Hồi ký văn nghệ
Ông, Bà Bút Trà
(Chương ký ức về Ông Bà Bút Trà có thể là bài viết cuối cùng
của tập "HỒI KÝ VĂN NGHỆ" để sau đó BNL bước sang "Hồi Ký về viết
báo", và thời điểm viết xong bài này có lẽ là khoảng đầu năm 1987, không
bao lâu trước ngày nhà văn Bình Nguyên Lộc qua đời. Lời BBT)Trước năm 1928, thì ở Sài Gòn chỉ vỏn vẹn có ba trường trung học công lập, cả ba
đều dạy chương trình Pháp, dĩ nhiên là như vậy vì thời đó Nam Kỳ là thuộc địa của
Pháp. Ba trường đó là: Trường áo tím, tên mà dân chúng đặt ra để gọi với nhau.
Tên thật của nó là Trường nữ Trung học Nam Kỳ, nhưng bằng tiếng Pháp là Collège
des Jeunes filles de la Cochinchine, về sau ông Ngô Ðình Diệm cho đặt tên lại
là Nữ Trung học Gia Long. Trường thứ nhì là Trường Sư phạm, chỉ để dành cho con
trai, và chuyên luyện thầy giáo. Trường thứ ba cần được nói hơi dài, vì nó là đầu
dây mối nhợ gây ra cuộc ly khai Việt Pháp. Ðó là trường Chasseloup Laubat
(Lycée Chasseloup Laubat) Pháp và Việt học chung. Có học sinh nội trú và học
sinh ngoại trú, không mục đích đào luyện cái gì hết, hay nói cho đúng là đào
luyện bọn tú tài đủ khả năng vào các đại học Pháp.Ngày nào học sinh nội trú của trường này cũng đánh nhau chí tử. Chắc không cần
giải thích dài dòng mà ai cũng đoán biết được đôi bên tham chiến là ai. Ðó là
Việt và Pháp. Họ đánh nhau suốt mấy chục năm trường như vậy thì Pháp đầu hàng,
đành phải xây cất trường Lycée Trương-Vĩnh-Ký để dành cho học sinh Việt Nam. Chỉ
có cậu Việt nào mà là Pháp mũi tẹt mới còn được cho tiếp tục học ở Chasseloup
Laubat, còn thì tất cả đều bị đẩy sang Trương-Vĩnh-Ký. Vào năm 1928 thì trường
này chỉ mới được xây cất có non hai phần ba, chưa có hàng rào, chưa có cây trồng,
nhưng trường cứ mở cửa khai giảng: tống cổ mấy thằng An nam mít ra khỏi
Chasseloup Laubat sớm chừng nào hay chừng nấy. (Ông hoàng Si-hà-núc thì còn được
ở lại với Pháp mặc dầu ông ta không có Pháp tịch).Cho tới năm 1929 thì tôi mới rời trường tiểu học tỉnh để xuống Sàigòn, cách nhà
tôi 30 miles, để theo học trung học. Dĩ nhiên là tôi phải học ở Trương-Vĩnh-Ký.
Tôi tự hỏi, nếu không có trường Trương-Vĩnh-Ký, tôi sẽ ra sao vì trường
Chasseloup Laubat, lấy học phí và trú phí cao lắm, đến năm mươi đồng mỗi tháng,
vượt quá khả năng tài chánh của gia đình tôi. Vào năm 1929 thì 50 đồng là món
tiền khá to tác. Ở nông thôn, nhà giàu làm một bữa giỗ thật to mà chỉ phải tiêu
có 15 đồng thôi. Tôi có lợi vì nghèo mà vẫn học được bởi trường Trương-Vĩnh-Ký
chỉ lấy có 25 đồng. Lợi thứ nhì là khỏi bị Tây đánh. Mặc dầu Tây cũng bị đánh
nhừ tử (theo lời chú tôi kể lại), nhưng Tây nó to con, đánh đau hơn ta.Tôi học được vài năm thì đã 17 tuổi. Con trai thuở đó còn khờ,
17 rồi mà chỉ biết học, chuyện đời dốt thấy mồ. Tôi có người anh họ tên là
Tô Văn Giỏi. Anh này cũng là con nhà nghèo, nên học trung học tư thục (trường đạo
Taberd) được vài năm thì phải bỏ học, vì tư thục cũng lấy học phí rất cao, mà
anh ấy học dở nên không thi vào trường công lập được cho đỡ tốn tiền. (Trường
công lập chỉ nhận học trò ưu-tú, phải qua lọt một kỳ thi khó-khăn mới được kết
nạp, cho dẫu là phải đóng tiền hằng tháng, chưa nói đến các anh thi lấy học bổng
thì lại còn phải vượt Vũ Môn, khó-khăn hơn nhiều).Anh Giỏi ấy bỏ học, ra đời kiếm ăn. (Anh ấy cao niên hơn tôi 10 tuổi) Và anh ấy
rơi vào hủ nếp. Anh làm thư ký kế toán cho một bà nhà giàu kia, tên là bà Tô-Thị-Thân.
Viết tới đây, kẻ viết bài nầy cần nói ngay là bà Tô-thị-Thân chẳng ai đâu lạ. Về
sau bà nầy là bà Bút-Trà, một nhân vật mà bất kỳ ai cũng biết tên, vì bà ấy làm
chủ một tờ báo hằng ngày, có một dạo nhiều năm, là tờ báo bán mạnh nhứt ở miền
Nam nước Việt. Sở dĩ là tôi phải nêu ngay tên của bà Bút-Trà ra, vì nay bà đã
ra người thiên cổ. Tôi có bổn phận để yên người quá cố, nên tôi cần cầu xin sự
tha thứ của linh hồn bà. Nhưng trong bài nầy, tôi chỉ khen ngợi bà, chớ không hề
nói xấu bà lần nào hết, nên tôi thấy rằng tôi chẳng có phạm tội nào cả đối với
một người vắng mặt.Bà Tô-Thị-Thân là người đàn bà Việt Nam thuộc vào hạng phụ-nữ Việt Nam cao lớn
nhứt nước. Bà có đẹp hay không vào thuở đó ? Tôi bảo đảm là bà ấy rất đẹp.
Nhưng tình-trạng giàu có của bà với lại sắc đẹp của bà thật ra chẳng có gì đáng
kể đối với tài tháo-vác của bà mà tôi sẽ kể ra dưới đây.Bà ấy kết hôn với một ông nhà giàu người Tàu. Ông ấy làm chủ đến hai mươi cơ-sở
doanh thương ở Sàigòn-Chợ lớn, cả hai mươi cơ sở đều do bà ấy đứng tên làm chủ
chánh thức, ông Tàu kia không thích chường mặt ra, theo thói quen của người Hoa
kiều ở miền Nam nước ta. Vì lấy chồng Tàu, nên bà ấy tiêm nhiễm Tàu, mà một điểm
là xem bất kỳ người nào mang họ Tô, xem kẻ ấy như là bà con cật ruột. Người anh
họ tôi được bà ấy rất tin cậy, chỉ vì anh ấy họ Tô, chớ thật ra thì anh ấy chẳng
có tài-cán gì đặc biệt, mà đạo-đức thì cũng chỉ lè-phè vậy thôi. Ðạo-đức ở đây
là đạo-đức về mặt phụ-nữ, chớ về mặt tiền bạc thì anh ấy rất tốt, đó cũng là một
điều khiến bà Tô-Thị-Thân mến anh ấy thêm. Bà nhà giàu nầy, về sau, khi lấy chồng
Việt Nam, đã xây cất biệt thự lớn ở Phú Nhuận, nhưng bà ấy nhứt định tiếp tục sống
trong căn nhà liên-kế, tòa soạn của tờ nhựt báo Sàigòn Mới, chớ không chịu dọn
về ngôi biệt thự đẹp, vốn bỏ không, chớ không phải là cho Hoa Kỳ thuê đâu. Ấy,
đó là một điểm nhiễm Tàu nữa. Người Tàu họ rất ngại đổi chỗ cư ngụ, hoặc dời cơ
sở làm ăn của họ đến một địa-điểm khác. Bà mang tục danh là Bà chị Bồn binh, chỉ
vì bà bám mãi vào căn nhà thuê trước cái bồn cỏ tròn, nằm giữa tòa soạn của bà
và chợ Bến Thành.Vào cái năm mà tôi được 17 tuổi thì báo chí ở Sàigòn đang cạn
đề tài giựt gân ăn khách, nên họ moi óc tìm chuyện sensationnelle. Họ đã tìm được: bao nhiêu tờ báo đều đua nhau chưởi các tiệm cầm đồ. Ấy, hai mươi cơ sở doanh
thương của bà Thân là hai mươi hiệu cầm đố. Nói là "Ðồ", là ám chỉ
đủ thứ đồ vật, kể cả bàn ghế, nhưng thật ra thì những hiệu này, chỉ cần thế nữ
trang vàng và hột xoàn mà thôi. Báo chí đưa ra đề tài chủ-lực nầy: "Tiệm
cầm đồ hút máu dân, cần phải bị rút lại giấy phép".Ta cần bình tĩnh để nghĩ lại. Hỏi vậy mấy mươi người Ấn Ðộ cho vay thật nặng
lãi, nặng bằng mười bà Bút-Trà thì sao chẳng ai nói đến, chẳng bị ai chưởi là
hút máu dân?Vì thế mà bà Tô-Thị-Thân mới phẫn nộ. Nhưng bà phẫn nộ ngầm, bề ngoài vẫn tươi
cười như chẳng có gì hết. Thế mới là ghê gớm. Và bà hành-động còn ghê gớm hơn
nhiều. Một hôm bà gọi anh Tô-văn-Giỏi mà hỏi: "Em Giỏi nè, em có biết
ông nào viết nhưt trình thiệt giỏi, mà ăn lương rẻ hay không?" Về sau mỗi
lần anh em tôi nhắc đến bà Bút-Trà, là chúng tôi không bao giờ quên cái điểm giỏi
mà ăn rẻ hết. Thật là đáng tức cười. Bà ấy đứng vào quan-điểm người lái buôn để
nói chuyện mà người lái buôn nào cũng thế cả, đòi hàng tốt mà giá rẻ, chớ không
riêng gì bà ấy. Mà kể cả khách hàng là ta đây cũng thế, chính ta cũng đòi hàng
tốt mà giá rẻ kia mà!Anh Giỏi tôi rất bối-rối. Anh ấy nào có quen biết với ông nào viết nhựt trình
(viết báo) đâu. Nhưng anh vốn được bà Tô-Thị-Thân xem là nhân viên lỗi lạc, nên
anh chẳng dám thẳng-thắn thú nhận rằng mình dốt. Anh ấy hỏi bậy một câu để tìm
kế hoãn binh.- Chi vậy, thưa bà chủ?- Chị muốn lập ra một tờ nhựt trình (ý bà ấy nói muốn ra báo, mở báo) để chưởi
lại cái tụi đã chưởi chị.Anh Giỏi tôi rụng rời. Không bao giờ mà anh ấy nghĩ đến một chuyện động trời
như vậy. Từ bao lâu nay, con buôn nào cũng chỉ hành động có một trong ba cách:
Thứ nhứt cắn răng mà chịu đựng khi nào bị báo chí chưởi. Thứ nhì hối lộ cho các
ký giả viết bài chưởi bới. Thứ ba thuê du côn đánh các ký giả đó. Bà Tô-Thị-Thân
là người đầu tiên nghĩ ra giải pháp thứ tư. Mà bà là người chẳng viết được câu
văn nào cả. Thật là oanh liệt. Hàn Tín đâu có giỏi múa gươm chém ai, thế nên đã
phải lòn trôn một tên vũ phu vô lại. Ấy thế mà về sau Hàn Tín đã làm rung chuyển
cả nước Tàu. Người oanh liệt là người như thế đó.- Ðược, bà chủ để em lo cho.Anh ấy nói liều, nhưng cũng cơ sở phần nào: anh ấy nghĩ đến tôi. Hôm đó là hôm
thứ sáu trong tuần. Tôi đang bị bỏ tù trong nội trú, nên chẳng phải là chứng
nhân của cuộc đối thoại giữa bà chủ và anh kế toán viên của bà. Tại sao anh ấy
lại nghĩ đến tôi? Thuở đó tôi đã bắt đầu ham văn chương lắm, mặc dầu tôi, cũng
như bà Bút-Trà, chưa biết viết câu văn nào hết. Anh họ của tôi biết tôi hay tìm
chơi với ai nhà văn, nhà thơ. Những nhà văn mà tôi thường tới thăm nhứt là hai
người kia. Người thứ nhứt, tên thật là Lê-Hoằng-Mưu, bút hiệu là Mộng-Huê-Lầu.
Mộng-Huê-Lầu, không có nghĩa là cái lầu trong đó có những giấc mộng hoa nào hết
mà chỉ là mấy chữ trong cái tên thật Lê-Hoằng-Mưu, rút ra, rồi ghép lại đó
thôi, cũng như Khái Hưng về sau, chỉ là mấy chữ trong tên thật Khánh-Giư ghép lại.
Năm đó Lê-Hoằng-Mưu đã già rồi, không còn viết lách nữa, như nhà văn đang lên
là Hồ-Biểu-Chánh. Nhưng Hồ-Biểu-Chánh đang làm quan to, tôi chẳng dám làm quen
như với Lê-Hoằng-Mưu là người rất bình dị. Người thứ nhì không có biệt hiệu,
tên thật là Trương-Quang-Tiền (chữ Quang, bị nhân viên hộ tịch viết sai thành
Quan, thành thử anh ấy suốt đời phải mang tục danh: "Một quan tiền tốt
mang đi, anh mua những gì mà tính chẳng ra?")Anh Trương-Quang-Tiền là một nhân vật mà sự nghiệp đáng được nhắc lại đây. Ðó là
người đầu tiên có can đảm mở báo hằng ngày ở tỉnh xa. Ðó là tờ An Hà nhựt báo,
xuất bản tại Cần Thơ vào những năm 1920. Non nửa thế kỷ sau, nhà văn An Khê, được
sự hỗ trợ của một tỷ phú ở Sàigòn, ông Thành, chủ nhựt báo Tin Sáng, lại đi
theo lối mòn của Trương-Quang-Tiền, mà vẫn chẳng thành công gì hơn
Trương-Quang-Tiền tí nào cả.Anh ký giả lão thành họ Trương, năm đó cũng đã thôi viết báo, nhưng còn hoạt động:
anh sống về nghề viết tuồng cải-lương tại Sàigòn. Anh ấy là người đồng hương với
chúng tôi, nhưng anh Giỏi chẳng phải là bạn đồng tâm với anh Tiền, nên định nhờ
tôi tiếp xúc với anh Tiền và Lê-Hoằng-Mưu, hai người có thể chấp nhận
"lương rẻ" của bà Bút-Trà, vì một đàng đang thất nghiệp, một đàng
thích trở lại nghề báo.Anh Giỏi là người bảo trợ của tôi. Chẳng biết cái chức gì ấy, nói tiếng Việt là
sao, chỉ biết tiếng Pháp mà trường Lycée Trương-Vĩnh-Ký dùng là Correspondant.
Bất kỳ học sinh nội trú nào cũng phải có Correspondant trong thành phố mà trường
học tọa lạc. Người nầy có quyền lãnh em út ra chơi, ngay từ chiều thứ bảy, thay
vì vào ngày chúa-nhựt, theo qui chế của nhà trường. Và chiều hôm sau, anh ấy
vào trường rước tôi ra chơi, mà nội đêm ấy, anh yêu cầu tôi cứu anh để anh khỏi
mất mặt với bà Tô-Thị-Thân.Tôi chẳng biết Ất, Giáp vì về báo chí hết, nhưng tôi nhận lời, và hơn thế, tôi
đi tìm Trương-Quang-Tiền tức thì. Tôi đâu có dè Lê-Hoằng-Mưu và Trương-Quang-Tiền
đã lụt nghề rồi, bị bọn sau vượt quá xa, chẳng giúp ích gì được bà Tô-Thị-Thân
hết, nếu hai ông ấy mà nhận lời đi nữa. Nhưng anh Trương-Quang-Tiền lại giúp
tôi, bằng cách khác, và nhờ vậy mà hai nhân vật đang tối tăm, hóa ra vang danh
một thời: đó là bà và ông Bút-Trà, ông nầy tôi cũng có gặp đôi lần, tại nhà
Trương-Quang-Tiền, mà tôi chỉ "Kính nhi viễn chi" thôi.Ông Bút-Trà quê ở miền Trung, giữa núi Bút Sơn và sông Trà
Khúc. Thuở đó ông vào Sàigòn, sống như là một ông thầy thuốc du phương. Nhưng
ông hay thơ, làm thơ cổ thật đúng niêm luật, còn chữ thì đối nhau chan chác.
Văn tài như thế thì cam phận làm thầy thuốc du phương là rất biết điều vậy. Chỉ
có tôi là ngớ-ngẩn, tin rằng ông ta có thể viết báo được, nhứt là sẽ đủ khả
năng đương đầu với báo chí Sàigòn. Anh Trương-Quang-Tiền cũng ngớ-ngẩn không
kém. Anh ấy thích làm thơ Ðường, nhưng dở hơn ông Bút-Trà, thế mà anh ấy cũng
tin rằng ông Bút-Trà sẽ làm được việc hơn anh, là người kém thơ Ðường. Thật là
một lũ điếc chẳng sợ súng. Dầu sao anh Tiền cũng là người tốt. Riêng anh, anh
còn kiếm đưọc tiền trong giới cải lương, còn bạn anh, ông thầy thuốc du phương
thì rất ế khách, nên anh nhường cái Rốp lương thấp cho bạn vậy.Tôi còn nhớ ông Bút-Trà thấy tôi phục ông lắm nên ông có cho tôi sáu câu đối,
chẳng biết do ông sáng tác, hay là cóp ở sách nào. Sáu câu ấy, chia ra làm ba cặp
như sau:Ba kỷ Nhan-Hồi, ba kỷ báuMột đời Bành-Tổ, một đời thừaVà:Nước non cố diễn tuồng ưu-liệtMưa gió đâu lay chí Hộc-HồngVà:Ngũ Hồ ký tích Ðào-Công nghiệpTứ Hải giao tình Án-Tử phongVà nhân vật điếc không sợ súng, to hơn cả trong vụ nầy, là chính ông Bút-Trà,
ông ấy tin rằng ông ấy thành công, nên sau khi anh Tiền đưa tôi đi tìm ông ấy,
nói rõ mục đích của tôi, thì ông ấy nhận lời ngay tức khắc.Tờ hằng ngày mà bà Tô-Thị-Thân muốn cho nó gia nhập chiến trường
Sàigòn, để chưởi bới, mang tên là Sàigòn Họa báo. Cái tên là như thế, nhưng
trên báo, chẳng có bức tranh vẽ nào cả. Và người đứng tên cứ là Bà, chớ chẳng
có ông nào hết, y như trong việc doanh thương.Và điều nầy kỳ lạ hơn hết là bà Tô-Thị-Thân cấm không cho ông Bút-Trà chưởi ai
cả.Tôi nói cấm, là nói đúng sự thật. Chính bà Tô-Thị-Thân làm chủ bút thật sự, một
trăm phần trăm. Chính mắt bà xem lại bài vở của nhân viên tòa soạn. Chính tay
bà chọn bài lai cảo, như thế mãi cho đến ngày tờ báo bị đốt nhà, vào dịp đảo-chánh
ông Ngô -Ðình-Diệm. Rõ ràng đó là một người đàn bà oanh-liệt. Và tờ báo bán mạnh
là nhờ cả ở bà, chớ ông Bút-Trà chẳng trổ tài được lần nào hết.Tiểu-thuyết gia Trọng Nguyên, Tổng thư ký tòa soạn của nhựt báo Sàigòn Mới có
tâm sự với tôi: "Khi nào bà ấy quá bận về việc khác, bà ấy chỉ-thị cho tôi
làm việc, đúng y như bà đã làm. Có tôi, bà cũng cứ thủ vai chánh. Bà chỉ cần
tôi về mặt kỷ thuật mà thôi. Tôi chết đi, bất kỳ ai thay thế cũng được, bởi cứ
còn bà."Về sau, tôi đã có tên tuổi rồi, mà tôi đề nghị giúp bà, bà ấy thẳng thắn từ chối.
Bà nói một câu khiến tôi phục lăn bà: "Tôi chỉ đăng bài mà chị bán cá có đọc
cũng hiểu. Cậu viết khó hiểu, người bình dân không đọc đâu." Thật là chí
lý. Và nhờ đường lối đó mà báo của bà có đông độc giả. Việc tặng quà, việc ra
báo có màu có mè, quả có giúp thêm cho bà rất nhiều, nhưng đường lối hạ thấp
phong độ vẫn cứ giữ vai trò hữu hiệu của nó.Thiên hạ đều chê bà Bút-Trà, đều chưởi bà, riêng tôi, tôi cứ thấy là bà có lý của
bà, và cái lý ấy, không là cái lý điên cuồng đâu. Bà là người buôn bán chớ đâu
phải là nhà văn hóa. Và người buôn bán ấy cứ tiếp tục giỏi buôn bán, giỏi ngoài
thương trường và giỏi cả trong làng báo.Ở Sàigòn, chẳng ai biết tôi đã quen nhiều với bà họ Tô, vì tôi rất ít tìm cách
gặp bà. Vả lại tôi thừa biết rằng bà cũng tránh tôi, vì tôi là nhơn chứng của một
thời mà bà không thích ai nhắc tới. Hơn thế có thể nói tôi là kẻ đã đưa bà lên
cái địa vị cao sang về sau này. Thường thì con người thích nhơn chứng của việc
làm phước thiện hay anh hùng của họ, thí dụ thấy họ đã vớt được người chết đuối,
chớ không ham bị ai biết quá nhiều về bước đầu không hay của họ, nhứt là họ
thích lên cao một mình, rủi ro có ai đưa họ lên cao, tài của họ sẽ bị giảm đi.Nếu ông Bút-Trà có thật quyền, chắc ông đã cho đăng rất nhiều bài thơ Ðường
đúng niêm luật của ông, trong một tờ báo hằng ngày mà độc giả chẳng còn ai biết
chữ nho và niêm luật là gì nữa hết.Thái độ của tờ báo của bà Bút-Trà, cũng rất đáng được nói đến, và tôi tin rằng
đó là mưu lược của bà, chớ không phải của ông đâu. Người ta chưởi bà, gọi bà là
thím Xồi (chồng Tàu của bà có tục danh là chú Xồi). Báo bà trả lời ngắn gọn:
"Ừ, tôi tên là thím Xồi thì đã sao kia chớ? Thím ấy có làm hại xã hội bằng
những bài vở khiêu dâm chăng? Có nêu gương đồi phong bại tục chăng?" Chỉ
giản dị có thế.Và bà Bút-Trà, theo tôi nghĩ, là người có đức hạnh. Báo ra được một thời gian,
thì bà đặt vấn đề với ông chồng cũ một cách đường hoàng : "Tôi không phản
bội ba nó (Họ ở với nhau đã có con) nhưng tôi phải nói thật với ba nó là tôi hết
thương ba nó, và thương ông làm nhựt -trình, định kết hôn với ông ấy."Ông Tàu toát mồ hôi lạnh, không phải vì tình, mà vì chuyện khác. Bà họ Tô lại
nói thêm: "Tài sản của vợ chồng ta, do tôi đứng tên hết, nhưng tôi không
cướp của ba nó. Vậy, của chồng, công vợ, thôi thì ta chia hai vậy. "Ông
chồng cũ bấy giờ mới hoàn hồn và đâm ra mến phục vô cùng người vợ cũ sòng phẳng
này.Thế thì nếu là thím Xồi, thì đã sao kia chớ?Người ta tiếp tục chưởi nghề cầm đồ. Báo bà đáp ngắn gọn: "Hằng ngàn người
khác cho vay cắt cổ, sao cứ bà họ Tô mà chưởi?". Thiên hạ bảo rằng bà quá
lì, nên rồi họ thôi chưởi. Và bà Tô-Thị-Thân thành công lớn, và cũng có thể nói
là thành danh phần nào.Khi anh Giỏi của tôi, cho bà biết sự thật về vai trò của tôi, bà chỉ thưởng tôi
bằng một cái xoa đầu một thằng học sinh 17 tuổi, và cười nói: "Cậu bé nầy
tiến dẫn người được việc". Và chẳng có cho tôi đồng xu nào cả. Về sau lâu
lắm, khi đã có cháu rồi, bà bị ông bỏ bê. Ðêm đêm bà thường xuống hiệu ăn Ngân
Ðình ở bờ sông ngồi suông một mình, buồn xo. Có lần tôi định bụng tới bàn bà để
an-ủi bà nhưng bạn hữu tôi họ ngăn: "Ðừng, sẽ có thằng hiểu lầm, và ngỡ
mầy làm thân để xin tiền mụ ấy thì chết mầy". Tôi nghe lời bạn, nên thôi,
và chỉ có vài người là biết bà với tôi xưa kia đã quen nhau nhiều, và chính tôi
đã tạo ra bà Bút-Trà, một cách gián tiếp.Ðó là thời buồn bã nhứt trong đời bà Bút-Trà. Nơi đó, đêm đêm có bàn của Thanh
Nam, có bàn của Quốc Phong, v.v... bàn nào cũng đông đảo người trong làng báo
hay làng văn. Chỉ có bàn của nhà nữ triệu phú Bút-Trà là vắng teo như chùa Bà
Ðanh. Thỉnh thoảng có cô con gái của bà, vợ của một ông tướng hiện đang còn bị
cộng sản giam cầm, đến đó với bà, còn thì bà chỉ đơn phưong độc mã suốt nhiều
năm trường, cho đến ngày cộng sản về và bà qua đời, trong đơn lạnh, vì con bà,
cả hai dòng con đều đã dông mất hết.Tôi nói là bà Bút-Trà chỉ thưởng công tôi bằng một cái xoa đầu một cậu học sinh
17 tuổi. May là tôi họ Tô, chớ nếu tôi họ Nguyễn, chắc chẳng được thưởng gì hết.
Nhưng sự thật là bà Tô-Thị-Thân đã cho tôi rất nhiều, mà mãi về sau tôi mới biết.Số là sau đó, tôi được nước, nên đi sâu vào làng báo, làng văn, và càng ngày
càng đi sâu mãi, cho đến ngày mà tôi có tác phẩm đầu tay để trình làng. Có thể
nói mà không sợ sai là chính tôi đã tạo ra bà Bút-Trà. Và ngược lại chính bà
Bút-Trà đã tạo ra Bình-nguyên Lộc. Duyên văn là như thế. Bà họ Tô ấy quả đã có
công thật lớn với kẻ họ Tô là tôi đây. Về sau, khi tôi đã thành danh, có vô số
báo ở Sàigòn phỏng vấn tôi, để biết nguyên động lực nào đã thúc đẩy tôi bước
vào làng văn, và vào năm nào. Với mỗi báo tôi đều trả lời mỗi khác, khiến các
anh ấy nói với nhau: "Thằng Bình Nguyên Lộc là thằng nói dóc tổ bố, nay
nói thế này, mai nói thế khác, chẳng còn biết đâu là sự thật nữa". Nhưng
sự thật là tôi đã thành thật với tất cả mọi người. Tại vụt thình lình các anh ấy
đâm sầm vào nhà tôi rồi rút giấy, rút bút ra, phỏng vấn ngay và bắt trả lời
ngay, không cho tôi kịp nhớ gì hết một cách đích xác, trong khi đó thì các động
lực nó lại là cái gì rất là đa nguyên. Trong trường hợp làm việc hối hả, tôi chỉ
còn biết nhớ cái gì, nói ra cái ấy, hôm nay trình cái nguyên nầy, hôm sau trình
cái nguyên khác, so lại thấy chúng nó chẳng ăn khớp với nhau, nên các anh ấy
cho rằng tôi đã nói dối. Hôm nay, nhơn dịp viết một thứ như là hồi ký, tôi mới
có đủ thì giờ để mà lội ngược thời gian thật là xa, xa tận thời tôi 17 tuổi, và
mới đi tới một cái nguyên chưa hề khai với các bạn bao giờ hết.Viết tới đây, có thể chấm dứt chương nầy được rồi. Nhân vật
thứ nhì là ông Bút-Trà, chẳng có dính líu gì đến duyên văn của tôi, tôi có thể
không nói đến ông ấy. Nhưng có thể có người muốn biết về ông ấy, thành thử tôi
xin thêm một đoạn ngắn.Sau khi được cái chức ông chủ báo rồi, ông Bút-Trà không còn tới lui với anh
Trương-Quang-Tiền nữa, vì quá bận thi hành chỉ thị của bà Bút-Trà hay vì quên bạn
cũ thì không rõ. Vì thế mà tôi cũng không còn được gặp ông Bút-Trà nữa cho đến
mấy mươi năm sau. Anh Trương-Quang-Tiền thì buồn vô hạn, không phải là anh mong
đợi phần thưởng nào đâu. Anh ấy buồn đã mất một thi hữu, chỉ có thế thôi.Mấy mươi năm sau, tôi mới gặp lại ông Bút-Trà ở một nơi rất là bất ngờ. Trong tứ
đổ tường, tôi chẳng dính vào bức tường nào cả. Còn ông Bút-Trà thì nổi danh mê
gái, và thích rượu. Nhưng rượu cũng chỉ là gái thôi, vì tụi nó gọi ông là ông
anh Bìm-Bịp, cũng như gọi bà là bà chị Bồn Binh. Ông ưa bỏ con chim bìm-bịp vào
rượu để ngâm. Người ta đồn rằng uống rượu bìm-bịp thì tráng dương bổ thận. Thế
thì rượu cũng chỉ là gái thôi. Trong hai người, chẳng có ai nghiện thuốc phiện
cả. Ấy thế mà chúng tôi lại gặp nhau trong một tiệm hút thuốc phiện lậu. Chắc
nhiều người còn nhớ ông Tú Nguyễn Ngọc Phương, tục danh là Tú bớ tí (Tout petit
- Very Dwarfish), vì ông rất bé người. Ông " nổi danh tài sắc một thì
" trong làng báo hằng ngày Sàigòn, sau 1945. Ðến thời ông Ngô-Ðình-Diệm,
ông lụt nghề, không làm gì được hết, đói quá, ông bạo gan về quê ở Cao Lãnh (tỉnh
Sadec) để bán ruộng, và ông bị cộng sản thủ tiêu với con trai ổng, một đứa bé
lên chín. Chị Phương chẳng có nghề ngổng gì hết, bèn mở một hiệu hút thuốc phiện
lậu. Nhà đó hạn chế khách, chỉ tiếp bạn của anh Phương mà thôi. Tôi với ông
Bút-Trà gặp nhau ở đó. Ông ấy quên cậu học sinh 17 tuổi rồi. Tôi tránh nhắc lại
chuyện xưa, chỉ đọc ba cặp câu đối cũ mà thôi. Thế là ông vồ lấy tôi, hỏi tôi lấy
đâu ra ba cặp câu đối ấy. Tôi chỉ cười mà không đáp. Mặc dầu vậy, ông cũng cho
tôi là bạn đồng chí, đồng tâm, mặc dầu cả ông lẫn tôi không có ai nghiện thuốc
phiện cả. Chúng tôi đến đó để an ủi, giúp đỡ chị Phương.Và ông đọc thơ Ðường của ông cho tôi nghe. Tôi đọc thơ tự do của tôi cho ông
nghe, và ông bắt đầu biết thưởng thức thơ tự do, kể từ cuộc tái ngộ đó mà ông
cho là tân ngộ. Ông có biết Bình Nguyên Lộc qua tiểu thuyết và truyện ngắn rồi,
nay ông lại biết thêm Bình Nguyên Lộc có làm thơ con cóc. Ðó là thời kỳ mà ông
bắt đầu bỏ bê bà. Chị tú bớ tí đã tâm sự với tôi rằng cháu bé Ph. Con gái của
anh chị đã phải đi làm vũ nữ để nuôi gia đình, khiến tôi muốn khóc vì thương
vong hồn anh tú Phương.Anh bạn Nguyễn Ang Ca vừa viết ở báo Văn-Nghệ Tiền Phong rằng cộng sản mới lấy
tên anh tú bớ tí làm tên một con phố ở Sàigòn. Thoạt tiên, tôi không tin, cho rằng
báo V.N.T.P. in lầm, hoặc Nguyễn Ang Ca lấy tin lầm, vì có thể đó là tên của
người khác, ông Nguyễn-Thế-Phương, chủ nhân của nhựt báo Thần Chung, vốn là cán
bộ nằm vùng. Nhưng tôi nghĩ kỹ lại thì có thể Nguyễn Ang Ca đã viết đúng. Ðó là
một trong nhiều mưu lược của cộng sản thế giới. Họ lấy tên Nguyễn Ngọc Phương để
đặt tên đường, là lối đính chánh tài tình: "À, tụi bây đồn xuyên tạc là
tao thủ tiêu tú Phương hả? Ðâu có, bằng chứng là tao suy tôn tú Phương đây chớ".Cộng sản về Sàigòn rồi thì chị tú Phương dẹp tiệm, và ông Bút-Trà với tôi không
còn gặp lại nhau nữa. Rồi thì sau đó, tôi và vài bạn hữu lại nghe một tin động
trời là ông Bút-Trà nghèo lắm, thèm một tách cà phê mà chẳng có tiền để uống.Tôi cùng một nhà thơ (xin dấu tên vì anh ấy còn kẹt lại ở Sàigòn) bèn rủ nhau
đi thăm ông Bút-Trà. Ông cứ ở căn nhà dùng làm tòa soạn báo Sàigòn Mới. (Tiền bạc
của bà, gởi cả ở các ngân hàng và bị tịch thu hết, nên hai ông bà mới nghèo đến
thế).Chúng tôi đến nơi thì một thiếu phụ héo úa và mặc rách tiếp chúng tôi. Bà ấy tự
xưng là con dâu của ông Bút-Trà, khiến chúng tôi rất ngạc nhiên. Con dâu của
ông bà Bút-Trà đều đẹp và sang. Người nầy là ai? Chỉ biết đó là người độc nhứt
ở lại với ông, bao nhiêu người sang khác đều đã dông mất. Bà ấy xin lỗi chúng
tôi, và cho biết rằng ông Bút-Trà đã lú-lẫn, chẳng còn nhận ra ai nữa hết.
Chúng tôi buồn quá, lặng lẽ thở dài và kiếu từ ra về. Chúng tôi định bụng mời
ông đi uống rượu đế và cà phê, nhưng chúng tôi đành phải đi một mình, và thương
cho chúng tôi hơn là thương ông Bút-Trà. Vì ngày sau, chúng tôi chắc chắn cũng
sẽ lâm vào cảnh ấy. Cái ngày sau ấy không lâu đâu. Một năm sau đó thì bọn cầm
bút, tất cả đều thèm một tách cà phê, nhưng chẳng có tiền để mà uống.Tưởng cũng nên để dành cho nhân vật thứ tư và thứ năm trong bài nầy vài hàng.
Ðó là nhà văn Lê-Hoằng-Mưu, biệt hiệu Mộng-Huê-Lầu. Vào năm 1929 đó, Lê-Hoằng-Mưu
đã viết được nhiều tiểu thuyết lắm rồi, mà quyển nổi danh nhứt là quyển
"Hà Hương phong-nguyệt". Ðó là tác phẩm bị các cụ phê bình thuở ấy
lên án là dâm thư. Nhưng nếu ai còn được quyển tiểu thuyết đó trong tay, chắc
phải cười bể bụng, không phải là cười tác giả đâu, mà là cười các cụ phê bình.
Trong tiểu thuyết ấy chỉ có một chi tiết nầy là "phản đạo đức": một
tư chức hiếp dâm một cô gái đẹp. Tác giả chỉ viết ngắn thôi, không tả dài dòng
những pha gay cấn trong đó, nhưng vẫn bị lên án như thường. Các cụ phê bình
ngày nay, cũng có cụ ham lên án, nhưng 40 năm sau, phong tục thay đổi, chắc
thiên hạ cũng sẽ cười các cụ ghê lắm đó nhé.Lê-Hoằng-Mưu cũng đã qua đời trong nghèo khổ, thiếu thốn, giữa một nếp nhà lá ở
ngoại-ô Sàigòn, gần trường Trương-Vĩnh-Ký mà thuở đó được xem là ngoại-ô xa nhứt,
vì nó là ranh giới giữa hai thành-phố Sàigòn và Chợ lớn. Hai thành-phố nầy chưa
phát triển mạnh như về sau, chưa dính lại với nhau, và vùng ranh giới ấy là
vùng hoang-vu. Thuở đó học sinh, chúa nhựt ra chơi thì tám giờ tối phải có mặt
tại trường. Nhưng lũ chúng tôi, chơi xong, về trường, không dám về một mình,
toàn thể đều sợ ăn cướp, phần nữa lại sợ ma, nên phải tìm nhau, vầy đoàn ba bốn
chục đứa thành một đội, mới dám về trường.Nhân vật thứ năm là anh Trương-Quang-Tiền. Anh nầy qua đời tại Sàigòn năm 1947,
tức 37 năm trước ông Bút-Trà. Anh ấy không thọ được như người bạn thơ đã bỏ rơi
anh, chắc cũng vì thiếu-thốn thuốc men, nhưng vẫn chết được trong một căn nhà gạch,
không thê thảm như nhà văn Lê-Hoằng-Mưu.Hai thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp và Hà Thượng NhânKẻ viết bài nầy chưa có thì giờ để thảo hồi ký. Và có thể chẳng
bao giờ thảo ra cũng nên, vì tử thần có thể mau chơn hơn. Mặc dầu vậy, những
bài sau đây, cũng cứ là hồi ký phần nào, nhưng chỉ được hạn chế trong vòng liên
hệ giữa thuật giả và làng văn nghệ với lại làng báo mà thôi. Nếu may ra không
chết gắp, thuật giả sẽ cứ viết mãi, và bấy giờ sẽ nói đến những chuyện ở ngoài
làng, chuyên từ lên sáu cho đến ngày nay, và tập hồi ký đó sẽ mang tên khác là
"Nếu tôi nhớ kỹ".Hồi còn thanh xuân, tôi chuyên môn viết thơ cho các nhà văn, nhà thơ mà tôi phục
tài. Viết lu bù, viết tối ngày không biết mõi. Tôi cứ tưởng chỉ có một mình tôi
là làm như vậy thôi. Không dè lớn lên, tôi làm văn thì cũng nhận được lu bù
thơ, đa số cũng là của tuổi trẻ viết. Cuộc đời cứ vần xoay, lớp sau, chẳng khác
lớp trước đáng kể.Viết thì nhiều, mà nhận được chẳng bao nhiêu. Mình viết một bức thơ thường,
chưa ra hồn, thì ai thèm phúc đáp thơ mình. Tôi chỉ nhớ có ba người mà tôi gởi
thơ dai dẳng. Người thứ nhứt là Nguyễn Tuân. Ông ấy không bao giờ trả lời tôi cả.
Người thứ nhì là Nhất Linh. Ông chỉ đáp có một bức thôi, mà lời lẽ có vẻ đùa cợt,
chế giễu tôi. Không dè bao nhiêu năm sau, chính ông ấy lại phải viết thơ cho
tôi trước. Người thứ ba thì trả lời đều đều, ban đầu chỉ đủ lịch sự thôi, nhưng
càng ngày càng thân mật, mặc dầu thuở ấy tôi vẫn cứ còn ở trong bóng tối của đời
công chức tập sự. Người nầy cùng tuổi với tôi, chớ không phải cao nièn hơn tôi
như Nguyễn Tuân và Nhất Linh. Có lẽ vì thế mà anh ấy dễ thông cảm với tôi chăng? Mặc dầu còn trẻ như tôi, nhưng anh ấy đã vang danh rồi. Đó là nhà thơ Nguyễn
Nhược Pháp, tác giả tập thơ bất hủ "Ngày xưa".Một nhà thơ đã nổi danh mà bằng lòng làm bạn hàm thụ với một ký toán-viên tối
tăm của Ngân Khố Sài Gòn thì thật là chuyện hy hữu vậy. Trong thời thơ từ qua lại,
thì tôi nỗ lực tập viết văn xuôi và làm thơ, thường thì là thơ hơi hơi tự do mà
tôi chạy theo phong trào Phong Hóa. Thản hoặc vì bị nhiễm thơ luật, tôi cũng
làm thơ luật, nhưng sẵn sàng bất kể niêm luật, mãi cho đến già, khiến anh Bàng
Bá Lân rất lấy làm bực mình. Nhưng tôi cứ mặc kệ họ Bàng. Tôi có quyết tâm làm
thơ luật hồi nào đâu kia chớ? Tại rủi ro bị nhiễm thơ luật, tôi buột tay viết
ra hơi giông giống thơ luật vậy thôi, bắt bẻ tôi sao được.Nhưng Nguyễn Nhược Pháp bỗng thình lình qua đời. Thật là quá sớm. Và tôi mất một
người bạn. Anh ấy qua đời chưa được bao lâu thì tôi có văn xuôi xuất hiện trên
mặt báo ở Sài Gòn. Khi đọc lại bài văn đầu tay, được in trên giấy, tôi bùi ngùi
nhớ đến người bạn vắn số, người ấy đã khuyên tôi nỗ lực. Tôi đã nỗ lực, giờ có
chút ít kết quả rồi thì người ấy lại không còn nữa, để mà thấy tôi không phụ
lòng ai? Tôi xúc động quá, lấy bút viết ra ngay bài thơ dưới đây, bị bỏ quên từ
43 năm nay, trong tủ của tôi mà giấy má chồng chất vô trật tự.Trong cái tháng mà tôi đoán biết rằng tôi sắp lên đường ly hương, tôi xốc xáo tất
cả giấy tờ cũ, vì nhiều mục đích. Tôi gặp lại bài thơ bỏ quên nầy, khiến tôi ngồi
đó mà hồn đi vắng hằng giờ. Những hồn ma cũ lũ lượt lướt qua trong trí tôi,
trong lòng tôi. Một thời quá khứ, một thời xuân trẻ đã qua, chẳng bao giờ trở lại
cả. Hồn người xưa đâu rồi?Nhưng tại sao tôi lại bỏ quên bài thơ nầy? Tôi rất ít cho đăng thơ trên các
báo Sài Gòn. Thỉnh thoảng, có dịp gởi Bách Khoa và Văn vài bài lấy lệ thôi. Bài
thơ nầy, lại chẳng hay, mặc dầu tôi quí nó lắm. Tôi cất nó thật kỹ, kỹ quá, đến
đỗi quên mất nó. Và trước khi đốt bỏ vì không mang theo được, tôi học thuộc
lòng, nay chép lại đây, gọi là tưởng nhớ linh hồn một thi hữu vắn số vậy:VỚI HỒN NGUYỄN NHƯỢC PHÁPAnh và tôi đều sanh cùng rămTa trưởng thành, anh nổi tiếng tăm,Tôi thì chỉ bắt đầu tập viết,Thỉnh thoảng làm gan gởi thơ thăm.Đồng niên, tôi mặc cảm học trò,Ham chường mặt báo, lại cứ lo...Anh cười, anh chế văn thơ dở,Tác phẩm xong rồi, giữ bo bo.Sao anh vụt chết? Dốt lý do...... Tôi đành cởi bỏ áo học trò,Múa lia ngòi bút cùn công chức,Mơ hão tiếp lời thi sĩ to.Rồi những gì xảy ra sau đóChúng đi qua, anh không được rõNơi nơi, chiến tranh bắt đầu nổHơn Đông Chu thịt rơi máu đổ.Tôi làm văn thơ, anh chẳng hayTôi qua trăm đắng với ngàn cayAnh thảnh thơi, Niết Bàn, tiên cảnhTôi khóc thì anh lại cười dài.Ngày nay và mãi mãi về sau,Người đời ngâm vịnh, hát nghêu ngao:Nếu có linh hồn anh ở đâu?Xin về báo mộng kẻ đi sau.Đi xa? Đi ngắn? Xin cho biếtĐể tớ dừng chơn hoặc vụt lao.Anh chỉ làm một lập thơ thôiSợ tủi lòng ai đã lánh đờiTôi xin cũng một tập thơ nhéĐể dành chất xám hiến văn xuôi.Tập thơ anh mỏng, tôi sẽ dàyMỏng, dày chẳng phải là thơ hayMiễn sao tả được lòng hai đứaAnh mến "Ngày Xưa", tôi yêu NayĐôi ta có khác điều nầy đâyNhưng cũng gặp nhau cách tỏ bày.Cả hai hoài cổ rồi khúc khích,Khóc chơi chốc lát tỉnh mộng ngayÂm dương đôi ngã hỡi người xaNhớ anh tôi quyết viết nhiều raBên kia thế giới dù anh điếcAnh cũng phải nghe Lộc-ba-hoa.Vĩnh biệt từ đây thi hữu ma!Ngậm câm làm việc tới khi giàDiêm đài, anh chắc không thất vọngAi hiểu nhau bằng đó với ta.Khi đốt mấy tờ giấy đã ngã màu vàng, tôi nghe như là mình hủy diệt cả quá khứ của
chính mình, mặc dầu bài thơ chỉ xoàng thôi. Chưa chắc gì khi sang tới xứ người,
óc của tôi đủ khả năng trả lại cho bút của tôi những gì mà bút ấy cần sao chép
lại. Vậy là có thể mất hết, mất luôn cho đến mãi mãi "Người xưa lưu luyến
ra sao nhỉ? Có giống như mình lưu luyến chăng?" Bổn mươi ba năm đã qua
ra, Nguyễn Nhược Pháp ơi, nhưng sao tớ cứ nghe như là mới hôm qua đây thôi, tớ
còn vui mừng cầm một bức thơ Hà nội mà chưa dám xé ra đọc. Đó là thời sung sướng
nhứt của chúng ta và của bao người khác. Những ánh tuyết của ngày xưa đã tan hết
rồi, nhưng nó biến thành nước và tớ nghe như đâu đây vẳng lên tiếng sơn khê róc
rách, reo vui mà cũng hạ giọng trầm buồn. Cái thời thập niên ba mươi mà văn thơ
của ta lên cao chưa từng thấy đó, với đông đảo nhà văn nhà thơ trong ấy, mà
ngày nay hơn hai phần ba đã ra ma cả rồi, còn sót lại những cây bút già nua, tiếc
nhớ người cũ một cách hoài công. Vĩnh biệt dĩ váng!
Bài Thơ nửa bước
Đêm ấy, ông Đinh Văn Khai, chủ nhơn của nhựt báo Tiếng Chuông đãi tiệc. Nói đãi
tiệc thì hơi quá đáng, mặc dầu bữa ăn đêm đó, cũng là ăn ở cao lâu to có ca nhạc.
Dân miền Nam ham nhậu, thì ai có tiền thì thỉnh thoảng mời bạn hữu và thân hữu
nhậu nhẹt, tất cả đều không cần ăn, chỉ ham uống và ham nói thôi. Thằng nào mà
không tiền như bọn tôi thì được mời, đôi khi lại bị mời nữa, vào tháng chạp ta
là bị mời đấy, vì các ông có tiền họ thay phiên nhau mà mời tất niên từ đầu
tháng chạp đến hăm bảy tháng chạp, mãi rồi thằng nào cũng phải trốn hết, vì đã
ngấy tới cổ.Khách không đông lắm, trong bữa ăn đó. Chắc chỉ có bốn mươi tám người thôi. Đây
là nói phóng mạng, dựa vào lệ mỗi bàn mười hai người. Bốn bàn ăn, được 48 người.
Nhưng chắc cũng có người đau ốm, hay trốn vì lẽ gì đó.Ông bạn Ch. giữa bữa ăn nói lớn cho cả bốn bàn đều nghe:- Đêm nay ở đây có một thi sĩ lớn nhứt thế giới, ta nên yêu cầu thi sĩ trổ tài
vậy.Người ta đưa mắt rảo quanh coi nhà thơ to ấy là ai? Rất là khó biết. Đến ba
nhà thơ có mặt, nhưng xem ra thì họ chẳng lớn bao nhiêu, không lớn trong nước
Việt Nam nữa, mà nói lớn nhứt thế giới thì rất khả nghi. Hơn thế có một nhà thơ
bị một số anh em không nhìn nhận là nhà thơ. Đó là ông nhà binh Hà Thượng Nhân.
Ông quan quân sự nầy được mời, không phải với tư cách sĩ quan, mà với tư cách
nhà thơ. Như vậy thì đã chết ai đâu nào, thế mà có người lại xầm xì. Ông ấy biết
làm thơ thì gọi ông ấy là nhà thơ, đâu có sai hồi nào. Tại sao cứ đòi thơ phải
như thế nầy, phải như thế khác, ở một nơi hoàn toàn không phải là trường thơ
thi phú.
- Thi bá đó ai? Một thực khách hỏi.
- Tôi đã trót nói là lớn nhứt thế giới nên ông ấy sẽ không bao giờ ra mặt đâu,
phải chỉ ông ấy mới được.
- Yêu cầu chỉ.
Người bị chỉ, chính là Hà Thượng Nhân.
Ai cũng mỉm cười. Hà thi sĩ mỉm cười vì không lẽ lại khóc. Bọn khác mỉm cười là
tức cười ông bạn Ch. Ông nầy có một anh con trai đi lính. Ông nhà thơ thì là sĩ
quan cao cấp, nhưng mà là sĩ quan ở Sài Gòn, chớ không phải ở mặt trận. Nếu con
trai của ông bạn Ch. mà được làm cận vệ của Hà thi sĩ thì tuyệt, khỏi đeo ba lô
để trèo đèo lặn suối. Người ta mỉm cười mà nghĩ ngay đến mục đích bốc thơm của
ông Ch.- Nhứt thế giới thật hả? Một tân khách hỏi. Xin giới thiệu thêm.- Ông ấy làm thơ nhanh hơn Tào Thực. Tào Thực phải đi bảy bước mà chỉ làm được
có một bài thơ bốn câu. Thi sĩ của tôi mà đi bảy bước thì thơ sẽ dài hơn nhiều.
- Vậy, âm nhạc yêu cầu đây. Xin Hà tiên sinh gieo vần.
Hà Thượng Nhân cứ ngồi cười, không nói năng gì hết. Ký giả Nguyễn Kiên Giang đã
hơi có chén, nói: "Ông ấy mỉm cười, tức là Em chả rồi đó. Yêu cầu ông anh
xuất khẩu vậy." Nhưng một thực khách già, và có lẽ cũng đã có chén phần
nào, đặt ra trò dè dặt. Ông ấy bảo: "Chưa được. Nhà thơ có thể ăn gian,
làm trước vài chục bài, giờ ta xin nghe, nhà thơ sẽ cho băng cát sét chạy, thơ
sẽ ra lu bù, thì ta làm sao biết có nhanh bằng Tào Thực hay không?"Rất nhiều người tán thành cái ý hay nầy. Nhưng khi ai đó đề nghị cụ thể kiểm
soát thi nhân, thì chằng có ma nào nghĩ được cách kiểm soát hết. Ký giả Việt
Nhân nói: "Ta chỉ biết có ta thôi thì sao được. Phải có sự đồng ý của Hà Đại
Nhân mới được chớ." Rồi ông bạn ký giả nầy nói lớn cho mọi người nghe,
nhưng chỉ mói riêng với Hà Thượng Nhân: "Tiểu đệ xin tiên sinh nhận lời: Bấy
lâu nay nghe tiếng cũng từng khao khát...". Tôi (B.N.L.) đề nghị: "Hà
thi nhân sẽ nhận, tôi tin như vậy, nhưng các anh lại đòi kiểm soát mà không đưa
ra giải pháp, thì ai sẽ nhận? Xin đề nghị lối nầy: mỗi người trong chúng ta sẽ
nói lên một tiếng rồi thì Hà thi nhân sẽ làm một câu thơ trong đó có tiếng ấy.
Tôi chờ đợi ý kiến của nhà thơ". Bấy giờ Hà Thượng Nhân mới mở lời:
"Thôi thì cũng được. Kiểm soát bằng lối ấy, cũng khá hay". Tiếng vỗ
tay nổi lên như pháo Tết. Không ai dè ông thi sĩ nầy lại dám nhận một điều kiện
vô cùng khắt khe đến thế.Ký giả Nguyễn Kiên Giang bắn tiếng súng đầu: "Tôi xướng đây. Xin lấy tên
khổ chủ đêm nay làm đầu đề cho câu thơ đầu. Xin xướng: Đinh Văn Khai."Im lặng hoàn toàn. Chỉ trong chớp mắt thôi. Nhà thơ nói to:
Ông Khai mở tiệc
"Ồ... ồ... ồ... đó là tiếng kêu phản đối. Ai đó, nói rõ to ra:
- Làm thơ như vậy thì quá dễ, ai làm chẳng được. Thơ gì mà: "Ông Khai mở
tiệc" ?Ký giả Việt Nhân: "Xuỵt! Im. Thi nhân muốn nói cái gì kia". Quả thật
thi sĩ nói chậm rãi, điềm đạm: "Đành rằng câu đầu: "Ông Khai mở tiệc"
chẳng hay ho gì hết. Nhưng xin đợi xem các câu sau có dính líu gì đến câu đầu
hay chăng. Nếu dính được thì có lẽ tạm chấp nhận được chớ. Có phải thơ hay
không này. Thử hỏi câu đầu của nào Tào Thực "Củi đậu chụm nấu đậu", nếu
đứng riêng một mình nó, có hay gì chăng?"Vỗ tay tán thưởng. Nguyễn Kiên Giang lại hét to: Trường Sơn! Trường Sơn là bút
hiệu của một ký giả hiện có mặt. Nhanh như cắt Hà Thượng Nhân làm câu thơ thứ
nhì:Sơn hải đủ mùiThiên hạ lại nhao nhao phản đối. Họ nói: "Ở đây chỉ có Hải mà không có Sơn
thì dường cái ý "Sơn trâm hải vị" là không ổn? Bào ngư thuộc về Hải,
Vi cá cũng thế. Nhưng chấp nhận câu thơ này".Nhưng Hà Thượng Nhân lại bình tĩnh trả lời: "Món yến xào lấy tột đỉnh núi
đá cao xuống, nếu không phải là Sơn thì là gì?" Im lặng giây lát rồi thì
đa số tán thành. Nguyễn Kiên Giang lại xướng: Nguyễn Ang Ca. Đó là bút hiệu của
ký giả Nguyễn Ang Ca. Còn nhanh hơn lúc nãy nữa, Hà Thượng Nhân nói ngay tức khắc:Ca hát. Vui tươiLại phản đối. Họ nói: "Các cô ca sĩ từ nãy đến giờ, ca toàn các điệu buồn,
vậy không có việc vui tươi được". Nhưng ký giả Việt Nhân binh vực thi sĩ:
"Chấp nhận được. Đúng là ca sĩ chỉ ca nhạc buồn. Nhưng ta có nghe ca sĩ
đâu. Ta chỉ nghe ta thôi. Và không khí ở đây quá vui tươi thật sự." Lại
tán thành và đây là tán thành Việt Nhân chớ không phải tán thành Hà Thượng
Nhân. Nguyễn Ang Ca lên tiếng hỏi: "Nãy giờ có ai ghi chú gì hay không để
xem coi các câu thơ ấy có dính lại hay chăng về ý tứ", hay là một câu đi
đường anh, câu khác đi đường tôi" Ai đó, đọc to lên:
Ông Khai mở tiệc
Sơn hải đủ mùi
Ca hát vui tươi
- Được, và tốt lắm. Ông Đinh Văn Khai phê. Tất cả đều dính lại chặt chẽ với
nhau. Câu thứ nhì và thứ ba, tả không khí bữa tiệc, thì cũng được lắm đó chớ.
Đến phiên tôi xướng: Hà Thượng Nhân! Và thơ ta tức khắc quả là xuất khẩu thành
thị:
Hồng Hà đỏ rực
Nguyễn Kiên Giang bắt bẻ: "Làm gì có sông Hồng Hà ở đây cha nội". Ký
giả Việt Nhân giải thích: "Hà là ráng chiều. Ráng chiều là mây chiều bị mặt
trời nhuộm đỏ. Được và hay: Cái tiếng xướng là Hà Thượng Nhân là một tiếng xướng
khó. Nhưng thi sĩ đã làm tròn nhiệm vụ".
- Nhưng cũng đâu có ráng ở đây? Ai đó lại bắt bẻ.
Việt Nhân chỉ tay vào tấm tường ở đàng xa. Đây là cao lâu Tàu. Tường không treo
tranh, nhưng một họa sĩ vô danh nào đó đã vẽ lên tường cảnh "ngũ sắc tường
vân". Có ráng vàng, có ráng đỏ. Vậy quả có Ráng hồng đỏ rực thật sự. Ông
Đinh Văn Khai lại phê:
- Cả bốn đều tả khí hậu bữa tiệc. Cũng hay đó chớ.
Nguyễn Ang Ca xướng: Bình Nguyên Lộc. Thơ ra ngay:
Lộc nhung rượu cúc
- Rượu cúc là rượu gì? Ai đó hỏi.
Hà Thượng Nhân trỏ chai rượu Tàu trên bàn.
- Nhưng sao lại lộc nhung?
- Nhung là sừng nai non, mà ta cũng gọi là lộc nhung. Trong rượu này, họ có
thêm hai chất: Sâm và Nhung.- Đọc lại xem nào, Trường Sơn đề nghị, nhưng rồi chính anh ta đọc, hơn thế,
ngâm chớ không phải đọc:
Ông Khai mở tiệc
Sơn hải, đủ mùi
Ca hát vui tươi
Hồng Hà đỏ rực
Lộc nhung rượu cúc
- Tốt lắm, Việt Nhân khen. Không phải dễ làm được như thế đâu nha các tía nội.
Phải dính lại như keo sơn mới được. Bời rời như cơm nguội mắc mưa thì không
xong. Về kỹ thuật thơ cũng ổn lắm. Câu đầu khai phá. Bốn câu sau, đi vào chi tiết.
Thoạt tiên tả tổng quát là Sơn hải đủ mùi. Rồi thì tả khí hậu bằng hai câu Ca
hát vui tươi - Hồng hà đỏ rực. Câu thứ năm bắt đầu chi tiết và tả rượu trước hết,
đối với tụi mình, món rượu là món chánh.
Tên của người cả bốn bàn đều đuợc xướng lên, và bài thơ này, dài ít lắm cũng
đtrợc 40 câu. Nhưng thuật giả không nhớ hết vì một phần tư thế kỷ đã qua rồi,
thì còn làm sao để nhớ đủ cho được. Tôi chỉ cố nhớ được đến câu thơ thứ sáu
thôi. Câu đó là "Bổ thận tráng dương". Dương là tên của một thực
khách, do ai đó, xướng lên.
Và đây là sáu câu dựng lại được hôm nay:
Ông Khai mở tiệc
Sơn hải, đủ mùi
Ca hát vui tươi
Hồng Hà đỏ rực
Lộc nhung rượu cúc
Bổ thận tráng dương
Các cụ hay nói đến sự kiện xuất khẩu thành thi, nhưng không ai tin. Mà quả có
thật đó các bạn ạ, như ta vừa thấy. Có người lại nói: "Thơ hay hay dở, nào
phải do làm nhanh.hay chậm." Đành vậy, nhưng đây chỉ là một trò chơi, chớ
không phải là văn thơ thật sự. Trò chơi này, rất tao nhã và rất khó chơi: Ai
chơi được, ta nên khen họ, đừng làm bộ lên mặt thầy, chê thơ hay, thơ dở. Đã bảo,
chỉ là một trò chơi thôi, và ta nên nhìn nó dưới khía cạnh một trò chơi là đủ rồi.
Đời. Số 46, tháng 10.1986
Chú thích:
|
Ám chỉ đến bài thơ hay nhứt của Pháp, bài Đi Chùa Hương. |
|
|
Ám chỉ đến bài thơ nhì của Pháp, bài Sơn Tinh Thủy Tinh. |
Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam
Di cư vào Nam được mấy năm thì Thanh Nam cũng đành phải để
cho mình rơi vào cái "bể trầm luân" của chính tôi. Cái bể trầm luân ấy
không có nước mắt. Mồ hôi được thay cho lệ. Tôi muốn ám chỉ đến việc viết tiểu
thuyết cho báo hàng ngày.
Nếu không có đơn đặt hàng thì chắc chúng tôi chẳng bao giờ nhào vô ngành đó, nó
giống giống như làm công chức phần nào, kẻ hành nghề không còn tự do định đoạt
về thời dụng biểu của mình nữa. Sống thường thì là có thể lười bốn năm hôm liên
tiếp, chẳng cần viết chữ nào hết. Nhưng báo hằng ngày đâu có để yên cho ta tha
hồ mà lười. Khổ một cái là họ không để yên, nhưng ta lại cứ lười và đến phút
chót, thường thì ta phải mò lại tòa báo để viết, tệ hơn nữa, phải chun vào nhà
in để viết, nơi đó không có bàn, thiếu ánh sáng, thiếu không khí, giữa mùa đông
vẫn nghe nóng bức vô cùng. Đổ mồ hôi là tại vậy. Còn nhớ anh Hoàng Anh Tuấn, mỗi
lần phải chun vào nhà in của một tờ hằng ngày ở Sàigòn, anh ấy phải cởi trần
ra, mặc quần đùi cẩn thận rồi mới dám vào. Vào xong, anh ấy ngồi xổm như các chị
bán cá, vì ghế ở đó tởm quá, anh không đủ can đảm để ngồi theo cách bình thường.
Anh nầy kén ghế lắm, nếu phải ngồi ở hiệu giải khát không mấy sang trọng, anh ấy
cũng ngồi xổm như thường, bất kể thiên hạ, chẳng hạn như ở mấy cái bàn ngoài của
hiệu giải khát Kim Sơn, đại lộ Lê Lợi, loại bàn mà Pháp gọi là Table de
terrasse.
Nhà in Sàigòn là nơi làm việc phản luật lao động nhứt thế giới, điều đó thì ai
cũng biết, nhưng sao các tay viết lách lại chen vào đó để làm gì...? Tòa soạn của
một tờ hàng ngày nghèo nhứt, vẫn không thiếu bàn. Ấy, người ở ngoài nghề không
làm sao mà biết được chuyện bê bối của các tay viết tiểu thuyết cho báo hàng
ngày, mà kẻ nầy là một. Phải chun vào nhà in, vì thợ sắp chữ họ gào họ thét, họ
đòi bài, ta vào đó, xé giấy ra từng mảnh nhỏ, viết được ba bốn giòng chữ thì nộp
cho một anh thợ để anh xếp chữ ngay, kẻo không kịp in. Ta lại viết ba bốn giòng
nữa giao cho anh thợ thứ nhì, nếu anh hứ nhứt khi nãy, làm chưa xong công việc.
Chun vào nhà in để được gần thợ, hầu nộp bài cho nhanh ấy mà! Dĩ nhiên là bài
không bao giờ qua tay các thư ký tòa soạn, mà các ông ấy cũng mong khỏi phải đọc
bài, vì các ông chỉ có mấy mươi phút mà phải đọc hết năm tiểu thuyết, thì quá
đau đầu.
Cái chuyện nộp bài từng giòng, vào phút chót tuy ít xảy ra, nhưng vẫn có xảy ra
cho bất kỳ tay viết tiểu thuyết nào viết giúp cho nhựt báo. Thường thì các tay
nầy viết ở nhà. Nhưng đừng tưởng là viết ở nhà là ít vất vả hơn. Như thế nầy:
sáng ra, ta mang truyện đến nộp cho nhà báo. Xong rồi ta đi ăn sáng, và ta rất
có thể gặp bạn. Đấu láo với nhau độ hai tiếng đồng hồ, về tới nhà là đã mười giờ
đúng. Một người bà con ở tỉnh lên chơi. Sáu tháng họ mới đến một lần thì ta
không thể tiếp họ lơ là được. Ta tiếp khách thân suốt năm tiếng đồng hồ, bỏ buổi
nghỉ trưa. Họ ra về xong thì ta buồn ngủ vì mệt. Ngủ dậy là đã chiều, và gần tới
bữa ăn. Ăn cơm xong là đã tối. Có ai đó nhắc ta rằng đêm nay sẽ chiếu lần đầu
phim Notre Dame de Paris, mà báo chí ngoại quốc khen là hay lắm. Thế là ta đi
xi nê, xuất tối. Về đến nhà là 11 giờ đêm. Đã buồn ngủ rồi, thôi để khuya thức
dậy sẽ viết đoạn tiểu thuyết phải nộp vào lúc bảy giờ sáng hôm sau.
Ta để kim đồng hồ cho nó reo hồi bốn giờ sáng. Đồng hồ đã làm tròn nhiệm vụ còn
ta thì không, vì vào lúc bốn giờ đó, ta còn cần ngủ thêm, nên ta cứ mặc kệ cho
đồng hồ kêu gọi. Chính vì thế mà hồi tám giờ sáng, ta mới phải viết trong các
lò bát quái là các nhà in Sàigòn. Phần lớn các kỳ bài của tiểu thuyết Đò Dọc,
tôi đều đã viết như vậy, nhưng cũng không làm tròn nhiệm vụ. Tôi viết ít hơn khối
lượng chữ phải nộp mỗi ngày, và để cho đầy cái ô mà nhà báo để dành cho tiểu
thuyết của tôi, tôi đã hối lộ cho thợ nhà in, nhờ họ cứ cho xuống dòng mãi. Hễ
tôi chấm câu, là họ phải xuống dòng. Về sau, khi tiểu thuyết nầy in thành sách
tôi đã quên mất mưu trá cũ, cứ đưa báo cắt cho họ, không có bớt những lằn xuống
dòng lạm phát nên nhiều người đọc sách thường hỏi: "Quái sao cái anh tác
giả nầy mắc chứng gì mà một trang sách, cho xuống dòng đến tám lần?"
Thanh Nam tưởng chỉ có mình anh là gặp nạn đó, anh tâm sự về sự phiền phức đã xảy
ra cho anh. Tôi cho anh biết rằng tôi cũng đã lâm vào cảnh đó trước anh nữa
kia. Anh hỏi "Làm sao để thoát?"
Những gì mà tôi đã đáp với Thanh Nam, nhớ đâu tôi đã nói ra một lần nào, trong
báo hàng tuần nào đó ở Sàigòn, tôi không còn nhớ nữa, không nhớ tên báo, nhưng
nhớ thật rõ những gì tôi đã viết. Tôi nói với Thanh Nam như sau: "Tôi đã
được quen biết với Nhất Linh. Tôi đã than với anh ấy là tôi tìm hứng khó khăn
quá. Nhất Linh đáp rằng tìm hứng là lối làm việc không tốt. Phải noi gương Thạch
Lam mới được, là mỗi ngày cứ nỗ lực viết một số trang nhứt định nào đó. Rồi thì
nó sẽ quen đi, là sẽ làm việc được dễ dàng như thường mà chẳng cần hứng bao giờ..."
- Và anh đã nghe theo lời Nhất Linh?
- Ừ.
- Kết quả ra sao?
- Ban đầu khổ vô cùng, nhưng cũng đã gần đắc đạo rồi.
- Thật hay không nè?
- Bảo đảm sẽ có kết quả.
- Tôi se thử xem sao.
Tôi không nói đến vấn đề đó nữa. Thanh Nam cũng thế. Hai năm sau, chính Thanh
Nam trở lại vấn đề. Anh nói: "Tôi bây giờ khác trước, tôi sợ viết tiểu
thuyết cho báo hằng tuần, báo hằng kỳ, hơn là viết cho báo hằng ngày".
- Anh hết sợ báo hằng ngày thì tôi hiểu. Chắc anh đã áp dụng phương pháp Thạch
Lam chớ gì?
- Ừ, như anh đã gợi ý.- Nhưng sao lạì sợ báo định kỳ?
- Là tại ta quên kỳ hạn và quên nộp bài. Còn với báo hằng ngày thì vì phải nộp
mỗi hôm, ta không thể quên được.
Cả hai chúng lôi đều cười khà vì cả hai đều lâm vào cảnh quên nộp bài cho các
báo định kỳ, không phải vì quá bận với báo hằng ngày mà vì quên thật sự.
Một hỏm Thanh Nam hỏi tôi:- Thỉnh thoảng tạp chí Bách Khoa tiên liệu trong một câu ám chỉ rằng văn tài
anh sẽ xuống thấp, chỉ vì quen viết vội cho báo hằng ngày, anh nghĩ ra sao về ý
kiến đó?
- Anh có nghĩ như Bách Khoa hay không nè? Nếu có thì tôi mới đáp, bằng không
thì đáp làm gì. Nếu anh khỏng nghĩ như Bách Khoa, thì tức là anh nghĩ như tôi,
tôi đâu có cần phải nói thêm gì.
- Tôi không bao giờ chú ý đến những điều Bách Khoa viết. Nhưng nghe tạp chí ấy
nói, tôi cũng đâm lo cho anh, và cho cả tôi nữa.
- Tôi thấy là viết cho báo hằng ngày, không có hại gì hết. Ta đã nghe Nhất
Linh, theo phương pháp Thạch Lam, tức viết mỗi ngày một số trang nhất định, vậy
thì có giúp cho hằng ngày hay không, ta vẫn phải viết mỗi ngày cái khối lượng
chữ đó mà, có phải vậy không nè?
- Ừ. Và thế thì báo hằng ngày đâu có làm hai ta được ở điểm nào. Vậy tôi an
lòng tiếp tục viết cho háo hằng ngày.Thanh Nan thường phàn nàn cái sở nào đó mà làm thẻ kiểm tra
cho các công dân đã thành niên. Anh bảo rằng ở cái khoản nghề nghiệp, họ ghi
anh là quân nhân, báo hại anh chẳng dám đi chơi đâu xa hết, thí dụ đi Đà lạt,
vì sợ cộng sản xét xe dọc đường, thấy anh quân nhân, họ sẽ mần thịt anh. Nhưng
nếu không có cái thẻ kiểm tra báo đời ấy, chắc Thanh Nam cũng chẳng đi chơi đâu
xa được. Viết tiểu thuyết cho báo hằng ngày rất giống người tù, phải có mặt
luôn luôn tại cái thành phố mà báo hằng ngày đặt trụ sở. Đi Đà Lạt chơi năm bảy
hôm thì trong khoảng thời gian vắng mặt, ai viết thay cho ta? Khổ lắm, nhà có
tang, vẫn phải nộp bài như thường. Đây là kinh nghiêm bản thân. Nếu ta không nộp
hài trong mấy hôm nhà ta có tang khó, nhà báo cũng không làm gì ta được nhưng
ta mất tín nhiệm đối với họ, và họ sẽ không mời ta viết nữa. Sau khi cuốn tiểu
thuyết ấy được đăng hết. Theo nguyên tắc, ta phải viết xong rồi mới bán cho họ
thì ta không thể viện là quan hôn tang tế hay đau ốm để mà khỏi nộp bài. Nếu ta
phải vào bịnh viện đi nữa, thì vợ con ta cũng phải mang bài đến cho nhà báo, vì
nhà báo đâu có nhìn nhận tình trạng ta chưa viết gì hết lại dám nhận lời, còn để
lấy tiền ứng trước, rồi mỗi hôm mỗi rặn từng bài.
Dầu sao, Thanh Nam cũng đã là một tiểu thuyết gia, chứ không
phải chỉ là nhà văn mà thôi. Nhiều nhà văn lỗi lạc, nhưng không viết được tiểu
thuyết bao giờ, nhứt là viết cho báo hằng ngày. Những người viết không được,
không phải là những người dở đâu, tiểu thuyết là một văn thể, y hệt như phê
bình là một văn thể. Không làm được văn thể nào đó, không có nghĩa là dở. Nhưng
làm được thì vẫn tốt hơn là làm không được. Và Thanh Nam đã làm được, mà làm từng
ngày cho báo hằng ngày nữa, chớ không phải làm xong rồi mới bán cho báo hằng
ngày để họ in từng kỳ. Công việc nầy, ai chưa làm, cứ tưởng dễ, chớ nó rất là
khó. Các nhà phê bình văn học sẽ nói: Tác phầm có giá trị hay không, là do
chính phẩm chất của nó, chớ nào phải do tình trạng khó tạo nó ra hay dễ tạo nó
ra. Đành là như thế, không cãi vào đâu được với nhà phê bình, nhưng tôi cứ nói
ra, không phải để đề cao văn phẩm của Thanh Nam, mà để chỉ nói rằng Thanh Nam
đã làm được một việc khó làm. Làm được một việc khó làm, cũng đã là một đức
tính lớn, cần được nói tới chớ. Còn cái việc khó làm ấy, nó có đẹp hay không
thì chỉ có các nhà phê bình mới đủ thẩm quyền khen chê. Đây là một người thường
nói về một nhà văn, và ý kiến của kẻ nói ra, chỉ là ý kiến của người thường.
Và những người thường có lẽ sẽ hỏi: "Tại sao các anh lại để cho lọt vào
cái mà các anh gọi là "Bể trầm luân"?" Chẳng biết người khác
thì sao, chớ Thanh Nam với tôi là vì sinh kế. Thuở đó, lương của công chức bực
trung mỗi tháng là bốn nghìn. Nhưng viết tiểu thuyết hằng ngày, mỗi tháng được
bảy nghìn. Viết được hai cái mỗi ngày kiếm được 14 nghìn. Có người chủ trương rằng
làm văn nghệ nên bất vụ lợi. Đó cũng là một quan niệm hay. Nhưng người ta trả
tiền, mà vô điều kiện, không có đòi hỏi mình cái gì hơn là có bài mỗi hôm, chẳng
lẽ mình lại chê tiền? Nhận tiền nhuận bút nào có phản đạo đức gì đâu chớ. Làm
nghề khác chưa chắc tự do hơn.
Thế nên khi tôi hỏi đùa Thanh Nam có bị mặc cảm gì chăng trước dư luận của các
tạp chí về văn chương của báo hằng ngày. Thanh Nam thành thật đáp:
- Sao lại mặc cảm? Chắc anh không có, thì tôi cũng chẳng có.Nhưng Thanh Nam vẫn cứ thấy khổ, cái nỗi khổ nó cũng đã hành
hạ tôi, như đã hành hạ Thanh Nam. Khi ta quen viết tiểu thuyết cho báo hằng
ngày rồi, thì nếu chẳng có báo nào đặt cho ta viết, thì ta chẳng còn viết được
gì nữa cả. Không anh nào còn đủ can đảm để viết một tiểu thuyết mà chưa chắc sẽ
có ai mua, cho dầu đề tài của tiểu thuyết ấy được ta thương mến nhiều lắm. Bấy
giờ thì nhà văn đã biến thành con trâu kéo cày, và y lại thích bị biến như vậy.
Không có chiếc roi cày quất cho, y chẳng viết gì được hết. Nghe đâu như là
Honoré de Balzac, về sau cũng đã biến thành trâu cày như thế, và lắm khi nhà
báo phải cho người đi lùng bắt ông ta về nhốt lại, ông ta mới viết được. Cả
hai, Thanh Nam và tôi cũng đều không còn đủ can đảm hạ bút, nếu không bị thúc hối.
Cái anh quân nhân đời nhà Đường cứ nằm trên cát khi Tỳ-Bà "mã thượng
thôi", nhưng chúng tôi thì lại cần Tỳ-Bà thôi thúc, có bị thôi thúc mới
làm việc được. Đó là một cái bịnh rất kỳ lạ, do thói quen của báo hằng ngày tạo
ra. Bịnh nầy chắc là khó trị vì không có vi trùng nào hết, thì thuốc trụ sinh mạnh
nhứt cũng đành bó tay.
Ở Sàigòn có hai ông chủ báo hằng ngày, đó là anh Huỳnh Thành
Vị và anh Phạm Văn Tươi. Hai anh này cứ trách tôi sao không đưa cho hai anh vài
bộ tiểu thuyết để hai anh được chọn lựa. Có lẽ Thanh Nam cũng đã bị hai anh ấy
trách móc như thế.
Thế nên Thanh Nam và tôi chẳng bao giờ được dịp hợp tác với Huỳnh Thành Vị và
Phạm văn Tươi. Đó là hai ông chủ báo không biết tẩy của bọn tôi, cứ ngỡ chúng
tôi có sẵn lu bù tiểu thuyết trong hộc tủ, vì họ thấy báo nào mua truyện là
chúng tôi có ngay, chưa bao giờ từ chối hợp tác với báo nào hết. Sự thật thì
tuy có sẵn đề tài, nhưng chúng tôi chẳng có bao giờ viết ra hết, đợi có
còm-măng mới cặm cụi viết, rồi sau đó, bị roi cày quất mãi, mới tiếp tục được
hoài hoài. Đó là một thói xấu, nhưng đã mắc bịnh mà không thuốc chữa, thì đành
phải chịu vậy.
Anh Lê Ngộ Châu, chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa, mười hôm hoặc nửa tháng mới cho
báo của anh ra một kỳ, lại còn nhát hơn các ông chủ báo hằng ngày nữa. Anh ấy
nói: "Các anh viết cái kiểu đó, ngộ nhỡ nửa chừng đường, các anh bí, thì
tôi sẽ phân trần ra sao với độc giả". Nhưng kinh nghiệm đã cho thấy là chúng
tôi chẳng có bao giờ bí hết. Thanh Nam lại còn dặn tôi: "Nếu rủi ro anh
bí, cứ cho tôi hay, tôi sẽ mách nước thoát bí dễ dàng." Chẳng rõ mánh lới
của Thanh Nam ra sao, vì tôi chưa có dịp vấn kế người bạn đồng nghiệp đó.
Văn Học. Số 5, tháng 6-1986
Gặp Lại Người Xưa
(Lời BBT: Bài này nằm trong loạt bài HỒI KÝ VĂN NGHỆ
Bình Nguyên Lộc dành cho báo ÐỜI của Nguyên Sa. Ông chưa kịp gởi bài đi cùng với
bức thơ đã viết cho Nguyên Sa thì bất ngờ từ trần).
Hôm đó tôi đang đứng nói chuyện với anh Lưu-Ðình-Khải tại hành-lang của bộ
Văn-Hóa hay bộ Quốc-gia giáo-dục gì đó, đã quên mất rồi, vì lý do sau đây.
Chúng tôi thường được mời làm giám khảo của cuộc thi văn-nghệ toàn quốc, mà các
cuộc thi nầy thì có năm giao cho bộ Thông-Tin tổ chức, có năm giao cho bộ Văn-Hóa,
có năm giao cho bộ Quốc-gia giáo-dục, hóa ra chẳng còn ai nhớ được năm nào họp ở
đâu nữa.
Thình lình, tôi bị ai vổ vai từ sau lưng. Tôi day lại, thì ra đó là anh Năm
Châu, tức diễn viên sân khấu, kiêm soạn giả Nguyễn-Thành-Châu. Tôi hơi ngạc
nhiên. Tôi biết Năm Châu rất nhiều, nhưng anh ấy chỉ biết tôi vậy vậy thôi, gặp
nhau thì chào hỏi qua loa theo phép xã giao. Nay sao lại có cử chỉ thân mật này.
Câu hỏi của anh Năm Châu lại càng làm cho tôi ngơ ngác hơn:
- Mê Háo lắm hả?Trời đất! Háo là cô nào mà anh ấy bảo rằng là tôi mê? Trong khi anh Lưu-Ðình-Khải
cười ngất, tỏ vẻ hiểu lắm, thì tôi cứ trố mắt mà nhìn Năm Châu. Nhưng sau đó,
người hỏi giải thích thì tôi mới vỡ lẽ ra, và cả ba chúng tôi cùng cười với
nhau. Số là dạo đó, tôi đang viết một tiểu thuyết đăng báo tên là „ Mối tình của
thằng ôm đít ông Táo". Trong số báo phát hành cách đó ba hôm, báo đăng tới
cái đoạn mà nhân vật chánh trong truyện, vào trà thất Kim Ðô, không phải để
nghe ca, hay để ngắm các cô ca-sĩ, mà để „Xem" Háo đánh trống.
Háo là một tay trống cừ khôi ở Sàigòn, vào năm đó, nên rất nhiều người vào vũ
trường, hoặc trà thất thường không có mục-đích nào khác hơn là để thưởng thức sự
biểu diễn rất huê dạng của cặp roi trống của người nghệ sĩ đó. Háo là em vợ
(hay anh vợ?) của Năm Châu. Anh ấy đồng hóa nhân vật tiểu thuyết với tác-giả.
Tác-giả mê em vợ của anh ấy thì anh ấy khoái tác-giả chăng? Tôi đáp:
- Tiểu thuyết đó, tôi viết riêng cho các bạn trẻ đọc, anh đã có cháu rồi, mà
cũng theo dõi nó nữa à?
- Theo dõi chớ! Văn-nghệ sĩ đâu có bao giờ già. Tụi mình phải uống rượu chung một
bữa mới được.
- Rất hoan-nghinh. Ðại-ca ở trên cao chót vót, nên từ bao lâu nay, đệ ngại
không dám làm thân đó chớ. Ðệ rất cần tâm sự với đại-ca.
- Ðừng có lộn-xộn. Tôi chỉ cao niên thôi, chớ không có cao ghế đâu. Vậy ta sẽ gặp
lại nhau.
Năm Châu không có cho cái hẹn nào hết, và cũng không cho biết nơi chốn gặp nhau
khi nào cần gặp. Nhưng là người viết báo và làm báo, cho dẫu chỉ là một tay làm
báo xoàng xoàng, tôi vẫn phải làm thổ công phần nào. Năm Châu hình như làm chủ
một hiệu cà-phê trong Ða kao, hiệu nầy ở gần một cái đình cổ mà người địa
phương gọi là đình Tân An, tên một làng xưa. Ông ta không trông coi trực tiếp
quán đó, nhưng cứ tới đó, nhờ người mời là được gặp.
Vừa thấy mặt nhau, tôi nói:
- Tôi tự giới thiệu trước cái đã.
- Khỉ dộc. Ai lại không biết nhà văn mà phải tự giới thiệu.
- Không, anh Năm chưa biết bí mật của tôi đâu. Tôi là em rể của
Dương-Thành-Phát đây mà.
Tôi trả thù, bắt Năm Châu ngạc-nhiên chơi, như tôi đã ngạc-nhiên hôm nọ. Và quả
người kép già nầy, chẳng những ngạc-nhiên mà còn bối rối vô cùng. Anh cố moi
trí để tìm lại cái gì đã thoát khỏi ký-ức của anh. Lâu lắm, như chụp lấy được
món lẩn lút, đang ba chìm bảy nổi trong dạ anh, anh trố mắt nhìn tôi trừng trừng
rồi kêu lên:
- À... em... em nhỏ.... thằng gì, quên mất rồi! À thằng Tuấn. Trời ơi, nửa thế
kỷ đã qua rồi!
- Ừ, nửa thế kỷ.- Còn vợ em đâu? Con gì... con út gì, cũng đã quên mất rồi?
- Vợ em đang phục-vụ tại Kontum.
- Ðàn bà con gái, sao lại lên rừng làm gì?
- Vợ em làm cô đỡ ở Từ Dũ. Xích mích với xếp nên bị đày lên trên ấy.
Dương-Thành-Phát không phải là tên người, mà cũng không phải là hiệu. Ðó là tên
của một hiệu tủ bàn đầu tiên tại Sàigòn, nằm ngang sau chợ Bến Thành, vào thời
Năm Châu mới lừng danh. Người chủ hiệu hồi đó là bạn của anh rể tôi. Thuở bé,
tôi đi Sàigòn chơi thì ở nhà Dương-Thành-Phát, vì anh Dương-Thành-Phát và anh rể
tôi lại làm ăn chung về một nghề khác, nghề mua giàng hát cải lương.
Thuở đó, Sàigòn không có nhà hát nào của ta cho ra hồn cả, nên các ban cải
lương thường diễn ở một rạp chiếu bóng tên là rạp Moderne, đường Lê-Thánh-Tôn,
rất gần hiệu Dương-Thành-Phát. Tôi ở đó, mà không ở nhà anh rể tôi, chỉ để được
đi coi cọp cải lương cùng với người vợ tương lai của tôi mà thôi. Gia-đình cấm
trẻ con coi hát, không cho vé nên chi chúng tôi phải coi cọp. Gia-đình thiếu
người nên chiều chiều, hai anh ấy ra chợ Bến Thành mà quơ dân thất-nghiệp để
làm công việc soát vé. Họ lạ mặt không biết tụi tôi là em của chủ giàng, nên tụi
tôi cứ bị bắt mãi. Thuở ấy anh Năm Châu và chị Bảy Phùng Há tới lui hiệu
Dương-Thành-Phát rất thường nên biết tụi tôi, và thường đùa, cắp đôi tụi tôi với
nhau, không dè sau lớn lên, lời đùa của người lớn trở nên sự thật.
Tôi hỏi:
- Em nhắc lại thời oanh-liệt của anh, anh nghe ra sao?
- Anh muốn khóc. Buồn quá, nhưng cũng vui quá! Còn anh Dương-Thành-Phát?
- Ðã ra người thiên cổ rồi.- Còn anh ba Tuẩn?
Anh Tuẩn, tục danh là Tuẩn còm, là chú của tôi. Chú ấy mắc bịnh Pott nên còm
lưng từ thuở 25 tuổi. Chú ấy đàn tranh cho các ban cải lương.
- Chú ấy không vợ không con, đã qua đời rồi, và không còn mấy ai nhắc nhở tới
chú ấy.
- Còn Trương-Quang-Tiền?- Ðã chết từ năm 1947 vì đau tim.
- Trời ơi! Người xưa đã ra đi hết ráo.
- Nhưng còn anh em ta.
- Nhưng tại sao từ bao lâu nay, em chẳng hề nhắc chuyện cũ?
- Ðể làm gì?
- Buồn quá em ơi!
- Ừ, nhưng ta nên cố mà vui, cho đỡ buồn.
- Anh cũng vậy. Nhưng thỉnh-thoảng, có ai nhắc cái gì...
- Xin lỗi, em đã lỡ dại...
- Không có gì đâu. Anh rất vui hôm nay mà đã được buồn. À... anh thích truyện
của em lắm đó.
- Chúng ta ca ngợi lẫn nhau nè. Em cũng mê xem anh diễn kịch lắm.
- Nhưng trình diễn thì hết, mà văn thì còn. Anh chết rồi thì chẳng còn gì nữa hết.
- Em sẽ nhắc đến anh, khi nào phải lúc nhắc. Còn lắm chuyện mà em chưa tiết lộ
với anh. Em có viết tuồng cải lương.
- Ðâu, đưa anh coi, anh sẽ nâng đỡ em.
- Khỏi, đó là chuyện đời xưa. Anh đã biết Trương-Quang-Tiền, người cũng đã ăn dầm
nằm dề ở hiệu Dương-Thành-Phát. Anh Trương đã giúp em về cải lương. Anh có biết
hay không là kép đẹp Châu-Hồng-Ðào, tức là soạn giả Ðão-Châu cũng là người cùng
làng với em.
- Vậy à? Nhưng anh ấy đã là nhà buôn triệu-phú và ít tới lui với làng hia mão.
- Còn Tô-Kim-Hồng cũng là người cùng làng với em.- Em, cháu gì của em? Cũng họ Tô?
- Không, nó họ Ðinh. Tô-Kim-Hồng chỉ là biệt hiệu. Nó là con của bạn em.
Thuở còn thanh xuân, Năm Châu rất đẹp trai, nhứt là trong những bộ Âu-phục đắt
tiền, nhưng năm đó, anh đã rụng răng, chưa trồng răng giả. Nay tôi nhắc Châu-Hồng-Ðào,
vốn đẹp trai hơn anh Năm, và tới già vẫn còn đẹp trai, khiến anh Năm và cả tôi
đều rất ngậm ngùi trước cảnh xế bóng của anh.
Nỗi buồn nầy chắc cũng không kém nỗi buồn của Charlie Chaplin khi người nghệ sĩ
nầy giã từ sân khấu. Anh Năm đi qua trên đường đời, kiêu-sa và hiên-ngang, chỉ
nghe toàn tiếng vổ tay tán thưởng, quên hết mọi thứ quanh mình. Giờ, dừng chơn
lại, anh chợt thấy mình đang đi vào quên lãng của người đời, anh không sao mà
khỏi ngậm ngùi được. Ánh đèn sân khấu ơi, giã biệt nhé!.
Ðít ChuộtHay là chuyện một ông chủ báo dốt
Cháu tôi nó đọc báo Việt ngữ, nó thấy trong một bài kia
có nói đến con Ðại Thử, nó hỏi tôi Ðại Thử là con gì. Tôi giải-thích cho nó hiểu,
và lúc nói, tôi lại nhớ đến một câu chuyện xưa hăm sáu năm, xảy ra ở Sàigòn,
trong đó cũng có vụ "Thử". Chuyện liên hệ đến văn-nghệ rất ít, nhưng dầu
sao cũng có "Văn" trong đó, nên xin kể lại đây.
Một hôm một ông chủ báo hằng ngày kia mời tôi viết mục Film du jour, mục này do
anh Tiểu-Nguyên Tử phụ trách, nhưng anh ấy viết đến bốn phim cho bốn tờ báo,
thành-thử khó lòng mà còn hay được, nên ông chủ báo ấy muốn tôi thay thế T.N.T.
Loạt bài ấy rất khó viết, bởi phải dùng văn trào-phúng, chớ văn thường thì
không được, tạm viết văn thường, độc giả không thích xem. Tôi vốn đã chủ trương
một tờ trào phúng hằng tuần rồi, nên ông ấy mới mời. Chính vì phải trào-phúng mỗi
hôm cho bốn tờ báo mà anh Tiểu-Nguyên Tử không còn trào-phúng được, hóa ra rồi
anh ấy chỉ viết văn thường thôi. Trào-phúng mà mỗi ngày viết một bài đã khó,
phương chi phải viết đến bốn bài thì là quá sức con người.
Tôi nhận lời, và tôi viết liền ngay sau đó. Viết xong, không biết ký tên là gì.
Cũng nên nhắc rằng loại bài nầy là loại bài châm chọc thiên hạ, nên thường bị
chúng chửi, nên anh nào viết phim, cũng thay đổi biệt hiệu luôn luôn, liệu
thiên hạ đánh hơi được rằng ông Tú Nớp là mình, thì mình nên ký tên khác lập tức.
Chỉ có anh Tiểu-Nguyên Tử là gan cùng mình, dám giữ mãi cái biệt hiệu của anh.
Thoạt tiên, tôi nghĩ ngay đến Tú. Từ ngày nhà thơ trào-phúng Trần-Kế-Xương tạo
ra cái bút hiệu Tú Xương, thì Tú mọc lên như nấm, nào là Tú Mỡ, Tú Nớp, Tú Sơn,
Tú Xe, Tú Xuỵt v.v..., nhiều quá trời, hóa ra Tú thì hay, nhưng hơi nhàm. Tôi
nặn óc một lát thì tìm ra được một biệt hiệu mà tôi cho là ngộ-nghĩnh. Ðó là
Mông-Thử.
Tôi viết được một tuần lễ thì ông chủ báo ấy mời tôi vào văn phòng và nói:
"Tôi xin anh đổi biệt hiệu. Tên gì mà nghe kỳ quá! Mông thử là cái Ðít
chuột. Coi bộ xấu quá đó anh".
Tôi cố nín cười đến tức cả ngực. Ông chủ báo nầy tuy có học có đỗ đạt thiệt,
nhưng ngoài bài vở nhà trường, ông ta dốt lắm, nhứt là về chữ nho. Thấy tôi làm
thinh (vì chưa hết cười để mà đáp lời) ông ấy lại nói: "Anh đồng ý nhé". Tôi còn nín vài mươi giây nữa, rồi mới mở miệng được:
- Thật ra thì biệt hiệu chưa nổi danh, chẳng quí báu gì đó, bỏ mấy chục cái
cũng chẳng sao, và trong một tiếng đồng hồ, tôi có thể tìm được ba chục biệt hiệu
mới. Như vậy tôi có tiếc gì đâu. Nhưng tôi từ chối là vì một nguyên tắc mà
thôi.
- Tôi không có quyền yêu cầu cộng-sự viên thay bút hiệu hay sao?
- Cái đó cũng tùy. Nếu bắt phải bỏ bút hiệu Bình-nguyên Lộc thì anh không có
quyền, còn như hủy Mông thử thì cũng chấp nhận được dễ dàng.
- Chớ nguyên tắc đó là nguyên tắc nào?
- Chắc là có đồng-nghiệp nào đó gợi ý cho anh. Nhưng đồng-nghiệp ấy dốt lắm. Hắn
ta chưa đủ sức hiểu nỗi Mông thử là gì, lại dám cho rằng đó là một cái tên xấu,
là Ðít chuột. (Tôi tránh né, không nói là ông ta dốt, cho rằng một đồng-nghiệp
của tôi kẻ vạch, chớ thật ra, đồng-nghiệp của tôi bất kể, ai muốn ký tên gì, mặc
kệ ai, họ xía vào đó để làm gì). Và tôi nói tiếp:
- Chẳng những tôi từ chối đổi biệt hiệu mà tôi cũng nghỉ viết kể từ giây phút nầy.
Trong tòa soạn có người dốt đến thế, thì tôi còn viết làm gì?
- Nhưng nếu không phải Ðít chuột thì là gì?
- Anh cứ bảo anh ấy tìm hiểu để rồi nói cho anh nghe. Nhưng tôi cũng nói chút
ít về cái tên đó. Nếu là chữ nho, thì đâu có là Mông được? Mông là tiếng Việt
Nam ấy chớ. Tôi thí dụ "Ðít", chữ nho là "Tôn", thì hiệu
của tôi phải là Tôn thử ấy chớ sao lại là Mông thử được. Bằng như đó là tiếng
Việt Nam, thì nó phải là Mông chuột, chớ sao lại là Mông thử được. Anh ấy không
hiểu nỗi cách cấu tạo một từ. Ðiểm thứ nhì. Chẳng có cái tên xấu nào mà đáng phải
tránh né hết. Hơn thế đây là bài trào-phúng thì ký tên càng bậy bạ, càng hay.
- Thôi, thì anh cứ giữ Mông thử.
- Tôi cứ giữ cho tôi, chớ không cho báo của anh. Tôi nghỉ viết. Ðã dứt khoát rồi.
Mười năm sau đó, một bạn đồng-nghiệp của tôi cho tôi biết rằng là ông chủ báo ấy
vẫn còn tức mình về vụ Mông thử. Ông ta không còn giận tôi nữa, nhưng ông ta tức
là không làm sao để biết Mông thử có nghĩa là gì. Hỏi thì ông ta không dám hỏi,
sợ người mà ông ta vấn kế sẽ cười chê ông ta, còn tìm biết, thì ông ta cũng chẳng
biết cách tìm.
Anh đồng-nghiệp ấy tiết lộ cho tôi biết điều trên đây rồi cười mà nói: "Thú thật với bồ, mổ cũng chẳng biết Mông thử là cái quái gì". Người bạn nầy
chỉ là một phóng viên. Anh ta không hề khoe bằng cấp, cũng chẳng làm bộ ta đây
giỏi chữ nghĩa lắm, nên tôi không có cười anh ta và cứ mến anh như thường. Sau
khi giải-thích cho cháu tôi biết con Ðại thử là con gì, sẵn dịp tôi cũng giải-thích
nghĩa của Mông thử, xin chép lại đây để bạn nào thấy sai, chỉ giáo hộ, vì thú
thật, chữ nho, tôi cũng đã quên gần hết, lúc tôi tìm ra biệt hiệu Mông thử.
Nước Ấn Ðộ vì quá nóng nên có quá nhiều rắn, độc và không độc.
Người Ấn Ðộ nào có tiền đều nuôi một con vật kia, không biết tiếng Ấn Ðộ gọi là
gì, nhưng tiếng Pháp là Mangouste. Con vật này hơi giống con chồn nên người Việt
Nam gọi là chồn rắn. Nó có tài săn rắn, rắn bao to, cự với nó cũng không lại.
Ai có nuôi con Mangouste thì ít bị nguy cơ chết vì rắn độc, bởi không có rắn
nào vào nhà mà thoát được nó hết.
Nước Tàu không có con thú nầy. Nhưng họ là nước lớn, nên họ cũng cố gắng bắt
chước Pháp, Anh, Mỹ là có đủ thứ danh từ, mặc dù không dùng, họ cũng phải có.
Nhơn thấy con thú ấy to bằng con chuột cống, họ mới gọi nó là Thử (Thử là Chuột),
còn Mông chỉ là phiên âm âm Mang của Pháp mà thôi. [Trái Xoài, thì tiếng Ấn Ðộ
là Manga, họ cũng phiên âm là Mông (quả)].
Kẻ viết Phim hằng ngày cũng giống như con chồn rắn, chuyên bắt rắn độc trong xã
hội. Biệt hiệu đó, ý nghĩa là như thế, chớ không hề là Ðít chuột bao giờ.
Thật ra thì Mông thử cũng chẳng hay gì hơn là Tú Sơn (Tú Sơn là biệt hiệu
trào-phúng của Phan-Khôi, do hai tiếng Pháp Tout seul mà ra). Tôi không hề bám
níu vào bút hiệu không hay đó. Nhưng tôi cứng đầu, lúc đó, chỉ là vì nguyên tắc
mà thôi.
Ngày nay, nhớ lại câu chuyện trên đây, tôi bật cười. Tôi cười chê tôi, chớ
không còn cười chê ông chủ báo đó nữa. Tôi đã làm quân tử.... Tàu, khí-khái xì
xằng, chẳng có ích lợi gì cho tôi cả, mà cũng chẳng có ích lợi gì cho ai hết. Một
cái "dốp" 1. bất
kỳ vào thời nào, bất kỳ ở chơn trời nào, cũng đâu có dễ kiếm. Sá gì hai cái chữ
nho lăng-nhăng đó mà bỏ đi một công ăn việc làm. Phải chi ông ấy ra lịnh cho
tôi chửi ông bố tôi thì tôi chống lại là chánh đáng, đằng nầy chẳng hề có chỉ-thị
nào cả, tôi hoàn toàn tự do, muốn viết gì mặc tôi, thì hách xì xằng để làm gì
chớ. Rõ là rồ dại.
Nhưng tôi được cái an ủi nhỏ nầy là thuở đó, vài người bạn thân đã phục tôi là
khí khái. Các bạn ấy cũng chỉ điên như tôi thôi, vì lũ tôi thuở ấy còn trẻ, rất
dễ hăng tiết vịt, chớ có khí khái cái con khỉ khô gì đâu chớ. Giờ thì tôi nghĩ
như vậy, chớ quả thật thuở đó tôi đã phồng mũi lên trước lời khen của bạn hữu.
Chú thích:|
1. |
"dốp" là từ Việt hóa của từ "job" của
Mỹ, có nghĩa là một cái nghề, một công ăn việc làm. |
Tháng 6/1986
Bình Nguyên Lộc



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét