Cô gái Xà Niêng 1
Mở đầu
Thuở nhỏ, thỉnh thoảng tôi vẫn được nghe nhiều người nói về
"con quỷ Xà Niêng" với đầu tóc rối, ẩn hiện giữa chốn rừng sâu. Những
chuyện huyễn hoặc như thế là mối ám ảnh đối với đầu óc trẻ thơ, có thể sống khá
lâu dài theo với tháng năm. Lớn lên, qua các sách vở, tôi hiểu Xà Niêng là một
giống người thiểu số ở các vùng cao, trải qua nhiều đời không có điều kiện tiếp
cận với các cuộc sống phát triển nên đã suy thoái, dần dần rơi xuống tình trạng
nửa vật, nửa người. Chúng ta từng nghe nói về người Nục, hoặc người Đồi Mồi,
hay là người Khả Lá Vàng, cũng đang chìm dần vào tình trạng ấy ở trong sâu thẳm
Trường Sơn.
Vào năm 1969, ở tại nhà lao Tân Hiệp, hai anh bạn tù dân tộc
Ra-đê là Y Bang Niê và Y Đuan Niê kể cho tôi nghe một chuyện Xà Niêng mà theo
các anh, đó là sự thực: trước đây, có một người Pháp, làm việc ở Pleiku, trong
một chuyến săn đi sâu vào trong rừng già, bắt được một con Xà Niêng. Ông đã tìm
đủ mọi cách thuần hóa con "vật-người" ấy, rồi lấy làm vợ, nhưng cô Xà
Niêng đã sớm lìa đời.
Câu chuyện có thể gợi cho chúng ta nhiều mối suy nghĩ khác
nhau, tùy theo chủ đề tư tưởng mà mình ưa thích. Một cuộc phiêu lưu kỳ thú đầy
những tình tiết bất ngờ qua sự săn đuổi giữa lòng rừng thẳm, đòi hỏi biết bao
gan dạ, thông minh. Một câu chuyện tình trái ngang giữa hai thực thể so le,
không có cảm thông, không thể đối thoại, cuối cùng dẫn đến tan vở, bi kịch. Một
sự hy sinh ở trong lĩnh vực khoa học qua sự phối hợp quái đản của các đối tượng
khác biệt giống loài. Va còn gì nữa?
Nằm trong bốn vách tường giam, suy tưởng lớn nhất thường
xuyên đến với người tù là nỗ lực giữ mình tồn tại trong sự đủ đầy nhân cách, để
khỏi làm giảm mất đi quân số của một đội ngũ sẵn sàng cho mọi tiến công. Chế độ
nhà tù đế quốc có mỗi cố gắng là kéo con người lùi lại, trở về cuộc sống bản năng:
làm cho tù nhân thấm thía về sự thèm thuồng miếng ăn, khát khao sinh lý, khiếp
sợ cái chết, ngờ vực đồng bào, đồng chí của mình. Nhà tù, theo phương thức ấy,
là một khung cảnh bắt bí để mong đánh bại con người, bảo tồn con thú, chứ không
thể nào là chỗ khai thông cho các bế tắc, vun quén cho một hồi sinh, tạo lập
cái đà thuận lợi để giúp con người lấy trớn hòa nhập kịp vào cuốc sống đang
lên. Người tù bị buộc mua vé vào cửa bằng một giá đắt, là tự do của cuộc sống,
là năm tháng của cuộc đời, và có thể, là sinh mạng. Đế quốc cũng như tay sai
bao giờ cũng muốn bán vé ra cửa bằng một cái giá đắt hơn, là sự chối từ nhân phẩm,
về phía người tù. Nhưng con người không phải loài sinh vật một chiều nên không
dễ dàng chịu sự khuất phục, con người luôn biết quẫy cựa bang tư thế đa dạng của
mình, đã biết phản kháng, biết tự chế ngự hoặc tự vượt qua, và sau những cuộc đấu
tranh quyết liệt để giành chiến thắng, con người có thể ngạc nhiên đối diện với
mình, vì không ngờ mình có thể lớn lao như thế.
Từ những ngục tù chứa đầy thủ đoạn rừng già, tôi lại nghĩ đến
những khu rừng già rất đỗi phức tạp mà chế độ ấy đã gầy tạo được, trên quê
hương này. Đó là những cái rừng-già-thành-phố, nơi mà đông đảo con người đã bị
dồn đuổi về đây để tìm sự sống và hang trú ẩn, những cái rừng già hiện đại tràn
đầy cuộc sống bản năng và những mưu toan của loài dã thú. Hãy xem đông đảo cư
dân các rừng già ấy, chúng ta thấy gì? Ben trong những chiếc xe hơi bóng lộn,
những tòa biệt thự cao sang, những bộ áo quần hợp với thời trang, là những con thú
dễ dàng để lộ nguyên hình trước các khêu gợi bản năng và những miếng mồi tư lợi,
sẵn sàng dẫm đạp lên nhau một cách bạo tàn.
Gần non thế kỷ đã qua, phố phường trên đất nước ta không phải
là sự bừng nở hợp lý của một tình trạng sinh hoạt đã được chín muồi, không phải
là những trung tâm điều tiết thích hợp với những đòi hỏi của một căn tạng mạnh
lành. Phố phường chỉ là kết quả của một áp đặt ngoại nhập, những cái dinh lũy cần
thiết cho bọn thống trị xuê-xoang với lũ tay sai, từ đấy các liều độc dược được
đem phân bố về các địa phương và cũng từ đấy máu tủy quần chúng được bòn rút về
trên các trục lộ giao thông. Phố phường đã thành một sự đối lập đầy rẫy thách
thức đối với thôn quê, phố phường là thứ hang ổ chứa nhiều cám dỗ và những lãng
phí đủ loại, một cái bụng phệ trên một cơ thể gầy còm, bệnh hoạn. Bên trong các
phố phường ấy, một thứ luật rừng đã được duy trì, luật của các sức mạnh - sức mạnh
vũ khí, sức mạnh đồng tiền, sức mạnh bản năng - và những con người yếu đuối,
nghèo khổ, cô đơn, đã bị tước đoạt hầu hết khả năng tự vệ. Sống giữa những bầy
thú rừng đã được tân trang mang đủ các loại mặt nạ thời đại, trong cái không
khí u uất của những cảnh đời don nén pha trộn các mùi rượu mạnh, khói thuốc ma
túy, son phấn, nước hoa và cả rác rưởi, vang vọng thường xuyên tiếng nhạc kích
động, những câu rao hàng khuếch đại, cùng các lời nói nịnh bợ tôn xưng, xen lẫn
các trò đố kỵ, các ngón vu cáo đê hèn bên cạnh một ngàn kiểu lối tán tỉnh sàm sỡ,
cợt đùa nhẫn tâm - giữa một môi trường như thế, con người vươn lên thật khá
gian nan. Biết bao nhiêu là bạn trẻ dạt dào sức sống nhưng thiếu bản lĩnh và
thiếu chuẩn bị vào đời, đã bị đô-thị-rừng-già hủy diệt.
Cô gái Xà Niêng hẳn cũng khát khao trở lại làm người. Nhưng nếu
để cô sống mãi trong các rừng già sâu thẳm, giữa những tiếng hú vang vọng của đồng
loại mình luôn nhắc nhở lại cội nguồn thấp kém, dĩ vãng tối tăm, luôn bị kềm tỏa
bởi bao thế lực hắc ám, cô sẽ lại chìm vào sự tự hủy.
Hãy phát quang những rừng-già-đô-thị, xua đuổi các loài ác
thú ra khỏi hang sâu, hãy xẻ dọc ngang là những con đường mở rộng giao lưu,
khai thông những bãi đầm lầy ngưng trệ, và mở vào đấy những ngọn gió lành có thẻ
xóa tan chướng khí và làm mát dịu hồn người. Công việc dọn dẹp các khu rừng ấy
là một nhiem vụ chiến đấu trong cuộc chiến đấu vĩ đại mà dân tộc ta vẫn còn đòi
hỏi mỗi người phải biết quên đi những nỗi dằn vặt riêng tư để cùng lao về phía
trước, với tư thế những con người đã biết mình sẽ về đâu, và phải lam gì cho sự
tồn tại rất là trong sáng và rất bình yên của dân tộc mình và của nhân loại.
Với những cảm nghĩ như thế tôi đã cấu tạo truyện này từ khi
còn ở nhà lao Tân Hiệp, và đã hoàn thành tác phẩm, sau khi ra tù, vào những
tháng cuối của năm 70.
30-6-1987
VH
Vào truyện
Tôi vội nhổm dạy, lắng nghe, tay sờ soạng tìm khẩu súng đặt
trên đầu nằm. Ông Chúp cũng đã thức giấc, nghiêng mình trên cái sàn tre, và
trong ánh sáng lờ mờ toả ra từ đống than hồng âm ỉ tôi thấy chiếc đầu ông ta
nhiều lần được giở hổng lên rồi lại áp xuống. Bên ngoài vẫn cái màn đêm dày dặc
khua động âm thầm bao nhiêu sinh hoạt rừng khuya.
Đã hai đêm rồi chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng động
như thế, tiếng động của nhiều bước chân dồn dập và những tiếng nói líu ríu mơ hồ,
chợt đến, chợt đi. Lần đầu, cách đây ba hôm, ông Chúp là người nghe trước những
tiếng lạ ấy. Tuổi già vốn sẵn tỉnh ngủ lại thêm bản chất tinh nhạy của một con
người rừng núi khiến ông vẫn như mở rộng cả năm giác quan giữa cơn mê mệt, do
đó không biến động nào, cho dù nhỏ nhặt đến đâu, xảy đến quanh mình có thể vượt
qua khỏi tầm kiểm soát của ông trong cơn say ngủ. Ông nằm ngay ở cửa lều mỗi
đêm, tự nguyện làm người lính gác cho tôi và có nhiều khuya trở giấc nghe những
tiếng ngáy kéo dài của ông tôi vẫn yên lòng tiếp tuc gối đầu trên cái bá súng để
chìm vào trong mộng mị chập chờn. Cái đêm đầu tiên ông Chúp đã được đánh thức
trước hết về tiếng động ấy. Ông đã nằm yên nghe ngóng rồi lại ngồi dậy chong
tai lắng nhận từng chuyển động nhỏ quanh mình, và sau nhiều lần nằm xuống ngồi
lên vì những tiếng lạ khi biến khi hiện, ông đã quờ tay khẽ đánh thức tôi.
Chúng tôi cùng ngồi gần nhau nghe ngóng hồi lâu. Chỉ có gió
núi khua lá rạt rào và tiếng thác nước ì ầm vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng vài tiếng
chim rừng kêu lên đột ngột chỉ làm tăng nỗi u buồn của chốn hoang vu. Tôi ghé
sát tai ông Chúp, thì thầm:
- Nào có nghe thấy gì đâu?
Ông già không trả lời, như chìm đắm trong theo dõi miên man của
cái thính giác vẫn còn tinh tế lạ thường. Rồi ông nói trong hơi thở:
- Bây giờ thì nó biến rồi. Nhưng nó sẽ lại kéo tới.
Tiếng nói của ông mặc dầu quá nhỏ cũng lộ rõ vẻ bất thường của
sự lo au. Cái gì đã làm ông Chúp sợ hãi như thế? Phải có sự gì quá đỗi lạ lùng
mới khiến cây cốc già cỗi của núi rừng này rung động. Ông Chúp còn cứng cáp hơn
một cây cốc rừng, ông là một tảng đá núi lì lợm đứng trơ giưa chốn sườn non mà
không có bão rừng nào lay chuyển, ông là con beo, con cọp đã mang quá nhiều năm
tháng ở trong da thịt để không biết đến khiếp sợ trước các đe dọa hàng ngày. Thế
mà bây giờ ông Chúp hồi hộp... Hay là cơn lạnh về khuya của chốn rừng sâu đã
làm giọng nói của ông mất đi cái vẻ bình thường? Tôi gặng hỏi thêm:
- Ông nghe thấy gì?
- Không rõ....
Rồi ông nói tiếp, vẫn giọng hồi hộp vừa rồi:
- Giống như nhiều người rình rập quanh đây. Nhưng không phải
người.
Tôi ngồi lặng yên, cố suy đoán qua lời nói của người dẫn đường
tuổi tác:
- Không phải người?
- Không phải.
- Một loài thú dữ?
- Không, không... Không phải loài thú. Tiếng nói của nó thật
là lạ lùng.
Ông già im lặng. Nhưng trong nỗi im lặng đó người ta vẫn nghe
xao xuyến lo âu. Lâu lắm, chúng tôi cứ ngồi chong tai như thế, đợi chờ. Rừng
đêm vẫn sống trong cảnh âm thầm, gió khuya rào rat, côn trùng tỉ tê, muôn ngàn
những tiếng động nhỏ quen thuộc ở trong bóng tối mênh mông của chốn núi ngàn
sâu thẳm, cách xa vời vợi những miền đông đảo con người sinh hoạt.
- Ngủ đi... Tôi sẽ canh chừng. Khi nào chúng kéo đến, tôi sẽ
gọi ngay.
Tôi nằm xuống sàn, loay hoay tìm lại giấc ngủ đã mất. Bên
ngoài gió núi như thổi mạnh hơn, lốc qua từng cơn ồ ạt. Cành khô gãy rụng lạt sạt
trên lều, lá rừng rơi xuống nghe như trời dội cơn mưa. Tôi kéo tấm chăn trùm
kín cả đầu, rồi gối lên khẩu súng săn tự ru hồn vào cõi mộng theo với tiếng rừng
vang dội chung quanh.
Không biết tôi nằm ngủ được bao lâu thì nghe đau nhói nơi bắp
đùi mình. Tôi vụt tỉnh thức. Ông Chúp đã bấm gọi dậy, và ông vỗ nhẹ như muốn ra
hiệu cho tôi đừng vội ngồi lên.
Có nhiều bước chân rón rén, chập choạng ở phía sau lều. Những
cành cây gãy lắc rắc, lá khô xào xạc khua dồn, tiếng thở phì phò nặng nhọc, rồi
cái vách lá như có những bàn tay nhẹ lướt qua sờ soạng. Tôi nín thở, nghe tim đập
mạnh ở trong lồng ngực, tưởng tượng một lúc nào đó những bàn tay kia chạm vào
mái tóc của tôi và tự hỏi mình sẽ phải đối phó ra sao. Khẩu súng đã nạp đạn sẵn
đang gối dưới đầu, con dao săn lớn gài trong bao da treo ở cột lều, chỉ một động
tác, một cái với tay là tôi đã nắm vũ khí được rồi.
Tôi nằm im lặng, chờ đợi cái phút quyết liệt của sự phản ứng.
Nhưng các hơi thở nhẹ dần rồi loãng tan ra cùng với tiếng
chân nhỏ lại mất hút trong sự xao động về đêm của chốn rừng già. Chỉ trong
thoáng chốc đe dọa biến đi một cách bất ngờ và tôi tưởng chừng mình đang hồi tưởng
mơ hồ sự việc của giấc chiêm bao. Nhưng từ đâu đó tôi nghe tiếng kêu, tiếng nói
líu ríu và trong các âm thanh đó chừng như có một tiếng cười của đứa trẻ con và
tiếng thét lên hết sức nhẹ nhàng của một cô gái.
Ông Chúp thì thầm:
- Nghe thấy gì không?
- Có. Tôi vẫn không hiểu thế nào.
Ông già yên lặng, chia xẻ nỗi phân vân ấy. Rất lâu sau đó,
khi chẳng còn dấu vết nào khác nữa trong muôn ngàn tiếng xao động mơ hồ của chốn
rừng sâu, ông mới sẽ lại thì thầm:
- Sáng ngày, coi các dấu chân, chúng ta sẽ biết được mà.
Tôi cũng hy vọng ông Chúp sẽ đoán được một phần nào khi nhìn
dấu vết ở trên mặt đất, ở trên thân cây sau khi hít thở hơi hướng mọi loài trên
những ngả lối chúng đi. Kinh nghiệm núi rừng đã dạy cho ông nhiều điều và ông
có thể đảo qua cặp mắt già nua sáng quắc, nhíu lại cái mũi nhỏ bé lỗ chỗ những
vết thâm đen là đọc được hết sinh hoạt của chốn rừng già. Tất cả biến thành chữ
viết sống động trong các trang sách thiên nhiên vĩ đại trải giăng trước mắt và
ông là người độc giả tinh thông mà tôi gặp gỡ đầu tiên giữa những tháng ngày vượt
suối trèo đèo.
Chúng tôi không ai còn muốn ngủ nữa. Sự nhận thấy chung về
cái hiện tượng lạ lùng vừa qua làm cho chúng tôi tỉnh táo hơn lên, tỉnh táo vì
quá lo âu bởi mọi biểu hiện khác lạ trong nơi chốn này giữa đêm khuya khoắt dễ
mang sắc thái ghê rợn, hãi hùng. Phủ chăn lên kín tận cổ, chúng tôi ngồi sát
bên nhau, không ai còn muốn nói chuyện với ai một lời, nghe gió vi vu lùa hơi
sương lạnh tê người vào trong cửa lều. Nhiều lần tôi muốn chồm xuống khơi đống
than hồng âm ỉ, cho thêm một ít củi khô, nhưng tôi lại vẫn ngồi yên. Sai bảo
ông Chúp lúc này, lòng tôi không nỡ. Đáng lẽ tự ông phải biết làm công việc đó,
nhưng ông không muốn ra khỏi tình trạng bất động của mình.
Do dự khá lâu tôi mới rút tay khỏi chăn để nhìn đồng hồ. Ba
giờ. Ít nhất phải năm tiếng nữa mới tìm lại được ánh sáng mặt trời xuyên qua
vòm lá rậm dày. Buổi mai bóng nắng chậm đến, buổi chiều bóng nắng vội đi, khoảng
ngày ở đây thật là ngắn ngủi làm cho đêm lạnh âm u trở nên dài dặc, nặng nề.
Chúng tôi ngồi dựa vào nhau, như thế rất lâu, cho đến khi tôi
nhìn ra cửa lều thoáng thấy qua kẽ lá xa có một vệt sáng lờ mờ. Vệt sáng loang
dài, chậm chạp, ngập ngừng. Tôi khẽ thở dài:
- Trời gần sáng rồi.
Ông Chúp vẫn không nói gì. Nhưng tôi thấy ông nghễnh tai nghe
ngóng hồi lâu rồi ông chợt nói:
- Sắp mưa.
Tôi lại nhìn ra cửa lều. Vệt sáng tái nhợt loang dài ở sau kẽ
lá xa xôi bây giờ đen xám lại dần. Ông Chúp không bao giờ đoán thời tiết sai lầm.
Ông cũng bén nhạy như tất cả loài thú rừng về cái mặt đó và ông co thể nghe được
đất trời biến chuyển, qua lớp da lông khắp trên thân thể của mình.
Phút chốc, mây mù che phủ vòm trời, màn tối bỗng dày đặc lại.
Căn lều nhỏ bé như chìm hút trong một sự vang động và nỗi lạnh lẽo mỗi lúc siết
lấy chúng tôi, làm cho tê nhức thịt da. Đống lửa lèo xèo lụi tắt bốc lên chút mùi
tro than khét nồng. Giữa lúc đang ngồi run lạnh, tôi nghe ông Chúp càu nhàu:
- Cơn mưa ác thật.
Cơn mưa đang xóa tất cả dau vết, dội hết hơi hướng, cuốn trôi
tất cả những gì chứng tích của sự xuất hiện vừa qua.
Tôi không đáp lại, mặc nhiên tỏ sự đồng tình. Chúng tôi đã sống
bên nhau nhiều ngày ở giữa rừng sâu và đã quen sự ít lời. Như tất cả đồng bào
Thượng, ông Chúp thích sự câm lặng hơn là tiếng nói. Lầm lì, bất động, ông như
đá núi cây rừng chìm dắm trong nỗi ngẩn ngơ kỳ lạ, nhưng cũng sẵn sàng vụt dậy,
tỉnh táo như một con sóc, lanh lẹ như một con beo. Phần tôi, mang nhiều tâm sự
u buồn, quà tặng của cái xã hội loài người đông đảo, tôi muốn vào giữa thiên
nhiên, trốn giữa bất động, im lìm của nó như trốn trong sự lãng quên mọi niềm
dĩ vãng, mọi kẻ thân yêu, moi hình ảnh và kỷ niệm nặng nề. Tôi thích sự câm lặng
đó và học sự câm lặng đó. Lại thêm cuốc sống chứa đầy gian khổ, đâu có vui gì để
nói líu lo? Chúng tôi đối phó vơi mọi bất trắc trên mỗi bước đường và chỉ có sư
yên lặng mới đủ tỉnh táo để mà kịp thời phản ứng.
Cơn mưa dai dẳng làm cho chúng tôi cùng héo ruột gan. Ở rừng
về mùa lạnh này vẫn có những cơn mưa sáng đột ngột. Chúng tôi đã quen chờ đợi,
nhưng buổi sáng này cảm thấy sốt ruột không biết bao nhiêu.
Cơn mưa dịu dần, rồi ngừng hẳn lại. Chỉ có những giọt nước
còn đọng trên cây lá lách tách tuôn rơi rạt rào theo cơn gió thoảng từng luồng.
Bây giờ trời đã sáng hẳn. Các mảng trời xa rạng dần qua các kẽ lá của những vòm
cây. Nhưng niềm hy vọng tìm biết những gì xảy đến trong đêm đã trôi theo dòng
nước lũ về các lũng thấp, khe sâu.
Cả ngày hôm ấy chúng tôi không dám đi xa và khi tối đến chúng
tôi lo lắng đợi chờ những sự xuất hiện như đêm vừa rồi. Có thể lần này mới đến
cái phút thật sự quyết liệt. Nhưng một đêm dài trôi qua, rồi một đêm nữa trôi
đi yên lành như thế, không nghe không thấy được gì. Chúng tôi gần như đã thức
ròng rã trong bốn đêm liền và đến hôm nay khi đã đốt xong ngọn lửa, ăn xong cơm
chiều, vừa đặt mình xuống sàn tre đã vùi trong giấc mê mệt.
Đêm nay, đúng là cái đêm thứ năm, những tiếng động ấy bắt đầu
hiện lại. Tôi đã tỉnh dậy không cần bấm gọi, tuồng như một nỗi thảng thốt âm thầm
vẫn đang thao thức trong tôi. Ông Chúp vẫn nằm để mà theo dõi và tôi thấy trong
ánh lửa lờ mờ ông đang khều chân kẹp lấy chiếc dáo đat nằm ở một góc lều.
Chúng tôi cùng giữ một sự yên lặng chăm chú tưởng như mỗi lúc
càng nghe rõ hơn những tiếng động nhỏ bên mình và tôi như hình dung được cái
đám kỳ lạ lố nhố chập chờn ở sau căn lều. Tôi cũng ngac nhiên không hiểu tại
sao chúng không xô mạnh vách lá để mà tràn vào. Chúng hung dữ không? Và chúng
là ai?
Đôi lúc tôi tưởng như bắt gặp được giọng nói quen thuộc của
chúng. Tôi nghe như đã có gặp đâu đó một lần những âm thanh ấy, song kỷ niệm
quá mơ hồ đến nỗi không hồi phục được dễ dàng. Những bàn tay sờ soạng trên vách
lá kêu lạt sạt và tiếng phì phò một lúc như đến gần sát tôi hơn, rồi thoáng một
cái bỗng tan biến đi, như cái đám người kỳ lạ vụt chạy vào trong rừng già.
Chúng tôi lại phải ngồi sát bên nhau chờ đợi, và lúc mặt trời
đã lên sáng rõ, vội vã kéo ra phía sau. Hôm nay không có cơn mưa nào đến bất ngờ,
chỉ có sương đêm rơi xuong khá nhiều ở trên cây lá và trên mặt đất ủ dày lá mục.
Ông Chúp tay cầm cây dáo xăm xăm đi trước, đầu hơi cúi xuống
như để đón bắt hơi hướng còn vương quanh quất với sự chăm chú mỗi lúc càng
tăng. Tôi cầm khẩu súng đã nạp sẵn đạn lò dò từng bước theo sau.
- Có thấy gì chưa?
Ông Chúp hít trên vách lá sau lều, gật đầu:
- Có thấy.
Nhưng ông đứng lặng, không nói rõ thêm.
- Thế nào?
- Tôi cũng vẫn chưa biết được. Coi đây... những dấu chân người,
nhưng nhỏ hơn người nhiều lắm.
Tôi cúi xuống nhìn chỉ thấy những vết lờ mờ trên các lá mục.
Ông Chúp nói tiếp:
- Không phải loài khỉ... Loài khỉ nhỏ hơn và chúng không chỉ
đi toàn bằng mấy chân sau. Mùi lông lá chúng cũng kỳ lạ lắm. Hăng hắc, nồng nồng...
Tôi chưa gặp giống loại này.
Ông Chúp nói lên mấy tiếng sau cùng với nỗi lo âu hiện rõ.
Chính sự không giải thích được làm cho ông già mất hẳn niềm tin nơi mình. Tôi cố
gắng nói:
- Chắc chúng không có ý gì ác độc. Nếu không, chúng đã phá
nát căn lều để mà tràn vào.
Ông Chúp lặng lẽ đáp lại:
- Những loại thú rừng hung dữ bao nhiêu cũng vẫn đa nghi.
Chúng chỉ xông vào trong lều khi biết rõ rằng trong ấy có gì. Đêm tối, bọn này
kéo đến rình mò là chúng vẫn còn dè dặt. Súng đạn, thuốc men, lương thực, mồ
hôi của chúng ta đây tiết ra những mùi vị lạ làm chúng sợ hãi. Chúng chưa phá
phách không phải là chúng hiền đâu.
Rồi ông chỉ tay lên mấy cành cây ngang tầm vai mình gị gãy,
nói tiếp:
- Chúng cao lớn lắm, ông à. Gần bằng chúng ta kia đó.
Ông lại lặng thinh, và tôi ngại rằng ở trong đau óc người già
cả ấy ý nghĩ bỏ cuộc cũng đã thành hình. Tôi nói:
- Không nên lo ngại, ông Chúp. Chúng ta quanh quẩn ở đây đã
năm ngày rồi. Hôm nay đi sâu vào trong rừng già xem sao.
Ông già vẫn đứng yên lặng, không nói một lời. Tôi lại gợi ý:
- Những cái tiếng động ban đêm có phải là người ở một buôn
nào gần đây tìm đến hay không? Có thể có nhiều buôn sống khuất lấp ở trong rừng
già chưa bao giờ gặp những người như chúng ta đây nên họ tò mò. Ta có thể đến
tìm họ...
Ông Chúp lắc đầu:
- Không phải... Không phải là người.
Nhưng rồi cuối cùng thấy tôi nhất quyết đi tới, ông ta không
dám cưỡng lời. Bây giờ sự tình giữa hai chúng tôi có vẻ đổi thay. Chuyện lạ xảy
đến trong đêm đã làm chúng tôi rúng động và dù không ai dám nói thẳng thắn ý
nghĩ của mình cho người kia biết, nhưng ai cũng thấy rằng mình phải dựa cậy vào
người kia như bấu víu vào một lẽ nương tựa cuối cùng.
Khi ngồi thổi nồi cơm sáng để mong ăn một ruột no trước khi
lên đường, tôi nói:
- Hai tháng rưỡi trời vượt núi băng rừng mới đến nơi đây,
chúng ta không thể vội vã rút lui. Ông đã chẳng bảo chúng ta hãy nên vui mừng
đó sao? Có phải ai cũng biết rõ con đường này đâu! Không, ta phải đi tới, ông
Chúp. Chẳng có gì làm cho ta sợ hãi được đâu. Hãy mang hết cung nỏ theo. Súng
tôi còn nhiều đạn lắm, đừng ngại.
Ông Chúp vẫn giữ vẻ mặt lầm lì, bất động khi nghe tôi nói.
Bây giờ tôi phải làm người dạn dĩ, và sự thay đổi vai trò đột ngột như vậy đã
làm ông bỡ ngỡ chăng? Dù sao đi nữa trong hai chúng tôi phải có một kẻ chịu phần
trách nhiệm về chuyến đi này. Những lúc bình thường thì ông Chúp lãnh cái phần
vụ ấy và tôi vui vẻ tự khuất mình đi để làm một kể lệ thuộc biết điều. Nhưng
khi gặp phải bất trắc và sự thử thách buộc phải lựa chọn thái độ thì người quyết
định sẽ lại là tôi.
Chúng tôi ra khỏi căn lều lúc mười giờ sáng. Cơm nước đã no đủ
rồi, chúng tôi gói phần dành cho buổi chiều trong chiếc mo cau. Trên con đường
đầy nguy hiểm, chúng tôi không chắc gì quay lại về chốn cũ theo như thời khắc
đã định. Một cơn nước lũ tuôn về đột ngột biến con suối nhỏ trở thành thác lớn,
ít bầy thú dữ ngăn chặn lối đi, một quãng đường mới luồn trong rú rậm, bấy
nhiêu đủ giam giữ lại giữa chốn rừng già. Vì vậy, ngoài đạn dược và lương khô,
chúng tôi còn mang theo đôi vật dụng cần thiết để phòng đêm lạnh giữa rừng.
Ông Chúp quay nhìn căn lều lần cuối với vẻ luyến tiếc rồi mới
chậm chạp đeo cung nỏ vào, cầm lấy chiếc dáo bước tới. Tôi đi theo sau, tự
nhiên cảm thấy hồi hộp về chuyến phiêu lưu của mình. Chúng tôi nhắm theo hướng
mặt trời lặn, luồn sâu vào trong rừng già. Cây cối mỗi lúc một rậm dày hơn và
hơi đá núi tiết ra lanh lẽo. Cảnh vật âm u, với những sườn núi nhấp nhô, lởm chởm
như những cửa ải gian nan ngăn giữ một miền đất mới chứa đầy huyền hoặc. Khi
lên tới một đỉnh cao nhìn xuống thung lũng xanh dày ngồn ngộn phía dưới, ông
Chúp quay lại bảo tôi:
- Nó đấy.
Tôi đảo cặp mắt, nhìn bao quát cả vùng núi bao la thăm thẳm
giăng dưới chân mình. Thật nó đấy sao? Tôi vẫn chờ đợi hàng ngày gặp nó, và vẫn
tưởng không bao giờ thấy nó. Từ lâu, nó đã trở thành một cõi kỳ bí hoang đường,
chỉ có trong câu chuyện kể của những người già bên bếp lửa hồng, thế ra bây giờ
nó đã xuất hiện ở trước mắt tôi, trong cái khung cảnh hùng vĩ mênh mông này
sao? Tôi cứ đứng yên, không nói một lời, nhìn không chớp mắt thung lũng bí mật
mà chúng tôi đã mất bao ngày tháng kiếm tìm, trải chịu bao nhiêu gian khổ, vượt
qua bao nhiêu hiểm nghèo.
Tôi liếc nhìn sang ông Chúp. Ông đã ngồi trên một phiến đá lớn,
dán mắt xuống cái biển cây xanh ngắt một màu y như là một đại dương. Ở trong
lòng biển cây này tiềm tàng bao nhiêu sức sống âm thầm, bí mật, tiếp diễn tự
ngàn vạn đời và sẽ tiếp diễn không biết bao giờ mới dứt.
Chung tôi chuẩn bị bước vào trong thung lũng ấy. Vẻ mặt của
người dẫn đường tuổi tác không gợi cho tôi chút phấn khởi nào. Chính sự xuất hiện
trong mấy đêm rồi là nguyên nhân khiến ông Chúp mất hêt bình tĩnh và sự gan da
câm lặng hàng ngày. Và bây giờ đây khi chúng tôi sắp bước vào thế giới bát ngát
cây rừng dày rậm là nơi trú ẩn của bao nhiêu loài thú dữ, một kẻ dẫn đường giao
động liệu có đủ sức giúp tôi đối phó với những bất trắc lớn lao đang đợi chờ
mình?
Tôi lại quay nhìn lần nữa vẻ mặt ông Chúp. Tôi nói:
- Chúng ta tìm đường xuống thôi.
- Xuống à?
Ông Chúp hỏi lại với một giọng điệu ngơ ngác, rồi thở dài, tiếp:
- Trời đã xế rồi. Chúng ta sẽ lạc lối mất. Quay lại, dời những
đồ vật lên đây dựng lều rồi sẽ tìm lối mà đi.
Tôi thấy ông nói có lý. Dầu sao chúng tôi cũng không thể nào
ngủ đêm dưới chân núi này. Phải dọn chỗ ở trên bờ thung lũng, mỗi ngày sẽ mở thêm
lối đi sâu vào chốn rừng già. Để người dẫn đường vui lòng, tôi sốt sắng nói:
- Phải rồi. Chúng ta sẽ quay trở lại. Nhưng hãy ăn cơm đi
nào, tôi nghe đói lắm.
Chúng tôi giở mo cơm nguội và thức ăn khô đặt lên phiến đá,
dưới những tầng cây tỏa rợp trên đầu.
Đã hai giờ chiều, mặt trời chói nắng gay gắt, hơi núi vẫn toả
mát lạnh. Ở dưới sâu kia sẽ còn lạnh lẽo chừng nào.
Hai người chúng tôi im lặng ngồi ăn và ông già Chúp xong trước,
cầm rựa đứng lên tìm một dây phok. Trong rừng vẫn có nhiều loại dây leo ruột rỗng
chứa toàn chất nước có thể chặt lấy để uống những khi không tìm được suối. Nước
trong dây phok hơi chát nhưng mà trong lành. Ông già uống xong, hứng lấy cho
tôi một ống lồ ô. Chúng tôi cùng vấn mỗi người một điếu thuốc dài và sau khi đã
châm lửa, hít được vài khói, vội tìm đường quay trở lại.
Chúng tôi về đến căn lều thì trời vừa tối. Ông Chúp loay hoay
đốt đống lửa lớn trong khi tôi lo vo gạo bắc nồi cơm lên. Cả một ngày đi vất vả
giúp tôi quên mối lo sợ đã ám ảnh tôi suốt mấy ngày qua, nhưng bây giờ đây, trở
về cố thủ trong lều, giữa cái đêm toi mênh mông dày đặc vây quanh, tôi thấy những
nỗi kinh hoàng phảng phất theo luồng gió núi quạt về. Nhưng điều khó chịu hơn hết
trong cảnh tình này là tôi không được biểu lộ nỗi lo sợ ấy, dù bằng một cử chỉ
nhỏ, và moi trao đổi với người dẫn đường phải tự kiểm soát chặt chẽ để khỏi gây
những phản ứng bất lợi. Tôi phải cố quên thực trạng của mình để người bạn già
quên đi những mối lo âu. Sau bữa cơm tối, chúng tôi kiểm điểm trở lại tất cả đồ
vật để sáng hôm sau lần lượt di chuyển đến bờ thung lũng.
Tôi có hai khẩu súng săn và hai hộp đạn. Hai hộp đạn ấy chỉ vừa
đủ nặng cho một đầu gánh và đầu gánh kia ông Chúp sẽ đeo túi gạo đủ cho chúng
toi ăn một tháng trường. Đúng ra nếu ăn mỗi ngày hai bữa thì chúng tôi chỉ đủ
dùng trong hai tuần lễ là nhiều. Nhưng chúng tôi sẽ kiếm thêm vào đó những củ
mài rừng, những củ môn núi, nhiều món thịt săn và các loại rau tươi tốt mọc đầy
ven suối. Chăn đắp, áo quần cùng những thuốc men và các vật dụng cần thiết đã
choán một ba lô đầy, đủ làm nặng trĩu đôi vai của tôi trên bước đường dài. Dao
rựa, dây thừng, một trăm thứ lặt vặt khac cần thiết cho sự nấu nướng, cho sự dựng
lều, hạ trại giữa chốn rừng sâu đã khiến chúng tôi phải chuyển ra làm hai đợt mỗi
khi có sự di động về một nơi xa. Tôi có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống giữa
rừng già và biet loại bỏ những gì thật không cần thiết để chỉ giữ lấy những món
không sao thiếu được.
Khi chúng tôi đặt lưng xuống sàn lều, mồm bì bập điếu thuốc lớn
để chờ giấc ngủ, tôi mới nhận thấy là nỗi lo sợ đã ám ảnh tôi gần một tuần nay
không sao có thể xua đuổi dễ dàng. Về phần ông Chúp, rõ ràng là ông đang sống
trong mối lo ấy. Ông vẫn nằm ngang cửa lều như mọi đêm, nhưng hơi né vào bên
trong. Chiếc dáo đặt vừa tầm tay, và cái rựa trành bén ngọt ở sẵn trên đầu. Đống
lửa được nhóm to hơn và kéo dài ra ở trước cửa lều đủ làm một cái rào cản lợi hại
ngăn các kẻ thù xông xáo. Nếu chúng tôi dựng một cái nhà sàn có lẽ chúng tôi sẽ
yên tâm hơn. Nhưng đây chỉ là trạm nhỏ trên con đường dài. Chúng tôi đã tìm chọn
một đỉnh cao và ngoài ít bụi cây rậm phía sau làm cái bình phong thiên nhiên chắn
bớt sức mạnh của ngọn gió Tây thường thổi ào ạt về khuya, căn lều đươc dựng gần
nhiều tảng đá mấp mô, tiếp một triền đất ủ dày lá mục kéo xuống thoai thoải. Với
vị trí đó, nằm ở trong lều chúng tôi có thể quan sát bốn bề một cách dễ dàng,
và với thính quan tinh nhạy của ông già Chúp chúng tôi có thể bắn hạ các loài
thú dữ trước khi chúng theo triền dốc tiến sát bên lều. Nếu không có sự xuất hiện
kỳ quái vào ngay cái đêm chúng tôi vừa dựng xong lều, có lẽ chúng tôi đã di
chuyển xong đồ vật đen bờ thung lũng từ mấy ngày trước. Nhưng chúng tôi phải mất
tiếp năm đêm chờ đợi vô ích, để lại bắt gặp sự xuất hiện ấy vào đêm vừa qua.
Đáng lẽ sau một ngày dài vất vả bây giờ đặt lưng nằm xuống
trong cái cảm giác no đủ, yên ấm, chúng tôi có thể tìm được giấc ngủ dễ dàng.
Nhưng ông Chúp vẫn thao thức. Trong ánh lửa đêm, mỗi lần quay nhìn, tôi vẫn bắt
gặp cặp mắt sáng quắc của ông long lanh như đang chăm chú chờ đợi. Phần tôi, co
nhiên là tôi không thấy buồn ngủ chút nào. Chính nỗi lo sợ vừa qua và cái niềm
vui đã tìm gặp được chỗ thung lũng ấy khiến tôi tỉnh táo lạ lùng. Tôi phà một
khói thuốc dài, quay hỏi ông Chúp:
- Thung lũng ban sáng chính là Mả Voi đấy hả?
Tôi nhớ đã hỏi câu ấy hồi chiều hôm nay ba bốn lần rồi. Và
ông Chúp vẫn ôn tồn trả lời:
- Nó đấy.
- Chúng ta có thể lầm không?
- Không. Không thể lầm đâu.
Ông Chúp cũng đã xác nhận với tôi như thế nhiều lần trong chiều
hôm nay, và không thể nào nghi ngờ lời nói của ông. Tất cả kiến thức của ông ở
chốn rừng xanh, một khi xác quyết thì vững vàng như đá núi. Và cái thung lũng
khuất lấp như hoang đường này, ong Chúp đã có nhìn thấy một lần trong cuộc đời
ông, khi ông là một đứa trẻ lên mười.
Hồi ấy, ông Chúp đang sống trong cái buôn nhỏ bám trên một sườn
núi lớn thì bị một đám người ở buôn khác vây đánh, đốt sạch cả lang, giết hết
những người già cả, trai tráng, dẫn đi một số phụ nữ và những trẻ con. Ông Chúp
bấy giờ ở tuổi lên năm lên sáu, chưa biết gì nhiều. Người mẹ của ông cõng ông
trên lưng theo đám người kia. Họ đi nhiều ngay rồi đến một vùng núi rậm có một
buôn nhỏ sống cô độc giữa rừng già. Điều mà ông còn nhớ rõ là buôn rất thưa thớt
người, và gần như không có được mấy người phụ nữ. Sau này, trong cái quãng đời
lưu lạc của ông giưa chốn rừng xanh, ông cũng gặp nhiều hiện tượng lạ lùng như
thế. Có những buôn dần mất hết đàn ông, chỉ còn phần nhiều là những đàn bà. Một
thời gian sau, những buôn như thế dần dần biến mất, đã tàn lụi đi chậm chập như
những loài cây không thể sinh sản giữa chốn thiên nhiên phá hoại không ngừng.
Cũng có những buôn tấp nập con người, thế mà vừa thoáng gặp đấy thì ít lâu sau
trở lại, ông Chúp không tìm gặp được dấu vết một người hay một căn nhà. Trên
cái mảnh đất nhẵn nhụi ngày nào, có thể bắt gặp dây bí, dây bầu chĩa những cành
lá tươi xanh nhởn nhơ một cách lạc loài, làm cái dấu vết buồn thảm của những
sinh hoạt con người, ngoài ra không con dấu vết nào khác có thể nhắc nhở rằng ở
nơi ấy đã có những kẻ sinh sống, thương yêu, khóc than rầu rĩ hoặc là cười hát
nô đùa. Có thể họ đã kéo đi nơi khác, tìm về một mảnh đất tốt xa hơn, có thể họ
đã bị một cơn bệnh ngặt nghèo tận diệt trong một đôi ngày và cũng có thể họ bị
núi rừng gặm nhấm lần hồi như con sóc kia gặm nhấm quả rừng cho thành mảnh vụn
để khoét sạch hết cái nhân sự sống bên trong. Cái buôn ông Chúp đã đến, cơ hồ
như tan rã rồi nếu không có sự tiếp lực của các đoàn người mà họ chiếm đoạt ở
nơi buôn ông, sau khi loại trừ tất cả những gì xét thấy nguy hiểm hay là thừa
thãi. Ở cái tuổi ấy, còn bám vào được lưng mẹ, cậu bé tên Chúp chưa biết buồn rầu.
Cậu cũng được họ chiều chuộng, vì những đàn ông ở nơi buôn này chăm sóc những
đám trẻ con bắt về như chính con cái của mình. Nhưng rồi ngày tháng qua mau, cậu
bé lớn lên rất chóng. Đến nam lên mười, Chúp đã quên đi tất cả những gì thuộc về
dĩ vãng và sống thảnh thơi trong cái buôn mới như chính quê hương của mình.
Nhưng có những người trí nhớ không thể phai nhòa một cách dễ dàng, nhất là trí
nhớ của người đàn bà đau khổ. Ở nơi buôn ấy lại có quá nhiều đàn bà như thế và
sự nhắc nhở lẫn nhau kỷ niệm ngày xưa khiến họ khó lòng quên được kẻ thù đang
thành người thân hàng ngày.
Tuy nhiên cũng có những người đàn bà muốn quên rất chóng dĩ
vãng của mình. Vốn sợ đau khổ, họ quay lưng lại đau khổ, thiết tha bám vào cuộc
sống trước mắt như những dây leo bám trên sườn dốc chênh vênh. Một số đã bị bệnh
tật giết chết, một số đã không thể song lâu hơn vì thời tiết xấu và những khó
nhọc kéo dài. Cuối cùng, khi Chúp lên mười thì trong số những đàn bà bị bắt về
buôn còn độ năm người muốn tìm về một cõi khác, hơn là chung sống với những kẻ
đã gây ra đau khổ cho họ. Họ đã âm mưu với nhau không biết từ bao năm rồi, Chúp
không được rõ, nhưng đến một ngày mùa xuân tươi tốt dân buôn say vùi bên những
chum rượu thì họ dắt díu lũ con, chỉ những đứa con ở nơi buôn cũ mà thôi, lẩn
trốn vào rừng. Họ đã kéo đi như thế không biết bao nhiêu ngày trời, trải qua
bao nhiêu gian khổ và nhiều người đã bỏ mạng giữa đường. Rốt lại chỉ còn hai
người đàn bà và năm đứa trẻ. Đoàn người nhỏ bé lại đi lang thang nhiều năm, và
đó là thời kỳ cậu bé Chúp học được nhiều nhất trong những trang sách rừng già.
Thung lũng Mả Voi là một trong những địa danh mà Chúp vẫn còn nhớ lại giữa những
kỷ niệm mơ hồ ngày xưa.
Đã năm mươi năm qua rồi, ông Chúp vẫn còn có thể trở lại những
nơi chốn cũ đi qua mà không lạc lối bao giờ. Trí nhớ của ông như một chất đất
quánh dẻo có thể hằn sâu dấu vết mà không bao giờ bị những năm tháng xóa nhòa.
Suốt thời gian chung sống giữa núi rừng, chưa lần nào tôi bắt gặp ở người dẫn
đường một sự thiếu sót hay một nhầm lẫn.
Đêm đã về khuya, thấy ông Chúp vẫn thao thức, tôi quay lại hỏi:
- Ngày xưa, ông đã lội vào thung lũng ấy chưa?
Ông Chúp trả lời:
- Chưa đâu.
- Sao lại không vào?
- Chỉ có những người đàn bà đau ốm và những đứa trẻ bệnh hoạn,
vào thế nào được?
Những tiếng trao đổi rì rầm trong đêm không soi sáng thêm cho
tôi được gì. Mả Voi vẫn nguyên là một bí mật. Và chúng tôi sẽ bắt đầu tìm hiểu
cái bí mật ấy trong vài hôm nữa.
Tôi nằm lơ mơ cố gắng hình dung miền đất huyền bí mà chúng
tôi sẽ bước vào. Tôi sẽ tìm gặp ở đấy kho tàng vĩ đại ngà voi lăn lóc tren một
vạt đất mênh mông, nghĩa địa bao đời của giống voi rừng. Viễn tượng một cảnh
giàu sang huyền hoặc đã làm cho tôi không thể chợp mắt. Nó lấn át hẳn ý nghĩ
ban đầu của tôi là tìm quên lãng trong sự phiêu lưu.
Nhưng sự tưởng tượng dù cố gắng dến mức nào cũng không dẫn
tôi đi xa hơn nữa trong cõi mịt mù sâu thẳm của chốn rừng già. Tôi không thể thấy
gì hơn ngoài những dây leo chằng chịt, thác nước ì ầm. Cuối cùng, giấc ngủ theo
cái âm điệu muôn thuở của chốn núi ngàn len vào xâm chiếm lấy tôi, nhấn chìm
tôi trong đêm dài tưởng như vô tận lúc nào không hay.
Khi tôi thức giấc, trời đã sáng tỏ. Ông Chúp dậy từ bao giờ,
đang ngồi nấu một ấm trà trên bếp lửa hồng. Nồi cơm đã chín đặt ở cạnh đấy. Mùi
thịt nai khô nướng thơm làm cho khứu quan của tôi khích động và cả người tôi
cũng tỉnh táo theo.
Sau một đêm dài yên tĩnh không bị phá quấy bởi những tiếng động
dị thường, ông Chúp có vẻ vui hơn là mấy ngày qua. Ông ngước nhìn tôi, ánh mắt
không còn tối lại mà long lanh vẻ sáng quắc của một người già khỏe mạnh. Hai
khóe môi ông không sụp xuống nữa, trong cái dáng điệu sẵn sàng đón nhận những nỗi
thê lương mà đã nhếch lên, chuẩn bị cho một câu nói nhẹ nhàng hay một tiếng cười.
Trong lúc tôi đem ống nước lại ngồi rửa mặt trên một tảng đá thì ông chăm chú vấn
những điếu thuốc lá dài dành sẵn cho cuộc hành trình sắp tới.
Bữa cơm sáng diễn ra trong yên lặng đượm một chút gì phấn khởi
hơn những ngày qua. Xong rồi, chúng tôi đốt thuốc, mang đồ lên vai, theo con đường
cũ đi về thung lũng Mả Voi. Hành trình gian khổ này đa quen thuộc và không có
gì đáng nói. Thú dữ, chúng tôi đã gặp nhiều rồi và đã quen rồi. Thỉnh thoảng,
sau một lùm cây nào đó, khuôn mặt vằn vện của một con hổ rình mồi hiện ra như nỗi
đe dọa bất thần nhưng rồi chính no biến mất trước khi chúng tôi nghĩ đến một
cách đề phòng. Loài hổ ở miệt này chưa quen nếm vị thịt người, nên không đáng sợ.
Trái lại, ít khi gặp người lai vãng nơi đây chúng có vẻ ngán loài vật đi bằng
hai chân khá la lùng này. Giữa chốn rừng già nỗi lo sợ không nhằm vào những giống
vật lớn. Con người tìm giết cọp, voi chứ chúng ít khi tìm hại con người, trừ
trường hợp cần tự vệ do chính con người dồn đuổi chúng vào. Nỗi lo sợ nhất
chính là những loài vật nhỏ, những giống sên, vắt tràn đầy trên các lá cành và
trong mặt đất ủ mục lá dày lưu cửu bao đời. Nỗi lo sợ còn là các loài rắn độc lẩn
khuất ở trong muôn ngàn hang hốc, nép giữa lá cành, nam bên bờ đá, vụt hiện vụt
biến, và tấn công vào những lúc ta không chờ đợi mảy may.
Nhưng loài rắn độc bao nhiêu cũng vẫn có thuốc phòng ngừa.
Ông Chúp biết cả hàng trăm thứ lá chống trừ nọc độc, và ông nghe được mùi da của
rắn, tiếng động của rắn từ xa. Tôi có thể sống bên ông như sống bên một vị thần
hộ mạng giữa núi rừng này. Thiên nhiên dù có ác độc bao nhiêu vẫn không vượt
qua được sự khôn ngoan, kinh nghiệm của những con người.
1
Hôm sau, chúng tôi quyết đinh đi vào thung lũng. Ông Chúp dặn
dò:
- Coi chừng các loài sâu bọ từ trong phân bã loài voi. Mặc áo
quần dày, hòa ít thuốc hút vào nước mà xoa khắp cả mặt mũi tay chân.
Tôi nghe theo lời, cả hai hì hục sửa soạn để lên đường. Mặt
trời đã cao, khí núi lạnh lẽo tan dần. Dưới xa, trong chốn thung lũng rậm dày
mênh mông trải giăng ngút mắt, bóng tối hẳn được xóa nhòa.
- Ta đi.
Ông Chúp bập từng hơi thuốc lá dài, gọn gàng đứng lên. Những
nỗi lo âu bây giờ đã không còn đọng từng vệt hằn sâu trên mặt người già cả ấy.
Tôi cũng nhanh nhẹn đứng theo, và hai chúng tôi kẻ mang cung nỏ, người mang
súng dài, tay cầm rựa bén từ từ đổ xuống sườn dốc chênh vênh.
Đi bộ hai tiếng đồng hồ thì tới được lưng chừng dốc. Hơi lạnh
từ dưới bốc lên từng luồng. Ông Chúp dừng lại, kéo tấm dồ lên che phủ kín mình,
khẽ nói:
- Còn lạnh nhiều lắm, hút một điếu thuốc đã nào.
Sau khi rít những khói dài, chúng tôi cố nhìn bao quát một lần
sau chót vùng xanh ngồn ngộn trước mắt để tiến sâu vào lòng nó.
Càng đi vào trong, cây cối càng rậm dày hơn, nhiều thân cây
cao vút thẳng, che rợp bóng xuống thâm u, lá cành đều mọc một lớp lông dài để
chống khí lạnh quanh năm bốc tỏa từ trong thớ đất ẩm ướt tuôn đầy lá mục. Một
chát meo mốc quánh dẻo đóng váng bên ngoài làm cho hình dáng cây cối trở nên cổ
quái, dị kỳ.
Chúng tôi nghe hơi bốc dậy từ lớp lá mục vừa hôi, vừa nồng
làm cho lồng ngực nghẹn tức như bị một sức đè nén lạ lùng. Hai thanh rựa bén
phát tung liên hồi hai bên, dạt các cành gai ra ngoài để mở một lối khó nhọc
cho chúng tôi bước chậm chạp, len lách qua những bụi rậm mỗi lúc một sum sê
hơn.
Khi mặt trời đã lên cao, hơi ngả về Tây, chúng tôi mới đi được
một quãng ngắn. Đồng hồ chỉ một giờ rưỡi. Trên ba tiếng rưỡi đồng hồ mới đi được
khoảng ba cây số đường rừng. Tôi bảo người dẫn đường đã lộ vẻ mệt nhọc:
- Dừng lại, chúng ta dùng miếng cơm trưa.
Ông Chúp có vẻ bằng lòng về lời nói đó. Chúng tôi leo lên mọt
tảng đá lớn rêu xanh mọc dày như bọc nhung êm và lấy cơm vắt, cá khô ra dùng.
Hai người yên lặng nhai cơm, không ai muốn nói với ai lời nào. Sau khi uống nước
trà nguội trong ống lồ ô, và đốt mỗi người một điếu thuốc lớn, tôi hỏi ông
Chúp:
- Thế nào? Chúng ta tiếp tục đi chứ?
Ông Chúp đảo mắt nhìn quanh:
- Đi thêm một chặng đường nữa xem sao.
Chúng tôi lại tiến sâu vào thung lũng càng lúc càng sâu hun
hút, khí lạnh vẫn còn bốc tỏa ngùn ngụt. Có lẽ ở đây không có một giờ nào thật ấm
áp, bởi cái địa thế trũng thấp hứng chiu hơi đá từ các dãy núi chung quanh và
chất đất ẩm từ ngàn đời rồi mang các thứ lá lưu cửu mục dày giữ được sức lạnh
dài lâu. Đôi rựa trên tay chúng tôi đã nghe rời rã và chúng tôi lau không ngừng
những giọt mồ hôi tuôn dài từ trán xuống mũi, xuống môi.
Đi thêm được hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi bỗng thấy xuất
hiện những con ba vỏ le xè chấp choá bay liệng trước mặt. Loài ba vỏ chỉ lớn độ
phần ba con ruồi, cánh màu vàng hoe, sinh hóa từ nơi phân bã loài voi chuyển dịch
một cách chậm chạp, song khi đã bám vào da thịt người thì chuyền ngay một nọc độc
mà nếu không kịp thời nặn chất máu ra ngay thì trong thoáng chốc chỗ vết cắn sẽ
tím bầm, tròn như nút áo và sinh ngứa ngáy. Vài ba giờ sau, nơi đó trở thành nhức
nhối rồi sưng vù lên một cách quái dị.
Ông Chúp bảo tôi:
- Ba vỏ đã thấy bay nhiều. Chúng ta sắp đến những nơi voi đã
đi qua.
Tôi không đáp lời, sợ chúng ùa bay vào miệng, tay phất lia lịa
nhành lá trước mặt để xua đuổi giống côn trùng độc hại. Mỗi lúc ba vỏ xuất hiện
càng đông đảo hơn vần vù bay lượn. Tôi kéo cổ áo và choàng chiếc khăn trùm kín
khuôn mặt, chỉ chừa đôi mắt để nhìn. Ông Chúp cũng vội làm theo như thế. Cả hai
chúng tôi đều biết nếu phải dừng tay chịu sự bất động trong giây phut thôi thì
sẽ bị giống ba vỏ làm cho khốn đốn. Vì thế mỗi người phải cử động thật gấp rút,
tay chân vung vẩy, dậm đạp liên hồi. Nhưng giống ba vỏ xuất hiện mỗi lúc càng
nhiều hơn trước. Chúng bay lè xè từng đám vàng ngầu, lắm khi che khuất cây cối
trước mặt, tạo một tiếng động vần vù, kéo dài vang vọng trong bóng lá dày như
những thanh âm trùng trùng điệp điệp.
Tôi hốt hoảng nhìn ông Chúp. Ông già như bước giữa cơn mơ sảng,
tay quơ nhanh lá, tay phát chiếc rựa trong một dáng điệu rối loạn dị kỳ.
Rồi đến khi cả hai cùng dừng bước lại. Tôi định mở miệng thì
đám ba vỏ đã ùa vào họng. Vừa khạc nhổ đám côn trùng vừa quay lắc đảo chiếc đầu
không ngừng, tôi cố quơ mạnh nhành lá ở chung quanh mặt, kêu lên:
- Ông Chúp! Chúng ta trở lại!
Thế là chúng tôi vội vã tháo lui như kẻ bại trận, bị những giống
vật li ti xua đuổi trong một vòng vây ngột ngạt. Bây giờ khỏi phải vung rựa vì
lối vừa qua đã được khai quang, chúng tôi bước đi khá mau. Tất cả nỗi lo lắng ấy
trong cơn bối rối tột độ đã làm cho quên bẵng đi nhọc mệt, và sau khi đã tháo
chạy vong mạng qua các lùm cây, bụi rậm được một quang xa, để cho gai sướt cào
trên da thịt, chúng tôi mới dừng bước lại. Thở phào, tôi nói:
- Thoát nguy.
Ông Chúp vuốt mồ hôi trán, thở dốc, không nói lời nào. Một
lát, khi đã tỉnh người, ông mới bảo tôi:
- Chúng ta không thể vào sâu trong thung lũng được.
Tôi hơi cảm thấy tuyệt vọng. Nếu là cọp beo, sói rừng hay bất
cứ loài thú dữ nào khác cản đường, chúng tôi vẫn đủ sức đương đầu. Nhưng với
loài ba vỏ này, làm sao có thể bình yên mà tiếp tục đi? Một lát, tôi hỏi:
- Không có cách gì nữa sao?
Ông Chúp vẫn ngồi yên lặng, suy nghĩ. Rồi ông chậm rãi bảo
tôi:
- Phải tìm loại lá kơ-rao đuổi ong lấy mật mới vào được thôi.
Chúng ta hãy về lều đã.
Cả hai chúng tôi vội vã quay về. Tới nơi, thì trời đã chiều.
Đồng hồ chỉ bốn giờ rưỡi, nhưng cây rừng che khuất nắng nên như sắp tối. Chúng
tôi vội nấu cơm chiều và lo đốt lửa. Ăn vội vàng xong, chúng tôi leo thang dây
lên lều lá chênh vênh ở trên ngọn cao.
Ngày đường mệt nhọc sớm đẩy chúng tôi vào một giấc ngủ mê mệt.
Đến khi mặt trời đã lên khá cao, tôi mới choàng dậy. Ông Chúp có lẽ thức giấc
lâu rồi, đang ngồi nấu nước, rít những hơi thuốc lá dài. Đêm nay không biến động
nào xảy ra, nên trông vẻ mặt của ông bình thản, yên lành.
Suốt ngày hôm đó chúng tôi lục lạo chung quanh tìm lá kơ-rao.
Đến ngày tiếp theo, chúng tôi phơi khô và quấn thành từng bo đuốc nhỏ dài. Công
việc chuẩn bị phải mất thêm vài hôm nữa. Và một buổi sáng, chúng tôi men theo
con đường hôm trước tiến vào thung lũng Mả Voi.
Chỉ mới bốn ngày trôi qua mà cây cối đã phủ kín lối đi. Núi rừng
giành lại phần sống đã bị tước đoạt, và sức vươn dậy của nó thật là nhiệm màu.
Nhưng các chồi non nhánh nhỏ không làm cản trở chúng tôi nặng nề, nên cái thời
khoảng vượt qua những chướng ngại ấy cũng rất ngắn ngủi. Khi bay ba vỏ đầu tiên
chờn vờn xuất hiện, chúng tôi chưa đốt lá cây kơ-rao. Đến lúc bị giống loại đó
vây dày như một màn mây vàng nâu vần vù, chúng tôi mới vung các bó đuốc được thắp
cháy. Như một phép lạ, chất khói xua rạt chúng đi chỉ trong thoáng chốc. Khi đã
chắc rằng không bị đe doạ bởi loài côn trùng ấy nữa, chúng tôi vội tắt đuốc gấp,
dự phòng cho những chặng đường sắp tới. Cứ thế, nhờ các cây đuốc kỳ diệu chúng
tôi đã xua đuoi được kẻ thù vô vạn liên tiếp tấn công trên mỗi bước đường gian
nan.
Tới một đám cây khá dày và thấp, chúng tôi hết sức mừng rỡ
khi nhìn thấy các dấu chân voi dẫm đầy ở trên mặt đất lồi lõm. Các dấu chân dẫm
khá sâu, lan dài trên một vạt lớn. Loài voi thường đi theo những lộ trình nhất
định, ít khi xê dịch ra khỏi con đường đã lựa chọn rồi. Thân xác vốn lớn nên
tìm ra một lối đi nào đó, dọn được con đường nào đó thích hợp là chung cứ mãi tận
dụng hành trình chọn lọc suốt trong nhiều năm. Đó là những kẻ bộ hành dẻo dai,
không hề biết đến mệt mỏi, và các tay săn bắn đều nhận biết voi là loài giống
xê dịch nhiều nhất trong các thú rừng.
Tôi đa lưu ý nhiều năm về con đường voi di động, thường là
đôi ba thung lũng gần nhau giữa có một dòng nước chảy. Lộ trình nếu gặp phải miền
đất xấu, cỏ cây cằn cỗi, thì được kéo dài cho đến khi nào gặp những thảo mộc hợp
với khẩu vị và đủ dung lượng cung ứng dồi dào cho những dạ dày rộng lớn. Voi
thường tránh xa giống người vì không muốn bị quấy rầy và muốn tìm được những
vùng cỏ cây thạnh mậu có thể nuôi sống bốn mùa. Thung lũng này thật thích hợp,
để những voi già quay về gặm lớp cỏ non trước khi chờ đợi cái chết mang đi. Các
miền ẩm ướt, cây lá quá chằng chịt này, những lớp chồi non luôn luôn có đủ cho
giống vật đó. Loài voi cứ men theo các dòng nước mà đi, ít khi bước lệch ra
ngoài quá xa, và thường lộ trình của chúng được kết thúc trong những góc rừng
hoang xa khuất, ở một miền đất hiểm trở, có những đỉnh cao vây bọc, những vạt
thung lũng sâu dày cây cối thâm u, căn cứ an toàn để thoát khỏi sự săn đuổi của
người.
Bây giờ, đã dò được lối chúng đi, con đường dẫn về Mả Voi coi
như đã được xác định một cách dứt khoát.
Chúng tôi lại tiếp tục bước, tin tưởng nhiều hơn và nỗi nhọc
nhằn cũng nhẹ phần nào. Quá trưa hôm ấy chúng tôi tới vùng cây cối rậm rạp hơn
nhiều ở trên triền đất cao hơn. Đã hết những quãng ẩm ướt quanh năm nước rỉ chảy
luồn qua các bụi lùm, đã hết những miền lá mục rã nát hòa thành một chất bùn
đen quánh đặc nhung nhúc sâu bọ dưới chân.
Triền đất không vươn cao lắm nên vẫn giữ được chất ẩm chung
quanh, lại thêm cây cối rậm dày làm cho không khí vẫn giữ mát lạnh suốt ngày
nóng bức. Loài voi sợ nóng, và chúng đã khéo chọn được một chỗ yên nghỉ thật là
lý tưởng.
Chúng tôi đi thêm chừng một giờ nữa thì bỗng nghe mùi hôi hám
nực nồng. Tôi dừng bước lại, đồng thời ông Chúp cũng khìn khịt mũi như cố phân
chất mùi hôi, rồi bảo:
- Voi đấy, chúng ta đã đến tận nơi voi chết.
Ông già rút cây nỏ ở trên vai, thủ sẵn nơi tay. Tôi cũng lấy
cây súng săn nạp đạn, chuẩn bị đối phó. Chúng tôi đều hiểu trên những xác chết
loài voi, các giống thú rừng tìm đến mở một tiệc lớn mà cọp là kẻ sốt sắng hơn
hết. Cọp thường tìm đến xác voi ăn nhậu nhiều ngày, xua đuổi các loài thú khác,
đồng thời những loài chim dữ xao xác từng luồng bay tới, chí chóe giành nhau
vang động cả rừng.
Ở đây là chỗ những con voi già cảm thấy cái chết gần kề tìm đến
yên nghỉ. Đây là Mả Voi, nấm mồ vĩ đại của loại thú rừng khổng lồ, vừa là kho
tàng lớn lao của những chiếc ngà quý giá. Từ lâu người ta cũng đã đoán biết hay
nghe nói về một nơi chốn ấy, và lòng mơ tìm nghĩa địa loài voi cũng đã ám ảnh
nhiều người, nhưng hầu như chưa có ai đến được nơi này. Một phần vì voi vốn sống
xa khuất, trong những vùng núi rậm dày giữa những địa thế vô cùng hiểm trở, con
người khó lòng tìm đến mà còn hy vọng quay về. Hơn nữa, trong nơi chốn ấy không
thiếu những loài thú rừng dữ tợn tự nguyện làm kẻ canh giữ điên cuồng để mà bảo
ve chất sống dồi dào. Thật không có kho vật thực nào sung túc hơn Mả Voi. Những
con cọp già săn đuổi mệt nhọc suốt một ngày dài ròng rã chưa chắc có gì bỏ bụng,
trong khi ở đây chất thịt thường có đủ đầy. Nhưng chính vì thế mà sự tranh
giành cướp đoạt ở đây mới thật khốc liệt. Những con vật nhỏ, những loài già yếu,
không sao đương cự lại những mãnh thú rừng xanh sung sức, luôn luôn giành quyền
chúa tể trên mảnh đất mình. Và chỉ ngày nao có nhiều voi già cũng ngã quị xuống
một lượt thì sự xô xát mới tạm hoà hoãn đôi chút, còn thì những cơn cấu xé hãi
hùng cứ tiếp tục mãi trong chốn thâm u.
Chúng tôi bắt đầu tiến bước một cách chậm chạp, lắng tai nghe
ngóng. Mùi hôi vẫn tỏa nồng nực. Tôi cố nhíu mũi, đẩy bớt những chất hôi hám,
nhưng lồng ngực quá nặng nề. Bỗng ông Chúp dừng bước lại, nép vào một gốc cây lớn.
Tôi cũng dừng lại. Ông già đưa tay ra hiệu cho tôi lưu ý. Và qua kẽ lá từ xa,
tôi nhìn thấy một con cọp đang vươn mình lên trên một khối đen khổng lồ.
Đó là một con cọp lớn, loại cọp hoàng-gia mà ta thỉnh thoảng
có thể gặp gỡ trong các núi rừng cao nguyên. Giống cọp thật đẹp, lông vàng óng
mượt, điểm những vệt đen khá đậm. Thân hình vừa mạnh, vừa mềm, chuyển động một
cách nhịp nhàng, loại cọp này có sức khỏe phi thường và sự lanh lẹ đặc biệt.
Chúng tôi có cái may mắn là đứng ở dưới ngọn gió nên cọp
không đánh được mùi. Nhưng những bước chân chúng tôi từ xa có lẽ đã khiến con vật
nghe động. Nó nhổm người lên, chong mắt về hướng chúng tôi, dáng điệu nghi hoặc.
Ông Chúp là tay thợ săn gan dạ và ông có nhiều kinh nghiệm đối
phó với loại thú này. Tôi chưa kịp làm một dấu cản ngăn đã thấy ông đưa nỏ lên
và một mũi tên lao vút rạch vòm lá dày phóng tới. Con cọp chồm lên, nhào xuống
lăn lộn kêu thét. Tôi vội chĩa súng nhắm vào đầu nó, nhả đạn. Nhưng trong lồng
lộn con vật đã né thoát được, rồi nó bỗng đứng dựng lên, phóng nhanh vào một bụi
rậm.
Tiếng nổ đánh thức tất cả sinh hoạt của loài thú rừng chung
quanh. Ông Chúp lo lắng bảo tôi:
- Coi chừng. Con hổ sẽ quay trở lại.
Những con cọp bị thương rất hung dữ và sau khi vượt khỏi cơn
hiểm nghèo chúng sẽ tìm về chốn cũ. Chúng tôi cùng bước thật mau qua phía bên
trái, nơi cây cối thưa thớt hơn.
Nhưng soạt, một tiếng động mạnh ở phía bên phải. Tôi kịp nhìn
thấy một cái bóng vàng lướt vụt qua những kẽ lá xanh dày. Lại một con khác.
Chúng tôi rõ ràng đang ở giữa một vòng vây chằng chịt của loài thú dữ. Khác với
mọi nơi, khi thấy con người đông đảo, loài cọp thường lánh xa đi, ở đây chúng
đã có đủ can đảm để mà bám lấy con mồi. Có lẽ từ lâu chúng quen coi đây là giang
sơn riêng, một cõi bất khả xâm phạm đối với bất cứ loài nao, dù là loài người.
Để đối phó lại tình hình khá nguy ngập ấy, tôi và ông Chúp
lưng tựa vào nhau chờ đợi. Khá lâu, chung quanh vẫn không có động tĩnh gì. Tuy
vậy, chúng tôi biết rằng đâu đó dưới đám lá cành dày rậm, những con hổ dữ đang
rình.
Tình thế không cho phép đứng lại đây chờ đợi kẻ địch bốn phía
tấn công. Tôi bảo ông Chúp:
- Chúng ta đi thôi, không nên gây sự với chúng làm gì. Ta bắn
con hổ vừa rồi là việc sai lầm. Hiện giờ đối với chúng ta nó không phải là thù
địch.
Ông Chúp đáp lại:
- Nó không hiểu được như ta vậy đâu. Không diệt nó trước, khó
lòng mà yên ổn được.
Chúng tôi lại chăm chỉ bước, vạch lá, rẽ cành, chong tai nghe
ngóng. Mùi hôi mỗi lúc càng nồng nặc hơn làm cho lồng ngực càng khó thở hơn. Ba
vỏ lại vần vù bay, không khí rừng già chứa đầy đe dọa.
Chúng tôi chỉ tiến rất chậm, vừa đốt đuốc lá kơ-rao vừa thủ
khí giới trên tay. Bỗng một tiếng động trên cao, ngước lên chúng tôi thấy con
beo lớn đang bám chặt lấy một nhánh cốc rừng. Đồng thời qua một bụi cây trước mặt,
chiếc lưng vằn vện của chúa sơn lâm nào đó vẽ một đường vòng nhẹ như một dải lụa
vàng phất qua. Bây giờ mọi sự sơ suất có thể trả bằng giá đắt. Tôi càng hiểu
hơn vì sao Mả Voi là nơi bí mật, nơi mà kẻ vào không có lối ra.
Bây giờ chúng tôi gần như không xê dịch được bao nhiêu. Một
lúc nào đó, lửa đuốc tan rồi, làm sao đối phó? Lồng ngực càng nặng nề hơn, khó
thở lạ lùng. Tất cả những nỗi đe dọa quanh mình không làm chúng tôi khốn đốn bằng
chính cái mùi hôi hám bủa vây. Tôi bảo ông Chúp:
- Bước tới mau lên, không thì chúng ta trở lại.
Ông Chúp gật đầu:
- Hãy đi thêm một quãng nữa, coi sao.
Chúng tôi mạnh dạn sấn tới, hướng về cái khối đen sì thoáng
thấy ban đầu. Đó là một con voi già nằm chết, một con voi đực với hai chiếc ngà
cong dài cắm chĩa xuống đất. Ở phía sau mông, cọp đã xé thành mảng lớn, phơi ra
lớp thịt nhầy nhụa và nơi đùi trước cũng rách toạc dài, dấu vết còn tươi. Ông
Chúp bảo tôi:
- Hãy đi xa mau. Có nhiều cọp đang rình rập.
Chúng tôi không muốn bị coi như những đối thủ đến đây giành mồi
vì khó lòng đương cự lại một cuộc tấn công đến từ bốn phía. Dù tiếc cặp ngà bao
nhiêu tôi cũng quay đi. Một lúc nào đó, có thể tôi sẽ quay lại nơi đây cũng chẳng
muộn gì.
Tôi và ông Chúp vừa rời xác con voi già độ chừng ít thước đã
thấy một con cọp lớn chắn ngay trước mặt. Con cọp cao to một cách kỳ dị, tôi
chưa hề gặp được một mãnh thú cỡ đó trong những chuỗi ngày lặn lội giưa chốn rừng
già.
Con vật chong mắt nhìn về chúng tôi, mình cong vòng lại trong
một thế thủ tỉnh táo, chuẩn bị một cuộc tấn công. Giữa hai con mắt, khoảng trán
phơi ra như chờ đón một viên đạn. Tôi thèm bắn vào nơi đó, tin rằng có thể triệt
hạ con vật chỉ trong nháy mắt. Nhưng liệu tôi có đối phó được hết bao nhiêu thú
dữ hiện đang vây quanh? Tôi đang chần chờ, ông Chúp đã bảo:
- Bắn đi.
- Không. Chúng ta sẽ gây náo động tất cả.
- Chúng ta cũng đã làm náo động rồi. Không cần tiếng súng,
bóng người đi vào nơi đây đã làm thức dậy muôn loài.
Ông Chúp là người dẫn đường khôn ngoan và ông ít khi hạ thủ nếu
xét thấy không cần thiết. Nhưng từ lúc vào thung lũng, tôi nhận thấy ông có vẻ
quyết liệt hơn bao giờ hết. Phải chăng đó là kết quả của nỗi sợ hãi đang làm
lòng ông hồi hộp không yên?
Chúng tôi đều hiểu phát súng hay mũi tên đầu quyết định tất cả.
Nếu phát súng đầu bắn hụt, thật là khó lòng hy vọng bắn được phát súng thứ hai
vào con thú đó. Do đó bắn một con hổ là phải vận dụng tất cả tinh thần và phải
chờ đợi cho nó trình diện trong cái tư thế tốt nhất để mà bóp cò.
Tôi nhìn con hổ trước mặt, đẹp rất oai vệ, màu lông láng mướt,
chứng tỏ đã được nuôi sống đầy đủ trên các thi thể loài voi và các con mồi
phong phú trong cái bóng mát dày rậm của thung lũng này.
Tôi biết nó không chạy trốn như các con hổ thường gặp đó đây
trong các rừng già. Hoặc là không có kinh nghiệm, hoặc là cuộc sống quá ư dễ
dãi khiến nó trở thành tự tin đến mức ngu ngốc. Dù sao không thể đứng đây để
chiêm ngưỡng nó quá lâu.
Tôi đưa súng lên, khẩu ca líp lớn 456, và nhắm vào cổ con vật
bấm cò. Tiếng nổ chát chúa vang lên, con vật không kịp có đủ thì giờ phản ứng.
Nó nằm giãy giụa, thoáng chốc đã thành một khối bất động.
Sau đó, tôi và ông Chúp lặng lẽ vạch lá đạp cây đi về một ngả
lối khác. Tôi thầm tiếc bộ da lông con thú nhưng không còn có cách nào để ở nán
lại. Bây giờ chúng tôi cố đi về ngả nào có nhiều voi đã chết, và tôi đoán rằng
chỗ đó không còn bao xa. Quả vậy, chỉ trong thoáng chốc, đã thấy rải rác trước
mắt những đống xương lớn và những chiếc ngà nằm đây đó trên mặt đất. Xương voi
khá nhiều, ngà voi đủ loại, dài ngắn nhiều cỡ. Có những chiếc bám đầy lá mục hoặc
bị chôn vùi dưới lớp đất bùn khi con voi chết cắm sâu vào đấy. Có những chiếc
đã ngả màu, không còn màu vàng tươi sáng mà nhuộm một sắc xám đen, qua những
gió mưa dầu dãi của nhiều tháng năm lạnh lẽo trong thung lũng này.
Tôi cúi xuống một gốc cây, kéo lên một cặp ngà voi trên vài
chục ký cong vòng tuyệt đẹp, bảo với ông Chúp:
- Thế là chúng ta đến rồi. Bây giờ phải làm sao đây?
Ông Chúp cũng bị xúc động trước sư tìm thấy kho tàng, tỏ vẻ
ngẩn ngơ. Rồi ông lẩm bẩm:
- Nhiều quá. Săn voi suốt một đời người cũng không được đến
như vậy.
- Không chỉ một đời mà cả mười đời cũng chưa chắc gì đã được
một phần bé nhỏ ở đây.
Ông Chúp nhìn quanh:
- Nhưng làm thế nào để mang những chiếc ngà này?
- Đó chính là điều tôi đang băn khoăn.
- Chúng ta mang chỉ một chiếc cũng vất vả rồi. Thôi hãy quay
về nghỉ ngơi rồi sẽ tìm cách lấy sau.
- Nếu chúng ta có một số ngựa thồ!
- Làm gì mà kiếm được ngựa ở đây. Có voi là tốt hơn hết. Nếu
có những buôn ở gần thế nào cũng có những giống voi thồ. Hãy quay về sẽ xem
sao.
Chúng tôi vội vàng trở lại. Con đường đã được đi qua, chuyến
về không mấy khó khăn. Đến chỗ dựng lều thì trời tối mịt, tứ chi rã rời, nhưng
lòng chúng tôi cảm thấy rộn ràng, vui sướng. Những nỗi lo sợ về sự xuất hiện kỳ
quái trong các đêm nào đã được xua tan.
Bên bếp lửa hồng reo vui giữa lòng rừng thẳm, chúng tôi ngồi
đợi cơm chín, nước sôi, với bao ý nghĩ rộn rã về một ngày mai. Dầu sao, chúng
tôi coi như đạt đến mục đích một phần. Tìm được thung lũng Mả Voi đã là một kỳ
công rồi. Vào được chính nơi chất chứa bao nhiêu ngà quý là việc không dễ gì ai
thực hiện, do những khó khăn và những bất trắc tràn đầy. Tôi đã may mắn hơn nhiều
người khác, phần lớn là nhờ ông Chúp, một người dẫn đường già dặn khôn ngoan.
Viễn ảnh sáng ngời về kho tàng ấy làm tôi bận rộn và những kỷ
niệm đau buồn đã xua đuổi tôi vào nơi rừng thẳm như chìm khuất hẳn. Tôi có cần
nhắc lại đây nguyên nhân đã khiến cho tôi trở thành một kẻ chán đời, lưu lạc
hay không? Có lẽ cũng có những người muốn biết vì sao tôi phải làm kẻ lang
thang trong chốn rừng già, và lấy sự việc giết loài ác thú làm một niềm vui, một
sự thỏa mãn sâu xa.
Tôi không ngại sự thành thật của tôi có thể trở thành trò cười,
dù tôi vẫn hiểu xã hội mà ta đang sống không thiếu những kẻ chỉ đợi khai thác
lòng thành thật của người khác để trục lợi và khiến cho sự dối trá trở nên lối
sống phổ biến của những con người muốn được an toàn. Thời ấy, tôi không được
may như nhiều bạn trẻ ngày nay, bởi vì hoàn cảnh mà ta đang sống, dù còn lắm nỗi
khó khăn, nhưng con đường về tương lai, con đường tốt đẹp dẫn về một cõi đời mới
với những lý tưởng nhân đạo, công bằng đã được rộng mở. Và những ai biết suy luận
sáng suốt về đời, hoặc có ít nhiều kinh nghiệm bi thảm về những sự tình trước mắt,
có thể rứt bỏ tất cả - ái tình, danh vọng, bạc tiền, cùng trăm thứ loại ảo ảnh
buồn cười khác nữa - để lao vào con đường ấy với lòng xây dựng nhiệt thành.
Nhưng vào thời tôi đã sống, thời bọn thực dân cỡi cổ đè đầu,
chặn đường bít ngõ, thời mà con người nhìn đâu cũng chỉ thấy sự xu mị và cảnh
sa đọa, nỗi lòng oán ghét tha nhân, ghê tởm xã hội trở thành một cái phương
cách tự vệ duy nhất. Thật không có gì làm ta đau xót bằng chỉ tìm thấy đố kỵ mà
không thấy lòng hỗ trợ, chỉ tìm thấy mối tà tâm, ác ý mà không thấy lòng cao
thượng và nghĩa kết đoàn. Trong bế tắc ấy, dễ sinh tấm lòng yếm thế, chỉ muốn
đi xa, khuất nẻo loài người.
Tôi còn nhớ rõ chú tôi đã cầm một lưỡi dao nhọn đâm ngay vào
ruột cha tôi đe mà cướp đoạt gia tài. Cái gia sản ấy, kết quả của bao nhiêu năm
chắt bóp, bon chen, đã do cha tôi gầy tạo với sự nhẫn nại và lòng khắc khoải,
tưởng làm một cái sức mạnh hòng đối phó lại cuộc sống đầy những lừa đao, bấp
bênh, nào ngờ chính là đầu mối của một tai họa. Tôi còn thấy lại cảnh người quằn
quại trên chiếc võng gai treo ở ngoài vườn một đêm trăng sáng, nơi người nằm
mát ngắm trăng và thấy từng dòng máu tuôn xuống đat đọng vũng đen ngòm, lấp
lánh ánh bạc. Từ đó, chơi trăng, thưởng nguyệt với tôi thật là dại dột, thật là
quái gở không biết chừng nào. Người ta không thể tìm được niềm vui và sự thanh
thản khi lòng còn bị vẩn đục bơi điều tư lợi, ám ảnh bởi sự ghen hờn.
Cha tôi, trước khi trút hơi thở cuối, chỉ kịp phều phào:
- Thằng chú mày... Ký Tam... Ký Tam đã giết chết tao. Đừng
cho ai biết... mà thêm... xấu hổ gia đình. Tao chết... mà nó... ở tù thì ích lợi
gì. Giao hết ruộng vườn cho nó... Nó sẽ toại nguyện... để cho các con yên ổn...
Rồi ông thở hắt, đi về thế giới bên kia. Mẹ tôi đã qua đời sớm,
chúng tôi trông chờ vào mỗi người cha tháo vát để mà lớn lên. Bây giờ thì chúng
tôi thật trơ trọi. Chú cúng như cha, đối với chúng tôi đó là câu nói cũ xì
không còn có nghĩa gì khác ngoài một cái nghĩa mỉa mai tồi tệ nhất đời. Chúng
tôi lẳng lặng đem hết gia sản giao cho người chú để xin hai chư bình an. Quả
nhiên, chúng tôi được hưởng bình an, sau khi đã mua nó bằng bạc tiền và cái mạng
sống của một người cha rất đỗi hiền từ.
Chúng tôi lớn lên trong nỗi khốn khổ mọi mặt, nhưng bù đắp lại
chúng tôi cũng trưởng thành mau do cái cuộc sống gian nan và xảo trá này ban
cho quá nhiều bài học tưởng đến nổ tròng con mắt.
Chú tôi, Ký Tam, lưu lại hình ảnh trong tôi như một ác thú,
và ấn tượng ấy thật là sâu đậm trong cuộc đời tôi. Khi tôi vào đời, rạo rực
thương yêu, tôi đã yêu thương mà không dè dặt. Tình yêu với tôi có một năng lực
cứu rỗi, ít ra tôi cũng tưởng là như thế. Sau nỗi đau xót do những ma chiết của
đời tạo nên, người ta khát thèm tình cảm, bởi lẽ tình cảm vỗ về, tình cảm có vẻ
dịu ngọt của mật mà kẻ cô đơn thường chỉ là ruồi. Tôi gặp Diễm Tuyết trong một
trường hợp tình cờ và tôi đã thương yêu nàng một cách say đắm như chưa có kẻ
nào trên đời nay thương yêu như thế. Đáp lại tình yêu của tôi, người đàn bà ấy
có sự nồng nhiệt kỳ lạ, một sự nồng nhiệt mà ta dễ có cảm tưởng đó là tặng vật
duy nhất của thứ tình yêu chân thật. Con người dễ có ảo tưởng, và sống vui vẻ
trong mê hoặc ấy cho đến một lúc ảo tưởng vỡ tan như bọt xà phòng trước gió.
Cơn gió khá phũ phàng ấy thổi vào cuộc sống chúng tôi vào một
buổi sáng mùa xuân. Sau chuyến đi xa trở về đột ngột, tôi được một người quen
thân cho biết là người đàn bà mà tôi thương yêu tha thiết và tưởng như có thể
chết vì nàng có sự đi lại quá đáng thân mật với một bạn tôi, người bạn giàu có
mà tôi tưởng rằng có thể sống chết vì tôi bất cứ là trường hợp nào. Kẻ thù lợi
hại của ta lại là những kẻ gần gũi với ta hơn hết, câu nói quá xưa cũ này vẫn
còn có giá nữa chăng?
Còn nhớ cái ngày tôi tìm đến được nơi họ hẹn hò, tôi đứng tần
ngần khá lâu trước cánh cửa phòng khoá chặt, nghe cơn giận dữ trào lên nơi cổ họng
mình. Tôi nghiến răng lại, thu chặt nắm tay, tưởng có thể đâm hay giết những kẻ
đã phản bội mình như giết một giống sâu bọ dơ bẩn nhất đời. Nhưng tôi giet họ
làm gi? Tất nhiên tôi sẽ trả giá cơn giận dữ ấy bằng những thiệt thòi bất xứng.
Hẳn tôi không đủ ngu ngốc để mà tiếp tục chịu sự gạt lừa bởi người đàn bà mà
tôi bắt đầu cảm thấy khinh bỉ và cái thằng bạn khon nạn lợi dụng tình thân để
giở những trò đốn mạt, tôi cũng không thể vì chúng mà chịu vất vả đời mình thêm
một chút nào. Vả lại, khi một người đã không còn gắn bó với ta, đã vui thích vì
lừa gạt được ta, thì ta còn bị ràng buộc gì với họ nữa? Thế là dứt khoát, ai đi
đường nấy là xong.
Tôi đứng trước căn phòng họ yêu đương để mà suy nghĩ nhẩn nha
như thế, để nghe lòng mình dịu lại trong nỗi lạnh lẽo khác thường. Có lẽ tôi đã
mang trong người tôi một sự tính toán sáng suốt như cha tôi từng nghĩ đến lợi hại
cho đám con mình, khi bị người em đâm vào giữa ruột để mà cướp đoạt gia sản.
Tôi không gõ cửa, không mở con dao mài nhọn, và lúc toan quay trở về bong dưng
tôi bật cười lớn. Tôi cười sặc sụa, cười đến ngã gập người vào cánh cửa, cười
khụy người xuống trên bậc tam cấp và không thể ngồi dậy nổi ngay liền sau đó.
Tôi cười cho sự ngu ngốc của tôi và cười cho những ngu ngốc của những kẻ khác,
như tôi, đã cứ mê lầm tưởng rằng có thể tìm được cứu rỗi ở trong vòng tay ái
tình.
Tôi chợt hiểu rõ ái tình tự nó không phải là một cứu cánh,
cũng chẳng phải là lý tưởng. Nó chỉ là một phương tiện, một loại phương tiện có
thể trở thành nhiệm màu, tuyệt diệu, nếu biết sử dụng vào một lẽ sống cao xa và
cũng có thể trở thành độc dược hay là rác rưởi nếu đi ngược những ý hướng tốt đẹp
của người.
Tôi đa để mất phần lớn cuộc đời, đánh mất quá nhiều năng lực
tuổi trẻ trong cuộc chạy đuổi theo cái ảo tưởng quái đản là vậy. Tôi đã khờ khạo
tin tưởng vào sự tuyệt đối của những liên hệ tình cảm đến mức đánh rơi cả sư cảnh
giác cần thiết có thể đưa đến phá sản lớn lao cho cuộc sống mình. Thế mà chẳng
có một đàn anh nào đi trước dạy bảo cho tôi điều ấy, ngoại trừ những bài luân
lý khô khan mà ta có thể coi như là món tâm sự lẩm cam của những chú, bác về
già.
Ái tình đã tạo cho tôi một cái hang hốc khá tốt để tôi ẩn núp
nhiều năm và lầm tưởng đó là chốn an toàn vĩnh viễn. Bây giờ thì thật hết rồi.
Sự thật trần truồng - đúng là hai tiếng trần truồng - đã xô ngã tôi trước cửa
phòng bọn gian dâm trong một tiếng cười còn bi đát hơn là tiếng khóc nữa. Có lẽ
chúng đã nhận ra được tiếng cười ấy của tôi, và sự im lặng bên trong có phải là
dấu hiệu hoảng hốt tột cùng? Tôi cũng chợt thấy tiếng cười nhiều khi lại có tác
dụng kỳ quái hơn là chửi bới, nạt nộ, dù đấy chỉ là tiếng cười của sự thất bại,
một thứ biểu chứng của lòng tự ái. Và kể từ đấy không bao giờ tôi gặp lại người
đàn bà nọ và gã đàn ông kia nữa.
Chú ruột của mình, người yêu của mình, bạn thân của mình đã
đâm vào chính giữa gan ruột mình, đã làm mất hết chút gì ảo tưởng nhân nghĩa
còn lại nơi tôi về xã hội này. Quả la trong thế giới xô bồ mà tôi đang sống, đồng
tiền lớn hơn một cái bánh xe và chiếu ánh sáng mạnh hơn mặt trời. Bởi vì ngày
và đêm, mưa và nắng, ngoài mặt và trong hồn, nơi nào cũng nhìn thấy ánh sáng ấy
chiếu tỏa và khơi dậy nguồn sinh hoạt.
Tôi đã rời nhà mà đi, vào một buổi sáng, khi mặt trời chưa
lên khỏi chân mây, quay lưng lại bóng tròn ấy, bóng tròn đổ lửa chứa chan khi
tôi lên khỏi đỉnh đồi trước mặt và tiến sâu vào rừng thẳm. Không thể sống với
xã hội loài người, tôi tìm về với thiên nhiên. Cây đá, cỏ hoa, suối ngàn, gió
núi, đó là tất cả những gì sẽ là bạn hữu của tôi, sẽ đem cho tôi quên lãng, an
vui, những thứ tình cảm mà tôi tin rằng chân thật lâu dài.
Nhưng ở trong rừng còn có vô số những loài thú dữ. Tất nhiên
là chúng không dữ bằng loài người ở trong xã hội mà tôi trốn thoát, chúng vẫn
còn khá nhiều điểm đáng yêu, nhưng chúng cũng chẳng chịu để tôi yên. Đó là lý
do khiến tôi trở thành thợ săn và tôi hăm hở đi sâu nhiều hơn vào chốn rừng
già, mỗi ngày mỗi gần gũi hơn với những tâm hồn ngay thẳng, chất phác của những
thổ dân không biết đến sự đieu ngoa của chốn phố phường, mỗi ngày mỗi cảm mến
hơn sự câm lặng của những con người ấy. Còn gì đáng để nói nhiều nữa đâu? Tôi
nhắm vào giữa đỉnh đầu hay giữa lồng ngực những con hổ lớn, những con beo già,
những con gau to, và tôi bóp cò. Tiếng nổ chát chúa vang dội trong rừng, vẳng lại
từ các hốc đá và tôi nhìn sự giãy giụa của những con mồi với nỗi say sưa khôn tả.
Mỗi lần chĩa súng về phía con vật, tôi lẩm bẩm nói:
- Đây là phát súng tặng cho Ký Tam.
Hoặc như tự nhủ với mình:
- Đây là viên đạn biếu thằng Trần Hải.
Ký Tam là chú của tôi và Trần Hải là bạn tôi, nhưng giờ đây
các danh hiệu ấy không gợi cho tôi một xúc động nào ngoài nỗi hận thù. Các loài
thú dữ đều được tôi cho mang một cái tên quen thuộc của hạng bất nhân, tàn bạo
mà tôi đã gặp trong đời, để tôi có thể trút nỗi căm hận một cách ồn ào, qua các
phát súng gửi đi một cách quyết liệt.
Như thế, không biết tôi đã giết chết bao nhiêu là bọn Ký Tam,
Trần Hải ở trong rừng già. Còn bao nhiêu kẻ phản bạn, lừa thầy khác nữa, bao
nhiêu những bọn buôn dân bán nước khác nữa, còn bao nhiêu lũ gian manh xảo trá
đều được tôi nã những phát súng lớn vào đầu, và sau đó tôi xẻ thịt, lột da
không chút ngại ngùng.
Nhưng tôi chỉ diệt được một số loại Ký Tam, Trần Hải ở trong
rừng già nhung nhúc thú dữ, còn lại Ký Tam, Trần Hải thực sự vẫn phây phây sống
ngoài đời. Chúng vẫn tiếp tục làm giàu, tiếp tục no đủ, chúng vẫn không ngừng
xây dựng những thứ gọi là hạnh phúc, yên vui cho chúng trên những khổ đau chồng
chất của biết bao nhiêu đồng loạt.
Tuy vậy, tôi chưa bao giờ nã phát súng nào vào một thú rừng gọi
là Diễm Tuyết. Dầu sao tôi cũng không nỡ gọi người đàn bà ấy là ác thú, nên tôi
không thể chĩa súng, nổ đạn vào nàng. Tôi đã lành khỏi căn bệnh si tình khá trầm
trọng ấy và tôi không còn nghĩ ngợi gì về nàng nữa. Vì tôi thấy rằng những người
đàn bà dù phải biết chịu trách nhiệm về các lỗi lẫm của mình, thì ở trong xã hội
này nguyên nhân các lỗi lầm ấy chính là ơ người đàn ông.
Cho đến một lúc tôi mới thật rõ các tên Ký Tam, Trần Hải còn
quá đông đảo ngoài đời, như trong rừng thẳm chúng còn ẩn hiên không biết bao
nhiêu. Không thể diệt chúng với một khẩu súng, không thể xoá bỏ được những hành
động xấu xa của chúng với sự cố gắng của một con người. Giữa lúc thật chán nản
đó, câu chuyện Mả Voi đã đến với tôi như một rọi sáng kỳ lạ. Tôi sẽ đi vào nơi
thung lũng ấy, một chốn vẫn còn âm u, bí mật từ ngàn đời rồi, và tôi sẽ làm chủ
một kho tàng vô giá gồm các ngà voi chồng chất qua lớp bụi mờ thời gian.
° ° °
Chúng tôi đã nghỉ hai ngày để lấy lại sức sau cuộc hành trình
vất vả vừa rồi. Coi như phần chính đã giải quyết xong, bây giờ chỉ còn lo việc
vận chuyển khối ngà voi đó ra khỏi thung lũng. Ông Chúp bảo tôi:
- Đi về phía mặt trời lặn coi xem thế nào. Theo nguồn suối chảy,
tìm có cái buôn nào không.
- Kiếm phương cách khác rồi đi tìm, có lẽ tiện hơn. Lỡ đi
không gặp, lại mất thêm nhiều ngày giờ.
- Không cách nào khác. Ở gần con sông, con suối, ta còn có thể
kết bè. Nhưng trong thung lũng chỉ có những dòng nước nhỏ.
- Nếu cái buôn ta tìm đến không có voi, ngựa thì sao?
- Ta sẽ mua một đôi trâu hay một cặp bò. Chúng sẽ giúp ta
chuyên chở được khá nhiều đó.
Đợi mặt trời lên khá cao, chúng tôi khởi hành, men theo một
dòng suối lớn đi về phía mặt trời lặn.
Suốt ngày hôm đó chúng tôi lên dốc xuống nương, vạch lá, đạp
cây, những mong tìm gặp nơi chốn có người sinh hoạt. Nhưng rừng già vẫn mênh
mông, và sự im lặng ngút ngàn trở nên thăm thẳm chứa đầy đe dọa.
Chúng tôi đã trèo lên những ngọn cây thật cao dò hơi bóng
khói, đã vượt tới những đỉnh đá chót vót để tìm đâu đó một màu vàng sẫm của những
nóc nhà. Nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy dấu vết nào của đồng loại.
Chiều đến, chúng tôi dừng lại trong một hốc đá nằm bên bờ suối.
Trong lúc ông Chúp đốn củi chuẩn bị lửa đêm, tôi lo cơm nước. Chúng tôi cẩn thận
đốt ngoài cửa hang một ngọn lửa lớn và nằm quay đầu vào trong để có thể nhìn ra
ngoài một cách dễ dàng. Sau một ngày đường mệt nhọc, tôi chìm sâu vào giấc ngủ
rất mau. Khi tôi bắt đầu lơ mơ tiến vào cõi mộng, tôi thấy ông Chúp đang còn trằn
trọc phập phèo một điếu thuốc dài.
Giữa lúc thấy mình quay về làng cũ với những kỷ niệm xa xưa
tôi bỗng nghe nhói bên vai mặt. Tôi mở choàng mắt, thấy ông Chúp đã ngồi lên, vẻ
mặt hoảng hốt. Tôi cũng vội ngồi thẳng dậy, tay chụp khẩu súng.
Ông Chúp đưa một bàn tay nắm lấy vai tôi, lắc nhẹ ra dấu bảo
tôi im lặng. Chúng tôi ngồi im, chong mắt nhìn ra phía ngoài. Qua nhứng ngọn lửa
bập bùng yếu ớt trên đám than hồng rừng rực thỉnh thoảng lèo xèo các giọt sương
khuya từ các vòm lá rơi xuống tôi chỉ nhìn thấy bóng đêm dày đặc mênh mông.
Lát lâu, tôi nghiêng mình sát ông Chúp, hỏi nhỏ:
- Gì vậy?
Ông Chúp thì thầm:
- Những tiếng động cũ... Tôi nghe tiếng kêu và tiếng kéo những
thanh củi lạt sạt. Tôi giật mình dậy, thay chúng lố nhố bên ngoài, đông lắm.
- Nhìn có rõ không?
- Không được rõ lắm. Chúng nhanh như biến.
- Phỏng chúng đông chừng bao nhiêu.
- Mười hay nhiều hơn. Không phải là vật mà cũng không phải là
người.
Tôi thấy sự hoang hốt lại hiện về trên mặt người đẫn đường.
Tôi bèn lựa lời an ủi:
- Không có gì đáng sợ cả. Chúng ta không chọc phá nó, nó phải
để cho ta yên. Trong rừng không thiếu những loài vật lạ. Có thể đó là một loại
dã nhân.
Ông Chúp vẫn ngồi yên lặng, vẻ mặt tụ những lo âu như hôm đầu
tiên bắt gặp những tiếng động ấy. Những lời an ủi của tôi đã không còn tác dụng
nữa.
Bỗng nhiên ông già rùng mình. Ông nói:
- Ta quay về thôi.
- Sao lại quay về?
- Ta đã lạc vào miền đất của những người khác, họ không muốn
ta bước đến.
- Núi rừng là của mọi người, đâu của riêng ai?
- Có những khu vực mà ta không thể bước vào. Có những khu vực
cấm kỵ.
Ông lại tram ngâm, mặt đầy những nét cương quyết của người đã
tin chắc điều mình nghĩ, dù điều nghĩ ấy chỉ là những thứ chấp nhận mơ hồ, đôi
khi quái đản, về những hiện tượng lạ lùng của chốn núi rừng.
Ông Chúp nói rõ hơn nữa ý nghĩ của mình:
- Chắc họ đã thấy chúng ta từ khi bước đến miền này, và đã
tìm cách cho ta biết đừng bước thêm vào nữa từ những đêm tối đầu tiên.
- Lấy gì làm chắc?
- Ông coi, ta đi xuống miền thung lũng Mả Voi nào gặp gì đâu?
Nhưng lên miền này, lại thấy bọn họ.
- Có thể là sự tình cờ...
- Không, không phải là tình cờ đâu.
Ông Chúp lại ngồi im lặng, đôi mắt nhấp nháy chói sáng ánh lửa
chập chờn. Tôi cũng ngồi im định bụng đợi ngày mai đến sẽ nhờ ánh sáng mặt trời
hỗ trợ cho tôi thuyết phục ông ta.
Chúng tôi đang ngồi đờ đẫn như vậy bỗng ông Chúp thẳng người
dậy, đôi tai như vểnh cao lên:
- Nó đấy...
- Ở đâu?
Tiếng ông thì thầm:
- Đang đến gần chúng ta kìa.
Tôi chong tai nghe, vẫn không nhận được cái gì khác lạ ngoài
tiếng gió thổi rạt rào, tiếng thác rì rầm xa lạ, tiếng loài thú dữ tìm mồi kêu
vẳng trong bóng đêm dày.
- Đâu nào? Tôi có nghe thấy gì đâu?
- Im! Nó kìa...
Tôi cố nhướn mắt nhìn xa, qua ánh lửa sáng bập bùng. Khúc củi
còn tươi bốc khói dày đặc, bị gió tạt vào làm cho đôi mắt của tôi cay xè. Qua
khoảng đêm đen chập chờn ánh lửa, tôi thấy bóng người lố nhố mỗi lúc một đông.
Tôi hồi hộp nói:
- Thấy rồi...
- Bây giờ chúng còn đông hơn trước nhiều.
- Hãy im, con vật lớn nhất đang cầm lấy thanh củi cháy...
Một con vật lớn, đúng hơn, đó là một người cao lớn, đang chồm
về trước kéo mọt cây cui đang cháy ra ngoài. Rồi cánh tay dài lông lá vung cây
củi lên, ném ra ngoài rừng. Cứ thế con vật liên tiếp kéo tới những cây củi
khác, ném ra chung quanh. Một số con khác, ban đầu tỏ vẻ dè dặt, đã thấy bắt
chước làm theo.
Ông Chúp bảo tôi:
- Chúng sẽ phá hết đống lửa để xông vào trong hang này.
Tất nhiên là chúng tôi không thể bắn. Thú rừng thường hóa
hung dữ gấp mười lần hơn khi bị khiêu khích, đổ máu. Kẻ ở trước mắt đông quá và
trong đêm tối không ai có thể ước lượng chúng là bao nhiêu.
Ông Chúp đã cầm cung nỏ đứng lên, cố nén một sự hoảng hốt
cùng cực. Phần tôi tuy nỗi lo sợ làm rối ruột gan nhưng đã tự trấn tĩnh được.
Và kể từ khi bước vào trong cuộc phiêu lưu giữa chốn rừng già tôi không bao giờ
quên nghĩ rằng có một lúc nào đó mình sẽ là miếng mồi ngon cho loài ác thú.
Chúng tôi đứng nhìn lớp quái vật kia vất tung củi lửa xung
quanh thêm một lát nưa. Rồi khi quá hơn phân nửa đống củi bốc cháy đã bị phân
tán đây đó ngoài rừng thì tôi không dằn lòng được, chĩa họng súng lên bóp cò.
Tiếng nổ chát chúa vang dội ở trong hốc đá, toé lửa lên đầu
đám quái vật kia khiến chúng lặng im như những thân cây trơ trọi. Ông Chúp nhìn
tôi lo lắng. Nhưng tôi đã không tự kiềm chế nỗi và cho nổ liền phát súng thứ
hai. Tôi đã cẩn thận bắn lướt trên đầu của kẻ đầu đàn để khỏi gây nên thương
tích. Lần này, sau khi âm vang tiếng nổ tắt lịm ở trong rừng sâu thì cả đám người
kỳ dị kêu lên một tiếng quái gở rồi người đầu đàn quay mình chạy vào trong các
bụi lùm. Lập tức, cả đám lố nhố theo sau, ríu rít, líu lo, bien rất nhanh trong
đêm dày.
Ông Chúp và tôi thở dài nhẹ nhõm nhưng vẫn ngồi im như thế rất
lâu. Ngoài ra, không còn một tiếng động nào khác lạ. Tất cả bầy quái vật đó đã
biến đi rồi, có lẽ đi xa hay còn lẩn quất đâu đây. Rừng khuya vẫn sống âm thầm
với những tiếng động quen thuộc. Gió lùa rào rạt qua những vòm lá, thác nước
tuôn xuống ì ầm vẳng lại từ một dòng suối gần kề. Lâu lắm, tôi mới cất tiếng:
- Ta ngủ đi thôi.
Ông Chúp ngồi im, không trả lời lại. Tôi cố gắng thoát khỏi sự
bất động mỗi lúc như vây chặt mình, tiến tới chỗ đống củi dồn quanh hang ôm một
mớ lớn bồi tiếp vào đống than hồng thoi thóp chực tàn.
Ngọn lửa dần dần bùng lên, hơi ấm lại lan toả khắp hang hốc.
Trong khi tôi lặng lẽ nằm trở xuống, ông Chúp vẫn còn ngồi im như thế ở trong
ánh lửa chập chờn.
Buổi sáng khi vừa choàng dậy, tôi hơi hoảng hốt như sẽ chứng
kiến một sự bất thường sắp đến với mình. Liệu ông Chúp có bỏ tôi mà chạy đi
chăng? Nhưng không, ông vẫn ngồi đấy, trầm ngâm với điếu thuốc dài, đôi mắt lờ
đờ phóng nhìn ở ngoài rừng xa còn tỏa sương mờ. Có lẽ ông già không dám ra đi lẻ
loi giữa chốn rừng sâu với những bóng hình đe dọa vừa rồi. Ông đã mất hẳn niềm
tin nơi mình, mất hẳn cả sự bình tĩnh quen thuộc, từ khi bầy quái vật kia trở lại
xuất hiện trong đêm.
Tôi bèn dọ ý:
- Thế nào? Chúng ta sẽ tiếp tục đi nữa chứ?
Ông Chúp lắc đầu:
- Ta trở về thôi.
- Bỏ cuộc hay sao? Đâu có dễ dàng vậy được, ông bạn già ơi.
Hãy cố gắng đi thêm một ngày nữa xem nào.
Ông Chúp lắc đầu:
- Không thể đi nữa.
Giọng nói nhẹ nhàng của ông có đủ quyết liệt để tỏ thái độ dứt
khoát. Tôi biết ông Chúp không phải người có thể làm khác một cách dễ dàng những
gì mình đã phát biểu. Nhưng tôi, con đường rộng mở trước mắt không cho phép tôi
thụt lùi:
- Ông ở lại đây chờ tôi. Tôi sẽ đi một mình vậy.
Ông già ngước mắt nhìn tôi, có vẻ kinh ngạc:
- Ông không thể đi một mình. Tôi không thể ở một mình.
- Chẳng có gì phải sợ cả, tiếng nổ đã xua bọn chúng đi xa.
- Không thể tìm thấy cái buôn đâu mà. Ông đừng liều lĩnh.
Tôi không liều lĩnh nhưng tôi đã nhất quyết rồi. Không có lối
thoát nào khác là phải tiến tới. Sau bữa cơm sáng, tôi gói gọn đồ, chia cho ông
Chúp ít gạo cùng thức ăn khô và giao cho ông một khẩu súng săn. Tôi bảo:
- Này ông Chúp ơi, ông đừng buồn nhé. Ngày nào tôi còn sống
giữa rừng già là còn nhờ sự giúp đỡ của ông. Nhưng nay ông đã không muốn tiếp tục
đi nữa thì chỉ còn mỗi một cach là tôi phải đi một mình. Ông hãy chờ tôi ở hang
đá này. Tôi chỉ đi độ hai ngày, nhiều lắm là ba ngày thôi. Ông cứ yên lòng nằm
chờ đợi đây, đừng buồn lòng nhé.
Ông Chúp lộ vẻ băn khoăn, nhìn tôi không nói nên lơi. Tôi biết
ông phải khổ tâm vì để tôi đi một mình. Một người dẫn đường không chịu dẫn dắt
đường đi, còn có sự xấu hổ nào lớn hơn nữa đâu? Nhưng ông sẽ không thể nào theo
tôi. Một khi mang nỗi sợ hãi trong lòng, ông sẽ là mối trở ngại cho tôi trên
quãng đường dài khó nhọc. Tôi an ủi ông:
- Tôi biết ông Chúp không muốn tôi đi một mình, nhưng tôi lại
thích như thế, hãy chiều tôi nhé.
Ông ta ấp úng:
- Nhưng mà... tôi... tôi...
- Được rồi, ong cứ chờ tôi ở đây. Hãy yên tâm đi. Nếu gặp được
buôn hay không, tôi cũng gắng về đúng hẹn.
Tôi đặt tay lên vai ông, nắm chặt với niềm thân mật rồi lắc
nhẹ để tạm biệt. Ông vẫn chưa hết ngỡ ngàng, nhìn tôi chăm chắm, mãi khi thấy
tôi sắp sửa quay đi mới cất tiếng nói:
- Này ông, hãy theo con nước mà đi, về hướng ngả mặt trời lặn.
Chừng một ngày thôi, không gặp cái buôn thì nên trở về.
- Tốt lắm, cám ơn ông Chúp.
Tôi bước nhanh ra ngoài rừng, men theo con suối, nhiều lúc
dòng nước quanh co khiến tôi phải mất thì giờ theo nó, đôi khi dừng lại rất lâu
vì nó chui vào một dãy rú rậm hay luồn sâu vào lòng đất. Tôi đi suốt ngày hôm
đó không có đieu gì đáng nói. Tôi cũng bắt gặp đôi con hươu nai, vài đàn gà rừng,
trâu núi, và qua các kẽ lá dày ẩn hiện thấp thoáng màu lông vằn vện của chúa
sơn lâm. Tuyệt nhiên không có một buôn nào cả. Núi rừng càng đi lên cao càng
thêm lạnh lẽo và vắng vẻ hơn. Con người có lẽ không thể tìm nơi trú ẩn nơi miền
đất này.
Buổi tối hôm đó tôi nghỉ chân lại bên bờ suối vắng, trong một
hang đá. Tôi cũng cẩn thận dừng chân trước khi mặt trời lặn xuống sau dãy non
xa và bố trí nhiều củi lửa cho một đêm dài. Rồi tôi ngủ vùi như chết không còn
hay biết gì khác. Sáng ngày, ngủ dậy quan sát xung quanh tôi hiểu rằng đêm vừa
qua không hiện tượng nào xảy đến quanh tôi. Bây giờ tôi nên tiếp tục đi nữa hay
là trở về? Tôi chưa tìm thấy buôn nào và sự bình yên trong đêm vừa qua khuyến
khích tôi tiến bước thêm. Tôi cũng đã để thức ăn đủ cho ông Chúp năm ngày, và nếu
tôi phải kéo dài hơn số ba hôm đã định thì thì ông Chúp sẽ chờ tôi thêm đôi
ngày nữa. Hẳn ông chưa dám quyết định gì hết khi còn chờ đợi. Và chỉ khi nào thật
sự tuyệt vọng về tôi ông mới ra đi, quay về buôn cũ, để chắc không bao giờ còn
dám nghĩ đến chuyện phiêu lưu trong cõi rừng già quá xa khuất này.
Tính toán như thế tôi đổi hướng đi, xuôi về các miền đất thấp,
và thêm một ngày ròng rã vẫn không gặp được buôn nào. Buổi chiều hôm ấy, ngồi
trên một tảng đá lớn nhìn khắp chung quanh núi rừng đang chìm dần trong hoàng
hôn tôi nghe nỗi niềm tuyệt vọng dâng lên tràn ngập trong hồn. Định quay trở về
hốc đá, tôi bỗng ngạc nhiên thấy cách chỗ tôi không xa có một ánh lửa le lói.
Tôi đứng thẳng lên, trố mắt mà nhìn. Rõ ràng đó là sự thực chứ
không phải là ảo tưởng.
Tôi vội choàng đồ lên vai, rời khỏi tảng đá, bươn bả đi rất
nhanh về phía đó. Tới nơi, trời đã tối sẫm, tôi thấy một chòi tranh dựng cheo
leo trên sườn núi. Bên bếp lửa đỏ một người đàn ông cùi lở đang ngồi sưởi ấm,
thảm thương, bất động. Tôi gọi mấy lần anh ta mới quay nhìn về phía tôi, hỏi tiếng
Mơ-nông bằng giọng phều phào.
- Ai đó?
- Tôi đi lạc đường, xin vào nghỉ lại.
- Vào đi.
Tôi leo lên cái căn nhà xiêu vẹo. Người đàn ông khó đoán tuổi,
rách rưới, lở lói, ở một mình giữa núi rừng, thật là một điều quái lạ. Tôi hỏi:
- Sao anh lại ở một mình?
Gã ngước nhìn tôi, không đáp. Tôi ngồi xuống một bên lửa, cố
tránh nhìn vào hình dáng khủng khiếp của con người đó. Tôi giở nắm cơm đã nấu từ
trưa, xén một phần nửa chìa về phía gã:
- Mời ăn với tôi một miếng cơm nào.
Gã chỉ lắc đầu.
- Sao ở một mình?
Tôi lặp lại câu đã hỏi. Gã vẫn nhìn tôi, cặp mắt mệt mỏi, rồi
đáp lửng lơ:
- Bệnh mà.
- Có buôn nào gần đây không?
- Có.
- Gần hay xa?
- Gần lắm, nhưng đã xa rồi.
- Sao vậy?
- Cách đây vài cái vòng rựa có một buôn nhỏ. Nhưng họ mới dời
đi xong.
- Đi đâu?
- Không biết. Chắc đi xa lắm.
- Anh cũng ở trong buôn đó phải không?
Gã khẽ gật đầu.
- Sao không đi theo?
Gã ngước nhìn tôi, buồn bã. Rồi nói:
- Khong đi theo được. Người ta bảo tôi đau ốm, phải ở trong
núi một mình. Người ta đem cơm tới cho tôi ăn, múc nước tới cho tôi uống. Rồi
hai ngày qua, không ai đến nữa. Cha tôi, mẹ tôi không đến. Anh tôi, chị tôi
không đến. Khong ai đến hết.
Gã dừng lại thở, rồi tiếp:
- Tôi đói, tôi khát, tôi trở về buôn. Không còn ai nữa. Buôn
đã bị đốt cháy rồi. Người ta đốt nó để đi nơi khác. Tôi lên ngọn cao nhìn khắp,
không thấy bóng khói nơi nào. Họ đi xa lắm. Tôi vào trong các rẫy cũ tìm có gì
để ăn không. Không còn gì nhiều. Đôi trái bắp già sót lại. Tôi nhớ có một vườn
bí nhiều trái và tôi tìm tới. Tôi thấy Hơ-Reo là người cùng buôn đang chất bí
lên lưng ngựa. Tôi cố chạy đến nhưng nó đã vội nhảy lên lưng ngựa phóng đi. Tôi
đuổi theo nó nhưng chạy không kịp. Rủi cho nó quá, con ngựa phóng mau qua khe,
bị sụp một chân vào kẽ đá lớn, ngã khụy, hất ngã Hơ-Reo xuống nước. Thế là nó
chết. Nước cuốn xác nó đi rồi. Tôi tới cứu đỡ con ngựa đưa nó về đây. Tôi biết
mình cũng không sao sống được.
- Con ngựa còn à?
- Cột ở ngoài vườn.
Nỗi chua xót về số phận của người trước mặt làm tôi không dám
nghĩ tới niềm vui trong sự hy vọng mua được con ngựa của gã.
Ăn xong, tôi vấn hai điếu thuốc dài, chìa mời gã một. Gã nói:
- Tốt lắm.
Rồi đưa mấy ngón tay đã cùn mòn, lở lói, kẹp lấy điếu thuốc.
Tôi lân la hỏi:
- Bây giờ anh định sống như thế nào?
- Tôi à?
Rồi gã lắc đầu, im lặng.
- Thế anh đổi lại con ngựa cho tôi.
- Đổi lấy cái gì?
- Đổi lấy cái gì anh muốn.
Anh ta ngó tôi, ngờ vực. Tôi tiếp:
- Tôi cần đi xa mà không có ngựa đỡ chân. Nếu anh muốn đổi
cái gì mà tôi sẵn có, tôi xin nhường ngay.
Anh ta làm thinh, không nói. Một lát, anh ta bảo tôi:
- Người ta đã bỏ tôi đây là muốn cho tôi chết giữa cái rừng.
Tôi không thể đi đâu nữa. Con ngựa chẳng giúp gì tôi, vì tôi không thể cưỡi nó.
Coi tay chân tôi, đã hư hỏng rồi.
Anh ta dừng lại, chìa tay và chân cho tôi thấy sự tàn hoại của
mình. Tôi cố ngồi im, chịu đựng cảnh đó mà không dám biểu lộ một chút gì gớm
ghiếc.
Giay lâu, không thấy anh ta nói gì, tôi hỏi:
- Vậy anh định sao?
- Cho con ngưạ đấy.
Câu nói bất ngờ làm tôi mừng đến choáng váng. Tôi ấp úng nói:
- Thật à?
Anh ta nhìn tôi, như không bằng lòng về câu hỏi ấy. Tôi tiếp:
- Anh đánh đổi vật gì đi. Này, có muốn lấy chiếc mền không?
Thuốc không? Hay các thức ăn này đây...
Anh ta mỉm một nụ cười méo mó, và đáp:
- Chẳng có gì trên người anh đổi được con ngựa ấy cả. Trừ cái
khẩu súng. Nhưng tôi biết anh không thể đổi khẩu súng đâu. Nó là cái hồn của
anh.
Anh ta dừng lại để rít hơi thuốc rồi tiếp bằng giọng hụt hơi,
khàn khàn:
- Tôi biết anh tốt. Anh có khẩu súng, anh lại khỏe mạnh mà
anh không giết hại tôi để đoạt con ngựa, anh muốn trao đổi. Tôi cho anh đó. Tôi
không nuôi nó làm gì. Nó sẽ đi hoang và thành ngựa rừng, nếu không bị cọp ăn thịt.
Gã không nói nữa, nằm xuống cạnh lửa. Tôi nói:
- Cảm ơn anh lắm! Cảm ơn anh nhiều!
- Không. Chẳng ơn gì hết. Ngủ thôi, ngày mai cứ lấy con ngựa
mà đi.
Rồi gã nhắm đôi mắt lại. Tôi nhìn gã chìm vào trong giấc ngủ,
khêu thêm ngọn lửa, rồi cũng nằm xuống cố ngủ cho lấy lại sức.
Khi tôi tỉnh dậy, ánh sáng bên ngoài đã tràn vào ngôi nhà sàn
xiêu vẹo. Không tháy người cùi ở bên bếp lửa. Chắc anh ta đi kiếm thức ăn ngoài
rừng. Tôi chờ một lát khá lâu, vẫn không thấy gã, vội rời khỏi chiếc nhà sàn. Một
con ngựa tía kha lớn, khỏe mạnh cột ở bụi cây gần đấy. Trong tình trạng này, gặp
được con ngựa thật là ngoài sự mong chờ. Tôi bước lại gần, con vật hí lớn, dậm
chân như đánh hơi người lạ mặt. Tôi vỗ vào đầu, vuốt ve bờm nó, tìm cách làm
quen. Con ngựa không lộ vẻ gì ngờ vực, hẳn đang chờ đợi gần gũi với người. Tôi
tìm ít cỏ non mướt đem về cho nó. Bị cột một chỗ gặm những lá cây chua chát
xung quanh, nay được món ăn thích khẩu, con vật dậm chân, rung đầu có vẻ ưa
thích. Tôi chợt nghĩ đên những nỗi khô khát nó đã trải chịu vì chỉ liếm được những
giọt sương đọng trên lá mà thôi. Chạy xuống mé suối ở gần đấy dùng cái gàu vải
luôn mang theo ở bên mình tôi múc một gàu nước đầy mang lên cho nó. Con vật hí
vang, dậm chân đì độp. Trong khi nó gục đầu uống miên man tôi vỗ về nó, khoát
nước lên khắp mình nó để nó hưởng sự mát mẻ thiếu thốn từ bao ngày rồi.
Đáng lẽ tôi dắt ngựa xuống suối tắm cho dễ dàng hơn nhưng thấy
cần phải thưa lại một lời với người chủ cũ. Khi đem gàu xuống lần thứ ba, thấy
chỗ khoảng nước đã bị tôi làm vẩn đục, tôi lội ngược dòng tìm chỗ sâu hơn và
trong trẻo hơn. Đang đi tôi bong chú ý đến những dấu chân không đều và không rõ
lắm lờ mờ trên cát, dấu chân của người chủ nhà tàn tật.
Anh ta đi đâu về ngả lối này? Tôi tự nhủ thầm như vậy, tiến
theo các lằn dấu ấy, hy vọng sẽ gặp người cùi hì hục hái rau hay đang mò bắt
tôm cá ở ven khe đá. Đi được một đoạn, tôi đến hõm suối khá rộng, một cái hố nước
lâu ngày gặp mùa mưa lũ tràn về tuôn xuống quá mạnh, xoáy thành vực sâu. Bây giờ
đã qua mùa mưa lụt rồi, mặt nước bình hơn và trong leo lẻo.
Dấu chân người người cùi biến mất trên một mỏm đá ven bờ. Tôi
leo lên mỏm đá ấy nhìn quanh. Không thấy gì cả. Mặt trời đã lên khá cao, rọi nắng
chang chang. Tôi cúi sát xuống trên các mặt đá. Từng vết cát nhỏ rơi rớt đây
đó. Tìm theo dấu vết, tôi đến ven bờ. Ở nơi miệng hố, một số bụi cây đã bị đè
gãy. Tôi nhìn xuống dưới đáy sâu, và tôi hoảng hốt thấy một dáng người dưới đấy.
Người cùi đã chết, có lẽ tự vẫn hơn vì một rủi ro nào. Tôi đứng
ngẩn ngơ trong nỗi buồn rầu mệt mỏi ở trên bờ suối. Nhớ lại những lời anh ta đã
nói trong đêm, rõ ràng anh ta không muốn sống nữa. Nhưng tại sao bây giờ anh mới
tự huy mình, mà không tự hủy sớm hơn hay trễ hơn? Tôi đã tình cờ đến gặp, hay
vì chính sự hiện diện của tôi đã thúc đẩy sớm cái chết anh ta? Có lẽ người ấy
không muốn tự hủy một cách cô độc, không ai hay biết, mà muốn ra đi có sự chứng
kiến nào đó của đồng loại mình. Hay là sau khi có dịp làm một việc tốt là nhường
con ngựa cho tôi, anh ta có thể ra đi mà không nuối tiếc đời mình? Dù sao, cho
đến phút cuối, con người bệnh hoạn gần như tàn phế đã bị hắt hủi bởi đồng bào
mình, bởi thân quyến mình, cũng thấy an lòng ra đi vào cõi hư vô vì đã tỏ được
thiện ý với người đồng loại.
Xác chết người cùi ở dưới đáy sâu có thể là mầm bệnh hoạn
gieo rắc đó đây khi dòng nước suối mang những xương thịt rục rã về các buôn xa.
Vả lại, để anh nằm vậy coi không đành lòng. Tôi quay về ngôi nhà xiêu vẹo, tìm
vật gì cứng đào một huyệt mộ. Không có vật gì bén nhọn, tôi phải lấy cây rựa
trành vẫn thường mang theo bên mình xuống một triền thấp, lựa chỗ đất mềm, hì hục
khá lâu mới hoàn thành được một nơi để an táng kẻ xấu số.
Rồi tôi chặt một cành giang khá dài, tra chiếc móc đẵn từ một
chạc cây gai bớm, thòng xuống kéo xác anh ta lên khỏi vực nước. Tôi không dám
nhìn lâu vào cái xác co quắp và tàn phế đó. Một nỗi kinh sợ choàng lấy người
tôi, làm tôi tê lạnh đến cả xương sống. Những tiếng chim gì kêu lên, mơ hồ, ở
trong rừng xa vọng lại. Tiếng chim rền rĩ, lạ lùng, khiến tôi lẩn thẩn nghĩ đến
oan hồn của người đã khuất.
Tôi lấy tấm chiếu cũ kỹ mà người của buôn anh ta đã dành cho
anh cuốn tròn xác lại, rồi dùng dây rừng bó chặt đem xuống huyệt mộ vùi nông một
nấm. Xong, lấy tất cả vật dụng hàng ngày của anh đem đặt lên mộ, theo cái tục lệ
của đồng bào Thượng khi chôn người chết. Đoạn tôi lâm râm khấn vái, mong anh
tìm được yên nghỉ trong phần mộ đó, và chóng quên đi cuộc đời bạc bẽo mà anh đã
từng chịu đựng lâu nay. Tôi gởi tặng vong linh anh ít giọt nước mắt mà từ lâu
tôi cứ ngỡ rằng cạn khô rồi. Có lẽ nước mắt người không bao giờ khô cạn nhưng
no cũng như bạc tiền, càng đi sâu vào cuộc sống khó khăn, những kẻ từ sớm đã
quá phung phí về sau càng biết dè sẻn hơn lên để chi tiêu vào những dịp thật là
cần thiết.
Tôi lo xong việc tống táng ân nhân của tôi thì đã quá nửa buổi
rồi. Mệt mỏi nhưng an lòng hơn, tôi quay về chòi nấu cơm. Lúc chờ cơm chín, tôi
dắt con ngựa xuống suối tắm rửa, kỳ cọ và cột nó gần một bờ cỏ tốt.
Ăn xong, tôi thu xếp gọn đồ đạc và đi ra suối, phóng lên mình
ngựa tìm đường về nơi ông Chúp đợi chờ. Con ngựa còn sung sức lắm, tôi ép nó chạy
khá mau, nhưng khi trời vừa sụp tối tôi chỉ đi được chừng hai phần đường. Tôi dừng
lại một triền núi, đốt nhiều đống lửa xung quanh để tôi và con ngựa quý vào giữa.
Khẩu súng của tôi luôn nạp sẵn đạn, khóa an toàn cũng không gài, để chực phòng
hờ bên mình. Tôi ngủ yên tâm vì biết con ngựa là người lính gác mẫn cán, bởi nó
đánh hơi được loài thú dữ từ xa và tiếng nó hí sẽ thức tôi dậy kịp thời trước mọi
bất trắc.
Vừa dậy, tôi đã lên đường tức khắc. Đã qua thời hạn ba ngày hẹn
với ông Chúp. Có lẽ bây giờ ông ta đang sống trong nỗi giày vò, lo lắng cực độ
vì thấy tôi chưa trở về. Tôi muốn đến sớm để ông khỏi mong vì tôi nghĩ ông sẽ cố
nán chờ chứ không tuyệt vọng bỏ đi.
Tôi không cho ngựa dừng lại gặm cỏ xanh mướt ven đường. Thỉnh
thoảng, tôi cũng hái được một ít trái rừng chua chát qua các lối đi, và tôi lót
lòng tạm đỡ, đợi về tới chỗ mới thổi cơm ăn.
° ° °
Giữa trưa hôm đó, tôi về đến chỗ ông Chúp chờ đợi. Từ xa,
nhìn thấy hang núi, tôi đã phập phồng không biết ông còn ở đó hay không. Tôi
thúc con ngựa đuối sức, ướt đẫm mồ hôi, và con vật nghe theo tôi một cách miễn
cưỡng. Khi vào miệng hang, tôi chưa kịp bước xuống ngựa đã thấy ông Chúp chạy
ra, một ông Chúp già đi nhiều sau hơn ba ngày chờ đợi, vẻ mặt còn in những nét
thảng thốt qua những đêm ngủ không yên. Tôi hỏi:
- Ông vẫn tin rằng tôi sẽ trở lại đây chứ?
Ông Chúp nở một nụ cười khô héo, trả lời:
- Không, tôi không tin ông sẽ trở về được.
- Nhưng tôi đã về và có cả ngựa nữa kia. Ông coi, con ngựa
tuyệt đẹp.
Ông Chúp bước lại vuốt ve con vật, có vẻ sững sờ trong nỗi ngạc
nhiên. Ông hỏi:
- Tìm ở đâu vậy?
- Ở giữa rừng già, trên ngọn núi cao. Thật cũng không ngờ,
ông ạ. Dịp may thường đến vào lúc mà ta tưởng như là tuyệt vọng nhất.
Rồi tôi kể lại câu chuyện vừa qua cho ông Chúp nghe. Ông Chúp
có vẻ cảm động khi biết người cùi đã chết sau khi gặp tôi và giao cho tôi con
ngựa. Ong lẩm bẩm nói:
- Tội nghiệp. Anh ta không muốn sống nữa là phải lắm rồi. Anh
ta đang cần một người chôn cất và đắp cho anh nấm mộ. Ông đã đi tới đúng vào
cái lúc anh ta chờ đợi. Anh ta thực là may mắn.
Rồi ông thở dài, nói tiếp:
- Chỉ sợ như chúng ta đây, đến lúc nằm xuống giữa rừng già này
mà không có được một nấm mộ nào.
Tôi hiểu những ý bi quan do sự cô độc vừa qua đang còn hành hạ
ông già và tôi vội vàng nói lớn:
- Đừng nghĩ như vậy, ông Chúp. Đừng làm thêm buồn cái ruột
chúng ta bằng những điều nghĩ mơ hồ. Ông xem, cái gì chúng ta mong đợi đều có cả
rồi. Chúng ta mơ ước Mả Voi, và chúng ta đã tìm đựơc. Chúng ta mong ước một con
vật thồ và chúng ta đã có đấy. Chúng ta đang ở giữa rừng già này chứ đâu phải ở
trong buôn mà mọi việc đều có người giúp sức? Thế là quá tốt cho chúng ta rồi. Đừng
nên nghĩ ngợi những gì làm cho chúng ta nản lòng.
Ông Chúp làm thinh nhưng trên nét mặt của ông có những gợn buồn.
Tôi đành phải hỏi về điều mà tôi muốn tránh:
- Thế nào? Mấy ngày hôm nay có gì phá rối giấc ngủ ông không?
Ông Chúp nhíu mày, đáp lại:
- Vào cái đêm đầu khi ông ra đi thì không có gì xảy đến.
Nhưng qua đêm sau, chúng không chịu để tôi yên.
- Chúng làm những gì?
- Chúng đến vào khuya, ném đất vào trong đống lửa. Chúng đông
hơn lần trước nhiều. Tôi dùng khẩu súng mà ông để lại bắn liền máy phát, chúng
mới chịu đi. Qua đêm vừa rồi, không thấy chúng trở lại nữa.
- Ông xem, chúng chỉ tò mò vậy thôi. Chúng không cố ý làm hại
ta đâu.
Ông Chúp lặng làm thinh, tôi có cảm tưởng những lời vừa nói
không làm cho ông yên lòng bao nhiêu. Lát sau, khi chúng tôi đã thổi cơm và ăn
uống xong, nằm trên một tảng đá lớn tỏa rợp bóng cành ngắm nhìn con ngựa ăn cỏ
ven bờ suối nhỏ, ông Chúp mới hỏi:
- Thế nào? Bao giờ chúng ta vào lại Mả Voi?
- Hãy nghỉ thêm một vài hôm cho khỏe đã chứ.
- Thức ăn chúng ta không còn nhiều đâu. Chần chờ quá lâu, lấy
gì mà ăn trong những ngày gian nan ấy? Nhưng nếu đi ngay, tôi ngại ông và con
ngựa không còn đủ sức. Vậy nên dời về chốn khác có thể không bị quấy phá ban
đêm, rồi tìm thêm ít củ mài và cây trái rừng ăn dặm với gạo còn lại, mới tính đến
chuyện vào Mả Voi được.
Tôi thấy ý kiến ông Chúp hợp lý, và sau một giấc ngủ trưa ngắn
ngủi tạm lấy lại sức, chúng tôi rời khỏi hang núi.
Chúng tôi quay về nơi đã dựng lều từ hôm mới đến, nghỉ lại
năm hôm. Trong ba ngày đầu chúng tôi đi đào củ mài và hái trái rừng. Củ mài, củ
nhen ở đây khá nhiều. Một phần chúng tôi xắt nhỏ phơi khô để dành nấu trộn với
cơm, một phần làm bột. Không có dụng cụ chúng tôi mài những củ nhen trên đá, đặt
trong một tấm khăn lớn, rồi nhồi bột ấy thành những bánh nhỏ. Để kịp thời gian
chúng tôi không thể chờ phơi ngoài nắng, vì nắng ở đây thường bị bóng mát cây
dày và trời mù sương che kín, nên nung trên lửa than hồng. Các bánh củ nhen khô
cứng, khá nhẹ, mang theo thật là thuận tiện, cần ăn chỉ cần khuấy trong nước
đun sôi với một ít muối hay đường là có chất bột thơm ngon. Về muối, chúng tôi
vẫn phải dè sẻn và thường ăn dặm bằng loại rễ tranh, lá sim đốt cháy. Các loài
cây cỏ này có chất muối nhưng không đủ mặn như muối bể, dù vậy cũng giúp cơ thể
chúng tôi chịu đựng được thiếu thốn giữa rừng già. Còn đường thì chúng tôi thật
khan hiếm, phải tìm những loại cây rừng chín ngọt sấy trên than hồng dành để
mang theo. Trai rừng có khá nhiều loại, nhiều thứ thật ngon ngọt nhưng chúng
tôi không biết tên, cũng chưa hề gặp những giống tương tự ở dưới đồng bằng.
Chúng tôi luôn luôn no đủ vì núi rừng là một kho thực vật phong phú lạ lùng.
Sau năm ngày nghỉ nhưng thực là dành cho việc chuẩn bị khai
thác Mả Voi, chúng tôi lên đường. Mọi sự gian khổ trong chuyến đi này không có
gì lạ để tôi nhắc lại ở đây. Chúng tôi đã phải đương đầu với cọp, với voi, với
nhiều loại thú dữ nữa, để tự bảo vệ và bảo vệ con ngựa quý bây giờ là cái
phương tiện tiếp vận duy nhất mà chúng tôi có. Dù sống quen giữa núi rừng, con
ngựa chúng tôi cũng cảm thấy nỗi khiếp sợ khi vào thung lũng Ma Voi, nơi đông đảo
chúa sơn lâm ngự trị, nên chúng tôi phải mất nhiều công sức để giữ nó vững tinh
thần.
Số ngà được chúng tôi chở mỗi lần từ năm đến sáu cặp thôi, vì
không thể buộc con ngựa đèo quá một trăm kilô. Những cặp ngà tốt trên hai chục
ký và chưa phai màu vì sức thời gian phá hoại được chúng tôi lựa chọn trước. Cứ
vậy, ông Chúp đi đầu dẫn đường, tôi bước theo sau hộ tống, đoàn của chúng tôi
vượt qua rừng già, gai góc, vượt qua mây mù của giống ba vỏ hút máu, vượt qua
những cuộc tấn công quyết liệt của loài ác thú, để về một hang đá lớn được che
đậy kỹ làm cái kho tàng chất chứa ngà voi.
Cứ sau một chuyến vận tải như vậy, chúng tôi lại nghỉ vài
ngày dưỡng sức. Người và ngựa đều vất vả vì sự căng thẳng trong cuộc đối phó với
nhiều kẻ thù, vì sự gian khổ của mỗi chuyến đi. Chúng tôi cũng tự giới hạn
không cho phép mình nổ súng ở trong thung lũng, sợ làm kinh động quá đáng các
loài dã thú hoặc khiêu khích chúng. Bây giờ đã thuộc đường lối, chúng tôi tiến
vào thung lũng Mả Voi một cách âm thầm, lén lút, như những kẻ trộm lấy bớt của
quý ở trong kho tàng rừng già được giao cho loài thú dữ trông coi. Chỉ khi ra
ngoài thung lũng chúng tôi mới bắn những con mồi nhỏ để làm thức ăn. Ở đây thịt
rừng khá nhiều nên sự bồi dưỡng thật là dồi dào. Trong các ngày nghỉ, chúng tôi
chỉ cần đi săn vào một đôi giờ là có đủ thịt ăn đôi ba tuần. Các loài rau ở ven
suối ngồn ngộn tươi xanh và thật ngon ngọt.
Từ chỗ chúng tôi hạ trại đến hang núi được sửa dọn để cất ngà
voi không xa vì vậy sau vài chuyến đi, trở về chúng tôi dời hẳn đến ở nơi hang
cho tiện. Chúng tôi đốt củi trong hang suốt ngày cho bớt khí ẩm, rồi đẵn những
cây gỗ dài kê trên lớp đá làm bục chất các thớt ngà. Ở nơi miệng hang, chúng
tôi làm một cửa bằng cây lớn và chèn thêm nhiều đá to. Tuy không sợ sự phá
phách hay mất cắp giữa rừng già, nhưng chúng tôi muốn kho tàng được an toàn, bởi
chuyển vận còn đòi hỏi dài ngày.
Sau khi đi được tám chuyến, chúng tôi đều đã thấm mệt và quyết
định nghỉ đôi ba tuần lễ để hồi phục lại sức khỏe và có thể về những miền gần
nơi qua lại khách buôn hỏi thăm giá cả để bán ngà voi. Chúng tôi đã nhìn thấy
trước những món tiền lớn sẽ thâu lượm được và viễn ảnh ấy phần nào lại làm
chúng tôi thành biếng lười hơn.
Hôm ấy, vào một buổi sáng tốt trời chúng tôi lên đường mang
theo năm cặp ngà voi đẹp nhất. Riêng con ngựa chở bốn cặp, tôi và ông Chúp một
cặp, dặm về của ba chúng tôi không kém gian nan vì con đường vào thung lũng Mả
Voi là một hành trình ít ai kham nổi từ trước đến giờ.
Phải mất gần hai tuần lễ chúng tôi mới đến vùng đất gần miền
phố thị. Món hàng chúng tôi được tieu thụ sớm với một giá hời do các Hoa Kiều
sinh cơ lập nghiệp tại các khu chợ miền núi mua lấy để bán ra ngoài. Đã có tiền
rồi đáng lẽ tôi nấn ná lại phố phường một thời gian dài cho quên bớt nỗi mệt nhọc
của những tháng ngày vất vả, cô độc, để hưởng thú vui chỉ tìm thấy được ở những
chỗ đông người với những tiện nghi của cái thời đại gọi là văn minh, nhưng chừng
như tôi đã mất hẳn thói quen ấy, thói quen sống giữa sinh hoạt xô bồ trong một
xã hội mà tôi nhìn toàn là giả dối, mưu mô, với những con người mang những mặt
nạ gớm ghiếc. Tôi nhớ những khu rừng rậm gai góc mọc đầy, nhớ những hoa ngàn,
nước suối, nhớ cả những loài thú dữ mà tôi đã từng gặp gỡ hay từng bắn ngã, nhớ
những buôn Thượng cheo leo trên các sườn non, nhớ cả những nỗi đe dọa trong các
đêm dài thao thức không yên. Tôi đã mất niềm tin tưởng nơi các con người sống
giữa phố phường, mất cái thói quen trao đổi với họ, mất cả hơi hướng của họ ở
trong sinh hoạt, và tôi muốn gần ông Chúp, gần sự câm lặng đầy những khôn ngoan
của ông, muốn là một người bạn đường mãi mãi của ông trên những dặm dài trắc trở.
Tôi chỉ mua những đồ dùng cần thiết, thuốc men và những vật
thực có thể dùng được nhiều ngày, mua cho ông Chúp và tôi những món quần áo có
thể chống lại hữu hiệu lạnh lẽo rừng sâu, và tôi cũng tìm mua một ít sách có thể
giúp tôi tiêu thụ một cách hữu ích những phút nhàn rỗi nằm chờ giấc ngủ bên suối
một buổi trưa nào hay bên những ngọn lửa hồng sáng rỡ về đêm.
Ông Chúp đợi tôi ở một xóm buôn gần chợ, nơi đó ông có một
người em ruột tên là A Don sống với gia đình bên vợ. Khi thấy tôi đến, ông ngạc
nhiên, không ngờ tôi trở lại sớm như thế.
- Ông không ghé thăm nhà sao?
Tôi đáp:
- Không còn có nhà nào nữa.
- Ông không có bạn bè sao?
- Không. Nhà tôi là núi, là rừng, và bạn bè tôi là ông Chúp đấy.
Ông Chúp có vẻ cảm động khi nghe nói thế vì không bao giờ ông
nghĩ tôi nói để đùa hay cốt làm vui lòng ông. Tôi đem những món quà mua tặng
ông, và ông tỏ ra hết sức bằng lòng.
- Ông lo cho tôi nhiều quá. Ông tốt với tôi nhiều lắm.
- Đừng nói như thế, ông Chúp. Chúng ta đã sống với nhau giữa
chốn rừng già, không có ai quen thuộc khác là loài thú dữ, không có ai đùm bọc
khác là tôi và ông. Chúng ta dù không bà con nhưng còn hơn cả ruột thịt, chúng
ta sống chết có nhau. Tôi đã tính rồi, nếu bán được thêm một số ngà nữa, chúng
ta có đủ một cái vốn lớn để lập vườn tược, và tôi với ông sẽ sống bên nhau đến
mãn cuộc đời.
Ông Chúp nhìn tôi một cách trìu mến, rồi nói:
- Ông không thể đi mãi trong rừng núi. Không ai lại đi như thế.
Ông phải nghĩ đến cái ngày có vợ, có con, sống yên ở một nơi nào.
- Tôi không thể nào lấy vợ được nữa, đó ông Chúp à.
- Sao vậy?
- Tôi ghét đàn bà.
Ông Chúp có vẻ không được bằng lòng khi nghe tôi nói như thế.
Tâm hồn của ông không chấp nhận sự cực đơn và những ý tình lệch lạc. Ông hơi lắc
đầu, rồi nói:
- Không người đàn ông nào có thể ghét người đàn bà. Có những
đàn bà xấu bụng nhưng cũng không thiếu những đàn bà tốt. Không nên nói thế, ông
phải có vợ mới được.
- Tôi đã nhất quyết rồi mà. Toi không thể lấy người Kinh làm
vợ.
Ông Chúp làm sao có thể hiểu rằng một khi đã bị tuyệt vọng,
người ta không còn thiết tha gì nữa, dù sự oán ghét lắm lúc chỉ là mặt trái của
sự yêu thương. Để chấm dứt những chuyện ay, tôi bảo:
- Ngày mai, ta sẽ lên đường về lại Mả Voi.
Hang núi chúng tôi cất dấu ngà voi vừa hiện trước mắt đã thấy
có nhiều dấu vết khả nghi. Chúng tôi vội vã chạy đến. Cửa hang bật tung như bị
một đám người nào phá phách để vào cướp đoạt những món ngà quý mà tôi cất giấu
bên trong. Một số ngà bị kéo tung đây đó trên đất, nhiều vết chân nhỏ xéo giày
như có một cuộc giành giựt xảy ra. Chúng tôi thâu nhặt những gì đã bị vung vãi,
và khi kiểm tra lại những chiếc ngà chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên thấy chẳng có
gì mất mát. Thế thì những sự xáo trộn như vậy do đâu mà ra, và để làm gì? Tất
nhiên chúng tôi nghĩ ngay đến những con người - hay là con vật - xuất hiện
trong những đêm khuya và thấy nặng nề thêm một bí ẩn không sao giải tỏa. Ông
Chúp vẫn còn cái vẻ sững sờ như trước nhưng nỗi sợ hãi đã giảm phần nào. Tôi
làm ra vẻ tươi cười bảo ông:
- Đây hẳn là những bạn cũ của chúng ta thôi. Kể cũng phiền thực,
lợi dụng chúng ta vắng nhà mà vào phá phách, thật là quá tệ. Phen này nếu gặp lại
họ, tôi quyết hỏi cho ra lẽ.
Ông Chúp trầm ngâm rồi chợt hỏi tôi:
- Ông tin là họ không có ý gì muốn hại ta chứ?
- Chắc chắn là không?
Thấy ông vẫn còn hồ nghi, tôi tiếp:
- Ông xem, họ có muốn lấy gì của ta đâu? Nếu có ác ý họ vẫn
có thể ném hết đồ ăn mà ta cất giấu xuống dưới suối kia một cách dễ dàng. Ta đã
rời xa nơi đây gần hai tháng trời, chứ phải một ngày một buổi gì đâu. Không, họ
chỉ là những con người tò mò, vậy thôi. Họ muốn làm quen với ta cũng chưa biết
chừng.
- Nhưng họ là ai ?
Phải rồi, họ là ai vậy? Họ có phải là người không hay là một
loại thú rừng có những nét giống với người? Họ từ đâu đến, và họ được gọi là
gì? Thật ra họ có nguy hiểm hay không? Tất cả điều này tôi vẫn chưa giải đáp được.
Để trấn an ông già Chúp, tôi bảo:
- Chúng ta sẽ biết, lo gì.
Hôm sau trời còn nặng trĩu sương mù, núi rừng bị xóa mờ trong
màn trắng mênh mông, chúng tôi quyết định nghỉ thêm ngày nữa mới vào thung lũng
Mả Voi. Vào khoảng mười giờ trời chưa tỏ hẳn, không thể ở mãi trong không khí u
uất ấy tôi xách khẩu súng lang thang quanh rừng hy vọng tìm gặp con mồi nào
chăng. Đi trên một giờ chưa bắn được thú rừng nào tôi toan quay về bỗng thấy
trước mặt một con nai lớn phóng qua. Lập tức, tôi rượt đuổi theo. Con vật băng
trên sườn non lao đi như một mũi tên, tôi không sao kịp nổ súng. Một phần bị lớp
sương mù dày đặc khiến sự theo đuổi khó khăn, một phần con vat lanh lẹ khác thường,
mang vẻ hoảng hốt của con thú rừng đã bị săn hụt nhiều lần.
Tôi đã chạy theo như vậy khá lâu, con mồi nhấp nhử khiến tôi
bị lôi cuốn mãi. Đôi lần tôi muốn bỏ cuộc nhưng vẫn chạy theo con vật ẩn hiện
trước mắt. Đến một thung lũng, con nai chui vào một rừng lau dày, biến mất. Tôi
đứng ngơ ngác vừa lau mồ hôi trong cái buổi sáng lạnh ngắt vừa tự an ủi là nhờ
con vật mà được trải qua mấy giờ thể dục vô cùng hào hứng.
Lúc tôi quay về, trời đã xế trưa, sương đã tan nhiều. Tôi lên
một mỏm núi cao, đảo mắt nhìn quanh thấy mình đã đi khá xa khỏi nơi dựng trại.
Chỉ có những nỗi say mê mới khiến chúng ta quên đi những quãng đường dài va mới
làm cho chúng ta lạc lối một cách lạ lùng như thế.
Lúc đổ xuống một triền núi, tôi chợt nghe tiếng kêu thét. Tiếng
thét hãi hùng giống tiếng của người, vụt xé sương dày, xuyên vào tai tôi như
mũi dao nhọn. Ở đây không có ai khác ngoài chúng tôi ra, và tiếng kêu ấy không
phải xuất phát từ nơi cổ họng một ngưòi tuổi tác là ông già Chúp.
Tôi chạy băng về hướng có tiếng kêu như bị một sự thu hút kỳ
lạ. Qua một bờ cỏ tôi thấy ở dưới vực nước có một con người nhỏ bé chống chọi
tuyệt vọng với một con hổ trên bờ đang tìm mọi cách nhoài mình xuống chộp miếng
mồi. Mỗi lần con hổ trườn tới, phóng những vuốt nhọn vào người đứng dưới tôi lại
nghe tiếng kêu thét như xé không khí vang lên. Không một phút giây lưỡng lự,
tôi vội nổ súng. Con hổ trúng đạn nhưng chưa nhằm chỗ tử huyệt, nhào lăn trên cỏ,
rồi lao mình vào bụi rậm.
Chạy đến mé nước, tôi thấy con người ban nãy nhoài trên bờ cỏ
và nằm ngất lịm, bê bết những máu. Đinh ninh đó là một đồng bào Thượng ở trong
buôn nào tới đây rồi bị cọp đuổi, tôi chạy đến gần và rất ngạc nhiên thấy kẻ
trước mặt không phải là người. Tôi bước lùi lại theo một phản ứng tự nhiên,
phân vân chưa biết phải làm thế nào thì nghe con vật giống người trước mặt kêu
lên những tiếng rên rỉ đau đớn. Những tiễng kêu ấy hoàn toàn giống hệt tiếng
người, và khi kẻ ấy ngẩng đầu ngước về phía tôi với sự ngạc nhiên pha sự sợ hãi
thì tôi thật sự hoảng hốt. Tôi đã hoảng hốt, vì đó chính là một khuôn mặt người,
pha trộn những gì của loài dã thú với những lông lá phủ đầy nhưng vẫn mang vẻ dịu
dàng nào đó dưới mớ tóc rối thành từng về lớn.
Tôi chưa trông thấy một giống loại nào như vậy, ở khắp núi rừng
trải qua từ trước đến giờ. Phải đây là một trong số những kẻ lạ mặt đă đến quấy
rầy tôi trong giấc ngủ từ trước đến nay, đã gieo khủng khiếp cho ông già Chúp đến
độ kinh hoàng muốn rời bỏ hẳn núi rừng mà đi về lại buôn xưa? Có thể đây là giống
loại dã nhân thỉnh thoảng vẫn nghe xuất hiện ở chốn hoang vu, mà kẻ nằm trước mặt
tôi là một trong bầy đám ấy đã bị lạc loài vì sự đe dọa của chúa sơn lâm? Dù
sao tôi không thể đứng mãi đây suy đoán mông lung và sự tình ở trước mặt rõ
ràng đòi hỏi giải quyết, hoặc là bỏ đi hoặc là cứu cấp. Tôi đang lưỡng lự giữa
suy tính đó thì con vật-người - xin tạm gọi vậy - lại ngước nhìn tôi với vẻ đau
đớn tột cùng rồi ngất lịm đi.
Bây giờ tôi mới thực đủ can đảm cúi xuống sờ vào người đó,
nghe hơi nóng vẫn còn trong da thịt, hẳn là có thể sống đựơc. Tôi sờ soạng tìm
chỗ ngực để nghe tim đập và thật thẹn thùng khi nhận biết rằng nạn nhân thuộc về
giống loại đàn bà.
Con vật người này bị ra máu nhiều và ngất lịm thôi. Nó có sức
khỏe, chắc cầm cự được với sự suy kiệt lâu dài. Mang được nó về, tôi hy vọng cứu
nó thoát khỏi tay tử thần và đó cũng là dịp tốt giúp tôi tránh được những nghi
kỵ của giống loại này, đồng thời đem lại cho ong già Chúp ít nhiều bạo dạn hơn
trước.
Tôi bèn cúi xuống đỡ con vật-người kia dậy. Nó nằm mê man,
các vết thương vẫn rỉ máu. Tôi phải đặt nó nằm cạnh bờ nước, rửa bớt những chỗ
dính bê bết máu và xé khăn tay cột đỡ những chỗ không cầm máu được. Con đường về
chỗ tạm trú còn xa, tôi không biết mình có đủ sức vác con vật-người này về tận
nơi không. Hơn nữa, nếu tôi cố gắng đưa về tận nơi, liệu nó còn sống được
chăng.
Giữa lúc tôi đang phân vân, bỗng nghe ngựa hí từ xa, ngẩng
lên thấy ông già Chúp cưỡi con ngựa tía phóng đến. Ông ta nói lớn:
- Ông đi sao mà lâu thế? Tôi chờ suốt một buổi mai, vội vã đi
tìm. Không nghe tiếng súng vừa rồi, dễ gì mà đến được đây?
Rồi không đợi tôi trả lời, ông già xuống ngựa chạy lại:
- Bắn được con mồi gì vậy?
Vừa thoạt nhìn thấy con vật-người kia, ông đã kêu lên:
- Trời ơi! Ông bắn nó sao?
- Không. Nó bị cọp vồ, tôi bắn cọp để cứu nó.
Ông ta lại cúi xuống nhìn:
- Con gì thế kia?
- Tôi cũng không biết là con vật gì. Có phải là dã-nhân
không?
Ông Chúp nhìn kỹ, lắc đầu:
- Không phải là dã-nhân đâu. Có lẽ là con Xà Niêng.
- Xà Niêng?
- Tôi cũng chưa thấy giống này bao giờ. Từ lâu tôi chỉ nghe
các ông già bà cả nói về nó thôi. Chắc là lâu nay chúng ta đã bị bọn nó quấy
phá trong những đêm khuya.
Tôi cũng được nghe nói đến mơ hồ về giống loại này. Đặc tính
của nó là mớ tóc rối như là bòng bong. Cha mẹ khi thấy con mình đầu tóc bù xù vẫn
thường la bảo: trông giống như con xà niêng. Người ta mô tả về nó như một giống
loại ma quỷ ở chốn rừng sâu. Bây giờ tôi đã được nhìn tường tận một con vật ấy
trước mắt và tôi nhận thấy nó chẳng khác với loài người bao nhiêu, trừ những
lông lá ở trên mình mẩy. Ông Chúp khi thấy rõ được kẻ đã ám ảnh giấc ngủ của
mình trong bấy lâu nay, xem chừng đa vơi bớt nỗi lo sợ, cúi xuống hỏi tôi:
- Giờ tính sao đây?
- Mang về cứu cấp, hy vọng có thể sống được.
- Nó có chịu để cho ta săn sóc hay không?
Ông Chúp lộ vẻ suy nghĩ, rồi tiếp:
- Chỉ ngại đồng bọn của nó tưởng mình hại nó thì lôi thôi lắm.
Chúng sẽ báo thù.
- Tôi nghĩ nó không khác với con người bao nhiêu, nó phải
khôn hơn loài khỉ. Chúng ta đã giúp đỡ nó, tất nó phải biết. Con người có thể
nhớ ơn với nhiều tính toán, nhưng loài vat thường trả ơn một cách sòng phẳng tự
nhiên.
Tôi tiếp:
- Cho dù nó chẳng nhớ ơn thì cũng không sao. Chúng ta chẳng
mong hưởng lợi khi làm như thế. Để cho nó chết ở đây là điều bất nhẫn, nếu chần
chừ thêm tôi sợ không cứu sống được.
Ông Chúp gật đầu. Chúng tôi cùng khiêng con vật-người ấy lên
ngựa, ràng buộc cẩn thận, rồi vội trở về. Qua một chặng rừng thật rậm, cây cối
bủa vây giăng như một màng lưới bao la bỗng nhiên tôi nghe có những tiếng kêu
ríu rít. Ông Chúp vội nói:
- Ông có nghe những tiếng gì đấy không? Những tiếng mà ta đã
nghe trong những đêm khuya.
- Chắc là đồng bọn của con Xà Niêng.
Chúng tôi im lặng đi qua nhưng được một đoạn khá xa lại nghe
những tiếng ríu rít như thế ở gần đâu đó bên mình. Ông Chúp bảo tôi:
- Chắc là chúng đến đòi lại đồng bọn.
- Nếu quả như thế chúng ta sẽ giao trả lại chứ giữ làm gì.
- Làm sao biết chúng có ý định ấy? Chỉ có một cách là chúng
ta bỏ con vật này trên tảng đá nào đó rồi rình thử xem. Nếu chúng muốn thế thì
chúng sẽ tới mang đi.
Ông Chúp nói thật có lý, nhưng ông quên con Xà Niêng cần được
cấp cứu mới hy vọng sống. Bỏ nó nơi đây để chờ xem đồng bọn nó phản ứng ra sao
thì chẳng khác nào coi sự chết sống của nó là chuyện dửng dưng. Hơn nữa, nếu đồng
bọn chúng mang đi, chắc gì chúng có thể cứu nó được? Tin rằng loài thú có những
khả năng cưu cấp hơn cả con người là chuyện phi lý. Nghĩ ngợi như thế, tôi bảo
ông Chúp:
- Chúng ta cứ việc đi thôi.
Qua khỏi một thung lũng dài rồi băng qua một triền núi khá
cao, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe tiếng kêu ríu rít như thế theo gần. Nhìn
quanh không thấy một dấu vết nào khả nghi, không có một bóng dáng nào xuất hiện.
Sự xuất nhập của loài này thật là kỳ diệu, và hẳn vì vậy mà những kẻ thường qua
lại nơi chốn núi thẳm rừng sâu, nếu không dừng lại quá lâu như bọn chúng tôi,
khó lòng biết được có chúng hiện diện.
Đến khi vượt qua một cánh đồng cỏ khá rộng cách quãng giữa
hai dãy núi, chúng tôi không còn nghe những tiếng ríu rít kia. Có lẽ quang cảnh
trống trải khiến loài Xà Niêng e sợ, và cho đến khi chúng tôi về nơi tạm trú
thì không còn nghe chúng nữa. Tôi nói:
- Thế là ta đã rời xa được bọn chúng rồi
Ông Chúp đáp lại:
- Nhưng mà tối nay chúng sẽ lại đến cho xem.
- Càng hay, ta đã có một con tin, không sợ gì nữa. Bây giờ phải
lo cấp cứu nó thôi.
Lập tức tôi bắt tay ngay vào công việc đó. Các vết thương được
rửa sạch, được băng bó kỹ. Tôi cũng tiêm loại phòng ngừa bệnh sài uốn ván có thể
gây ra do các vi trùng đủ loại ở nơi móng vuốt loài cọp, và để con vật chịu được
đau đớn một cách dễ dàng, tôi chích thêm mũi thuốc ngủ với liều lượng nặng.
Loay hoay bao nhiêu việc đó thì trời gần tối. Tôi đem con vật-người
ấy vào hang, đặt nằm trên một nệm lá và bên một bếp lửa lớn. Ông Chúp vừa lo
cơm tối vừa theo dõi việc tôi làm một cách tò mò, dần dần cảm thấy thích thú vì
được chứng kiến một việc khác lạ ơ trong sinh hoạt.
Con Xà Niêng đã làm chậm công việc đi vào Mả Voi của chúng
tôi lại. Nhưng ngoài nhiệm vụ cấp cứu cho kẻ bị nạn, dù kẻ đó không thuộc hẳn
vào giống loài người, chúng tôi còn bị thu hút trong sự tò mò về một chủng loại
sống nơi rừng già mà từ trước giờ chỉ nghe nói tới một cách mơ hồ.
Già Chúp bảo tôi:
- Ông xem, con vật này có thể giúp chúng ta khiêng các ngà voi
được chăng?
- Tôi chưa nghĩ đến điều ấy, nhưng nếu no chịu ở lại và giúp
chúng ta thì tốt không biết chừng nào.
Ông Chúp đáp lại:
- Các loại thú rừng không ưa đời sống trói buộc và nếu lành
các vết thương nó sẽ chạy trốn ngoài rừng. Muốn giữ nó lại, hãy cột vào một gốc
cây.
Tôi có thoáng nghĩ điều này, nhưng nhìn con Xà Niêng kia mê
thiếp với những vết thương tôi thật không đành. Nó có đầy đủ dáng vẻ để được
xem như con người. Trói một con vật, điều ấy coi còn hợp lý, nhưng trói mot con
người lại, thực là bất nhẫn. Tôi bảo ông Chúp:
- Để xem. Chúng ta còn có cách nào khác không?
- Không có cách nào khác đâu. Để tôi vào rừng chọn ít loại
dây thật chắc và đánh kỹ lại mới giữ nó được.
Ông Chúp không thể nhìn con Xà Niêng bằng một đôi mắt nào
khác. Theo ông, đó chỉ là một con vật không hơn không kém, và với những ý nghĩ
thiết thực ông chỉ muốn sử dụng nó cho công việc mình.
Không đợi tôi có ý kiến, ông lặng lẽ đi vào rừng tìm các loại
dây. Chẳng rõ khi muốn cột giữ con Xà Niêng lại ông có ẩn ý trả thù hay không,
bởi nó và đồng bọn đã làm ông mất ăn mất ngủ nhiều ngày, khiến ông chập chờn,
hoảng hốt không phải là ít.
° ° °
Khi tôi cúi xuống sờ vào ngực con Xà Niêng để xem tim đập,
tôi lại cảm thấy một nỗi sượng sùng. Đây là con vật giống cái, và một con cái
còn trẻ qua cái dáng dấp khỏe mạnh, gọn gàng. Tôi chưa bao giờ có nhưng kiểu
cách sỗ sàng với người đàn bà, và trong mối tình đầu tiên với người đã gieo cho
tôi những nỗi đau khổ sâu xa, tôi vẫn luôn giữ một niềm tôn trọng, cả ở trong
vòng thân mật. Thâm tâm, tôi chưa bao giờ nghĩ xấu về người đàn bà. Trái lại,
tôi vẫn hiểu rằng con người có thể đạt đến tốt đẹp tuyệt vời nếu không bị những
điều kiện xấu xa của một xã hội sa đọa làm cho hư hèn. Tôi cũng nhìn thấy những
nỗi thiệt thòi, khó khăn ma người đàn bà phải chịu giữa cuộc sống này. Trong
cái nhiệm vụ lưu tồn nòi giống, phát triển nhân loại, giống cái rõ ràng đã chịu
vất vả hơn hết, thế mà cuộc đời đã chẳng đền bù cho họ được gì ngoài việc luôn
luôn đoi hỏi nơi họ những sự hy sinh. Hy sinh cho con, hy sinh cho chồng, hy
sinh cho những thành kiến hẹp hòi, hy sinh cho những quan niệm hủ lậu, cứ vậy họ
bị dồn mãi trong thế bị động triền miên. Và đã bị động, làm sao tránh khỏi những
thứ áp lực điêu ngoa của xã hội này?
Nhìn con Xà Niêng nằm phơi thân hình gần như trần truồng, tôi
thấy ái ngại, lấy bộ quần áo của tôi mặc vào cho nó. Và mặc quần áo vào người,
nó càng giống hệt như người. Tôi bỗng nghĩ rằng nơi hang hốc này lại có một cô
thiếu nữ lạc loài tới nằm yên ngủ và tôi lấy làm kỳ quái cho ý nghĩ ấy. Khi ông
Chúp về, mang một đòn dây khá lớn được đánh thật kỹ ngoài suối, tôi thật phân
vân:
- Ong xem, có khác gì là người đâu? Ai nỡ đi trói một kẻ lâm
nạn đến đây nhờ vả chúng ta.
Ông Chúp lầu bầu:
- Muốn nó ở lại thì không còn cách nào khác. Trói một thời
gian, rồi nó quen đi.
Tôi không trả lời. Ông Chúp hiểu sự im lặng là cách đồng tình
và ông tiến tới vòng dây thắt ngang lưng nó, cột lại, rồi dòng ra gốc cây lớn
bên ngoài và quấn thật chặt. Tôi không đành lòng, bảo ông:
- Làm thế chỉ khiến nó càng sợ hãi và càng căm ghét ta thôi.
Tốt hơn, chúng ta nên chắn lại một phần hang bên trong, như cái chuồng giam và
để nó được thong thả. Nó cũng không làm hại gì ta được.
Ông Chúp nghe theo lời tôi, phụ lực với tôi đốn cây, đào đất,
đưa con Xà Niêng vào hẳn bên trong, mở các dây trói rồi dựng một hàng rào cản
thật chắc có cánh cửa lớn gài bằng cây ngang bên ngoài.
Phải mất một ngày chúng tôi mới dựng xong gian buồng ấy. Vào
tối hôm đó, đang ngủ tôi bị đánh thức bởi tiếng ồn ào náo động bên ngoài. Ông
Chúp đã dậy tự bao giờ rồi. Thấy tôi choàng tỉnh, ông nói:
- Bọn chúng lại đến. Coi bộ làm dữ hơn là mọi khi.
Giọng ông chỉ nghe một thoáng lo âu chứ không hoảng hot như
là ngày nào. Tôi ngước nhìn ra, thấy một đám đông lố nhố, rõ ràng là những họ
hàng Xà Niêng đang đứng chen chúc, nhiều lần như muốn vượt hàng rào lửa, tiến
vào trong hang. Sợ chúng tràn vào, tôi rút khẩu súng ban dọa một phát cho chúng
rút lui. Tiếng nổ làm chúng dạt ra, và tôi nã tiếp phát súng thứ hai. Tôi bắn đến
phát thứ năm mới nghe im hẳn. Nhưng khi nằm xuống, chúng tôi nghe một tiếng hú
não nùng vọng lại từ xa. Tiếng hú kéo dài trong nỗi đau thương được nối tiếp bằng
nhiều tiếng hú khác cùng một âm thanh như thế. Họ hàng Xà Niêng bày tỏ nỗi niềm
đau khổ, vì phải xa cách một kẻ thân yêu đó chăng?
Suốt quãng thời gian gần sáng, chúng tôi vẫn còn nghe chúng
kéo đến lảng vảng nhưng không dám xáp lại gần cửa hang như trước. Chúng đi
quanh quẩn, ríu rít, thở than qua tiếng hú dài, rồi lúc mặt trời hiện lên lại
chìm khuất vào trong lòng rừng thẳm.
Đáng le chúng tôi phải vào Mả Voi hôm ấy vì đã bỏ mất mấy
ngày chờ đợi, nhưng chúng tôi muốn nghỉ thêm một hôm xem con Xà Niêng có sống
được không và nó phản ứng ra sao một khi tỉnh lại. Suốt ngày hôm đó nó vẫn nằm
vùi, me man, hơi thở mệt nhọc. Tối đến, tôi nghe tiếng nó rên rỉ. Như thế, nó gần
tỉnh lại. Giữa khuya, khi tôi tỉnh giấc rọi đèn bấm vào tôi thấy con Xà Niêng vẫn
nằm thiếp nhưng bộ quần áo mà tôi mặc vào cho nó đã bị xé rach tả tơi, vứt bỏ
đó đây từng mảnh.
Nghe động, ông Chúp hỏi tôi:
- Gì thế?
- Lại đây mà coi.
Ông Chúp ghe mắt nhìn vào, chép miệng:
- Uổng chưa. Nó đã quen sống như vậy, đâu có chịu được áo quần.
- Nhưng trông nó nằm như thế, thật là bất nhẫn.
Tôi nảy một ý, lấy kim chích thêm cho nó một mũi thuốc ngủ, rồi
sau khi băng lại các vết thương, lấy dao cắt sát các móng chân tay khá dài của
nó. Xong rồi tôi lựa bộ quần áo ấm vào loại dày nhất của tôi mặc vào cho nó.
Tôi cũng cẩn thận gài nút ra phía sau lưng của con Xà Niêng, phòng khi tỉnh dậy
nó khó tháo gỡ.
Ông Chúp nhiều lần tỏ ý muốn ngăn cản tôi, nhưng thấy thái độ
sốt sắng của tôi, ông lại không nói thành lời. Khi tôi làm xong, ông bảo:
- Lỡ nó xé rách luôn bộ đồ ấy thì sao?
Tôi cười:
- Thì thôi, chứ sao. Nhưng tôi tin rằng nó chẳng xé rách nữa
đâu.
Ông già nhìn tôi, lộ vẻ không tin. Qua ngày hôm sau, chúng
tôi chuẩn bị đi vào Mả Voi. Sau khi cho thêm lửa vào trong hang, tôi đặt cạnh
con Xà Niêng một mo cơm lớn, một ít thịt khô và vài thỏi đường. Tôi cũng để
thêm vào đấy một ít trái rừng hái chín đã được sấy khô, và gàu nước suối được
treo gần cửa ra vào. Thấy sự săn sóc của tôi, ông Chúp cười bảo:
- Nó sẽ chẳng ăn gì đâu. Quen những thịt sống và những cây
trái ngoài rừng, nó đâu thèm các món này.
Đồ ăn mà tôi để lại dự tính đủ cho hai ngày, bởi tôi vào
trong Mả Voi trở về cũng mất ba hôm. Con Xà Niêng còn ngủ vùi ít nhất một ngày
mới tỉnh.
Chuyến này tôi muốn đi mau để sớm trở về. Tôi thấy nôn nao
mong trở lại gấp để xem bệnh trạng của con Xà Niêng ra sao. Tôi cũng ngại nó đã
thoát khỏi hang hoặc được đồng bọn kéo đến phá vỡ cửa rào kiên cố để mà giải
thoát. Kể ra, tôi đã ngăn chặn thật kỹ trước khi ra đi, đã cột thêm dây mò tró,
chèn thêm nhiều tảng đá lớn ngoài hang.
Lúc tôi trở về, môt số tảng đá ở nơi miệng hang đã bị xê dịch,
nhưng vào bên trong, ngoại trừ bếp lửa tàn lụi còn chút hơi nóng thoi thóp, tất
cả vật dụng vẫn nguyên như cũ. Trên nền đất có những vết chân nhỏ, đôi chỗ vết
chân khá dày, chứng tỏ họ hàng Xà Niêng đã kéo vào đây.
Tôi vội vàng đến gian buồng nhờ ánh sáng từ kẽ đá bên trên hắt
xuống lờ mờ như một bóng điện huyền ảo, thấy con Xà Niêng vẫn còn nằm đấy. Cửa
buồng nguyên vẹn, đồ ăn thức uống được dùng cạn sạch.
Nghe động, con Xà Niêng bỗng ngồi dậy. Nó ngước đôi mắt sợ
hãi nhìn tôi một cách chăm chú. Đôi bàn tay nó bực dọc sờ soạng lên mình như tự
cảm thấy xa lạ trong bộ quần áo. Tại sao đồng bọn của nó không vào giải cứu? Đó
là một điều khiến tôi hết sức phân vân. Tôi đem ý ấy nói với ông Chúp. Ông bảo:
- Có lẽ chúng sợ vì thấy ta rào cản quá kỹ chăng? Hoặc muốn
chúng ta chữa lành cho con Xà Niêng rồi sẽ giải thoát?
- Nhưng biết đâu chúng cảm thấy xa lạ vì con xà niêng đã mặc
áo quần? Có thể vì thế mà chúng bỏ đi cũng chưa biết chừng.
Ông Chúp gật đầu:
- Bọn chúng hẳn là một giống đa nghi, như tất cả loài vật sống
trong rừng. Còn về phần con Xà Niêng, muốn lưu lại phải tìm những phương cách
khác. Tốt nhất đó là món ăn. Vốn quen với những thịt sống, nếu tập dần ăn thịt
nướng chắc nó sẽ phải thay ngon hơn. Ban đầu chỉ nên nướng chín một nửa để nó
không thấy lạ lùng, muối cũng pha ít, tăng thêm mỗi ngày. Muối sẽ là món quan
trọng để lưu giữ nó.
Tôi thấy ý kiến ông Chúp rất hay và đem thực hiện. Bây giờ
công việc chúng tôi trở nên bận rộn vì sự chăm sóc con Xà Niêng này. Ở giữa núi
rừng sâu thẳm, tự nhiên có một việc làm như thế, người ta dễ quên bớt nỗi hoang
vu.
Trong thời gian con Xà Niêng chưa bình phục tôi cố gắng tranh
thủ nó, để giữ nó lại chỗ hang hốc này. Nếu nó không bị suy yếu và gần như tê
liệt hẳn một chân do các vết thương gây nên, tôi chắc nó đã bỏ đi từ lâu. Những
ngày đầu tiên, khi nó tỉnh dậy và tôi tiến lại gần bên chăm sóc, tôi thấy vẻ mặt
của nó cau lại một cách dữ dằn và cố lết vào một hốc đá gần, như tìm con đường
lẩn trốn. Tôi phải ngồi yên khá lâu, giữ một vẻ mặt hiền từ để gợi thiện cảm. Rồi
vừa tươi cười vừa có cư điệu nhẹ nhàng tôi tiến lại gần bên nó, chỉ vào các chỗ
đã được băng bó. Con Xà Niêng cứ nhìn tôi chăm chắm, cuối cùng thấy tôi không
làm gì để hoảng sợ, nó dịu mặt lại, ngồi yên. Tôi phải giữ ý hết sức khi băng
bó các vết thương trên mình nó. Dần dà, nó không còn vẻ bực tức hay là sợ hãi
như trước, chỉ lộ ít nhiều nghi hoặc rồi lại ngoan ngoãn ngồi yên để tôi săn
sóc.
Tôi tự dành lấy phần việc đem lại thức ăn cho nó. Do sự suy yếu
vì máu ra nhiều, do các vết thương làm cho cơ thể đuối liệt, con Xà Niêng đã ăn
sạch những gì tôi đem cho nó hàng ngày. Được trên một tháng, tôi dọn những miếng
thịt rừng nướng chín đặt cạnh những miếng thịt sống và tôi thấy nó không chạm tới
thịt sống nữa. Rồi tôi dọn món thịt lạt đặt cạnh món thịt ướp muối và con Xà
Niêng đã thấy thèm khát chất vị mặn mòi.
Tôi bảo ông Chúp:
- Hy vọng là nó sẽ ở lại với chúng ta
Ông Chúp thở dài:
- Nó không ở lại, thiệt là dại khờ. Chúng ta chưa chăm sóc
người thân nào của ta kỹ càng như vậy. Con tôi, vợ tôi, bây giờ sống ở một buôn
nơi xa xôi, tôi nào có biết là họ ra sao? Vậy mà phải lo mọi việc cho "con
rừng" này.
- Ông nói chỉ đúng một phần sự thực mà thôi, đó ông Chúp à.
Không phải nó cần chúng ta mà chúng ta cũng cần nó. Ông xem, từ hôm có nó đến
đây ông không còn lo sợ nữa. Nhớ mới ngày nào ông ăn không ngon, ông ngủ không
yên, thảm não biết bao. Ông còn muốn nó giúp ta chuyên chở ngà voi trong thung
lũng nữa.
Rồi tôi nói tiếp:
- Này ông Chúp xem, nó chỉ khác với chúng ta ở cách cảm thông
với kẻ đồng loại và ở khả năng sử liệu dụng cụ để mà làm việc. Ta tập cho nó
nói đi. Rồi tập cho nó quen những thói quen cần thiết của chúng ta nữa. Tôi tin
là nó làm được.
Từ hôm mang về đến giờ, con Xà Niêng không mở miệng nói một lời
nao. Tiếng nói ríu rít và tiếng hú dài của giống loại này chúng tôi chỉ được
nghe ở nơi xa nên không có một ý niệm thật rõ về cách phát biểu, phát âm của
nó. Dầu sao loài chim như sáo hay nhồng nói được tiếng người, thì con Xà Niêng
có thể nói hơn như thế. Vả lại, ở giống loại này bộ não có lẽ đã được cấu tạo
tinh vi hơn nhiều loại dã thú khác, và cái cốt dáng như người của chúng cho tôi
hy vọng chúng sẽ nói được tiếng người và se cảm hiểu gần giống như người. Con
Xà Niêng không phải là loài thú, nó là một thứ người rừng, và cái khuynh hướng
của nó về những sinh hoạt đổi mới, nâng cao ắt hẳn phải có, như trong các loài
sinh vật biết sống cao hơn cuộc sống bầy đàn.
Tôi nhớ lại ngày mang con Xà Niêng về hang và đồng bọn chúng
theo mãi chúng tôi, lân la quanh quẩn, cho đến hôm chúng vào được bên trong rồi
lại biến mất. Như thế, giống loại ấy rõ ràng có suy luận, dầu là đơn giản. Chắc
rằng chính bộ quần áo của tôi mặc vào cho con Xà Niêng làm cho họ hàng Xà Niêng
e ngại, coi đồng bọn mình như kẻ phản bội, một kẻ chấp nhận nếp sống khác lạ với
mình, nên đã bỏ đi. Nhưng còn con người rừng này, liệu sự chăm sóc của tôi có
quyến rũ nó được không, có làm nó quên được những họ hàng, quên được cuộc đời
lang thang ở trong núi thẳm rừng sâu?
Tôi bèn nghĩ cách tập cho nó quen tiếng nói của mình. Mỗi lần
đem các thức ăn, tôi nói thật rõ tiếng "ăn" và lặp nhiều lượt để gây ấn
tượng về ngôn từ ấy. Những lúc tôi và ông Chúp ngồi lại dùng bữa, tôi cũng gọi
thật lớn tiếng như thế, và lúc ban đầu tôi không cố tình ép nó ghi nhớ cho nhiều.
Được vài hôm sau, đến giờ cho ăn, tôi cố tình quên mang lại thức ăn cho nó, và
tôi ngạc nhiên vừa mừng rỡ biết chừng nào khi thấy con Xà Niêng ngước nhìn tôi,
mấp máy đôi môi rồi nói một cách khó khăn tiếng "ăn" hay một âm thanh
tương tự như thế. Tôi hỏi lại nó:
- Ăn?
Nó ra dấu hiệu như gật đầu. Tôi bảo ông Chúp:
- Ông xem, người bạn chúng ta đòi ăn rồi đó.
Tôi bèn mang thức ăn đến, không quên nhắc lại cái tiếng quen
thuộc hàng ngày. Cứ thế con Xà Niêng đã nói được tiếng "ăn", cảm hiểu
với tôi một cách dễ dàng. Sau tiếng "ăn" đến tiếng "uống",
đến những động tác cụ thể và những việc làm có thể biểu diễn thành những cử điệu.
Mỗi khi tôi nhắm mắt lại, nói "ngủ" con Xà Niêng ngoan ngoãn nghe
theo lời và nằm lặng lẽ trên mớ lá dày, riu riu nhắm lại đôi mắt. Tôi điều khiển
dần con Xà Niêng bằng những tiếng nói đơn giản, và qua nhiều ngày chúng tôi có
thể cảm thông qua nhiều ngôn ngữ.
Ba tháng trôi qua, con Xà Niêng lành hẳn các vêt thương. Số
ngà voi đã tích trữ được nhiều, chúng tôi nghĩ cách chuyển về tiêu thụ ở các thị
trấn ven núi. Để con Xà Niêng lại đây là sự khó khăn nhưng mang về theo là cả vấn
đề.
Tôi đưa ý đó bàn với ông Chúp, ông bảo:
- Hãy thả nó ra ngoài đi.
- Nếu nó lại chạy vào rừng?
- Kể cũng uổng công trong bấy lâu nay. Nhưng ông đã muốn giúp
nó chữa lành được các vết thương, bây giờ đã lành thì tùy ý nó là hơn. Không ai
ràng buộc được một giống loại khôn ngoan.
Ông Chúp nói đúng ý tôi trong buổi ban đầu nhưng từ khi con
Xà Niêng đã biết trao đổi với tôi những tiếng đầu tiên và tỏ ra rất chăm chú bắt
chước ngôn ngữ của người, thì ở nơi tôi nảy sinh một niềm quyến luyến. Dầu sao
ông cũng có lý: ràng buộc được một giống loại khôn ngoan là chuyện khó lòng.
Và tôi định qua ngày mai, sau bữa cơm sáng, đưa nó ra khỏi
gian buồng phải bị cầm giữ lâu nay.
Lúc tôi mở rộng cánh cửa, con Xà Niêng vẫn không có một cử động
nào. Nó ngồi chăm chú theo dõi hành động của tôi, không lộ mảy may xúc động.
Tôi chỉ lối đi đã được khai thông, đưa tay làm dấu mời mọc, và bảo nhẹ nhàng:
- Đi ra.
Con Xà Niêng ngước nhìn tôi, lộ vẻ muốn hỏi tất cả sự việc
như thế có nghĩa là gì. Trên khuôn mặt đã hòa dịu, như có một vẻ giễu cợt hay một
nụ cười. Tôi lặp lại một lần nữa:
- Đi ra!
Con Xà Niêng vẫn không chịu nhúc nhích.
- Này ông Chúp ơi, ta làm cách nào bây giờ?
- Chờ xem.
- Thế mà cứ sợ nó bỏ chúng ta đi mất.
- Chắc nó đang nghi kỵ mình muốn giở trò gì, và nó tìm hiểu.
Khi hiểu rằng mình để nó tự do, nó sẽ quyết định
- Theo ông, nó sẽ quyết định thế nào?
- Tôi nghĩ nó không ở lại với chúng ta đâu.
- Tôi thì nghĩ khác. Tôi đoán nó sẽ ở lại với chúng ta đó.
- Để coi.
- Mình cuộc gì nào?
- Tùy ý ông đấy.
- Nếu ông đoán đúng, tôi sẽ...
Tôi không biết phải chịu mất cái gì cho ông Chúp. Ở đây gần
như tôi không có gì để mất. Và nếu tôi thắng, ông Chúp cũng chẳng có gì để mà đền
bù. Nhưng ông Chúp đã mỉm cười, bảo tôi:
- Từ lâu cái gì của ông cũng như là của tôi rồi. Ngược lại,
phần tôi cũng thế. Mình nói cho vui, đánh cuộc với nhau làm gì. Này xem, con Xà
Niêng muốn đứng dậy...
Tôi thấy nó nhổm người lên rồi lại ngồi xuống, cặp mắt lấp
láy một vẻ lém lỉnh. Tôi tiến lại gần, nắm cánh tay nó dìu lên. Con Xà Niêng
thoáng một vẻ phản ứng nhưng tôi vốn quen thuộc quá và nó hiểu tôi không hề hại
nó bao giờ. E dè nó nhìn về phía ông Chúp. Liệu người đang ngồi phun khói nơi
miệng đằng kia có ý gì hại nó không? Tôi bèn khích lệ:
- Đứng lên. Hãy đi ra ngoài hang nào.
Rồi tôi dìu nó bước lần ra ngoài. Con Xà Niêng ngập ngừng bước
theo tôi rồi lại liếc nhìn ông Chúp.
- Ông Chúp đấy mà. Ông Chúp thật là tử tế, không làm hại gì
ai đâu.
Tuy nhiên tôi thấy khó khăn tìm một tiếng gọi con Xà Niêng
này. Bây giờ tôi không thể dùng tiếng "nó", và khi đối thoại, tôi
cũng không thể dùng tiếng "mày, tao". Ở trong đời sống hàng ngày, tôi
cũng không quen dùng các tiếng ấy với bất kỳ ai, dù là ngang hàng hay là bé nhỏ
hơn mình. Vậy gọi con Xà Niêng này bằng gì? Coi như súc vật là điều bất nhẫn,
mà đối như người kể cũng khó khăn. Cuối cùng tôi bèn dùng lối cười cợt để vượt
qua chướng ngại này. Tôi bảo con Xà Niêng rằng:
- Bây giờ thì... "cô" lành rồi và "cô" có
thể tự do. Muốn đi, hay là muốn ở, đều tùy "cô" cả. Đây là hang hốc tối
tăm, chật hẹp, và kia là núi, là rừng mênh mông. "Cô" có toàn quyền lựa
chọn.
Ra tới miệng hang, con Xà Niêng hơi chóa mắt vì mấy tháng nay
ở mãi trong bóng tối mờ chỉ được soi sáng bằng bếp than hồng. Nó ngước nhìn
tôi, bỡ ngỡ. Tôi nói thêm một câu nữa:
- Bây giờ "cô" quyết định đi.
Và tôi đưa tay chỉ vào trong hang rồi lại chỉ ra ngoài rừng.
Con Xà Niêng lộ vẻ muốn tìm hiểu toi nói gì. Tôi bèn dắt nó
đi thêm một quãng, rồi tôi buông tay, lặng lẽ quay lại hang đá.
Một lát, nhìn lại tôi thấy nó đang quay nhìn theo tôi, rồi đảo
mắt nhìn chung quanh với vẻ e dè. Trông nó có vẻ lạc loài tội nghiệp. Nhiều lần
tôi muốn hú gọi nó lại, nhưng tôi nghĩ nên để nó tự do là hơn. Nếu nó không
thích, tôi sẽ không có cách nào giữ được khi tôi còn sống trong chốn rừng già.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét