Ký thác 2
Hoàng Hậu Ái Mỹ lấy ngón tay uốn nhánh dâu để xem nó đủ sức cứng
rắn chưa, đặng chặt về
biếu con trai yêu quý của bà, vì cậu Thái Tử tương lai mơ ước một cây cung vừa
dẻo dai, vừa bền chắc.
Hoàng Hậu chợt thấy một con bướm rất xấu xí, thân hình toàn một màu trắng mông
mốc và yếu đuối như vừa mới nở. Nhưng nó không là mới nở đâu, vì nó đang quằn
quại trên một lá dâu, rồi giây lâu, đẻ lên đó một mớ trứng vàng.
Đẻ xong, bướm ta dò dẫm bò chầm chậm ra bìa lá, chớp lia lịa hai cánh yếu mềm,
không đủ sức nâng cái thân hình của nó lên không trung.
Bướm nhìn vực thẳm dưới kia, lảo đảo như say rượu, rồi vô tình hay cố ý không
rõ, rơi mình xuống vực. Bướm rơi xuôi xị như một lá chết, hai cánh mong manh
không thèm cựa quậy nữa.
Bướm chết thật rồi.
Hoàng Hậu ngạc nhiên quá, nhưng bận chặt nhánh dâu, nên không để tâm thêm về
cái chết này.
Những ngày sau, Hoàng Hậu quên mất con bướm vắn số, nhưng một hôm, ra thăm lại
cây dâu, để tìm một nhánh làm cung nữa, thì Hoàng Hậu thấy những trứng vàng đã
nở ra những con sâu lông dài màu đen như những con sâu rọm.
Cha nào con nấy, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, sâu nầy yếu đuối
không thua gì mẹ nó là con bướm mốc hôm trước.
Hoàng Hậu đoán những vật èo uột nầy, rồi cũng chết mất thôi.
Quả thật thế, hai hôm sau, ra thăm lại thì chúng đã chết sạch, chỉ trừ một con.
Hoàng Hậu than:
- Trời sanh làm chi những kẻ yếu sức như vầy, ích gì cho ai và chính nó cũng khổ.
Bỗng, kỳ lạ thay, có tiếng nói nhỏ nhỏ phát ra từ con sâu:
- Thưa Hoàng Hậu, ban đầu, trời sanh chúng tôi cũng mạnh khỏe như bất kỳ ai.
Nhưng chúng tôi phung phí sức nhiều quá để làm việc, thành ra càng kiếp, càng
phải ươn yếu như vầy. Không lỗi ở trời đâu.
Hoàng Hậu hơi sờ sợ con sâu sống sót đó, nhưng tánh tò mò mạnh quá, nên bà đánh
bạo hỏi:
- Nhưng tại sao giống của mi lại phung phí nhiều sức lực quá như vậy? Trên đời,
ai cũng làm việc cả, mà có ai khổ đến thế đâu?
- Thưa Hoàng Hậu, là tại công việc chúng tôi khó khăn quá sức
- À, ra thế! Nhưng cái kiếp của mi đây, chắc không còn làm gì được nữa. Bị mi yếu
quá rồi.
- Không, Hoàng Hậu. Kiếp nầy làm giỏi hơn kiếp nào hết, vì kinh nghiệm của bao
đời đã kết tinh nơi đây, miễn là...
- Miễn là gì?
- Miễn là chúng tôi được nuôi dưỡng châu đáo.
- Nhưng mi làm được cái gì?
- Tôi là nghệ sĩ đây.
- Nghệ sĩ là cái quái gì, ta chưa nghe nói đến lần nào.
- Nghệ sĩ là những kẻ làm ra cái đẹp, đẹp lắm.
- Nhưng đẹp để làm gì? Cái đẹp ấy có lợi ích gì chăng mà phải nuôi mi cho uổng
công.
- Cái đẹp, riêng lấy nó, cũng đã có ích lắm rồi. Hoàng Hậu nấu bếp mệt, Hoàng Hậu
ngồi nhìn giây lát một cái lọ sứ nước men trong, vẻ tranh đẹp, tức Hoàng Hậu hết
mệt ngay, chóng hết hơn là chỉ ngồi nghỉ ngơi thường.
Nhưng ngoài vẻ đẹp suông thường ấy, nghệ phẩm cũng còn lợi ích khác, thí dụ,
ngôi nhà Hoàng Hậu núp mưa, nắng, đôi giày Hoàng Hậu mang để đỡ đạp gai, đều do
nghệ sĩ nghĩ ra kiểu mẫu.
- Nếu quả thế, thì ta nuôi mi đó, mà ta phải làm sao cho mi khỏi chết?
- Thưa Hoàng Hậu, tuy nói thế đó, chớ tôi cũng dễ nuôi. Mỗi ngày Hoàng Hậu cứ
chịu khó hái lá dâu này, xắt nhỏ ra cho tôi ăn là được. Chỉ phải cái, tôi ăn
nhiều quá. Nhỏ người mà bụng to. Tôi ăn cái khối đồ ăn to bằng mười tôi lận.
Thịt nghệ sĩ chúng tôi mềm lắm, nên con gì cũng thích xơi chúng tôi cả. Hoàng Hậu
có nuôi tôi thì nên bảo vệ tôi. Kẻ thù ghê gớm nhứt của tôi là thằn lăn, rắn mối
và các loại ruồi.
Tôi lại èo uột như Hoàng Hậu đã thấy. Những khi trở trời, thời tiết đổi là tôi
mang bịnh ngay. Tôi sợ lạnh, lại sợ nóng. Lạnh, Hoàng Hậu nhúm lửa sưởi tôi.
Nóng, Hoàng Hậu nên mở cửa cho gió quạt tôi.
Tôi lại không chịu nổi mùi gay gắt. Hoàng Hậu có hút thuốc, thì nên xa lánh
tôi, không tôi lại say mà chết mất.
- Úy cha chả là con cưng: nuôi mi còn khó nhọc hơn là nuôi Thái Tử. Nhưng ta
cũng chịu khó một chút, thử xem mi sẽ làm nên trò trống gì cho biết.
- Hoàng Hậu sẽ khỏi tiếc công.
- Vậy, ta đặt tên là Tằm cho dễ kêu nhé!
- Vâng, đa tạ Hoàng Hậu.
Hoàng Hậu đem Tằm vô cung vào hôm thứ ba, sau khi Tằm nở. Cả hoàng cung đều bu
lại xem con vật kỳ lạ biết nói tiếng người.
Các bà Thứ Phi và cung nữ thấy nó dị hợm quá, sợ hãi không dám lại gần. Tằm cười,
mà rằng:
- Nghệ sĩ chúng tôi xấu xí như thế, mà hiền lắm, tốt bụng lắm đó, thưa quí bà.
- Mầy như con sâu rọm ấy, gớm chết. Bà Tây Phi nói.
- Vâng, bề ngoài thì như vậy. Nhưng lông tôi chạm phải không ngứa đâu mà sợ.
Hoàng Đế vào xem và cười ngất:
- Nghệ sĩ là cái quái gì, mà tên lạ thế, mà thân thể xấu không thể nói.
Hoàng Hậu chỉ mỉm cười, không đáp, rồi cắt đặt công việc cho đoàn phi tần: nàng
Trúc Liên hái dâu, nàng Trúc Đào xắt dâu, nàng Ngọc Khánh canh gác thằn lằn và
ong, ruồi, còn nàng Cẩm Nhung thì giữ vai liên lạc báo tin cho Hoàng Hậu biết ý
muốn và bịnh tật của Tằm. Thật là cả một tổ chức phục vụ như đối với một vị
vương.
Các cung nữ phàn nàn nho nhỏ:
- Cưng gì mà cưng quá trứng mỏng như vầy. Bà Đông Phi còn không được săn sóc
châu đáo bằng con sâu quỉ nầy.
Tằm thỏ thẻ:
- Các chị ơi, các chị đừng phiền. Hãy chịu khó với tôi một lúc, các chị sẽ được
hưởng công xứng đáng.
- Mi, thì còn có quà gì để thưởng chị em chúng ta?
- Rồi các chị sẽ rõ. Cái thân thể kiều mị của chị đó, tôi mà tô điểm thêm vào
thì nó đẹp như hoa. Hoàng Đế sẽ yêu các chị, rồi cất nhắc các chị lên hàng Thứ
Phi cho mà coi.
- Mi tô điểm làm sao? Chị em ta không muốn mọc lông sâu rọm như mi đâu.
- Không mà, các chị sẽ đẹp như tiên nữ ấy! Rồi các chị sẽ thấy mà.
Thúy Liễu trề môi dài ba tấc, rồi uể oải nói:
- Thôi, ta đi hái dâu cho con nợ nầy.
- Hãy khoan
- Tằm kêu Thúy Liễu lại
- Còn sớm lắm. Lá dâu còn ướt sương, mà tôi thì sợ nước. Để trưa một chút cho nắng
sưởi ráo lá, rồi chị hãy hái, nếu hái chiều được càng hay.
- Ý ạ! Khó tánh dữ vậy à? Con cưng dữ vậy à?
Trúc Đào ác tâm lắm. Cho bõ ghét, nàng xắt dâu rồi đổ bừa lên nong, phủ bít Tằm
lại cho Tằm ngộp thở mà chết cho rồi. Nhưng lạ quá! Tằm không chết ngộp, mà
trái lại, ăn rất hăng. Nó nhai lá cứ nghe rào rào như mưa rơi trên mái ngói hay
nghe gió trộn lá trên cây. Nó nằm dưới đáy nong, rồi bắt từ đó mà ăn lên. Nó ăn
tợn quá và ăn cả ngày lẫn đêm không nghỉ.
Tằm ăn không, ngồi rồi như vậy được ba hôm, kể cả những ngày nó ở ngoài trời,
thì Tằm đã lớn được sáu ngày. Hôm thứ sáu ấy, mấy nàng cung nữ có phận sự phục
dịch nó, bỗng không nghe tiếng lá cựa lào rào nữa. Họ cuối xuống sát nong, lặng
nghe lâu lắm, thì quả nơi đó vắng lặng, không có lấy một tiếng động nhỏ nào.
Ngọc Khánh lật đật bươi lá dâu lên, thì thấy tằm nằm ngay đơ, không cựa quậy.
Thôi Tằm đã chết rồi! Đỡ khổ nhé! Chết phức đi để người ta rảnh tay lo việc
khác thú vị hơn.
Nhưng cả bọn bỗng sực nhớ lại một điều, rồi kinh sợ hết sức. Ừ, Hoàng Hậu đã
giao cho họ săn sóc Tằm. Bây giờ tằm chết thình lình như thế nầy, thì biết ăn
nói làm sao cho trôi.
Chưa chi mà họ đã đổ lỗi cho nhau, lộ tất cả hèn nhát của họ trong cơn nguy biến:
- Tại mầy lơ đĩnh để ong nó bay vô, nó đốt Tằm, Trúc Đào đổ thừa không căn cứ.
- Nếu ong vô thì nó đã thịt Tằm rồi.
- Ngọc Khánh cãi
- Tao chắc tại con Thúy Liễu nó hái dâu ướt. Còn con Cẩm Nhung nữa, Tằm không lẽ
vô cớ mà chết. Chắc nó bịnh. Sao mầy không báo tin cho Hoàng Hậu hay.
Trúc Đào bứt tóc, bứt tai kêu:
- Khổ ơi là khổ. Cái đồ mắc dịch ở đâu é! Sống đã làm tội người ta, bây giờ chết
lại gieo họa cho chị em mình. Thôi, ta hãy vào phòng Hoàng Hậu, mà tâu rõ mọi
việc.
Hoàng Hậu mắng, khi họ báo tin dữ nầy:
- Chúng bây ăn no, rồi lo có mỗi một việc nhỏ mọn ấy mà cũng không xong. Nào,
nó đâu rồi?
Hỏi xong, bà bước qua phòng Tằm, bươi lá lên, xem cho tận mắt.
- Tằm nằm dưới đáy nong, đen thui giữa mớ lá xanh, không cục cựa, nhưng vẫn còn
tươi. Hoàng Hậu nói:
- Nó biết nói tiếng người, chắc cũng là một vì tiên mắc đọa chi đây. Thôi để nó
đó, ta chôn cất, kẻo tội nghiệp.
Thế rồi ai cũng quên Tằm cả.
Qua hôm thứ tám, Hoàng Hậu đương ngồi uống trà sớm, bỗng con Cẩm Nhung hớt hơ,
hớt hãi chạy vào phi báo:
- Tâu Hoảng Hậu, Tằm đã sống dậy, mà lạ quá...
- Nó sống dậy à! Tao đã bảo, nó là tiên mà, có chết được đâu! Đâu mầy kể lại đầu
đuôi, ta nghe thử coi.
- Bẩm, hồi nãy con sực nhớ lại, xác Tằm chưa chôn. Con đinh ninh nó đã thúi rồi,
hoặc đã bị thằn lằn xơi mất. Con vào buồng nó xem lại cho rõ, thì con kinh khủng
hết sức mà nghe nó kêu: "Chị Cẩm Nhung ơi! cho miếng dâu!". Con chạy
lại nong dòm kỹ, thì nó cựa quậy và lạ quá...
- Lạ làm sao?
- Nó rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt, đẹp lắm.
- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một
Hoàng Tử.
Hoàng Hậu đi theo Cẩm Nhung để qua buồng Tằm. Bấy giờ cả bốn cung nữ kia cũng vừa
đến nơi.
- Đâu các chị ơi, cho tôi miếng dâu, tôi đói lắm. Tằm kêu lên, khi nghe tiếng mở
cửa.
Hoàng Hậu bước tới, thì thấy Tằm vàng óng, đẹp quá.
Tằm kính cẩn chào:
- Lạy Hoàng Hậu!
- Mi không chết thật à?
- Bẩm, con có chết đâu. Con ngủ mà. Con ngủ một ngày, một đêm đúng, gọi là ngủ
"ăn một" để cổi lốt, rụng bỏ lông đen đi, Hoàng Hậu à.
- Vậy à? Bây ơi, cho Tằm ăn coi nào!
Bây giờ Ngọc Khánh mới dám rớ đến Tằm. Nong cũ đầy dẫy lá dâu xắt héo queo và
lông Tằm cũ, trông dơ dáy quá. Nàng nhẹ tay nâng Tằm lên, sang Tằm qua nong
khác.
Dâu đã hái về, Trúc Đào xắt nhỏ rải lên nong mới. Tằm ăn còn dữ hơn hôm chưa ngủ
và lớn như thổi. Nó thức mà ăn như vậy đến bốn ngày và qua chiều ngày thứ tư,
nó kêu mấy nàng cung nữ mà rằng:
- Các chị yêu mến. Bữa trước, tôi quên báo tin các chị biết, làm các chị phải một
phen hoảng hốt. Lần nầy, tôi sắp ngủ nữa đây. Tôi ngủ giấc nầy gọi là giấc
"ăn hai", cũng một ngày, một đêm, đúng y như bận trước vậy.
- Mầy ăn, ngủ gì mà lạ đời thế? Thức suốt bốn, năm ngày liền, rồi lại ngủ cả
ngày, cả đêm.
- Ấy, nghệ sĩ mà, có khi no rồi vẫn thấy cần ăn nữa. Nhiều hành động khác còn bất
chấp thiên hạ nữa.
Qua sáng thứ sáu, tức là ngày thứ mười hai, Tằm thức dậy và đòi ăn như séo.
Mấy cung nữ mắng:
- Chỉ được ăn rồi ngủ, chẳng ra cái tích sự gì hết. Mi thật là đồ báo cơm.
- Ấy, nghệ sĩ mà!
- Hễ động là xưng nghệ sĩ. Nghệ sĩ hay gừng sĩ gì cũng phải làm việc chớ có đâu
mà ăn no lại nằm.
- Các chị không hiểu. Tôi nằm, tức là tôi làm việc đó.
- Ừ, phải chớ, làm việc nằm...nằm...
- Tôi nằm để tiêu hóa bao nhiêu là tinh anh của trời đất, cũng như nhà luyện
thuốc họ nấu thuốc cao vậy mà! Những tinh anh ấy sẽ kết đọng lại, nhờ sự làm việc
âm thầm đó. Rồi một ngày kia, tôi sẽ sản xuất ra một viên ngọc, nó là kết tinh
của bao nhiêu cái đẹp bên ngoài.
- Mi già mồm, nói nghe như nhà phù thủy, ai mà tin mi được.
Tằm vẫn nóng bức:
- Các chị à, làm ơn mở cửa ra, không tôi chết mất bây giờ.
- Trời chuyển mưa đầu mùa nên nó vậy.
Cửa sổ mở ra, ruồi đánh hơi bay vào.
- Bớ thiên hạ, bớ người ta cứu tôi với!
Tằm kinh sợ hét lên và mấy cung nữ phải lấy quạt mà quạt ruồi. Thật là bực
mình.
Bốn ngày sau đó, Tằm lại báo tin rằng, nó sắp ngủ cái giấc gọi là "ngủ ăn
ba". Cũng lại một ngày, một đêm nữa.
- Ứ hự!
Mấy cung nữ thở dài, rồi ngâm mỉa mai:
Ai ơi chớ lấy thằng tằm,
Ăn rồi nằm lại ngủ hai, ba...
Ngủ "ăn ba" rồi lại thức bốn ngày. Bốn ngày cũng chỉ ăn rồi nằm.
Hoàng Hậu tới thăm, sốt ruột hỏi:
- Chàng nghệ sĩ ơi, chàng ăn rồi nằm vạ đến bao giờ mới thôi?
- Bẩm Hoàng Hậu, nghệ thuật không hối thúc mà làm được. Nó phải hưởng một thời
gian cần thiết, để mà chín mùi. Tôi dám đâu quên ơn Hoàng Hậu và mấy chị cung nữ
đã khổ nhọc với tôi. Nếu bây giờ, tôi sản xuất ngay cho vừa lòng Hoàng Hậu, thì
e tác phẩm sẽ non nớt, không đẹp như Hoàng Hậu trông mong.
- Thôi được, cứ thong thả, ta bền lòng đợi mi.
Lần thức nầy, trời mưa như cầm chĩnh mà đổ. Tằm kêu lạnh và đòi sưởi nữa.
- Ứ hự,
- mấy chị cung nữ lại thở dài
- y như lão già bảy mươi. Nghệ sĩ gì mà giống như mèo ướt quá.
Chị Trúc Đào nói mỉa:
- Đòi nằm lửa sao mà giống đàn bà đẻ quá vậy?
- Chị nói đúng đấy,
- Tằm đáp
- tôi sắp đẻ đây.
- Đàn ông lại đẻ à?
- Vâng, giống nghệ sĩ chúng tôi, nam, nữ gì cũng đẻ cả. Hổm nay, tôi hoài thai
một tác phẩm, cố gắng đến yếu người đi, nên mới lạnh. Và sắp đẻ đây. Các chị
ơi, sao mà tôi nghe bần thần trong mình, khó chịu quá.
- Hay là mi sợ trời gầm?
- Ấy, sai bét. Người đời ai cũng ngỡ giống Tằm chúng tôi sợ trời gầm. Nhưng mà
như thế nầy. Đầu mùa mưa, thời tiết thay đổi bất thường, nên tôi sanh bịnh.
Nhơn có trời gầm, người ta lầm nguyên nhơn. Ngỡ tôi sợ ông thiên lôi đó thôi.
Cuối ngày thứ tư, Tằm báo tin sắp ngủ, giấc ngủ cuối cùng trong đời nó. Nó bảo
đó là "ngủ giấc lớn".
Mấy chị cung nữ xôn xao lên. À, lần ngủ đầu, nó bỗng dưng đẹp ra phết, Hoàng Hậu
đoán nó là tiên. Biết đâu lần ngủ chót nầy nó sẽ biến ra một Hoàng Tử xinh
trai! Ấy, rồi nó sẽ yêu chị cung nữ nào có công nhiều với nó.
Chị Trúc Đào cười duyên, hỏi xem nó có vừa ý những mảnh dâu xắt nhuyễn thơm phức,
và quạt ruồi cho chàng Hoàng Tử tương lai.
Nhưng Tằm không để ý đến ai cả, cứ thiếp đi lần lần, lại một đêm, một ngày nữa!
Trong suốt thời gian ấy, cả hoàng cung bứt rứt, nóng muốn biết cái gì sẽ xảy
ra.
Hoàng Hậu thì tin rằng, vị tiên phải đọa ấy sắp hoàn hạn và lần nầy chắc hiện
nguyên hình để về Bồng Lai Thượng Giới. Các cung phi lại đinh ninh, nó là một
Hoàng Tử có tiên phong đạo cốt, giả ra con sâu để thử lòng họ.
Kìa, chàng tiên đã thức và mọi người thất vọng hết sức. Chàng tiên ấy vẫn cứ là
con Tằm, và cho dẫu là đẹp rồi, cũng chỉ là một loại sâu thôi.
Mà thiển cận làm sao, chú ta vừa thức là đòi ăn như cưỡng đói. Lần nầy chú ăn tợn
quá. Bao nhiêu cây dâu trong hoàng thành đều trụi lá, mà chú ta vẫn kêu đói.
Chú nói với các cung nữ.
- Tôi sắp đi xa, nên thức chơi với các chị cho lâu. Ngủ giấc lớn mà. Tôi thức đến
bảy ngày rồi mới đi.
- Đi đâu?
Tằm, giọng buồn thảm không tả được, nói:
- Đi xa lắm, và không bao giờ trở lại nữa.
- Mi còn thiếu chị em ta món quà, mi hứa hôm nọ, đi sao được!
- Vâng, tôi nhớ món nợ ấy. Và sắp đẻ nó ra đây.
Tằm ăn no lại nằm, khiến các cung nữ đâm nghi hắn ta là một thằng xỏ lá gạt người
để kiếm bữa.
Ăn không lo, của kho cũng phải hết. Dâu chỉ còn ăn độ vài ngày nữa, nếu hắn
không bày trò gì hay, thì kệ xác hắn, hắn sẽ đói rã ruột.
Lần thức nầy, Tằm lớn mau lắm. Nhưng lại ít nói năng, cựa quậy gì.
- Hắn tìm mưu để trốn chăng?
- Các chị cung nữ hỏi thầm
- Quịt hai mươi ngày cơm rồi chuồn! Được, nó mà bò ra khỏi nong, ta bắt vào
đánh một trận nên thân!
Qua ngày thứ sáu, lạ quá, đầu Tằm đỏ ửng lên.
- Hỉ tín, hỉ tín!
- chị Thúy Liễu reo
- Tằm sắp hóa ra Hoàng Tử đẹp trai đây!
Hoàng Hậu nghe tin, đến thăm, và ái ngại hết sức, mà thấy Tằm có vẻ đau đớn lắm.
Cái màu đỏ ở đầu Tằm, xem như màu máu, và phía dưới đầu, mình Tằm cũng hơi ửng
đỏ. Dường như là Tằm dồn máu lên.
- Tằm ơi, sao thế này?
- Bẩm Hoàng Hậu, con sắp "chộ" đấy!
- Chộ là làm sao?
- Nghĩa là con dồn tất cả tinh hoa đã thâu lượm được hổm nay, dồn lại để sản xuất
ra tác phẩm nghệ thuật đấy.
Tằm quằn quại như một bà mẹ chuyển bụng, đau đớn cái nỗi đau của con vật sắp lột
da hóa kiếp, khiến Hoàng Hậu thương khôn siết kể.
Qua ngày thứ bảy, Tằm chộ, phân nửa thân mình đỏ ối và càng quằn quại đau đớn
hơn bao giờ cả.
Qua ngày thứ tám, toàn thân Tằm đỏ như trái ớt chín cây. Bây giờ Tằm như yên
thân và an lòng, vì phần khó nhọc của công việc đã xong.
Hoàng Hậu, Hoàng Đế, các bà Phi, và các đạo binh cung nữ đều tựu đến xem Tằm
chín đỏ. Thật là lạ lùng, từ thuở giờ, không ai thấy con sâu nào mà biến dạng
mau như thế bao giờ cả.
Tằm mệt nhọc, cố nói:
- Các chị bẻ cho tôi một chà cây.
Không ai nỡ hỏi vặn Tằm nữa, vì Tằm, coi bộ, đuối sức lắm rồi.
Khi chà cây được đặt vào trong nong, Tằm thỏ thẻ:
- Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Hậu và quí bà Phi, thần xin mời tất cả ra ngoài để thần
làm một việc không đẹp mắt bao nhiêu.
- Mi cứ làm đi chớ.
- Hoàng Đế nói
- ai mà chấp nhứt mà mi lo.
Tằm ráng sức leo lên chà, rồi nói:
- Tôi tẩy trần đây. Tôi phóng tất cả những thứ ô uế trong người tôi ra, cho người
tôi thanh khiết. Khi chỉ còn tinh hoa trong ấy, tôi mới trình bày tác phẩm nghệ
thuật được.
Suốt một tiếng đồng hồ, Tằm phóng uế đầy nong. Xong đâu đó nó nói:
- Bẩm Hoàng Hậu, nhớ ơn loài người nuôi nấng tôi, nhớ ơn tri ngộ với Hoàng Hậu,
tôi sản xuất tác phẩm đầu tiên và cuối cùng của tôi đây. Tôi cố gắng cho nó hết
sức mỹ lệ để đáp ơn mọi người, rồi tôi..., rồi tôi...
Tằm nghẹn ngào khóc nức nở, không nói ra lời nữa.
Cả phòng đều ái ngại, hỏi dồn:
- Rồi làm sao, hỡi Tằm ơi!
Khóc cạn nước mắt, Tằm nói:
- Rồi tôi từ giã cõi đời...
- Ồ!
- Trời!...
- Ai lại giết mi? Nhà vua có cả một đạo hùng binh để bảo vệ mi. Không, không ai
làm gì mi được đâu!
Tằm tấm tức, tấm tưởi:
- Không ai giết thần, nhưng thần phải chết. Tất cả tâm lực của thần đã đổ vào
tác phẩm nầy rồi, thần hóa kiếp chớ không giữ thân thể xưa nữa được. Thần hóa
kiếp và tiếp tục sống. Nhưng Hoàng Hậu phải giết thần mới...
- Không, ta không khi nào giết mi.
- Hoàng Hậu phải giết thần, không thời không hưởng được tác phẩm đó. Bây giờ,
thần xin trối trăn đôi lời.
- Mi có gì cứ nói ngay ra.
- Bẩm, nơi chà cây nầy, thần sẽ nhả ra một thứ sợi, mường tượng như sợi chỉ bố,
mà Hoàng Hậu dệt mặc bây giờ. Sợi của thần bền chắc hơn thập bội, và đẹp hơn
muôn phần. Đó là tác phẩm nghệ thuật của thần đó.
Thần đã góp khí thiêng của trời đất, un đúc lại trong ruột thần, để có sợi dây
nầy. Hôm nay thần nhả sợi ra lần lần phủ lấy mình thần. Thần tự nhốt trong đó để
che cái thân tàn nầy, hầu hóa kiếp khác.
Bó tơ ấy, trong hai ngày, Hoàng Hậu phải bỏ nó vào nồi nước sôi cho thần nóng
mà chết đi...
Hoàng Hậu, các bà Phi và cung nữ đêu kêu rú lên khủng khiếp, nói:
- Ai lại nỡ....
- Nếu không làm thế, cái kiếp khác của thần, cái thân thể tàn dại biến ra hình
thức khác, sẽ cắn rách nó mà chui ra. Thế là tác phẩm của thần sẽ hỏng. Uổng
công thần khó nhọc mà không ai hưởng được cả.
Bỏ vào nước sôi luộc xong, Hoàng Hậu kéo sợi ấy ra, rồi dệt như dệt bố. Nó sẽ đẹp
cho Hoàng Hậu xem.
Nói rồi, Tằm bắt đầu nhả tơ ra. Đó là một sợi nước dãi vàng, nước nhả ra thì ướt
và mềm, một lát là khô cứng lại. Đầu mối tơ móc trên một cành chà, khiến cả bó
tơ như được treo trên đó.
Tằm cứ nhả lần, nhả lần và cả phòng bùi ngùi rưng rưng lệ nhìn Tằm trả nợ dâu.
Bó tơ nhỏ hơn cái trứng gà, vàng óng ánh như con ngỗng con mới nở, ngửi nghe
thì thơm phức một mùi mới lạ chưa từng nghe.
Hoàng Hậu hỉ mũi, lau lệ, rồi nói:
- Kệ, hỏng thì hỏng, đừng ai rờ tới bó tơ nầy hết. Tằm nó kén ăn, kén ở lắm,
nên ta đặt bó tơ nầy là cái "kén" và quyết để dành làm kỷ niệm.
Nhưng hôm sau đó, chị Cẩm Nhung, tánh tò mò bất trị, lại hay tin nhảm, bèn lượm
kén bỏ vào nồi nước sôi. Chị ta đinh ninh rằng, Hoàng Tử đẹp trai muốn nhờ
Hoàng Hậu giúp tay để hiện nguyên hình. Hoàng Hậu không làm y theo lời trối, mà
nếu không thi hành, e tội nghiệp Hoàng Tử chăng?
Vả lại cũng nên phỗng tay trên thiên hạ, để mua lòng Hoàng Tử. Vậy chị ta làm
theo lời Tằm căn dặn.
Xong đâu đấy, chị ta nắm mối tơ mà kéo và quấn quanh một cây que...Khi đường tơ
đã dứt, Hoàng Tử đâu không thấy, cho thấy một con bọ dị hợm lắm, chết queo vì
phỏng nước sôi.
Hoảng hốt, chị ta tri hô lên, Hoàng Hậu chạy đến cầm con vật lên mà khóc ròng.
Nhưng chuyện đã lỡ rồi Hoàng Hậu nghĩ, nên y theo lời Tằm dặn. Tơ ấy ít quá,
nên Hoàng Hậu nuôi thêm vài lứa tằm nữa, để đủ chỉ dệt.
Tấm lụa đầu chỉ có Hoàng Đế, Hoàng hậu và chị thợ dệt xem mà thôi.
Hoàng Hậu vuốt mãi sớ tơ mịn, nghe mát tay như là sờ vào một lọ sứ cổ. Hoàng Hậu
kê sát mũi để ngửi mùi tơ thơm ngọt như mùi tàng ong, nghe bắt thèm ăn. Màu
vàng óng ánh của sắp lụa đẹp hơn ngũ sắc của tường vân, đẹp hơn mống trời, đẹp
hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng Uyển.
Hoàng Hậu sai thợ khéo nhứt nước may cho mình một chiếc áo. Và lần mặc áo ấy
vào nội cung, Hoàng Hậu làm cho Hoàng Đế chưng hửng:
- Trời ơi, trông khanh trẻ như một cung phi mới tuyển.
Và từ đó, bà Hoàng Hậu, bốn mươi lăm tuổi, được Hoàng Đế sủng ái và xao lãng
các bà Phi.
Hoàng Đế ra lịnh cho thần dân, ai cũng phải trồng dâu để nuôi tằm cả. Và tơ của
lứa tằm đầu của toàn quốc được tập trung về trào, dệt lụa, may áo cho toàn thể
cung phi, mỹ nữ.
Đêm ấy có dạ hội, các vũ nữ đều mặc xiêm y bằng lụa màu.
Hoàng Đế xem họ múa mà mê, không mê vì vũ khúc hay sắc gái, mà mê những tà lụa
óng ánh, dịu như cánh bướm.
Hoàng Hậu cũng có mặt nơi đó, nhưng bà cứ đăm đăm, ngậm ngùi, thương ai không
biết.
Hoàng Đế trông thấy hỏi:
- Sao hậu không vui với trẫm?
- Tâu bệ hạ, thiếp nhớ chàng nghệ sĩ mà tội nghiệp hắn hoài.
Hoàng Đế cười ha hả:
- Ối, khéo dư nước mắt. Nghệ sĩ đó chết, là còn nghệ sĩ khác. Cái kiếp của
chúng nó là đau khổ rồi chết đi, để lại đồ đẹp cho ta hưởng mà.
Hoàng Hậu không cãi lại, chỉ rưng rưng nước mắt thầm.
LẦU 3 PHÒNG 7
Ục...ục...ục...uột...
Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước ở bồn rửa mặt của phòng bên cạnh.
Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị ruột kêu sôi ồn ột. Đáng ghê nhứt là cái
tiếng "uột" sau cùng, kéo dài bất tận.
Ở đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng giày nện lên gạch, tiếng
nước cầu xí, tiếng đàn vĩ cầm ai mới học, kéo ọ ẹ suốt ngày.
Trên đầu chàng, ở cái buồng từng trên, người chiếm ngụ làm gì mà cứ kéo ghế,
kéo bàn mãi cả ngày lẫn đêm, như ma dậy nhà hoang.
Người ta hay tỏ ý chê bai đồng bào Thượng trên cao nguyên, ở trong những ngôi
nhà công cộng dài nhằng, hai, ba mươi gia đình chồng chất lên nhau rất là mất vệ
sinh. Nhưng cái bọn văn minh nầy, bày ra buyn-đin để chen chúc nhau trong đó,
thì cũng thế thôi.
Quỳnh thuê căn buồng số 7 để làm chỗ ẩn thân. Ở nhà, khách khứa đông đảo, người
nhà rộn rịp, chàng không thế nào làm việc được.
Với lại, con người có đời sống bên trong, luôn luôn mỗi ngày thích dành ra một
lúc để quay về với chính mình. Những lúc ấy, hắn cần được yên thân. Ở đây yên
thân nhứt: gia đình, bạn hữu, nào có biết để mà theo quấy rầy chàng.
Ngoài ra, chàng được hưởng thêm nhiều thú khác. Chàng nghe như mình đang du lịch
ở những nơi xa, sống cô đơn nơi một buồng khách sạn, cái buồng nặc danh với những
bức tường trắng không tranh ảnh, không mang một bản sắc nào. Cái mộng viễn du
chưa bao giờ thỏa, thế là được ảo tưởng nầy bù cho.
Chàng lại nghe hay hay, nhớ lại thuở thanh xuân, trốn nhà đi chơi lêu lổng, nay
ngủ chỗ nầy, mai ngủ nơi khác...
Ục..ục...ục...uột...
Lần nầy, Quỳnh không bịt tai nữa, vì chàng thấy, chàng rất bất công. Chính
chàng cũng đã gây tiếng động khiếm nhã. Mỗi lần đến là chàng đánh máy ầm trời.
Những người ở chung quanh buyn-đin với chàng tò mò tìm biết anh chàng nầy làm
nghề gì, mà mỗi ngày chỉ đến có mấy tiếng đồng hồ thôi, mà hễ đến, là đánh máy
liên tu bất tận. Lắm đêm, hắn bốc đồng, lên đó vào lúc mười giờ, mở đèn sáng
choang, rồi đập sành sạch không cho ai ngủ cả.
Ở đây có những công chức cao cấp, những sĩ quan, những thương gia chưa sắm nổi
biệt thự. Bề ngoài thì như là không ai thèm chú ý tới ai, nhưng chàng tinh mắt,
biết họ cố tìm căn cước chàng, một gã khả nghi. Hắn đánh truyền đơn chăng? Chỉ
có người quản lý buyn-đin là hơi biết hắn làm gì thôi, vì hắn phải khai sự thật
ở đó.
Họ ngạc nhiên là không bao giờ có bạn đến thăm hắn. Lại càng khả nghi hơn nữa.
Nhưng mà rốt cuộc, hắn cũng có bạn. Đó là một người bạn gái, xinh như các thiếu
nữ trong cổ tích. Lần đầu tiên, cô bạn ấy lên đây, một viên...gặp cô ta ở chân
thang, đã kinh ngạc vì sắc đẹp của cô. Cô bạn leo thang chớ không dùng thang
máy. Người ấy không ngại trễ giờ làm việc, leo cả sáu chiếc thang lầu để theo
cô ta, cho biết cô ta đi đâu.
Thế rồi, người ta đồn ầm lên rằng, hắn thuê buồng để tiếp nhân tình.
Quỳnh chỉ mong được thế. Nhưng cô ta chỉ là bạn thôi. Đó là một văn hữu mới
quen.
Nói văn hữu, thì ra suy tôn cô bạn quá. Thật ra, chỉ là một bạn đọc yêu văn
chàng và vốn cũng thích viết văn.
Họ gặp nhau trong một trường hợp kỳ dị hết sức và chính cô gái đã làm quen trước
với chàng. Cô gái thông thạo các vấn đề văn nghệ, biết tất cả văn nghệ phẩm Việt
và ít nhiều tác phẩm ngoại quốc, nên chi trong buổi đầu gặp gỡ, chàng nói chuyện
giỏi một cách dễ dàng, vì khỏi phải ra ngoài địa hạt của chàng. Cô gái ngỏ ý muốn
nhờ chàng chỉ dẫn cho công việc sáng tác. À, còn gì sung sướng bằng. Chàng chỉ
mong có bấy nhiêu đó, mà không dám đề nghị trước. Chán vạn thằng khác nó dâng
công cho gái như vậy và được gái yêu. Chàng khỏi phải lập công với ai, mà kết
quả cũng có thể đi đến đó.
Công việc đầu tiên của chàng là đặt cho bạn một biệt hiệu văn nghệ. Không biết
ai đó đã đặt dùm nàng một bút danh rất là sáo: cô Song Thu. Sao lại nói đến hai
mùa thu trong con người nô nức thanh xuân ấy, nơi con người nồng cháy cả một
mùa hè sinh lực ấy !
Quỳnh đã dâng bạn một bút hiệu hơi bí hiểm: cô Long Hoa.
Nhưng, mặc dầu là văn hữu, họ vẫn gọi nhau bằng tên cúng cơm, tên mà người
ngoài không ai biết cả.
Nàng nói:
- Biệt hiệu của anh là của muôn người; em chỉ thích kêu anh là anh Quỳnh thôi,
vì Quỳnh mới là của riêng em.
Công việc đầu tiên của Lệ, tên nàng, là sắm một tấm vải màu phủ mặt bàn, chiếc
bàn độc
nhứt dùng làm bàn ăn, đánh máy và ngồi lên đó chơi, mà chàng để trơ trẽn ra đó,
không phấn son gì cả.
Cô bạn lại mua tranh, bắt Quỳnh phải treo lên vách.
Cái buồng bây giờ đã có cá tính của nó, chớ không còn là buồng nặc danh của
khách sạn hay phòng thuê nữa.
Người ta thấy là đờn bà đã vào phòng đó, hơn thế, một người đờn bà có học, có
óc thẩm mỹ và khéo léo tay chơn.
Nhưng Quỳnh lấy làm thất vọng. Họ gặp nhau đã sáu lần rồi, mà cô bạn, xem chừng,
không vội học sáng tác cho lắm.
Cô bạn nói rất nhiều chuyện mưa, chuyện nắng, mà nói rất có duyên. Quỳnh, tuy
không phải chỉ biết nói về văn nghệ không mà thôi, nghĩa là, tuy chàng, cũng
vui được với chuyện chó chẹt, ô-tô và chuyện đờn bà giựt hụi, nhưng chàng không
khỏi bất mãn vì người văn hữu chưa đến. Thân thể y có mặt, nhưng người bạn văn
của lúc gặp gỡ, thì vẫn chưa thấy bóng hình.
Quỳnh cũng biết thích bạn gái như ai, phương chi đây là một người bạn gái đẹp
và thông minh, lại có rất nhiều cảm tình đối với chàng, thì chàng còn mong gì
hơn.? Nhưng chàng cứ mong hơn. Vì chàng đã dọn lòng để đón một văn hữu chớ
không phải để rước giai nhân.
Sao người văn hữu lại không đến? Mỏi mòn nhìn con đường xa, gió cuốn bụi hồng,
mỏi mòn trông đợi một bóng ngựa viễn phương mang đến người bạn văn trễ hẹn, Quỳnh
nhẫn nại tiếp đón mỹ nhơn, dầu sao, cũng đang có mặt.
Nếu không đợi người kia, thì chàng đã yêu người nầy từ lúc ban đầu. Người đờn
bà đẹp, chỉ để cho người ta yêu thôi, chớ không dùng được vào việc gì cả. Cô bạn
nầy, trời sanh ra làm gì và đến đây để làm gì, thật là không có lý do, y như là
trời đã sanh ra hoa hồng và hoa hồng lại bị cắm vào miệng lọ, chỉ có một lý do
nhỏ thôi, là làm cho vui mắt chủ nhà.
Chủ nhà không thuê buồng để tiếp gái đẹp, thuê buồng xong, không thèm sắm lọ,
thì hoa hồng vào đây, có phải là không biết điều lắm chăng?
Nhưng nó đã vào và nó đẹp, chủ nhân đang buồn, bạn không đến, thì không lẽ lại
không nhìn nó.
Nó xinh đẹp ghê hồn khiến chủ nhân cũng đến thấy mình ngốc quá, mà đã xem thường
nó.
Trời sanh người đờn bà đẹp làm gì, nếu không để cho người ta yêu. Quỳnh yêu
nàng vậy. Nhưng không dễ dàng lắm đâu.
Phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu bị Âu hóa thật sự. Họ đến buồng đờn ông, nhưng vẫn tự
vệ, nếu bên nam giới không khéo xử thế, thì cũng chẳng đi đến đâu được.
Quỳnh đã khéo xử thế. Cuộc đùa giỡn với ái tình gay cấn và cam go quá, khiến
chàng say mê, say cái say chiến đấu của văn nghệ sĩ, cái gì dễ dàng quá thì
không ham, mà chỉ mê mệt đối với những sáng tạo đau đớn thôi.
Chàng đã thắng.
Nhưng trong giây phút ôm thiếu nữ trong tay, chàng bỗng nghe rỗng không trong
lòng và quanh mình.
Trời ơi, thật là không có gì cả, cái phút giây mà người ta gọi là thần tiên!
Chàng đã vật lộn với tình cảm, với tư tưởng, đã lao khổ sáng tác, và rốt cuộc,
đẻ ra được những cái gì bền vững, mà chàng thích nâng niu lâu ngày.
Ở đây, chàng cũng đã lao khổ chiếm trái tim một giai nữ nhưng khi thành công
xong, chàng không thấy được gì cả.
Chắc thiếu nữ đang nằm trong tay chàng, thầm nói:
- Sướng đấy nhé! Anh đã được em rồi đó, có thích hay không?
Không, chàng không thích, hay có thích cũng chỉ như đứa bé được quà, thích như
vậy thôi, chớ làm sao mà có được những xúc cảm mê ly của cái phút chấm dứt một
văn nghệ phẩm?
Nhưng mà cũng an ủi phần nào. Người văn hữu không đến, nhưng người tình nầy có
thể là người văn hữu kia. Văn hữu chậm bước, vì nàng cần phải sống cái đã, sống
dưới cái võ ngoài của người phụ nữ thường, sống đầy đủ về tình cảm và xác thịt.
Sống thỏa mãn xong, người bạn văn sẽ cởi áo người nhân tình mà thoát ra, và chừng
đó, chàng sẽ được cả hai.
Quả thế. Trận giặc ái tình chấm dứt bằng một hiệp ước yêu đương. Lệ bắt đầu học
tập. Ông thầy dạy văn làm phận sự rất dễ dàng, vì nàng đã khá thạo kỹ thuật viết.
Quỳnh thấy mình phải dắt bạn bước qua giai đoạn thứ nhì ngay. Chàng nói:
- Viết văn chỉ là một thứ kỹ thuật, tương đối dễ học. Nhưng muốn sáng tác, em cần
phải có cái gì trong lòng, để mà nói ra, bằng không, thì giã từ văn chương vậy.
Lắm khi, đã có cái ấy trong lòng rồi mà nó không cắn rứt mình, không kêu gào
đòi chun ra lắm, thì cũng không thể sáng tác được. Em có cái gì trong bụng
không?
Lệ vả vào má chàng một cái đau điếng, cười, rồi đáp:
- Sẽ có thằng con của anh chớ gì. Nhưng mà chưa có, đừng có nghi bậy.
Cả hai cười xòa, rồi Quỳnh lập nghiêm, tiếp tục bài giảng:
- Đứng đắn mà. Em có nỗi niềm gì muốn nói ra chăng? Băn khoăn gì? Thắc mắc vì
sao, bứt rứt chuyện chi?
- Không, em không băn khoăn về gì cả. Em chỉ mơ yêu...
- Thế à? Mơ yêu cũng là một chuyện có thể nói ra được, miễn là nói hay.
- Nhưng giờ đã yêu rồi, em hết mơ.
- Cũng vẫn cứ được, sự thỏa mãn trong tình yêu cũng là một đề tài hay.
- Nhưng em không cần nói ra.
Quỳnh kinh ngạc, trừng trừng nhìn người bạn, giây lâu mới hỏi được:
- Tại sao em lại thích viết văn?
Lệ làm thinh rất lâu, rồi cười đáp:
- Khó nói lắm.
- Nhưng mà một văn sĩ tập sự phải nói được, ít lắm, là điều đó.
- Như thế nầy: Viết văn danh vọng lắm. Như anh, ai cũng biết đến cả. Em cũng muốn
được như vậy. Nhưng mà, nay học thêm với anh, em thấy là phải khổ thân lắm mới
bước tới đài danh vọng được.
Quỳnh bỗng nghe một trận địa chấn quanh chàng. Chàng buông người bạn tình ra,
lòng đau xót không tả được.
Người văn hữu đã chánh thức nhắn lời là không đến, không bao giờ đến nữa cả. Hắn
chỉ là một ảo tưởng và hắn đã tan trong sương mờ.
Quỳnh nắm lấy cằm bạn, nhìn thẳng vào mắt nàng, nhưng chỉ nói thầm một mình:
- Em bé ơi! Em bé không thích mang nặng, đẻ đau, không chịu hoài thai cực khổ
và không chịu chuyển bụng rên la, mà em bé lại đòi có những đứa con nó đưa em
bé lên đài danh vọng...
Thôi, em bé đi lấy chồng đi, lấy những người đang ở trên cao, hoặc đang có
tương lai nhiều. Một sớm, một chiều, các báo sẽ nói đến phu nhân X...nào đó.
Viết văn, nào phải để leo lên đài đâu? Viết để làm gì, lắm khi, chính anh cũng
không biết. Nhưng đó là cái thai đã đến ngày, những thằng bé cứ vặn mình đòi lọt
ra. Đau như xé cả ruột gan, không muốn làm cho nó ra, cũng không thể được.
Quỳnh muốn trả ngay căn buồng nầy. Hồn người văn hữu sai hẹn cứ như còn quanh
quất đâu đây. Phải trốn không khí nầy, mà bao lâu nay phảng phất tiền hương, tiền
vị của người khách mong đợi.
Bỗng có người bước lên thang gác. Đó là tiếng giày đờn bà, nó làm cho chàng giật
nẩy mình, dáo dác nghe ngóng.
Không, không trả căn buồng nầy đâu. Mỗi tiếng động khiếm nhã ở đây đều gợi nhớ
những giây phút hồi hộp đợi chờ. Mỗi lần nghe tiếng động, chàng sẽ có dịp đi
hành hương trong không gian, đi về phía bàn thờ thần "Tình Bạn Văn'.
Cây vĩ cầm của cô hay cậu nào ở buồng số 5 cứ kéo ọ ẹ mãi bản nhạc "Bên
Sông vắng" của Tạ Tấn.
Nhưng lần nầy, chàng không nghe bực mình nữa. Chàng lẩn thẩn đặt lời cho những
nốt nhạc ấy, lời thật của tác giả, chàng đã quên từ lâu, vì đó là một bản nhạc
tiền chiến.
Đêm nay tới bến, năm nào đây,
Tiếng gió vi vu bên sông vắng tanh,
Ngậm ngùi nhớ đến con đò xưa, năm ấy,
Quen nhau bởi một chuyến đò chiều.
Nhớ người năm đó.
KẺ CHIẾN BẠI
Gõ cửa đến ba, bốn hiệp, mà không thấy bóng ai, cũng không
nghe ai lên tiếng, tôi gọi to:
- Có ông chủ ở nhà không?
- Ai đó? Mạnh hả, đi tuốt xuống đây.
Tiếng anh Thành nghe xa lắm, ở mãi dưới bếp.
Tôi bước vào buồng khách và ngần ngại đứng dòm ra sau. Thành, chắc hiểu ý tôi,
nên bảo nữa:
- Đi xuống đây mà. Nhà không ai hết.
Tôi quen nhiều với anh Thành, mà không là bạn thân với anh ấy, nên tôi chưa
xông pha nhà nầy lần nào cả, vì còn phải giữ lễ với chị Thành.
Hôm nay, chắc chị Thành đưa con về quê nghỉ mát, nên nhà vắng và anh Thành, chắc
đang đun nước ngoài sau.
Nhưng đi đến nơi, tôi ngạc nhiên hết sức: anh Thành mặc bi-da-ma, coi có vẻ
trai thế kỷ hai mươi lắm, nhưng anh ta lại đang đứng say sưa ngắm một cảnh non
bộ, đặt ở giữa sân trong.
- Cha, có gắn hòn non bộ trong nhà à? Sao không bao giờ nghe cha nói đến?
Tôi hỏi, sau mấy phút chưng hửng nhìn bạn.
- Các anh hiểu gì mà nói cho mệt. Không phải tôi gắn đâu nhé. Mới gắn gì mà rêu
đã phủ xanh các gộp đá, mới gắn, nó đâu được vẻ cổ kính như vầy. Số là cái ông
nào đó, trước ở đây, chừng như lâu lắm, đã tạo nên cảnh thiên nhiên nầy. Rồi
ông đi hay chết mất, bộ giả sơn truyền qua không biết bao nhiêu người, bị bỏ bồ
lăn, bồ lóc, bây giờ mới đến tay tôi.
Tôi nhớ, thuở tôi còn nhỏ, ông tôi cũng chơi non bộ, nên tôi hơi biết thưởng thức
món đó.
Quả thật, hòn núi giả nầy rất đẹp. Nó đẹp vì đấp khéo. Những phiến đá, những khối
xi-măng như là vứt bừa bãi lên đó, không tố giác được công trình của tay người.
Y như là một khối đá tự nhiên bị nước đào mòn, khuyết đi một cách không lề lối.
Nó lại đẹp vì vẻ cổ kính của nó, Năm tháng, gió sương, mưa nắng đã thổi sanh
khí vào hòn non bộ ấy, tạo cho nó một sức sống mãnh liệt. Một lớp rêu xanh mịn,
mướt lông nhung phủ kín mặt đất và từ mỗi hốc đá, mọc ra, từ bao lâu rồi không
biết, đủ thứ cỏ rong. Nhìn hòn giả sơn, không khỏi nghĩ đến rừng núi thâm u,
ngàn năm chưa thấy dấu chơn người.
Tôi theo Thành vào nhà, cái nhà lá nho nhỏ, mà anh gọi là thảo lư. Cái tiếng thảo
lư nầy, cùng với mớ tranh Tàu treo trên vách, khiến tôi thấy Thành có vẻ Tàu lắm,
hay có ý muốn thành Tàu lắm, một thứ Tàu đâu hồi cổ sơ, Tàu của thời Xuân Thu,
Tàu đầy thơ mộng và đông đúc những Tiên.
Tự nhiên là Thành cho tôi uống trà Tàu. Thường thường, anh Thành uống trà hơi ấm
thôi, uống cả ly lớn. Nay anh và tôi uống chén nhỏ, nước trà thật nóng.
- Đó, anh hớp từng hớp, rồi đừng nói gì, cứ nhìn cảnh rồi suy tưởng.
Lẽ cố nhiên là tôi không nói gì trước người con trai biết ham thích sống ồn, sống
hoạt, bây giờ biến thành một ông Tàu ngậm ống điếu dài, hay một nhà Nho, móng
tay dài cũng thế.
Tay nâng ngang môi chung trà xưa, mà nét vẽ rất thanh đạm trên men ngà, Thành
như chìm trong bồn cá Tàu giữa bàn. Cá nhiều màu lượn quanh những thủy thảo mọc
lên trên một nền sạn trắng và đá biển, cũng hiểm hóc như hòn non bộ.
Chịu không nổi sự im lặng mãi, tôi nói:
- Anh còn thiếu một món nữa mới thành một ông Tàu hoàn toàn.
- Món gì?
- Chim.
- Phải, thiếu chim. Nhưng tôi thấy chim lồng không đẹp, nên thôi không nuôi.
- Nhưng còn những cái nầy, không ở trong lồng sao? Anh đem nước non, trời biển
thu nhỏ lại trong một góc vườn, một bồn kiểng, còn đẹp gì nữa.
- Ấy mà đẹp. Chính vì thu lại được, nó mới đẹp. Mà thu lại là cả một nghệ thuật
đấy nhé! Con chim thì thấy nó ở trong lồng thật sự, có cái gì nhơn tạo trong
đó, chán quá.
Anh coi như cây tùng và cây chùm nụm ngoài sân kia, nếu tôi trồng dưới đất, nó
sẽ lớn. Nhưng nó không đủ sức lớn để trở thành cây cổ thụ trong rừng sâu.
Bây giờ tôi ép nó mọc trong chậu, thiếu chất ăn, nó thành cằn cỗi như cây già
trên núi. Coi hay lắm.
- Bệnh lao phổi có dính dáng gì đến sở thích kỳ dị của anh chăng?
Anh Thành đau phổi đã ba năm rồi, và nhờ khéo chữa nên đã khỏi.
Anh Thành ngả lưng lên ghế cười ha hả:
- Anh lầm to, như bao nhiêu người khác. Tôi vẫn có sở thích nầy từ lâu rồi, tôi
vẫn chơi cá Tàu, non bộ, cây cảnh. Tôi chơi từ cái lúc tôi còn đi đánh ten-nít,
đi bơi lội kia. Không, cái thú nầy không phải cái thú riêng của ông Tàu ủ rũ,
hay ông già lụ khụ. Nó vẫn đi đôi được với sự sống ồn, trẻ và hoạt.
Rồi đột ngột, anh hỏi:
- Dynamique dịch ra Việt ngữ là gì?
- Tôi dịch không nổi tiếng đó, anh cứ tạm nói là cường sinh đi.
- Không ổn. Nhưng tạm dùng vậy. Anh có biết dân tộc nào cường sinh hơn dân tộc
Nhựt Bổn không? Thế mà họ là những tay chơi cây cảnh, non bộ sành nhứt đó.
Phải, bịnh tật làm cho con người ủy mị, nhưng trò chơi nầy không ủy mị chút nào
như nhiều người cứ tưởng và cứ cho đó là món giải trí phong kiến và lạc hậu.
Ở đời có nhiều việc, mới xem, ngỡ là trái ngược với nhau. Nhưng thật ra, nó đi
đôi với nhau rất xứng. Ai bảo thủ bằng dân Anh. Nhưng có phải là dân Anh làm
cách mạng trước nhứt chăng? Ai tin ma cho bằng dân Anh. Nhưng có phải là dân
Anh làm việc có phương pháp và suy luận khoa học nhứt chăng?
° ° °
Trời nóng bức quá. Tôi đòi nước đá.
- Không, anh chỉ được uống trà nóng, trong thảo lư của bác Tàu cổ. Ta phải mín
đàm cho nó đúng điệu. Cả một nghệ thuật đấy. Như tôi, tôi xem tranh ảnh về Huế,
thì thế nào cũng không khỏi ngâm bài Nam bường
Nước non nghìn dặm ra đi...
Mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ly...
và bắt thèm bánh lá chả tôm. Ấy, phải có một sự hòa hợp như vậy. Cây sì-cú nầy,
- vừa nói, anh Thành vừa chỉ chậu sì-cú trên bàn, gần bồn cá -, riêng nó, không
đẹp đẽ gì, mà thiếu thì không được đâu. Cá Tàu phải đi với sì-cú.
° ° °
Tối hôm đó, trời lặng gió. Trong khi cá táp móng nghe bong bóc trong bồn, Thành
thắp hai cây đèn cầy, gắn trên hai viên gạch rồi đem đèn để phía ngoài kia, một
cây sau hòn non bộ, một cây khác, sau chậu tùng.
Thành, như là ở đời xưa hiện về. Anh ngồi trên ghế bố, nhìn bóng dáng cái núi
giả và cây tùng nổi bật lên trước ánh đèn.
Tôi cả rỡn:
- Quả thật là: yêu ngày chưa phỉ, lại yêu đêm.
- Đó, mới lòi chỗ dốt của anh nữa. Người ta chỉ nhìn cây kiểng và hòn non bộ
như vậy thôi. Ban ngày, con mắt bị xao lãng vì những cái thấy khác. Vả, ban
ngày cảnh thiệt xung quanh ta lớn quá, khiến ta cứ nhớ, ta nhìn núi giả. Giờ
đây, ta sẵn lòng quên và được quên sự thật, chỉ thấy hình dáng của núi cao đứng
sững trước mặt trời sắp lặn.
- Thi sĩ quá.
- Anh cứ mà chế nhạo, tôi không cần dư luận của ai hết.
Giống lắm.
- Giống cái gì?
- Giống núi thật.
- Anh có đi chơi núi rồi à?
- Cũng có chớ. Mà việc trèo núi, ở đây, không dính dáng tới chỗ giống hay
không. Giống là giống hòn núi thật, trông đàng xa. Còn chi tiết trên núi, tôi
chưa nói đến. Cả trăm hòn non bộ trong nước Việt Nam, chưa dễ tìm ra được một
hòn như vầy! Anh coi, các mỏm đá không đều, không cân xứng như ở mấy hòn khác,
không có vẻ nhân tạo chút nào. Hoàn toàn giống thiên nhiên. Nếu chụp ảnh một
mình nó, thì tôi đố ai khỏi lầm. Còn cái cây tùng và cây chùm nụm nầy, nó giống
hệt cây cổ thọ.
Tôi nhớ ông chú tôi hồi đó hay chê dốt những người đem cây chùm nụm uốn thành
hình con phụng, con công. Theo ông, cây chùm nụm phải có dáng tự nhiên như cây
mọc trong rừng. Theo ông, các vườn Tàu, vườn Nhựt với những đường đi cong quẹo,
với những xó ngạc nhiên, với những cầu tre bắc ngang suối giả, đẹp hơn vườn Âu
Châu nhiều.
Bây giờ, ta lại nói đến chi tiết bộ giả sơn. Nếu không phải là một tay chơi
sành lắm, thì không thể nào đắp nổi một hòn non như vầy, các hang đá hiểm hóc,
ăn sâu vào núi, trông bí mật lạ. Nó trổ ra mặt hồ. Nếu có một chiếc xuồng nhỏ
do một người bơi tẻ vào hang, thì ta không khỏi nghĩ đến người Đào Nguyên lạc lối.
Cái khe nước chảy dưới cầu, để đổ ra hồ, có vẻ sống lắm. Tuy nó cạn, mà tôi, dường
như, nghe nó thầm reo và tưởng nó đang len lỏi, dò lần về mẹ nó là cái hồ lớn
kia, chú tiều phu vai trĩu củi và túp lều tranh đứng co ro đằng xa kia, thật là
khéo lựa. Nó nhỏ vừa với sức lớn của núi rừng. Có người dốt, mua ông Tiên lớn
quá, hoặc cái nhà quá to, trông nó luốt đi thành ra của họ, hòn non kêu lớn lên
luôn luôn: "Ta đây giả, ta đây giả". Hai ông tiên ngồi đánh cờ trên
thạch bàn, gợi những ngày không bợn lo âu. Tôi tưởng như Bạch Hạc đồng tử bay gần
đâu đó. Ngôi chùa rêu phủ đứng cheo leo trên sườn núi đẹp vô cùng, không khác
gì tranh thủy mặc Tàu. Tôi rất yêu hình ảnh của nước Tàu cổ, nước Tàu với những
tửu quán, trà đình với những nhà ngói sứ, mái cong cong, với những văn nhơn bắt
gặp thơ đề trên vách một ngôi chùa xưa rêu phủ trong rừng tùng, nét chưa ráo mực,
mà nàng tiểu thơ đề vịnh đã lâu rồi...
Nói tới đó, Thành chỉ lên vách, tôi nhìn theo, thì nhận ra một bức tranh,
không, một tấm lụa, trên đó có viết bằng chữ thảo, một bài thơ Tàu:
Khứ niên kim nhựt thử môn trung
.....
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Nét chữ bay bướm, tung hoành, đẹp như một bức thủy mặc với những nét vẽ phác.
Tôi nhìn Thành trừng trừng, kinh ngạc trước con người chưa đi thi Huế lần nào nầy,
mà cứ nói đến những chân trời xa.
- Hình như, anh ưa đi lắm thì phải?
Tôi hỏi để chắc bụng về ý nghĩ của tôi đối với mâu thuẫn kỳ dị trong con người
nầy.
Thành không đáp ngay, chỉ đặt bàn tay lên vai tôi, rồi gởi gấm:
- Các cụ ta xưa, nhứt là những nhà Nho lỡ vận, thích non bộ, vì họ cố ý gạt gẫm
lòng họ trong cảnh nước non, trời biển bị thu hình, để nghe như đã tóm thâu trần
giới được trong tay họ.
Tôi bỗng chợt hiểu rằng, giấc mơ non xa, nước lạ của Thành, không phải do mộng
đi bất toại mà có, mà chính là kết tinh của mặc cảm nhỏ nhoi của đời anh.
RUNG CÂY DỪA
Một khối đen đùn lên ở chân trời phía Đông Nam. Thầy giáo lấy
tay che mắt, vì nắng sớm chói lòa, để theo dõi cây khói, cứ mọc lần lên cao ấy.
Khói mọc lên, tức là một chiếc tàu sắp đến gần bờ, mà khi tàu ở Đông Nam đến,
thì là tàu tuần rồi. Những chiếc tàu ở Pháp qua, đều ở Tây Nam lại.
Gần một tháng nay, không có chiếc tàu nào chạy qua lối đây cả. Nên chi thầy
giáo nghe vui rộn lên, như là thấy dáng bạn đằng xa.
Bạn?
Ừ, bạn, bạn thực đó, mặc dầu thầy giáo biết rõ ở trong nội địa, người ta xem
tàu ấy và người trên tàu là thù.
Thầy giáo đã hờn một người, rồi hờn luôn cả loài người. Thầy trốn ra đây đã hăm
hai năm. Không đứng bộ đinh của làng nào trên nước Việt Nam nữa, thì nước Việt
Nam đó đánh nhau với ai, thầy không mảy may sốt ruột, và không xem "ai
đó" là kẻ thù.
Đây là hòn Củ Tron, nói đúng ra là một đảo trong quần đảo Củ Tron. Hòn nầy, thật
ra, gồm đâu lối hai mươi hòn đảo nhỏ.
Vịnh Thái Lan, phần thuộc hải phận Việt Nam, chi chít những đảo là đảo, như có
đứa trẻ tinh nghịch nào hốt đá cuội mà vứt rải trên một cái ao con. Đảo ấy xúm
xít lại với nhau từng chùm, thành nhiều bầy đảo riêng mà người dân trong nội địa,
để đơn giản hóa, xem mỗi bầy như là một hòn duy nhứt và chỉ đặt một tên thôi.
Tại sao lại có sự đào ngũ nước nhà và loài người nầy? Có gì đâu? Thật trẻ con
và buồn cười hết sức, thầy giáo đã thất vọng vì tình mà lại. Rõ là:
"Một người làm đĩ, xấu danh đờn bà!".
Lời tục không sai.
Một người đờn bà đã phụ thầy, chỉ có một người thôi, thế mà thầy oán tất cả giống
đờn bà, rồi oán lây cả loài người.
Thầy kêu đời là giả dối, người là xấu xa và đâm ra ngâm toàn thơ yếm thế và mê
cảnh làm bạn với hươu nai trong những bài thơ đó.
Ban đầu, thầy định vào núi tu, nhưng trên Bảy Núi thì đang lắm ông đạo lăng
nhăng, ông đạo Nằm, ông đạo Lết, ông đạo Huế, ông đạo Hù. Vả lại, thỉnh thoảng
có những bà mộ các ông đạo ấy lên hành hương, thì cuộc đụng chạm với "những
con ác quỷ" làm sao dứt được.
Những hòn đảo xa, xanh tím nơi chân trời ngoài kia, có những sự tích huyền ảo đối
với người trên bờ, họ truyền miệng nhau mớ chuyện thần tiên ấy từ thế hệ nầy
qua thế hệ khác.
Nên chi, bầy đảo chốn hải giác thiên nhai, vốn đã quyến rũ thầy từ thuở bé, bấy
giờ, khi lòng thầy nát ngướu vì sự phản bội của một người đờn bà, nó lại kêu
lên cái tiếng gọi xa xăm và quyến rũ của nó.
Ra tới quần đảo Củ Tron, thầy mới nhận ra là sống một mình không được, hay được
mà khổ biết bao nhiêu. Vì thế, thay vì ở biệt tích trên một hòn hẻo lánh, thầy
tá túc nơi một cù lao đông tám gia đình.
Thầy ta bỏ tên cũ, và dân đảo chờ mãi không nghe thầy xưng tên, mới kêu thầy là
thầy giáo, và chức thầy giáo biến thành tên thầy từ đó.
Về vật chất, con người ở đây lùi về đời sống cổ sơ, tự làm lấy mọi việc, ít khi
trao đổi hàng hóa với nội địa. Nhưng thứ nhứt là về mặt tinh thần. Cùng một nhịp
với cuộc sống, họ cũng bỏ rơi lần lần những phiền toái xã giao về tình cảm, về
ý nghĩa của một xã hội văn minh. Đời người, nhờ thế, mà ít bị ràng buộc biết
bao.
Cây khói mọc lên cao, rồi ngã đầu dưới gió sớm, rồi ống khói tàu nhô lên. Trông
từ xa, ống khói và làn khói giống như một cây đuốc, mà người cầm còn núp ở đâu
dưới hố sâu.
Lần lần cả chiếc tuần dương hạm dình dàng bò lên trên góc biển hình tròn; đó là
tế nhận tinh vi dưới hai con mắt biết khoa học của thầy giáo.
Nối đuôi tuần dương hạm là năm chiếc tuần hải ngạn nhỏ, trông như một con heo mẹ
ột ệt dắt một bầy heo con.
Còi tàu hú vang rền, xịt khói dày đặc, rồi dừng lại ngoài khơi.
Không trông thấy rõ gì, mà thầy giáo vẫn biết họ đương hạ thủy những chiếc xuồng
máy.
Cảnh nầy, độ ba tuần, lại diễn lại một lần. Lần đầu, cách đó mười năm. Thâm ý của
Hải Quân Pháp là dòm ngó xem trên các đảo hẻo lánh ấy có Việt Minh hay không.
Nhưng dân ở các đảo, và cả thầy giáo nữa, lại ngỡ là họ ghé xin nước, xin trái
cây.
Không chiếc xuồng máy nào vào bờ mà không mang theo bơ, sữa, súc-cù-là, kẹo,
bánh. Người dân ở đảo ngỡ đó là quà trao đổi, nên biếu lại nước suối ngọt, chuối,
dừa. Thủy quân Pháp vui lòng nhận quà đó, để gây thân thiện. Rồi khi dòm ngó thấy
dân chúng chất phác làm ăn, họ trở ra khơi. Nhưng thỉnh thoảng họ vẫn trở lại.
Thật là một sự xem chừng kiên nhẫn.
Nhờ thế, thầy giáo biết rằng, dân ta đã đứng lên kháng Pháp. Lòng trần chưa gội
sạch, nên khi nghe tin nầy, thầy nôn nao mấy hôm. Nhưng mà dứt là dứt! Ôi, đau
như hôm vĩnh biệt đất liền, quyết tâm quên người yêu và thỉnh thoảng day lại
nhìn ngọn cau ngả nghiêng dưới gió. Niềm đau vận nước hôm đó cũng ray rứt như
là cuộc phân vân ngày đi. Thật là "linh đinh nửa nước, nửa dầu".
Nhưng thôi, dứt là dứt hẳn!
Khi xuồng máy cày mặt biển, lủi gần tới bờ, thầy giáo vội vàng rời chỗ nhắm, trở
về xóm để báo tin cho người ta đủ ngày giờ đốn chuối, hái dừa.
Dưới xuồng chỉ có một Tiểu Đội thôi, nhưng tới tám người lính và viên Đội Trưởng
lên bờ, mà họ lên tay không. Ngày thường thì họ võ trang tới chơn tóc, kẽ răng,
và ở lại dưới xuồng đông hơn để ngừa nguy biến.
Thầy giáo làm thông ngôn. Bọn thủy thủ cũng chào hỏi vui vẻ như mọi lần, nhưng
sắc mặt hơi buồn. Viên Đội Trưởng nói:
- Tôi đến đây lần cuối cùng, để từ biệt các anh.
- Anh đổi đi nơi khác à?
- Không.
- Vậy thì làm sao?
- Hiệp Định Giơ-neo, các anh biết chớ?
- Có, có nghe anh nói.
- Sau Hiệp Định đó, chúng tôi ngỡ còn được ở miền Nam. Nhưng chính phủ anh yêu
cầu chúng tôi rút lui toàn diện.
- Vậy hả?
- Bây giờ thì các anh độc lập rồi đó, không còn nói ra, nói vào gì được nữa.
Anh có về đất liền không, anh Giáo? Về mà hưởng độc lập.
- Không!
- Thế ra, cái chuyện ngày xưa ấy, cái chuyện xui anh trốn ra đây ấy, là chuyện
lòng thật sự, quả như anh đã nói. Từ thuở giờ, chúng tôi ngỡ anh nói dối và vẫn
xem chừng anh đấy.
Bọn lính thủy cười rần rần; một anh đưa cánh tay ra, trên da có xâm quả tim bị
mũi tên xuyên ngang, máu chảy có giọt, mà rằng:
- Đây, tình đau khổ! "Ẻn" đã đập nát quả tim tôi, vậy mà tôi có thèm
đi đâu. Hay nói cho đúng ra, tôi có đi, tôi đi cùng khắp bầu trời, để tìm nhiều
"ẻn" khác, và tìm được dễ dàng.
Nhưng thầy giáo vẫn điềm nhiên:
- Thôi, vĩnh biệt!
- Vĩnh biệt!
- Vĩnh biệt!
Bọn thủy thủ bắt tay từng người, rồi mang quà trở xuống bờ biển.
Cả đảo đưa họ, rồi về nhà, trừ thầy giáo. Thầy đứng nhìn xuồng cập tàu, nhìn cột
sắt đen vẽ nét đứng, nét ngang trên nền trời xanh lơ, và nhứt là lắng nghe tiếng
còi thét lên trong không gian, gợi nhớ những chuyến đi, những cảnh non nước xa
lạ, mà thầy mơ thuở còn bé, và bây giờ, mặc dầu đã ra đây rồi, vẫn còn mơ cái kỳ
ảo của viễn phương.
Dứt là dứt! Tuy thế, cuộc hội kiến hôm nay vẫn làm huyên náo lòng thầy giáo như
cái tin khởi nghĩa mười năm xưa.
Vận nước thịnh, suy, hưng, vong triều đại, đó là những điều mà ta khó lòng dửng
dưng được, và không thể đặt điều ấy ngang hàng với một câu chuyện tình.
Nhưng thôi, dứt là dứt!
Khi mấy con tàu chỉ còn bằng mấy cái vú cau mà trẻ con thả chơi trên bể cạn, thầy
giáo quay lưng đi vào xóm, nhưng không ghé đó, lại đi thẳng ra bãi biển nghịch
điểm.
Thầy đẩy xuống nước một chiếc thuyền độc mộc nằm phơi nắng trên bãi cát, rồi
thót lên ngồi trên đó.
Giữa những cù lao trong quần đảo Củ Tron, là những vuông biển nhỏ im lặng như mặt
hồ. Bơi xuồng trên bao nhiêu là hồ ấy, đi từ đảo nầy qua đảo kia, là cái thú
vui vô song nhắc nhở cảnh người xưa chu du năm hồ, bốn biển, cảnh Từ Thức chèo
thuyền chợt gặp Đào Nguyên.
Nhứt là những hòn đảo nầy là những hòn non bộ thiên nhiên, mà trong đất liền,
nghe nói, ai cũng thèm nhểu nước miếng.
Đảo đá vôi lồi lõm những gộp đá hình thù kỳ dị, những hang non hiểm hóc, và những
động là là mặt nước, trông như cửa động đào; gộp đá vôi thì mỗi gộp mỗi màu,
trên ấy mọc lên những cây lùn, mà hình dáng lại cằn cỗi như cổ thụ, và tất cả
soi bóng, in hình một cách trung thành, đầu lộn ngược, trên mặt biển đang nhạt
màu trời và phẳng như gương.
Hạ nhẹ mái giầm, thầy giáo nhìn một sườn non và nhớ lại cái mộng của mình, là
xây ở lưng chừng sườn non ấy một ngôi chùa, mái cong, lợp bằng ngói sứ nhiều
màu. Ngôi chùa ấy, vài năm sẽ xanh rêu, và ngồi ở dưới xuồng trông lên, y hệt
như ngắm non bộ, để rồi mơ đến hình ảnh nước Tàu ngày xưa, nước Tàu cổ kính
trong tranh: một ngôi chùa cổ cheo leo trên sườn núi, trong rừng sâu, chiếc cầu
đá bắt ngang sơn khê, bên cầu, hai tu sĩ, tóc, râu dài chảy trắng xuống như
thác nước đổ, đang ngồi đánh ván cờ muôn thuở.
Thầy giáo bơi xuồng độc mộc từ hòn nầy qua hòn khác, cho đến lúc hoàng hôn nhuộm
tím chân trời và mặt nước.
Mấy lúc nầy, thầy hơi mệt
- đã năm mươi rồi, còn gì nữa!
- nên chỉ làm lấy lệ, cho có mà sống lây lất qua ngày, và cho dư thời giờ đi dạo
thả cửa như vầy.
Năm mươi ! Trời ơi, đã hăm hai năm rồi, thành tiên trong động vắng thì chưa
thành, mà lòng trần vẫn còn xao động, mỗi khi một ngọn gió xa thổi đưa sóng đời
tới.
Còn sống mấy năm nữa đây, rồi sẽ giã từ hẳn mọi thứ, kể cả đời sống cổ sơ bình
dị nầy? Chắc cũng chẳng bao lâu, vì thầy giáo nghe trong người yếu lần. Năm
mươi là khúc đường quanh, bước qua là nghe khác nẻo đi vừa bỏ, hễ dang nắng, dầm
mưa là nghe muốn ể mình.
Lại còn!... Thầy giáo nghĩ tới đây, thì buồn đến muốn nhảy xuống biển cho rồi.
Ở đây, người dân sống tập thể trong nhiều điểm: thí dụ cất nhà, đốn gỗ để mổ xuồng,
cuốc đất, trồng khoai, vân vân...
Mấy lúc nay, thầy nghe yếu trong người, nên tự buông tha mình khỏi những khổ dịch
vần công.
Người trong đảo, ban đầu, nhìn thầy bằng những cái nhìn trách móc, rồi sau đó,
khinh thầy ra mặt. Thì ra, cũng còn vướng loài người với những ràng buộc phiền
phức.
Đêm ấy, thầy giáo nhức đầu như có hai khúc gỗ kẹp hai bên màng tang, rồi ai đó
chơi nghịch, siết chặt hai khúc gỗ lại. Ác mộng liên miên tới sáng, rồi lên cơn
sốt. Rõ ràng là cảm thử.
Ở đây, người ta sống như người Thượng Cổ, hay như người sơn cước ngày nay. Ai
có sức khỏe thì lướt khỏi bịnh tật. Lướt được là đi hết đường đời tới khi đầu bạc.
Ai không dẻo dai là chết quay ra.
Nhưng trường hợp của thầy giáo chưa xảy ra bao giờ: không lăn đùng ra mà chết,
cũng chẳng khỏi cơn sốt liên miên.
Người ta đến thăm thầy giáo trong ba ngày đầu, rồi thôi. Một mụ hàng xóm,
thương tình, nấu khoai, phần chia của thầy, cho thầy ăn đỡ dạ trong năm ngày.
Nhưng khoai của thầy hết sạch. Người ta nuôi thầy bằng khoai hàng xóm, trong nửa
con trăng.
Thầy hết sốt nhưng vẫn nằm liệt. Một ông lão còn sõi, nhìn thầy rồi lắc đầu:
- Không thế khỏi. Như là bại, xụi ấy mà! Nằm riết đến thúi xương là chết !
Vậy, ra đây là một cái miệng vô ích.
Không giận ghét thầy, người ta vẫn không lui tới nữa. Cái miệng vô ích, kể như
chết rồi. Không giết đó là may, ai hơi đâu mà nuôi mãi.
Sau hai ngày vắng khách. Thầy giáo bỗng hiểu và thầy bỗng rợn người lên khi
nghĩ đến câu chuyện rung cây dừa, mà thầy được biết thuở bé, khi đọc địa dư.
Ngoài khơi Thái Bình Dương có những hòn đảo thần tiên, mà dân trên đó, suốt
ngày, ca hát, vui chơi. Khi một người chủ gia đình trở nên già yếu, họ bắt y
leo lên ngọn dừa, rồi áp nhau mà lung lay gốc cây dừa ấy.
Người leo cây, nếu bám chặt được, là sẽ sống thêm ít lúc. Bằng rủi tay rơi xuống,
thì họ cho ngay hắn ta là một cái miệng vô ích, cần phải cô lập một nơi cho chết
đói lần mòn.
Rung cây dừa! Thế ra, là mình bị họ rung cây dừa đây!
Sống cổ sơ bình dị ! Thú biết bao, mộc mạc thong thả biết bao! Nhưng cũng giống
thú vật biết bao. Con thú đầu đàn, khi vồ hụt mồi lần đầu là bị đàn coi là hết
khả năng, bị thay thế ngay, rồi bị thịt ngay.
Sống cổ sơ bình dị! Có làm mới có ăn, già nua là không còn hay ho gì nữa! Xã hội
chỉ nuôi những cái miệng hữu ích thôi!
A ha ! Đó là một xã hội thú vật, cóc cần tình cảm, cóc cần tình thương đối với
lớp "người trái chanh", lớp người bị vắt hết cả nước cốt trong thời
niên thiếu để dâng lên đoàn thể, và bây giờ chỉ còn trơ lại cái vỏ khô như xác
ve.
Thầy giáo gượng dậy, lết cùng nhà và may sao, tìm được hũ khoai mà mụ láng giềng
không thấy. Thầy ăn khoai sống mấy hôm.
Muốn về đất liền lắm, lần nầy. Nhưng ở đây thì không dung miệng vô ích, còn ở
trong ấy, thì lại dung quá nhiều miệng vô ích. Không phải miệng lớp già, mà là
những miệng ký sinh nhân. Chán thay, chạy ô mồ mắc ô mả, bây giờ muốn chạy thầy
cả, lại ngại mắc thầy con.
Ở đâu hợp lý tưởng bây giờ để được dung thân buổi xế chiều của một cuộc đời,
tuy lánh mặt, nhưng vẫn hữu ích? (Nếu không hữu ích thì cuộc đời ấy hẳn đã phải
bị rung cây dừa ngay từ thuở mới ra đây).
Ngày xưa, sao mà quyết định quá dễ, dứt tình với người yêu, với loài người như
dứt sợi bòng bong đeo trên rào. Bây giờ nó trợn trạo như là xuống không lọt, mà
lên lại chẳng thông.
Quá nửa đời người rồi, và vào đoạn đường ấy, con người ngại trở bước lắm chăng?
"Mà ngươi, ngày xưa đã từ bỏ tất cả, cả những cái lớn lao, lẽ gì ngày nay
lại không dám đánh rơi một khu sống không dung tha tình cảm, một khu sống mà
người ta siêng năng để mà sống, như đàn kiến. Chỉ có thế thôi. Và như đàn kiến,
con nào ngã dọc đường, thì mặc thây nó, không ai hơi dâu mà ngừng lại nhỏ cho
vài giọt nước mắt, để cho rối trật tự của đoàn đang đi".
- Mầy phải chọn, thầy giáo Lầu ơi!
Thầy giáo khiển trách mình và bất giác gọi đến cái tên, mà hăm hai năm nay thầy
bỏ hẳn.
Thầy giật nẩy mình. Tên ấy vang lên như một giọng nói của một người thân yêu, dội
trở lại với một hình bóng mờ xa của những người biết thương, thương nhiều quá,
thương đến cả kẻ thù, đến cả những cái miệng hoàn toàn vô ích.
Lần thứ ba, lòng giáo Lầu huyên náo. Nhưng lần nầy, thầy không thản nhiên được,
sau trận dao động đầu tiên.
Tiếng vang của mối tình đến, rồi tan trong gió.
Tiếng vang vận nước thoảng qua, rồi tắt lần trong thờ ơ của người yếm thế.
Nhưng tiếng vang của loài người, của xã hội văn minh lại kêu réo như tiếng còi
tàu thỉnh du. Còi tàu vẳng đưa lên hình bóng nước non xa lạ, còn tiếng con người
lại nghê nga chơn trời cũ, bóng bạn xưa, không thúc giục như còi tàu, nhưng lại
thỏ thẻ, nỉ non, dai dẳng như lời mời nhẫn nại của một người nhiều hảo ý và thiết
tha đón khách.
Sáng hôm sau, một chú Lỗ Bình Sơn tân thời, đầu bù, tóc rối, bơi chiếc xuồng độc
mộc trở vào bờ, bịn rịn cù lao rung dừa nhưng lại háo hức hơn, vì mơ mảnh đất
liền, biết thương đến con bò già, không kéo cày được nữa.
ÐỒNG ÐỘI
Tám Tơ khà một cái dài như rắn hổ, đặt tô trà Huế xuống bàn một
cái cộp, rồi hỏi:
- Mầy lâu làm sao?
Tư Nết gãi tóc, nhăn mặt giây lâu rồi nói:
- Thật tôi không nỡ nào...
- Mầy phải nỡ...
- Ngộ không! Anh nói giọng đó thì tôi trả lời dứt khoát với anh cho rồi. Tôi
không nhận lời.
- Vậy hà, vậy thì tao cho mầy ở tù.
Tư Nết cười ha hả:
- Hứ, thứ trùm trưởng là tay sai của người ta mà cũng làm oai. Bộ mặt của anh
mà bỏ tù ai được.
- Bỏ tù mầy được. Nè, đêm hôm qua mầy biết ai chèo xuồng cho thầy Hương Quản rượt
bối đó không?
Tư Nét giật nẩy mình, mặt tái lét. Hắn ngó quanh quất và rất mừng là quán vắng
tanh. Cả chủ quán cũng chạy đâu mất.
- Xanh mặt rồi đó, còn nói cứng nữa thôi?
- Ừ, cho là anh chèo xuồng đi. Rồi sao nữa?
- Tới vàm Tắt, tao thấy rõ trên xuồng bối có mầy ngồi. Tao theo gần kịp, mà
thương mầy có mẹ già bịnh nặng, nên tao lơi giầm, cho tụi bây thoát.
Mồ hôi Tư Nết xuống có giọt. Lâu lắm hắn mới nói được:
- Thôi... anh muốn gì, tôi cũng bằng lòng nghe theo hết.
- Có gì đâu mà khó. Nè, ghe Bình Trước, ghe Tân Uyên do dân chợ là dân cà-phê
xíu mại bơi nên tao thị như đờ bỏ. Ghe mấy làng khác cũng không có gì đáng
ngán. Chỉ còn hơi lo về ghe Tân Ðức và rất lo về ghe An Thịt của mầy thôi. Dân
bơi Tân Ðức năm nay đã thành lão tướng hết ráo. Rốt cuộc thì còn lo một mũi An
Thịt của mầy đó. Tao hỏi thì biết chắc là năm nay mầy giữ cây xà bát trên ghe
làng mầy, nên tao mới cậy mầy.
- Tôi phải làm gì, đâu anh nói nghe thử?
Chắc chắn là chỉ có ghe Ba Doi của tụi tao và ghe An Thịt của tụi bây tới mức
ăn thua trước. Chừng đó hai chiếc ghe ấy sẽ song song với nhau mà rút. Dân An
Thịt của mầy cừ lắm, tụi tao ngán quá. Tụi tao tính đâm đại mũi vào hông ghe An
Thịt. Ghe bây cũ quá chắc phải rã, tụi tao ăn chắc. Mà muốn đâm cho được, phải
nhờ đến mầy làm nội công. Tụi tao chĩa mũi qua, tụi bây tránh đi, rồi tụi tao
làm sao đâm. Mầy giữ xà bát, mầy phải lái làm sao để đưa hông hớ hênh cho tụi
tao dễ đâm...
- Chỉ có như vậy hè?
- Chỉ có bấy nhiêu đó mà mầy được thưởng mười đồng, còn ăn chia tiền thưởng của
ông Chánh 1 nữa. Nghe nói năm nay tiền thưởng giải nhứt
là một trăm.
Tư Nết làm thinh mà nghe, rồi nín lặng giây lâu đoạn thở ra hỏi:
- Hồi hôm, tới Vàm Tắt anh thấy tôi đang làm gì?
Ý Tư Nết muốn kiểm soát lại coi quả mình bị trông thấy thật sự hay không. Chỉ
có nỗi nguy ấy mới khiến anh phản bội hàng ngũ được.
- Mầy bơi đằng sau, thằng Sang bơi trước mũi. Thằng ngồi giữa tao không biết.
Tư Nết bây giờ mới hoàn toàn chịu thua.
Anh ta lững thững ra khỏi quán, mặt buồn hiu. Luôn sáu năm, ghe bơi An Thịt chiếm
giải nhứt trong các cuộc đua. Anh góp phần trong vinh quang địa phương ấy rất
nhiều, cho đến đỗi năm nay người ta tôn anh giữ xà bát, tức là giữ cây chèo dài
phía sau, thế cho bánh lái ghe, không được phép gắn. Thế mà anh phải phản bạn
thì có đau lòng hay không?
Chuyến đi bối đêm hôm rồi, xui xẻo hết sức. Không lượm được một hột gạo mà còn
bị xuồng hương quản Ba Doi rượt chạy muốn hụt hơi vì bạn của anh lỡ chém một chủ
ghe. Tư Nết nhớ lại mẹ đang nóng mê sảng ở nhà, nhớ số tiền đưa trước do Tám Tơ
hứa. Thật là quyến rũ.
Mà chèo kéo làm sao! Anh nhớ bạn hữu, ba mươi người, toàn là dân chèo ghe với
nhau, người nào cũng lưng cháy nắng, bàn cẳng hà ăn, cực khổ cả năm mới được
vài phút vui là tới mức ăn thua trước các làng khác trong tỉnh. Vậy mà năm
nay...!
Về tới nhà, anh nghe mẹ nôn ọe ầm lên, và thấy hàng xóm lăng xăng bên chõng bà
cụ. Họ chỉ có gừng và nước nóng để cứu binh nguy ngặt của bà. Vì thế bà vẫn sốt
liên miên.
Tư Nết không bước qua thềm, trở gót và chạy mau đến nhà Tám Tơ. Chưa tới cửa
anh đã nói:
- Anh Tám ơi, tôi quyết đinh rồi, anh đưa trước năm đồng đây coi. Gấp lắm!
Tám Tơ làm thinh lần dây lưng mở hồ bao lấy ra một tấm giấy con công ướt nhẹp:
- Nè, mà hễ nuốt lời thì chết đa nghen!
- Hứa rồi mà!
° ° °
Khúc sông Ðồng Nai trước chợ Biên Hòa rộng như một cái hồ to,
thể mà ghe bơi năm đó thả lềnh bềnh gần chật sông.
Ông Tỉnh Trưởng là đảng viên của một đảng trụ cốt của đệ tam Cộng Hòa Pháp, nên
ông ra lịnh ăn lễ Cát-to-ru-dết thật rình rang. Ghe làng nào cũng phải có mặt,
làng thất mùa, làng bị bịnh truyền nhiễm gì cũng phải tham dự cuộc đua bơi năm
đó cả.
Ðứng ở bờ sông trước dinh ông Chánh mà ngó lên Cồn Gáo, người xem có cảm giác
như lạc vào miền lạ nào. Màu sắc hực hỡ của mấy mươi chiếc ghe mới sơn, với đầu
rồng, đầu phụng của nó gợi hình ảnh cuộc nam du của vua nhà Tùy, nhắc nhở những
thuyền rồng vua Lê, những hành cung của chúa Trinh.
Những đuôi rồng, đuôi phụng, cong quớt lên, lại gợi hình ảnh xứ Thái, xứ Miên,
với những chiếc ghe dài hình rắn Na-Ra.
Một hồi trống. Tức thì mấy mươi chiếc ghe chuyển mình, lượn tới để sắp hàng.
Một tiếng súng. Trả lời tiếng súng ấy, mấy mươi chiếc phèng la đánh lên một lượt,
rồi mấy trăm tiếng người hô lên một lượt để ra hiệu khởi hành:
Phèng!
- Hè!
Phèng?
- Hè!
Tiếng phèng la trên mỗi chiếc ghe bơi, chỉ định thời gian hạ giầm cho dân bơi.
Tiếng hè của họ xác định rõ thêm thời gian ấy. Nhờ thế họ hạ giầm ăn rập với
nhau, mấy mươi người đều cúi rạp mình xuống cùng một lúc.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Trên mỗi chiếc ghe, mấy mươi người dân bơi giống hệt như người gỗ được cột dính
với nhau, rồi một bàn tay bí mật vô hình nào đó giựt dây cho họ cử động.
Mấy mươi chiếc ghe bơi. trông đàng xa như mấy mươi con thủy quái thời tiền sử
còn sót lại và thừa lúc biển lặng trời êm, nổi lên để giỡn nước. Chúng trườn tới
trên mặt sóng như những con dao long hồ Ðộng Ðình tả trong truyện Tàu ngày xưa,
đầu có mồng có mỏ, có vảy, đuôi có rìa.
Xanh, trắng, đỏ, vàng pha trộn với nhau trên màu bạc của mặt nước phản chiếu
ánh mai, lóng lánh như cá ngũ sắc trong một chiếc bồn khổng lồ nào.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Ðua chưa đầy trăm thước mà đã có ba làng rớt lại sau. Ðó là những làng chợ mà
dân bơi là dân cà-phê, xíu mại, y như lời Tám Tơ nói. Họ chỉ dự cho có mặt, và
vui lòng ở lại đùa chơi khi bi bỏ rơi.
Bây giờ sông nổi sóng. Mũi ghe rẽ nước vo vo. Giầm chém xuống mặt sông làm bắn
nước lên trắng như bọt thác.
Phèng!
- Hè!
Ghe bơi không lướt theo một tốc độ đều đều như thuyền chạy buồm. Hễ giầm hạ một
bận là nó vượt một cái, thành ra xa trông tưởng như nó nhảy. Mà nó cũng nhảy thật
đó. Sức bơi mạnh quá khiến nhiều chiếc làm bằng gỗ nhẹ, nhảy chồm lên. Có năm,
vài chiếc đứt làm hai đoạn, hoặc rã bung ra.
Phèng!
- Hè!
Hai chiếc ghe giữa đi kề sát nhau. Dân bơi bên nây dùng giầm mà chém vào tay
dân bơi bên kia. Cuộc chém trả gây thành một trận thủy chiến tai hại cho cả đôi
bên, và cả hai bên đều rơi lại.
Chiếc ghe rồng xanh, không biết anh xà bác lái thế nào mà lật úp xuống. Hai
mươi chín người trên ghe đều quăng giầm, rối rít bu quanh ghe họ để lật nó trở
lại, không phải mong theo kịp ai nữa, mà cốt cứu sống anh giầm đốc. Anh nầy ngồi
trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước. Hễ ghe
chìm là anh ta nguy.
Phèng!
- Hè!
Bây giờ còn có sáu chiếc là mong tranh ăn thua với nhau. Thành thử cuộc đua vô
cùng hào hứng trong cái nước rút lớn của họ.
Chiếc nầy lấn chiếc kia một mũi thôi. Họ rút tới như ta so đũa, ráng so cho bằng
với nhau, đề dành sức đặng rút vào phút chót mà tranh giải. Nhưng không làm sao
so cho bằng được cả. Sáu chiếc cứ thay phiên nhau mà so le, trờ tới hoặc thụt
lùi.
Trên bờ, khán giả la ó vang trời. Có người nôn quá nhảy múa lăng xăng thỉnh thoảng
một anh rơi xuống nước, kêu cái chũm.
Phèng!
- Hè!
Ghe phụng xanh và ghe rồng vàng bỗng như hai mũi tên bắn mạnh tới.
- Ba Doi với lại An Thịt đó, bà con ơi!
- Rứt lèn, Ba Doi!
- Ráng giữ danh tiếng, An Thịt!
Một chiếc thứ ba, đầu phụng mỏ đỏ, mình nhiều màu, chừng như cũng muốn bắn
theo. Ðó là ghe Tân Ðức. Nhưng gắng được vài phút, nó lại trở về hàng cũ.
Cuộc đua đã gạn ngã ngũ: Nhứt, nhì về tay An Thịt, Ba Doi, chớ không sai chạy
được. Nhưng khán giả càng hồi hộp hơn bao giờ hết. Bạn của An Thịt thì lo lắng
An Thịt mất chức vô địch, còn bạn của Ba Doi thì nôn nao mong Ba Doi lên chưn một
lần.
Ba Doi và An Thịt nằm trên khúc sông Ðồng Nai ở gần ngoài cửa. Sông lớn tập cho
họ quen bơi chèo và buộc họ bơi chèo giỏi. Dân hai vùng đó, người nào cũng lưng
nách và bắp thịt tay của họ thì có u có nần.
Phèng!
- Hè!
- Lên con, Ba Doi!
- Ừ đó! Ừ đó! Ừ đó! Ðược đa! An Thịt!
Ghe An Thịt lấn hơn ghe Ba Doi nửa mình. Ghe sau hổn hển rượt theo, coi muốn hụt
hơi mà chỉ nhích lên được độ một gang thôi. Ðã kém, nó lại không đi đường ngay
lối thẳng, mà chĩa xéo mũi vào bờ bên nây.
- Ba Doi đổ quạu rồi, coi chừng nó đâm ẩu! Thiên hạ ó ré lên.
- Ðâm làm sao được. Bộ An Thịt người ta dại hay sao. Người ta cũng chĩa xéo như
nó rồi hai chiếc cứ song song như cũ, làm sao mà đâm.
Nhưng kỳ lạ thay, ghe An Thịt chẳng những không cho ghe mình đi song song với
chiếc ghe gây sự kia, lại còn chĩa mũi qua bờ đối diện, tức là đem hông mình mà
dưng cho mũi ghe địch.
Tư Nết ăn tiền, đã trung thành với lời giao ước, đem cả làng nạp mạng cho Ba
Doi. Anh nghĩ bụng, bất quá bạn đồng thuyền của anh sẽ chửi anh tan ông nát cha
vài phút, rồi rầm một cái là ghe anh lật nhào, rồi mạnh ai nấy lội, không còn
dám hả miệng chửi dai hoài. Tuy nhiên anh vẫn nghe nhờm nhờm nơi tay khi cầm xà
bát mà nại cho ghe anh chĩa xéo, nhờm nhờm như là cầm dao thọc huyết con heo.
Trừ anh đánh phèn la, cả thuyền đều cấm đầu cấm cổ mà bơi, không còn biết trời
đất gì cả. Họ chưa kịp thấy sự phản trắc của anh mà cho dẫu thấy họ cũng chằng
làm sao được.
Phèng!
- Hè!
Cả thuyền đều cấm đầu cấm cổ mà bơi. Ba mươi người mà như là một người. Sự duy
nhất ấy không phải chỉ ở việc bơi ăn rập và reo hò một lượt với nhau mà cả ở
trong lòng họ. Cả làng, cả đội sẽ thắng hay bại, chớ không riêng anh Ất anh
Giáp nào. Dân làng sống ỳ đồng đội từ cái ăn, cái làm, cái chơi cho đến cái chết.
Tư Nết đã đồng đội với họ từ vụ lụt lớn, cách đó mười lăm năm, từ vụ thất mùa bảy
năm trước, từ vụ cọp Rừng Sát chụp tía anh và được cả làng ùa ra cướp lại, thì
làm sao bây giờ anh lại thôi đồng đội với họ? Tất cả những ý nghĩ ấy qua mau
trong đầu anh.
Phèng!
- Hè!
Hồi hộp lắm. Hai ghe cách nhau gần trăm thước hồi nãy, bây giờ chỉ xa nhau độ
hai mươi thước thôi. Cả hai như cố châu đầu lại để chạy về một cái đích chung,
vô hình, ở đầu phía trước, và ghe nào chèo mau hơn sẽ bi đâm lủng hông.
Phèng!
- Hè!
Dân bơi hả miệng mà la, và cũng để táp lấy những giọt nước sông do giầm phía
trước chém bắn lên cho đỡ khát.
Một anh bạn bơi, giọng khàn khàn nói:
- Chết rồi, nó đâm!
- Mầy lái cái mắc dịch gì mà kỳ vậy Nết?
- Nết ơi, mầy muốn ở tù sao mà đưa hông cho nó đâm?
Câu sau đó là của Hương Trưởng Chi người đánh phèng la.
Tư Nết cười ha hả mà đáp:
- Chính vì sợ ở tù nên tôi mới cho nó đâm. Mà thôi, bà con ơi thà là ở tù?
Ghe An Thịt bỗng quay mũi ngay lại, rồi quay xéo cho đi song song với ghe Ba
Doi.
- Hè... è... è!!
Một tiếng hè dài không dứt, thế là An Thịt bứt đi, bỏ Ba Doi xa đến một mình rưỡi,
vượt qua khỏi trái nổi neo ở trước đó đề làm mức ăn thua.
Ghe Ba Doi tiu nghỉu như mãnh thú vừa vồ hụt con mồi, nhìn nó chạy thoát, lòng
đầy căm giận. Ba mươi chiếc giầm sơn đỏ của ghe An Thịt bỗng đưa cao lên một lượt
để chào quan khách trong bờ. Khán giả có ấn tượng như thấy một con rít chạy tớ
đó rồi ngã lăn đùng ra, đưa mấy trăm chân lên trời.
Tiếng hoan ở hai bên bờ sông vang dậy lên.
Tư Nết chỉ hưởng sung sướng chung trong vài giây. Anh nhớ lại chuyện riêng, lẩm
bẩm nói:
- Thôi, cũng được. Chắc ở ngoài bà con họ chẳng bỏ má mình đâu.
--------------------------------
|
Tỉnh Trưởng thời Pháp thuộc. |
NGƯỜI TÀI XẾ ĐIÊN
(Câu chuyện xảy ra hồi tiền chiến)
Đã sáu giờ chiều rồi mà người ta chưa nghe gì hết.
Thiên hạ sốt ruột hỏi nhau: "Năm nay, mấy ổng không dám à?" "Hay
là xin phép không được?"
Có người thạo tin cắt nghĩa: "Sao lại không dám! Nội cái vụ đường thẻ mà
Bang Huếnh đã lời hai trăm ngàn, thì năm, ba ngàn bạc pháo kể gì. Cũng không phải
là xin phép không được. Nhưng, số là năm nay, họ thương thuyết với nhau, kẻ đốt
trước, người đốt sau, tính giờ mà nói chuyện ăn thua, chớ không đốt một lượt
như năm ngoái nữa, nghe rùm tai lắm, mà lại có kẻ ăn gian, thỉnh thoảng nín
luôn năm, sáu phút, khó kiểm soát được. Giờ nầy, họ còn thương lượng, cãi qua,
cãi lại mãi không rồi".
Trăng rằm tháng giêng đã lố dạng trên dãy phố ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Hôm ấy là
ngày, theo tục lệ người Tàu trong tỉnh, thỉnh Tào Kê. Không ai biết rõ "thỉnh
Tào Kê" là cái quái gì. Nhưng chắc chắn là cúng nhiều, kéo nhau đi ngoài
đường và "cái đinh" của ngày lễ là đốt pháo đua. Ông cắc chú nào đốt
nhiều hơn ông khác là ăn. Không ăn cái gì hết, nhưng được đồng bào của họ phục
lắm.
Thật ra, chỉ vài ông Bang trong tỉnh lỵ mới dự cuộc đua đốt pháo nầy, vì phải đốt
hàng mấy giờ liền, nếu không làm ăn lời to, thì đừng mong đua với ai.
Thình lình, người ta nghe ba tiếng pháo đại nổ, sau nhau không quá hai giây.
- À, ra họ đốt một lượt!
Trong những con đường hẹp ở chợ, hai bên đều có nhà phố đứng lên, tiếng pháo bị
tiếng dội đôi dồn lên như tiếng sấm trong thung lũng. Khói thuốc pháo bay mù trời,
mịt đất, đến đỗi ánh sáng của những bóng đèn đường bị lu mờ bớt lần. Những người
đi dạo phố, những khách trong tiệm ăn, muốn nói chuyện với nhau, phải hét cho lớn,
và kề miệng sát vào tai người nghe mà la. Nhưng không mấy ai còn ở trong nhà,
trong tiệm được, vì khói thuốc vào đó, không lối ra, đầu độc cả không khí trong
nhà.
Pháo vẫn nổ rền trời.
Mỗi người dự đua, sợ rủi ro ngưng tiếng nổ, rồi mang tiếng ăn gian, để ra tới bốn
người đốt pháo. Năm ấy, có ba ông Bang thi đua, thành ra, một lượt đến mười hai
tiếng pháo kêu vang.
Những người có con nhỏ, phải mau mau ẵm chúng đi thật xa, ra ngoại ô, không
khéo thì chúng sẽ bị động kinh hay bị chết ngất mất.
Pháo thi đua nhau nổ mà đinh tai, nhức óc.
Lúc ấy, hơn tám giờ. Tại tiệm sắt của ông Bang Sa, một tên người nhà về thưa lại
với ông Bang, đang ngồi uống trà tại ghế giữa:
- Ông Bang à! Đằng tiệm gạo của Bang Lếnh, pháo còn nhiều bằng hai của mình,
làm sao?
- Làm sao à? Không sợ mà ! Á Lìn à ! Á Hón à! Á Quý à !, ti mua thêm, coi tiệm
nào còn chút lỉnh gì mua hết tọi. Không tủ thì ti vô xóm mua.
Lịnh vừa ra, thì ba bốn chú tửng vội thót lên xe máy, đạp đến các tiệm nhỏ ở
ngoại ô, mà vơ vét. Họ mua không trả giá, nhưng cũng không được bao nhiêu, vì
các tiệm khác đã vét trước rồi. Cho đến pháo ở các chợ lân cận như chợ Búng, chợ
Lái Thiêu, cũng không còn.
- Mo tược ít quá à! Tài phú a,
- ông Bang Sa kêu
- tài phú piểu sớp-phơ ti Chợ Lớn mau mau. Nè, tiền lây, tài phú mua thêm một
ngàn tồng.
Tài phú Nải nhận tiền, chạy ra sau, hối sớp-phơ cho xe ra rồi thẳng xuống Chợ Lớn.
- Hò....chạy cho mau mau mà! Về tễ, cái lầy ông chủ rầy mà
- Chú ta thúc hối.
Thật ra, xe chạy có gió. Nhưng khi qua khỏi chợ Bình Phước, thì nó đứng lại.
- Cái gì tó?
- Banh!
- Tời lất ơi! Chết ngộ dồi? Dáng sửa coi.
Người tài xế không thèm đáp. Anh ta bước xuống, giở máy ra, bấm đèn Pin mà rọi,
rồi lây quây vặn, mở và chửi thề.
Bỗng có một ánh sáng đèn pha từ phía trên Thủ rọi xuống.
- Thôi lị ở tây sửa. Ngộ có giang xe lầy ti Chợ Lớn.
- Được rồi, được rồi!
- Người lái xe đáp -, khỏi cần quá giang, xe mình chạy được rồi.
Nói xong, anh ta rồ máy. Tài phú Nải mừng quá, leo lên xe. Chiếc xe hơi từ trên
Thủ xuống đã qua mặt họ và chạy xa rồi.
Máy lại tắt.
- Cái gì lữa tó?
- Banh nữa!
- Na má, cái lị dở quá mà. Ngộ lói với ông chủ cúp tiền lị hà.
- Dở gì, tại xe cũ phải vậy chớ.
Rồi anh ta lại lây quây sửa, vặn, tháo, mở...
Một chiếc xe khác xuống nữa. Lúc ấy đã hơn mười giờ. Tuy là thái bình, nhưng mà
người đi chơi đêm bằng xe hơi, chỉ đi đầu hôm thôi, nên xe nầy, có thể coi là
chiếc xe cuối cùng họ gặp.
- Thôi lần lầy, ngộ hổng thèm lợi lị lữa đâu.
Sau lời của tài phú Nải, anh tài xế nhảy lên xe, cho rồ máy và chạy tới.
- Tài phú không đi phải hôn? Tôi đi một mình vậy.
Tài phú Nải do dự vài giây rồi cũng nhảy lên xe.
Xe từ từ chạy tới và bị xe kia qua mặt nữa. Đến giữa cánh đồng Chó Ngáp, nó lại
tắt máy.
Đó là một cánh đồng hoang vắng minh mông, bao la dưới ánh trăng vằng vặc.
Tức quá, tài phú Nải dậm chưn rầm rầm:
- Chết ngộ! Mà chết lị lữa mà ! Chết dồi! Ông chủ thua, mình chết dồi! Á, kỳ
quá mà, cái lị muốn phá ông chủ hả?
Anh tài xế cười xòa.
- Hả ?
Cái lị muốn phá, cái lị nói ti. Ông chủ bỏ tù cái lị coi.
- Xe hư mà !
Nói xong, anh tài xế lại cười ngất.
- Hứ, cái zì mà hư kỳ cục. Cái lị phá ông chủ mà.
Bỗng anh tài xế nghiêm nét mặt lại:
- Tài phú nè ! Ông chủ xài lảng quá, mình đi làm gì cho mệt. Ở đây tới khuya, rồi
đón xe lên mà về. Tôi đã phá xe hư thật rồi.
- À, dõ dàng mà! Ngộ nói túng quá má !
Chú Nải vừa nói, vừa bứt đầu, bứt cổ, đạp rầm rầm trên sàn xe.
- Chết cái lị ! Chết cái lị! Ngộ tức chết ti thôi !
Chú vừa nói, vừa phun nước miếng phèo phèo, trợn dọc mắt lên và quíu mười ngón
tay như muốn cào, muốn xé anh tài xế.
- Hà, ông chủ ngộ thua dồi! Ông chủ ngộ mất tiếng dồi!
Chú Nải ngã ngửa trên nệm xe, đấm ngực anh ách.
- Chú đừng tức. Tôi làm vậy cho đỡ tiền ông chủ mà.
- Tiểu la má lị. Tỡ cái gì, ai cầu lị làm tỡ tốn tiền. Ông chủ lời bằng một tăm
lần cái ló, ông chủ cần gì. Miễn có tiếng thì thôi chớ.
- Cái tiếng đốt pháo nhiều đó không ra khỏi Thủ Dầu Một, ai biết mà ham.
- Thây kệ người ta.
- Thây kệ sao được. Hôm trước nhà Phước Thiện ho lao quyên tiền, ông chủ nói lỗ
quá, cho nó một trăm. Sao bữa nay ổng đốt pháo dữ quá vậy. Đốt pháo có ích gì
hôn?
- Sao không ích. Lốt pháo, người làm pháo bán chạy, thợ làm pháo mới sống lược
chớ. Ngộ hỏi lị cái lầy, lị lói cho trôi. Ông chủ mà không lốt pháo, thì tiền
ló, ông chủ có cho ai không? Chắc là không. Vậy lốt pháo tức là cho thợ làm
pháo ăn ló. Lị cãi ngộ chỗ ló lược không?
Anh tài xế cãi không được.
- Lị cãi không lược thì cho xe chạy ti!
Nhưng anh ta vẫn đứng trân trân.
- Lị hổng cho chạy à? Ngộ lánh lị coi.
Tài phú Nái xốc tới, níu đầu anh tài xế.
Nhưng anh ta lẹ tay, rút tay quay xe ra, rồi hăm:
- Nị xáp tới, ngộ đập một cây nát đầu. Ngộ cãi không được, mà ngộ tức lắm,
không chạy.
- Hà, cái lị tiên dồi, cãi hỏng lược, mà hỏng chịu thua.
NẮNG CHIỀU
Nếu chị Nguyệt không đến nơi, thì chắc hai người đã đánh nhau
hay ít ra, họ cũng trao đổi nhau những tiếng nặng, khó lòng lấy lại được, rồi
thì anh em sẽ tuyệt giao với nhau.
Cái anh Vinh ấy có một tật đánh chết không chừa, là hay đùa những cái lố bịch của
người khác. Anh ta có tài nhận xét những tật nho nhỏ của mọi người, có tài
phóng to những điểm kỳ cục ấy lên, nắn cho nó biến thành những hình thù kỳ dị
hơn, rồi lại có duyên thầm, trình bày những điều buồn cười ấy một cách ngây thơ
như là vô tình mà nói đến, chớ không cố ý trêu người nào, không cố ý chọc cười
ai. Chính cái ngây thơ ác hiểm ấy, cù người ta bất ngờ quá, nên không ai nín cười
được.
Nhưng hôm đó, chị Nguyệt đến đúng vào lúc mà anh Cần bị làm nạn nhơn của anh Vinh,
và không muốn để chị nầy thấy bộ mặt nhăn nhăn của mình, anh Cần vui tươi lên
như là không giận bạn vậy.
Chị Nguyệt xem lại đồng hồ rồi hỏi:
- Sao, giờ nầy mấy anh chưa về?
- Thì đợi chị nãy giờ, đi sao được. Thôi ta đi nè!
Bình đáp, rồi giục tất cả mọi người.
Cả năm đồng đứng lên.
Ra đến cửa ngõ, muốn làm lành lại với Cần, Vinh hỏi:
- Thầy Mười Sáng là người thế nào, anh Cần?
Như chợt nghĩ ra điều gì, Cần không đáp, mà chụp lấy vai Vinh, rồi nói:
- Ừ, cậu có giỏi thì làm cái nầy. Tôi thách cậu đó. Cậu làm thế nào mà đùa thầy
Mười Sáng cho anh em cười ngả nghiêng, ngả ngửa một bữa chơi. Cậu làm được thì
tôi phục lăn tài pha trò của cậu. Thầy Mười Sáng là người thế nào à? Cậu hỏi
anh Bình thì rõ.
Nói xong, Cần hóm hỉnh cười, bụng nghĩ: "Phen nầy, thì cậu chết nhé! Làm
thế nào mà đùa được con người đứng đắn ấy! Thế mới biết tài cậu chưa vững đâu
nhé, cậu bé ơi, đừng có làm phách".
Bình, vốn là một thanh niên rất thạo về tôn giáo, về các phong trào thần học.
Chính anh ta đã rủ anh em đến nhà thầy Mười Sáng hôm nay.
Thầy Mười Sáng! Cả bọn không ai biết rõ thầy ta, trừ Bình. Để trả lời câu hỏi
chưa thốt ra, mà thế nào cũng phải có của Vinh, Bình kể:
- Thầy Mười Sáng, trước kia, có theo học ở một trường trung học công lập tại
Sài gòn. Không rõ, vì lẽ gì, thầy ta bị đuổi vào năm thứ ba. Trở về tỉnh nầy
nghỉ vài năm, thầy ta đi làm khán hộ. Chính trong thời kỳ thầy làm khán hộ ấy,
mà tôi được quen biết thầy. Thầy đọc sách nhiều lắm, biết rất nhiều việc và rất
băn khoăn về nhiều vấn đề. Thầy thường gởi gắm với tôi: "Tôi không hoàn
toàn tin nơi khoa học được, vì khoa học chưa giải quyết được những vấn đề lớn,
cho đến những bí mật vừa vừa của thiên nhiên, mà nó còn chưa khám phá ra nổi. Lấy
ngay một thí dụ, trong nghề của tôi mà nói, cũng đủ thấy khoa học còn bối rối lắm.
Bịnh truyền nhiễm, khoa học cho là do vi trùng gây ra. Vâng. Nhưng còn "dịch"
của các bệnh truyền nhiễm? Ừ, con vi trùng nó truyền bịnh và lắm khi gây ra dịch.
Nhưng trước khi có dịch, nó trốn ở đâu mà không tác hại? Mà vì sao, tác hại trong
một thời gian, nó lại thôi? Ngày xưa, khi loài người chưa biết trừ dịch, dịch vẫn
tự nhiên lui như thường, sau vài tháng hoành hành.
Thầy Mười làm khán hộ được ít năm rồi thôi, thí phát đi tu. Nghe nói là thầy ẩn
tu ở núi nào đó đâu được ba năm, rồi hạ san, xuống Sài gòn, xin giấy thông hành
đi ấn Độ. "Đi nghiên cứu đạo Phật tận gốc", thầy nói thế với những
người quen biết.
Cái năm ấy, thầy được hăm bảy buổi, và năm nay về là năm lăm đúng.
- Thầy nghiên cứu được gì?
- Số là thầy ta dốt về đạo Phật, không biết nguồn gốc đạo ở đâu, nên qua đến
nơi rồi nghe người xúi biểu, thầy ta lên Tây Tạng.
- Tây Tạng không phải là nhao rún của đạo Phật à?
- Đâu có phải. Tây Tạng chỉ là một tôn phái của đạo Phật thôi.
- Nhưng biết đâu, tôn phái ấy không quan niệm đúng hơn bọn chánh thống.
- Đúng thế! Thành ra, đi lạc đường, mà thầy ta vẫn học được nhiêu điều hay. Tôi
rủ các anh lại thăm thầy ta hôm nay là để xem thầy biểu diễn phép lạ.
° ° °
Thầy Mười Sáng sống biệt tịch trong một cái am nhỏ ở khu Bà Lụa,
một ngoại ô tỉnh lỵ của tỉnh Bình Dương.
Am cất trên đồi, giữa một vườn cây cổ thụ sầm uất, trông xuống sông, nước xanh
lơ, khiến khách viếng am không khỏi nghĩ đến những vân am của đạo sĩ trong truyện
Tàu nào.
Thầy Mười Sáng gầy khô đét như một ông lão bảy mươi. Tuy nhiên thầy ta vẫn
nhanh nhẹn và có đôi mắt sáng quắc.
Chủ am tiếp khách rất niềm nở, chú ý đến từng người, cả đến cái cậu Vinh liếng
thoắng làm huyên náo am tiên kia, và làm bận rộn con người trầm lặng đã học đạo
từ Tây Tạng huyền bí về.
Sau những câu khách sáo xã giao, bọn trẻ bàn về khoa học và tôn giáo. Thầy Mười
nói:
- Khoa học sai be bét hết và còn dốt lắm. Tôi đã thấy tận mắt những thầy Fa-Kia
bên Ấn Độ, tự chôn sống hàng tháng mà không chết, tôi thấy họ đâm dao vào thịt
mà không làm chảy máu; riêng ở Tây Tạng là nơi tu hành, những thầy tu tay mơ
cũng có thể ngồi trần truồng trên tuyết hàng tuần, mà không bị cảm lạnh bao giờ.
Thật là trái với những luật mà khoa học đã nêu ra.
- Thưa thầy, họ có phép tiên chắc?
- Đúng, họ luyện phép và chính tôi, cũng đã học được vài môn.
Đức nói:
- Hay đó cũng là khoa học; nhưng khác với khoa học của ta. Ta thử đặt tên khoa
học của ta là khoa học A..., còn của họ là khoa học B. Cả hai đều đi tìm sự thật,
mà đi hai nẻo khác nhau, ngày sau A và B sẽ gặp nhau chăng?
- Tôi không đáp được. Điều tôi biết chắc là họ và tôi đã làm được những điều mà
cái khoa học A của cậu cho là không được. Nể lời chú Bình, tôi biểu diễn phép tị
hỏa cho các cậu xem.
Bây giờ, bọn khách trẻ mới hiểu được sự có mặt của cả một cái lò rèn giữa am thầy
Mười.
Thầy Mười Sáng nhúm lửa ở đống than, còn Bình thì bước lên ghế cao, cầm hai cây
thụt ở ống bễ mà thụt.
Hơi trong hai ống bễ xình xịch bay ra, thổi văng lên những mảnh than nát. Mấy
đóm lửa mới nhúm, nở to lần lần, ăn lấn vào màu đen huyền của than. Màu lửa,
ban đầu, xanh xanh, càng lớn khối, càng ngã sang màu hỏa hoàng và khi những lưỡi
lửa chen than mà mọc lên, thì than đã nhuốm màu bạch chảng.
Bình thụt không ngớt tay, lửa cháy đỏ rực khuôn bếp.
Thầy Mười Sáng mặc áo đạo sĩ màu lam có viền trắng ở các rìa. Thầy ta săn tay
áo lên một cách trịnh trọng, đoạn khom lưng, cúi mình trên bếp lửa, thọc tay
vào đống than cháy đỏ, chọn lấy một hòn than to nhứt và đang cháy tốt nhứt. Thầy
ta làm công việc ấy dễ ợt như một cậu bé chọn kẹo. Thầy cầm hòn than đỏ giữa
hai ngón tay, rồi đứng thẳng dậy, đặt nó vào giữa lòng bàn tay bên kia.
Bốn thanh niên và một thiếu nữ trố mất nhìn. Họ hồi hộp đợi thầy Mười bị phỏng
tay, phải vứt hòn than đỏ, đợi chờ cái ấy, mà cứ lo sợ nó xảy ra, rồi phải thất
vọng. Có thế nào như thế được chăng? Họ tự hỏi như vậy, rồi tự bảo rằng, thì ra
phép tiên, phép mầu là điều có thật chớ không ngoa.
Hòn than trên tay của thầy Mười đã sậm màu đen, và một lớp tro trắng mỏng đã bắt
đầu bao bọc lấy nó. Thầy đạo sĩ nói: "Nguội quá rồi!"
Rồi vứt hòn than lên đống lửa.
Bình mê xem biểu diễn, nên quên thụt lửa, khiến thầy đạo sĩ phải nhắc:
- Chú thụt tiếp đi chớ!
Hai ống bễ lại bắt đầu thở khì khì và đống than bắt dầu đỏ rực trở lại.
Thầy Mười Sang bước vào đống than đang cháy, đi tới vài bước, đoạn đứng yên một
nơi.
Những lưỡi lửa cứ chờn vờn muốn táp lai quần của thầy Mười, vốn đã vén lên rồi,
khiến thầy lại phải vén ống lên thật cao.
Chị Nguyệt há miệng nhìn, mắt mở tròn xoe. Trong không khí, phảng phất một mùi
huyền bí kỳ lạ, thật thật, hư hư, và thầy đạo sĩ kia, có vẻ một ông Tiên từ thời
Xuân Thu hiện về. Năm khán giả trẻ tuổi nghe như mình đang lạc vào cõi tiên hay
vào động quỉ. Thật là không thể tưởng tượng được.
Đứng trên than hồng được ước chừng năm phút, thầy Mười bước xuống, mỉm cười đắc
thắng.
Bình ngừng thụt, thở ra một hơi dài và nói:
- Mỏi rụng hai tay!
Chị Nguyệt kính cẩn nhìn thầy Mười Sáng giây lâu, rồi hỏi:
- Thưa thầy thầy ăn ở dễ thương cách nào mà mấy ông thầy tu trên ấy truyền cho
thầy phép lạ nầy?
- Những phép nầy không thể truyền mà được như bùa ngải. Phải bền công luyện tập
mới đắc.
- Luyện tập à, thưa thầy? Không truyền được, mà phải luyện tập, là không phải
phép huyền bí nữa rồi, mà là khoa học đó, khoa học B như tôi đã nói.
Đó là lời của Đức.
Thầy Mười Sáng suy nghĩ giây lát, rồi đáp:
- Có thể. Nhưng dầu sao khoa học của cậu cũng còn non lắm đối với khoa học huyền
bí nầy.
- Đúng như vậy !
- Chị Nguyệt phê.
Bỗng cậu Vinh lắm lời kia, nãy giờ cứ làm thinh, hỏi lên đột ngột:
- Dạ, thưa thầy...
Anh ta mới mở lời, mà bao nhiêu con mắt đều quay nhìn anh ta. Thấy gương mặt
ngây thơ một cách hóm hỉnh của Vinh, thản nhiên sắp hỏi một câu gì đó, họ đoán
sẽ được cười.
Cần lo lắng kẻ nghịch của anh, lần nầy lại thắng nữa. Còn Bình thì hoảng hốt
lên, sợ những câu pha trò của Vinh sẽ chọc giận người đáng kính là thầy Mười.
Nhưng đã trễ quá rồi, không còn ngăn thằng mắc dịch Vinh kịp nữa.
Vinh ngây thơ tiếp hỏi:
- Dạ thưa thầy, không hay cái phép mầu nầy dùng để làm gì vậy a thầy?
Thầy Mười có vẻ bực mình lắm! Thầy suy nghĩ giây lâu, rồi đáp:
- Thí dụ như có đám cháy, tôi đã không hề gì, lại xông vào lửa để cứu những người
còn kẹt trong nhà.
- Thưa thầy, thầy mất đến hăm tám năm trời để làm được một công việc mà bất kỳ
anh lính cứu hỏa nào cũng làm được, mà chỉ tốn có hai phút đồng hồ thôi. Trong
hăm tám năm trời ấy, cái khoa học non nớt của chúng tôi đã tìm được bao nhiêu
là thứ, mà những thứ ấy, truyền lại cho ai cũng được cả, miễn họ chịu bỏ ra chỉ
vài năm thôi, để học tập.
Lần đầu tiên trong đời anh ta, con người nổi danh có tài hỏi vặn pha trò để chọc
cười ấy, đã thất bại, vì không ai cười cả.
Thầy Mười Sáng trố mất nhìn người khách có vẻ mặt ngây ngô, đần độn kia, nổi giận
trong vài giây, rồi kinh sợ trong mấy phút.
Đoạn thầy ta ngồi phệch xuống đất, ôm đầu mà thở dài. Cả sáu người trong nhà đều
im lặng, mỗi người có một ý nghĩ riêng về quan niệm của Vinh.
Lâu lắm, người ta mới nghe thầy Mười Sáng lẩm bẩm:
- Hăm tám năm! Hăm tám năm! Trời ơi, sự thật đến bạc đầu tôi tìm cũng chưa ra, mà
cái phép mầu kia, luyện được sau một phần tư thế kỷ cố gắng, bỗng thấy là hoài
công, phí sức lắm.
Bình bước tới, quỳ xuống trước mặt người đạo sĩ thất vọng để an ủi:
- Thưa thầy, không là hoàn toàn hoài công đâu, vì ít ra, điều ấy cũng giúp người
khác thấy rõ là nẻo của khoa học B không phải là nẻo không nên theo.
- Không ! Sụp đổ cả rồi, các cậu ơi! Cả một đời tôi, cả một đời bao nhiêu người
khác, chúng tôi đã dùng nó làm gì? Chẳng qua là phung phí thì giờ và tâm trí
như những kẻ trác táng kia!
ĐÔI BẠN MẮC HOA VÔNG
Đêm rằm tháng bảy nầy, trời đã không mưa Ngâu như thường năm
mà lại còn nóng bức khó chịu.
Tuy thế, con đường Hòa Hưng vẫn vắng hoe: ở ngoại ô xa, người ta ngủ sớm như dưới
tỉnh.
Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy về phía khám đường. Như giữa truông rừng mà
ánh đèn pha hay đuổi thú, ở đây, năm bảy con vật cũng phát nhảy vào lề cỏ.
Đó là những con chó đi hứng mát ngoài đường. Chúng tùng tam tụ ngũ nơi đó để
tìm bạn, để yêu thương, để kể lể cho nhau nghe những câu chuyện chó của loài
người mà chúng được mục kích, để cãi nhau, tranh nhau một nhơn tình và rất thường
khi xâu xé nhau.
Thật là rậm rật như chó tháng bảy!
Khi ánh đèn bật lên thì trên màn bạc tình cờ ấy, hiện ra nhiều trò chó má và
khúc phim ngắn kia thật là kém mỹ tục thuần phong.
Từng cặp một, chúng thơ thẩn dưới ánh trăng mờ, chơi vơi trong nguồn ân bể ái.
Lại có những anh chàng bị hất hủi, đứ ng bơ vơ tiu nghỉu; có những anh chàng
đang lẽo đẽo theo một bóng hồng; có những cặp nhân tình như giận nhau, đứng
cùng nhau mà mỗi người đang nhìn một ngả.
Lạ lắm là trong loài giống nầy, cái thiếu mà đực lại thừa. Cho nên đây đó vài
trận đánh nổi lên, ai cũng cả quyết tranh nhau người ngọc.
Dạ khách là dân tứ chiếng: chó ta, mực, vện, phèn chiếm đa số, nhưng cũng có những
bécđê lai, kiêu hãnh nhưng quả không hùng dũng chút nào, những con chó vá, lai
giống tám mươi đời vương, bé loắt choắt mà cứ làm bộ oai. Những con chó tây
chánh hiệu mà me tây nào đó đã bỏ lại khi lui về vườn để hoàn lương, ốm tong
teo vì thiế u thịt bò, bâng khuâng như nhớ thời oanh liệt.
Ở đây không phân chia giai cấp: chó ghẻ cũng lắm khi may mắn lọt vào mắt xanh của
cô nàng, chó rụng lông vẫn ngồi trò chuyện được với chó xù, và cả con chó thọt
cũng có bạn.
Những anh chàng gặp đêm xui xẻo chia nhau đi từng nhà mà rủ ren. Trong đó còn
nhiều cô nàng khuê môn bất xuất: chủ chúng nó không muốn chó họ đùm đề con dại,
càng không muốn chó họ trao thân một cách phiêu lưu để rồi đẻ ra những tạp giống
mà họ không thích.
Những cô nàng kín cổng cao tường nầy, đẹp thì không đẹp, nhưng chúng có sức quyến
rũ của trái cấm. Thế nên nhiều anh chàng ràng mãi trước ngõ mấy nhà khép cửa
phòng thu kia.
Ôi chao là khổ cho các nhà vô phước nầy. Bên ngoài chàng kêu chàng hú, bên
trong nàng hứ nàng hé xuốt đêm.
Thật là rậm rật như chó tháng bảy!
Cái nhà khổ hơn hết là hiệu may Chức Nữ "chuyên may y phục đàn bà"
như tấm bảng trước đó đã nêu lên.
Hiệu may có che cái thảo bạt phía trước. Thảo bạt đóng bằng cửa song, trong
ngoài thấy nhau được. Cổng không kín, tường không cao, bọn nó dễ trao lời nhau
và cứ xấn rấn trước nhà đó mà rậm rật.
Cô tư, cô chủ, ban đầu còn la lấy lệ, mãi sau phải lấy củi phang ra bên ngoài
và quất con Ma- Lên hết mấy roi.
Nhưng chứng nào tật nấy, bọn nầy cứ nội công ngoại kích, khó chịu quá đi thôi.
Cô tư đàng chịu thua, đi lại giường nằm đọc Liễu Trai để quên chúng nó. Cô tìm
dấu đã đánh trên lề tờsách hồi nãy và đọc thấy con ma ấy đang lên trên lầu. Cô
bỗng sực nhớ đến tên con chó của mình, nên mỉm cười.
Con Ma- Lên của cô không phải là ma, cũng không leo lên đâu cả. Đó là tiếng
Pháp- me- Tây để nói Ma- Đơ- Lên (Madeleine).
Nguyên năm trước, ở xóm có một con mẹ, vợ săn đá, khách hàng khó chịu nhứt của
cô; con mẻ tự xưng là Ma- Lên.
Cô tư rất không ưa con mẹ ấy, nên đặt tên con chó như thế cho bõ ghét.
Nhưng Ma- Lên bốn cẳng là bạn thân nhứt của Cô Tư. Tết năm ngoái cô về quê thấy
nhà bên cạnh nhà ông ngoại cô, người ta toan đem cả một ổ chó con trấn nước cho
chết. Động lòng thương, cô xin con chó tốt nhứt để nuôi.
Không phải chỉ thương chó chết đuối mà thôi đâu, cô thương vì thấy số phận con
chó hơi từa tựa số phận cô ở cái chỗ bị người đời hất hủi một cách bất công.
Ở nhà quê, chó tháng giêng hay hóa dại, vì thời tiết nóng quá. Nhơn tháng ấy là
tháng hoa vông trổ, người ta lầm lẫn sự trùng phùng ấy với nguyên nhơn bệnh dại,
nên gọi bệnh ấy là chứng mắc hoa vông. Chó lớn thì họ còn để sống vì còn cần,
chớ chó mới đẻ là họ trấn nước chết hết kẻo chúng nó mắc- hoa- vông mà khốn!
Cô Tư năm đó bốn mươi ba tuổi, tuổi Dần. Chỉ vì cái tuổi Dần báo hại ấy mà trai
đời xa lánh cô, không sợ cô mắc hoa vông mà sợ cô sát chồng, như trong sách
nói.
Thuở còn trẻ, ở làng, cô cũng được nhiều người coi mắt. Nhưng không đám nào đi
tới nữa cả, sau vụ coi thầy, coi tuổi.
Cô Tư không đẹp, nhưng có duyên, có giáo dục lại có của. Thế mà cô phải chịu
nhìn năm tháng trôi đi, nhìn tuổi tác cô chồng chất lên mãi trong cảnh cô độc lẻ
loi.
Cuộc kháng chiến đã đưa cô trôi nổi lên Saigon mấy năm nay và cô càng cảm thấy
cô đơn hơn bao giờ hết giữa đô thị đông đúc nầy.
Người con gái già, khi qua khỏi tuổi khó khăn bốn mươi, bỗng nghe thân thể và
lòng bình thản lại. Cái rạo rực tuổi thơ chỉ còn là một ký ức xa xôi. Tuy nhiên
bình thản không có nghĩa là vui vẻ được.
Nếu không có Ma- Lên làm bạn, không rõ cô Tư sẽ buồn đến bực nào. Ma- Lên sạch
sẽ, ngoan ngoãn, Ma- Lên trìu mến chủ, ít đi đâu.
Nhưng nó là con gái đang thì, lại không hấp thụ được cái giáo dục tiết chế của
con gái loài người, nên nó bắt đầu để cho xác thịt làm chủ nó.
Cô Tư đọc tới chỗ chàng thư sinh vừa gác bút ngước lên thì thấy cô gái áo lam đứng
trước mặt mình mà mỉm cười, thì bỗng nghe một tiếng "cẳng", con Ma-
Lên đã đánh ngã lọ trầu bà để trên bàn gần cửa song.
Cô tức lắm. Cuối xuống đất lượm chiếc guốc mà chọi nó. Ma- Lên hoảng sợ chạy vô
riu ríu nằm dưới chân giường.
Chủ nó nghiêm sắc mặt mà hỏi xẳng:
- Vậy đó hả?
Chắc Ma- Lên chỉ hiểu một phần lời của chủ nó thôi, phần trách mắng tội đánh bể
cái lọ. Phần kia, nó làm sao nhận thức được lý do chủ cấm đoán nó đi ra ngoài để
yêu đương.
Chính chủ nó cũng còn chưa hiểu. Nói đúng ra, cô Tư vẫn hiểu nhưng không muốn
thú nhận.
Những người xấu bụng, hay ghanh tỵ trước hạnh phúc của kẻ khác. Cô Tư là người
tốt. Nhưng rủi thay, cô lại là gái già. Thành ra cô vẫn xấu một chút xíu về chỗ
đó. Trước kia, mỗi lần trang bạn đi lấy chồng, cô bỗng thấy hết thương người bạn
đó. Lắm khi đâm ra ghét họ, và thình lình tìm được những lỗi to lỗi nhỏ của họ
lu bù.
Lâu rồi, cô quả không còn ghanh tị với ai, vì bạn hữu cô đã thành bà nội, bà
ngoại hết cả rồi. Nhưng con Ma- Lên đã đến trong đời cô. Cái ngày mà nó đi song
song với con chó Mốc trước nhà, cô lại ngậm ngùi nhớ lại tuổi xuân của mình, rồi
như trẻ trở lại, cô cả quyết giữ nó, không cho nó "bị hoen ố". Phải,
cô xem cái việc nó yêu đương là hoen ố thân nó.
Mắng Ma- Lên xong, cô Tư lại tiếp tục đọc sách. Thừa cơ chủ lo ra, Ma- Lên đứng
dậy, chạy vòng vòng quanh nhà như gà mắc đẻ. Ngoài kia mấy con chó hàng xóm vẫn
đứng đó mà kêu "hựt... hựt... hựt".
Thấy dạng Ma- Lên trở ra, chúng nó áp tới xung phong vào cửa. Tiếng cào vào gỗ
nghe sột sột, tiếng hựt, hựt càng phút càng to.
Bị phá rối giữa lúc ham mê câu chuyện, côTư lần nầy giận tràn hông.
Cô chạy mau ra ngoài, vặn khóa mở cửa để đuổi chó. Cô mở he hé cửa thôi, rồi đứng
chắn nơi đó. Nhưng Ma- Lên chen vào hai chân cô, quyết vọt ra. Mưu toan bất ngờ
của con chó khiến cô ngạc nhiên. Cô lấy hai chân kẹp cổ nó lại. Nó rấn tới để
vuột, mạnh quá tưởng tượng, như có ai đẩy phụ thêm ngoài sau. Nếu cô Tư không
khép cửa kịp, thì chắc cô đã ngã sấp vì sức xô của con Ma- Lên.
Đóng cửa xong, cô mệt thở hổn hển, đạp một cái lên đầu Ma- Lên rồi đi vào giường.
Tuyệt vọng, Ma- Lên theo chủ đi vào. Lần nầy nó buồn hiu hiu, nằm gác mõm lên
hai chân trước, ra vẻ nhẫn nại chịu số phận.
Cơn giận nguôi lần, cô Tư nhìn Ma- Lên rồi thương nó hơn bao giờ hết. Nó mới lớn
lên, đầy dẫy sinh lực. Tiến gọi xác thịt mà nó nghe theo, tự nhiên quá, có gì bậy
bạ đâu. Thế mà, tại sao nó lại phải bị bắt làm gái già? Đồng loại nó có lánh xa
nó đâu, có coi tuổi coi thầy gì để mà sợ nó đâu. Thì tại làm sao bắt nó chịu số
phận của một người không may đẻ vào năm Dần?
Cô Tư vói tay vuốt lên đầu Ma- Lên, Ma- Lên cảm động ngóc mõm liếm tay chủ, mắt
nhìn cô Tư nói:
- Tôi không hiểu sao chủ cấm đoán tôi, nhưng dầu sao tôi vẫn thương chủ. Mà...
buồn quá chủ ơi!
Cô Tư nghe văng vẳng ai hát:
Xưa kia ai cấm duyên bà
Bây giờ bà già bà cấm duyên tôi.
Cô tiếp tục vuốt đầu con Ma- Lên mà không nhìn chó nữa; cô nhìn vào thuở cô hai
mươi, xa lắm rồi. Ngậm ngùi thay một thời xuân đã mất! Khoa coi tuổi đã ngăn cô
sống tự nhiên ngoài lễ giáo. Đời cô như còn vơi như còn vơi những nỗi niềm gì,
nhưng mà lại đầy ứ những uất khí nó xúi cô xử ác với con bạn mến thương hôm
nay.
Cô Tư bỗng vụt ngồi dậy, do dự giây lát rồi đứ ng lên đi ra ngoài.
Ma- Lên cứ bình tĩnh nằm đó, an phận mà chủ đã định cho.
Cô Tư vặn khóa cái rột, mở cửa cái két. Chó bên ngoài hoảng sợ vẹt ra.
Cô kêu:
- Ma- Lên! ra đây.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét