Cô gái Xà Niêng 2
2. Buổi sáng hôm sau, khi tôi thức giấc đã nghe có tiếng khua động bên ngoài. Ông Chúp đang nấu nước sáng cũng ngẩng đầu lên, có vẻ chăm chú. Rồi không ai bảo ai chúng tôi cùng chạy ra ngoài cửa hang. Nhìn quanh, không thấy gì hết, chúng tôi bước thêm ít bước ra ngoài. Ông Chúp bỗng kêu to lên:
- Coi kìa!
Theo hướng tay ông, tôi thấy con Xà Niêng ngồi ep mình trong
một bụi cây, trần trụi như là hôm nào. Chỉ ở bên phải còn vướng một nửa tay áo,
còn thì tất cả vải bô đã bị cởi bỏ, hay là xé nát, và thân hình mang đầy vết
cào cấu. Con Xà Niêng lại bị cọp vồ sao?
Tôi bước đến gần, nó ngước nhìn tôi co ro như kẻ đói lạnh, cặp
mắt trở nên hiền dịu đượm ý van lơn. Ở trên da thịt có nhiều vết máu, không phải
vết sâu và mạnh như những vết cọp hôm nào. Tôi cúi xuống kéo nó lên, vừa chạm đến
tay nó rụt người lại, cau có nhìn tôi một cách khó chịu đầy ý nghi ngờ, căm giận.
Tôi vỗ về nó:
- Nào ngoan đi xem, chẳng ai làm gì hại tới cô đâu.
Hẳn con Xà Niêng không thể hiểu điều tôi nói. Nhưng tôi hy vọng
bằng loại trực giác nào đó nó cảm thông được tôi không có ý hại nó mà chỉ muốn
giúp đỡ thôi. Con Xà Niêng lại ngồi im, tôi lại dỗ dành:
- Đứng lên, vào trong hang đi.
Sau một đôi chút do dự, con Xà Niêng bèn đứng lên, dáng vẻ
lúng túng. Tôi hỏi ông Chúp:
- Cô ta thấy ngượng ngùng sao?
- Không đâu. Nó bị cào cấu khắp mình, chắc là đau đớn.
- Nếu cuộc, bây giờ tôi thắng cuộc rồi. Tôi bảo nó trở lại
mà.
Ông Chúp bật cười:
- Hai chúng ta đều thắng cả.
Đoạn ông chép miệng:
- Mất một bộ quần áo tốt.
Ông có vẻ muốn nói nữa nhưng giữ im lặng. Tôi đón trước ý
nghĩ ấy:
- Mình phải mất thêm một bộ quần áo nữa rồi. Đừng lo, nay mai
về chợ rồi sẽ mua sam.
Đưa con Xà Niêng vào hang tôi xem xét kỹ các vết thương trên
mình nó. Những vết cào cấu khá dài như những móng tay sắc bén nhưng không phải
là vuốt nhọn của loài thú dữ. Tôi băng bó lại cẩn thận rồi tiêm một mũi thuốc
mê. Sau khi nó chìm sâu vào giấc ngủ, tôi lấy bộ quần áo khác mặc vào cho nó.
Mười giờ đêm, vừa đi nằm chúng tôi nghe tiếng xao xác bên
ngoài. Ông Chúp nhổm dậy:
- Chúng đến!
Tôi cũng ngồi yên, yên lặng nghe ngóng.
- Này ông Chúp à, ông có nghĩ rằng đồng bọn con Xà Niêng này
gây thương tích cho nó không?
Ông Chúp lộ vẻ suy nghĩ nhưng không trả lời. Mảnh áo còn sót
lại trên tay con người rừng ấy và cái dấu vết cào cấu không phải là của cọp beo
đã làm cho tôi ngờ vực... Họ hàng Xà Niêng có lẽ từ lâu đã chờ đợi cô gái ấy trở
về, nhưng kẻ quay về đã thành xa lạ với bộ quần áo trên mình khiến chúng nghi
hoặc và thành giận dữ. Thay vì mừng đon một sự sum họp bất ngờ, chúng đã xông
vào xé cho tan nát dấu vết quá xa lạ kia. Và con Xà Niêng sợ hãi tìm đường trốn
chạy. Nó tìm đến với chúng tôi, tìm sự che chở yên lành, và bởi chúng tôi không
có móng vuốt cua loài dã thú.
Tôi đem sự suy luận này nói với ông Chúp, và ông gật đầu tỏ ý
tán thành.
Tôi suy đoán tiếp:
- Có lẽ họ hàng Xà Niêng tưởng rằng nó sẽ trở lại sau cơn
hành hạ, nào ngờ nó đã đi luôn. Chắc suốt đêm qua nó ở ngoài rừng chờ đợi chúng
ta thức giấc. Và ngày hôm nay, khi nó vào đây thì đồng bọn nó vẫn còn chờ đợi.
Mãi đến tối nay vẫn không thấy bóng dáng nó, bà con suốt ruột đi tìm. Chúng biết
rõ con Xà Niêng quay lai nơi đây. Một điều lưu ý là nơi trú ẩn của chúng hẳn gần
đây thôi. Rõ ràng ta đã tìm tới một miền đất lạ, thật là xa khuất, có lẽ ít người
lui tới xưa nay. Miền của Mả Voi, của giống Xà Niêng, chắc còn bao nhiêu vật kỳ
quái khác cũng chưa biết chừng.
Lúc ấy, ở ngoài cửa hang tiếng nói ríu rít tăng dần, những bước
di chuyển dồn dập xem ra nóng nảy bồn chồn. Chúng tôi cùng ngồi cả dậy, cầm lấy
vũ khí ra ngoài. Qua ánh lửa hồng nhiều khuôn mặt lạ nhốn nháo, tôi nhận ra dần
gia đình Xà Niêng với đủ khuôn mặt già trẻ khác nhau. Khi thấy chúng tôi, cả
đám bỗng im như đang chờ một phản ứng.
Hai bên nhìn nhau một lát, không nói năng gì. Lửa hồng cháy
sang phần phật với những tiếng nổ lách tách giòn tan, bên ngoài là tiếng hú của
gió ngàn qua những lá cành, tiếng thác đổ dồn từ xa, tiếng loài thú dữ tìm mồi
lùng lội đây đó vọng lại như một đe dọa thường xuyên của chốn rừng đêm. Ông
Chúp quay sang bảo tôi, giọng đầy xúc động:
- Nổ súng đi thôi.
Tôi khẽ lắc đầu, bảo nhỏ:
- Để xem bọn họ muốn gì. Nếu họ quả không có ý làm hại chúng
ta thì đừng nên đe dọa họ.
Tôi làm thinh tiến bước tới, đi về phía đám Xà Niêng lố nhố
bên ngoài. Vừa tới đống lửa, tôi đang lưỡng lự không biết có nên thử lách ra
ngoài xem phản ứng chúng ra sao, bỗng chúng kêu lên một tiếng rồi biến trong
đêm. Tôi đứng thật lâu chờ đợi, vẫn không thấy chúng thấp thoáng. Tôi bảo ông
Chúp:
- Ông xem, chúng đã đi rôi. Rõ ràng chúng không muốn hại ta
đâu.
Ông Chúp đáp lại:
- Ông hiểu bọn chúng hơn tôi.
Câu nhận xét ấy làm tôi suy nghĩ. Tôi có thật hiẻu giống Xà
Niêng kia hơn ông Chúp không? Nếu tôi có vẻ như đoán được những ý nghĩ của
chúng rõ hơn ông ta hẳn vì tôi có cái nhìn khác ông về giống loại này. Tôi vẫn
xem chúng như một giống loại gần gũi của người, một hình ảnh người, dù là hình ảnh
vụng về mờ nhạt, và chúng có thể phản ứng không quá khác xa với người. Ông Chúp
quan niệm về chúng rất là đơn giản. Ông chỉ thấy đó là một loài vật như bao
nhiêu loài vật khác trong chốn rừng xanh. Trong mọi suy luận, ông đều gạt chúng
khỏi lãnh vực người, không muốn xem như những kẻ có thể gần gũi với mình. Phải
chăng như thế ông đỡ cảm thấy khó chịu, bởi không thể nào chấp nhận một sự tự hạ
qua so sánh ấy.
Khi chúng tôi trở vào hang, vừa nằm xuống bên đống lửa bỗng
nghe một tiếng hú dài rền rĩ cất lên. Tôi không làm sao tả lại được tiếng hú ấy
vì nó thật là lạ lùng. Ông Chúp nhận xét:
- Nghe sao buồn quá.
- Chúng thương nhớ con Xà Niêng này chăng?
Rồi tôi cố gắng giải thích:
- Có lẽ sau những hành động tàn bạo khiến con Xà Niêng bỏ đi,
họ hàng nhà nó cảm thấy hối hận. Hối hận gây ra đau khổ...
Ông Chúp ngồi lên, kheu lại bếp lửa cho cháy sáng thêm, không
nói năng gì. Hình như những lời dẫn giải của tôi thật quá xa vời, ông khó cảm
thông, nên chẳng quan tâm.
Bên ngoài tiếng hú càng kéo dài ra, rền rĩ, xen lẫn với tiếng
gió rít trong cây, thác đổ xuống ghềnh. Tôi nhìn về con Xà Niêng. Liều thuốc ngủ
mạnh nên nó vẫn còn nằm im như chết.
- Ông Chúp, nếu nó tỉnh thức, sợ nó chạy theo tiếng hú kia
thôi. Chỗ ngăn giữ này chỉ là tạm bợ. Nếu muốn vượt thoát, nó vẫn phá vỡ dễ
dàng. Nhất là những ngày chúng ta đi khỏi, vào trong Mả Voi, ai mà cản nó trốn
chạy vào rừng.
- Mình không cách gì giữ nó đựơc sao?
- Nó cũng như người, không thể giữ bằng trói buộc mà bằng
tình cảm. Ông xem, chúng ta săn sóc như thế cũng là một cách giữ nó. Chẳng vậy
mà nó không chạy tới chỗ nào khác, lại tìm đến ta trong lúc nguy nan.
Tôi bắt đầu thấy nơi con Xà Niêng có sự thay đổi. Ít nhiều, đối
với chúng tôi, nó đã quyến luyến, vì đã tin cậy. Giữa cái đời sống rừng rú đầy
sự cấu xé bạo tàn, con Xà Niêng chỉ trông chờ sự giúp đỡ của đồng bọn. Từ bao
nhiêu đời trải qua, trong một cuộc sống âm thầm khắc nghiệt, con Xà Niêng thấy
chung quanh chỉ có kẻ thù, chỉ có vô số khuôn mặt tàn bạo chờ để giết hại hoặc
uy hiếp nó. Cái dáng mềm mại của một con trăn hay vẻ uyển chuyển của một con hổ
đều ngầm chứa một tai họa lớn lao. Bởi vậy, khiếp sợ chung quanh, nghi ngờ kẻ
khác, thành một bẩm tính ăn sâu vào trong máu tủy nó rồi.
Nhưng từ khi gặp chúng tôi, con Xà Niêng hẳn thấy khác. Giống
vật đánh ngã được cọp, cứu nguy được nó, phải là một kẻ hung hãn khác thường.
Thế mà ngược lại, chúng tôi đã săn sóc nó, đã nuôi dưỡng nó hơn cả đồng bọn, đồng
loài của nó xưa nay.
Khi tiếng hú dài não nuột tắt trong đêm khuya của chốn rừng
núi âm thầm, tôi còn nằm bên đống lửa đợi chờ giấc ngủ. Lúc tôi bắt đầu đi vào
trong cơn mê thiếp, tôi nhớ mơ hồ như tiếng hú ấy lại văng vẳng lên trong chốn
xa vời. Chẳng rõ đó là tiếng vang vọng lại từ những cổ họng buồn thương của đám
Xà Niêng lang thang, hay là dư âm phảng phất của một hồi tưởng mơ hồ?
Qua ngày hôm sau, chúng tôi chuẩn bị thu xếp vài hôm rồi chuyển
ngà voi về chợ. Vấn đề khó nghĩ đối với chúng tôi, là con xà niêng sẽ như thế
nào? Để nó ở lại một mình là chuyện không thể. Hay là thả nó quay về lại với đồng
bọn? Nhưng nó chịu quay về không? Và thả về trong trạng thái trần trụi hay cho
mặc quần áo người để nó lại bị đồng bọn tấn công? Tôi vốn không muốn nó quay về
lại cuộc sống hoang dã mà mong mỏi đưa nó ra khỏi những sinh hoạt sơ khai để
vào cuộc sống loài người.
Tôi bày tỏ nỗi băn khoăn với ông già Chúp. Ông nói:
- Thật là khó nghĩ, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác.
Đành cho nó quay về với bà con nó thôi.
- Thế đem nó theo được không?
- Tôi ngại nó chẳng chịu đi. Hơn nữa, ra các buôn ngoài sợ
còn gặp những khó khăn.
- Tôi không muốn nó phải quay về rừng.
Cuối cùng tôi không còn cách nào khác, ngoài việc ở lại và để
ông Chúp đi về phố chợ một mình. Ông Chúp không nói năng gì nhưng lộ một vẻ khó
hiểu về quyết định ấy. Phần tôi, tôi cũng cảm thấy ái ngại phải để ông Chúp ra
đi như thế, dù toi hiểu ông không cảm thấy nỗi cô độc trên những dặm dài hoang
vu. Ý thức về nỗi cô đơn chỉ là tâm bệnh của người thành thị. Còn với ông Chúp,
núi rừng tuy đầy cạm bẫy như là khung cảnh quen thuộc và ông đi lại trong đó
như cá bơi lội trong nước thênh thang. Nỗi lo ngại chính là chuyện mua bán,
nhưng trong chuyến đi dài ngày vừa qua tôi đã có dịp sắp đặt những kẻ quen biết
tiêu thụ hộ mình và ông già Chúp đã biết đầy đủ những liên hệ ấy.
- Ông cứ an tâm mà đi. Đừng mang quá nhiều ngà voi mà thêm khổ
nhọc. Mọi sự mua bán, hãy ghé lại buôn Cà Đoi là có người quen chúng ta sẵn rồi.
Ông mua cho tôi gạo mắm, thuốc men, và nhiều quần áo...
Mờ sáng hôm sau, ông Chúp lên đường. Tôi nắm tay ông, ân cần:
- Cố đi về sớm, nghe ông.
Ông nhìn tôi thật trìu mến rồi nói bằng giọng xúc động:
- Ông cứ yên lòng, tôi sẽ cố gắng đi mau.
Tôi đứng nhìn theo ông già cùng con ngựa thồ khuất dần sau
đám rừng cây rậm rạp.
Khi tôi quay vào thì con Xà Niêng vẫn ngủ chưa dậy. Đã mấy
hôm nay tôi cho thuốc ngủ khá mạnh để nó quên bớt đau nhức và khỏi nghe tiếng
hú dài áo não của đồng bọn nó. Sự kêu gọi thường xảy ra về khuya, đôi khi vào
sáng tinh sương hay chiều tà, hoàng hôn sụp xuống vội vàng trên chốn núi rừng.
Chừng như vào những lúc ấy đồng bọn của nó mới thấy nhớ thương hơn hết, lo âu
hơn hết về nỗi nó bị lạc loài. Tôi ngại con Xà Niêng sẽ xúc động khi nghe tiếng
gọi thắm thiết vang dậy trong đêm và không dằn được tấm lòng nhớ bầy, nhớ chốn
rừng xưa.
Nhưng chẳng lẽ bắt nó ngủ mê mệt như thế này mãi, khi các vết
thương của nó bớt đau nhức rồi. Tôi đợi cho nó thức dậy, vào săn sóc nó, luôn
miệng nói lời dịu ngọt và dùng cử chỉ ve vuốt nhẹ nhàng. Tôi muốn con Xà Niêng
có ấn tượng là nó đang được thương yêu, đang ở giữa một loài thú rừng khác với
tất cả loài mà nó đã gặp, đây là một loại thú rừng có được sức mạnh kỳ lạ nhưng
cũng có sự dịu ngọt khác thường. Trong một tuần lễ con Xà Niêng mất dần những
phản ứng hằn học, và sự e dè của nó cũng phai nhạt dần. Nó đã biết nhìn với một
cặp mắt chăm chú mở rộng, cặp mắt trẻ thơ ngơ ngác như muốn khám phá thế giới
bên ngoài để mà tìm hiểu không ngừng. Mỗi ngày, ngoài các công việc thường
xuyên như hái củi, nấu cơm, bẻ các trái chín ngoài rừng, tôi dành thời gian săn
sóc và hướng dẫn nó tập nói tiếng người. Những tiếng cụ thể hôm nào, đến nay
con Xà Niêng vẫn nhớ rõ và hiểu dễ dàng, nhưng nó phát âm vẫn còn hết sức khó
khăn. Sau những tiếng rời, tôi tập nó nói thành những câu ngắn, chẳng hạn bảo
nó: "ngồi lên", "đi tới", "cầm cái ống nước"... lời
nói luôn đi đôi với cử điệu, và tôi cùng nó lặp đi lặp lại nhiều lần trong
ngày. Mỗi khi thấy nó có những dấu hiệu mệt mỏi, tôi ngừng ngay lại, chia nhau
một trái cây chín hoặc ngụm nước suối và người bạn rừng của tôi biẻu lộ một sự
xúc động thật rõ.
Điều tôi để ý là những lần tôi thay lớp áo quần cho cô bạn
tôi, chạm vào người cô là bị phản ứng lập tức. Tôi không hiểu được vẻ cau có
pha giận dữ xuất phát từ đâu, phải chăng bản năng tự vệ của loài thú rừng còn lại
đậm đà hay tính thẹn thò nơi một loài vật giống cai chưa quen những nếp sinh hoạt
thuần thành? Tất nhiên mỗi lần như thế tôi cố tránh mọi đụng chạm có thể gây
nên hiẻu lầm. Tôi đã là kẻ làm ơn cho cô và không thể giúp đỡ người để hòng kiếm
chác những sự đòi hỏi thấp hèn. Nhưng hễ khi nào sự đụng chạm ấy tình cờ hay là
bắt buộc gặp phải những phần tương đối kín đáo ở trong cơ thể, thì cô Xà Niêng
có một kiểu cách giận dữ khiến tôi nhiều lúc đến phải bật cười. Tôi phải vội
vàng nói tiếng "xin lỗi" và cô ngước lên nhìn tôi với vẻ khó chịu đầy
yự dò xét. Thật ra cô có những cảm nghĩ gì trong lòng tôi không hiểu nổi, nhưng
tôi có ấn tượng rằng cô đang tìm hiểu về tôi. Cuối cùng tôi nghĩ nên tap cho cô
mặc lấy áo quần. Ban đầu cô ta có vẻ hết sức lúng túng. Tôi ngồi yên lặng theo
dõi từng cử chỉ một, thấy cô loay hoay cho cánh tay vào trong áo một cách suy
tính. Đã một tuần nay tôi không bắt mặc áo quần trơ ngược như trước vì tôi thấy
cô đã quen với sự ăn mặc, không cấu xé như lần đầu. Khi nhìn cô săm soi từng hột
nút và từng khuy áo, rồi gài vào thật cẩn thận, tôi chợt nhận thấy chúng ta đã
có một cái gia tài lớn lao và thật kỳ diệu về những phản ứng quen thuộc nhưng rất
hữu ích làm nên sinh hoạt hàng ngày.
Kể từ hôm đó tôi khỏi bận tâm về công việc làm có thể gây nên
hiểu lầm giữa tôi và cô bạn rừng, đó là việc mặc quần áo, nhưng tôi còn phải mất
nhiều thì giờ để nhắc cho cô hiểu được lúc nào thì cần phải thay ra, và sau khi
đó thì nên giặt giũ ra sao. Bất cứ việc gì cô cũng theo dõi cẩn thận, và nhìn vầng
trán nhíu lại dưới mớ tóc rối loa xòa tôi tưởng thấy được những phần trí tuệ bắt
đầu nảy nở và phát hiện lần trải qua cố gắng của sự làm việc. Chỉ có mỗi sự làm
việc mới đem lại những hiểu biết thực sự và những cảm nhận hữu ích.
Tất cả những việc làm ấy đều có kèm theo lời nói, và lời nói
cùng động tác dần thấm sâu vào tâm não cô gái Xà Niêng. Chính sự cố gắng của cô
là một điều khuyến khích tôi, bởi nếu cô không nỗ lực như thế liệu óc tò mò có
đủ là nguồn khuyến khích để tôi bền lòng mà hướng dẫn cô trong từng cử điệu,
qua từng lời nói? Trường học giữa thiên nhiên ấy chỉ có mỗi một thầy dạy và mỗi
học trò, và cái lớp học là một hang đá dài sâu, ám khói trong đó luôn luôn bập
bùng một bếp lửa hồng soi rạng chung quanh.
Nhưng một buổi tối, đang ngủ, tôi bỗng nghe những tiếng động
thật mạnh. Tỉnh giấc, tôi nghe tiếng hú rền rĩ từ xa và cô bạn của tôi đã ngồi
chổm dậy có vẻ hoảng hốt một cách dị thường. Đã mấy ngày rồi tôi không cho dùng
thuốc ngủ, và hôm nay đây tiếng gọi vẳng dậy một cách bất ngờ khiến cô bối rối.
Tôi nói to lên:
- Ngủ đi! Ngủ đi!
Nhưng lời nói ấy không có một tác dung nào. Đôi mắt trợn trừng
như muốn nhìn vào trong khoảng đen dày hun hút sâu thẳm của cái hang đá về
khuya, hai tay run rẩy, co giật liên hồi, vẻ mặt trở nên hốc hác như bị thu hút
theo cái tiêng gọi kỳ quái vang dài, cung thân hình như sẵn sàng nhổm dậy phóng
chạy ra ngoài.
Tôi hét to lên:
- Hãy nằm xuống đi!
Tiếng hét làm cô Xà Niêng hoảng hốt thêm lên trong sự căng thẳng
cùng độ. Liệu người bạn rừng của tôi có chạy thoát khỏi đây không? Tôi nên cản
lại, hay cứ để mặc?
Như trả lời những ý nghĩ của tôi, cô Xà Niêng đưa hai tay sờ
soạng trên cúc áo. Có lẽ cô muốn rứt bỏ những áo quần này để về lại với họ
hàng, về lại cuộc sống hoang dã triền miên giữa rừng núi sâu. Tôi bỗng ngồi nhổm
dậy ngay và xách khẩu súng ra ngoài cửa hang. Tôi chong tai nghe lần nữa cho thật
rõ ràng những tiếng kêu gọi khá thảm thiết ấy vọng lại từ phương hướng nào, rồi
tôi nhắm ve hướng ấy lảy cò.
Tiếng nổ vang rền trong đêm như xé toang màn âm u đen dày chứa
đầy đe dọa. Khi những dư âm của nó lắng xuống, tan loãng trong muôn ngàn tiếng
mơ hồ khác lạ của núi rừng khuya, thì tôi không còn nghe những lời réo gọi kia
vang dậy. Họng súng đã làm họ hàng Xà Niêng im lặng, ít ra cũng trọn đêm nay.
Tôi đứng ở ngoài cửa hang chờ đợi rất lâu, để nghe tiếng hú
có thể vang vọng đâu đó hay không, rồi mới quay vào. Cô bạn rừng núi của tôi vẫn
ngồi yên lặng, vẻ mặt đờ đẫn, như tiếc nuối lời réo gọi đã tắt lịm rồi. Đôi mắt
thu hẹp dần lại nhớ tiếc trong tâm não, cặp môi mấp máy nhưng không nói được
thành lời, cô ta ngồi đấy mà như lac lõng nơi đâu.
Tôi bước lại gần, đặt tay lên vai cô ta, và cô nhìn tôi ngơ
ngác. Tôi nói:
- Ngủ đi! Hãy nằm xuống đi.
Tôi khẽ đẩy nhẹ cô ta ngã xuống trên nệm lá dày. Cô ngoan
ngoãn nghe lời tôi nhưng trên vẻ mặt vẫn còn đọng lại đôi chút bàng hoàng. Tôi
vỗ lên cánh tay người bạn rừng, vỗ nhẹ như một an ủi, và hát một bài hát cũ thuộc
lòng tự thuở xa xưa trong thế giới đầy kỷ niệm huyền hoặc của tuổi ấu thơ.
Tôi đem những tình cam thật dịu dàng săn sóc người bạn rừng
này vì chính tôi đang khao khát những tình cảm ấy. Lớn lên và chịu nhiều nỗi
dày vò của cuộc sống này, tôi thèm muốn những ý tình dịu ngọt như kẻ đói lả bên
đường thèm một chén cơm. Tôi đã gặp cô Xà Niêng hoạn nạn lạc loài khi tôi gần
như cô độc, ở đây, và tôi dành hết những gì có thể gọi là chăm sóc ngọt ngào
cho người bạn đó.
Ít nhất trong cuộc sống trơ trọi và buồn bã này tôi có bên
mình một người bạn nhỏ để cùng chia sớt phần nào những mối cảm nghĩ không lấy gì
làm phấn khởi, và khiến cuộc sống không còn quá mức trần trụi đến độ thê lương.
Hơn nữa, điều tôi biết chắc là người bạn rừng không hề biết đến phản bội, và
tôi có thể tin cậy nơi sự thành thật của người bạn đó, dù chỉ là sự thành thật
hết sức đơn giản như những đá núi, cây rừng.
Khi cô Xà Niêng đã nằm yên lặng, đôi mắt nhắm lại, tôi vẫn
còn ngồi một bên mà hát một điệu trẻ con như thế cho đến lúc tôi nghĩ rằng cô
ta đã ngủ say rồi, và rón rén tôi ngồi dậy đi ra phía ngoài. Nhưng được ít bước,
quay đầu nhìn lại, tôi thấy người bạn rừng đã mở mắt nhìn theo. Trong vùng lửa
đêm bập bùng cặp mắt óng ánh trên khuôn mặt nhỏ đã bị tóc rối làm cho nhỏ bé
hơn lên. Tôi nói:
- Khuya rồi, cô nên ngủ đi. Ngủ đi...
Và người bạn tôi khẽ nhắm mắt lại. Tôi biết cô ta chưa ngủ
nhưng tôi không thể thức hơn được nữa. Thoáng trong ý nghĩ tôi muốn tiêm liều
thuốc ngủ cho cô khỏi bị khuấy động về lời réo gọi bên ngoài, nhưng tôi xóa bỏ
cái ý định ấy. Tới mức độ này hãy để cho cô lựa chọn, tôi sẽ gắng hết sức mình
giành lấy cô ta, không phải bằng sự trói buộc mà bằng cuộc sống thực sự của người,
bằng những hấp dẫn về một cuộc đời cao hơn, để thoát khỏi những sinh hoạt thấp
kém, nặng nề giữa núi rừng sâu.
Tôi ra nằm gần cửa hang kề cận đống lửa bên ngoài nghe gió
rít dài trong đêm, và thấy cuộc sống của mình có một vẻ gì quái lạ. Sự tách rời
khỏi xã hội loài người, khỏi những liên quan gần gũi nào đó, làm cho chúng ta
trở nên kỳ dị và nhiều lúc tôi cảm thấy xa lạ với mình một cách đáng sợ. Cô bạn
Xà Niêng là gạch nối giữa tôi với thiên nhiên, và ông Chúp là gạch nối giữa tôi
với xã hội. Chỉ có hai cái gạch nối cô đơn, cuộc sống hóa nên bé nhỏ lạ lùng.
Ba ngày tiếp theo, tiếng réo gọi kia không thấy vẳng lại. Họ
hàng Xà Niêng đã đi xa rồi? Liệu chúng có rời xa hẳn vĩnh viễn hang đá này
không? Thật không có gì quả quyết được điều ấy cả. Những loài thú rưng có một
trí nhớ kỳ lạ và giống Xà Niêng là loài vật rừng cao hơn bất cứ loài nào thì
trí nhớ ấy có thể sâu sắc hơn nhiều. Biết đâu sự im lặng này không chứa đựng một
cạm bẫy, và không gì có đoan chắc chúng chịu bo mặc một kẻ đồng bọn.
Phần cô bạn rừng của tôi tuy đã trở lại bình tĩnh song thỉnh
thoảng vẫn có những phút giây ngơ ngác đến độ sững sờ. Núi rừng vẫn còn quanh
đây và tiếng réo gọi vẫn còn âm thầm đâu đó. Trước khi cho cô một sự tự do chọn
lựa, tôi nên cố gắng đưa cô về với loài người, về với cuộc sống mà tôi tin rằng
sẽ làm lợi ích cho cô.
Để tránh tiếng kêu hú kia bắt đầu réo gọi trở lại, tôi phải rời
xa núi rừng bọc vây thung lũng Mả Voi và đi về một miền khác có thể yên ổn nhiều
hơn cho bọn chúng tôi.
Ông Chúp đi đã mười ngày. Ông có quay trở về đây cũng còn khá
lâu, sớm nhất cũng hai tháng nữa. Tôi sẽ đưa người bạn rừng của tôi tới mạn Cà
Đum, gần cái sông lớn làm cái biên giới ngăn cách mạn rừng phía dưới với những
núi cao rừng thẳm trên này. Nơi bờ sông đó, tôi sẽ chờ ông già Chúp. Chúng tôi
đã quen ngừng nghỉ ở một hẻm núi bên sông gần như là đường độc đạo dẫn về ngả
này. Phải về nơi đó để tránh xa bớt bao nhiêu đe dọa bên mình, và có thể rứt khỏi
sự kêu gọi có thể càng ngày càng thành ám ảnh kinh hoàng đối với cô bạn của
tôi.
Qua sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm chuẩn bị cơm nước rồi dồn
tất cả những gì không thể mang theo vào trong lòng hang, đoạn tôi cùng người bạn
rừng dùng bữa cơm sáng. Xong tôi mang một gùi lớn chứa thức ăn và vật dụng, bỏ
ít đồ đạc trong cái gùi nhỏ đưa cho cô nàng:
- Mang xem.
Sau phút ngần ngừ nhìn tôi với vẻ dò xét, cô bạn người rừng
tròng vào vai mình. Tôi nói:
- Đi thôi.
Rồi tôi đi trước, quay lại ra dấu cho cô đi theo. Cô ta yên lặng
bước đi, nhẹ nhàng qua những bờ đá nhấp nhô, qua những cây cối gai góc lan tỏa
trên đường. Tôi lặng yên đi suốt ngày như thế, không thể trao đổi với cái vốn
liếng ngôn ngữ ít ỏi của bạn đồng hành, song cảm thấy không đến nỗi cô quạnh
như là ngày nào. Phần cô bạn rừng chiếc gùi không làm cho cô nhọc mệt thêm một
chút nào, và chân cô vẫn thoăn thoắt, vẻ mặt đọng lại trong sự bất động lầm lì.
Bây giờ tôi mới cảm thấy lời nói thật là cần thiết, vì thiếu trao đổi con người
bỗng nhiên trở thành rời rã một cách thảm thương.
Buổi trưa, chúng tôi nghỉ bên bờ suối và nấu ăn xong tôi nằm
dưới một bóng cây cố tìm giấc ngủ. Cô bạn ngồi dựa vào một bờ đá, yên lặng, cặp
mắt mở rộng nhìn lên vòm xanh như không cảm thấy chút xa lạ nào trong sự di
chuyển vừa qua.
Buổi chiều, tôi cố gắng đi thật mau cho gặp căn lều bỏ lại
hôm nào, trước khi trời tối. Đây là nơi tôi lần đầu nghe những tiếng lạ giữa
khuya, khi cùng ông Chúp ngồi chờ trời sáng và bị cơn mưa dội xuống xóa sạch dấu
vết khả nghi của chốn rừng già.
Trời vừa sụp tối thì đến căn lều. Cô bạn Xà Niêng có vẻ bỡ ngỡ
khi nhìn mái lá dột nát và cô hít thở một cách khác thường. Tôi bảo:
- Ta vào trong thôi.
Nhưng cô kêu lên như một tiếng rít, bước lùi, một tay bám chặt
vào tôi kéo giật trở lại. Tôi hiểu trong lều không được an toàn, rọi đèn bấm
vào quét sáng, đồng thời rút súng phòng hờ. Liền đó tôi nghe tiếng động trong lớp
lá khô và sự kéo lê sàn sạt qua những lá cành. Ánh đèn cho tôi kịp thấy màu da
láng mướt ửng sáng của một con trăn cỡ lớn đã vào chiếm ngụ chiếc lều hoang phế
lâu nay.
Chúng tôi vào lều, sắp đặt chỗ nằm, chuẩn bị lửa đêm cùng ăn
cơm tối. Số củi dự trữ ngày xưa còn nhiều và cái dấu bếp hoang tàn chứng tỏ ông
Chúp trong chuyến trở về vừa rồi đã không ghé ngủ lại đây. Có lẽ ông đi quá vội,
đã vượt khỏi lều trước khi trời tối.
Tôi đốt lửa lên, lấy phần cơm còn từ trưa chia cho người bạn
rừng rú. Chúng tôi ngồi ăn yên lặng, nghe những tiếng động âm thầm vây bủa xung
quanh. Đôi lúc tưởng như rừng đêm siết lại, ôm chặt lấy tôi như những cánh tay
man rợ khổng lồ. Về khuya gió núi lồng lộn rú qua thung lũng dưới kia và tiếng
xào xạc liên hồi ở trên mái lều ru dần tôi vào giấc ngủ say sưa.
Một lúc nào đó, trở mình, tôi lại nhìn thấy cô bạn Xà Niêng vẫn
ngồi yên lặng, y như vào lúc ban trưa. Tôi bảo:
- Ngủ đi! Hãy ngủ đi nào!
Nhưng cô Xà Niêng có vẻ không nghe lời tôi vừa nói. Mắt cô hướng
vọng ra ngoài đêm dày, như chờ đợi tiếng réo gọi bất thần sẽ hiện lên một nơi
nào, vào giữa đêm khuya.
Buổi sáng thức giấc, tôi đã thấy cô bạn ngồi trước lều, vẻ mặt
bình tĩnh. Có lẽ đây là biên giới cuối cùng của người Xà Nieng và tôi hy vọng rời
khỏi nơi đây chúng tôi sẽ không bao giờ bị quấy phá nữa. Tuy nhiên, đoạn đường
phải đi còn khoảng chừng năm ngày nữa mới tới bờ sông Ra Mun, nơi tôi hy vọng
có thể sống an toàn hơn. Trong năm ngày dài trước mắt tôi sẽ thực hiện một số
công việc để chuyến đi tránh được sự buồn nản vừa làm rút ngắn đoạn đường mà
tôi muốn đưa người bạn rừng kia về với sinh hoạt của người.
Tôi sẽ dạy cô Xà Niêng nấu cơm, đun nước, dạy cô hái củi,
nhúm lửa về đêm, và giúp cô hiểu biết thêm ngôn ngữ của người. Như thế, những nỗi
vất vả của chuyến đi này dễ được xua tan và ngày như đêm sẽ được trôi qua một
cách nhẹ nhàng.
° ° °
Chúng tôi tới sông Ra Mun vào một buổi trưa nắng gắt, mặt nước
phản chiếu chói chang như những vũng bạc mênh mông. Ở đây có nhiều tảng đá,
chúng tôi tìm nơi quen thuộc đã đựơc lựa chọn từ xưa làm cái quán trọ lý tưởng
cho mỗi chuyến đi, chuyến về. Dấu vết than củi và lá lót nằm cho thấy ông Chúp
đã ghé lại đây, đôi bãi phân ngựa đã khô lưu chút gì về con vật được trao cho
tôi một cách lạ lùng. Tôi bảo cô bạn:
- Chúng ta ở đây và chờ ông Chúp. Bây giờ hãy lo sửa soạn cuộc
sống mới này, và làm thế nào để cho hang đá chúng ta được dễ chịu hơn.
Sau một ngày nghỉ, chúng tôi bắt tay vào việc dọn dẹp chỗ ở.
Cô bạn Xà Niêng giúp tôi quét sạch từ trong ra ngoài, và chúng tôi mở một con
đường rộng từ chỗ hang đá ra đến bờ sông. Bây giờ tôi có thể giao bếp lửa và chỗ
ở cho người bạn để mỗi buổi sáng vào sâu trong các thung lũng kiếm các con mồi.
Buổi đi đầu tiên, vừa quay trở về tôi không tìm thấy cô ta. Chờ đợi lát sau vẫn
bặt tăm hơi. Một nỗi ngờ vực thoáng hiện trong óc... Có lẽ cô Xà Niêng đã từ
giã nơi đây để quay về chốn rừng sâu bát ngát rồi chăng? Nếu thế, sao cô ta chẳng
trở về từ khi vừa rời chốn cũ mà phải chờ đến hôm nay? Tôi không tin cô đã bỏ
tôi để về rừng. Nơi cô chưa diễn biến nào chứng tỏ có ý định ấy. Cô gái Xà
Niêng không có kiểu lối che đậy tình cảm của người văn minh, và sự buồn vui nơi
cô đều là trạng chứng trung thực của tâm hồn. Tôi không thể đoán gì hơn về sự mất
dạng thình lình của người bạn đó. Bị ném trả lại bất thần vào nỗi cô độc tôi cảm
thấy mình choáng váng, một điều mà tôi không sao nhận thấy từ xưa, trải qua bao
tháng năm dài đắm mình trong chốn rừng già. Tôi leo lên một tảng đá thật cao,
hy vọng có thể nhìn thấy bóng dáng người bạn ở nơi nào đó, nhưng chung quanh
tôi chỉ là màu xanh ngút ngàn vây phủ và sự im lặng dày đặc nhấn chìm tất cả dấu
vết. Tôi bỗng nghĩ đến đoàn người Xà Niêng họ hàng của cô gái đó... Có thể là họ
vẫn đi theo tôi, vẫn đi lặng lẽ âm thầm như thế bên cạnh chúng tôi để mà dò
xét, đặng tìm dịp tốt mang về cô gái lạc loài... Nếu thế, lần này không chắc gì
cô trở lại, và tôi chỉ còn có mỗi công việc là đợi chờ thôi. Dù sao cô đã hiện
đến với tôi một cách ngẫu nhiên và sự quay lại lần trước cũng thật bất ngờ. Khó
lòng chờ đợi những sự bất ngờ kỳ lạ tái diễn liên tiếp trong cuộc đời mình.
Nhưng tôi không phải chờ lâu. Chỉ vài phút sau, khi rời tảng
đá, tôi đã nhìn thấy cô bạn Xà Niêng lóp ngóp bò lên từ một chỗ vực sông sâu.
Thân hình ướt đẫm, cô trồi lên khỏi mặt nước với mấy con cá khá lớn giữ chặt
trong tay. Tôi vội chạy lại. Và cô bạn rừng nhìn tôi với một nụ cười, đúng hơn
là một nhếch mép nhẹ nhàng ma tôi suy đoán như một niềm vui. Cô trao những con
cá ấy cho tôi và tôi cầm lấy, cảm động trong lòng. Cô đã tự nguyện góp phần với
tôi trong cuộc sống này. Khi tôi lặn lội săn tìm thú rừng trong núi sâu kia, cô
cũng lan lội dưới dòng sông sâu tìm cá. Đã chẳng từ giã ra đi cô còn chung tay
duy trì cuộc sống của chúng tôi nữa. Sau cái giây phút tưởng là xa cách vĩnh viễn,
bây giờ gặp lại tôi cảm thấy một niềm vui thật lạ. Tôi muốn noi với người bạn một
tiếng cảm ơn, nhưng tôi hiểu cô không thể nào hiểu những kiểu cách đó.
Buổi tối hôm ấy bữa cơm chúng tôi thật là vui vẻ. Thịt rừng,
cá sông nướng chín tỏa mùi ấm áp nồng nàn trong hang đá rộng. Tôi cầm lụi thịt
đã được ướp muối thêm vào chút vị ớt hiểm nhan nhản trên núi rừng này, nướng
trên than hồng trong khi cô bạn Xà Niêng loay hoay đặt những con cá đã chín
trên những chiếc lá rừng lớn. Bây giờ cô như đã mat bớt vẻ rừng rú và tôi có cảm
tưởng như đang sống với một thiếu nữ nào đó, tuy không có được nhan sắc bình
thường của người đàn bà nhưng có một tâm hồn bạn thật dễ hòa hợp.
Tôi tự nhủ rằng:
- Thôi thế cô ta sẽ khong quay về rừng nữa. Chắc là cô sẽ bằng
lòng sống mãi ở đây.
Nhưng tôi cũng tự hỏi mình: làm sao tôi có thể sống mãi mãi
thế này trong chốn hoang vu? Làm sao tôi lại phải cứ dấn thân trong cõi bất trắc
quạnh hiu, trong chốn mênh mông buồn nản thế này? Dù tôi có nuôi ý định một
ngày nào đó sẽ mua những mảnh vườn ruộng sống với ông Chúp, bằng những hoa lợi
thâu hái do những nỗ lực của mình, điều này cũng còn là một mơ tưởng. Cuộc đời
có bằng lòng để cho ta hưởng sự yên ổn vắng lặng đó không, ông Chúp có chịu rời
những nhà sàn bám tận sườn non để tìm nhàn rỗi trong chốn đồng bằng xa lạ?
Và còn cô bạn Xà Niêng của tôi, cô sẽ làm gì? Liệu cô có hòa
hợp được với cái cuộc sống xã hội của người, hay sẽ chỉ là một giống vật lạ
nuôi ở trong nhà?
Mỗi ngày tôi thấy mình gần gũi hơn với người bạn rừng, cảm thấy
mình là sức mạnh che chở nhưng đồng thời mình cũng được che chở. Chúng tôi
nương tựa vào nhau mà sống, trở thành cần thiết cho nhau. Chúng tôi tạo thành sức
mạnh chống chọi được những bất trắc của một cảnh sống gian nan. Bây giờ lời nói
không còn là điều ngăn cách. Chúng tôi đã hiểu được nhau trong sự im lặng, và
trong sự im lặng ấy chúng tôi dần dần tìm hiểu nhau hơn.
Khi ngả mình bên nệm lá chất dày, phì phèo điếu thuốc trên
môi, tôi thấy bên kia đống lửa cô bạn yên lặng, một tay vắt ngang che mắt như sợ
ánh sáng chiếu vào. Đó có phải là một người đàn bà không? Mỗi lần ý nghĩ tương
tự như thế hiện đến tôi bỗng cảm thấy xấu hổ. Tôi đã bắt gặp nơi tôi cái ý háo
hức tìm kiếm khía cạnh đàn bà trong đối tượng ấy và tôi đã chiều theo nó một
cách dễ dãi. Từ khi xa rời Diễm Tuyết, tôi muốn làm con người mạnh, một người
không dễ bị sự lôi cuốn dù ma lực đến từ đâu. Hơn nữa, ý tưởng xem cô Xà Niêng
là một người vợ hay là người tình làm cho tự ái của cái con người gọi là văn
minh sót lại nơi tôi cảm thấy xót xa. Tôi không muốn tự xem mình là kẻ thất bại
thảm thương đã bị xã hội loài người xua đuổi phải vào chung sống ở trong hốc
núi với loại thú rừng.
Tuy nhiên, nơi cô Xà Niêng, những hành động có tính cách cao
hơn phản ứng bản năng dần dần đã được biểu lộ. Tôi nhớ lại tiếng kêu thét của
người bạn rừng khi chúng tôi ghé vào căn lều nát trước đây, tiếng kêu báo nguy
cho đồng bạn mình chứ không phải sự sợ hãi hoàn toàn vị kỷ. Hình ảnh cô bạn loi
ngoi từ dưới sông lên với những con cá trên tay đã làm cho tôi cảm động. Con
người rừng ấy không có sự tính toán nào vụn vặt, không có sự gian lận nào ở
trong ý nghĩ, hành động hướng về chia xẻ một cách hồn nhiên. Tôi cũng hiểu rằng
những đức tính ấy xuất phát từ cái bản chất trong lành của một trạng thái
nguyên thủy, chưa thật là một giá trị đúng nghĩa vì thiếu hẳn một cơ sở trí thức,
nhưng dù sao đó cũng là hình ảnh khích lệ cho người vươn đến những nếp sinh hoạt
cao hơn. Tôi bỗng nhớ tới Diễm Tuyết... Có lẽ Diễm Tuyết mới chính là một người
rừng. Nàng chỉ có lớp phấn son và những quần áo lòe loẹt của cái xã hội gọi là
văn minh, nhưng dưới lốt trang sức ấy chỉ toàn là những thể hiện bản năng, những
nỗi khao khát thấp hèn. Trong cuộc sống chung kéo dài bao năm, Diễm Tuyết hầu
như không muốn khổ nhọc vì tôi một chút nào hết, và nàng cũng không có thái độ
nào chứng tỏ muốn vươn đến một một cuộc sống cao hơn về mặt tinh thần. Tất
nhiên, tôi cũng phải chịu trách nhiệm về người đàn bà đã chung đời sống với
mình. Nhưng Diễm Tuyết như khá nhiều kẻ khác trong xã hội này đã bị nhiễm độc bởi
cái không khí cuồng loạn, xa hoa, cơ hồ chỉ còn biết có riêng mình, ngoài ra
không còn muốn nhìn đến ai khác nữa, dù đó là kẻ thân thích, ruột thịt, nói chi
đến những đồng bào, đồng loại. Sự ích kỷ đã thành nếp sống sâu đậm lạ lùng, đục
ruỗng tâm hồn của họ, và ta chỉ bắt gặp được những cái bóng mờ thay vì là những
con người như ta vẫn hằng mong ước thương yêu. Nhưng xét cho cùng họ làm sao
thoát khỏi những điều kiện xấu xa của hoàn cảnh họ, nếu cuộc sống ấy không bị
lay chuyển đến tận cội rễ và được soi sáng bởi một lý tưởng hoàn toàn vị tha?
Trong chốn hang đá chập chùng ánh lửa tôi quay lại nhìn cô
gái Xà Niêng, cảm thấy thương hại con người rừng đó. Cô có bao giờ nghĩ gì về đời
cô không? Cô có bao giờ chép miệng nói đến thân phận, duyên số và bao nhiêu
danh từ khác quen gặp trong ngôn từ các cô gái thị thành? Cho đến mãn kiếp người
con của rừng núi ấy vẫn không bao giờ có những băn khoăn như thế, ở trong đời
mình.
Tôi bỗng nảy ý đặt cho cô bạn một cái tên gọi. Cô có quyền
mang tên như mọi người, cô cũng là người với nghĩa thật đúng của danh từ ấy, vì
cô đã muốn vươn lên khỏi những nếp sống cũ kỹ, nặng nề, cô biết chia xẻ và biết
hy sinh. Những giá trị thuộc riêng về con người lương hảo đã được manh nha nơi
cô và tôi hy vọng mỗi ngày sẽ thấy rõ hơn. Tôi loay hoay tìm một cái tên gọi, một
tên phù hợp với cảnh ngộ nàng. Thanh Lâm... cô nàng ở chốn rừng xanh, sẽ mang
tên đó. Và sáng hôm sau, đặt tay lên vai của người bạn rừng, tôi gọi:
- Thanh lâm!
Cô bạn ngơ ngác nhìn tôi, nhưng tôi đã lại chỉ vào nơi mình gọi
tên của mình, rồi chỉ vào cô và gọi nhiều lượt bằng cái tên mới. Như thế, cô hiểu
và cô gật đầu.
° ° °
Chúng tôi đã sống những ngày yên ổn đợi chờ ông Chúp trở lại,
công việc được phân chia đều vui vẻ giữa hai chúng tôi. Buổi sáng, chung lo cơm
nước rồi tôi vào rừng săn bắn. Thanh Lâm xuống sông, xuống suoi bắt cá, mò cua.
Buổi chiều, nếu không có những công việc như lau chùi súng, vót tên, sửa nỏ, đốn
củi thì tôi tìm hái trái rừng, Thanh Lâm đến ven bờ suối hái rau. Cô bạn gần
như nói được tất cả những tiếng chỉ các vật dụng quanh mình và dần dà nói được
các câu ngắn rời rạc. Giọng cô uốn éo trong thanh, pha trộn tiếng chim với tiếng
thú rừng.
Trong những nỗ lực học theo sinh hoạt của người, Thanh Lâm gần
như không biết mệt mỏi. Những gì chỉ vẽ cho cô, cô rất chăm chú nghe theo, chịu
khó lặp đi lặp lại chẳng hề nhàm chán. Khi tôi dạy cô vót những nan tre, đan những
chiếc giỏ, bao giờ cô cũng lúng túng một cách vụng về, nhưng sau khi đã hiểu
xong và biết thực hiện, cô làm một cách say mê. Cô có thể ngồi suốt đêm làm việc,
nếu tôi không tìm mọi cách cản ngăn. Ở nơi cô bạn rừng xanh có sức bền dai chịu
đựng những nỗi khó nhọc và những bất thường thời tiết thật là lạ lùng. Thanh
Lâm như không hề biết ốm đau, ốm đau là dấu chứng của loài vật đã tách rời khỏi
thiên nhiên để chống đối lại, nhưng chưa hoàn toàn cưỡng chế được nó.
Cứ thế, mỗi ngày cuộc sống gần gũi giữa hai chúng tôi làm
phai mờ dần dấu vết rừng rú hoang dại nơi người bạn gái Xà Niêng.
Một hôm tôi đang theo các con mồi trong núi bỗng nghe có tiếng
súng nổ về phía hang đá. Tôi đứng sững lại, chong tai nghe ngóng. Tiếng súng
vang lên rời rạc, rồi bỗng im bặt. Tại sao có tiếng súng nổ quanh đây? Trong miền
xa xôi và hẻo lánh này đã có những tay thợ săn bén mảng đến sao? Tôi đã đến được
nơi đây thì người khác có thể đến, điều ấy cũng chẳng lạ gì. Giữa lúc tôi đang
ngơ ngác bỗng thấy Thanh Lâm chạy như bay về phía tôi. Qua những cây, đá chập
chùng cô như con nai lao thẳng mình tới hay một con vượn chuyền nhanh qua những
lá cành.
Nhưng Thanh Lâm biết chỗ tôi theo dõi con mồi, giữa chốn núi
rừng trùng điệp là điều kỳ quái. Tôi đã lang thang, xê dịch không ngừng, chẳng
có lộ trình rõ rệt. Linh tính đã giúp cho nàng đoán biết, hay là khả năng hít
thở qua các hơi gió đón bắt giữa rừng đã giúp cho nàng nhận rõ lối đi?
- Thanh Lâm! Thanh Lâm!
Nhưng ở sau nàng một quãng khá xa tôi thấy thấp thoáng những
người cưỡi ngựa phóng theo. Chạy tới gần tôi, nàng nhảy chồm đến, ẩn núp trong
tôi với một dáng điệu cuống cuồng. Tôi ôm lấy cô bạn rừng:
- Có việc gì thế?
Nàng quay nhìn lại phía sau, vẻ mặt còn đậm dấu vết hãi hùng.
Cũng vừa lúc ấy ba kẻ cưỡi ngựa phóng đến. Tôi thấy hai người ngoại quốc và một
người Việt. Các người ngoại quốc đầu tóc vàng hoe, với đôi mắt màu xanh lơ đùng
đục, ăn mặc theo lối các nhà thám hiểm, lưng đeo súng ngắn và trên vai mang những
súng săn dài.
Tôi đã đoán hiểu việc gì xảy ra nhưng cũng hỏi họ:
- Các ông muốn gì?
Bọn họ nhìn nhau, rồi người Việt nói:
- Chúng tôi đi săn.
- Sao các ông lại săn đuổi người này?
- Người nào? Ông bảo đây là người sao?
Tôi tức giận đáp:
- Không cần tôi bảo, các ông phải biết điều đó.
Người kia mỉm cười:
- Quần áo không đủ làm nên con người.
Tôi không nén được:
- Đúng vậy. Nhiều kẻ ăn mặc đầy đủ mà chỉ là loài vật thôi.
Người kia vẫn thản nhiên nói:
- Nếu ông cho biết rằng đó là vật sở hữu của ông thì chúng
tôi không săn đuổi. Còn ở trong núi rừng này, ai cũng có quyền săn bắn, và
chúng tôi đã có phép để làm điều đó.
- Nếu ông có phép thì ông cứ việc tùy tiện. Còn tôi, tôi chẳng
cần đến một phép tắc nào.
Rồi tôi dắt tay Thanh Lâm định quay trở về. Nhưng vừa lúc ấy
tôi nghe một trong hai gã ngoại quốc quay sang người Việt hỏi bằng tiếng Pháp bằng
một giọng điệu không lấy gì làm rành rẽ:
- Thế nào? Con vật đó thuộc về anh ta à?
Người Việt đáp lại:
- Chắc của nó nuôi.
- Hỏi mua lại xem nó có bằng lòng hay không?
- Vâng.
Anh ta quay lại phía tôi:
- Mấy người này muốn mua lại con vật của anh, anh nghĩ thế
nào?
Tôi đáp gọn lỏn:
- Không bán.
Gã lại quay sang thông dịch cho mấy người kia. Bọn họ hẳn
không phải là người Pháp, vì nói tiếng Pháp chẳng mấy thành thạo. Tôi cũng có
biết chút ít về ngôn ngữ này, muốn nói trực tiếp với họ, nhưng suy nghĩ lại tôi
thấy làm thinh có lẽ tốt hơn.
Mấy người ngoại quốc thấy tôi bước đi, vội ngoắc tôi lại. Người
Việt bảo tôi:
- Mấy ông này là những nhà bác học nhằm vào mục đích thám hiểm
hơn là săn bắn. Họ thấy con người rừng đó và họ rất thích. Dù phải mua bằng giá
đắt họ cũng bằng lòng. Ý ông thế nào?
Tôi đáp:
- Giá nào tôi cũng không bán.
- Ông muốn đánh đổi một thứ gì không?
- Tôi không có quyền.
- Thế nó chả thuộc về ông là gì?
- Người này thuộc ve tôi sao? Không, ông lầm. Chúng tôi chỉ
là bạn thôi. Không ai có quyền đem bán bạn hữu của mình hoặc đem bạn mình đổi
chác.
Người Việt kia bỗng mỉm cười:
- Thế thì càng tốt. Chúng tôi cứ ngỡ nó thuộc về ông nên phải
thương lượng. Bây giờ mới rõ không phải như vậy. Chúng tôi sẽ bắt lấy nó.
Tôi bỗng cảm thấy cơn giận sôi lên:
- Ông không có quyền. Đó là bạn tôi!
- Ông đùa. Bạn thế nào được với một con vật.
Tôi biết phân trần với gã không lợi ích gì, bèn nói:
- Tôi cấm các ông động đến người này.
Gã kia khinh khỉnh đáp lại:
- Nếu ông liệu thấy có thể cấm được thì cứ tùy tiện.
Rồi quay sang mấy người kia, gã bảo:
- Nó không chịu bán, nhưng ta có quyền bắt con vật đó.
Một người ngoại quốc mang râu quai nón có vẻ lớn tuổi hơn cả,
bảo gã:
- Chắc là nó muốn giá cao. Được rồi, ta bằng lòng trả giá đó.
- Nó không muốn bán. Thương lượng vô ích. Hãy dùng sức mạnh bắt
buộc nó phải nghe theo!
- Bọn ta đông hơn nhưng nó có thể liều lĩnh. Nó phải là tay
thợ săn có hạng mới dám một mình sống giữa vùng này.
Người ngoại quốc trẻ tuổi hơn, góp lời:
- Võ lực là biện pháp cuối. Nên khéo léo hơn, kẻo nó có thể
giết con quái vật để khỏi lọt vào tay ta cũng chưa biết chừng.
Người Việt kia hỏi:
- Vậy làm thế nào?
Người râu quai nón đáp lại:
- Tìm cách thân thiện với nó xem sao. Chắc nó phải ở gần đây,
và chúng ta cũng cần chỗ nghỉ ngơi. Sau đó sẽ tính cũng chẳng muộn gì.
Người Việt dọn một bộ mặt tươi cười quay sang bảo tôi:
- Mấy nhà thám hiểm này bảo tôi nói với anh rằng họ chỉ hiếu
kỳ thôi, họ thấy con người rừng đó và muốn tìm hiểu. Nếu điều đó làm cho anh
khó chịu, thì họ xin lỗi. Họ rất muốn được làm quen với anh, nghĩ rằng anh hiểu
biết nhiều về núi rừng này. Anh sẽ làm họ vui lòng hết sức, nếu cho họ về lều
trại của anh để được nghỉ ngơi. Và anh cần súng hay đạn hoặc thuốc men gì, họ sẽ
biếu anh.
Gã dùng những lời ngon ngọt để lừa gạt tôi. Rất may tôi đã
không lộ cho chúng biết mình có hiểu tiếng Pháp nên nhờ như vậy tôi biết được ý
định chúng. Dù vậy tôi cũng không thể từ chối lời yêu cầu ấy: làm sao chống chọi
một lúc được ba kẻ thù? Tôi sẽ liệu cách đối phó về sau, nên đã thản nhiên trả
lời.
- Tôi không có lều trại gì, chỉ ở trong một hang đá gần sông.
Nếu các ông muốn, xin mời theo tôi.
Bọn họ thảy đều vui vẻ gật đầu. Tôi dắt cô bạn Xà Niêng đi
trước dẫn đường. Đôi lúc tôi cũng thoáng nghĩ họ sẽ bắn lén sau lưng để cướp
Thanh Lâm, nhưng tôi trấn tĩnh được mình. Hẳn chúng chưa ra tay sớm, còn đợi dò
xem lối sống của tôi, để hòng mua chuộc và khai thác tôi nhiều việc.
Trong lúc đi đường tôi nghe gã lớn tuổi hơn hỏi người thông dịch:
- Tên dẫn đường cho chúng ta là thổ dân hay người Việt?
- Nó là thổ dân.
- Thuộc bộ lạc nào?
- Chắc nó là sự pha trọn gữa người Ra Đê và người Mơ Nông.
Tôi cố nín cười về sự bịa đặt của gã. Người ngoại quốc thường
tìm hiểu xứ sở chúng ta qua một tầng lớp thông dịch biết nhiều ngoại ngữ hơn là
văn hóa. Lớp thông dịch nông cạn ấy được đào tạo để phục vụ cho ngoại bang chứ
không phải cho dân tộc, và họ đã gây biết bao ngộ nhận về xứ sở mình đối với
người ngoài. Gã không muốn nhận tôi là người Việt, cũng thật dễ hiểu. Tôi sống
một mình giữa núi rừng này, ăn mặc như người thời cổ với mớ tóc tai rối bù
trông thật man rợ. Hơn nữa việc tôi nhận một người rừng là bạn đủ làm cho gã xấu
hổ. Toi còn lắng nghe họ nói nhiều điều buồn cười về các phong tục núi rừng, và
tôi nhận thấy không dốt nát nào lố bịch hơn sự dốt nát đội lốt thông thái. Tôi
cũng biết dược dự tính của họ là sẽ tìm đủ mọi cách để mua hay bắt Thanh Lâm
như một chiến tích quan trọng của chuyến đi này. Quay lại phía người thông dịch,
gã ngoại quốc lớn tuổi bảo:
- Ông nên cố gắng, tôi sẽ tưởng thưởng cho ông xứng đáng. Giống
người rừng này tìm được là cả một khám phá lớn làm cho các nhà nhân chủng ở
trên thế giới kinh ngạc. Đó sẽ là chiến thắng của chúng tôi.
Họ chỉ nghĩ đến chiến thắng của họ nhưng quên rằng kẻ quyết định
là tôi. Họ muốn có được vinh quang dễ dàng bang cách mua chuộc hay là cưỡng đoạt,
và coi như sự hiện diện của người Việt Nam trên đất nước này không có chút quyền
lực nào. Đó là quan niệm thực dân ở trong đầu óc những kẻ tự nhận bác học, và
tôi nghĩ mình nên co thái độ thích đáng để trả lời họ.
Gần đến chỗ ở tôi bỗng sực nhớ sách vở tôi để bừa bãi trong
hang, điều đó sẽ làm lộ hình tích tôi dưới mắt bọn họ. Tôi bèn dẫn họ đi quanh
quẩn một hồi lâu, rồi đưa ra phía bờ sông và bảo:
- Các ông ở đây chờ chúng tôi dọn chỗ ở, vì hang đá dơ bẩn lắm.
Bọn họ đã đi nhiều rồi và bờ sông thật rợp mát nên thích ngồi
đợi nơi các ghềnh đá ven bờ, vục nước rửa mặt, cho ngựa uống nước. Tôi cùng
Thanh Lâm đi thật mau về hang đá, gom lại tất cả những gì là dấu vết của cuộc sống
văn minh: sách vở, đạn dược, thuốc men, một vài thức ăn thức uống, tất cả đều
được dấu kỹ vào trong khe sâu.
Rồi tôi quan sát lần cuối chỗ hang động ấy. Không còn chút gì
chứng tỏ ở đây đã có ít nhiều sinh hoạt tinh thần, đã có bóng dáng văn minh. Chỉ
còn sót lại mỗi khẩu súng trên vai tôi, nhưng khẩu súng không chứng tỏ được giá
trị gì của người. Bây giờ tôi cũng thoáng nghĩ là nên tránh họ và tìm cách ẩn
vào một nơi khác. Nhưng tôi tự tin ở sự sáng suốt của mình và cũng tò mò muốn
biết bọn họ sẽ giở trò gì. Hơn nữa, dối gạt kẻ khác khi chưa có đủ bằng chứng
cu thể để xem họ như kẻ thù là một hành động mà tôi nhận thấy không xứng với
mình. Tôi sống ở rừng và cần phải giữ thể diện cho người rừng rú. Đã thế quá
quen với những bất trắc tôi hóa coi thường bất trắc. Những loài thú dữ bủa
giăng trên các lối đi tôi không ngán sợ, kể gì ba tên ngớ ngẩn, khi tôi đã biết
rõ được ý định của chúng. Vả lại tôi không muốn đưa Thanh Lâm quay về xứ sở Xà
Niêng, và cần quanh quẩn nơi này để đón ong Chúp.
Khi tôi quay lại, bọn họ có ý sốt ruột đợi chờ. Đến lúc vào
hang, nhìn thấy chung quanh sạch sẽ, họ có vẻ vui, hẳn nghĩ tôi đã đối xử quá tốt
và tôi chính hiệu là một thổ dân hiếu khách. Gã người Việt kia rảo quanh quan
sát nhưng chắc anh ta chẳng thấy gì hơn ngoài lớp đá núi cây rừng. Về phần
Thanh Lâm, sự e dè với những kẻ lạ mặt thật là rõ rệt. Nàng chạy vào ngồi trong
góc hang sâu, và tôi cũng muốn nàng ngồi như thế cho được an toàn.
Sau khi đã nghỉ ngơi rồi, bọn người ấy mang các thức ăn ra mời
tôi, nhưng tôi từ chối. Gã ngoại quốc cầm một khúc bánh lớn đưa cho Thanh Lâm,
vẻ mặt của nàng cau lại một cách kỳ quái tương tự như những ngay đầu tiếp xúc với
tôi. Nàng cũng lộ vẻ sợ hãi và cứ thụt lùi vào trong, nép vào vách đá. Tôi bảo
gã ấy:
- Đừng có làm thế, nguy hiểm cho chúng ta đấy.
Gã quay lại phía người Việt, để nhờ thông ngôn cho gã câu ấy.
Thái độ của gã có vẻ không cho lời tôi là đáng lưu tâm. Khi gã tiến vào định
đưa bàn tay vuốt tóc Thanh Lâm thì nhanh như cắt cô bạn rừng núi của tôi đã
quay người lại cào giữa mặt gã một cách quyết liệt, khiến gã rú lên và nhảy lùi
lại. Tôi nói:
- Đã bảo rồi mà.
Gã ôm lấy mặt vừa lầm bầm chửi. Hai người kia vội chạy lại,
dìu gã ngồi xuống tảng đá, lo chăm sóc vết sướt khá dài trên má trái. Sau phản ứng
đó Thanh Lâm có vẻ lo lắng, cô ngước nhìn tôi với một nét mặt dò hỏi. Tôi nhìn
cô ta, mỉm cười, như muốn ngầm bảo là tôi tán thành những cách xử sự như thế đối
với bọn người lỗ mãng. Từ đó, thái độ của ba người kia đối vơi Thanh Lâm có phần
kiêng dè, nhưng vết thương của gã kia mang trên mặt có thể khiến gã sẽ quyết
tâm hơn trong sự đoạt lấy Thanh Lâm. Gã không ngừng tìm mọi cách gây lại thân
thiện với nàng, nào là cầm khúc bánh thịt đem đến tận nơi, đặt trên bệ đá, ra dấu
cho Thanh Lâm đến, nào rót những cốc nước pha trái cây mời mọc. Gã cũng mỉm cười,
vẫy tay, nói trong họng gã những tiếng líu lo dịu ngọt như lời dụ dỗ ân cần.
Nhưng trước những biểu lộ ấy cô bạn rừng núi của tôi chỉ biết khiếp sợ, không
có chút gì gọi là cảm động hoặc chú ý đến. Gã ngoại quốc kia hỏi tôi qua lời
thông dịch:
- Anh làm thế nào mà người rừng kia chịu sống với anh một
cách hòa hợp như thế?
Tôi đap:
- Không làm một cách nào cả.
- Chả nhẽ gặp nó, anh gọi nó về được sao? Phải có một trường
hợp nào giúp anh thân thiện được với nó chứ?
- Cô ta bị cọp vồ ngã mang nhiều thương tích, tôi đưa về đây
săn sóc và cô ta muốn ở lại.
- À, thế chứ. Phải có trường hợp thuận lợi gây nên quyến luyến,
bởi nó cũng biết trung thành như loài gia súc.
- Tôi cho rằng đó là cách nhớ ơn của một con người.
Gã cười:
- Cái đó là tùy ở cách nhận định. Nhưng cần đánh giá đúng với
điều kiện của nó.
- Ông đâu hiểu hết điều kiện của con người ấy!
- Còn ông? Ông có hiểu hết hay không?
Tôi nghĩ câu đó là một cạm bẫy. Y muốn gài cho tôi nói rõ về
sự thực của giống loại này mà y cho rằng tôi chắc biết nhiều, để làm cái vốn kiến
thức cho y và giúp y mở những chuyến lùng lội sâu hơn trong cõi rừng già. Tôi
không có ý định che dấu những hiểu biết hãy còn sơ khai về người Xà Niêng ma
tôi có dịp tiếp xúc chập chờn trong bấy lâu nay, trừ cái kho tàng Mả Voi mất
bao năm dài lặn lội nơi chốn rừng sâu núi thẳm mới tìm ra được, nhưng thái độ của
bọn này cùng những toan tính của chúng khiến tôi ác cảm va tôi không muốn tiết
lộ gì hết. Vì vậy, tôi lắc đầu đáp:
- Tôi chẳng hiểu gì về giống người này.
- Thế ông tìm gặp nó ở đâu vậy?
- Ở ngay trong khu rừng này.
- Hẳn là ông gặp chúng ở từng bầy?
- Không, tôi chỉ gặp mỗi một con người đó.
- Lạ thật, thế thì nó không thể ở nơi đây mà phải từ một nơi
nào chạy lạc đến thôi. Ông có nghe nói về giống loại này từ trước hay chưa?
- Chưa. Tôi chưa nghe ai nói đến bao giờ.
- Ông đã từng đi thật sâu vào núi rừng này hay chưa?
- Tôi chỉ một mình, không dám đi sâu.
- Thế ông chỉ sống bằng nghề săn bắn?
- Chính thế. Tôi chỉ sống bằng mỗi một nghề ấy.
Gã gục gặc đầu, không phải là để xác định những điều tôi noi
nhưng để lộ rõ một nỗi hoài nghi. Đúng ra với chút suy luận gã sẽ nhận biết dễ
dàng tôi không nói thực, và còn có một bí mật nào đó ẩn chứa sau những lời lẽ
đơn giản của mình. Tôi săn gì đây, lang thang trong núi rưng này, với một người
rừng bên cạnh? Nhưng gã không để lộ những ý nghĩ thầm kín của mình, vì còn mưu
toan một việc gì đó. Lát sau, bọn họ trao đổi lầm rầm với nhau khi tôi bận lo
gom củi nhúm bếp, rồi gã người Việt hỏi tôi:
- Này anh, có bao giờ anh nghe nói đến Mả Voi không?
Tôi bỗng giật mình, nhưng chỉ lắc đầu. Gã tiếp:
- Có một bọn người tìm được nơi ấy, và hình như họ cũng đi ngả
này. Anh không hề gặp họ sao?
Tôi làm ra vẻ ngơ ngác:
- Chẳng gặp ai cả.
- Thật à?
- Ông xem, nếu tôi biết họ ít nhất tôi cũng phải có những ngà
voi chứ.
Gã nhìn quanh tôi, ra vẻ suy nghĩ:
- Thế sao anh lại ở trong rừng này một mình?
Tôi tìm một lời nói dối:
- Chẳng giấu gì anh... tôi lỡ phạm tội giết người. Quả đó là
điều mà tôi không muốn, nhưng làm sao được? Pháp luật không chịu tin tôi, và
tôi phải lánh xa hẳn loài người.
- Anh có thể dẫn chúng tôi đi vào sâu hơn rừng già kia không?
- Toi chẳng dám đâu. Tôi đến bờ con sông này là yên thân rồi,
không muốn đi thêm hơn nữa.
Gã im lặng một lát, rôi hỏi:
- Nếu tôi thuê một giá cao?
- Ở đây, tiền thật vô nghĩa.
Nghe giọng tôi nói dứt khoát, gã cũng im lặng.
Buổi tối hôm đó, chúng tôi quây quần bên lửa và tôi phải đốt
riêng cho Thanh Lâm một bếp lửa khác ở mãi trong xa. Vẻ mặt của nàng rầu rĩ như
thấy những kẻ lạ mặt đã giữ lấy tôi không cho gần nàng như là mọi ngày. Trong
lúc chờ đợi giờ ngủ, gã ngoại quốc lớn tuổi nhờ người thông dịch hỏi tôi:
- Ông định làm gì về người rừng đó?
- Tôi không định làm gì cả. Tôi không có quyền.
- Thật là lạ lùng khi chúng tôi nghe ông cứ nói mãi về quyền
nào đó. Chúng tôi không hiểu đó là quyền gì. Rõ ràng là ông có quyền, nếu muốn
nói đến cái danh từ ấy. Ông là thợ săn, ông bắt được mồi, tất nhiên ông sử dụng
nó theo như ý muốn.
- Nhưng tôi đâu có săn được người này?
- Ông không săn được, nhưng bắt gặp được, cũng thế mà thôi.
Tôi không muốn nói thêm lời nào nữa, nhưng tôi thấy im lặng
thế cũng chẳng giải quyết được gì, tôi bèn bảo gã:
- Giữa ông và tôi có một cach nhìn khác biệt, và khác biệt đó
làm cho chúng ta nói mãi cũng thành vô ích.
- Khác biệt thế nào?
- Tôi nhìn cô bạn của tôi như một con người, ông lại chỉ thấy
như một con vật.
Gã không trả lời, giây lâu mới nói:
- Ong không có vẻ là người rừng núi. Trình độ một người không
thể xét đoán ở nơi quần áo, mà ở ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ông là ở thành phố,
trong những thư viện. Ông muốn nói đến giá trị con người và xét mọi việc thuần
bằng tình cảm. Nhưng tôi mong ông nên thực tế hơn.
- Với tôi, không còn thực tế nào khác những điều tôi đã trình
bày.
- Thế ông nhất quyết không nhường con người rừng ấy cho bọn
chúng tôi, bất cứ gia nào?
- Tôi xin lặp lại lần cuối: tôi không có quyền làm thế.
Gã lại lầm bầm hồi lâu rồi mới dãi bày:
- Ông làm cho tôi không sao hiểu được, này ông thợ săn. Chúng
tôi có một ngân quỹ rất lớn cho việc tìm kiếm, và tôi sẽ không ngần ngại trả
ông một giá khá cao để mua con người rừng này. Dù ông cứ bảo nó không thuộc hẳn
về ông, tôi cũng không thể bắt nó mà mang đi được, vì ông là người đã tìm thấy
nó, đã săn sóc nó. Chúng tôi tôn trọng cái quyền sỡ hữu. Với món tiền chúng tôi
tặng, ông có thể rời núi rừng, sống xa hoa ở thị thành và mua chuộc được pháp
luật. Hoặc ông có thể đi tới nơi nào ông muốn. Và xin nói đùa một tí, ông sẽ có
cả hàng trăm cô bạn xinh đẹp hơn là con người rừng này.
Gã đã xét đoán mọi việc theo cách nhìn thật đơn giản xoay
quanh thế lực đồng tiền, điều đó làm tôi khó chịu. Nhưng tôi đã học được sự
bình tĩnh của núi rừng này. Sự im lặng của núi rừng thật cao cả, nhiều khi chứa
đầy đe dọa hãi hùng. Thấy tôi im lặng, gã tiếp:
- Nếu ông muốn hợp tác với chúng tôi để đi sâu vào rừng già,
thật là lợi ích cho cả đôi bên. Tôi tin là ông se giúp chúng tôi được nhiều, và
bù đền lại, tôi sẽ dành riêng cho ông một khoản thù lao xứng đáng.
- Tôi đã từ chối ban nãy với người thông dịch này rồi.
Và tôi nhìn gã, cố gắng mỉm cười, lắc đầu. Tôi không hợp tác
với những kẻ chỉ nghĩ đến trục lợi bằng mọi giá, tôi cũng không đem bán những
bí mật của chốn núi rừng quê hương cho kẻ ngoại bang. Trong giây phút đó tôi bỗng
cảm thấy lặn lội trong rừng sâu này là niềm kiêu hãnh, dù đó là niềm kiêu hãnh
lạc loài. Ít nhất tôi cũng tìm biết kho tàng thiên nhiên của đất nước mình có
được những gì, và tôi đang bảo vệ nó chống lại mọi sự khai thác đến từ bên
ngoài.
Cả ba người kia trao đổi với nhau lầm thầm rồi họ mang đồ đến
nằm bên lửa, chuẩn bị giấc ngủ. Phần tôi, những nỗi lo lắng khiến tôi không sao
yên lòng. Bọn chúng có thể giết tôi, đêm nay, để mà đoạt lấy Thanh Lâm. Tôi bèn
vào tận trong cùng, cạnh ben đống lửa phía trong để nằm. Muốn vào đến được chỗ
tôi họ phải qua chỗ Thanh lâm và tôi tin rằng bạn tôi có đủ tỉnh táo để biết âm
mưu của họ. Tỉnh táo, sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc, đó là bản chất của
nàng và tôi tin tưởng ở nàng như tin tưởng một vị thần hộ mạng.
Nhưng đêm đó tôi đã ngủ yên lành, dù thỉnh thoảng phải thức
giấc đưa mắt dò xét chung quanh. Ba người kia ngủ say vùi, ngáy giòn như tiếng
cưa gỗ. Thanh Lâm nằm yên nhưng tôi biết nàng không ngủ. Chỉ cần một tiếng động
nhỏ khả nghi cũng đủ làm nàng choàng dậy, nhanh hơn con sóc
° ° °
Qua sáng hôm sau, khi tôi mở mắt Thanh Lâm đã ngồi yên trên nệm
lá của nàng. Ba người kia cũng dậy rồi và đang đun nước. Người Việt trong bọn bảo
tôi:
- Hôm nay chúng tôi lên đường. Xin cám ơn ông đã cho chúng
tôi nghỉ lại một đêm. Nào mời ông dùng với anh em tôi một tách cà phê và xơi với
chúng tôi một miếng bánh.
Thôi, họ ra đi là tôi yên lòng. Sống với đồng bào đồng loại
như bọn người này sao tôi cảm thấy khổ sở hơn sống với những thú dữ giữa chốn
núi rừng. Đã bao năm nay, lặn lội xông pha tôi có bao giờ thắc thỏm một cach
khó chịu như thế này đâu? Vì thế tôi cùng ngồi lại ăn uống với họ, mong phút
chia tay cho được sớm sủa nhẹ nhàng. Gã ngoại quốc rót một ly cà phê mời tôi, rồi
hỏi:
- Người bạn rừng ông có uống thứ này được chăng?
- Tôi chưa bao giờ mời cô ta uống như thế. Ở đây chỉ có nước
lá rừng thôi.
- Nào mời thử xem.
Nói xong, gã cầm một lon thiếc lớn đổ đầy cà phê đem đến chỗ
Thanh Lâm ngồi. Nhưng gã vừa đưa tới trước mặt nàng, Thanh Lâm đã đổi sắc mặt
thành ra dữ tợn khác thường như đánh hơi được ý gì ám hại. Nàng đứng chồm lên,
hai tay thu lại như chực cào cấu, tư thế của kẻ sẵn sằng tấn công. Gã ngoại quốc
phải lùi lại:
- Đúng là cô ta không thích loại nước uống này.
Rồi gã trở về chỗ ngồi, lấy một khúc thịt đưa sang cho tôi:
- Ông mời hộ tôi coi nào.
Tôi đem thịt đến cho nàng, và bảo:
- Ăn đi.
Thanh Lâm nhìn tôi rồi nàng yên lặng cắn vào khúc thịt một
cách chậm rãi như nàng đã phải vì tôi mà ăn vật thực của những kẻ lạ. Khi nàng
ăn xong, gã ngoại quốc vội tìm ống lồ ô nước suối đem đến cho tôi:
- Mời cô ta uống đi nào. Tôi phải nhìn thay mọi người ăn uống
vui vẻ rồi mới yên tâm ra đi.
Gã cười một cách thân thiện.
Thanh Lâm cầm ống lồ ô với một dáng điệu nghi hoặc. Nàng đưa
lên mũi hít ngửi với vẻ khó chịu. Tôi chỉ nhận ra điều ấy rõ rệt, mãi về sau
này, nhưng lúc đó tôi nghĩ nàng thành kiến với bọn người kia nên đã tỏ vẻ dè dặt.
Tôi giục giã nàng:
- Uống đi!
Nàng lại ngước lên nhìn tôi, có vẻ khó hiểu, rồi khẽ lắc đầu.
Tôi tiếp:
- Uống đi, Thanh Lâm. Hãy nghe lời tôi.
Tôi lộ ra vẻ sốt ruột, vì tôi cũng muốn cái trò ăn uống tiễn
đưa gượng ép kết thúc nhanh chóng để khỏi còn nhìn thấy lũ người này. Tôi lại
giục nàng:
- Cứ uống đi nào, Thanh Lâm.
Và nàng ngước lên nhìn tôi, cầm ống nước uống. Tôi nhớ cái
nhìn của nàng, cái nhìn của người rừng rú, nhưng mà dịu dàng, chịu đựng làm
sao. Cái nhìn như muốn nhắn bảo: "Tôi đã vì anh mà uống thế này. Rõ ràng
là tôi đã không muốn uống, tôi không thể uống".
Lúc nàng uống xong, trao ống lồ ô lại tôi thì tôi thấy cảm thấy
chóng mặt. Tay tôi cầm lấy chiếc ống, mà tưởng như làm việc gì ở trong qua khứ
xa vời. Mắt tôi mờ đi, ríu lại, và tôi cảm thấy buồn ngủ như muốn rũ liệt. Tôi
đi loạng choạng lại chỗ đống lá trải nằm nhưng bước không còn nổi nữa. Tôi khụy
hẳn xuống, tai nghe mơ hồ tiếng cười tiếng nói của bọn người kia lảng vảng đâu
đây. Tôi cố rướn mắt, mở nhìn, qua cặp mí đè nặng xuống như có bàn tay vô hình
chặn lấy, và tôi thoáng thấy Thanh Lâm đứng chồm lên sát cạnh tôi, tay cầm một
khúc gỗ lớn hướng về trước mặt. Tôi nhắm mắt lại, hiểu rằng nàng đang chiến đấu
để bảo vệ tôi. Nhưng nàng liệu có thoát khỏi chất thuốc mê này ngấm vào da thịt
hay không? Tôi chìm hẳn trong mê mệt. Một lúc nào đó, mở mắt một cách khó nhọc,
tôi thấy Thanh Lâm đang vung gậy lên kháng cự mot cách quyết liệt với đám người
kia. Tôi nghe vẳng trong giấc ngủ những tiếng súng nổ và tôi thiếp đi không biết
gì nữa.
° ° °
Khi tôi tỉnh dậy, chung quanh tối đen dày đặc. Hơi gió từ
ngoài tủa vào bên trong buốt lạnh. Tôi ngồi vội lên, đầu còn choáng váng, nặng
nề. Tôi đã ngủ suốt ngày nay, hay ngủ liền mấy hôm rồi?
Có gì xảy ra trong thời khoảng ấy? Thanh Lâm đã còn hay mất?
Tôi nhớ quang cảnh nàng cầm khúc củi trên tay chiến đấu một cách gan dạ và tôi
vội tìm bật lửa nhen gấp một đóng lửa hồng. Ánh sáng soi tỏ dần dần hang đá và
một cảnh tượng bừa bãi, ngổn ngang bày ra chung quanh. Lá khô rơi đầy, củi gỗ
nghiêng ngửa, các đồ vật dụng rải rác, lổng chổng. Tôi tìm khẩu súng nhưng bị lấy
mất. Bọn khốn nạn đó đã tước khí giới của tôi mà không cần giết chết tôi, đây
cũng là cách giết hại thâm độc hơn nhiều. Biết đâu chúng cũng đã tính sát hại
tôi rồi nhưng vì một cản trở nào, có thể là của Thanh Lâm, nên không làm gì tôi
được.
Nhưng sự tàn ác của chúng không vượt khỏi sự khôn ngoan của
tôi. Thật không có kẻ săn bắn nào lội giữa chốn rừng già mênh mông mà chỉ mang ở
trên mình mỗi một khẩu súng. Tôi đã sống giữa bao kẻ phản trác của xã hội này
và đã sống giữa một vùng thiên nhiên đầy những cạm bẫy, nên tôi luôn luôn biết
cách phòng xa. Một số đạn dược và một khẩu súng phòng bị cùng với thuốc men,
lương khô, vẫn được tôi đem cất giấu trong một hang hốc kín đáo gần nơi mình ở.
Ngay cả ông Chúp là người thân tín duy nhất của tôi, là người mà tôi hết lòng
tin cậy vì cái bản chất trung thành và tính tình đôn hậu, tôi vẫn không hề cho
biết chỗ chôn cất ấy. Cuộc sống dạy cho tôi hiểu là nên tin cậy con người,
nhưng vẫn phải biết đề phòng con người. Đối với những kẻ thật là gần gũi, nhiều
khi chúng ta khó nhìn thấy những biến đổi bất ngờ có thể xảy ra vào lúc mà các
điều kiện bình thường đã bị đảo lộn. Hoàn cảnh dễ làm thay đổi con người, khi bản
chất của con người chưa được củng cố bằng một ý thức sâu xa đối với lẽ phải và
chưa có một nghị lực bền vững để mà hộ trì cho ý thức đó.
Lửa càng sáng tỏ thì nỗi cô độc của tôi lại càng tăng lên. Đã
quen sống với Thanh Lâm và đã tìm thấy nơi người bạn rừng một sự cảm thông âm thầm,
một sự nương tựa vững chãi, bây giờ tôi bỗng bơ vơ trong nỗi xót xa. Chắc là
Thanh Lâm đã bị bắt đi, nàng có bị họ đánh đập, bị gây thương tích nào không?
Thật là tội nghiệp cho nàng khi phải tiếp xúc với một bọn người tự nhận thong
thái và tự hào là văn minh theo kiểu loại đó.
Tôi không thể làm gì được trong cõi đêm dày đang bủa vây
quanh. Đêm tối mênh mông, đậm đặc đang ôm ghì lấy núi rừng và đang siết chặt lấy
tôi. Tôi ngả người trên nệm la, không thiết đến sự ăn uống, nghĩ ngợi về một
ngày mai hãy còn mịt mờ.
Tôi bỗng thấy rõ nanh vuốt cuộc đời đã không bằng lòng dừng lại
ở nơi ngưỡng cửa rừng sâu. Tôi đã rời bỏ cái xã hội ấy, trốn vào nơi thẳm xa
này, chỉ sống với mỗi một người bạn già chất phác, làm bạn với mỗi một con người
rừng, thế mà xã hội đầy lòng tham lam và ác tính ấy đâu có chịu để tôi yên? Trốn
chạy vẫn không thoát được. Bàn tay lông lá của nó quá dài và nanh vuốt nó đã
bao trùm khắp. Chỉ còn có mỗi một cách là phải đương đầu với nó mà thôi. Người
ta chỉ chiến thắng đựơc bằng cách đương đầu, không thể nào thắng lợi được bằng
cách trốn chạy.
Tôi đã thao thức suốt đêm, trằn trọc, căm hận trên cái nệm lá
quá tả tơi rồi. Lửa đỏ không sưởi ấm được hồn tôi, bởi ở trong đó là cả một khoảng
mênh mông lạnh giá kết thành khối lớn như một băng sơn rọi sáng bao nhiêu hình ảnh
ma quái của cuộc đời này. Tôi đã ngồi lên khi tiếng chim rừng đầu tiên báo hiệu
canh tàn. Lần mò lấy nước ngoài sông trong bóng cây rừng loạng choạng, tôi nấu
một nồi cơm sáng. Bữa cơm đã được thanh toán trong nỗi buồn ba nghẹn ngào.
Khi trời rựng sáng lờ mờ ở chân mây xa, tôi đảo nhìn một lần
nữa chỗ hang hốc này, đứng một giây lâu trước chỗ Thanh Lâm nằm ngồi hằng bữa,
rồi tôi ra chỗ cất giấu, lấy súng và đạn cùng ít lương khô băng rừng mà đi.
Tôi đi về đâu, tôi cũng không rõ cụ thể hành trình sắp tới của
mình. Tôi phải ra khỏi nơi hang hốc này, ra khỏi rừng này mới quyết định được
hướng mình sẽ tiến. Giả thử có ông già Chúp bên mình thì tôi đỡ khổ bao nhiêu.
Tôi sẽ không bị lũ người kia đánh thuốc mê dễ dàng như thế, và chắc chắn là
Thanh Lâm cũng không bị họ bắt đi. Tôi biết ông Chúp không bao giờ chịu uống của
người lạ bất cứ một ngụm nước nào, hay ăn của người lạ mặt bất cứ một miếng cơm
nào. Con người già cả lặn lội gần suốt cuộc đời giữa núi rừng này có một bản
tính đa nghi quái gở, hầu như ông nhìn ở đâu cũng thấy bất trắc, cạm bẫy, và
ông giữ mình theo một ky luật vững chắc lạ lùng. Điều đáng quý ở nơi ông là
không vì thế mà sự hiền lành, chất phác lại bị giảm mất, trái lại chính sự đề
phòng thường trực chừng như lại làm cho ông càng biết điều hơn.
Tôi đợi mặt trời soi tỏ dấu ngựa của bọn người kia rồi men
theo dấu vết đó lặn lội xuống một thung lũng đổ ra một ngõ sông hẹp. Bọn người
kia đã qua sông. Căn cứ vào điều quan sát tôi biết họ đã đi trước tôi độ một
ngày, và hẳn họ đã vượt qua nơi đây vào chiều hôm qua. Tôi vội cởi đồ, lội qua
dòng sông lạnh buốt, rồi vừa lên bờ tôi theo dấu họ đi thật gấp rút. Tôi bắt gặp
dấu lửa bếp, chỗ họ nghỉ chân, cách bờ không xa. Đã ba giờ chiều. Như vậy, sáng
nay họ đã rời khỏi nơi đây, và tôi tự hỏi tại sao đã có sức ngựa mà họ tiến bước
quá chậm như thế? Chắc họ không thạo đường đi, hay vì Thanh Lâm là một sức cản
nặng nề với họ? Tôi cố đi thêm, hy vọng một lúc nao đó sẽ đuổi theo kịp, biết
con đường về phố chợ gần nhất với núi rừng này cũng phải ít nhất mười ngày.
Tôi đi cho đến tối mịt mới chịu dừng lại. Không còn thì giờ để
tìm củi khô và một hang hốc trú ẩn, tôi leo lên mot cây cao mắc võng nằm đỡ qua
một đêm dài. Về khuya, trời thật giá lạnh và sương rơi nhiều. Tôi nằm lơ mơ
nghe loài thú dữ rảo quanh, tiếng suối rì rầm bất tận và nghe đất trời như đang
rên rỉ trong nỗi đau thương khôn cùng.
Tôi lại dậy sớm, lo phần cơm nước đủ ăn cả ngày hôm ấy để khỏi
mất công dừng lại dọc đường. Nhờ họ đi toàn bằng ngựa với những vật dụng cồng kềnh
nên dấu lưu lại trên đường thật rõ và tôi chẳng mất công nhiều để mà tìm theo.
Đến trưa hôm ấy, tôi gặp dấu họ nghỉ chân đêm qua. Như thế, họ
mới rời khỏi nơi đây vào lúc sáng nay, và họ chỉ vượt hơn tôi độ nửa buổi đường.
Chậm lắm là qua ngày mai tôi sẽ đuổi theo kịp họ. Cố gắng đi mau tôi có thể thấy
được họ vào khoảng trưa mai, ở một chặng rừng nào đó. Nhưng tôi hiểu rằng chỉ mỗi
một mình tôi sẽ gặp nhiều khó khăn nếu phải đụng độ vào lúc ban ngày. Tốt hơn,
tôi sẽ tìm họ vào lúc đêm tối.
Tôi không đi quá vội vàng như ngày hôm qua và tối hôm ấy tôi
dừng lại bên suối nước hơi sớm, đốt một đống lửa sưởi ấm và nướng mấy con thỏ rừng
săn được ban chiều. Ngày mai, tôi tránh nổ súng vì ngại biết đâu bọn ho vẫn còn
chểnh mảng dọc đường, sẽ nghe thấy được và kịp đề phòng. Tôi phải ăn no, ngủ kỹ
đêm nay, chuẩn bị lương thực cho cả ngày mai mà tôi đoán phải dùng sức khá nhiều.
Sáng dậy, tôi lo cơm nước xong xuôi, gói ghém đo đạc gọn
gàng, soát lại súng đạn và tôi lên đường. Bao giờ tôi cũng thu dọn dấu vết những
nơi ngừng nghỉ của tôi rất là chu đáo, trước khi ra đi. Tôi quen với sự phòng
ngừa như thế và khó ai biết rõ được chạng đường tôi đã đi qua.
Tôi đinh ninh khoảng gần trưa sẽ tìm thấy được dấu họ nghỉ
chân đêm rồi. Nhưng mới đi chừng tiếng rưỡi đồng hồ tôi đã nhìn thấy dấu vết
nơi họ tạm trú. Như thế, họ chỉ còn cách xa tôi trên dưới một giờ đồng hồ đường
rừng, và nếu bọn họ dậy trễ, đi chậm, thì ở trước tôi chẳng xa. Bây giờ tôi phải
đi thật chậm lại để chờ tối đến.
Đến trưa hôm ấy, tôi đang ngồi trên một tảng đá cao che khuất
dưới một tàng lá kín đáo nhìn ngắm quanh mình bỗng thấy một làn khói dày bốc
lên ở phía dưới núi. Bọn họ đang ở trước mặt tôi đây. Ý nghĩ sẽ gặp lại họ và
được thấy lại Thanh Lâm càng làm cho tôi bồn chồn.
Cuối cùng, không dằn được lòng mình nưa, tôi thu xếp vội đồ đạc
cất giấu vào một hốc đá rồi xách súng men tìm về hướng khói. Bọn chúng hẳn đang
nghỉ trưa và phải một đôi giờ nữa mới lại lên đường. Tôi phải gắng đi thật
nhanh để bắt gặp chúng ở trong giac ngủ, hay trong lúc chúng chưa chuẩn bị gì.
Tôi bò lê sát mặt đất và luồn trong các bụi rậm khi biết mình
đã tới gần. Tôi cũng lựa chiều hướng gió thổi tới để nương mình theo. Đó là việc
làm trái ngược với sự săn rình, bởi khi săn bắn bao giờ người ta cũng phải đi
ngược chiều gió để con mồi khỏi đánh hơi được mình. Nhưng tôi có dụng ý khác.
Tôi hy vọng rằng Thanh Lâm có đấy, và với khứu giác tinh tế của nàng thế nào
nàng cũng bắt đươc trong gió sự tôi hiện diện quanh đây. Chúng tôi có thể báo
tin cho nhau qua hơi gió thổi man mác giữa núi rừng này, chúng tôi có thể dễ
dàng cảm nhận được nhau mà không cần phải nhìn thấy, mà không cần nghe tiếng
nói của nhau. Tự nhiên, trong phút giây đó tôi thấy Thanh Lâm gần gũi với tôi lạ
lùng, gần gũi như nàng là một bạn đường đã chia xẻ hết những nỗi khổ nhọc mà
chúng tôi phải gánh chịu.
Đi theo chiều gió có điểm bất lợi là những tiếng động vô ý
gây ra dễ khiến cho bọn người kia chú ý. Nhưng tôi biết chúng không phải là những
thợ săn lành nghề, và cái thái độ chủ quan của những bọn người tự nhận văn minh
sẽ không giúp chúng nghe thay gì khác, ngoài các tiếng ồn bất tận của núi rừng
này.
Khi còn cách chỗ bọn họ độ vài chục thước, hé mắt nhìn qua kẽ
lá xanh dày, tôi thấy gã ngoại quốc lớn tuổi nhất, con người đeo một bộ râu
quai nón và được kể như linh hồn bọn đó đang ngồi bên bếp lửa đỏ trên đặt chiếc
nồi nhôm lớn. Gã đang nấu nước hay thức ăn gì tẩm bổ sau giấc ngủ trưa. Bọn này
mải lo ăn uống, nên sự chuyển dịch chậm chạp và tôi đã đuổi theo kịp ngoài cái
thời gian dự liệu.
Gã thông dịch và người trẻ tuổi nằm ngủ trên hai chiếc võng
treo giữa các thân cây lớn. Ở một gốc cây gần bên Thanh Lâm đang ngồi dựa người,
hai tay cũng như hai chân bị trói chặt lại. Tôi thấy đôi mắt của nàng mở rộng
hướng về phía tôi, vẻ mặt tỉnh táo thoáng hiện một ý vui mừng. Tôi biết nàng đã
nhìn thấy tôi qua hơi gió và tôi chỉ ngại nàng để biểu lộ sự khám phá ấy cho bọn
người kia biết được thì thật nguy khốn. Nhưng chắc Thanh Lâm có đủ khôn ngoan để
không làm hỏng kế hoạch tôi đến giải cứu cho nàng.
Thoáng trong lúc ấy, tôi có một sự tính toán thật mau. Nếu
tôi nổ súng bắn ngã tên ngoại quốc kia đang ngồi thoải mái ở bên bếp lửa thì
tôi chỉ còn có hai kẻ thù để phải đối phó. Hai kẻ thù ấy choàng dậy trong lúc
tay không khí giới và không đoán biết được tôi hiện ở nơi nào sẽ làm những cái
bia tốt cho những viên đạn của tôi. Nhưng giet chết cả ba người sao? Dù chúng đối
xử với tôi một cách gian manh, nhưng sát hại chúng, lòng tôi không nỡ. Chúng đã
cướp đoạt Thanh Lâm, nhưng đã để yên mạng sống cho tôi. Có phải vì lòng nhân đạo
hay vì lý do nào khac, chúng đã để tôi nằm lại trong hang hốc đó sau khi tôi đã
ngủ vùi vì chất thuốc mê. Dù sao chúng đã xử sự theo cái lề lối văn minh mà
chúng tiếp nhận. Còn tôi, giết chúng vì tội cướp đoạt một người bạn rừng mà tôi
có thể giành lại, tôi không nỡ lòng.
Một lát, bỗng tên ngoại quốc mang râu quai nón quay về phía
hai người kia, gọi lớn:
Hê-lô!
Bọn kia choàng dậy. Tên thông dịch nói:
Chà, ngủ ngon quá đi.
Gã tuổi trẻ kia ngáp dài, lầm bầm:
Mới có hai giờ thôi mà.
Hai giờ là quá trễ rôi. Tôi đã khuyên bảo các người là ở
trong rừng chớ ngủ giấc trưa.
Nhưng phải nhận rằng giấc trưa ở rừng thật là thú vị.
Đừng lầm, chẳng thú vị đâu. Sự mê mệt ấy không thể quan niệm
như một giấc ngủ say sưa ở chốn đồng bằng. Chúng ta ăn món cháo này rồi lên đường
thôi.
Gã quay lại phía Thanh Lâm:
Cái con vật này có chịu ngủ đâu. Tôi đã cho nó một mũi thuốc
mê khá mạnh, thế mà nó chỉ chợp mắt giây lát rồi choàng dậy rồi.
Gã trẻ tuổi bảo:
Chắc là bản chất nó mạnh.
- Có thể như thế, mà có thể là loại thuốc này không hợp với tạng
chất nó. Nhớ hôm nào ta cho cái thằng khùng kia uống chỉ nửa liều trong một ca
nhỏ cà phê mà nó đã lăn ra ngủ như chết ngay liền sau đó. Con quái này uống gấp
đôi trong ống nước kia mà có hề hấn gì đâu.
Tôi nghe bọn chúng gọi tôi là một "thằng khùng" và
Thanh Lâm là "con quái" mà muốn bật cười. Dưới con mắt chúng, chỉ những
kẻ sống như chúng quan niệm mới là sáng suốt và khôn ngoan thôi. Nhưng tôi đã
hiểu vì sao Thanh Lâm chịu được các liều thuốc mê mà vẫn tỉnh táo như thường.
Thời gian chữa trị cho nàng tôi dùng loại đó quá nhiều, cơ thể của nàng đã
thành quen thuộc đến vô hiệu hóa các dược chất ấy. Đồng thời cũng nhờ sức mạnh
của nàng, và sức mạnh ấy hẳn đã giúp nàng chống chọi lại được bọn này và làm
trì hoãn hành trình của chúng không ít.
Khi bọn chúng quây lại ăn, tên râu quai nón đổ một phần cháo
vào chiếc "cà mên" mang lại chỗ Thanh Lâm ngồi. Gã đưa tay làm dấu hiệu
như mời mọc rồi cầm cái thìa múc cháo đưa vào miệng nàng. Thanh Lâm mím chặt lấy
miệng, trợn mắt nhìn gã một cách dữ tợn. Gã làm như không quan tâm đến thái độ ấy,
cứ nài ép nàng và ấn muỗng cháo vào miệng. Nhưng một cái quay ngoắt đầu rất mạnh,
Thanh Lâm đã hat muỗng cháo đổ hết ra ngoài, và đưa hai tay trói chặt đánh vào
mặt gã. Gã nhảy lùi lại, chửi thề, đem cháo lại bếp. Tên người Việt nói:
- Cứ để cho nó đói thêm, rồi sẽ đến lúc nó xin chúng ta mà
ăn.
Gã trẻ tuổi noi:
- Tôi sợ loài thú ở rừng thường nuôi quá lâu thù oán trong
lòng. Chúng ta còn phải khó khăn rất nhiều mới mong thuần hóa nó được.
Gã râu quai nón lầm bầm:
- Sẽ đến một lúc nó không cử động được nữa. Đã ba ngày rồi nó
có ăn chút gì đâu. Nó cũng không uống, chỉ trừ một lần qua sông nó nhoài người
xuống và làm một bụng khá đầy. Dù sao, tôi nghĩ nó có thể cầm cự được một tuần
là ít. Ở rừng đâu phải lúc nào cũng sẵn thức ăn.
Bọn họ ngồi xúm xít ăn cháo không nói thêm lời nào nữa. Lúc
này, thật là thuận tiện để tiêu diệt chúng. Nhưng tôi vẫn thấy không thể đành
lòng làm vậy.
Khi họ chuẩn bị lên đường, tôi vẫn còn nằm dán mình dưới đất,
đưa mắt qua kẽ lá dày theo dõi từng diễn biến nhỏ với những bối rối trong lòng.
Thanh Lâm được gã ngoại quốc trẻ tuổi và người Việt kia khiêng lại đặt ngồi
chung ngựa với gã có râu quai nón. Nàng đã kháng cự một cách quyết liệt khi họ
tới lôi nàng dậy, và họ tỏ ra ngạc nhiên trước sự hung dữ trở lại với một cường
độ như thế. Gã người Việt nói:
- Lạ thật! Nó vẫn chưa chịu yếu đi vì đói mà còn tỏ ra hung
hăng gấp bội.
Gã trẻ tuổi bảo:
- Tôi đã nói mà. Nó còn chịu đựng khá lâu mới chịu khuất phục.
° ° °
Thỉnh thoảng trong cơn vùng vẫy Thanh Lâm vẫn nhìn về phía
tôi đang ẩn núp nhưng tuyệt nhiên nàng không tỏ vẻ gì quá đáng có thể tố cáo được
tôi. Họ đã tháo rời dây trói chân nàng để nàng có thể ngồi trên mình ngựa và lấy
sợi dây vòng qua bụng ngựa giữ hai chân lại, sợ nàng trốn thoát. Xong gã người
Việt dẫn đường đi trước, rồi đến gã râu quai nón cùng chở Thanh Lâm, gã ngoại
quốc trẻ tuổi thì đi sau cùng.
Nếu sát hại họ tôi đã có thể hành động bất cứ lúc nào. Một
người chọi lại ba người trong trường hợp này thật là dễ dàng quá sức. Nhưng tôi
đành phải im lặng quay lại nơi đã cất giấu đồ đạc rồi theo sau họ, giữ một khoảng
cách cần thiết để khỏi gây nên ngờ vực. Bây giờ tôi hiểu vì sao họ đi quá chậm
khiến tôi đuổi kịp họ ngoài thời gian dự liệu. Không chỉ vì sự ăn uống nghỉ
ngơi kiểu cách nặng nề, họ còn bị cô bạn rừng của tôi quấy rầy không ít. Cảnh vực
nàng ngồi lên ngựa không phải là không vất vả và chắc đưa nàng xuống ngựa cũng
rất gian nan.
Tôi thong thả đi, thỉnh thoảng dừng lại hái đôi trái rừng
chín mọng bên đường ăn cho đỡ khát. Trái rừng ở đây thật nhiều loại ngon đậm chất
ngọt chua dễ làm kích thích tì vị. Ông Chúp đã cho tôi hiểu khá nhiều về cây
trái rừng nhưng đi sâu về vùng này có nhưng giống loại ông không biết được. Núi
rừng là một thế giới phong phú kỳ lạ, chẳng ai có thể tự hào hiểu biết đủ đầy.
Khi hoàng hôn chưa rũ tấm màn đen trên chốn thiên nhiên quá
mênh mông này, tôi đã trông thấy đám người đi trước dừng lại bên một bờ suối, dựng
lều, đốt lửa. Lều vải của họ khá rộng, được căng rất chóng và các phương tiện nấu
nướng của họ cũng thật tiện lợi. Tôi tìm một chỗ khuất vắng bên trên dòng nước
để nằm nghỉ ngơi và ăn phần cơm nguội lạnh đã được chuẩn bị từ sáng. Tôi cố ăn
cho sạch nhẵn gói cơm còn lại và uống một bụng nước suối. Bóng tối đã xuống chập
choạng từng mảng đó đây và tiếng rừng lúc chuẩn bị đêm ve xao xác chung quanh.
Tôi nghe gió lạnh rít lên từ thung lũng xa xoáy về ào ạt qua những cây rừng và
tôi nhổm dậy, chậm rãi tiến về phía đám người kia, lựa đúng hướng gió như tôi
đã từng thấy rõ từ trưa tác dụng đối vơi Thanh Lâm.
Tôi đã tìm được một chỗ ẩn mình khá tốt giữa hai tảng đá có một
khoảng trống đủ nhìn tường tận cảnh trí bày ra trước mắt của mình. Bọn họ chưa
chui vào lều, còn đang chuyện gẫu quanh lửa, vừa ăn vừa uống một thức gì đó.
Tôi hơi xa cách và không ở ngược chiều gió nên không nghe được họ nói với nhau
những gì. Tôi thấy Thanh Lâm nằm yên, thỉnh thoảng như ngóc đầu dậy hướng về
phía tôi có vẻ đợi chờ. Có lẽ nàng đã đoán hiểu được ý định tôi và nàng đang cố
dằn lòng nằm yên như thế chứ không nghển mình ngồi lên như lúc ban trưa.
Tôi xem đồng hồ. Mới chín giờ tối. Cả bọn lần lượt chui hết
vào lều và Thanh Lâm cũng được đem vào trong. Tôi thấy gã râu quai nón lúi cúi
cột một sợi dây vào gốc cây ở cạnh lều và tôi chợt hiểu. Chúng cột Thanh Lâm
vào đấy, vì sợ dù trói chặt rồi nàng vẫn có thể trườn dậy tìm cách trốn đi.
Tưởng tượng nàng bị trói chặt như thế suốt đêm và gần như là
suốt ngày, tôi thấy xót xa vô hạn và nỗi căm hờn lại nghe bừng dậy trong lòng.
Thế mà Thanh Lâm còn chịu đói khát đã mấy ngày nay. Nàng đã từ chối thức ăn, thức
uống, đưa đến từ những bàn tay mà nàng coi như thù nghịch, và nàng chịu chết để
khỏi khuất phục. Thái độ của nàng làm tôi cảm phục và tôi thấy nơi con người rừng
ấy có gì cao hơn là cái bản năng, là lòng tự ái, hay sự cố chấp của một thành
kien hẹp hòi. Tôi đã lặn lội bao nhiêu năm nay ở trong rừng già, đã quan sát thật
tường tận khá nhiều cuộc sống hoang vu, đồng thời cũng tìm đọc trong sách vở những
gì là nét đặc biệt của các sinh hoạt thú rừng, và tôi moi ngày mỗi ngạc nhiên
hơn nhận thấy có nhiều những thói tục tốt ở nơi loài vật mà con người vẫn tưởng
rằng chỉ riêng họ mới có được. Tôi cũng từng thấy những đàn trâu lớn nghe mùi hổ
báo bén mảng đã vội quây thành vòng tròn, lùa các con nghé vào trong và chĩa sừng
ra làm hàng rào cản kiên cố ngăn giữ kẻ thù. Loài trâu cũng biết kết đoàn, cũng
biết bênh vực kẻ yếu trong đồng loại mình, và nhiều loài khỉ, loài vượn cũng biết
san sóc những bậc tuổi tác trong bầy loại chúng. Thậm chí có những giống loại
khỉ đột chỉ ăn khi nào các kẻ già nhất trong chúng đã nếm qua thức ăn rồi và
chúng luôn luôn lùi lại bên đường khi gặp các vị trưởng thượng đe nhường bước
cho các vị đi qua. Những sự khép nép và cung kính ấy có một vẻ gì làm ta xúc động,
khi nghĩ đến sự hỗn loạn và sự bất kính trong một xã hội của những giống loại
thú rừng khác, gọi là con người. Trong các sinh hoạt ái tình, nhiều loại có những
phản ứng rất đẹp. Những loài có vẻ hung dữ như sư tử hay hổ báo, vẫn không xử sự
một cách tàn bạo đối với giống cái, và nhiều giống loại không hề biết đến bạc bẽo,
phụ phàng. Ái tình của chúng thường bắt đầu bằng một sự gợi hỏi, một kiểu dò ý,
một sự chiều chuộng đằm thắm và sự âu yếm nồng nàn. Ngay cả giống mối là loại
côn trùng bé nhỏ, tồi tàn là vậy, mà cũng có một kiểu cách chung sống thật là kỳ
diệu: mỗi con vẫn quen di động nhờ vào mấy chiếc râu sừng, vẫn quen đánh hơi kẻ
thù, dò xét mọi việc bằng râu sừng ấy, thế mà khi chúng lấy nhau, chung sống
cùng nhau thì chúng bắt đầu cắt đứt giúp nhau các chiếc râu sừng. Và kể từ đó,
chúng phải cậy dựa lẫn nhau để sống, hòa hợp làm một, bởi tách rời ra chúng sẽ
bị tiêu diệt ngay. Cái râu sừng ấy khiến ta nghĩ đến tấm lòng tự ái ở nơi con
người, đó cũng là óc vị kỷ, là cái ý thức chủ quan hẹp hòi trong mỗi chúng ta.
Trong cuộc chung sống loài người, nhiều khi khư khư giữ chặt lấy râu sừng ấy,
và sẵn sàng tách khỏi cuộc đời chung một cách dễ dàng.
Người ta có thể nói rằng tất cả những hiện tượng đó chỉ là phản
ứng âm u của các bản năng, không phải là cái kết quả của một ý thức, của một
suy luận. Lối lập luận ấy mang đầy tính cách tự tôn của người, và dầu có nói
lên được ít nhiều sự thực vẫn không cho thấy được giá trị này: chính nhờ các đặc
tính ấy mà các giống loại nói trên đã tồn tại và phát triển, nếu không chúng bị
tuyệt diệt từ lâu trong cuộc cạnh tranh sinh tồn.
Nhưng các phản ứng có ý thức của một người như Diễm Tuyết thực
sự có giá trị gì? Nàng biết trau dồi nhan sắc cho xinh đẹp hơn, nhưng sự ăn
không ngồi rồi của nàng chỉ làm nguy hại thêm cho xã hội, nàng có thể biết đủ
loại phim ảnh, nói các sinh ngữ, hát các tần nhạc, ăn các nhà hàng và phân biệt
đựơc xấu tốt, ngon dở trong các loại đó, nhưng nàng đâu biết bảo vệ đồng bào, đồng
loại của mình? Thà rừng rú như Thanh Lâm, hoang dã như Thanh Lâm mà cái ý thức
về mình không làm nguy hại đến những kẻ khác.
Với bao nhiêu mối cảm nghĩ ngổn ngang, tôi chờ giấc ngủ của bọn
người kia cho thật chín mùi. Rồi tôi lấy ở trong gùi một nắm lá rừng học được của
ông già Chúp mà suốt chiều nay tôi đã dò dẫm kiếm tìm dọc các khe suối trên đường
theo vết kẻ thù, cẩn thận bò tới đống lửa, ném vào trong đó. Không có thời gian
phơi phong nên lá còn tươi, nhưng đống lửa hồng to rực sẽ ngốn cháy hết, và
trong thoáng chốc một mùi khói nồng hăng hắc xông lên. Tôi đã nhúng sẵn khăn ướt
để choàng lên mũi cho khỏi hắt hơi, rồi bò lui ra khá xa, ngược lại chiều gió
thổi về bếp lửa. Một lát, khói nồng loãng tan vào trong không khí rừng già. Tôi
quay trở lại chỗ cũ, gần ngôi lều vải. Tiếng ngáy của đám người kia vang ồn như
sấm, chúng đã ngủ mê mệt rồi. Tôi tự nhủ thầm: "Chúng mày đã dùng những chất
hóa học của cái xã hội gọi là văn minh để đánh mê tao, nhưng tao cũng biết sử dụng
chất liệu thiên nhiên để đối phó lại". Điều khác biệt chăng là chúng đã
khai thác lòng tin cậy, đã dùng đến sự dối trá để mà lường gạt đồng loại. Còn
tôi, tôi không hèn hạ như thế. Tôi phải đối phó vì bị thiệt thòi, và những nỗ lực
của tôi dù có quyết liệt bao nhiêu cũng chỉ là để đòi lại một sự công bằng.
Tôi đưa tay tìm hòn đá ném về phía lều. Tiếng ngáy vẫn cứ
vang giòn trong một nhịp điệu say sưa. Tôi ném mạnh hơn một viên đá khác vào
phía trong lều, vẫn không có gì chứng tỏ là chúng sẵn sàng tỉnh thức. Có lẽ
chúng đã ngủ giấc ngon lành nhất trong đời chúng, và tôi không nên trì hoãn
thêm một phút nao.
Tôi bước vội lại gốc cây, mở dây từ đôi chân của Thanh Lâm bị
trói chặt được buộc vào đấy, rồi luồn vào trong lều vải mở gấp dây trói ở đôi
chân nàng. Tôi thấy đôi mắt Thanh Lâm mở rộng long lanh nhìn tôi trong vùng ánh
sáng lờ mờ từ ngoài chiếu rọi vào lều và hơi thở nàng mệt nhọc. Thanh Lâm đủ sự
khôn ngoan để không cất lên một tiếng kêu nào, nhưng được tháo mở nàng đã vội
vàng ngồi dậy. Vừa mới gượng lên, nàng đã té xuống vì chân tê liệt sau mấy ngày
dài trói chặt. Tôi ấn nàng xuống ra dấu bảo nàng nằm yên rồi mở dây trói nơi
tay của nàng. Xong tôi vực nàng ra khỏi chiếc lều, tiến về chỗ cột bầy ngựa, đặt
nàng lên con ngựa kim quen thuộc mà nàng đã từng đi chung trong mấy ngày qua.
Lưỡng lự một lúc, tôi quay trở lại căn lều. Tôi phải lấy lại súng đạn của tôi
và tất cả súng đạn chúng chất lên lưng một con ngựa. Như thế là lẽ công bằng.
Gieo gì thì phải gặt nấy, và tôi đang làm những gì mà chúng đã làm cho tôi. Dù
sao, chúng có ba người, chúng không khốn đốn như tôi. Vừa toan lên đường, tôi
thoáng có một ý nghĩ và tôi rút một cây súng và một ít đạn quay lại bỏ vào
trong lều. Tôi không muốn chúng hoàn toàn bị tước đoạt hết khả năng chống lại
thú dữ ở chốn rừng già. Tôi cũng không muốn bọn họ thèm thịt nhưng phải ăn toàn
rau rừng trái cây trong những ngày dài tìm về xã hội gọi là văn minh. Và tôi
cũng muốn cho chúng thấy rằng con người rừng rú như tôi vẫn còn nhân đạo hơn
chúng, vẫn biết nghĩ đến đồng loại, kể cả trong lúc mà tôi có quyền trừ diệt
chúng đi như một mối họa.
Tôi xoa nắn lại tay chân Thanh Lâm rồi nhảy lên một con ngựa,
ra dấu cho nàng đi trước. Tôi dắt thêm một con khác chở gùi của tôi và các súng
đạn lấy được theo sau. Chỉ trong chốc lát Thanh Lâm đi được mau hơn và nàng như
lành khoi cơn tê liệt vừa rồi.
Đường rừng về đêm rất khó di chuyển song với Thanh Lâm chẳng
trở ngại gì. Đi được một quãng thì đến bờ suối, Thanh Lâm nhảy vội xuống ngựa
và nàng nhào tới trên hai cặp chân chệnh choạng vục người xuống nước uống thật
hăm hở. Trong bóng rừng đêm tôi thấy đầu nàng như cắm sâu xuống dòng suối và tiếng
ừng ực nuốt nước của nàng có một vẻ gì thật là quái gở. Tôi phải nhảy xuống kéo
nàng ngồi lên, sợ nàng kho khát mà uống quá nhiều.
Thanh Lâm loạng choạng đứng dậy, thở dốc mệt nhọc. Tôi bảo:
- Hãy ngồi nghỉ cho khỏe lại đã nào.
Rồi tôi đưa nàng lại một tảng đá cạnh đấy. Chúng tôi cùng ngồi
im lìm trong bóng đen day, giữa cõi rừng đêm bao la, vẫn còn mệt mỏi hồi hộp
nên chưa cảm thấy hết được nỗi vui thoát nạn. Tôi nghĩ đến sự may mắn trong cơn
rủi ro vừa qua. Ba con ngựa kia và những súng đạn mà tôi lấy được sẽ giúp ích
nhiều cho chuyến khai thác Mả Voi sắp tới.
Tôi vỗ nhẹ lên bờ vai thon thả của người bạn rừng, vuốt mái
tóc rối của nàng, mái tóc đẫm ướt nước suối ròng ròng chảy xuống mặt nàng. Gặp
lại Thanh Lâm là điều vui sướng vì từ khi đã quen thân bao giờ tôi cũng cảm thấy
yên ổn trong sự cận kề, chừng như Thanh Lâm là nỗi che chở an lành vô hạn.
Bỗng trong bóng tối cặp mắt Thanh Lâm như bừng sáng lên và
nàng ngồi thẳng ngay dậy. Nàng muốn gì đây? Những phút im lặng vừa qua đã khuấy
động trong hồn nàng suy tưởng gì chăng? Rồi nàng đứng lên, đưa một bàn tay bấu
chặt vai tôi như bày tỏ một quyết định. Và lần đầu tiên, tôi nghe giọng nói rừng
rú của nàng cất lên tiếng nói phản truyền:
- Ngồi đây.
Thanh Lâm cố gắng khá lâu mới nói được hai tiếng ấy, giọng
nàng khá rõ và thật thanh tao. Thỉnh thoảng trước kia nàng cũng từng nói những
tiếng rời rạc, những câu ngắn ngủi, để trả lời tôi hơn là tự động phát biểu.
Cái quyền được nói chưa thật quen thuộc với nàng và ngôn ngữ nàng cũng ở trong
thế bị động như hoàn cảnh nàng. Nhưng bây giờ nàng truyền lệnh cho tôi ngồi lại
tảng đá trong đêm, để làm gì đây?
Tôi vừa phân vân tự hỏi thì nàng đã bước chệnh choạng lại gần
con ngựa và trong thoáng chốc nhảy lên con ngựa phóng đi.
Tôi thật bàng hoàng, định kêu nàng lại nhưng nàng đã biến mất
rồi. Nàng đã bảo tôi ngồi đây là bảo đợi chờ, và đợi chờ nàng làm gì? Nàng vừa
quay về trên con đường cũ... Tôi bỗng giật mình, chợt hiểu và thầm tự trách về
sự suy đoán chậm chạp của mình.
Lập tức, tôi lại con ngựa đã cưỡi phóng lên và đuổi theo
nàng. Rừng đêm, cây cối rậm dày khó tiến cho mau, tôi phải vất vả khá lâu mới đến
được chỗ ban nãy, nơi đám người kia dựng lều. Tôi thấy một ngọn lửa lớn bùng
lên từ nơi lều vải và Thanh Lâm ngồi sừng sững trên ngưa, bất động như một pho
tượng, đôi mắt phản chiếu ánh hồng như rực cháy sáng trong đêm.
Tôi kêu:
- Thanh Lâm!
Nàng khẽ quay lại nhìn tôi, vẻ mặt đọng nét căm hờn dữ dội lạ
thường. Tôi tiến về phía căn lều, ý định muốn dập tắt mau ngọn lửa đang hủy diệt
ấy. Nhưng các vũng máu loang trên đất gần đấy đã cho tôi hiểu. Ba người kia bị
Thanh Lâm giết chết trong giấc ngủ say, và nàng đã kéo xác họ ra đây cấu xé rồi
dồn vào trong lều kia noi lửa mà thiêu rụi đi. Những đống củi khô được nàng ném
hết vào lửa, cũng như nàng đã ném hết vào đó tất cả đồ đạc của ba con người đã
hành hạ nàng suốt mấy ngày qua. Nàng chứng kiến cho ngọn lửa đốt cháy tất cả,
và sẽ không rời chốn này khi các dấu vết kẻ thù còn trước mắt mình.
Tôi cũng đứng yên chứng kiến sự thiêu hủy đó. Lâu lắm ngọn lửa
mới tàn, thoi thóp trên đống than hồng đỏ rực hắt chiếu trên các cây lá chung
quanh như ánh sáng chiều soi sáng. Mùi thịt cháy khét cùng với mùi vải và nhiều
chất cây lá khác tỏa nồng. Tất nhiên ngọn lửa không sao đốt cháy hoàn toàn được
xác ba người. Nó chỉ phát biểu cho nỗi căm thù ngùn ngụt nơi lòng Thanh Lâm, nỗi
căm thù ấy lạ thay như được bùng lên bằng chất nước suối vừa rồi. Có lẽ Thanh
Lâm đã quá mệt nhọc vì phải nhịn khát nhiều ngày, nay nhờ uống một bụng nước mà
nàng tỉnh lại, và ý báo thù nổi dậy nơi lòng nàng khiến nàng đã vụt chạy đi.
Hay là nước suối nhắc lại cho nàng những phút khô khát tàn nhẫn mà nàng trải chịu,
đã từng khiến nàng liều mình nhoài xuống một lần nào đó để mà tìm uống một cách
gian nan?
Dầu sao thì cùng với ngọn lửa tàn dịu lại, nỗi căm thù kia
cũng đã nguôi khuây. Khi cái lưỡi lửa cuối cùng tắt sụp chỉ còn than hồng râm
ran, Thanh Lâm mơi quay trở lại nhìn tôi. Ở trong ánh sáng lờ mờ vẫn còn khét nồng
thịt người đốt cháy, tôi thấy một nụ cười nhẹ thoảng trên khuôn mặt của nàng.
° ° °
Sau cuộc trả thù Thanh Lâm bỗng có một vẻ quyến rũ kỳ lạ, và
tôi hiểu đó là sự cuốn hút của cái sức mạnh tinh thần. Tôi không nghĩ nàng chỉ
có bản năng và những phản ứng hoàn toàn thấp kém, âm u, mà nơi nàng vẫn thao thức
những mối cảm nghĩ đơn giản nhưng cũng hết sức phân minh. Thanh Lâm đã biểu lộ
rõ thương yêu cũng như căm ghét và chưa hề tỏ mot cử chỉ nào làm tôi khiếp hãi
kể từ ngày nàng quay lại hang đá. Nhưng đối với lớp người này, những kẻ đã coi
thường nàng, đã trói bụôc nàng và lợi dụng nàng như món đồ vật trang trí cho sự
hiểu biết của chúng, thì nang đã có thái độ thù nghịch và bất khoan dung thật
là quyết liệt. Tôi yêu sự rành mạch đó, bởi tôi đã sống nhiều năm trong xã hội
đầy những rối loạn tình cảm, nơi sự xấu tốt không còn phân biệt rõ ràng và sự
yêu ghét chẳng được bao giờ rõ rệt. Chính sự lờ mờ, hỗn độn là nỗi đau khổ sâu
xa cho những ai từng khát khao tìm các giá trị tinh thần, bởi lẽ trắng đen,
chân giả không sao còn nhận định được.
Thật tôi không muốn có sự tàn bạo vừa qua, nhưng tôi lại thấy
bằng lòng về sự phản ứng của nàng. Có những việc làm ta không bao giờ làm được,
nhưng lại âm thầm tán thưởng khi một người khác thực hiện. Tôi cũng hiểu rằng
ba kẻ vừa bị giết chết đều là hạng người nguy hại ở trong xã hội loài người.
Nhưng nhân danh cái xã hội văn minh còn sót trong tôi, tôi đã để họ yên lành,
và còn để lại cho họ cả súng đạn nữa. Tất cả chỉ là văn hóa, tôi tự bảo mình
như vậy. Tôi đã hành động theo những yêu cầu văn hóa mà tôi đã tiếp thu được và
tôi tin là hợp lý. Nhưng còn Thanh Lâm, hành động của nàng có một ý nghĩa văn
hóa nào không?
Nếu hiểu văn hóa như những biểu hiện sinh hoạt vật chất, tinh
thần đã tạo nên sự cộng đồng sinh hoạt của những lớp người đã có trên mặt đất
này, thì hẳn Thanh Lâm không có nhận thức văn hóa nào cả. Thế nhưng ở nàng khởi
đầu có một nhận thức văn hóa, bởi vì nàng có những phản ứng mới trong sự đối
phó lại những đồng loại - nếu ba người chết thiêu kia cho phép tôi gọi như thế
- để mà tự vệ, tự tồn. Nếu nàng chỉ là một loại dã thú hẳn nàng đã nghe theo họ
từ lâu, hay đã giết họ từ sớm.
Khi chúng tôi quay lại tìm con ngựa bên suối, vẳng nghe chim
rừng báo hiệu canh tàn. Gần một đêm nay chúng tôi đã không chợp mắt, lại trải
qua nhiều phút giây căng thẳng nên đều mệt mỏi. Nhất là Thanh Lâm qua nhiều
ngày đêm đói khát cần được nghỉ ngơi. Kẻ thù đã không còn nữa, tôi đốt một đống
lửa lớn bên suối, dọn một chỗ nằm và khi Thanh Lâm ngả xuống bên ngọn lửa ấm
thì tôi cố chống lại cơn buồn ngủ ngà ngật để nấu cho nàng một nồi cơm lớn. Khi
cơn đã chín, tôi gọi nàng dậy ăn một bụng no để có thể ngủ một giấc thật dài
trong ngày đang tới.
Lúc tôi đặt lưng nằm xuống, vừng đông hé rạng ở chân mây xa.
Hơi lửa ấm áp và sự an lòng sau những khó khăn vượt qua nhận chìm tôi vào giấc
ngủ thật là nhanh chóng. Tôi nằm mê mệt như thế cho đến khi chợt tỉnh giấc, mặt
trời đã lên đỉnh đầu. Vài tia nắng lọt vòm lá chiếu xuống trên mặt đã đánh thức
tôi: Thanh Lâm còn ngủ, nhưng khi tôi chống tay trên đống lá tạo những tiếng động
thì nàng cũng vụt dậy ngay. Tôi bảo:
- Ngủ đi. Ngày mai, ta lên đường sớm.
Thanh Lâm ngoan ngoãn nằm xuống bên đống lửa tàn. Tôi lấy khẩu
súng, bảo cho nàng hiểu tôi đi tìm săn con mồi quanh đây và sẽ trở về vào lúc nửa
chiều.
Tôi không cần đi thật xa đã nhìn thấy nhiều vết chân dẫm nát
dưới một triền dốc. Sau khi nhìn kỹ tôi biết không phải là loài trâu rừng nhưng
có bầy min đã kéo qua đây. Con min thuộc vào họ hàng trâu bò, là là loài thú lớn
và hung hăng nhất ở trong rừng núi chúng ta. Màu lông của nó đen huyền, bóng mướt,
chỉ từ móng lên đốt chân đầu tiên là trắng mà thôi. Sừng nó vốn ngắn và mạnh,
phía dưới màu trắng, ở giữa màu xanh và trên chóp cùng màu đen. Sừng của con
cái hơi cong ép lại, như chỏi vào nhau còn sừng con đực thường mở rộng ra và lớn
hơn nhiều. Chỉ nhìn lồng ngực to lớn của chúng, người ta cũng cảm thấy được sức
mạnh và sự chịu đựng khác thường.
Thường thường chúng đi từng bầy từ năm, mười con cho đến ba bốn
mươi con, di chuyển vào đầu mùa mưa tìm về những miền cao hơn và vào mùa khô đổ
xuống những nơi thung lũng ẩm ướt để kiếm cỏ non.
Loại min chỉ thành nguy hiểm khi bị thương tích không còn
phương cách trốn thoát, hoặc khi cần phải bảo vệ lũ con của chúng. Trong nhiều
năm dài săn bắn tôi chưa bao giơ gặp loại min này tấn công một ai, khi chưa hề
bị khiêu khích. Và nếu người ta cứ để cho nó sống đời yên ổn ở trong rừng sâu,
tôi chắc thế nào chúng cũng tìm đến sống cạnh loài người mà không gây nên một
tai hại nào.
Bây giờ đang ở vào giữa mùa khô, bầy min mà tôi nhìn theo dấu
chân cũng độ mươi con. Vì không có ý định săn loại ấy nên tôi không theo dấu
chúng in đầy trên sườn ven núi mà rẽ qua một lối khác, đổ xuống một ngọn đồi thấp
đầy những cỏ tranh và những cây nhỏ. Mùa xuân chưa qua nên cây lá còn xanh tốt,
rừng núi chung quanh đượm vẻ hồi sinh thật là tươi nhuận sau một mùa đông ủ dột.
Nếu không bị ám ảnh chập chờn về ba con người đã bị giết thì tôi có thể ngồi
trên một tảng đá lớn có tàng cây che để ngắm cảnh vật phơi bày trước mắt và
chìm đắm trong các mối suy tưởng miên man về sự thoát ly cuộc sống phiền tạp của
cái xã hội xô bồ ngoài kia để hòa nhập vào thiên nhiên tươi mát, lồng lộng ở
trước mắt mình.
Tuy thế môt ngọn gió mát từ xa thổi lại và tiếng chim rừng
dìu dặt vẳng đưa đã đẩy tôi ngồi dưới một gốc cây ổi rừng, phóng mắt nhìn sâu
vào những cảnh vật miên man giăng phủ quanh mình. Tôi nghĩ đến lòng tham của ba
người đã đẩy chúng vào chỗ chết, nhưng tôi cũng thấy một phần do sự cả nể của
tôi từ lúc ban đầu. Nếu tôi không đưa chúng về hang đá thì không xảy ra bao
nhieu là chuyện bi thảm và vất vả này. Kể ra muốn từ chối chúng, lúc ấy, cũng
thật khó lòng. Tôi đang chìm sâu trong lòng rừng già, với mỗi một khẩu súng săn
cỡ nhỏ, trong khi chúng có ba người có nhiều súng đạn và nhiều lòng tham...
Thôi thế cũng tạm yên đi một nỗi lo âu, việc gì mà thắc mắc nữa? Trong rừng sâu
này cũng như ở nơi xã hội ồn ào sau dãy núi đồi trùng điệp xa kia, những cảnh
tàn sát, chèn ép, tiêu diệt lẫn nhau cũng là mot chuyện thường tình. Ba người
thám hiểm sẽ được ghi nhận mất tích ở trong bí mật Trường Sơn, và chỉ có mỗi
mình tôi rõ hết được bí ẩn đó. Tôi cũng không biết tên họ của ba người ấy vì
Thanh Lâm đã đốt cháy tất cả, nhưng dù biết rõ tôi cũng không muốn ghi nhớ làm
gì. Tất cả điều đó thuộc vào định luật rừng sâu, không còn phải đáng bận tâm
hơn nữa.
Tôi đang triền miên trong những suy tưởng như vậy, bỗng nghe
một tiếng động nhỏ ở sau lưng mình. Vừa quay nhìn lại, tôi thấy một con min lớn
đang lao nhanh về phía tôi. Biết không thể nào sử dụng đựơc súng tôi vội nhảy
qua một bên. Con min đã quay đầu lại ủi cặp sừng lớn, xốc tới. Tôi phải chạy vội
núp sau thân cây ổi rừng, vừa đảo mắt tìm một chỗ lợi thế để mà ẩn núp. Chung
quanh chỉ là đồi tranh, cây nhỏ và phía sau lưng là khu rừng già. Một chỗ để ngồi
mơ mộng lại thường là chỗ để đẩy ta vào cõi chết.
Bây giờ chỉ còn một cách là đương đầu với hiểm nguy. Tôi vừa
nép sau thân cây vừa tìm cách tránh con min cứ lao mình tới phóng sừng chặt sả,
vừa chuẩn bị khẩu Mauser để nhắm bắn vào đầu nó. Con vật quay đầu một cách hằn
học dữ dội, thật khó lòng gởi viên đạn trúng đích. Nhưng dù tôi có bắn trượt
chăng nữa cũng không làm nó trở thành điên tiết hơn là bây giờ. Sự việc con min
quá to lớn này tự nhiên đâm sầm vào tôi, cố triệt hạ tôi như thế là đieu lạ
lùng. Điều này chỉ có thể nghĩ nó đã từng là nạn nhân của tay thợ săn nào đó,
và đang sống trong tâm trạng trả thù. Vậy kẻ thợ săn nào đã vào trong chốn rừng
sâu này? Chính kẻ đó đã chọc giận con thú bằng một viên đạn lạc lối và bắt tôi
phải lãnh đủ khi gã không còn có mặt quanh đây. Tôi bỗng nghĩ đến ông Chúp,
nhưng tôi biết ông không bao giờ săn loại này. Ông là người của rừng già và ông
bảo vệ sinh vật ở đây một cach cẩn trọng, chỉ săn bắn khi cần thiết và thường
chú trọng các loại mồi nhỏ đủ cung cấp thịt dùng đôi ba bữa chứ không phí phạm
của trời như thế. Hơn nữa, ông Chúp là tay thiên xạ và loại tên độc của ông, dù
không trúng đích nhưng đã chạm vào da thịt con mồi là sẽ vật ngã được ngay, sau
một thời khoảng đủ đưa chất độc vào trong huyết quản.
Tôi nhắm vào cái tử huyệt của nó nằm ở chính giữa khoảng ngắn
dưới gốc cặp sừng, nã một phat súng. Con vật khụy xuống nhưng lại chồm lên. Đầu
của loài min khá lớn nhưng óc của nó rất nhỏ, như thế viên đạn của tôi đã lệch
sang một bên rồi. Tôi toan nã tiếp viên đạn thứ hai thì con vật đã vận dụng tất
cả sưc lực còn lại lao thẳng mình tới như hòn đá núi lông lốc lăn xuống từ một
đỉnh cao. Tôi vụt nhảy sang một bên nhưng không kịp nữa. Một đầu sừng nhọn đã
chém sả vào bắp đùi bên trái của tôi, quật tôi ngã xuống và trong giấy phút chớp
nhoáng tôi nhìn thấy mảnh da thịt của tôi bị chiếc sừng nhọn hất tung lên cao.
Nếu chậm một giây là khó toàn mạng. Khi con vật chưa kịp quay đầu lại tôi cũng
không thể nào gượng đứng lên, nên cứ nằm the nhắm vào phía mang tai nó bắn liều
một phát. Con vật nhào xuống đám cây như một tảng đá rơi nặng. Vài tiếng thở
phì nặng nhọc, nó không còn cựa quậy nữa. Tôi lết lại gần, sau khi chắc rằng
con vật không thể choàng dậy bất ngờ để mở cuộc tấn công khác. Viên đạn của tôi
trúng vào tử huyệt của nó, nằm dưới chân sừng và hơi trụt về đằng sau. Tôi còn
nhìn thấy một vết thương khác dưới cổ, vết thương còn ri rỉ chảy chất nước vàng
ngàu. Và ở bắp đùi con vật một dấu sưng húp cho biết nó đã bị đạn, và chắc viên
đạn còn nằm trong thịt.
Tất cả sự việc xảy ra một cách dồn dập, bất ngờ khiến tôi
không thấy đau đớn, nhưng rồi cảm giác nhức nhối bắt đầu xuất hiện và tôi như
tê dại đi. Tôi xé vạt áo rịt tạm vết thương nhưng đùi tôi như liệt hẳn. Tôi cố
gượng dậy mấy lần nhưng không sao gượng dậy nổi. Rồi tôi lết tới rút dao xẻo mạnh
vào đùi con vật và tôi tìm được vien đạn. Đây là viên đạn của khẩu 404 mà tên
ngoại quốc mang râu quai nón đã dùng.
Có lẽ hôm qua gã đã bắn trượt con mồi và khiến cho nó hôm nay
trút sự điên tiết vào tôi. Tôi phải gánh lấy hậu quả về sự vụng về cua gã,
nhưng biết làm sao khi tôi bây giờ có lẽ là kẻ đại diện duy nhất cho lớp thợ
săn ở giữa rừng già?
Tôi tưởng công việc xẻo thịt tìm đạn vừa rồi có thể làm cho
tôi quên bớt đau đớn nhưng nó chỉ giúp khuây lãng giây phút rồi lại làm tôi đau
đớn hơn lên. Tôi nghe trán mình ướt đẫm mồ hôi, và nằm vật ra trên cỏ mê man.
Tôi không biết mình nằm được bao lâu thì nghe như có ai vực
tôi dậy. Tôi mở choàng mắt thấy Thanh Lâm đang cúi nhìn với vẻ lo âu. Tôi trấn
tĩnh nàng:
- Không có sao đâu. Tôi chỉ bị một vết thương nơi đùi.
Thanh Lâm không nói lời nào, dìu tôi lặng lẽ băng rừng mà đi.
Đôi cánh tay nhỏ của nàng có một sức mạnh khác thường như gánh được cả sức nặng
của thân hình tôi và bước chân nàng như không biết đến mệt nhọc. Giá nàng đem
theo con ngựa thì tốt không biết chừng nào. Tôi sợ nàng mệt nhưng biết mình
không thể nào tự lực bước nổi với vết thương này đành phải để nàng dìu đi qua
những chặng rừng, cho đến khi về tới bờ suối nhỏ nơi chúng tôi đã nghỉ ngơi.
Thanh Lâm đặt tôi nằm xuống rồi chạy biến vào trong rừng. Chỉ một thoáng chốc,
nàng đã quay về, trong tay cầm một nắm lá. Nhiều loài ở rừng biết những loại lá
trị bệnh thần diệu, do các kinh nghiệm nhiều năm trong sự thích ứng sinh tồn với
những điều kiện thiên nhiên bất trắc.
Tôi đem mớ lá nghiền nát trên một tảng đá ven suối, cho vào
ít muối, rồi rịt vết thương, đoạn băng bó lại. Các thuốc khử trùng và đồ băng
bó bao giờ tôi cũng mang theo. Khi tôi đã nằm yên nghỉ bên lửa do nàng nhen
nhúm, Thanh Lâm lại đi vào rừng và lát sau nàng mang về những mảng thịt min khá
lớn.
Bây giờ tôi càng thấy rõ nơi nàng tiềm ẩn một loại kiến thức
thật là sâu rộng về cuộc sống giữa rừng già. Bên đống lửa rừng rực cháy, tôi nằm
nghe bóng đêm về xao xuyến chung quanh với muôn ngàn tiếng động nhỏ, và nhìn
Thanh Lâm bắc cơm, nướng thịt với vẻ chăm chỉ khác thường, tôi thấy hân hoan
trong cái ý nghĩ có được một người bạn tốt, một người bạn thật xứng đáng cho cuộc
sống này.
Suốt đêm hôm ay, tôi không cảm thấy nhức nhối chút nào. Vết
thương đã được chất lá làm cho êm dịu. Và sáng hôm sau chúng tôi lên đường.
Thanh Lâm giúp tôi lên ngựa và theo đường cũ chúng tôi về lại
hang đá ven sông. Như một phép màu, chỉ trong tuần lễ vết thương đã lành. Tôi
nhìn Thanh Lâm, và nói:
- Cám ơn.
Thanh Lâm không hiểu tiếng ấy, nhưng tôi nhớ ngày xưa khi tôi
săn sóc cho nàng, vẻ dịu dàng hiện trên khuôn mặt nàng đã nói với tôi bao nhiêu
là tiếng cám ơn. Điều tôi băn khoăn là ông già Chúp đã lâu không thấy trở lại.
Nếu ông đã đi qua đây, thế nào tôi cũng nhìn được dấu vết. Không rõ việc gì xảy
đến cho ông. Đau ốm hay là bất trắc doc đường? Hay trở ngại nào trong việc bán
buôn?
Tôi quyết định chờ thêm một tuần lễ rồi sẽ lên đường về lại Mả
Voi. Biết đâu do một đổi ý bất ngờ ông Chúp đã chẳng đi về chốn cũ bằng một lối
khác? Vả lại bây giờ toi đã có ba con ngựa và nhiều đạn dược lại có Thanh Lâm
bên mình, tôi có đầy đủ khả năng tiến sâu hơn nữa vào kho tàng ấy. Về phần
Thanh Lâm, tôi nghĩ nàng đã thoát khỏi họ hàng Xà Niêng và tôi không ngại nàng
sẽ quay về lại với rừng già. Dầu sao chuyến đi này sẽ cho tôi thấy rõ ràng hơn
phản ứng của chúng.
Thêm một tuần lễ đợi chờ mà ông Chúp vẫn chưa lại. Không thể
chờ đợi lâu hơn, tôi quyết định vào Mả Voi với Thanh Lâm vậy.
Buổi sáng sớm hôm ấy chúng tôi lên đường. Tôi đã có đủ kinh nghiệm
trong các chuyến đi lần trước nên việc tiến sâu vào trong thung lũng không mấy
khó khăn. Thanh Lâm quả là một người bạn đường quý báu. Nàng tinh nhạy hơn ông
Chúp và giúp tôi chuyển vận được số ngà khá lớn nhờ có ba con ngựa thồ. Trong
chuyến đi ấy tôi cũng săn được hai con cọp gấm thật đẹp và tôi vội vàng lột da
mang về hang đá.
Buổi tối hôm ấy, ngồi bên đống lưa tôi thấy Thanh Lâm yên lặng
nhìn tôi, cặp mắt rực sáng trong ánh lửa hồng và sự lắng đọng trên khuôn mặt
nàng có một vẻ gì sâu thẳm như núi rừng đêm. Chung quanh chúng tôi là sự dàn trải
mênh mông của muôn ngàn tiếng âm thầm trong khúc hòa tấu bất tận mà chốn thiên
nhiên hùng vĩ dạo lên hằng ngày, hằng đêm, với những điệp khúc miên man. Trong
những giây phút bỗng nhiên xao xuyến, tôi thấy Thanh Lâm là người đàn bà, một
người đàn bà đáng được yêu dấu mà đã từ lâu tôi cố chối từ nghĩ ngợi sâu hơn.
Thật ra nơi tôi vẫn âm thầm có giằng co ray rứt - một mặt tôi tự cảm thấy bất xứng
khi để cho mình có những ý nghĩ buông thả với những suy tưởng lan man về người
bạn rừng, có lẽ đó là phản ứng của cái con người tự nhận văn minh nơi tôi, con
người đã được nuôi dưỡng bằng những đạo lý, thành kiến của xã hội này, nhưng một
mặt khác, tôi luôn ca ngợi Thanh Lâm, phóng đại ý tốt và những cố gắng của
nàng, gán ghép cho nàng bao nhiêu ý tình thật đẹp để tự trấn an lấy mình.
Bây giờ nơi tôi sự mâu thuẫn kia đã không còn nữa. Nơi tôi,
đêm nay, không còn có sự giằng co nào nữa. Tôi thấy ngồi trước mặt tôi một người
đàn bà, một kẻ thực sự đã hòa hợp trong cuộc sống với tôi, đã chia xẻ những
gian lao, bất trắc với tôi. Thanh Lâm và tôi không có gì là ngăn cách. Và nàng
đáng được thương yêu, va tôi phải biết yêu nàng.
Trong ánh lửa đêm bập bùng rọi sáng hang đá như dẫn dắt người
trở về cuộc sống hoang dã từ bao ngàn năm về trước, tôi tiến lại phía Thanh
Lâm. Người bạn rừng không cử động, như nàng có thể cảm hiểu được mọi ý nghĩ của
người đối diện qua sự im lặng, và nàng đợi chờ. Tôi cầm lấy tay Thanh Lâm, tôi
nói:
- Thanh Lâm...
Người bạn của tôi vẫn ngồi yên đó, hay là nàng sợ hãi chăng?
- Thanh Lâm...
Tôi muốn dụi tắt đống lửa đang phần phật cháy... Nhưng ở nơi
đây chỉ có chúng tôi, bởi vì xã hội loài người thật sự đã khuất xa rồi.
° ° °
Chúng tôi cùng nằm trên nệm lá ấy, và như thế đó chúng tôi khởi
sự một cuộc sống khác với những tương quan đổi khác.
Một đêm, giữa giấc say vùi, tôi bỗng choàng dậy. Người đàn bà
cũng giật mình tỉnh thức. Tiếng kêu hú bỗng vang lên, thật xa rồi lại thật gần.
Tôi tự nhủ thầm:
- Tiếng hú của giống Xà Niêng...
Tiếng hú bất ngờ vọng lên, rền rĩ, ai oán, như đượm ý tình
thương yêu rất đổi thiết tha. Chừng như tiếng kêu gọi ấy chực sẵn đâu đây, và
khi người con gái của dòng họ Xà Niêng quay sang một cuộc đời khác, một nếp sống
khác, thì tiếng hú lại vẳng dậy như một cố gắng lôi kéo về mình những gì đã bị
phân tán, lạc loài.
Chúng tôi thảy đều bàng hoàng như từ cõi mộng bị lôi kéo về
cõi thực một cách phũ phàng. Thanh Lam có vẻ sống trong tình trạng rối loạn lạ
lùng. Theo giọng rền rĩ của lời hú gọi, sắc diện của nàng cũng lộ những vẻ đau
đớn hay là âu lo, ngơ ngác hay là quay cuồng. Thanh Lâm loay hoay trên cái nệm
lá và hình bóng nàng chập chờn in trên vách đá những nét bàng hoàng.
Tôi biết những phút giằng co đang hành hạ nàng. Vội rời khỏi
cơn bối rối, tôi cầm lấy khẩu súng săn chạy ra miệng hang. Những tiếng nổ vang
to lên, cố lấn át hẳn tiếng rền rĩ ấy. Một lát sau, tôi chong tai nghe... Không
còn vọng lại một âm thanh nào của những lời kêu gọi đó. Tôi hiểu tiếng thét của
đạn chỉ làm im đi được một thời khoảng nào đó chứ không buộc được dòng họ Xà
Niêng rưt bỏ bao nhiêu khắc khoải nơi lòng.
Lâu lắm, tôi đứng ở ngoài cửa hang nghe những tiếng rừng vọng
lại. Lần đầu trong cuộc sống phiêu lưu giữa núi rừng tôi không giữ được bình
tĩnh trước muôn ngàn sự xao động âm thầm vây bọc chung quanh. Rừng đêm có một
bí mật nặng nề, kỳ quái và những đe dọa lạ lùng.
Khi tôi quay vào bên trong, tôi thấy rõ hơn tiếng kêu gọi kia
vẫn còn. Nó vẫn còn đấy, ở trên khuôn mặt Thanh Lâm.
Tôi lại gần nàng, bảo nàng nằm xuống ở trên nệm lá. Nàng
ngoan ngoãn nghe lời tôi, nhưng đôi mắt vẫn nhìn vọng trong đêm như nhìn vào
trong sâu thẳm rừng già, về những hang hốc xa xôi, những vùng khuất lấp quanh
năm không có bóng người.
Nhiều lần nghĩ ngợi về sự việc này tôi tưởng rằng nàng có thể
quên đi, quên cái đời sống Xà Niêng thuở trước như một quá khứ xa vời, nhưng rõ
ràng nàng vẫn nhớ, và nó còn nguyên trong đáy hồn nàng. Chỉ cần có lời réo gọi
bất chợt là những niềm thao thức ấy bừng dậy, vội vàng, xao xuyến như mớ tro
than giữ ngọn lửa hồng bỗng ngùn ngụt cháy mỗi khi cơn gió thổi vào.
Bây giờ sự đáp ứng của Thanh Lâm đối với lời réo gọi kia có một
ve gì khắc khoải khổ đau hơn trước, chừng như nàng càng gắn bó sâu xa vào tôi,
vào cuộc sống này bao nhiêu thì nỗi đau khổ của nàng trầm trọng bấy nhiêu. Cố
nhiên tất cả điều này chỉ là dự đoán, bởi tâm trạng nàng, nếu có như vậy, cũng
chỉ là những diễn biến mơ hồ.
Tôi tự nhủ thầm:
- Ngày mai, ta lại phải rời nơi đây mà đi.
Thanh Lâm không thể sống đời yên ổn quanh Mả Voi này. Nhớ cái
thời gian đã qua, sống trong hang đá ven sông, nàng có bao giờ hốt hoảng, quay
cuồng như thế này đâu? Và bây giờ đây tôi bị chia sẻ giữa giằng co mới: kho
tàng Mả Voi và người bạn đường Xà Niêng. Trong hai cái đó, tôi chỉ có thể giữ lấy
được một, và chỉ được một mà thôi.
Cố nhiên là tôi chọn lựa Thanh Lâm. Và tôi bảo nàng:
- Ngủ đi. Ngày mai ta rời hang đá đi về nơi an toàn hơn.
Qua ngày hôm sau, tôi đưa Thanh Lâm về lại con đường ngày trước,
dẫn tới hang đá ven sông. Nơi đó, tôi hy vọng rằng họ hàng Xà Niêng của nàng
không sao tìm tới bởi có những khu vực rừng đã thành giới hạn cho từng giống loại,
và chúng tự ngăn cấm mình vượt qua. Ban đầu tôi đoán là những điều kiện sinh sống
như vật thực, khí hậu, đã làm khuôn khổ cho giới hạn ấy, nhưng qua nhiều ngày lặn
lội nơi rừng già này tôi còn nhìn thấy trong phân cách đó những gì khác nữa đã
khiến cho một giống loại không muốn xé rào, để bước vào một lĩnh vực đã được
quy định cho giống loại khác. Cái gì khác đó thật khó suy đoán cho thật chính
xác. Có thể là ước định ngầm giữa các loại thú về miền sinh hoạt, có thể là nỗi
sợ hãi do cái bản năng sinh tồn gây ra, khi cảm thấy mình ra ngoài quá xa một
nơi quen thuộc của mình.
Bây giờ Mả Voi không còn đủ sức để thu hút tôi bằng người đàn
bà của rừng rú này, và tôi phải tạo một cuộc sống khác vì nàng. Tôi quay trở về
săn bắn ngay xưa, mỗi ngày đi tìm con mồi trong núi còn nàng thì đi tìm những
con mồi dưới những dòng sông, dưới những con suối ven rừng.
Chúng tôi lại sống như thế để chờ ông Chúp. Nhiều tháng trôi
qua người dẫn đường kia vẫn không trở lại. Một hôm tôi quyết định về tìm ông
già Chúp, vì không thể sống mãi trong tâm trạng đợi chờ khắc khoải dài ngày như
thế. Có đem Thanh Lâm cùng về hay không? Đó là một điều khiến tôi suy nghĩ.
Nàng sẽ gặp những khó khăn khi giao tiếp với xã hội bên ngoài. Cuối cùng tôi
nói cho nàng hiểu rõ để nàng yên lòng sống nơi hang đá và đợi chờ tôi.
Thanh Lâm không tỏ vẻ gì khổ sở về ý kiến ấy. Nơi con người
nàng không có những nỗi thắc mắc như ta quen gặp trong cái xã hội gọi là văn
minh. Bởi nàng không hiểu đến sự dối trá, và cũng không hề biết rằng ở trên đời
này lại có sự việc mang tên như thế. Dối trá, phản bội, là những tình tự mà chỉ
nhưng lớp con người tự khoe văn minh trong một xã hội chuyên về lừa đảo mới có
mà thôi. Nàng cũng không biết đến những ngờ vực, bởi cái đa nghi trước những bất
trắc, đe dọa của các kẻ thù ở trong thiên nhiên cũng khác xa với những nỗi nghi
kỵ về sự tráo trở của lòng dạ người. Nàng đã đem sự chân thành đối đãi với tôi,
và tôi cũng đem tất cả chân thật đối đãi với nàng.
Thanh Lâm cũng không biết đến những nỗi buồn phiền, bởi tình
cảm đó cũng là quà tặng của cái xã hội văn minh. Có gì mà phải buồn phiền? Và
buồn phiền để làm gì? Chỉ có mỗi một lo âu là xử sự như thế nào thôi. Với nàng,
tôi phải ra đi, vậy thì tôi sẽ ra đi. Và nàng ở lại, chỉ la như vậy. Nàng tin
chắc tôi sẽ quay trở về nơi hang động này, và không thể nghĩ ngược lại.
Bây giờ Thanh Lâm hiểu nhiều lời nói của tôi và nàng cũng đã
nói được nhiều câu rời rạc. Nàng chưa nói được những câu thật dai với những mệnh
đề rối rắm, với những loại tiếng tập họp các câu và các mệnh đề. Cố nhiên không
dễ gì sử dụng được các loại liên từ, giới từ trong các câu nói. Ngay giữa xã hội
loài người, trong cái ngôn ngữ liến thắng hàng ngày, biết bao nhiêu người đã
không nói đúng những loại chữ ấy vốn là những tiếng đòi hỏi một nếp cảm nghĩ phức
tạp hơn nhiều.
Tôi để lại cho Thanh Lâm súng đạn và những vật dụng cần thiết,
rồi một buổi sớm tôi dắt theo hai ngựa thồ, những thớt ngà voi, một số da hổ,
lên ngựa tìm về phố chợ.
Thanh Lâm đứng ở cửa hang nhìn theo. Tôi đi quãng xa, quay lại,
thấy nàng vẫn còn đứng yên như một thân cây khô héo giữa chốn hoang vu.
Chính lòng thương yêu Thanh Lâm khiến tôi gấp rút băng vượt
đường dài hiểm trở. Lòng thương yêu đã ngấm vào trong tôi như chất nước mưa thấm
vào từng giọt qua làn đất sét rộng dày để nuôi thành mạch nước ngầm ồ ạt. Chính
có sự xa cách này tôi hiểu rõ thêm tôi đã yêu thương Thanh Lâm, yêu thương một
cách kỳ lạ như chưa bao giờ tôi đã yêu thương như thế. Đó là một loại tình yêu
không có so sánh, không cần phân trần, đó là cuộc tình ra ngoài mọi sự ngờ vưc,
mọi sự lòe loẹt và một trăm thứ bày đặt làm cho cuộc sống đầy những dằn vặt ngu
si. Với nàng, tôi đã chung sống như loài thú, nhưng thật đã cảm thông như loài
người, nếu hiểu tiếng "người" theo một ý nghĩa hoàn toàn tốt đẹp.
Sống với Thanh Lâm tôi không hề biết đến những thắc mắc vụn vặt,
không phải băn khoăn về những ngộ nhận hằng ngày. Con người trong nhiều xã hội
gọi là văn minh thường hay nói đến tự ái như là dấu hiệu đặc biệt của nhân cách
họ. Nhưng lòng tự ái chính là dấu hiệu bi thảm của những sinh vật có tên là người.
Tự ái, với những phản ứng hèn mọn của nó, chỉ là những sự kêu đòi tội nghiep,
những kiểu vớt vát đáng thương của những kiếp sống tự thấy bé nhỏ triền miên, bị
những chèn ép trầm trọng, và giữa cơn ngột ngạt ấy cố tìm cách nhoài lên thở,
và chỉ có thế mà thôi.
Thanh Lâm đã đến với tôi không có một mặc cảm nào. Tôi đã săn
sóc tận tụy cho nàng, và nàng đáp lại những ý tình ấy một cách tự nhiên bằng
cách bảo vệ cho tôi. Thanh Lâm không phải áy náy để tìm cơ hội báo đền, đó là
những món tình cảm gọi rằng tốt đẹp của xã hội này nhưng vẫn chứa chấp chút gì
sòng phẳng của sự bán mua, trong đó tiềm ẩn ý tình sợ hãi của kẻ ngại mình sẽ bị
coi như bội bạc. Người ta, hoặc là quay lưng lại các điều người thi ân cho mình
với cái thủ đoạn một tên quỵt nợ dồi dào thủ đoạn, hoặc là vồ vập lo việc đền
ơn như để chứng tỏ mình không thuộc hạng xấu xa. Dù tránh né hay chấp nhận sự
gian lận, ý nghĩ của người cũng đã lấy sự gian lận làm một tiêu chuẩn. Có thể
nói rằng chính sự xấu xa đã thành cơ sở để cho loài người xây nên những tòa nhà
lớn gọi là đạo đức.
Ở giữa Thanh Lâm và tôi không cần cơ sở xấu nào để xây dựng
giá trị tốt. Những giá trị ấy, nếu có, đã được thể hiện trong những nhu cầu
bình đẳng. Tôi lo cho nàng không vì tư lợi, và nàng bảo vệ cho tôi cũng không
có ý bán buôn. Chúng tôi không đòi nhau một trả giá nào hết, thế mà ai trong
chúng tôi cũng mong muốn trả giá ấy nhiều hơn. Cuộc sống chung chạ mà tôi với
nàng tự dắt dẫn vào không có gì phải ân hận. Người ta ân hận vì còn tính toán
hơn thua, và sự xót xa thường đến khi cuộc tính sổ tỏ rằng bất lợi. Tôi với
Thanh Lâm không có mối lợi nào mất, chỉ sự phối hợp làm một của tôi và nàng, giữa
chốn rừng già, mới là bảo đảm an toàn cho cả hai người.
Trong các sinh hoạt hằng ngày, chúng tôi vui vẻ phân chia
công việc, không ai thắc mắc về nhau, vì không có mối lợi nào tốt hơn là sự
giúp đỡ cho nhau. Cuộc sống giữa tôi với người đàn bà Xà Niêng đã gạt khỏi tâm
hồn tôi những ý niệm về hình thức, tôi không bao giờ bận tâm nghĩ đến nhan sắc
Thanh Lâm. Xau hay là đẹp, căn cứ hoàn toàn vào cái bề ngoài của người đàn bà,
cũng là cách nhìn bệnh hoạn đầy sự ma mị đảo điên của cái xã hội tự nhận văn
minh, bởi không thể nào tách rời con người ra hai phần cách biệt và chỉ giữ lấy
cái vỏ bên ngoài như một bảo đảm giá trị cho những cái múi bên trong.
Chuyến trở về này tôi muốn đi mau để biết tin tức ông Chúp và
sớm gặp lại Thanh Lâm. Đến khi dừng chân ở trạm nghỉ chân cuối cùng là buôn Cà
Đum gần các phố thị ven miền sơn cước tôi đến tìm gặp A Don, người em ông Chúp
hỏi về ông ta. A Don không giấu được vẻ vui mừng khi gặp lại tôi, nhưng trên
nét mặt chứa đầy ẩn tình bi thảm.
Rồi trong ánh lửa bập bùng muôn thuở của những đêm rừng, A
Don kể cho tôi nghe sự việc vừa qua...Thế là vĩnh viễn tôi không bao giờ gặp lại
người dẫn đường ấy, vĩnh viễn tôi cách xa người bạn già đầy những kinh nghiệm
quý báu ở núi rừng này.
Ông Chúp trong khi mang nhiều ngà voi về bán phó phường đã gợi
chú ý nơi một số người. Trong số người theo dõi ông có một thương nhân, tên là
Lý Đạt. Lợi dụng tính tình chất phác của ông, gã biết Mả Voi là nguồn cung cấp
so ngà quý ấy, bèn tìm mọi cách mua chuộc. Nhưng ông già Chúp không được loại
người có thể mua chuộc được, dù bằng giá nào.
Rốt cuộc, ông Chúp bị chúng hăm dọa, cưỡng bách dẫn đường.
Ông không có được bản chất uyển chuyển của người biết giả thuận tình để liệu đối
phó về sau, nên đã phản ứng một cách quyết liệt. Lý Đạt đã giết ông Chúp bên một
khe núi để loại trừ kẻ có thể tố cáo dã tâm của y, đồng thời cũng để loại bớt một
người đã nắm bí mật kho tàng. A Don đi tìm anh, đã gặp ông Chúp quằn quại trong
hơi thở tàn, lết tới tìm nước bên bờ suối vắng. Ông già chỉ kịp kể lại vắn tắt
sự việc đã qua với lòng tiếc nuối muốn được gặp tôi trong nhưng giờ phút cuối
cùng. Nhưng tôi đã ở xa ông, ít nhất cũng một tháng đường...
A Don thở dài, bảo tôi:
- Tất cả tiền bạc anh tôi cất ở trong mình cũng bị nó cướp đoạt
hết. Chỉ còn lại mỗi con ngựa mà thôi.
Tôi hiểu những lời A Don đều rất chân thành. Nhiều năm sống với
đồng bào miền núi, tôi quý mến họ ở sự ngay thẳng, thật thà, những đức tính khiến
cho sự giao tiếp giữa người và người trở nên dễ chịu khác thường. Và tôi phải mất
gan hai tuần lễ mới biết gã thương nhân kia đã cùng hai người ngoại quốc đi vào
rừng già tìm kiếm Mả Voi. Đối chiếu lại vài sự kiện, họ là bọn người đã từng cướp
đoạt Thanh Lâm và bị Thanh Lâm giết chết. Dù sao chúng toi cũng đã trả thù được
cho ông Chúp, và tôi không còn chút ân hận nào về cái đoạn kết mà ba người kia
gánh chịu ở giữa rừng sâu.
Không còn ông Chúp, tôi như người què liệt trong cuộc sống
này. Thanh Lâm có thể là người bạn đường rất quý nhưng nàng không sao thay thế
cho kẻ dẫn đường. Cuộc sống rừng già đòi hỏi nhiều sự từng trải khôn ngoan mà
năm tháng đời còn ít của tôi chưa tích lũy được bao nhiêu để giữ lấy sự chủ động
trên những bước đường trắc trở.
Tôi không ngờ sự xa lìa ông Chúp xảy ra đột ngột như vậy. Con
người của rừng núi ấy cuối cùng không phải bị loài thú dữ cấu xé mà bị đồng
bào, đồng loại ở nơi phường phố phanh thây. Xã hội tham lam và điên đảo này
không chịu nương tay đối với những người đã muốn yên phận, đã muốn bé nhỏ, luôn
luôn chiều chuộng cuộc sống quanh mình như ông già Chúp. Loài thú dữ ở phố phường,
trong khi vồ mồi, cũng chỉ biết có giá trị thịt xương chứ đâu cần biết giá trị
tâm hồn.
Tôi tự thấy mình có trách nhiệm về cái chết của ông già Chúp
và mấy hôm liền sống trong trạng thái ngẩn ngơ của kẻ hối tiếc. Tôi đi giữa chốn
thị thành như người xa lạ, lạc loài, thấy các sinh hoạt có vẻ hối hả một cách kỳ
quái, thấy những con người chen lấn giữa những mảnh đất chật hẹp một cách đáng
thương lạ lùng. Hình như trong một tiệm ăn nào đó tôi có nhìn thấy một người
đàn bà giống như Diễm Tuyết, nhưng tôi không muốn chạm mặt. Trong sinh hoạt này
đã có quá nhiều Diễm Tuyết nên không còn biết Diễm Tuyết đó thuộc về ai. Đúng
ra Diễm Tuyết không thuộc về một ai cả, cũng không thuộc ve cuộc đời. Đó chỉ là
một cái bóng mờ nhạt, một thứ sản phẩm giả mạo như cả trăm ngàn thứ giả mạo
khác mà xã hội này chế tạo hàng ngày. Tôi có ngước nhìn phía người đàn ông,
nhưng hắn không phải là tên Trần Hải. Đó có thể là Trần Hải của những Trần Hải,
những loại hình nộm và ma quỷ khác mà xã hội này đặt bày để cho xứng hợp với
các Diễm Tuyết.
Về người đàn bà ngày xưa, bây giờ tôi chỉ thấy mình dửng dưng
một cách lạ lùng. Hành động của nàng còn gây hậu quả nơi tôi nhưng con người
nàng chẳng lưu lại một dấu vết nào cả. Thật ra nàng đâu có gì đặc sắc để lưu lại
ấn tượng đẹp nơi tâm hồn người? Mỗi ngày nàng thay những áo quần tốt nhưng tâm
hồn nàng qua tháng năm dài đâu có được tốt hơn lên. Chỉ tội những người chỉ biết
có mỗi sửa sang cái lốt bề ngoài nhưng để cái lốt bên trong tàn phá tiêu điều.
Tội nghiệp những người kiêu hãnh nhưng không có giá trị thật để kiêu hãnh, những
người thấy mình quan trọng nhưng không biết mình quan trọng vì lý do nào. Họ tự
huyễn hoặc để sống trong một cuộc sống ích kỷ, cuộc sống nổi trôi hằng ngày giữa
chốn phố phường lấy sự âu lo sinh kế che lấp khoảng trống tháng ngày, lấy những
tình cảm giả tạo làm một chất gió để đẩy cánh buồm nhỏ nhoi của đời sống họ vượt
qua vũng nước chật hẹp đục ngầu phiền lụy nhân sinh.
Tôi bán vội vàng tất cả đồ vật chở về trên ba con ngựa, mua
những vật dụng cần thiết để đặt trên mồ ông Chúp, tặng cho A Don một món tiền lớn
và nhờ trao cho vợ con ông Chúp tất cả những gì còn lại về số thu hoạch của những
ngà voi bán được lâu nay để gia đình ông có thể sống đời sung túc. Rồi xin lại
con ngựa tía ngày nào, tôi vội quay về con sông Ra Mun với hang đá cũ và người
bạn rừng.
Chuyến đi của tôi phải mất gần ba tháng trời. Trên đường về lại
chốn cũ, tôi thực hồi hộp, chỉ sợ không còn gặp lại Thanh Lâm. Thỉnh thoảng tôi
cũng bắt gặp nỗi buồn nơi mình và tôi hiểu rằng cái chết của ông già Chúp là một
nguyên nhân sâu xa. Nhiều năm chung sống bên nhau, chúng tôi đã thành quen thuộc,
cần thiết cho nhau đến nỗi một người mất đi khiến cho kẻ kia trở nên choáng
váng như bước hụt chân vào một khoảng trống bất ngờ.
Về tới hang đá bên sông, tôi thấy cảnh vật đã có ít nhiều
thay đổi: cây cỏ mọc um tùm hơn, và nhiều tảng đá chất chồng cao lên, vây bọc
chung quanh. Tôi bước chậm lại, nghe tim đập mạnh trong lồng ngực mình... Thanh
Lâm còn ở đây không, hay là nàng đã đi rồi? Tôi muốn dừng bước, sợ bắt gap một
sự thực não nề. Nhưng kia, thoáng nghe tiếng động của tôi Thanh Lâm đã chạy ùa
ra, với vẻ mừng rỡ lạ lùng. Tôi thấy nàng đã đổi khác, gầy mòn tiều tụy hơn
xưa. Thì ra Thanh Lâm đã mang trong mình con của chúng tôi, và nàng phải sống
trong sự thường xuyên đe dọa của giống Xà Niêng luôn luôn thiết tha kêu gọi
nàng về. Tôi nghe nàng nói tiếng được tiếng mất với những điệu bộ run rẩy và những
nét mặt hãi hùng. Nàng không sửa dọn gì được trong hang đá này và chỉ thừa dịp
họ hàng của nàng không lai vãng đến để đi tìm kiếm thức ăn và chồng chất đá bảo
vệ chỗ ở của nàng.
Họ hàng Xà Niêng đã kéo đến đây là điều đáng nên lo ngại
không biết chừng nào. Họ không có những ranh giới rõ rệt của loại thú rừng, họ
đã xử sự như những con người đẩy xa đến cùng biên giới của sự kiếm tìm. Đó là dấu
hiệu của sự quyết liệt mà tôi cần phải đối đầu. Tôi nghĩ đến việc đưa nàng qua
sông, tìm về một miền rừng núi, xa hơn, nhưng tôi hiểu rằng vô ích. Bởi qua sự
tình như thế thì giống Xà Niêng rõ ràng chẳng chịu để chúng tôi yên, một khi
chúng tôi còn sống giữa núi rừng này.
Tôi nghĩ tạm sống ở đây trong một thời gian rồi sẽ quyết định.
Phải chờ đợi ngày Thanh Lâm sinh đẻ, trước khi nên tiến sâu vào Mả Voi hay rời
ra khỏi chốn này. Mỗi ngày tôi đi vào rừng săn bắn, đào củ, với một tâm trạng
chờ đợi một biến cố lớn.
Thanh Lâm vẫn giữ nếp sống quen thuộc thường ngày của nàng.
Nhưng trông nàng lo âu hơn, mỗi ngày càng tiều tụy hơn, nên tôi không thể để
nàng đi xa khỏi nơi trú ẩn. Sau chừng ít ngày về lại với nàng, vào lúc nửa đêm,
tôi nghe những tiếng hú dài réo gọi của giống Xà Niêng. Tiếng hú kéo tôi ra khỏi
giấc ngủ và trong ánh lửa bập bùng tôi nhìn thấy rõ Thanh Lâm đã ngồi dậy từ
bao giờ, dáng điệu day dứt bồn chồn. Tôi lại xách súng bắn vọng về phía rừng
xa, nhưng chỉ làm tiếng kêu hú tắt được hồi lâu rồi sau đó lại vẳng dậy thật là
buồn thảm, não nùng.
Từ đấy, giống loại Xà Niêng mỗi khi nghe những tiếng súng của
tôi thưa dần thì bén mang đến. Bây giờ giấc ngủ của tôi lại bị gián đoạn bởi
nhiều tiếng động bất thần, những tiếng kêu nhỏ, những lời ríu rít, những cành
cây gãy, những tảng đá lăn và có nhiều lúc tôi tưởng chúng đã tràn được vào
hang.
Vào những lúc ấy, tôi phải thức giấc, khua động ồn ào, cố
ngăn chặn bớt những sự lộng hành của chúng nhưng tôi không sao làm cho Thanh
Lâm thật sự an lòng. Tôi bèn củng cố hang đá, đốn nhiều cây lớn dựng một hàng
rao cao nhọn vây quanh, chỉ chừa một cửa ra vào được gài thật chặt vào lúc đêm
tối. Như thế tôi đã tự mình xây đồn đắp luỹ để sống thu gọn trong một khoảng đất
nhỏ hẹp giữa cái thiên nhiên bao la vây bủa quanh mình.
Suốt thời gian nhiều tháng dài đến ngày Thanh Lâm sinh đẻ,
dòng họ Xà Niêng vẫn không chịu rời xa khỏi chúng tôi. Tuy không đột nhập được
vào bên trong nhưng chúng vẫn thường lảng vảng quanh đấy tìm đủ mọi cách phá
phách hàng rào hoặc là hú gọi thiết tha.
Thanh Lâm đã cho ra đời một đứa con trai. Đứa bé khá mạnh có
những vóc dáng giống y như nàng và những nét mặt phảng phất sắc diện của tôi.
Nàng không mang nặng đẻ đau như nhiều phụ nữ vì nàng có được sức khoẻ của giống
vật rừng. Nhưng nàng quấn quýt đứa bé một cách quá đáng, và chính đứa con đã
giúp nàng quên được lời réo gọi vẫn cứ thỉnh thoảng vọng về giữa những đêm
khuya.
Được mới ba tháng đứa bé đã lớn như đầy một năm. Tôi định đặt
cho nó cái tên hợp với núi rừng, vào ngày nó bắt đầu nói những tiếng đầu tiên.
Nhưng cái ngày ấy đã không xảy đến.
Một hôm, tôi đi săn xa trong rừng gặp cơn nước lũ tràn ngập
khe suối nên khi về đến hang đá thì trời đã tối. Tôi vừa mở cổng thì họ hàng Xà
Niêng từ các bụi rậm ùa ra, tấn công tới tấp vào tôi. Trong lúc bất ngờ toi
không sử dụng được súng, phải dùng dao săn chống cự một cách quyết liệt. Nhưng
bọn chúng thật hung dữ lăn vào xô ngã được tôi, những muốn xé nát tôi ra làm
trăm ngàn mảnh nếu Thanh Lâm không xuất hiện kịp vào lúc đó.
Vừa nhìn thấy nàng, cả bọn buông tôi ùa đến kéo nàng chạy biến
vào trong đêm tối. Tôi không thể nào đuổi theo, đành lết vào hang, băng bó lại
các vết thương rồi nạp đạn sẵn vào súng đề phòng bất trắc và đợi chờ nàng. Bây
giờ hy vọng gặp lại Thanh Lâm thật là mong manh. Một là họ hàng Xà Niêng sẽ giết
hại nàng hay là chúng sẽ mang nàng đi xa vào trong sâu thẳm rừng già.
Sự việc của biến cố này xảy đến quá mau, tôi phải đối phó bằng
cả tâm não, sức lực của mình vì thế không còn biết đen hoảng hốt hay buồn phiền
nữa. Vả lại núi rừng từ lâu đã dạy cho tôi tự xoay xở lấy một mình trong những
gian nan. Ỷ lại chỉ là món quà của cái xã hội người cướp giật người trong đó hạng
ưu thế nhất thường tạo ra cái bóng mát xanh xao cho lớp yếu hèn nương tựa.
Tôi nhìn đứa bé nằm bên đống lửa, thấy thương hại nó vô cùng.
Không còn ông Chúp, tôi không thể giao nó lại cho ai để đi tìm nàng. Bởi vì tôi
quyết lặn lội bất cứ là núi rừng nào để tìm gặp lại Thanh Lâm. Phải chờ các vết
thương bớt đau đớn tôi mới có thể quay về gửi đứa bé cho A Don rồi kiếm tìm
nàng. Dù đó chỉ là hy vọng mong manh, tôi cũng bám lấy để sống.
Suốt đêm hôm ấy tôi ẵm đứa con trong lòng, ngồi bên đống lửa
lắng nghe tiếng rừng xao xác vây quanh. Rừng già vẫn chứa đầy sự ác độc, bạo
tàn, vẫn không dung nạp được người cô độc. Mờ sáng hôm sau, tôi bỗng sửng sốt
nghe tiếng Thanh Lâm réo goi bên ngoài, tiếng gọi mệt nhọc, khẩn thiết chừng
nào. Có phải là cơn mê sảng hay là sự thực? Tôi chạy vội ra, mở cổng, và nàng
nhào đến ôm chặt lấy tôi kêu lên những tiếng vui mừng chứa chan nước mắt. Tôi
cũng mừng rỡ đến độ bàng hoàng không nói lên được lời nào. Trông nàng tiều tụy,
xanh xao, mang đầy thương tích trên người như đã trải chịu những nỗi cực hình
ghê gớm suốt một đêm qua. Áo quần rách nát nhưng vẫn còn giữ trên mình, Thanh
Lâm hẳn đã chiến đấu một cách quyết liệt phi thường mới thoát khỏi vòng rừng rú
âm u để về với tôi và con. Nàng như phủ phục trước đứa con mình, yên lặng nhìn
nó ngủ say rồi không nén lòng được nữa kêu lên mot tiếng quái gở và ôm chặt nó
như sợ một nỗi cách xa.
Tôi gài cửa hang thật chặt, săn sóc những vết thương trên
mình nàng và tôi quyết định rời xa thật sớm nơi đây.
Mờ sáng hôm sau, tôi cố chống lại những nỗi đau nhức trên
mình chất hết đồ đạc lên hai con ngựa, để nàng ẵm đứa bé con cỡi con ngựa lớn
khỏe nhất đi trước, và tôi cỡi con ngựa tía ngày nào đi sát theo sau, sẵn sàng
bảo vệ cho nàng trước mọi bất trắc. Thỉnh thoảng tôi nhắc nhở nàng:
- Hãy yên lòng đi, Thanh Lâm. Chúng ta sẽ rời khỏi chốn rừng
già, đến gần bờ suối trên một sườn đồi nào đó. Con của chúng ta rồi sẽ lớn lên,
mạnh mẽ như loài cây rừng cao vút vươn lên đón ánh mat trời...
Mỗi lần nghe tôi nói thế, Thanh Lâm như càng ôm chặt đứa bé
vào lòng, rồi quay lại nhìn đăm đăm vào tôi với một vẻ mặt mà niềm vui lớn như
đang cố thoát khỏi nỗi đau đớn khôn cùng.
- Coi chừng hố nước, Thanh Lâm! Hãy cho ngựa sang bên trái.
Thanh Lâm vội vã nghe theo và nàng giật mạnh dây cương thúc
ngựa nhảy qua mô đá gập ghềnh nằm trên miệng hố thẳm sâu. Chúng tôi nghe dòng
nước chảy rì rào ở dưới khe xa nổi bật trong vùng tiếng động miên man của chốn
rừng già. Gió xào xạc thổi qua vòm lá rậm, mơ hồ đâu đây những tiếng chim lạ vẳng
lên như một báo hiệu bất thường.
Bỗng tôi nhìn thấy Thanh Lâm dừng lại đột ngột, con ngựa của
nàng hí lên một tiếng vang rền, trồng hẳn mình lên như để đối phó với một kẻ
thù ác liệt. Tôi đưa nhanh tay kéo choàng khẩu súng từ sau lưng về trước mặt,
và thấy chung quanh lố nhố những đám Xà Niêng xông đến với những vẻ mặt dữ dằn.
Đồng thời chúng kêu lên thật quái gở, những lời gầm thét chứa đầy đe dọa căm hờn.
Tôi biết nếu bắn chết một kẻ nào trong bọn thì chỉ làm cho hận thù càng bốc cao
hơn khiến chúng tôi sớm chịu sự trừng phạt thảm khốc, nhưng không có hành động
nào phản ứng kịp thời chắc cũng khó lòng thoát nạn. Tôi muốn sử dụng khẩu súng
như một cây gậy đỡ đòn nhưng đám Xà Niêng đã ùa tới sát bên tôi, giật lấy khẩu
súng tôi cầm trên tay và tước đoạt các khẩu súng trên mình hai con ngựa thồ.
Các con vật này cũng thấy khủng khiếp trước đám Xà Niêng, chồm lên vừa hí vang
rừng gây một náo loạn khác thường giữa cảnh hoang vu. Tôi và Thanh Lâm cố quen
những sự đau nhức đẩy rạt đám xà niêng ra và thúc ngựa tiến về phía trước,
nhưng đám Xà Niêng cứ lăn xả vào, chúng lôi chúng tôi xuống đất. Thoáng trong
lúc đó tôi thấy đứa bé đã bị giằng lấy và Thanh Lâm đang cố chịu cào cấu để giữ
chặt lấy con mình. Đứa bé thét lên đau đớn và nàng buông tay, để bọn Xà Niêng
đoạt lấy, nhưng liền sau đó nàng đã lao xuống khỏi ngựa, điên cuồng đuổi theo bọn
họ với những tiếng kêu ai oán, vừa phai vung tay cấu xé những kẻ đồng loại đang
cố vây chặt lấy nàng.
Phần tôi, tôi đã đem hết sức mình đối phó với đám Xà Niêng để
mong mở một lối thoát lại tiếp cứu nàng. Những người rừng này quá mạnh và có
quá nhiều kinh nghiệm để không sợ hãi như xưa nên đã xuất hiện tấn công vào lúc
giữa ngày với một thái độ vô cùng quyết liệt. Bỗng tôi nghe một tiếng kêu thảm
thiết nhưng thật hết sức ngắn ngủi vang lên... đứa con chúng tôi đã bị bọn người
Xà Niêng xé nát, ném tung thi thể xuống đất với những tiếng hú điên cuồng. Về
phần Thanh Lâm nàng cũng kêu thét hãi hùng trước cảnh tượng đó và càng chống đối
lại đồng bọn nàng một cách quyết liệt dị thường. Có lẽ đó là lần đầu nàng đã
coi họ hàng mình như kẻ tử thù và nàng đã dám ngang nhiên chống cự, hùng hổ như
loài cọp dữ. Sau cái chết của đứa bé, nàng như mạnh lên gấp bội và dù mang đầy
thương tích trên mình nàng cũng xua rạt được đám Xà Niêng vây quanh, đuổi họ chạy
tan tác khắp trong rừng, và họ kêu lên hãi hùng trước khi biến dạng sau những bụi
cây rậm dày. Những kẻ còn cố chống cự với tôi nghe thấy như thế cũng vội tản
ra, lủi đi như biến ở trong rừng sâu.
Thanh Lâm muốn chạy lại về phía tôi, nhưng nàng đã ngã khuỵu
xuống. Tôi cũng không đến đỡ kịp nàng dậy vì khắp mình tôi đầy những vết
thương. Khi tôi mệt nhọc lê tới bên nàng, tôi thấy nàng nằm bất động, đôi mắt lờ
đờ vẫn ngước nhìn tôi không chớp và đôi môi nàng mấp máy chuyển động như muốn
nói một lời nào. Nhưng lời ấy Thanh Lâm không phát biểu được, và cặp môi nàng từ
từ khép lại, nàng đa thở hơi cuối cùng.
Tôi đứng yên lặng trước mồ Thanh Lâm và đứa bé con, nấm mồ mới
đắp hối hả giữa rừng già này. Tôi đã chống chọi với sự đau nhức ở trên cơ thể
và sự đau đớn sâu xa trong hồn để đào cho xong huyệt mộ suốt buổi chiều nay.
Tôi đã đặt lên trên mộ những gì còn là dấu vết của nàng và cố gắng cắm một cây
trụ gỗ khắc chữ "Thanh Lâm" bằng mũi dao săn.
Bầy ngựa đã bị họ hàng Xà Niêng sát hại trong cuộc tấn công vừa
rồi. Riêng con ngựa tía của tôi vãn còn sống sót, nhưng bị nhiều vết cào cấu
quá sâu không sao bước nổi, nằm bệt trên đất với những hơi thở nặng nề, thỉnh
thoảng choàng dậy rất là khó nhọc, rồi lại ngã xuống, nấc lên nhưng tiếng khô
khan.
Rừng sâu càng về chiều hơn càng nghe vắng lạnh u buồn. Lá rừng
xào xạc, thác nước rì rầm...
Khắp người của tôi rời rã, nhưng tâm hồn tôi càng rã rời hơn.
Tôi đứng khá lâu trước mồ Thanh Lâm, nghe hơi gió lạnh từ chốn lũng sâu thổi về
luồn trong cây lá và luồn vào trong da thịt, vào trong hồn mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét