xanh âm ẩm dịu dàng (Ngân Hoa), Trăng
cào ổ lá, Vàng ổi đường thơm; Mùa núm áo đơm bông, Con bướm vàng dạm ngõ; Hỏi
thu qua bao cuống lá sen vàng, Lá sen nghiêng như mặt người quay lại; Sông trời
sao trắng hoa cau (Bằng Vũ). Thiên nhiên ấy thật lộng lẫy, kì ảo, tươi thắm,
đầy màu sắc và hương thơm với những hình ảnh tươi non, rực rỡ, sống động. Mùi hương
tràn ngập với hương hoa bưởi, hoa táo, hoa thiên lí, hương cỏ… Màu sắc thiên về
những màu tươi sáng, rực rỡ của tuổi trẻ:rơm vàng, bông cải cúc vàng, tóc hoe
vàng, bãi ngô xanh, quả đồi xanh, tiếng chuông xanh, ngày xanh, cơm mưa buổi
chiều vàng… Những tính từ cảm giác xuất hiện dày đặc:tim tím, lăng lắc, ngai
ngái, lấp lóa, âm âm, dìu dịu, thiêm thiếp, heo heo xanh, mênh mang ánh sáng (Dương
Kiều Minh), nhỏ nhoi, chập chững, dịu dàng, đo đỏ, rôn rốt, chun chít,
ngai ngái (Ngân Hoa). Hầu như toàn tính từ giảm nhẹ, thế giới được miêu tả
đầy chất biểu cảm, thân thiện và hiền hòa.
Tất cả thế giới này đều là
thế giới trong hoài niệm nên hết sức rực rỡ, đầy ánh sáng. ở đó có bức tường
ánh sáng, có ánh sáng nồng nàn trong trẻo bao la với trăng sao, chớp, đom đóm (Dương
Kiều Minh). Thiên nhiên gần gũi nhưng vẫn lung linh huyền ảo. Gần gũi bởi có những
hình ảnh quen thuộc của làng quê gắn với tuổi ấu thơ : đồng lúa, bụi hoa dại,
vòm hoa, con đường hoa vối, giọt sương, đôi bướm, ngồng cải, cỏ may, bãi ngô,
cây rơm(Dương Kiều Minh), bẹ ngô trắng, bãi cát, búp lá non, gốc rạ, đám
rêu, sương đêm(Nguyễn Quang Thiều)… Nhưng thế giới đó lại đậm màu cổ tích bởi sự
diệu kì của nó vớibông súng thần tiên, khu vườn cổ tích, cánh bướm cổ tích (Nguyễn
Quang Thiều), có vòm hoa rực rỡ, bức rèm hoa lấp lánh mơ vàng, tiếng sáo
phiêu bồng (Dương Kiều Minh). Thời gian cũng bàng bạc diệu vợi, cỏ dịu
dàng, trăng nhòa nhạt.
Thế giới ấy còn đậm vẻ
thiêng liêng thành kính, cao khiết bởi có bóng đền đài uy nghiêm, chùa chiền,
chuông thánh đường, buổi cầu kinh… Một vùng quê cụ thể đã được thăng hoa trong
một cõi không gian khác, vừa tươi non đắm say, vừa thâm trầm cổ kính, như từ chốn
thanh hư hiện về: Làng tôi tháng ba, Tiếng chuông ngân thành vệt sương mờ,
Tháng ba, cánh đào rơi bậu cửa, Nghe tiếng chuông ngân, Hóa vết son mờ (Bằng
Vũ).
Vẽ nên thế giới thiên nhiên
trong sáng và tinh khiết này, các tác giả như muốn nói về chính bản chất của cuộc
sống: cuộc sống là không điều kiện, là vĩnh cửu và tuyệt đối, là yếu tố thần diệu
có mặt khắp nơi. Cảnh vật tỏa ra sự tươi mát và sức sống trường tồn.
2. Khát vọng hòa nhập vào
thiên nhiên
Có hai con người trong thế
giới đồng thoại. Tuổi ấu thơ là những cô bé cậu bé có tâm hồn nhạy cảm ham khám
phá, giàu mơ ước và có tuổi thơ trong lành. Họ non tơ, trinh trắng như một
thiên sứ, bằng đôi mắt hồn nhiên, mơ mộng, ngơ ngác, bắt đầu cảm nhận, khám phá
thế giới, cội nguồn cái đẹp. Cái gì cũng như mới tinh, gặp gỡ lần đầu nên đều
thanh sạch tinh khiết tuyệt đối. Sau này, dù đã lớn và trải nghiệm nhiều đắng
cay, mất mát, song chất nhạy cảm, mơ mộng trong tâm hồn vẫn không mất đi, họ vẫn
giữ đôi mắt hồn nhiên, thanh khiết khi nhìn về một thế giới thiên nhiên hiền
hòa, êm dịu, như nơi chốn trở về, như bến lặng của tâm hồn, sau bao nhiêu chen
chúc, bộn bề của đời thường.
Vì vậy, khát vọng trở lại cội
nguồn, tìm về sự hồn nhiên trong trắng không ràng buộc là một chủ đề lớn trong
dòng thơ này.
Trở về với cội nguồn, với
thiên nhiên là trở về với những giá trị vĩnh cửu để xa rời cuộc sống ồn ào, vội
vã của nền văn minh hiện đại, là sự kiếm tìm trạng thái bình yên, đối lập trạng
thái bất an, khiếp sợ trước cái hỗn loạn của xã hội công nghiệp. Với tư cách là
con người xã hội, con người phải tuân thủ theo những nguyên tắc luật lệ xã hội,
có khi công thức, xơ cứng. Xã hội càng phát triển, sống giữa những tiện nghi vật
chất, con người có lúc lại cảm thấy bất an, thì việc trở về với cội nguồn như
tìm về sự cân bằng tâm lí.
Thơ thể hiện con người tự
nhiên như tư tưởng trở về với thiên nhiên của Rousseau, Wordsworth, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm từ hàng trăm năm trước. Đây chính là một trạng thái hồi
cố mang tính phổ quát.
Trở về cội nguồn là cuộc trở
về vĩnh cửu. ở đó, mơ và thực là một, hiện tại và quá khứ đồng nhất, con người
tồn tại một cách tiên thiên đâu đó, trong cõi siêu nghiệm vĩnh cửu. Trước hết,
đó là cuộc trở về với tuổi thơ của chính mình, về nơi chôn rau cắt rốn của
mình, để tìm lại chính mình thưở non tơ, ngây dại, hồn nhiên.
Thưở đó, tuổi thơ của họ sống
trong cánh đồng mẹ đẹp như chiếc nôi màu thiên thanh(Dương Kiều Minh),
trong những khu vườn mang dấu ấn làng quê ngàn năm sương khói. Trở về nguồn với
Nguyễn Quang Thiều là tìm về sự hồn nhiên trong trắng của căn nhà có cậu bé lên
mười với bầy cá bơi bằng đôi cánh đỏ, những đám mây màu vàng khổng lồ, những
ngôi sao đang mọc, mọc cả những ngôi sao mù trong im lặng kim cương… Cậu bé có
một niềm tin mãnh liệt: Ta tin có một mụ phù thủy biến ta thành một chú bê.
Đó là cuộc trở về không mệt mỏi với những câu chuyện cổ tích làm nên sự phong
phú tâm hồn của con người đã từng có một tuổi thơ đầy ấn tượng đẹp. Điều này ta
càng thấy rõ trong một loạt bàiThư Thăng long của anh trên Vietnam.net những
năm gần đây.
Với Nguyễn Quyến, khát vọng
về nguồn là tìm đến với bản chất thiên nhiên hoang sơ nhưng đầy nhân tính, bụi
bặm mà thanh khiết của con người. Thế giới tuổi thơ đồng nhất với vườn địa đàng
– khu vườn tuổi thơ. Nơi đó, chuồn chuồn vẫn bay không thấp không cao, cỏ
vẫn ra hoa không mùa không vụ, lá vẫn rơi không khoan không nhặt, và dòng sông
không đục không trong. Đó là nơi hòa đồng tuyệt đối với thiên nhiên: Bàn
tay con giấu trong nải chuối non, hai tai con giấu trong đám mộc nhĩ, ánh mắt
con giấu trong đám lựu nửa đỏ nửa xanh, trong vườn nhà (Nguyễn Quyến).
Với Ngân Hoa, đó là những đứa
trẻ cảm nhận sự nồng nàn của đất đai qua cảm giác của bàn chân trần trên vạt cỏ: Chúng
đi tìm những lưỡi cày mang dáng vầng trăng; Con mang theo trong vạt áo của mình
đôi mắt trái na xanh, Đầu tháng bảy ngập ngừng trong tán lá…
Với Bằng Vũ, đó là những trò
chơi thưở nhỏ: ô ăn quan, bịt mắt bắt dê, đánh chuyền đánh chắt, rồng rắn lên
mây, mặt nạ trung thu… Những trò chơi này có lẽ chỉ còn trong kí ức, nhưng nó
luôn hiện về theo mỗi bước chân anh khi trở lại chốn quê mình.
Không ít nhà thơ đã viết về
làng quê của mình. Nhưng miêu tả làng quê ấy dưới nhãn quan đồng thoại, tức một
làng quê đẹp như trong cổ tích với cái nhìn trong sáng, trẻ thơ thì không nhiều.
Nhiều nhà thơ, khi ở tuổi thấm đòn của văn minh thành thị, đã luôn hoài niệm,
thương nhớ về tuổi thơ vụng dại, khát khao và trong trẻo không bao giờ trở lại,
nhưng cũng chính vì thế mà giấc mơ ấy lại càng chói sáng, quyến rũ hơn bao giờ
hết: Thơ ấu chạy trên cánh đồng tím nhạt, Giữa nước nôi giữa bờ cỏ dầm sương,Vụng
dại khát khao và trong trẻo (Dương Kiều Minh), Nhớ đồng quê cá quẫy
chiêm bao; Ta ngọn cỏ bên nhau nơi đồng cỏ, Tuổi thơ xanh ngút ngát chân trời (Bằng
Vũ). Thế giới được nhìn qua con mắt hoài niệm nên hai lần đẹp: Một lần được
khúc xạ qua lăng kính tuổi thơ, một lần qua hoài niệm nuối tiếc. Thời gian thường
nhòa đi, quá khứ và hiện tại xen lẫn nhờ sự đột ngột xuất hiện của những kỉ niệm.
Vì vậy, những hình ảnh thân thuộc bỗng trở nên lung linh kì ảo:khu vườn cổ
tích, bông súng thần tiên, lưỡi cày mang dáng vầng trăng, chiếc cốc trong veo,
đôi môi màu dâu chín, cơn mưa buổi chiều vàng (Ngân Hoa).
Có lẽ, một thế giới đẹp như
vậy cũng chỉ là thế giới trong mơ, trong hoài niệm. Nhà thơ Cố Thành (Trung Quốc)
cũng vậy, anh đã vẽ nên một thế giới như mình mong muốn: đôi mắt mãi mãi không
biết rơi nước mắt, tình yêu không biết đến khổ đau, ban mai và những giọt sương
biết cười… Vậy nên, thế giới đẹp như trong cổ tích đó hay mơ ước về cội nguồn
vĩnh viễn là chỉ là những giấc mơ: Thơm giấc mơ xưa (Bằng Vũ).
Gắn chặt với thế giới tiềm
thức ấy là hình ảnh cố hương như những ám ảnh không nguôi: Cố hương ấy tụ vào
và tan ra. Cố hương ấy là sự ra đi và cuộc trở về: Xa hơn nữa một mùa thu
thắm đỏ, Con rắn nâu trườn qua lớp lá vàng cong, Xa hơn nữa tôi khóc cùng mùa hạ,
Khi có một tôi đâu đó quanh vườn (Nguyễn Quang Thiều)… Hình ảnh khu vườn mẹ,
nơi che chở và lưu giữ kí ức tuổi thơ: cây rơm vàng, làn khói dịu dàng,
chiều thắm, hoa dong riềng tím đỏ, hàng thủy lan, cào cào châu chấu (Ngân Hoa).
Khu vườn mẹ đẹp như giấc mơ này ta đã từng thấy trong thơ Exênhin- hoàng hôn
màu đỏ, vòm hoa trắng xóa mảnh vườn xuân, hoa mùa hè tỏa ngát hương; trong văn
của Juan Ramon Jimenez (Tây Ban Nha) với khung cảnh thanh bình yên ả và nguyên
sơ tựa như chỉ có trong giấc mơ con người: Một đám mây đen lớn, giống như
con gà mái khổng lồ đẻ trứng vàng, đẻ ra một vầng trăng trên đồi, làng mạc cô tịnh
với cây và bóng cây, chỉ nghe toàn ca khúc của dế và tiếng dạ đêm của những con
nước ngầm, những cánh đồng trồng đậu. ở đó có những bầy ong vàng cánh đen lách
tách trong khóm nho (Con lừa và tôi- J.R.Jimenez). Một thế giới trong
lành, hiền hòa và sạch sẽ.
Trong sự trở về này, con người
luôn hòa nhập với thiên nhiên, lắng nghe những tiếng nói sâu thẳm của thiên
nhiên với niềm tin thiêng liêng: vạn vật hữu linh. Con người tìm ở đó không chỉ
chính mình mà còn cả những giá trị tinh thần làm nên chính thế giới tinh thần họ.
Chỉ có trong đối sánh, hòa
nhập với thiên nhiên, con người mới trở lại bản chất hồn nhiên trong nhân cách
chính mình. Thiên nhiên đẹp như thực như mơ ấy, những giá trị vĩnh cửu thân
quen và sự trẻ trung và tinh khôi của nó để lại dấu ấn vĩnh cửu về tâm hồn
nguyên sơ, bản thiện.
Đó là cảm giác tìm thấy mình
trong tự nhiên. Con người vô tư diễn tả những cảm giác tự nhiên, buông thả mình
trong thiên nhiên, gần gũi với đất trời: Ta ngọn cỏ bên nhau nơi đồng cỏ,
Tuổi thơ xanh ngút ngát chân trời, Em chân trần chạy giăng khắp bãi, Gió bóc
ngô non thơm bãi ngoài (Bằng Vũ). Nơi đó con người đồng nhất mình với thiên
nhiên trong cảm nhận sự sinh sôi nảy nở của đất đai, loài vật bằng tất cả giác
quan, một giác quan không phải chỉ của con người mà là giác quan tạo vật: cảm
giác của cỏ cây, côn trùng, trăng nước, đồng bãi: Ta hít mãi mùi cỏ loang
loáng nước, Nghe mái rạ mơ màng ngủ nói mê; Thuở ngực đồng non tựa vai, Hồi hộp
đợi mưa về; Trăng cào ổ lá, Vàng ổi đường thơm (Bằng Vũ). Họ cảm nhận được mùi đất
ẩm, linh hồn những hạt mầm mệnh yểu, tiếng rống khàn khàn của những luống cày
úp mặt (Nguyễn Quang Thiều), nghe tiếng lắc lắc những cành khô vặn mình đang vụn
gẫy, hạt mướp hương cựa mình tỉnh giấc (Ngân Hoa). Đây chính là sự quyến rũ của
ngôn ngữ cảm giác. Theo Z. Heinade, những cảm xúc mang tính nguyên sinh thường
bắt đầu bằng các giác quan. Con người khi đắm mình trong thế giới và cảm nhận
thế giới bằng các giác quan – đó là kinh nghiệm bên trong- dẫn đến những mối
liên hệ với tinh thần, cái thiêng liêng, cao hơn thế giới vật chất và sự tồn tại
trần thế (6). Chính những ngôn ngữ cổ xưa và nguyên thủy của cảm giác: hương thơm,
sắc màu, âm thanh, mùi vị…, đã kết nối con người với quá khứ một cách hữu hiệu
nhất.
Một trong những con đường
hòa vào thiên nhiên một cách rất bản năng là thông qua ngôn ngữ loài vật. Loài
vật làm đưa con người trở về tuổi thơ một cách tự nhiên, ngây thơ và giàu trí tưởng
tượng. Bởi đó là sự năng động của thế giới tự nhiên: Những con sẻ nâu tha
rơm về làm tổ, Lũ trẻ chạy giữa bầy châu chấu xanh, Chúng đốt rạ, đàn chuột đồng
cay mắt; đàn sẻ giật mình, đám cưới chuồn chuồn kim, lũ ếch dại khờ (Ngân
Hoa). Trò chuyện với loài vật, là trạng thái hòa nhập vào thiên nhiên tuyệt đối.
ở đây ta thấy có sự giao thoa với J.R.Jimenez: người và vật gắn bó với nhau như
đôi bạn, cùng mơ những giấc mơ giống nhau, cùng chia sẻ lòng yêu thương những vẻ
đẹp phù du nhất: Kìa Larô, thúy yến của bọn trẻ sáng nay chết trong lồng bạc
rồi. Ta buồn, Larô ơi, đẹp làm sao, quả lựu đây này!
Sự chú ý tới loài vật trong
thơ Nguyễn Quyến dường như là việc quay trở về với con người tự nhiên cùng cái
nguyên sơ thanh khiết và bụi bặm, thấy trong bản tính con người luôn có bản
tính loài vật bởi con người là kết tụ của các tinh hoa cũng như phần thô nháp,
dữ dằn của thiên nhiên: Mẹ nhặt con từ tiếng gà thảng thốt, Mẹ nhặt con từ
tiếng tru gầy guộc của con chó con (Nguyễn Quyến). Có phải vì con người
luôn ước ao tìm về cội rễ trong tự nhiên đã sinh ra mình?
Loài vật còn giúp thể hiện một
cảm quan đặc biệt, đánh thức phần tâm linh sâu thẳm con người. Trong thơ Bằng
Vũ, có rất nhiều hình ảnh, âm thanh của các loại côn trùng. Thứ ngôn ngữ côn
trùng này, như dựng lại một thế giới tâm linh sâu thẳm không dễ dàng được biểu
đạt. Có lẽ, khi tư duy bị đình trệ trong nhận thức về tự nhiên, thì chỉ có trực
giác mới có thể giúp con người thâm nhập những bí ẩn của vũ trụ, bởi “một sự
chuyển động nhỏ nhất của không khí cũng là sự chuyển động của linh hồn chúng
tôi” (7). Đó là những cảm nhận về sự nở sinh mãnh liệt của đất trời, là bước đi
thầm lặng mà hân hoan của mùa vụ, là niềm quyến luyến ngất ngây của tạo vật, là
mọi cung bậc âm thanh, hương sắc, mùi vị của đồng bãi quê hương, là tiếng vọng
của quá khứ: Anh lẫn vào cỏ, Lẫn vào khúc đồng dao giun dế, …, Theo dòng
chảy thời gian, Mùa nở sinh trứng cá, Anh lẫn vào bọt trứng nổi trôi; Ta lạch về
từ nguồn mưa, Quả trứng rơi vòng số phận, Linh hồn trước khi mọc cánh, Quẫy
đuôi trong dạ biển tròn. Đây chính là khúc đồng ca Dương thế mà anh không nguôi
khao khát hòa nhập. Có những cảm xúc sâu thẳm nhất, chỉ có thể diễn đạt gián tiếp
qua loại hình ngôn từ trực giác này: Thả thuyền trăng giữa sông trời xa,
Thả bèo sao trôi giạt Ngân Hà, Thả hương mùa về căng áo sữa, Thả mắt tìm tăm bọt
cá, Người đi…; Buồn trong trứng nhện buồn ra, Giăng tơ gặp hạt sương sa rụng
vào; Mỗi chiều sương giăng cánh đồng cỏ mọc, Mỗi đêm âm thanh mênh mang liên tục,
Lòng đất mở ra tai mắt côn trùng; Ta như cánh kiến bò ngược cành non, mỗi lần
ái ân một lần phải chết; Không em, Anh lạc giữa loài người, Anh lẫn vào sâu bọ,
Anh ở cùng giun dế … Thế giới ấy vừa thực vừa không thực, như những cung bậc
mơ hồ, xa xôi, thầm kín, khó giải mã nhất. Và trong thế giới ấy, con người và
các sinh vật khác bình đẳng cùng tạo hóa.
Loài vật còn là hiện thân của
con người và là sự đối trọng giữa một thiên nhiên hoang sơ, hồn nhiên ngây dại
với nền văn minh công nghiệp trong nhịp điệu đời sống thị trường và nhân tính
thời thực dụng. Trong thơ Nguyễn Quang Thiều: hình ảnh bầy kiến đen bò qua bàn
tiệc lúc tàn là biểu tượng cho con người trong đời sống sinh tồn nhọc nhằn. Rồi
những người đàn bà vác dậm như những con cào cào khuất dần sau đám cỏ. Đó là những
kiếp người hoang sơ không dính dáng gì đến văn minh hiện đại. Loài vật trong thơ
anh như là sự đối chiếu xem xét lại khả năng nhân tính của con người thời hiện
đại, là sự trở lại của các bản năng thô sơ vừa mang tính dữ vừa mang tính thiện
của con người.
Tiếp đến là niềm khát khao một
đời sống tự nhiên không ràng buộc. Nền văn minh công nghiệp, bên cạnh những ưu
thế rất rõ, còn dẫn đến con người đến niềm tin mù quáng vào công nghệ, đến trạng
thái bất an thường trực: ô nhiễm, thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…luôn rình rập,
bủa vây Quay trở lại, tìm đến đời sống tự nhiên chính là một cách phản ứng với
cuộc sống bất an thời hiện tại, vừa thể hiện cuộc sống khát khao không ràng buộc.
Vì thế, các nhà thơ thường thấy mình trong sự hòa tan của trời đất: Em thả
thu cuối nước, úp mặt sông nghe chiều đi (Bằng Vũ); Em chạy qua những
dòng sông, cánh đồng, ngôi nhà lá, qua đất đai âm ẩm hạt mầm (Ngân Hoa).
Những trạng thái vốc cát ấp vào mặt, đứng vùi chân trong cát, nước mắt buồn
bay ướt triền sông, mặt người nhòa vào mặt cây, ngã xuống sông chảy xiết, bước
những bước chân trần… là niềm mong muốn cởi bỏ những công thức, quy ước cứng
nhắc, được thể hiện chân thật là mình, được thấm đẫm trong tự nhiên, ngập chìm
trong thế giới nguyên sơ, hoang dại.
Đến cả con người hiện ra
cũng thường trong trạng thái trường cửu cổ sơ, mang dáng vẻ hình hài như lúc
cha mẹ sinh ra: Em vô tư một thời như mưa, Trần truồng cùng cây cỏ, Những
giọt mưa rơi xuống ta, Tinh khiết không dối lừa (Bằng Vũ). Trong dáng vẻ
đó, con người như cân bằng với tự nhiên, thanh sạch và bình đẳng giữa tự nhiên.
Khát khao về cuộc sống tự
nhiên không ràng buộc còn thể hiện bởi những từ ngữ mang tính chất mơ ước: đợi
chờ, hy vọng, niềm tin, mơ mơ, tự do hát vang: tự do cao lớn, bất chấp những
tị hiềm xứ sở, chỉ những gì một đi không trở lại-làm nên vẻ đẹp cõi người (Dương
Kiều Minh); khát thèm, chạy trốn những khuôn mặt hình tivi, những chiếc
caravát, những đôi giày đen, những kế hoạch, những chữ kí, chạy trốn tiếng gõ cửa,
chìa khóa, bát đĩa và sách dạy nấu ăn, chạy trốn điện thoại, xalông mút, lễ
sinh nhật, chạy trốn seduxen, anagin, thuốc kháng sinh mạnh (Nguyễn Quang
Thiều). Nghĩa là chạy trốn nền văn minh hiện đại và những hệ lụy của nó.
Niềm khát khao gìn giữ những
vẻ đẹp tự nhiên gắn với chiều sâu văn hóa và tâm linh. Trong thơ, đó là niềm
hoài niệm không nguôi về làng quê, nơi gìn giữ những kỉ niệm ấu thơ và một nền
văn hóa cổ xưa mang nhiều giá trị tinh thần: Mai khôn lớn quên cười quên
khóc, Sao chưa nguôi thương nhớ đồng quê; Quê tôi – hồn cào mặt đất, Hương
trong, Ngây ngất trần gian (Bằng Vũ). Dạo này, tôi đã được đọc khá nhiều tản
văn đồng điệu, khóc thương những cánh đồng rau khúc, những dòng sông, những mùa
sen, những cây thị… như những giá trị tinh thần của một thiên đường tuổi thơ đã
mất.
Bên cạnh đó, từ chỗ đứng của
một nền văn minh khác, văn minh hiện đại, các nhà thơ nhìn thấy tình trạng đáng
thương của kiếp sống thôn quê, nơi có những con người nghèo khó, bất lực, đang
sống kiếp đời tự nhiên ngây dại: Những người đàn bà gánh nước sông, Những
người đàn bà xuống bến, Những ngón chân xương xẩu, Móng dài đen và tõe ra như
những móng chân gà mái, một bàn tay của họ bám vào đầu đầu gánh bé bỏng, chơi với,
bàn tay kia bấu vào mây trắng… (Nguyễn Quang Thiều). Trong tập Bài ca những
con chim đêm của anh, con người bị vò xé bởi thế gian dung tục, tội lỗi. ở
đó, con người đánh mất nhiều thứ, mất dần bản tính thực: làng quê trong màu trắng
đơn điệu đồng loạt của những bức tường, dòng nước hiền lành trở thành quái vật
rùng rợn, cây xanh bị chặt nát… Những tiếng chim đêm – tiếng ca trong giấc mơ
mong manh của bầy trẻ trở thành tiếng chim khai sáng khiến thế giới như bừng tỉnh
và những giá trị trinh nguyên ban sơ như được phục sinh thoát khỏi những tha
hóa, ảo tưởng và ngộ nhận, nó là tiếng nói của cái đẹp, chất thơm của sự thanh
bình trong sạch. Ngôn ngữ đồng thoại đã giúp nói lên những khát khao nhân bản
này.
Trở lại với quê hương, với tự
nhiên, đó là con đường gìn giữ nhân tính của con người.
Bằng cái nhìn trong sáng, hồn
nhiên, chân thực, các nhà thơ đã thể hiện cấu trúc thế giới đồng thoại: thế giới
hiện lên với tất cả những gì lung linh, tươi mát, lộng lẫy, một đời sống thú vị,
mà cái gì cũng mang tính lí tưởng và tỏa sáng từ bên trong, trả lại cho thế giới
cái bộ mặt thật ban đầu của nó, trả lại cho chủ thể trữ tình cái nhìn trong trẻo,
tinh khiết về cuộc đời.
Tiếng nói đồng thoại là tiếng
nói phản ứng lạ: chối từ lối tư duy công thức, sáo mòn, bộc lộ phần duy cảm rất
mạnh. Đó không phải là một hướng đi tích cực theo quan niệm nhà thơ phải dấn
thân… Nhưng nó mới đích thực là thơ – thứ nhạc điệu trong sáng, lung linh, thuần
khiết nhất của tâm hồn của con người.
Chú thích:
1, 2. Phạm Quang Vinh,
Chagall. Nxb Kim Đồng, HN, 2001, tr. 17-24
3, 4. Phạm Quang Vinh,
Rousseau. Nxb K. Đồng, HN, 2002, tr. 3-14
5. Trần Đình Sử (dịch và giới
thiệu), Cố Thành, TC Văn học nước ngoài, 5/1996
6, 7. Z.Heinade, Sự quyến rũ
cảm giác của ngôn từ trong “Cuộc đời Arseniev- Thời thanh xuân” (Bunin), TC Những
vấn đề văn học, Nga, 1/2009.
Lê Lưu Oanh - Đinh Thị Doanh
TC Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 190, 11-2010








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét