Chất ngọc 1
Tâm sự của người cầm bút
Năm 1946, sau khi cách mạng tháng Tám thành công đem lại độc
lập cho đất nước thì thực dân Pháp - được đế quốc Mỹ viện trợ - đã quay trở lại
để mong tái chiếm Việt Nam. Sau chín năm chiến đấu, ta đã buộc Pháp ký kết Hiệp
định Genève, tạm thời chia đôi Nam, Bắc để sau hai năm sẽ có cuộc tổng tuyển cử
quyết định chế độ cho đất nước. Nhưng liền sau đó, Pháp giao miền Nam cho Mỹ để
trừ nợ. Đây là thời kỳ đất nước rơi vào tình trạng chia cắt với nhiều xáo trộn
tồi tệ và đẫm máu nhất.
Ngày ấy, sống ở miền Nam, tôi có nhiệm vụ sử dụng ngòi bút
góp phần đấu tranh cho sự giải phóng quê hương. Ngoài một số truyện chứa đựng nội
dung phê phán chế độ được viết theo lối cổ kính - để tránh lưỡi kéo kiểm duyệt
- tôi nghĩ các truyện viết về đồng quê và rừng núi sẽ được người đọc thị thành
ưa thích vì những màu sắc xa lạ. Như vậy phải có văn phong đa dạng phù hợp với
từng thể truyện, và đây có lẽ cũng là sở trường của tôi, sở trường vốn là kết
quả của nhiều biến cố - hay nói đúng hơn là những bầm dập - mà tôi đã phải trải
chịu từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành. Từ một gia đình giàu có nhất vùng,
tôi đã phải sống trong cảnh nghèo nàn, từ một bà mẹ tiểu thư, con của một vị
thượng quan - tiến sĩ ở trong Ngũ Phụng Tề Phi - tôi đã phải sống với những dì
ghẻ thất học, và không kể mấy lần tù cùng bốn chế độ đã phải trải qua - chỉ
tính tới thời Mỹ Diệm - tôi chẳng những sống nhiều năm giữa chốn phồn hoa đô hội,
còn dành thời gian không nhỏ cho vùng rừng núi hoang vu đến miền cát trắng
hoang sơ. Những bất thường ấy, ở trong cuộc sống, có thể giúp tôi tìm được giọng
điệu khác nhau cho mỗi thể truyện.
Khi viết Bút máu theo lối cổ kính, vào năm 1958,
như một tuyên ngôn đối với chính mình, đồng thời để phản ứng lại đội ngũ bồi
bút đông đảo thời ấy, tôi mượn tên anh Vũ Hạnh để làm bút hiệu - đó là người bạn
đồng hương, vừa là bạn tù, đồng thời là một chiến sĩ tuyệt vời - để tăng thêm
phần trách nhiệm của mình đối với ngòi bút. Sau ngày Giải phóng, một cô bạn văn
ở ban đối ngoại của Hội Nhà văn Liên Xô cho biết Bút máu từng được dịch
ra tiếng Nga, song vì tôi không biết ngoại ngữ này nên không tìm giữ bản dịch,
chỉ giữ mỗi truyện Chất ngọc được một tạp chí ở Mỹ - Southeast
Chronicle - dịch và đăng tải ở số 70-71.
Để thử viết một truyện nông thôn - là Miếng thịt vịt -
tôi đã khai thác cảnh nghèo cùng cực ở một miền quê, sát cạnh làng tôi, trước
thời Cách mạng, và sau khi đăng trên tờ Bách Khoa, tôi nhận được lời nhắn
gửi trên một nhật báo - của kịch tác gia nổi tiếng là Vi Huyền Đắc - mời tôi đến
gặp tại nhà, vì tôi bấy giờ còn sống lang thang, không có chỗ ở cố định. Ông
đón tiếp tôi niềm nở, tỏ ra thích thú câu chuyện tôi viết, vì ông cho rằng có
nhiều kịch tính. Truyện Miếng thịt vịt là bước mở màn cho một tình bạn
vong niên hết sức đậm đà giữa ông và tôi, kéo dài cho đến ngày ông từ giã cõi đời.
Viết về núi rừng, tôi có khá nhiều vốn sống và truyện Mùa
xuân trên đỉnh non cao chỉ là một kỷ niệm nhỏ trong thời chống Pháp khi
tôi xin được nghỉ dạy để gia nhập đội Văn nghệ Thanh niên xung phong lên phục vụ
trên chiến trường Tây Nguyên, và Cuôi ba dùm là sự ghi lại, theo lời
kể về các phong tục tuyệt vời của những đồng bào miền núi.
Khi Mỹ kéo quân ồ ạt sang xâm lược Việt Nam thì sự hiện diện
của quân đội Mỹ và đám chư hầu đã làm xã hội miền Nam xuống cấp trầm trọng về mặt
tinh thần. Thực trạng đó thể hiện trong các truyện ngắn Người chồng thời đại, Mụ
Tư Cò để mong ghi lại chút gì về sự sa đọa của một giai đoạn ở trong sinh
hoạt đô thị miền Nam.
Tôi chỉ xin nhắc lại đôi kỷ niệm về một số truyện có mặt
trong tuyển tập này, chứ không làm một hồi ức về cái quãng đời cầm bút mà tôi
trải qua với nhiều sự cố và nhiều ngục tù.
Vũ Hạnh<
11.1.2011
Mặt trời đỏ lói như một cục máu, có vẻ vội vàng trụt xuống
sau đỉnh núi cao. Hiệp bước khập khiễng trên con đường dốc nhấp nhô, kêu lên một
cách thảm thiết:
- Đi chậm một chút các người! Định bỏ thằng này cho cọp nhai
sao?
Sự thực là cả ba người đi trước lê chân rất là chậm chạp. Cả
ngày hôm ấy họ chỉ ăn một bữa cơm với muối vào khoảng nửa buổi, và phải luồn lỏi
băng rừng, leo núi, không dám nghỉ trưa chỉ sợ mặt trời vội tắt mà chưa đến được
Đất Tó. An, người khỏe nhất bọn, đứng trên đầu dốc áp người vào một thân cây,
quay nhìn trở lại, hét to:
- Gấp lên, ông cụ! Chỉ sợ cọp xơi luôn cả bốn mạng đó thôi.
Khánh, người trưởng đoàn, ngồi xuống mô đá ven đường nói bằng
một giọng mệt nhọc:
- Chờ nó một chút. Thằng ấy khó tính lắm mà.
Rồi anh nhăn mặt, duỗi thẳng hai chân để tìm một phút nghỉ
ngơi, ngả người dựa cái ba lô vào một vách đá thở từng hơi dài. Dụng tiến lại gần
bên Khánh, ngồi xuống rất là nặng nề, chậm rãi lấy khăn lau lớp mồ hôi chan hòa
trên mặt. Một lát, Hiệp nhăn nhó tới, xanh xao, chập choạng như một con bệnh,
giương hai con mắt lờ đờ:
- Gần đến nơi chưa?
An đáp:
- Sắp tới nơi rồi. Lên đây mà nhìn.
Anh chỉ về phía bên kia sườn núi:
- Chỉ một phần ba khâu rựa là đến buôn rồi, tha hồ ăn hút. Đi
ta!
Hiệp phều phào đáp:
- Gần đến thì đi làm gì cho vội, nghỉ một chút đã.
Nói xong anh nằm ngửa ra, dựa mình trên cái ba lô, duỗi thẳng
hai tay trên đất, nhắm nghiền đôi mắt. An lại ngồi xuống ở trên đầu dốc, vòng
tay ôm lấy đầu gối, đưa mắt nhìn về phía chân trời xa.
Ánh nắng cuối cùng như tái nhạt dần, gió núi xào xạc rung động
ngàn cây đem những hơi lạnh từ lòng thung lũng chuyền đi khắp nẻo thâm u.
An giục:
- Đi thôi! Tối rồi!
Hiệp không mở mắt, rên rỉ:
- Nghỉ một chút đã!
An cằn nhằn:
- Đa số mà cứ phục tùng thiểu số cách này thiệt là đảo lộn
dân chủ rồi đó. Lên đây mà xem. Một phần ba khâu rựa không phải là gần. Buôn
còn xa lắm, các ngài.
Khánh và Dụng cùng ngồi thẳng dậy vịn nhau đứng lên. Khánh lấy
cây gậy gõ vào chân Hiệp, giục giã:
- Dậy nào, đi thôi!
Hiệp hé đôi mắt, rồi nhắm nghiền lại.
- Đi ta! Tối rồi!
Hiệp lại mở mắt trân trân nhìn một lát nữa rồi mới mệt nhọc
ngồi lên:
- Ừ, thì đi.
Nói thế nhưng anh vẫn không nhúc nhích. Khánh bảo Dụng:
- Đỡ nó đứng lên, kẻo nó muốn sụm bà chè rồi kìa.
Hai người lại kéo tay Hiệp, nâng anh ta dậy hết sức khó khăn.
An nói chõ xuống:
- Ai bảo tính chuyện xông pha rừng núi mà còn vợ con làm gì,
để cho gối mỏi chân chồn sớm vậy.
Khánh cười gượng gạo:
- Ấy, cái ngốc của loài người là cứ tưởng mình sống nguyên một
chỗ.
Dụng cũng cố gắng nói đùa một câu cho bớt mệt nhọc:
- Trước kia, nếu biết có ngày mình phải sống lì trên núi thế
này thì cố giữ vẹn tiết trinh để mà bây giờ gá nghĩa với một cô Thượng.
Hiệp cất tiếng cười "hê hê" một cách khó nhọc nhưng
không bước tới được một bước nào. Khánh bảo:
- Nào, chia bớt gánh nặng cho Hiệp kẻo nó nằm vạ ở đây thì khốn.
Đưa khẩu súng này cho cậu ba An. Tháo ruột tượng gạo cho tôi. Còn cái mền kia,
đưa cho cậu Dụng.
An đeo hai khẩu súng trường vội vã đi trước, dáng điệu lầm
lì. Khánh và Dụng đi gần bên nhau thỉnh thoảng quay lại như thúc giục Hiệp. Anh
này vẫn nhăn nhó, lử khử nhấc bước như một con bệnh đi về địa ngục.
Giữa cái khung cảnh núi rừng đang chìm dần vào hoàng hôn bỗng
Khánh nói lớn:
- Còn mười ngày nữa là Tết đấy nghe!
Dụng hỏi:
- Chúng mình định sẽ ăn Tết ở đâu?
Khánh đáp:
- Có lẽ phải nghỉ lại ở Đất Tó, mồng năm mới lại lên đường.
Hiệp nói bằng giọng khàn khàn:
- Đồng bào Thượng du đâu có Tết nhất mà ăn với uống. Chuyến
này lại hưởng mùa xuân cơm muối, thèm thịt bỏ cha!
Sau câu nói ấy, dáng điệu của Hiệp lại càng thiểu não thêm
lên và bước chân anh có vẻ rã rời hơn trước. Bốn người lại cùng im lặng lê những
bước chân nặng nề, mỗi người theo đuổi ít nhiều ý nghĩ xa xôi để quên bớt nỗi
khó nhọc.
Họ đến cửa buôn thì khắp núi rừng đã nhuộm một màu xám ngoẹt.
An vừa tiến lên đầu ngõ bỗng đứng sững rồi quay ngoắt lại, kêu lên:
- Nguy rồi!
Tiếng kêu đầy ý tuyệt vọng làm cho ba người đi sau hốt hoảng
cùng dừng cả lại. Khánh hỏi:
- Sao đó?
An bước trở xuống, mặt anh căng tối hẳn lại trong bóng đêm về:
- Cấm vào.
Dụng tiếp:
- Có chắc vậy không?
- Sao lại không chắc! Đồng bào gài lá trên cổng đó kìa, chắc
mình đến giữa vụ mùa nào rồi.
Và lần này An ngồi phịch xuống đất, tháo vội ba lô khỏi vai:
- Chỉ còn một cách là nằm lăn kềnh ra đây ngủ đói đêm nay.
Hiệp cũng ngồi xuống, không nói nên lời, có vẻ hết sức đau khổ.
Mọi người im lặng để nghe lòng mình xao xuyến lo âu. Bao nhiêu hy vọng ăn no ngủ
ấm thế là tan tành, và những ước mơ nghỉ ngơi trên ngôi nhà sàn sáng rực ngọn lửa
đêm dài sau một ngày đường vất vả, bây giờ như ánh nắng chiều tắt ngấm sau dãy
non xa.
Hiệp bỗng nói lớn:
- Kéo đại vào thôi, chẳng lẽ nằm đây chịu chết hay sao?
Khánh cười gằn:
- Nằm đây chưa chắc đã chết, nhưng muốn chết sớm thì cứ kéo
vào.
- Thế thì làm sao?
Trầm ngâm một lát, Khánh đáp:
- Buôn đã có dấu cấm kỵ thì không một người lạ nào có thể vào
được. Chúng ta phải chờ, nhưng không biết đợi cho đến ngày nào. Chỉ còn một
cách, hãy đi trở lại...
Hiệp kêu:
-Trời ơi! Tôi chịu chết thôi.
An bỗng thở dài:
- Sức đâu mà đi bây giờ?
Dụng cũng rầu rĩ:
- Bụng đói, trời đêm, làm sao mà bước?
Khánh nói:
- Cố nhiên là không làm sao trở lại đường cũ. Nhưng tôi biết
rõ cách đây không xa có một buôn nhỏ từ lâu đã bị bỏ hoang, chúng ta hãy tìm về
đó nghỉ tạm xem sao.
Giọng anh trở nên cương quyết:
- Chỉ còn có mỗi một con đường ấy mà thôi. Ngồi đây để trời tối
sụp thì hết đường đi, cũng không cách nào đề phòng được loài thú dữ. Đề nghị
anh em có bao nhiêu sức còn lại, thì ráng mà bước. Nào, ta đi.
° ° °
Khi bốn người mò mẫm lên được ngôi nhà đầu tiên mà họ tìm gặp
thì họ nhào ngửa trên lớp sàn tre, không kịp tháo rời ba lô ra khỏi đôi vai. Họ
cũng không nhận được rõ ngôi nhà rộng, hẹp bởi vì bên trong tối mịt, và ở bên
ngoài đêm đã phủ xuống mênh mông. Họ cũng chẳng hiểu vì sao đến được tận nơi, nếu
không phải do một sức thôi thúc lạ lùng đẩy họ bước tới như những xác chết còn
được điều động bởi sự hút dẫn ma quái khác thường. Khánh đã dẫn đầu cả bọn và
chính anh cũng không tin là mình nhớ rõ con đường. Anh bươn nhào tới, vấp té
nhiều lần khá nặng, rồi lại đứng lên lao mình về trước, không kịp nhận thấy một
đau đớn nào. Bây giờ anh nghe toàn thân nhức nhối, hình như da thịt bị cào rách
cả và cái đầu gối bên phải tê liệt hẳn đi. Nhiều lần anh cố nhấc tay để sờ vào
đấy nhưng không nhấc nổi, chỉ máy động mấy ngón tay rất nhẹ rồi giữ yên lặng một
chỗ để nghe mệt mỏi thấm mềm ở trong xương tủy. Lâu lắm anh mới quơ dần cánh
tay về phía đầu gối, và anh cảm thấy ran rát, ướt đẫm. Có lẽ là máu, mà có lẽ đấy
cũng là mồ hôi, vì khắp mình anh ướt đẫm mồ hôi. Anh nghe hơi thở mệt nhọc của
người nằm cạnh và tiếng ú ớ rời rạc, đoán chừng là Hiệp, nhưng không muốn gọi,
vì anh cứ chực thiếp đi sau mỗi lúc chợt tỉnh giấc.
Cả ba người kia từ lúc bươn bả theo Khánh cũng không còn kịp
suy nghĩ gì nữa. An cũng nhào té nhiều lần như Dụng và cả hai người không biết
là mình có bị vết thương nào không. Chỉ riêng có Hiệp, con người có vẻ mệt mỏi
nhất bọn, thì lại tỏ ra tỉnh táo, nhanh nhẹn hơn cả trong chuyến "hành
quân" cấp tốc vừa rồi. Tuy vậy, vừa ngả mình xuống là họ ngủ vùi mê mệt và
sau một giấc nặng nề, dần dần tỉnh thức để nghe tứ chi bải hoải và sự nhức mỏi
làm cho rũ liệt châu thân.
Người cất tiếng nói đầu tiên là An. Anh hỏi giữa khoảng tối
tăm dày đặc:
- Có ai tỉnh dậy đó chưa?
Tức thì cả Khánh và Dụng cùng đáp một lượt:
- Dậy rồi.
Khánh hỏi:
- An đấy à? Nằm đâu?
An đáp:
- Không biết là nằm ở đâu. Chắc không phải dưới âm phủ.
Khánh hỏi tiếp:
- Hiệp ở đâu rồi? Hiệp ơi!
Hiệp ú ớ mấy tiếng rồi húng hắng ho trước khi trả lời mệt nhọc:
- Có lẽ tôi sốt rồi các anh ơi...
Và Hiệp lại rên hừ hừ, miệng nói lảm nhảm nhiều câu dấp dính
vào nhau không rõ những gì. Cả bọn lại nằm yên lặng. Lát sau, một vài giọng
ngáy khò khè vang lên. Không biết cách đó bao lâu, Dụng bỗng giật mình tỉnh giấc.
Anh kêu:
- Anh Khánh!
Không nghe tiếng Khánh đáp lại. Dụng gọi thêm lần thứ hai:
- Anh Khánh!
Khánh vẫn nằm im mê mệt. Dụng nghe một sự yên lặng nặng nề khủng
khiếp và nếu không có tiếng ngáy gần gũi thì anh tưởng mình hoàn toàn cô độc giữa
chốn hoang vu.Theo các lỗ trống gió núi về khuya hắt vào hơi lạnh từng luồng tê
buốt và anh co quắp mình lại, nhưng vẫn không tìm được chút ấm nào. Bên ngoài
muôn ngàn tiếng động âm thầm bí mật xạc xào theo cơn gió vút, anh tưởng nghe được
tiếng thác ào ào từ xa, tiếng mang tác ở nơi nào gần gũi, tiếng loài
rắn độc gáy từng hồi dài quanh quẩn đâu đây. Anh gượng ngồi dậy nhiều lần nhưng
vẫn không sao ngồi được. Cuối cùng, anh quờ tay về phía Khánh, đập mạnh vào bạn,
kêu to:
- Anh Khánh!
Khánh choàng tỉnh giấc:
- Gì đấy?
- Lạnh quá!
Khánh nói bằng giọng yếu ớt:
- Ừ, lạnh lắm.
Tiếng An rời rạc tiếp theo:
- Lạnh cóng hết người rồi đây.
Và giọng của Hiệp rền rĩ:
- Lạnh không chịu nổi, các anh em ơi.
Tất cả bốn người đều cảm thấy lạnh nhưng không một ai có thể
gượng dậy để nghĩ một cách đối phó. Họ cùng hiểu rằng càng khuya trời càng lạnh
lẽo, cộng với đói và mệt thì đến một lúc nào đó họ sẽ không còn cựa quậy được nữa.
Lại thêm thừa dịp tăm tối muỗi đói có thể tha hồ hút máu và bốn cơ thể xanh xao
của họ ngày mai sẽ thành cơ sở độc quyền của sốt rét rừng. Những nỗi lo ấy đều
làm cho họ xốn xang nhưng họ chỉ biết đợi chờ một kẻ nào khác ngồi thẳng dậy bật
được lửa là họ có thể ngồi lên. Hai chân của An quơ lại phía Khánh gặp hai chân
Khánh cọ quậy như cố di chuyển, và khi cánh tay của Dụng duỗi ra trườn về phía
An thì bàn tay anh áp vào một cái mặt người. Anh vuốt lên má và nghe nổi gồ cái
xương khá cao của một khuôn mặt hốc hác. Dụng hỏi:
- Ủa, anh Khánh đây à?
Khánh cười rất nhẹ trong bóng tối dày:
- Không, mặt hoa da phấn của cô tiểu thư nào đấy.
Dụng cũng gắng cười:
- Cớ sao tiểu thư lại trôi giạt về phương này?
- Chẳng biết, số trời định vậy.
Cả bọn vẫn còn thói quen là thường liên hệ câu chuyện trong
lúc nhọc mệt đến các vấn đề nam nữ và một đôi lời bông đùa giễu cợt kiểu ấy có
cái tác dụng kích thích bản năng để họ bớt sự chán nản.
Khánh đưa tay lên nắm lấy bàn tay của Dụng, cảm thấy rất rõ hơn
bao giờ hết tình trạng gầy gò xương xẩu của bạn. Anh lại nghĩ đến thái độ tự
nhiên nhưng không kém phần thâm trầm của Dụng rồi liên tưởng đến tác phong mạnh
bạo, ngay thẳng của An, tinh thần tính toán chi li của Hiệp... Anh thấy mỗi người
có mỗi tâm tính khác nhau, hoàn cảnh khác nhau lại chung cuộc sống vất vả với
mình và anh xúc động trong lòng. Anh đặt tay Dụng xuống sàn, rồi gượng ngồi dậy.
Đầu anh nhức như búa bổ, chung quanh đảo lộn, quay cuồng. Sờ soạng một lát khá
lâu, anh mới lấy được bật lửa và một mẩu nến. Ngón tay cái anh run run ấn mạnh
vào chiếc bánh xe nhiều lần mà vẫn không sao phát được ánh lửa đủ bén vào cái
tim mồi. An đã ngồi dậy, xán lại:
- Nào, đưa cho tay này thử coi. Đây bật cú một cho xem.
Khánh quay người lại để đưa quẹt máy cho An nhưng vẫn bật
thêm liên tiếp nhiều lần. An đỡ lấy, mần mò sửa lại tim, vặn thêm đá rồi bật một
cái khá mạnh, tiếp một cái nữa.
Dụng kêu lên:
- Cú hai, cú ba rồi đấy. Đưa mình quẹt cho.
Anh trườn tới, giằng lấy bật lửa, loay hoay một lát rồi cố sức
quẹt liên hồi, nhưng lửa vẫn không bén cháy. Không khí chờ đợi ánh sáng thu hút
mọi người và ai cũng thấy nôn nả một cách khó chịu. Nhưng Hiệp đã ngồi lên được,
nói bằng một giọng khàn khàn:
- Bây giờ thì đến phiên tôi, đưa đây.
Hiệp lại loay hoay một lúc khá lâu, ba người nghe anh mở nắp,
thổi phì phụp trong quẹt máy. Sau cái quẹt mạnh, ánh lửa rực lên, lèo xèo bốc
to trên một cái mồi khá lớn.
An gục gặc đầu, nhận xét:
- Gặp phải tay nghiện thuốc lá có khác.
Khánh vội vàng thắp ngọn nến và rọi chung quanh. Trong ánh
sáng chập chờn bốn người thấy rõ một ngôi nhà sàn khá rộng và dài, có nhiều lỗ
hổng ở hai bên vách.
Anh bảo:
- Dấu đạn đấy nhá.
Hiệp nói:
- Lục soát xem có gì ăn được không.
Khánh đáp:
- Cả buôn đã bỏ theo giặc từ lâu lắm rồi, đừng hòng kiếm chác
được gì. Hình như ngoài vườn có một số mít, nhưng cũng không chắc có trái.
Khánh cắm ngọn nến xuống sàn và thấy vết máu đặc quánh ở đùi.
Anh gượng cười, bảo:
- Hư cẳng rồi đây.
Rồi anh nhăn mặt kéo ống quần lên. Một lớp da bị cuốn theo
phơi một mảng thịt đỏ loét. Anh cúi thổi nhẹ và hơi xuýt xoa nhưng nhận thấy đã
chú ý quá nhiều đến mình, anh ngả đùi xuống, quay hỏi mọi người:
- Có ai thương tích gì không?
An đáp:
- Tôi trật gân chân.
Dụng tiếp:
- Tôi chưa nỗi nào.
Hiệp rên nho nhỏ rồi nói:
- Tôi thì tứ chi rũ liệt.
An hỏi:
- Có bị thương không?
Hiệp lù rù đáp:
- Chắc không.
Khánh bảo:
- Bây giờ có hai vấn đề trước mắt là đói và lạnh. Đói thì có
gạo, có muối nhưng chưa có nước. Suối ở cách đây không xa nhưng phải trèo xuống
một cái dốc sâu.
An nói:
- Đã khuya quá rồi, đành nhịn luôn vậy.
Dụng tiếp:
- Đồng ý.
Khánh hỏi:
- Còn Hiệp? Có chịu được không?
Hiệp nằm ngửa ra sàn đáp:
- Thôi thì nhịn vậy chứ biết làm sao?
Khánh nói:
- Chắc là trong nhà còn lại củi khô, nếu không thì ta rút lấy
một phần sàn nhà để chụm đỡ vậy. Nào, mau lên kẻo nến sắp tàn.
Họ phải hì hục một lát khá lâu mới đốt lên được ngọn lửa. Và
khi ánh sáng phần phật chói sáng căn nhà tung ra hơi ấm chan hòa, bốn người
cùng ngồi sát lại quanh bếp và thấy yên tâm hơn trước. An xòe hai tay hơ trên
ngọn lửa, mỉm cười:
- Ước gì chúng ta có được ít trái bắp già.
° ° °
Sáng hôm sau, mặt trời lên đã khá cao, bốn người mới ngồi dậy
được. Công việc đầu tiên là đi lấy nước nấu cơm. Khánh và An bước đi khó khăn
nên Dụng và Hiệp phải lo liệu lấy. Khi tụt xuống cái dốc cao, Hiệp nửa đùa nửa
thật bảo Dụng:
- Nếu trật xương chân hay lả một miếng thịt đùi có lẽ sung sướng
hơn nhiều.
Dụng cũng cảm thấy khó khăn, mệt mỏi trong khi tuột dốc, tự
nhiên lòng sinh oán hận không đâu, nhưng khi nghe Hiệp nói thế anh liếc nhìn Hiệp
rất nhanh và giữ vẻ mặt lầm lì, không trả lời lại.
Lấy nước xong, Dụng chia số ống lồ ồ ra làm hai phần và mang
ba ống của mình về trước. Anh thấy ghét Hiệp lạ lùng, muốn nói một câu cho hả tức
nhưng không tìm ra câu nào cho hợp ý mình. Anh lại thấy An tự phụ một cách khó
chịu, còn Khánh thì giỏi che đậy để mà điều khiển mọi người. Trong lòng hậm hực,
anh cố gắng vượt khỏi dốc cho mau nhưng hai đầu gối run run chỉ chực khuỵu xuống.
Vừa leo tới đỉnh anh ngồi trên một tảng đá để nghỉ, thấy Hiệp lồm cồm leo lên,
vẻ mặt nhăn nhó:
- Nguy quá, tôi té lộn nhào giữa dốc, đổ hết nước rồi.
Dụng nín lặng một lát, cảm thấy cơn giận sôi sục trong lòng.
Tuy thế, đến phút cuối cùng anh chỉ nói được một câu, mượn ý của Hiệp lúc nãy:
- Vậy thì đổ sạch hết nước có lẽ khỏe khoắn hơn nhiều.
Và anh vội vàng đứng lên, tuy trong thâm tâm còn muốn nghỉ
thêm lát nữa. Anh nhìn vẻ mặt của Hiệp, thấy Hiệp vẫn cứ trơ trơ như không có
gì đáng phải bận tâm, Dụng bèn nói thêm:
- Ai cũng đổ sạch thì nhịn cho xong.
Rồi anh vội vã lê bước về buôn.
Hiệp ngồi ngắm nhìn lơ đãng chung quanh và anh thấy Dụng đã
ám chỉ mình một cách rõ rệt. "Nhưng lấy chứng cớ gì để bảo mình không làm
đổ nước? Lấy chứng cớ gì?" Thật là khó lòng mà bảo rằng anh có một dụng
tâm bất chính đối với anh em. Vả lại, anh mệt mỏi quá chứ nào anh có lười biếng
cho đành! Chỉ vì anh không lở da, trật gân như những kẻ khác nên anh mới phải
khổ nhọc thế này. Hiệp thấy mình không đến nỗi tệ lậu, nhưng khi vác mấy ống
tre không có một giọt nước nào anh cũng cảm thấy ngượng ngùng. Anh đứng tần ngần
nhìn xuống dòng suối xa xôi, dốc núi có vẻ cheo leo hiểm trở, rồi lững thững về.
Dụng đang ngồi bên bếp lửa với An và Khánh nói chuyện rì rầm
nhưng khi thấy Hiệp thì họ nín bặt. Hiệp làm bộ không chú ý:
- Uổng quá, mất toi ba ống nước đầy giữa dốc. Các anh xem thử,
nếu thiếu thì tôi sẽ đi lấy thêm.
An cho thêm củi vào bếp, đáp bằng một giọng lững lờ:
- Thôi được, nếu hết thì đến phiên tôi hay là anh Khánh.
Thoáng thấy một ý chia rẽ đã được biểu lộ rõ ràng qua lời tường
thuật của Dụng và giọng mát mẻ của An, Khánh cố mỉm một nụ cười hòa giải:
- Việc gì mà phải cố chấp như vậy. Cậu Hiệp mà còn cố gắng đi
được thì giúp đỡ cho anh em càng tốt chứ sao.
An cho câu ấy thật là thâm độc để gài cho Hiệp phải quay lại
suối một lần thứ hai, nếu nước thiếu thốn và anh cảm thấy bằng lòng. Nhưng Hiệp
lại hơi khó chịu, nghĩ Khánh đoán mình đổ nước dưới dốc cho nên mỉa mai như vậy.
Còn Dụng lại cho rằng Khánh điêu ngoa, nói vậy để bắt Hiệp đi lấy nước thay
mình. Bốn người ngồi quanh bếp lửa trong một không khí hết sức nặng nề, hình
như bao nhiêu thành kiến, bao nhiêu giận dỗi nghi ngờ từ lâu bị dồn đẩy lại một
bên bây giờ được dịp tháo tung sau nỗi vất vả đói khát kéo dài làm cho lý trí
rã rời không còn đủ sức chế ngự. Giữa sự im lặng chán nản, Khánh cố tạo giọng
vui vẻ:
- Nếu mang những bộ mặt đói thế này mà đi hỏi vợ thì chắc chắn
không có ma nào thèm.
An nói:
- Nhưng mặt của Hiệp thì trông bảnh bao đấy chứ! Con nhà có
khác. Các cô thiếu nữ thường thích những hạng con giống cháu dòng.
Hiệp trả lời lại:
- Thằng này đã có vợ rồi, khỏi lo. Chỉ lo cho hạng khỏe mạnh
chưa vợ, chưa con, lúc nào cũng hăng tiết vịt.
An cau mặt hỏi:
- Thế nào là hăng tiết vịt?
Hiệp cười khẩy:
- Ấy, cũng bắt chước người mà nói cho vui, chớ đâu có hiểu
mình nói thứ gì.
Khánh kêu lên:
- Thôi đi! Các cậu trẻ con lắm nghe! Kìa, cơm đã sôi rồi,
"liệu mà bớt lửa một đời không khê".
Sau khi Dụng dụi tắt lửa để vần nồi cơm thì Khánh nói tiếp:
- Tưởng phải nói cho các cậu ý thức về cảnh ngộ mình. Số gạo
mang theo chỉ còn ăn được ba ngày, mỗi ngày hai bữa. Nhưng ở Đất Tó thì không
biết được bao giờ mới hết cấm kỵ, cứ xem cái chòm lá tươi hôm qua thì phải ước
độ chừng mươi ngày nữa.
An nói:
- Ở đây rảnh rỗi chẳng phải làm gì, mỗi ngày ăn một bữa vậy.
Dụng tiếp:
- Như thế cũng chỉ được có sáu ngày.
Khánh nói:
- Lúc nãy hai cậu đi xuống dưới suối lấy nước thì tôi có gắng
lội chung quanh buôn, tìm thấy năm sáu trái mít.
Hiệp vội vàng hỏi:
- Chín chưa?
- Không, mít già.
Hiệp thở dài:
- Rủi chưa!
Khánh bảo:
- Phải nói là may mới phải. Ở trong cảnh ngộ bọn mình, mít
chín đâu có quý bằng mít già. Chúng ta luộc mít mà ăn với cơm, nếu cứ mỗi bữa nấu
hai phần mít và một phần gạo thì chắc có lẽ kéo được mươi ngày.
Sau bữa cơm trưa ngon lành ăn với muối và mắm ruốc, bốn người
loay hoay dọn chỗ để ngủ thì Khánh bèn nói:
- Hồi hôm, chúng ta thật là liều lĩnh quá đáng, ngủ không
canh gác đề phòng gì hết. Bây giờ thì tôi cắt đặt mỗi người phải gác ba giờ.
Phiên đầu là của anh Hiệp. Nào, vặn đồng hồ lại, mười hai giờ rưỡi đấy nghe. Ba
giờ rưỡi gọi An dậy rồi đến phiên Dụng. Tôi ngủ dài hơn các cậu thì tôi sẽ gác
về khuya, và gác luôn cho năm giờ.
- Thế không ăn chiều hay sao? - Hiệp hỏi.
- Thôi, cho qua cơm chiều vì được ngủ rồi. "Kẻ nào được
ngủ, kẻ ấy đã ăn", tục ngữ có câu như vậy.
- Nhưng ngày mai có thêm mít phải ăn đủ hai bữa chứ?
- Có lẽ như vậy... Tốt hơn là đợi ngày mai sẽ nói về chuyện
ăn uống ngày mai. Chỉ biết là mai không có ngủ ngày nữa đâu.
An ngủ một giấc bỗng nghe nóng ran cả mặt và choàng tỉnh dậy.
Ánh nắng xuyên qua lỗ đạn khoét sâu trên tường chiếu thẳng vào anh, khiến anh
chói lòa, không mở mắt được, phải lăn mình qua nơi khác. Anh nghe trong người bần
thần khó chịu và xem đồng hồ thấy gần ba giờ. Chỉ còn nửa giờ là đến phiên anh.
Anh muốn ngồi dậy uống một viên thuốc phòng sốt nhưng cứ thẫn thờ nhìn lên trần
nhà, nghĩ ngợi lan man không trỗi dậy được. Lát sau, anh sực nhớ là từ lúc tỉnh
dậy đến giờ không trông thấy Hiệp. Anh bèn ngồi lên, nhìn xuống sân buôn. Chung
quanh là cảnh hoang vắng, tiêu điều. Anh đứng dậy, nhón chân ra khỏi gian nhà,
leo xuống bục thang ọp ẹp. An lê bàn chân đau nhói, khập khiễng đi quanh mấy
dãy nhà sàn vắng lặng, lỗ chỗ vết đạn, soi mói nhìn vào bên trong nhưng vẫn
không thấy bóng Hiệp. Từng ngọn gió đuổi lá khô xào xạc trên những thềm đất từ
lâu không có dấu người. Vắng những sinh hoạt, cả buôn giống như một đám nhà mồ
lạnh lẽo. Đoán chừng Hiệp xuống dưới suối, An định trở về, nhưng một ý nghĩ tò
mò xui anh đi về phía dốc. Cúi nhìn, anh chỉ thấy dòng nước chảy rộn ràng, đôi
chỗ đã ửng sáng vì ánh nắng chiều dọi xuống. Nơi bờ đá nhẵn mòn - chỗ lấy nước
ngày nào của dân buôn - không có bóng Hiệp. An đứng tần ngần giây lâu rồi lại lững
thững trở về. Khánh và Dụng vẫn ngủ mê mệt, nhưng Hiệp, người có phận sự canh
gác giấc ngủ anh em thì lại biến dạng. Quá lâu như thế, hẳn không phải Hiệp đi
việc tiêu hóa ngoài rừng. Hiệp không xuống suối, vậy thì đi đâu? An xem đồng hồ
thấy còn độ năm phút nữa đã đến phiên mình mà chưa gặp Hiệp, lấy làm sốt ruột hết
sức. Anh định đánh thức hai người bạn dậy, nhưng sau một thoáng nghi ngờ, anh
bèn bước về sau buôn, khập khiễng leo lên bờ đất trổ ra một khu vườn rậm. An mới
vạch bụi tiến về phía mấy cây mít đã thấy Hiệp nhai ngồm ngoàm đi lại. An ngửi
thấy mùi mít chín văng vẳng. Anh hỏi xẵng:
- Anh đi đâu vậy?
Hiệp nuốt vội vàng rồi đáp:
- À, đi tiêu. Anh đi đâu vậy?
An thấy vẻ mặt của Hiệp có vẻ thỏa mãn của một con người no đủ
và anh khó chịu lạ lùng. Anh vừa quay lại, vừa đáp trong nỗi tức giận cố nén:
- Tôi tìm anh về để anh đánh thức tôi dậy kẻo tới giờ rồi.
Hiệp tằng hắng cho sạch giọng rồi nói:
- Sao quá lo xa như vậy? Lo nhiều nó già người đi. Nếu tôi
quên kêu thì anh cứ ngủ, chứ thiệt thòi gì?
An đứng lại:
- Sao không thiệt thòi? Không thiệt cho tôi thì chẳng thiệt
cho anh sao?
Hiệp đáp lớn:
- Việc gì mà thiệt? Tôi canh gác cho anh em kia mà!
- Hừ, canh gác! Đi chơi trong rừng chứ canh gác gì?
- Sao anh biết tôi đi chơi?
- Tôi tìm anh nửa giờ rồi.
- Phận sự của anh là ngủ, chứ đi tìm tôi làm gì?
- Nhưng tôi không thấy anh gác!
- Anh ngủ thì thấy sao được?
- Nhưng mà tôi thức.
- Ai bảo anh thức? Tôi làm thế nào cho tròn phận sự thì thôi.
Và Hiệp nói tiếp, có vẻ mỉa mai:
- Gác để anh thấy thì gác nỗi gì? Tôi leo lên trên cao này,
ngồi vào một nơi kín đáo...
- Ở trên ngọn mít...
- Ừ, ở trên ngọn mít. Để canh cho các anh ngủ.
- Và để ăn mít.
- Thì ngồi trên mít tất phải ăn mít, chứ ăn thứ gì?
- Nhưng ăn một mình như vậy thì khó coi lắm.
Hiệp làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Việc gì mà khó coi? Ơ hay, nói lạ chưa kìa! Tôi thấy một
trái mít chín đã bị loài dơi, loài chồn xơi hết, sót đâu mấy múi lủng lẳng nơi
cùi. Tôi nghĩ nếu bỏ thì phí của trời, mang về thì chia không đủ lại làm các
anh thèm khát thêm khổ. Thôi thì mình ăn miếng thừa của loài dơi, chồn cho...
tiện.
Hiệp đá vào một bụi cây bên đường rồi tiếp:
- Nếu biết anh giận như vậy thì tôi đã mang về rồi.
An tức lắm, nói lớn:
- Anh tưởng tôi dơ đến thế kia à? Sao anh không nghĩ rằng tôi
dậy sớm, muốn đi tìm anh nói chuyện cho vui? Sao anh lại không nghĩ tốt về tôi
mà cứ xét đoán người khác theo cái bao tử của mình?
Hiệp ôn tồn đáp:
- Thế sao anh không nghĩ tốt về tôi? Sao anh không tin những
lời tôi nói? Anh xem, tôi có làm hại gì ai không nào? Thôi, đúng ba giờ rưỡi rồi
đấy, tôi giao phiên gác cho anh.
Nói xong, Hiệp leo lên sàn, dọn một chỗ nằm rồi trùm chăn lại.
Câu chuyện ăn mít An không kể lại cho Dụng và Khánh, bởi vì
sau khi Hiệp đi ngủ rồi anh ngồi ngay ở đầu nhà nghĩ lại những lời của mình vừa
nói mà thấy ngượng nghịu thế nào. Hình như anh không còn là mình nữa, anh khác
hẳn với ngày nào và cả bốn người cũng không còn ai giống ai rõ rệt như trước. Họ
có vẻ tốt bằng những cố gắng bực dọc, và sự thiếu thốn, mệt mỏi mỗi ngày càng
làm cho họ ít lời thêm lên.
Đến ngày thứ năm thì cả bốn người đều thấy không sao ăn nổi
mít già nấu chung với cơm và dù đói lả họ cũng nuốt những miếng mít lèo tèo điểm
những hạt cơm một cách uể oải, khổ sở khác thường. Khánh cầm miếng mít chấm vào
mắm ruốc nở một nụ cười méo xệch, cố gắng khôi hài:
- Chúng ta giống như con nhà cưng dưỡng, cứ tới bữa ăn thì lại
èo uột, nhưng đỡ một nỗi là đến cuối cùng vẫn cứ sạch chén, sạch nồi.
Hiệp vừa cắn mít vừa nói:
- "Chả" này không được ngon đâu. Ngày mai phải đổi
món khác. Chúng ta ăn món cá chiên hay là thịt hầm mới được.
Nói xong anh cười hô hố, vẻ mặt nhăn lại một cách thảm hại. Dụng
lầm lì ăn, đầu óc nghĩ ở đâu đâu nhưng mỗi lúc nhai xong anh phải cố gắng hết sức
mới nuốt trót lọt, cổ họng đau nhói như sướt trên những vết thương. Anh vẫn
nghe trong lòng mình có sự oán giận ngấm ngầm, nhưng cũng không rõ vì đâu, tại
sao, và thích giữ sự yên lặng để khỏi nói lên những điều phiền bực. An ăn xong
miếng cuối cùng, nghiêng cái nồi lại, vét những hạt cơm còn sót chìa ra trước mặt
mọi người:
- Có ai tráng miệng nữa không?
Khánh cười:
- Thôi, ăn đi. Cái kiểu "mời, lạy trời đừng ăn" ấy,
trông rõ lắm mà.
Hiệp tiếp:
-Tôi nhớ thằng em thứ tư của tôi ở nhà, một lần nó làm nước
chanh để uống thì bọn em nó bâu lại chung quanh. Nó làm thinh, cầm những miếng
đường, không lấy dao cắt, nhưng đưa vào miệng cắn cho thật nhỏ, rồi nhả vào bát
nước chanh. Xong, nó khuấy cho đều và thân mật mời lũ em một cách thật là rộng
rãi. Nhưng lũ em nó lắc đầu ngoay ngoảy, tuy thèm nước chanh hết sức, nhưng gớm
nước miếng ông anh dính ở trong đường.
An cho Hiệp mỉa mai mình, chìa hai tay ra:
- Chắc tôi không thể sắp chung vào loại anh em của cậu Hiệp
được vì tôi ăn uống cũng hợp vệ sinh. Trước khi ăn cơm bao giờ tôi cũng rửa
tay, và không phải là gặp gì cũng bốc, bạ gì cũng ăn.
Nói xong, An thấy hả hê và Hiệp quay mặt nhìn đi nơi khác. Dụng
và Khánh cũng gắng cười để tạo không khí dễ dãi, hầu tránh các sự va chạm chứ
không hiểu rõ những ý thầm kín giữa An và Hiệp. Đến lúc mang đồ đi rửa, An nói
một cách quả quyết:
- Ngày mai tôi sẽ cho các anh ăn, đổi món, không phải nói đùa
đâu nhé.
Khánh nói theo:
- Chung quanh vùng này không có rẫy hoang, đừng hòng đi hái bắp
già hay đi bới đào khoai sót.
An nói vọng lên:
- Không đâu, món ăn của tôi đặc biệt hơn nhiều.
Sáng hôm sau, ăn trưa xong, An cầm dao, xin với anh em để đi
vào rừng. Dụng muốn đi theo nhưng An lắc đầu:
- Ở nhà có công việc khác, tôi đi một mình đủ rồi.
Khánh dặn:
- Cấm đi xa đấy.
An cười:
- Chân cẳng thế này đi xa sao nổi.
- Nhưng qua khỏi suối cũng đủ cọp nhai xương rồi.
- Đừng lo, tôi đem hai quả lựu đạn.
Mọi người nhìn An khập khiễng tiến vào trong núi, phỏng đoán
nhiều cách khác nhau. Xế chiều, vẫn chưa thấy An trở về. Ai cũng lo lắng nhưng
không nói lên ý nghĩ của mình, sợ nói trắng ra như có điều gì tàn nhẫn. Cuối
cùng họ tuột xuống sàn, mỗi người tìm đến một ngả vào rừng đứng ngóng. Khánh
nén đau ở gối, cố leo lên một ngọn cây, nhìn vọng khắp nơi. Khắp nơi chỉ thấy
cây rừng trùng điệp, đá núi cheo leo, khói bốc lờ mờ tỏa lên từ các lũng sâu.
Anh thấy trong người bồn chồn, thầm trách mình quá dễ dãi, khinh thường bất trắc.
Anh nhớ lại bao nhiêu việc đã qua, trách mình chủ quan, sơ suất và tự hỏi mình
tại sao có thể ngu ngốc như vậy. Anh lẩm bẩm: "Thực là vô trách nhiệm quá!
Bậy quá!" nhưng không biết phải tìm An về ngả hướng nào.
Hoàng hôn xuống dần, nắng chiều lui mãi, lui mãi sau đỉnh non
xa. Gió lạnh thổi lại rờn rợn, hun hút qua mấy dãy nhà hoang vắng. Bỗng Dụng
reo lên:
- An kìa!
Khánh quên cả cái chân đau, nhào lại chỗ Dụng. Hiệp cũng bươn
bả chạy đến. An ở sườn dốc tiến lên, dáng đi lảo đảo như người say rượu. Khánh
kêu:
- Trông An đi kìa, xuống đỡ mau lên.
Và anh cố gắng bước tới nhưng Dụng rồi Hiệp đã vượt đi trước.
An vừa thấy Dụng, buông tay, thả rời một xâu măng dài và ngã vào Dụng khiến anh
này suýt té ngửa. Khắp người của An mồ hôi dầm dề, miệng thở hồng hộc, cặp mắt
lờ đờ của kẻ đuối sức. Hiệp vừa cúi xách xâu măng thì Dụng đã kêu:
- Đưa cho anh Khánh, giúp tôi một tay đây này.
Hai người dìu An một cách khó khăn, và Khánh phải giúp một
tay mới đem được An lên nhà.
Nằm xuống, An đã mê man bất tỉnh. Khánh lau mồ hôi cho An, hỏi
dồn:
- An! An! Sao vậy?
Anh gọi to hơn. Một lát, An mở cặp mắt ngơ ngác, ú ớ trả lời:
- Tôi bị... rít cắn.
Ba người suýt cười nhưng ghìm lại được. Khánh hỏi gặng lại:
- Rắn hay rít?
An phều phào đáp:
- Rít.
Rồi anh nhướn cổ và ba người thấy dưới gáy một chỗ sưng to, đỏ
ửng. Hiệp cười:
- Ngỡ là cọp cắn, ai ngờ lại rít.
Nhưng An đã trợn mắt lên, cặp mắt trắng dã của người sắp chết.
Rồi An run bắn toàn thân, giật tay, đập chân như bị điện giật. Miệng anh thở ra
phì phì sùi cả nước bọt, và cả ba người xúm lại cố đè anh xuống, giữ lấy tay
chân nhưng anh vẫn cố lăn lộn xô đẩy ba người, kêu lên một cách khó nhọc. Khánh
thét to:
- An bị nhiễm độc của loài rít lớn ở trong tre rừng. Mau lên!
Châm máu ở đầu ngón tay thử xem!
Hiệp là người phụ trách thuốc men nên vội chạy đi đem hộp thuốc
lại. Trong hộp chỉ có mấy gói kí ninh, một ve thuốc đỏ, mấy ống hồi dương. Anh
nghe lời Khánh nắm chặt bàn tay của An, lấy kim châm vào đầu ngón cho máu rỉ ra
nhưng khi thả xuống thì An vẫn cứ vùng vẫy, lăn lộn, mắt trợn ngược lên, thở nấc
từng hồi. Dụng cố giữ chặt hai chân hung hăng của An, nói trong hơi thở hổn hển:
- An bị hành quá như thế, e chết mất thôi. Hãy cho một mũi hồi
dương xem sao!
Thực ra, không còn thuốc nào khác nữa. Hiệp lại vội rút ống
tiêm - nấu sẵn không biết bao nhiêu ngày rồi - chích gấp cho An một mũi. Nhưng
An vẫn cứ lăn lộn, vùng vẫy mỗi lúc càng thấy mệt nhọc hơn lên.
Dụng hối hả bảo:
- Cho một mũi nữa đi nào!
Hiệp lại chích thêm một mũi, nhưng nỗi đau đớn của An không hề
giảm bớt mảy may. Những cơn vật vã của anh lại càng mệt mề - nặng nhọc. Ba người
vừa cố giữ An vừa ngước nhìn nhau bối rối. Khánh hỏi:
- Còn môn ngoại khoa nào không?
Rồi anh kêu lên:
- À, rệp! Tôi nhớ ra rồi. Bị rắn độc cắn thì cho uống rệp.
Hiệp cãi:
- Đây là rít mà!
- Rắn cũng như rít chứ gì. Gấp lên, tìm ít con rệp.
Dụng và Hiệp nhìn nhau ngơ ngác. Tìm đâu những thứ của độc,
bây giờ được xem như là thuốc quý để cứu mạng người? Mấy dãy nhà sàn vắng ngắt,
vắng tanh, bắt đầu tối lại khi hoàng hôn xuống chắc khó có thể cung cấp được
con rệp nào. Dụng nói như mếu máo:
- Hãy đốt lửa lên! Không có người ở làm sao mà tìm được rệp?
Khánh phải ngồi choàng qua người của An để giữ lấy cánh tay
kia cho Hiệp đốt lửa. Anh giục giã:
- Tìm xem trong cái ba lô thử nào! Tôi nhớ như trong ba lô
anh Hiệp có rệp đấy mà.
Hiệp vội xách ba lô lại bên lửa và anh căng từng mí vải để
tìm. Cuối cùng anh reo lên:
- Có đây!
Khánh mừng rỡ:
- Có rồi hả? được mấy con?
- Hai con.
- Ít quá, tìm thêm.
- Lục lọi khắp rồi nhưng không có nữa.
Dụng nói:
- Hễ có hai con chắc phải có nhiều nữa chứ!
Câu ấy mọi ngày có thể tạo dịp nổ những trận cười nhưng trong
cảnh ngộ bấy giờ không ai có thể nghĩ đến mua vui. Hiệp hơi nhếch mép nhưng anh
kịp thời nén lại. Khánh bảo:
- Bóp cho dập ra, bỏ vào trong ca, cho một ít nước, mau lên.
Hiệp vội làm theo, cố nạy miệng An để đổ chút nước hôi hám ấy
vào. An giãy giụa, thở phì phì, rồi nuốt ực cả. Nhưng anh vẫn giật liên hồi, có
vẻ gần như kiệt lực, quằn quại trước phút cuối cùng. Khánh đẫm mồ hôi, nói như
tuyệt vọng:
- Cố nhớ xem còn cách gì nữa không?
Hiệp có vẻ tư lự rồi hỏi:
- Nhưng mà xưa nay rít cắn đâu có nguy hiểm như vậy?
Dụng cũng tiếp lời:
- Ừ, dù rít có lớn cũng không nhiễm độc như thế. Hay là...
Nhưng anh không tìm ra được nguyên nhân nào khác. Bỗng Hiệp
nói to:
- Đúng rồi! Hồi trưa An ăn mắm ruốc, phải không?
Dụng và Khánh cùng đáp:
- Có đấy!
- Đúng rồi. Rít cắn. Tôi đã có nghe nói đến một lần. Ăn thứ mắm
ruốc mà bị rắn cắn thì độc mạnh lắm.
- Liệu chữa được không?
Hiệp gật đầu:
- Được, được.
Rồi anh vội vàng chạy lại chỗ để ruột tượng, đổ gấp số gạo ra
cái mo cau. Anh tặc lưỡi:
- Gạo còn ít quá, sợ không đủ cám.
Khánh hỏi:
- Cám à? Vậy thì lấy hết số ruột tượng không, lật ngược nó lại,
vò nát cho cám dính ở trên vải rớt ra.
Hì hục một lát, Hiệp đã hòa được nửa ca nước cám. An đuối lắm
rồi, anh giật chậm hơn nhưng rất mệt mề. Hiệp đổ nước từ từ vào miệng An, anh ừng
ực nuốt hết. Như một phép lạ, khi Hiệp rót giọt cuối cùng vào giữa đôi môi hé mở
thì An từ từ dịu đôi mắt lại, hơi thở êm dần và toàn thân anh chuyển động nhẹ
nhàng rồi nằm im hẳn như người ngủ thiếp. Khánh lau mồ hôi, nói trong nỗi mừng
nghẹn ngào:
- Cậu Hiệp giỏi thật, không ngờ một chút cám vụn mà cứu được
một mạng người.
Một lát, An mở mắt ra, nhìn khắp mọi người có vẻ xa lạ rồi cười
một cách ngây dại. Khánh bảo:
- Ngủ đi!
An ngoan ngoãn nhắm mắt. Lát sau, anh ngáy đều đặn. Dụng cúi
nhìn An rồi nói:
- Trông nụ cười và đôi mắt cậu An vừa rồi thì chưa diệt hẳn nọc
độc trong người. Nếu mình có thêm ít cám thì quý chừng nào!
Khánh lê lại chỗ xâu măng, co tay xách lên có vẻ nặng nề, rồi
bảo:
- Thế này mà An bị đau còn cố mang về cho chúng mình ăn, có tội
nghiệp không?
Hai ngày sau đó, phần cơm đều dành cho An nên cả ba người chỉ
ăn có mít. Họ gầy rạc hẳn và không còn muốn suy nghĩ gì nữa. Nhất là Hiệp, anh
cứ nằm lì một chỗ giương mắt thao láo, ít nói và ít trả lời. Một buổi sáng,
Khánh dậy sớm, bảo Dụng và Hiệp:
- Các cậu trông An để tôi đi lên Đất Tó xem thử thế nào.
Dụng nói:
- Anh để tôi đi, chân anh còn đau kia mà.
Khánh đáp:
- Cậu không biết đường, đi mất công lắm.
Dụng nài:
- Tôi đi cho biết đường với.
- Thôi, ở nhà. An thì chưa mạnh, còn Hiệp đã muốn nhuốm bệnh
rồi đó.
Anh chống cây gậy, cố lê chân đi. Nửa chiều, Khánh về, có vẻ
hết sức mệt mỏi. Vết thương đêm nào ở nơi đầu gối bây giờ rướm máu. Dụng hỏi:
- Lại té ở đâu phải không?
Anh đáp:
- Vấp ngã nhẹ thôi, chẳng hề hấn gì.
Nhưng khi ngồi xuống, anh nhăn mặt lại rất lâu. Hỏi qua sức
khỏe của An, Khánh nói:
- Độ ba ngày nữa, chúng ta mới có thể lên Đất Tó. Hôm nay đã
gần cuối năm, tôi muốn đi kiếm ít gạo về cho chúng ta ăn uống no nê để lấy lại
sức. Nhưng mà không vào buôn được. Đồng bào lên rẫy xa quá, chiều tối mới về,
không thể nào gặp. Ngày mai là ba mươi rồi.
Hiệp lẩm bẩm:
- Đã ba mươi rồi!
Dụng nói:
- Ngày nào của chúng ta đây cũng giống y như ngày nào, nói
chuyện ba mươi mồng một làm gì cho phiền.
An nằm yên, nghe ba người bạn nói chuyện, ngước về phía họ,
nói bằng một giọng run run:
- Hôm kia, tôi thực dại dột, bỏ đi quá xa, không chịu nghe lời
mấy anh dặn trước. Lại ham hái mấy mụt măng mà cứ đi mãi. Nhưng khỏi ngọn núi
sau buôn, tôi có nhìn thấy một cái xóm nhỏ ở trên chót đỉnh, ta thử đến đó xem
sao, biết đâu lại chẳng có gì để ăn trong ba ngày nữa. Hôm nay chỉ còn một nắm
gạo thôi. Rau rừng và mít làm sao mà ăn nổi nữa?
Cặp mắt của Khánh sáng lên. Nhưng cúi nhìn xuống chân mình
anh lại ái ngại. Dụng nói:
- Ngày mai, anh để tôi đi.
Khánh lắc đầu:
- Anh đi một mình không tiện.
- Sao lại không tiện? Anh để tôi đi. Ngày mai, anh để tôi đi.
Khánh nhìn vẻ mặt cương quyết của Dụng và anh làm thinh.
Đi khuất khỏi buôn, Dụng thấy trơ trọi lạ lùng giữa chốn núi
rừng vắng vẻ. Anh hơi hối hận về cái ý định lên đường và thấy hồi hộp, lo âu về
mọi bất trắc mà anh tưởng tượng có thể xảy ra. Dụng lại có dịp nhận thấy mình
quá suy yếu đến nỗi mỗi lần trèo dốc, anh thở hào hển, đầu nặng, tai ù, cặp mắt
không còn trông rõ đất trời. Anh lại ngồi nghỉ rồi lại cố gắng đứng lên. Sang
được triền núi bên kia, Dụng thấy ở trên đỉnh cao chót vót trước mặt một xóm
nhà nhỏ như lời An nói. Anh vui mừng, tự giục giã mình nhanh bước, nhưng vẫn
không đi mau được bao nhiêu.
Dụng phải đi qua nhiều ngọn đồi nhỏ để tiến dần lên đỉnh cao.
Mỗi khi xuống dốc anh lại gặp một dòng suối trong veo và anh dốc nước vào mặt
cho tỉnh người lại. Càng đi, Dụng thấy cảnh trí thay đổi rõ rệt, khí trời mát mẻ
êm dịu mặc dầu ánh nắng vẫn chiếu bao la. "Đây là một ngày cuối năm tươi
sáng", anh tự nhủ mình như vậy, và có cảm tưởng lạc loài vào chốn Bồng
Lai. Lá cây dài, mướt, loang loáng, chập chờn, theo đà ngọn gió phơ phất nhẹ
nhàng. Có những tiếng chim ríu rít, và anh đoán là những giống chim lạ không thể
tìm gặp bất cứ nơi nào trong chốn rừng rú Trường Sơn. Dụng hơi ngạc nhiên thấy
mình tự nhiên khỏe lại và nỗi nhọc mệt leo dốc không còn nặng nề như lúc ra đi.
Anh hái nhiều hoa ở sát bên mình gài lên khắp người và rất sung sướng thấy trên
bước đường đăng sơn không có những giống dây leo chằng chịt, những bụi gai rậm
um tùm, những lớp lá mục ẩm ướt, oi nồng dồn chất tự biết bao đời, đất sống của
loài sên vắt.
Hình như đỉnh núi cao quá nên được chan hòa trong lớp khinh -
thanh và cả cỏ cây đều đượm nhuần vẻ tươi mát. Bao nhiêu rác rến bụi bặm có lẽ
thường xuyên đã được nước lũ từ cao dội về hố thẳm, lũng sâu cho nên mặt đất sạch
sẽ, phơi bày xen giữa các cây những khoảng sáng sủa như mời mọc nằm. Dụng lại
có ý mừng thầm cho sự may mắn của mình, nghĩ rằng bao năm sống ở núi rừng bây
giờ mới tìm gặp được một khung cảnh mới, hoàn toàn khác lạ với bao nhiêu cảnh
trải qua. Niềm vui khiến anh đủ sức rẽ cây vạch lá lên cao.
Xế trưa thì Dụng đã thấy bóng người lố nhố trong buôn và những
tiếng cồng, tiếng mõ vang dậy. Anh náo nức bước vào buôn.
Mấy con nai lớn thui xong đang nằm nghiêng ngửa giữa vạt đất
trống chung quanh đồng bào Thượng du, kẻ ngồi người đứng làm thành mấy lớp vòng
tròn.
Họ không đông lắm, người nào trông cũng khỏe mạnh, rắn chắc,
nét mặt vui vẻ hồn nhiên. Khi thấy Dụng vào, nhiều cụ già buông vòi rượu cần ngẩng
lên nhìn với dáng điệu đón chào, những người trai trẻ dừng nhảy theo nhịp cồng,
mõ chờ đợi, các em bé nhỏ rời khỏi vú mẹ giương những cặp mắt đen láy, tròn đẹp,
ngơ ngác và mấy cô thiếu nữ nhìn nhau, nhoẻn một nụ cười như ngầm trao đổi với
nhau về người khách lạ. Dụng bắt gặp một không khí tự nhiên thân mật từ đầu nên
mạnh dạn tiến vào, đến gần một bậc đã có tuổi, vóc dáng khỏe mạnh ngồi giữa các
cụ mà anh đoán chừng là ông chúa làng. Anh phải thay đổi tiếng nói ba lần và
dùng thổ ngữ Mnông ông cụ mới hiểu. Anh nói về nỗi vui mừng của mình được gặp đồng
bào, tỏ ý muốn đổi một số thực phẩm. Đoạn anh giở mấy áo ấm của anh và Khánh, hộp
quẹt, ca nước... đem theo thay thế bạc tiền. Ông chúa làng cười:
- Hãy vui vẻ đã. Uống rượu, ăn thịt cho no cái bụng đi đã.
Dụng ngồi phệt xuống vạt đất, bên cạnh ông cụ. Ông vẫy tay ra
hiệu. Đoàn trai, kẻ cồng, người mõ, nhịp nhàng, ưỡn ệnh nhảy quanh.
Những bộ mông rắn chắc, đầy thịt quay sang phía tả, lắc sang
phía hữu, trong khi đôi chân lò cò, khập khững cùng với đôi tay khuỳnh lại, co
giật như diễn tả được niềm vui nức nở trong lòng, giữa một cuộc đời vật lộn không
ngừng để mà thủ thắng đối với thiên nhiên. Cuộc vui kéo dài, trong khi một số cụ
già cắt xẻo thịt nai ra những miếng lá, thì những cô gái lăng xăng, ríu rít nấu
nước, chia muối vào trong từng phần. Dụng hỏi một cụ ngồi cạnh:
- Nai gì vậy kìa?
- Nai săn đấy. Trai làng săn về hồi sáng nay mà. Sửa soạn ăn
uống đi thôi.
Khi mọi người nhập tiệc, Dụng cũng được kể trong số thực
khách.
Không ai tỏ ra ngờ vực bàn tán về anh và cũng không ai tỏ ra
oán ghét hay là mừng rỡ. Anh đến và anh thành người trong buôn ngay từ phút đầu.
Dụng ăn những miếng thịt nai chấm muối cắt đầy trên lá, uống nhiều rượu cần, rồi
nghĩ đến mấy người bạn ở dưới xa kia đói khát, cảm thấy trong lòng nao nao.
Ăn xong, trời đã chiều. Ông chúa làng dắt anh đi lại đám trai
trẻ nói cho họ biết vì sao anh tìm đến buôn và ai cũng đều nhìn anh mỉm cười, gật
đầu. Ông bảo:
- Vào nhà nghỉ đã, sáng ngày mới đi về được.
Rồi ông nói to:
- Ai được người khách ở đây? Ai thấy trước nhất?
Dụng hơi ngạc nhiên về câu hỏi khá kỳ quặc ấy. Làm sao mà biết
ai thấy trước nhất khi anh đi vào giữa lúc buôn đang tụ tập, mọi người cùng
nhìn rõ anh? Dụng đâu phải là một con chim nhỏ, một cành hoa rừng, hay một cây
kim bé chút? Nhưng anh ngạc nhiên xiết bao khi thấy một ông cụ già, một bà cụ
già và một cô gái kêu lên:
- Thấy trước đấy mà.
Ông chúa làng có vẻ lo nghĩ vì gặp phải một trường hợp khó xử.
Ông quay sang Dụng:
- Muốn về nhà ai?
Dụng muốn về nhà cô gái vì cô trông thực ngây thơ, hiền lành.
Ông chúa làng hỏi:
- Muốn về nhà cô gái à?
Anh đáp:
- Muốn lắm, nhưng cũng muốn về nhà của bà mẹ, nhà của ông cha
này nữa.
Mọi người đều cười. Bà cụ vui vẻ:
- Về nhà tôi đi. Nhà cô Min Ray ở bên tôi đấy. Ông cụ Pay
Khoan cũng ở gần bên đấy mà.
Dụng gật đầu, ra vẻ chịu ơn rồi đi theo bà. Anh lên một dãy
nhà sàn khá dài có gần cả trăm thước tây, nghe mùi cay nồng của những xâu thuốc
phơi khô treo từng dãy dài. Bà cụ bảo anh ngồi xuống bên bếp. Lấy ra một bó thuốc
lớn, bà bảo:
- Hút đi.
Anh phì phèo nhả khói cảm thấy tươi vui, sảng khoái. Không
khí của miền núi cao và vẻ thân mật trong sự tiếp đón làm cho sự sống trong người
của anh như thay đổi hẳn. Hầu như bệnh hoạn, đói kém, âu lo không hề có mặt ở
nơi chót vót của đỉnh non này. Anh hỏi bà cụ:
- Buôn gì đấy mí?
- Buôn Pu Tha.
- Núi Pu Tha đấy à?
- Ừ, Pu Tha đấy.
Bà cụ vào trong, anh thấy bóng bà loay hoay dọn dẹp. Một lát
bà khệ nệ bưng ra nào chuối, cam, những quả xoài rừng bé nhỏ, vàng óng và nhiều
trái cây chín đỏ mà anh chưa hề biết đến. Bà đặt ở trước mặt anh:
- Ăn đi. Ăn cho hết đi.
- Mí cho nhiều quá, ăn làm sao hết?
Bà cụ mỉm cười nhìn anh chăm chú như được săn sóc một người
thân yêu. Vừa lúc đó cô gái và một anh thanh niên bước vào, cả hai chào anh bằng
một nụ cười vui vẻ. Người con gái dáng điệu nhanh nhẹn, da ngăm ngăm đen, có
đôi mắt sáng và một khuôn mặt dịu dàng. Chị ngồi xuống sát bên anh, hỏi rất tự
nhiên:
- Tên là gì à?
- Dụng đấy.
Chị cố ép lưỡi, lặp lại tên anh và cất tiếng cười dòn tan. Dụng
cũng cười theo, rồi hỏi:
- Tên gì?
- Y Meng
- Y Meng con của mí à?
Chị gật đầu. Dụng nhìn người trai rồi hỏi:
- Em Y Meng đấy phải không?
- Ừ, em đấy. Có dễ thương không?
- Dễ thương lắm. Giống hệt Y Meng như hai giọt nước.
Chị lắc đầu:
- Không giống nhiều đâu. Nó là đàn ông kia mà.
Rồi chị bảo anh:
- Hãy ăn đi chứ!
Dụng lắc đầu:
- Để dành đem về cho anh em tôi. Họ ở dưới kia không có gì để
ăn cả.
- Ăn đi, còn có nữa mà.
- Có nữa, tôi cũng đem về. Tôi đã được ăn thịt nai, được uống
rượu cần, được hút thuốc lá, họ nào có được gì đâu?
- Anh tốt lắm đấy.
Rồi chị quay sang người em:
- Kiu à, tốt lắm phải không?
Kiu gật đầu:
- Ừ, tốt lắm, tốt đấy.
Dụng vội vàng nói:
- Chẳng tốt gì hết, Kiu à. Anh em lo lắng cho tôi, tôi lo lắng
cho anh em, vậy đó. Ai cũng nhờ ai cả thôi.
Y Meng có vẻ nghiêm nghị:
- Lo cho anh em là tốt đấy chứ. Tôi cưới anh nhé?
Dụng hoảng hốt nói:
- Sao lại cưới tôi?
Y Meng thản nhiên trả lời:
- Tôi ưng anh mà.
- Sao ưng gấp vậy?
- Anh tốt đấy.
- Không, tôi xấu lắm.
- Đã bảo tốt mà!
- Tôi nghèo lắm kia.
- Nghèo thì Y Meng nuôi. Y Meng có rẫy, có trâu, có gà. Này,
đi xem rẫy Y Meng!
Chị lôi tay anh kéo dậy. Dụng ngoan ngoãn theo, trong lòng có
một nỗi vui ngơ ngác. Ra khỏi nhà, anh bảo:
- Gọi Kiu đi với.
- Nó là đàn ông, nó phải ở nhà coi heo.
Y Meng dắt tay anh, qua mấy dãy nhà. Nhiều người đàn ông ngồi
hút thuốc ở bục cửa nhìn xuống mỉm cười vui vẻ. Một cụ già hỏi:
- Ưng lấy rồi à?
Y Meng đáp:
- Ừ, ưng rồi.
- Người ta có ưng nhiều không?
- Ưng chưa được nhiều lắm đâu. Còn đi xem rẫy đã chứ.
Cụ già cười rất hồn nhiên, nói theo:
- Ưng nhiều đi thôi, cho buôn ta được đông người.
Dụng theo Y Meng đi về một phía bờ dốc. Nắng chiều đã nhạt,
rây xuống cây lá xanh mướt một màu vàng dịu. Không khí mát lạnh nhưng anh không
cảm thấy mùi gây gấy ớn người như ở những chốn núi rừng anh đã trải qua. Đi cạnh
Y Meng thấy chị tuy nhỏ hơn anh khá nhiều nhưng anh lại có cảm tưởng mình là cô
gái đi theo một gã đàn ông. Anh tự nhủ: "Mình là cô gái quá mới, không biết
mắc cỡ chút nào".
Y Meng dừng lại, chỉ tay về một đỉnh xa có những vạt rẫy vàng
sẫm lấm tấm vệt xanh, chị nói:
- Rẫy đấy, cưới rồi Y Meng sẽ đưa lên rẫy.
Dụng ngơ ngẩn nhìn, cảm thấy cả một cuộc đời êm đềm trước mắt.
Anh tưởng tượng mình sẽ lấy Y Meng, sống một cuộc sống bình dị, đơn giản ở chốn
cỏ cây khuất lấp, gạt bỏ mọi sự phiền toái trên đời...
Y Meng kéo tay của anh sát vào người chị rồi rẽ vào một lối
khác. Hai người đi đến một dòng suối trong. Chị bảo:
- Nước này mát lắm, rửa đi.
Anh vốc nước, cảm thấy tê lạnh, gượng gạo rửa mặt rồi theo Y
Meng lội qua bên kia. Dụng ngạc nhiên thấy rừng ổi tươi tốt, trái chín mọc đầy,
trắng nõn, buông cành trĩu xuống là sà mặt đất. Anh bàng hoàng tưởng mình đi
vào một thế giới huyền hoặc không có trên cuộc đời này. Anh đứng sững, nhìn
quanh, khi Y Meng vỗ vào lưng bảo đi, anh mới sực tỉnh. Anh quờ tay trước mặt
mình và các ngón tay của anh lút sâu vào trong những trái ổi chín rục mềm, tỏa
ra mùi hương đậm đặc. Hai người đi vào sâu thêm và Dụng nghe tiếng vỗ cánh rần
rật của vô số chim qua các lá cành. Nhiều con mải mê mổ vào những trái ổi chín
không sợ bóng người, tưởng chừng có thể chụp bắt rất dễ. Rừng ổi mênh mông, hai
người đi mãi. Dụng vừa ăn ổi vừa nghĩ đến những bạn ở dưới núi bây giờ chiều xuống
đang nằm bên bếp ước ao những chén cơm đầy, và thầm tiếc rẻ cho họ không được
may mắn như mình.
Y Meng đưa anh ra khỏi rừng ổi và rẽ sang một lối khác gần
hơn để trở về nhà. Chị hỏi:
- Ưng lấy Y Meng nhiều chưa?
Dụng duỗi hai chân trên sàn, đáp lại:
- Ưng nhiều lắm rồi.
Chị lại gần, vỗ lên má anh, cười rất vui vẻ:
- Tốt đấy.
- Nhưng mà...
- Gì à?
- Tôi phải trở về dưới ấy, có nhiều anh em đang chờ.
- Bao giờ mới lên?
- Xong việc, tôi lên.
- Có lâu lắm không?
- Lâu lắm.
- Lâu chừng nào kia?
- Không biết rõ được. Sợ đến lúc nàng Y Meng già như bà mí vậy
đó.
Y Meng cau mày, có vẻ buồn bã.
Dụng tiếp:
- Tốt hơn, đừng chờ đợi tôi làm gì.
Y Meng lắc đầu nhẹ nhàng, cặp mắt ngó về nơi xa, rồi nói:
- Không chờ gì đâu. Lâu quá đi mà, chịu không nổi được.
Chị nhìn chăm chắm vào anh, nói tiếp:
- Tốt với anh em mà không tốt với Y Meng, ghét lắm. Có ưng lấy
Min Ray không?
Dụng kêu:
- Không đâu! không đâu! Tôi nào có quen Min Ray! Không ai tốt
bằng Y Meng, xong việc rồi tôi sẽ lên, tìm thăm Y Meng.
- Chờ ba mùa lúa thôi đấy.
- Ừ, chờ tôi ba mùa.
- Đến nhà Min Ray chơi không? Min Ray dễ thương lắm mà.
- Thôi, tôi ngồi gần bên Y Meng, ngày mai tôi về.
Y Meng lầm lì vẻ mặt, không nói năng gì. Dụng nằm xuống sàn,
sát bên bếp lửa đã được Kiu đốt cháy rực. Anh nhìn ra ngoài thấy trời tối lại,
những ngọn núi mờ dần chìm trong màn đêm dày đặc mênh mông. Anh thiếp đi trong
giấc ngủ nhẹ nhàng. Khi anh chợt tỉnh thấy bên mình một mo xôi khá lớn, mấy xâu
thịt nướng và chén nước muối. Bà mí, Y Meng và Kiu ngồi cạnh một bếp gần đấy
quay lại nhìn anh. Bà mí bảo anh:
- Ăn đi rồi ngủ cho khỏe.
Anh ngồi dậy, mời mọc mọi người, ai cũng lắc đầu, trả lời:
"No rồi". Dụng vói tay rút lấy bốn miếng mo cau phơi trên giàn bếp, đặt
trước mặt mình, chia xôi, chia thịt ra làm bốn phần đều nhau. Rồi nói: "Phần
của mí đấy, của Y Meng đấy, của Kiu nữa đấy".
Ba người nhìn anh có vẻ cảm động, bà mí nói:
- Tốt lắm.
Y Meng nhìn anh chăm chú, rồi quay sang mẹ, nàng bảo:
- Tốt nhiều đấy chứ?
Bà mí gật đầu:
- Tốt nhiều.
Rồi lại bảo anh:
- Ăn cho hết đi. Đừng để còn lại, không tốt.
Dụng ngồi xếp bằng, nhai xôi và thịt một cách thong thả, chậm
chạp. Mỗi lần anh ngước nhìn lên, đều gặp Y Meng chăm chắm nhìn anh như quan
sát một vật lạ mà nàng ưa mến. Tuy hơi ngượng nghịu nhưng anh cảm thấy một niềm
thích thú của kẻ tự nhiên biến thành nhỏ bé hẳn lại.
Quá no, Dụng cũng cố ăn hết phần xôi thịt của mình. Khi Kiu
đem nước cho anh, Y Meng rời khỏi nhà sàn. Một lát, chị về, theo sau nào cụ Pay
Khoan, Min Ray và nhiều người nữa trong buôn, mỗi người trai trẻ trong tay đều
có mang theo một cây đàn dài và những ống tre lồ ồ đục thông các mắt để dẫn tiếng
đàn. Mọi người quây quần bên anh, nói chuyện vui vẻ, giữa những tiếng đàn, tiếng
hát kéo dài dằng dặc như tiếng suối nguồn bất tận...
° ° °
Mỗi lần quay lại, Dụng vẫn nhìn thấy những người trong buôn
đưa tay vẫy vẫy như kêu gọi anh. Anh cũng vẫy lại nhiều lần, rồi cố bước mau để
khỏi kéo dài những phút tiễn biệt ở cách xa nhau như vậy. Xuống một dốc dài
quay lại không thấy buôn nữa, Dụng mới ngồi nghỉ và lau những giọt mồ hôi dầm dề
trên trán. Anh đã ráng hết sức mình để gánh số nếp, số thịt về cho anh em và
đành để lại bao nhiêu trái cây ngon lành. Dân buôn không nhận đồ vật anh đem
lên đổi, vui vẻ cho anh những thức đồ ăn cần dùng tùy theo sức gánh của anh.
Anh thầm tiếc đã sống quá vội vàng những giờ êm ả trên đỉnh Pu Tha và mong có dịp
sẽ trở lại đấy nhiều ngày hơn nữa. Khi ngước lên, anh thấy mặt trời đã vượt quá
cao trên nền chói ửng, vụt nhớ hôm nay là ngày đầu năm. Anh đã được hưởng giao
thừa trên đỉnh Pu Tha, trong một không khí đầm ấm, hồn nhiên của những con người
hầu như không hề biết Tết, nhưng suốt cuộc đời là một mùa xuân bất tận. Đầu năm
nay, anh mang những món quà tặng đặc biệt từ đỉnh non cao về với cuộc đời thiếu
thốn, đầy những âu lo khắc khoải hàng ngày. Anh lại lên đường, mong chóng gặp mặt
anh em để họ được hưởng những sự no đủ, đợi đến ngày mốt cùng về Đất Tó. Khi về
gần đến buôn cũ, anh đang hào hển leo dốc đã thấy Khánh bước khập khễnh xuống
đón.
Khánh giằng lấy gánh, nở một nụ cười rất lâu, không kịp hỏi
anh gì hết rồi khập khễnh bước. Dụng ríu rít kể cho Khánh cuộc đời trên đỉnh Pu
Tha mà anh vẽ lại như một cuộc sống ước mơ. Pu Tha, theo như ý Dụng, là chốn thần
tiên, là một nếp sống mà cả nhân loại kiếm tìm. Con người luôn luôn no đủ,
không hề dối trá, che đậy, ăn ở với nhau một cách giao hòa, thân mật, còn gì
đáng khát thèm hơn? Khánh chăm chú nghe không nói một lời, nhưng đến gần nhà
anh bảo:
- An và Hiệp mừng lắm đấy nghe, nhưng đừng nói nhiều về cái
cuộc đời cậu vừa trải qua mà họ khát thèm.
Dụng cúi đầu bước, dần dần cảm thấy Khánh đã có lý khi dặn dò
anh như vậy. Anh không thể nào làm những người bạn của anh cảm thấy chán nản
khi nghĩ về cuộc đời đầy thiếu thốn của mình. Và anh nghĩ rằng mình phải chuẩn
bị một câu trả lời.
An, Hiệp ngồi chờ anh nơi bục cửa, cặp mắt mỗi người sáng lên
trên những khuôn mặt tóp gầy, héo hắt. Họ run rẩy đỡ gánh đồ bằng những điệu bộ
giữ gìn của quý và không đợi Dụng kịp ngồi xuống sàn, đã hỏi:
- Thế nào? Mùa xuân trên ấy ra sao?
Dụng nhìn hai người, thấy vẻ hau háu thèm ăn ở trên mặt họ -
và đó cũng là hình ảnh vừa qua ở nơi mặt anh - rồi đáp:
- Cũng như bao nhiêu nơi khác mà mình đi qua. Chẳng có tết nhất
gì cả. Đồng bào thiếu thốn, đói khổ, sống trên những chiếc nhà sàn rách nát,
tiêu điều. Nhưng họ sẵn sàng chia sẻ cho mình, không chịu đổi chác gì hết.
Nét mặt của An có vẻ trầm ngâm, dịu lại và Hiệp cũng mất dáng
điệu hớn hở ban đầu. Dụng ngước nhìn Khánh, thấy Khánh cau mày, nhìn anh có vẻ
trách móc. Dụng hơi ngơ ngác thì Khánh vội bảo:
- Hãy nấu một nồi xôi lớn ăn đã!
Mấy người hì hục vo nếp, đốt lửa và khi bếp hừng hực cháy,
Khánh mới chậm rãi nói tiếp:
- Lúc nãy, vì thương anh em ở nhà khổ sở nên cậu Dụng đã nói
dối. Mình nghĩ, việc gì mà phải nói dối như vậy? Tưởng nên tìm hiểu sự thực cho
rõ ràng hơn. Mình đã từng sống trên những buôn cao, khí hậu mát mẻ, cây cối
xinh tốt lạ lùng. Đồng bào cũng no đủ lắm và vui vẻ lắm. Người ta sẵn sàng cho
chúng ta ăn bất cứ lúc nào, và không bao giờ ta phải lo sợ dối trá, lường gạt lẫn
nhau vì một chén gạo, manh vải. Cho đến tình yêu, cũng thực giản dị, khỏe mạnh
lạ thường. Nhiều cô sẵn sàng yêu ta, chết sống với ta vì ta biết điều, hiền hậu,
chứ không vì ta có nhiều bạc tiền, địa vị hay là một thứ nhãn hiệu nào khác. Ở
đấy hình như chỉ có suối reo, chỉ có tiếng hát, chỉ có mùa xuân. Nhưng mà...
Khánh bỗng dừng lại, nhìn anh em rồi tiếp:
- Đó là mùa xuân của thời hoang dại, cổ sơ không còn phải là
mùa xuân của chúng ta nữa. Anh em nghĩ xem, làm sao có thể sống như cây cỏ
không hề băn khoăn vì mục đích gì? Làm sao bọn mình có thể yêu đương đơn giản bằng
những thèm khát tầm thường không nâng tình yêu lên khỏi rung động bản năng thấp
kém? Chúng ta cần yêu để tạo một sự hòa điệu tâm hồn, một sức cảm thông đầy những
xây dựng, hy sinh cho một sự nghiệp. Và bao nhiêu điều hiểu biết sẵn có, bao
nhiêu ao ước tương lai ấp ủ ở trong tâm não của mình, làm sao ký thác vào trong
câm lặng, hoang vu? Đồng bào miền núi của ta phải chịu cuộc đời như vậy vì họ
chưa thoát khỏi một tình trạng sinh hoạt còn nhiều ràng buộc thiên nhiên. Còn
ta, ta không thể nào trở lại cuộc đời như thế.
Khánh dằn hai tiếng "trở lại" và kéo dài ra. Lời
nói có đà khiến anh hăng hái tiếp theo như trong một buổi thuyết trình đại hội:
- Họa chăng vì phút chán nản nào đó trước những khổ nhọc của
đời, ta không tự chủ được mình nên có tư tưởng lẩn trốn, hướng về cảnh đời nghĩ
lầm yên vui của chốn sơ khai. Nhưng chắc chúng ta khó lòng chấp thuận cảnh ấy
quá một tuần lễ. Mùa xuân chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong cuộc sống này,
trong những nỗ lực hướng về một cuộc đời khác cao hơn, đẹp hơn, trong đó mọi người
với ta cùng được chung hưởng những kết quả của khoa học, của một tinh thần tổ
chức nhân đạo và lý trí hơn.
Anh dừng lại, nói nhỏ và chậm:
- Tôi nghĩ đến sự chịu đựng của anh em mình để làm cho tròn
nhiệm vụ, nghĩ đến tình thương ở giữa chúng ta, nghĩ đến xâu măng của anh An,
chén cám của anh Hiệp, gánh nếp của anh Dụng và tôi tưởng đấy mới là ý tình của
một mùa xuân thực sự.
An nói:
- Anh Khánh, anh cố quên những tình ý của anh hay sao?
Hiệp cúi đầu xuống có vẻ trầm tư không nói năng gì.
Dụng liếc nhìn Khánh, thở một hơi mạnh rồi tiếp:
- Phải rồi, mùa xuân của mình không thể tìm thấy trên đỉnh
non cao. Mùa xuân thật sự của ta ở trong cuộc sống này đây, và dưới đồng bằng...
Mọi người im lặng, ngước nhìn về chân trời xa, vệt núi xanh
nhạt, mờ mờ. Thoáng chốc giữa tiếng sôi sục trong nồi và tiếng củi cháy, họ
nghe như có tiếng pháo, tiếng cười, tiếng nói từ miền quê xa vọng lại liên hồi.
1962
Dương đảo
Từ năm thứ ba của triều Mân Vương, xã hội kể như có sự đảo
ngược. Đó là đàn bà lấn sân, uy hiếp đàn ông một cách trầm trọng.
Ngay trong cung cách sinh hoạt, các bà cũng chiếm đoạt dần những
gì mà bọn đàn ông xưa nay lầm nghĩ là của riêng mình, và bắt đàn ông học đòi trở
lại những gì chị em đã chán chê rồi. Chẳng hạn, từ thời cổ đại phụ nữ vốn để
tóc dài, cột lại rồi thả lúc lắc theo kiểu đuôi ngựa, còn đàn ông thì độc quyền
"húi cua", tức cắt tóc ngắn. Nhưng nay thì đã có sự đảo lộn: tóc của
các bà hớt cao vổng lên trên ót, còn nhiều đực rựa lại để tóc dài và cũng cột
chùm, thả đuôi leo ngheo, tỏ ra hí hửng như mới phát minh được cái mốt lạ. Dễ
thấy hơn nữa, là cách ăn mặc. Ngày nào, các bà mặc phủ kín đùi, lỡ để lộ ra một
chút da non là thấy xấu hổ sượng sần cả mặt, và dành quần cụt - còn gọi là quần
xà lỏn - cho giới mày râu. Nay thì đàn ông bám chặt lấy thứ quần dài để cho các
bà chiếm dụng quần cụt, thậm chí rất cụt đến nỗi không thể cụt hơn, lại đi
nghênh ngang giữa chốn phố phường theo đúng kiểu cách chào hàng hiện đại. Còn về
chuyện ngồi, thì xin miễn bàn. Các bà ngày nay không khép đôi chân, cũng không
chịu khó tréo mảy cho nó yên ổn, lại dang cả hai chân ra, kể cả khi ngồi thu hết
cặp cẳng lên trên ghế đá, giữa chốn công viên, có vẻ thách thức bàn dân thiên hạ.
Nhưng điều đáng nói là chuyện trong nhà. Các bà luôn cho là
mình có lý, có quyền, nói năng hơi lớn, lên lớp hơi nhiều, thường tuyên bố rằng
đối với đàn ông chị em luôn phải đề cao cảnh giác để khỏi nếm lấy quả lừa. Vì vậy,
những thứ đàn ông kiêu hãnh, nghênh ngang, ra vẻ ta đây, giờ kể như đã tuyệt chủng.
Chỉ còn một hạng lấm lét, e dè, luôn luôn ở trong tư thế đối phó mà mình cầm chắc
lấy phần thất bại.
Trong hoàn cảnh ấy, có một ngư dân tên là Trần Thân, hiền
lành, nhẫn nhục, vì không chịu nổi vợ nhà nên đã nhiều phen có ý quyên sinh,
song vào phút chót lại thấy tiếc rẻ cuộc sống còn nhiều cá mắm, bèn muốn tìm
phương cách khác. Hồi ấy, chưa có cánh cửa ly dị như một lối thoát an toàn, và
thật gọn nhẹ nên Trần Thân bèn nghĩ cách trốn khỏi tay vợ, theo như sách xưa đã
dạy: "Ba mươi sáu kế chỉ có cách chạy là cách xịn nhất". Nhưng chạy đi
đâu? Đó là vấn đề. Bởi khắp trên mặt đất liền, dầu anh trốn chui trốn nhủi nơi
đâu thì bà xã cũng kịp thời phát hiện và lôi cổ về. Bấy giờ, nỗi khổ sẽ càng mười
phần bi thảm.
Cuối cùng, Trần Thân chợt nhớ một lần đánh cá ngoài khơi anh
bị bão lớn giạt vào một hòn đảo nhỏ. Hòn đảo xanh tươi, phong cảnh kỳ thú đặc
biệt và rất hoang vu như chưa có ai từng đặt chân đến. Chỉ có ra được ngoài ấy,
mới có cơ may thoát được vợ nhà.
Thế là nửa đêm Trần Thân lén dậy, đặt một tờ giấy viết sẵn mấy
chữ "Vĩnh biệt từ đây" rồi nhẹ nhàng ra khỏi nhà, đến ngay bờ biển có
giấu cất sẵn các thứ nhu dụng, lên chiếc ghe con, giong buồm ra đảo.
Đặt chân lên đảo, Trần Thân thấy mình như lên được miền Cực Lạc.
Thôi thì từ đây không còn bị ai làm tội, làm tình. Được sống, mà khỏi đối phó với
người gần gũi, là thần tiên rồi. Anh ta chạy từ đầu đảo xuống dưới cuối đảo la
hét huyên thiên, hết cười lại nói, hết nói lại chửi, vung tay múa chân, tuyên bố
đủ điều kỳ lạ mà nếu có ai nghe thấy cũng nổi da gà. Nhưng ở nơi đây, chỉ mỗi
mình anh, chẳng phải sợ gì. Cá, ốc có đầy quanh đảo, cây trái rậm rạp, trĩu
cành, đất tốt trồng gì cũng dễ sinh sôi, và điều tuyệt vời là không còn nghe vợ
tố, vợ tụng, ca kệ, nhì nhằng. Buổi sáng, Trần Thân ra một mỏm đá nói to tất cả
những gì bấy lâu ẩn chứa trong lòng nhưng vì sợ vợ nên không dám nói. Buổi
trưa, anh vào nằm trong hang đá lảm nhảm một mình bao nhiêu ý nghĩ của anh đối
với vợ nhà. Buổi tối, bên ngọn lửa hồng, anh lại một mình thổ lộ tất cả ý nghĩ
của anh về giới phụ nữ.
Ba ngày sau đó, Trần Thân rơi vào trạng thái im lặng. Nói, là
để cho người ta nghe, và anh đã nói cho chính anh nghe chán chê cả ba ngày rồi.
Nay thì còn có ai đâu để mà nói nữa? Trần Thân bắt đầu cảm thấy một nỗi cô đơn.
Và anh chợt hiểu: cô đơn lớn nhất của nhân loại này là không được nói.
Thế thì phải làm sao đây? Gấp rút tìm người đồng điệu để mà
chia sẻ tâm tình. Trần Thân lấy mấy chai mắm, chai dầu đã cạn, rửa sạch rồi viết
tờ thư nhắn gửi đàn ông khắp xứ - những ai sợ vợ, giận vợ, chán vợ - hãy theo bản
đồ chỉ dẫn mà đến đảo này. Xong, anh nhét nút kỹ, ném chai xuống biển, để nhờ
sóng gió đưa đi.
Và điều kỳ diệu xảy ra. Chỉ trong thời gian rất ngắn, đã có
vô số đàn ông tấp nập kéo tới. Con số lên đến gần một ngàn người. Không khéo đảo
sẽ bị nạn nhân mãn đàn ông. Bây giờ có một tập thể đông đúc như vậy, cần phải tổ
chức, sắp xếp đội ngũ không thì sẽ gây hỗn loạn, bởi lẽ nhiều anh bị vợ đàn áp
lâu năm đã có triệu chứng tâm thần phân liệt, một số nửa khùng nửa điên cười
khóc thất thường, một số bị trầm cảm nặng, suốt ngày chỉ ngồi im lặng như đá, cạy
răng cũng không nói được một lời. Dĩ nhiên, về chuyện ăn uống thì vẫn còn nhiều
nhiệt tình.
Trần Thân được toàn thể bầu lên là đảo trưởng. Anh chọn ba chục
đảo phó để làm phụ tá, vì có nhiều phó thì cái người chánh xem như là có quyền
hơn. Rồi chia đủ thứ ban bệ để khai thác đảo, phần lo săn bắt thủy sản, phần lo
trồng trọt, phần lo chăn nuôi. Về mặt duy trì trật tự, trị an thì có đội ngũ đề
phòng các tay điên khùng quấy rối, mặt khác cũng phải canh chừng quanh đảo đề
phòng phụ nữ tấn công. Dầu ở giữa chốn biển khơi xa xôi, song kẻ sợ vợ vẫn
không vì vậy mà hết sợ được.
Đồng thời đảo cũng khuyến khích các môn giải trí để cho cơ thể
cũng như tinh thần được sự giải tỏa, bởi sống xa vợ các anh đàn ông dễ bị ức chế
gây ra manh động mà cứ tưởng lầm là cái bản lĩnh của kẻ yêng hùng. Hai môn được
khuyến khích nhất là môn bóng đá và môn đô vật mà giới đàn ông nhiều năm ngộ nhận
là môn thể thao riêng của giới mình. Không có quả bóng đích thực, người ta lấy
các giẻ rách quấn tròn và đá với nhau xem cũng ra trò. Đồng thời đảo cũng mở một
cửa hàng để các dân nhậu có thể đến uống rượu đế thả cửa, miễn là có cá, có củi
để mà trao đổi. Rượu này do một ban bệ gồm nhiều chuyên viên chế cất trong một
hang đá, song dầu họ có nhiệm vụ chở rượu ra quán nhưng không mấy khi thực hiện
đúng kỳ, bởi lẽ sau khi nấu xong họ thường nốc say bí tỉ và lăn ra ngủ như chết.
Đó cũng là điều mà khi phải sống với vợ, họ thường bị sự cằn nhằn, tiến đến chửi
rủa - từ sự chửi ngắn lấn sang chửi dài - dẫn đến chén bát bể sạch. Cùng sống
trên đảo với những đồng loại toàn là đực rựa, người ta khám phá ra rằng áo quần
cùng với các mốt thời trang chỉ là sản phẩm phát sinh do sự đối phó với người
khác giới. Bởi thế, ở đây ăn mặc là chuyện không cần bàn đến. Có gì mặc nấy, và
nếu không có cũng chẳng sao cả. Lại càng mát mẻ!
Nói chung, ở một quần thể chỉ toàn nam giới, lại mang tâm lý
sợ vợ, có biết bao nhiêu là chuyện quái đản, buồn cười không thể kể hết trong một
truyện ngắn. Để củng cố sự ra đi của mình, mỗi tối thứ bảy thường có cuộc tập họp
lớn để cùng nói xấu phụ nữ, cụ thể là nói xấu vợ, cho hả cơn tức bấy lâu. Nói
riết, hết chuyện, người ta lại đặt điều ra, khiến ông đảo trưởng lấy làm kinh
ngạc vì nhận thấy rằng đàn ông cũng có bộ óc hư cấu hết sức dồi dào. Và khi cần
phải nói xấu người khác, họ tỏ ra có năng lực phi thường.
Sinh hoạt ở đảo cứ thế tiếp diễn, cho đến ngày nọ có một sự cố.
Câu chuyện khá dài, song xin tóm lược như sau:
Thời ấy, một trong những nghề hốt được bộn bạc, đó là buôn lậu,
làm các hàng giả và ra làm quan. Điều này khiến cho khá nhiều kẻ sĩ hăm hở đi học,
thậm chí đút lót quan trên để mua đề thi với một giá cao đặng có cơ may chiếm
được bảng vàng. Trên tinh thần ấy có gã Mai Trầm, người huyện Thanh Nê, mặc dù
học dốt cũng xách khăn gói hăm hở ra chốn kinh kỳ. Đến bến Bạch Phố gã thuê chiếc
thuyền để đi đường sông cho được thanh nhàn. Đi được năm ngày, chủ thuyền hết gạo,
cạn nước, ghé lại gần chợ Liên Châu lên bờ mua đồ tiếp tế. Mai Trầm ngồi trong
thuyền, nghe ở trên bến có tiếng người nữ hát rất não nuột, giọng thánh thót,
tiếng dịu ngọt đến mê lòng người. Khi chủ thuyền về, gã hỏi:
- Người nào hát hay vậy kìa?
- Xin thưa, đó là cô gái hát dạo, nghe đâu chồng bị giam
trong ngục tối, nàng phải làm nghề xướng ca kiếm tiền độ nhật để đến kinh kỳ
kêu oan cho chồng.
- Hãy gọi nó đến cho ta.
Chủ thuyền ra đi, chốc lát đã dẫn người ca nữ về. Mai Trầm
thoạt nhìn, đã thấy mê mẩn. Thế ra ngoài cái giọng ca diễm lệ, nàng có nhan sắc
mặn mà khác thường. Gã bảo:
- Hãy ngồi xuống đây, nói cho ta rõ sự tình.
Cô gái cho biết tên là Từ Ly, họ Đào, lấy chồng là một nông
dân tên Bái, họ Vương. Vì thấy quan trên tham nhũng, lộng hành, chồng nàng đã
cùng bè bạn lên tiếng chống đối, lập tức đã bị bắt giam vào ngục. Nàng đã tìm
kiếm khắp nơi không gặp mặt chồng, nay lên kinh đô kêu oan. Ngặt vì đường xa,
tiền ít, phải hát để kiếm đồng tiền độ nhật. Mai Trầm gật gù:
- Cũng may cho nàng là ta đang trên con đường về chốn kinh kỳ
ứng thí. Vậy cho nàng đi theo ta.
Từ Ly cúi đầu cảm tạ, lui về sau ghe.
Đêm ấy, Mai Trầm cho gọi Từ Ly và bắt nàng phải cùng gã vui vầy
chăn gối. Từ Ly cự tuyệt. Mai Trầm đưa một nén vàng. Từ Ly lắc đầu. Y đưa hai
nén. Từ Ly nghiêm mặt:
- Ông tưởng tôi có thể bán danh dự và thân xác tôi để lấy
vàng sao? Cho dầu ngàn lượng vàng ròng cũng không mua được danh tiết tôi đâu.
Mai Trầm cả giận, đáp lại:
- Ca nữ mà còn làm bộ chê tiền.
Từ Ly trả lời:
- Dầu là ca nữ phải sống xó chợ đầu đường nhưng tôi cũng được
giáo dục tôn trọng đồng tiền chính đáng do công sức mình làm ra, chứ không đem
bán thân mình. Chỉ bọn tham quan lại nhũng, thấy tiền tối mắt, mới làm những
chuyện ô danh.
Mai Trầm quát to:
- Đừng có nhiều lời. Mai đây thi đỗ, làm quan ta có vô số tì
thiếp xinh đẹp gấp mười, gấp trăm nhà ngươi. Sá gì một gái có chồng tha phương
cầu thực!
Qua ngày hôm sau, thấy ở đàng xa có một đảo nhỏ, gã hỏi chủ
thuyền:
- Hòn đảo gì vậy?
- Thưa là đảo hoang. Xưa nay, trái đường ít ghe lui tới nên
không đặt thành tên gọi. Gần đây nghe có một số đàn ông chán đời đến đó tu
hành.
- Vậy hãy ghé lại.
Chủ thuyền tuân lời, cho thuyền cập vào một bờ đá hẹp. Mai Trầm
đưa hai đồng tiền và cái chai nhỏ, bảo người chủ thuyền:
- Hãy sai cái con mất dạy lên tìm mua rượu cho ta.
Đợi Từ Ly vừa đi khuất sau một lùm cây, Mai Trầm ra lệnh:
- Cho thuyền đi thôi.
- Nhưng còn cô gái...
- Mặc kệ xác nó. Đó quả là đồ vô dụng, đem theo chỉ thêm gai
mắt. Để nó sống chung với bọn tu hành trên đảo, thử có an toàn danh tiết hay
không.
Chủ thuyền không nỡ bỏ rơi một người phụ nữ cô đơn ở giữa biển
khơi, có vẻ chần chừ thì Mai Trầm quát:
- Ta đã thuê trọn thuyền này thì ta là chủ, muốn cho ai đi là
tùy ở ta. Hãy lên đường ngay!
Và thuyền lướt sóng ra khơi.
Từ Ly lặng lẽ men theo triền đảo đi tìm quán rượu. Khi đến đầu
dốc, quay lại, thấy thuyền chạy xa biết mình đã bị bỏ lại nơi đảo hoang này.
Không còn cách nào khác hơn, nàng lại tiếp tục tìm vào bên trong, hy vọng gặp
được nhà của ngư dân. Đang cúi đầu bước và nghĩ về thân phận lưu lạc của mình,
bỗng nghe một tiếng rú lên:
- Trời ơi!
Nàng dừng bước lại. Sau một mỏm đá có người đàn ông đang đứng
nhìn nàng lom lom, mắt mở trừng trừng trong một dáng vẻ kinh ngạc tột cùng. Cuối
cùng, anh ta lắp bắp:
- Đàn... bà phải không?
Từ Ly gật đầu, thầm nghĩ: "Có lẽ đây là một gã điên
khùng".
Nhưng gã đã hốt hoảng bảo:
- Ấy chết! Nàng đừng bước tới kẻo mà mang họa vào thân. Ở đây
đã có nghiêm luật: hễ gặp phụ nữ thì phải quăng ngay xuống biển để tránh đại nạn.
Từ Ly nói qua cảnh ngộ của mình, rồi than:
- Thế tôi phải làm sao đây? Chẳng lẽ ở đâu tôi cũng phải gặp
những bọn đàn ông ích kỷ, hồ đồ vậy sao? Ở trên mặt biển là phường dâm loạn ác
nhân, còn trên mặt đất là lớp cuồng điên tàn bạo. Nếu không vì cảnh chồng tôi
tù tội hàm oan chưa được giải tỏ, thì tôi sẵn sàng làm mồi cho cá ở chốn biển
khơi chứ nào thiết sống giữa chốn trần gian đầy ô nhục này.
Người đàn ông lộ vẻ xúc động, đáp lại:
- Ta chưa gặp ai xinh đẹp lại có tấm lòng chung thủy kiên cường
như nàng. Vậy để ta tìm cách gì giúp nàng thoát cảnh hiểm nguy. Bây giờ hãy
nghe lời ta tạm núp vào trong hang đá trước mặt. Đến tối, ta sẽ mang quần áo đến
để nàng cải trang mà về ẩn trú nơi cái hàng quán mà ta đã được phân công điều
hành.
Từ Ly không cách nào khác là phải nghe theo. Đến gần nửa đêm,
Lý Hải - tên người chủ quán - đem đến cho nàng quần áo đàn ông, một khăn vấn đầu
và chút lọ nồi để bôi lên mặt cho ra con người lam lũ. Họ cùng đi con đường tắt
về quán. Tới đây, Lý Hải đưa nàng vào một buồng nhỏ phía sau và đem cơm nước
cho nàng. Gã bảo:
- Hãy cứ suốt ngày nằm yên trong đó, đừng có thấp thoáng ra
ngoài.
Gã còn cẩn thận đặt vào bên trong hai cái chậu nhỏ, để người
đàn bà giải quyết đầu ra cho bản thân mình.
Từ đó mỗi ngày hai lần gã đem cơm nước vào cho Từ Ly. Ban đầu
nàng còn lo sợ nhưng sau thấy gã luôn tỏ thái độ nghiêm cẩn và kính trọng nàng
nên mới yên lòng. Song phải giam cầm như thế cho đến bao giờ? Một hôm, Từ Ly
nói lên nguyện vọng của mình:
- Kính thưa ân nhân, tôi được sống yên nơi đây là một điều
may mắn lớn song cứ nghĩ đến nỗi oan chồng tôi chưa được giải tỏ thì không làm
sao có thể an lòng. Mong ngài giúp tôi rời khỏi chốn đảo hoang này thì tôi xin
nguyện suốt đời không quên ơn ngài.
Lý Hải đáp lời:
- Ta đã nghĩ đến điều này từ ngày đầu tiên gặp nàng. Từ lâu
ta cứ nghĩ rằng đàn bà là kẻ nhà trời sai xuống để mà dằn vặt đàn ông, nay gặp
được nàng thấy quả là mình lầm lớn. Xinh đẹp, lại không con cái, nàng rất có thể
làm lại cuộc đời một cách an lành, đâu phải đem thân lặn lội chịu nhiều gió bụi,
đọa đày để mà vì chồng giải nỗi hàm oan. Song nàng không ỷ tài, sắc của mình để
làm hoen ố cái đức của người phụ nữ trung trinh, ta xin bái phục. Nay ta đang
đóng chiếc bè để giúp đưa nàng về chốn đất liền, hãy gắng chờ đợi. Và ta sẽ đi
với nàng, giúp nàng tìm gặp được chồng.
Từ Ly ôn tồn:
- Ngài quá lời khen, song tôi chỉ là một kẻ tầm thường cố gắng
giữ trọn đạo người đó thôi. Nếu có chiếc bè, tôi liệu có thể một mình chèo chống,
khỏi phiền lụy ngài rời đảo.
Lý Hải bèn nói:
- Gặp một phụ nữ như nàng, ta không thấy còn có lý do nào để ở
lại đây. Chỉ mong giúp nàng đoàn tụ, là ta vui rồi. Ngoài ra cũng phải thú thật
điều này: nếu lỡ chồng nàng không còn ở trên thế gian thì ta xin được chung sống
với nàng.
Từ Ly đáp lại:
- Đa tạ lòng ngài đã chiếu cố đến con người bèo bọt như tôi.
Nếu rủi ro tôi trở thành góa phụ thì xin được ở ba năm phục tang cho chồng, mới
dám nghĩ đến đền ơn cứu mạng của ngài.
Lý Hải không giấu được sự cảm động:
- Cho dầu đợi nàng năm năm, mười năm ta cũng vui lòng.
Từ Ly mỉm cười:
- Ngài không sợ thiếp già sao?
- Một người cao quý không bao giờ già.
Từ Ly im lặng, rồi nói:
- Nhưng ngài đã phạm cái lỗi mà đa số kẻ đàn ông vẫn thường mắc
vào.
- Cái lỗi gì vậy?
- Là trong những phút xúc động, hứng khởi, đàn ông thường
quên mất vợ ở nhà. Ngài nên nghĩ đến người đang chờ đợi mỏi mòn ngày ngài về lại
quê xưa.
Lý Hải im lặng, cảm thấy bối rối, thẹn thùng. Lát sau mới
nói:
- Cái chính là ta phải giúp đỡ nàng. Mọi việc, về sau, xin để
cuộc đời sắp xếp.
Hôm sau, một bạn thân của Lý Hải là Trọng Thìn nhân ra vườn
sau hái mấy cọng ngò vào thêm gia vị cho bữa ăn nhậu, lại đi tắt qua ngôi buồng
phía sau. Bỗng gã khịt mũi kêu lên:
- Lạ kìa! Có mùi đàn bà!
Lý Hải kịp nghe, chạy đến:
- Thôi đừng nói nhảm! Làm gì có đàn bà ở đây?
Trọng Thìn vẫn cứ khìn khịt, rồi bảo:
- Ta đã sống với phụ nữ trên mấy mươi năm, đâu có lầm được.
Phàm trong tạo vật cái gì cũng có mùi riêng của nó, không thể lẫn lộn vào đâu.
Hễ gừng thì có mùi gừng, mà quế thì có mùi quế, con cọp có mùi khác với con
trâu, đàn ông có mùi khác với đàn bà. Chỉ những lỗ mũi điếc đặc mới không nhận
thấy cái hương vị riêng của từng loại một.
Rồi gã la lên:
- Rõ ràng gần đây hẳn có đàn bà! Có thể chị em đã lén đột nhập
vào đây để mà ám hại chúng ta cũng chưa biết chừng! Để ta lục soát trong căn buồng
này xem sao.
Lý Hải hoảng quá, bấm gã kéo ra phía sau, thú thật mọi điều.
Trọng Thìn đòi được gặp mặt Từ Ly mới chịu nín thinh. Khi thấy mặt nàng, gã bỗng
sững sờ, chỉ nói:
- Tội nghiệp cho nàng!
Rồi gã bước ra. Lý Hải khẩn khoản:
- Mong bạn thương tình, đừng có tiết lộ cho ai biết rõ điều
này.
Trọng Thìn gật đầu một cách khẳng khái, ra về trong nỗi xúc động
khó tả. Nhưng suốt đêm ấy, gã không ngủ được. Gần sáng, gã bèn gọi người bạn
thân tên là Huỳnh Tâm kể lại sự việc hôm qua, với lời dặn dò khẩn thiết là đừng
tiết lộ cho ai biết được việc này.
Một sự bí mật đã có đến ba con người nắm giữ, cũng giống như
một con chim nhốt trong chiếc lồng có ba cửa mở. Do vậy, một thời gian ngắn, gần
nửa dân đảo đã biết là có một người phụ nữ được giấu trong chiếc buồng nhỏ của
quán Lý Hải. Ban đầu mọi người xem đó như là chuyện lạ, sau thấy ngờ vực, rồi
sinh ghen tị. Bởi anh đàn ông nào cũng nghĩ rằng chỉ mình mới là con người lý
tưởng của các cô gái xinh đẹp, còn những đực rựa nào khác đều là bất xứng. Do
đó, một thời gian sau toàn đảo đều biết sự bí mật này.
Đảo trưởng giận lắm, coi đây là biến cố lớn vì đã vi phạm kỷ
luật hàng đầu của đảo, cho năm chục người cầm đủ gươm giáo đến vây nhà quán vào
lúc sập tối, bắt cả Từ Ly cùng với Lý Hải dẫn về nhà việc của đảo nơi có một
sân rộng đốt đống lửa lớn, chung quanh dân đảo đã được tập họp đông đủ.
Mở đầu, đảo trưởng tuyên bố lý do, kết tội Lý Hải đáng bị bắt
giam nhịn đói mười ngày dưới một hầm đất sau khi chịu đánh đúng ba trăm gậy vì
tội đồng lõa với kẻ gieo họa, còn nàng Từ Ly thì phải bị trói và ném xuống biển.
Trước khi thi hành bản án, để cho có vẻ dân chủ, đảo trưởng cho cả hai người được
tự biện hộ. Lý Hải cho rằng cô gái không phải là vợ của bất cứ ai trên đảo, nên
không thể xem cô như kẻ thù, hơn nữa cô là nạn nhân của một đàn ông, nên cô
đáng thương hơn là đáng tội. Ngoài ra Lý Hải cũng đã đóng bè để cô ra khỏi nơi
này - hiện bè vừa mới đóng xong - là cốt để giữ vững sự bình yên của đảo. Nếu
Lý Hải bị xử phạt, thì hầu hết người trên đảo cũng phải xử phạt như vậy, vì họ
đều cùng giữ chung sự bí mật này trước khi bị một vài kẻ tiết lộ.
Những lời nói của Lý Hải khiến cho mọi người bối rối và cùng
ngồi im, không biết phải nên phản ứng thế nào. Lý Hải nói tiếp:
- Hơn nữa, xin mời quý vị nghe người đàn bà nói rõ về mình.
Quý vị sẽ thấy người đó đáng thương, hay là đáng tội.
Đảo trưởng ra lệnh cho nàng Từ Ly trình bày sự tình. Nàng tỏ
thái độ cung kính và rất điềm nhiên ra giữa đám đông, cúi đầu chắp tay thi lễ
trước các chức sắc của đảo, rồi với một giọng dịu dàng, truyền cảm, kể lại sự
việc của mình. Chồng bị bắt oan khi đã đứng lên bênh vực lẽ phải, sai nha nhũng
lạm vét sạch bạc tiền khiến cha mẹ chồng buồn khổ nên lâm bệnh nặng, qua đời,
nàng bồng con nhỏ đi gõ cửa quan, ngày tháng dãi dầu sương nắng, đứa con đã bị
tử thần cướp đi. Lang thang đây đó, nàng phải hát dạo kiếm tiền để ra kinh đô kêu
oan cho chồng. Vì không chiều theo thú tính của một kẻ sĩ ác ôn, nàng bị bỏ rơi
trên đảo.
Khi nàng Từ Ly dứt lời, tất cả đều chìm trong sự yên lặng kỳ
lạ. Có vài tiếng khóc sụt sùi đâu đó vẳng lên. Họ không ngờ được gặp gỡ một người
đàn bà chẳng những xinh đẹp mà còn cao cả đến vậy. Đồng thời họ nhận thấy rằng,
hóa ra tất cả nỗi khổ đa dạng mà người đàn bà chịu đựng đều do chính bọn đàn
ông gây ra. Một tay diễn viên sân khấu vì quá sợ vợ mà chạy ra đây, nghe Từ Ly
nói đã phải làm nghề hát xướng kiếm ăn qua ngày bèn tìm cách để phá tan không
khí bi thương và trầm uất ấy, nên đã phát biểu:
- Để chứng thực cho lời nàng vừa kể, nàng hãy hát lại một đoạn
nào đó cho chúng ta nghe xem nào!
Từ Ly cúi đầu, tỏ ý tuân lệnh, rồi cất tiếng hát rất là não
nuột:
Vượt trăm ngàn ngục nhân gian
Tìm đâu cho thấy mặt chàng thì thôi
Con thơ như ngọc tan rồi
Mẹ cha khuất bóng, còn đôi đứa mình.
Đưa tay vuốt tóc còn xanh
Bạc đầu riêng vẫn để dành cho nhau.
Nàng vừa dứt lời, tiếng khóc bỗng nổi vang lên ở trong đám
người chung quanh. Đảo trưởng cố nén mình lại để giữ thể diện, cuối cùng bật
khóc to hơn mọi người. Phần vì thương cảm cho cảnh ngộ nàng, phần vì từ lâu vốn
bị ức chế do sống xa vợ nên đây là dịp để cho các đấng mày râu giải tỏa nỗi
lòng.
Cuối cùng, đảo trưởng phán rằng:
- Cảnh ngộ người đàn bà này thật là đáng thương, thay vì trừng
phạt theo luật, ta cho hưởng sự khoan hồng. Ngay trong đêm nay, phải rời khỏi đảo.
Chỉ cần một người áp tải đi về đất liền.
Lố nhố hàng chục, rồi đến hàng trăm và gần như mọi người ngồi
chung quanh đều đưa tay lên xin đi với người đàn bà. Đảo trưởng lại phán:
- Kẻ nào nhìn thấy người đàn bà trước, kẻ ấy phải có nhiệm vụ
dẫn độ.
Như thế, Lý Hải được chọn vào nhiệm vụ này. Anh ta bước ra,
xin nói vài lời:
- Để cho đảo được an lành, tôi sẽ đưa ngay Từ Ly vượt biển
sau khi quý vị ra về. Song tôi thưa thiệt đôi điều: chính sự gặp gỡ người đàn
bà này giúp tôi suy nghĩ để nhận thấy rằng xưa nay đàn ông đã gây quá nhiều nỗi
khổ cho giới đàn bà. Nếu họ có phản ứng lại, cũng vì chúng ta quá quắt, chứ
không phải họ có một ác tâm. Nay người đàn bà như nàng Từ Ly bị chính bao nhiêu
đàn ông gây hại, thế mà đàn ông chúng ta lại đi tìm chỗ lẩn tránh, thật là quá
đỗi phũ phàng. Nghĩ cho tận cùng thì dốc toàn lực ra để bênh vực, chăm sóc chị
em đến trọn cuộc đời chúng ta, vẫn là chưa đủ. Chính vì lẽ ấy, tôi xin được
phép vĩnh viễn ra đi khỏi đảo để trở về với đất liền, trở về với những trách
nhiệm đang réo gọi mình.
Lý Hải nhìn thấy mọi người gục đầu như đang suy nghĩ. Đảo trưởng
cũng không nói một lời nào. Lý Hải đến dắt Từ Ly rời khỏi đám đông, vội quay về
quán gom góp một ít vật dụng cần thiết, rồi cùng xuống bè, chèo gấp ra khơi vì
sợ các vị trên đảo bất thần đổi ý.
Câu chuyện về sau thế nào thì không được nghe kể lại một cách
rõ ràng. Chỉ biết, vài ngày sau đó, trên đảo người ta dần dần biến mất, còn ông
đảo trưởng là kẻ ở lại cuối cùng. Nhưng rồi ông cũng ra đi vì cả dân đảo cùng
ba chục vị đảo phó đã không còn nữa.
Các sách ghi lại chuyện này, căn cứ vào những đàn ông tập
trung ở đảo, nên gọi tên là Dương Đảo, bởi dương là tiếng dành riêng cho lớp đực
rựa, song trong dân gian người ta vẫn hiểu dương còn có nghĩa là dê, nên quen gọi
là đảo dê.
1990
Chất ngọc
Ở đất Hào Dương có gã Sầm Hiệu sống nghề cày cuốc, tính tình
thẳng thắn nhưng rất thô lỗ, cộc cằn. Trong buổi tụ họp đông đảo nếu Sầm mở lời
cười đùa thế nào cũng làm mất lòng trên ba bốn người là ít. Tính Sầm lại vốn
ghét sự làm thinh, thấy gì trái ý thì nói chẳng nể nang gì nên đám bạn bè nhiều
kẻ xa dần. Con gái trong thôn chưa chồng kể cũng khá nhiều vậy mà Sầm không bắt
tình được với cô nào. Hễ Sầm mở lời chòng ghẹo thì y như các cô đều háy nguýt,
ngúng nguẩy bỏ đi. Nhiều cô gặp Sầm, vội vã rẽ ngang đường khác. Cha mẹ của Sầm
già nua, thấy con lớn tuổi mà vẫn nằm ngủ một mình lấy làm thương lắm, thường
mượn mai mối dọ hỏi nhiều nơi nhưng vẫn không một nơi nào ưng thuận. Một hôm đi
thăm quê ngoại trở về, Sầm ghé qua núi Trúc Sơn, thấy ngôi cổ mộ của Lý Thiên
Vương cỏ mọc um tùm bèn ngồi nhổ cỏ. Xế chiều, dọn cỏ gần xong bỗng thấy một cô
gái từ hốc núi đi ra, tay xách giỏ rau. Thấy Sầm, cô gái bèn nói:
- Con cháu bất hiếu dữ ha! Đã bao năm nay mới thấy tìm đến nhổ
cỏ!
Sầm trợn đôi mắt tròn xoe, quát rằng:
- Nói thế mà chẳng ngượng mồm! Ta vốn họ Sầm, nào thân thích
gì với họ Lý đâu? Nhưng Thiên Vương đây là người lính già đã hơn mười lần đuổi
giặc để cho thôn xóm bình an, chẳng may lại bị giặc giết, thế mà chẳng có một
ai quét dọn mộ phần, để cho gai bám bụi lùm như nơi hoang địa. Ngày nay hỏi
chúng ta đây được sống yên ổn thì ai chẳng tự xem mình như là con cháu Thiên
Vương mà còn phân chia dòng họ? Ngươi vốn là dân vùng này, tuy rằng phụ nữ
nhưng chẳng lẽ quên anh hùng, đâu cứ ngồi đợi kẻ ở xa đến dọn cỏ thế này? Hay
ngươi cho rằng chỉ có mộ phần của hàng tướng lãnh mới đáng hương trầm khấn vái
mà khinh nấm đất của hạng sĩ tốt vô danh?
Cô gái đặt bó rau xuống, chắp tay ôn tồn:
- Thiếp xin chịu lỗi đã dám lỡ lời xúc phạm, nhưng dù không
phải là người vùng này, hằng năm vào tiết thanh minh thiếp cũng đến đây dọn cỏ
cho người dưới mộ. Nếu không, nơi đây gai đám bụi lùm đã giăng phủ kín mất rồi.
Sầm vội kêu lớn:
- Thế thì ta lỡ lời rồi! Thật ta ngu hơn một con heo nhỏ!
Mong nàng coi như ta không có nói lời nào.
Nói rồi phủi tay, cắp nón chuẩn bị lên đường. Cô gái nép bên
vệ cỏ, nhường bước cho Sầm:
- Trời đã xế chiều, rước chàng đi trước kẻo đàn bà đợi ở nhà.
Sầm cười rất to:
- Ta chưa có vợ, làm gì mà có đàn bà đợi chờ?
Cô gái tỏ ý ngạc nhiên:
- Lớn tuổi thế này mà chưa có vợ thật sao? Hay là chàng quyết
ở vậy một mình?
Sầm đáp:
- Dại gì mà ở một mình! Ta cũng thích cưới vợ lắm, nhưng đã
dò hỏi nhiều nơi mà các cô gái thảy đều một mực chối từ.
Cô gái bèn hỏi:
- Chê chàng điều gì?
- Chê ta ăn nói vụng về khó nghe.
Cô gái mỉm cười:
- Lấy nhau đâu phải vì nơi chót lưỡi đầu môi.
Rồi nàng e lệ nói tiếp:
- Nếu chàng không chê thiếp xấu thì xin vì chàng sửa trắp
nâng khăn.
Sầm không giấu được mừng rỡ, la lên:
- Hay lắm! Ta cũng có nghĩ điều ấy, nhưng sợ nói ra lưỡi vấp
gai chông của thái độ nàng.
Cô gái bật cười:
- Bây giờ chàng nói rất hay rồi đó.
Cô gái tên là Chúc Anh, họ Diệp, ở Hoàng gia trang, cách quê
Sầm Hiệu hơn chục dặm đường. Mồ côi cha mẹ, nàng ở với một người cô, hết lòng
hiếu thảo. Ông bà thân sinh Sầm Hiệu khi nghe tỏ rõ tình đầu hãy còn nghi hoặc,
nhưng sau cho người dò hỏi biết được sự thực thì lấy làm mừng. Sau lễ dạm hỏi,
Sầm Hiệu năng đến thăm viếng Chúc Anh, hai bên rất là ý hiệp tâm đầu. Mùa xuân
năm sau, song thân Sầm Hiệu chuẩn bị lễ cưới cho con thì gặp dịp quan Tổng trấn
Hào Dương ra lệnh tuyển mộ thanh niên gia nhập vào đội phòng vệ, vì lẽ tình
hình trong trấn càng ngày càng bất ổn. Sầm Hiệu từ giã cha mẹ và nàng Chúc Anh
lên đường. Quan Tổng trấn này họ Trầm, tên là Chính Hiệp, tên nghe rất tốt mà
người rất dữ. Tay quan lúc nào cũng vung vẩy con roi sắt, miệng quan gào thét
như khạc gươm đao, nhân dân đứng trước mặt quan ai cũng run sợ cúi đầu. Quan
thích như thế nhưng dân chẳng ai lấy thế làm thích.
Từ khi quan về Hào Dương thì cảnh đói khổ càng tăng, trộm cướp
mọc lên như nấm. Quan bèn cho in nhiều sách thánh hiền, tung ra khắp nơi cốt để
ổn định nhân tâm. Sách không ai đọc vì đa số dân đều không biết chữ. Những người
biết chữ thì không có đủ thì giờ xem sách. Một số có thì giờ xem, thấy sách nói
toàn những chuyện xa xôi, bèn sinh bực tức muốn đi ăn cướp.
Quan bèn lập ra một đội Phòng vệ để đàn áp nhân dân. Bệnh
không chịu chữa từ gốc nên chặn chỗ này lại phát chỗ kia. Gặp năm trời làm
thiên tai, nước sông Bạch Hà tràn lên sáu dặm ngâm mùa suốt một tháng trời, dân
chúng cả miền Trà Lý phải hái rau cỏ ven núi mà ăn. Kịp đến vụ thuế, quan bắt
dân nộp, tiếng dân kêu trời như bộng. Xã trưởng bị quan dồn vào thế bức, thắt cổ
mà chết. Quan truyền cho lính Phòng vệ kéo về Trà Lý bắt trói những chủ gia
đình đem về hạ ngục. Khi đội Phòng vệ sắp sửa lên đường, Sầm Hiệu ra trước mọi
người nói to:
- Chúng ta nhất quyết không đi!
Quan bèn nạt lớn:
- Kẻ nào trái lệnh thì ta chặt đầu!
Sầm Hiệu vẫn cứ la to:
- Chặt đầu thì chặt, dân đói thì dân phải kêu, không thể bắt
dân giam vào ngục được.
Quan thét:
- Phản tặc! Mày không biết mày là lính nhà quan hay sao mà
dám cãi bướng!
Sầm Hiệu ngẩng cao đầu, giậm chân, trợn mắt cãi lại:
- Ta ăn hột gạo quan cho nhưng lúa gạo ấy chính là do dân làm
lụng khổ cực mới có. Bọn ta thật sự là lính nhà dân đấy thôi. Khi nào quan cùng
với dân một lòng một dạ thì ta là lính nhà quan. Nay quan hại dân thì quan là đồ
phản tặc, ta quyết chống lại.
Tổng trấn hạ lệnh đao phủ chặt đầu. Bọn đao phủ thấy Sầm Hiệu
mặt đỏ bừng bừng, mắt trợn tròn xoe, vành môi mím lại trong một khí phách kiêu
dũng lạ thường, thảy đều khiếp sợ không dám lại gần. Quan phải đòi chặt đầu
luôn cả bọn, chúng mới xông vào bắt trói Sầm lại rồi đem cột vào cây trụ, khai
đao. Lạ thay, chém trên mười nhát mà đầu Sầm vẫn trơ trơ. Đao phủ thảy đều khiếp
sợ, xanh xám mặt mày. Quan bèn nạt lui mọi người, rút thanh bảo kiếm chém liền
ba nhát nhưng hễ mỗi lần lưỡi gươm bén đến da cổ thì hình như bị sức mạnh lạ
lùng bật tung trở lại. Quan cũng thất sắc. Sầm Hiệu tuy bị quỳ gối trói sấp ké
vào cột trụ nhưng đầu vẫn cứ ngẩng cao, cả mắt cả miệng đều biểu lộ sức phẫn nộ
mãnh liệt lạ thường.
Quan bỗng nảy ra độc ý, truyền bắt cha mẹ của Sầm, cả nàng
Chúc Anh về dinh rồi truyền cho lính xử trảm. Khi bọn đao phủ đem thanh kiếm
còn dính máu khoa lên trước mặt thì Sầm Hiệu chợt thất sắc cúi gục đầu xuống,
nhưng rồi lại ngẩng đầu lên. Lưỡi gươm chém vào da thịt, máu tuôn xối xả từng
dòng nhưng đầu vẫn không chịu rụng. Quan truyền chặt đầu những người chống thuế
ở thôn Trà Lý vừa mới giải về. Lạ thay, lưỡi gươm dính máu nhân dân chạm vào da
cổ thì đầu Sầm Hiệu cũng rơi xuống đất.
Tổng trấn hạ lệnh ném xác Sầm Hiệu xuống biển. Trời rất giá
buốt, mưa tuôn dầm dề, nửa đêm mấy người thuyền chài lặn xuống mò xác rồi đem
vào chôn dưới núi Hào Sơn. Mấy ngày sau đó, không ai bảo ai mà trên mộ phần
luôn luôn có đặt hoa quả hương trầm. Ngôi mộ mới đầu nhỏ bé, nhưng mỗi một người
đến thăm bỏ vào nắm đất, nhiều ngày ngôi mộ trở nên cao lớn uy nghi. Ban đầu,
người ta còn đi cúng lễ lén lút, lần lần người ta kéo đến khấn vái ngang nhiên,
biến ngôi mộ phần của Sầm thành nơi hiển địa. Ngôi mộ càng lớn, tên tuổi Sầm Hiệu
càng được lan xa, kỷ niệm của Sầm ở nơi lòng người càng thêm sâu đậm.
Tổng trấn biết sự tình ấy lấy làm giận lắm, truyền cho khai
quật mộ Sầm để lấy hài cốt hỏa thiêu. Khi quân đào xuống thì xương cốt Sầm đã rời
rã từ bao giờ, hòa tan với đất thấm vào cây cỏ, chỉ còn một khối ngọc hồng như
kết tinh lại máu huyết uất hận từ tim.
Quân đem khối ngọc về trình Tổng trấn. Vốn có máu tham, quan
truyền rửa ngọc rồi đem cất kỹ trong nhà. Tối đến, quan thấy ánh sáng tỏa khắp
gian phòng. Nhìn vào khối ngọc quan bỗng giật mình thấy khuôn mặt Sầm hiện lên,
phừng phừng lửa giận, mắt trợn tròn xoe, nhưng hai vành môi trễ xuống trong một
nỗi niềm thương cảm vô biên. Tổng trấn khiếp sợ, mồ hôi tuôn vã như tắm, vội
vàng nhét ngọc vào rương, khóa kỹ, nhưng ánh sáng vẫn chiếu ngợp cả phòng. Thâu
đêm quan không ngủ được, giật mình thấp thỏm nhiều phen, cứ vừa chợp mắt là thấy
khuôn mặt dị thường của Sầm hiện rõ.
Mờ sáng, quan truyền quân lính đem ngọc ném xuống một vực biển
sâu. Tối đến mặt bể sáng tỏ một vùng. Ánh sáng rực rỡ lóng lánh xuyên từng lớp
nước, chói rạng hào quang, những người thuyền chài mò xuống để tìm khối ngọc.
Ngọc không thể giữ làm món của riêng được truyền đi khắp và những kẻ nào ao ước
được gặp mặt Sầm bây giờ náo nức tìm xem ngọc quý. Nhìn đến khuôn mặt, thấy niềm
thương cảm đọng ở bờ môi và lửa giận phừng phừng trên đôi mắt, ai cũng chan hòa
giọt lệ. Giọt lệ rơi trên khối ngọc làm cho chất ngọc sáng tỏ lạ lùng. Nước mắt
dội xuống càng nhiều, ngọc càng sáng chói. Tiếng đồn càng xa, quan Tổng trấn lại
thêm một phen nổi trận lôi đình. Quan liền hạ lệnh tịch thu viên ngọc, lần này
không phải giữ lại để làm của quý mà truyền đao phủ đập tan.
Bao nhiêu sức búa vẫn không lay chuyển khối ngọc. Búa càng nện,
ngọc càng lì, người ta tưởng chừng như qua tiếng búa nện xuống vang vang nghe
được giọng nói căm hờn của người lính trẻ. Tổng trấn nhớ lại thanh gươm vấy máu
ngày xưa. Và khi lưỡi gươm còn đọng chất máu nhân dân vừa chém thẳng xuống, ngọc
vỡ tan thành mảnh nhỏ trăm muôn. Ở trong mỗi mảnh hồng ngọc lưu ly lại có bóng
hình Sầm Hiệu cùng với nỗi giận niềm thương ở trên cặp mắt, đôi môi.
Từ đấy, bao nhiêu mảnh ngọc lại được truyền đi trong khắp dân
gian. Thiên hạ lưu giữ ngọc ấy làm một bảo vật để gửi lại cho đời sau. Ngày nay
có nhiều người lính còn mang trong lòng chất ngọc lưu truyền, chất ngọc tượng
trưng cho sự kiên quyết bảo vệ lẽ phải và lòng thiết tha yêu mến nhân dân.
1-1960
Câu chuyện mất ngựa
Gần tết Nhâm Ngọ, ông Thất Cừ ở kinh đô về, cỡi con ngựa ô
tuyệt đẹp. Một tối, ông ghé nghỉ lại quán trọ bên đường, sáng dậy thì con ngựa
ông biến mất. Dò theo các dấu chân ngựa, ông Thất tìm đến một ngôi nhà nhỏ ven
rừng. Ngôi nhà xác xơ cô độc, khiến ông nghĩ tới sào huyệt bọn cướp. Lúc đó trời
đã đứng bóng, ông Thất bụng đã đói mèm. Ông tới sát vách, ghé tai nghiêng mắt
nhìn vào bên trong. Gian nhà trống trải chỉ có mỗi chiếc giường tre ọp ẹp, trên
đó một người nằm ngủ say vùi, tiếng ngáy kêu ồn như tiếng cưa gỗ. Ông Thất gọi
cửa, hồi lâu, người kia mới bừng tỉnh giấc. Dụi mắt, vươn vai, anh ta lảo đảo
bước ra, chống cửa mời ông Thất vào.
Ông Thất vội nói:
- Tôi đến đây làm phiền anh, là vì tôi mất con ngựa trong đêm
vừa rồi.
Chủ nhà, một người gầy ốm, với đôi mắt sáng và chiếc miệng nhỏ
nhìn xéo ông Thất mà không nói một tiếng nào.
Ông Thất lại tiếp:
- Kẻ đã sơ suất bị trộm lấy mất đồ vật phải chịu thiệt thòi.
Đáng lẽ thì tôi không được quyền hỏi đến anh, nếu không nhìn thấy dấu ngựa của
tôi đi vào nhà này.
Người kia vẫn trầm ngâm một lúc lâu, rồi chậm chạp nói:
- Kể ra đôi mắt của ông khá tinh, nhìn ra được dấu chân ngựa
trên nửa ngày đường bụi cát không phải là chuyện dễ dàng. Vậy xin hỏi thiệt:
bây giờ ông muốn thế nào?
Ông Thất đáp ngay:
- Muốn chuộc lại con ngựa ấy.
Người chủ nhà đáp:
- Chậm quá. Ngựa đã bán rồi.
- Bán ở nơi nào? Tôi sẽ tìm đến.
Người chủ nhà nhíu mày, bảo:
- Ông có sẵn tiền nên mua ngựa khác mà dùng, chuộc làm gì
thêm phiền phức.
- Nhưng đó là con ngựa quý, tôi đã nuôi lâu. Vật đã quen người
không thể nhất đán xa lìa mà không tìm cách thâu hồi trở lại.
- Chắc là ông chưa ăn trưa?
- Thú thiệt là chưa. Quanh đây không tìm thấy quán xá nào.
- Còn ít cơm nguội và mắm để dành buổi chiều. Ông có thể ăn đỡ
đói.
Chủ nhà lại xuống lúi húi dọn cơm. Ông Thất ngồi nhìn căn nhà
vắng vẻ, trống trải, nghĩ ngợi lan man về người đã lấy trộm ngựa của mình.
Nhưng quá đói lòng nên khi chủ nhà vừa bưng cơm lên, ông không đợi mời tới tiếng
thứ hai, cầm đũa ăn liền. Bữa cơm quá mức thanh đạm nhưng chưa bao giờ ông Thất
ăn ngon như vậy. Uống một bát nước chè tươi để thêm no bụng, ông ngả lưng ra
trên giường, gối đầu trên chiếc gối gỗ, lim dim tìm giấc ngủ trưa.
Thiếp được một giấc nên thấy đã bớt nhọc mệt của chuyến đi
tìm vất vả từ sớm, ông bèn ngồi dậy. Chủ nhà ngồi im dưới đất, dựa lưng vào cột,
phì phèo một điếu thuốc lớn. Ông Thất xẵng giọng:
- Thế nào, con ngựa tôi đâu?
Chủ nhà nhìn ông, trả lời:
- Đã nói bán rồi.
Ông Thất hùng hổ đứng lên, nói lớn:
- Tôi bảo cho tôi chuộc lại kia mà.
Chủ nhà vẫn cứ ngồi yên không đáp. Ông Thất giận dữ la lên:
- Hay thiệt! Ngươi đã ăn cắp ngựa quý của ta, đã chịu thú nhận
như vậy, rồi khi ta thấy cảnh ngươi nghèo đói muốn bỏ tiền ra chuộc lại, ngươi
vẫn làm thinh là nghĩa lý gì? Coi thường luật pháp như nhà ngươi đây là quá lắm
rồi.
Chủ nhà bỗng cười to lên, đáp lại:
- Ông đừng nổi nóng, vô ích. Đáng lẽ ông phải hiểu rằng ta
không thèm chối chuyện ăn cắp ngựa từ đầu, bởi ta không phải là hạng chuyên nghề
ăn cắp. Nếu cần nói cho ra lẽ, thì dấu chân ngựa của ông vào đây chưa phải là bằng
chứng chắc để ông nhất quyết là ta ăn trộm. Ai cấm kẻ gian cỡi con ngựa quý của
ông ghé vào xin nước, xin cơm như ta sẵn sàng để thết đãi ông vừa rồi?
- Nhưng ta bảo thật: ta cần con ngựa, dù phải trả bằng giá
nào.
- Vậy thì ông cứ tự tiện tìm ngựa, nào ai có cản ngăn đâu?
Ông Thất không nén được giận, nhảy đến toan nắm lấy cổ người
kia kéo dậy thì gã gạt tay ông ra, chồm lên:
- Được lắm. Ngươi thắng nổi ta, thì cho ngươi lại con ngựa.
Hai người hăm hở xông tới, huơ quyền đánh nhau. Trong ngôi
nhà chật, họ phải áp tới loạn đả và ban đầu còn tỏ chút dè dặt để dò sức nhau,
dần dần chính sự va chạm cơ thể mạnh mẽ khiến họ được đốt nóng lên, quyết ăn
thua đủ.
Nhưng hai đối thủ thật là cân sức nên sự thắng bại khó quyết
định được. Họ im lặng tấn công nhau, dùng các ngón nghề thành thạo để giành ưu
thế. Ông Thất tinh thông võ nghệ nhưng các đòn đánh không nhanh, không chắc như
người chủ nhà, ngược lại các thế đánh của chủ nhà đều bị ông Thất ngăn chặn. Cuộc
đấu kéo dài khá lâu, hai đối thủ đã mệt nhoài và đến một lúc họ dừng tay lại để
thở.
Người chủ nhà nói:
- Vậy thì ông chưa thể lấy lại con ngựa quý.
Ông Thất đáp lại:
- Được lắm. Ta sẽ tiếp tục.
Cả hai lại xông vào cuộc giao đấu. Bây giờ ông Thất quyết
dùng các ngón độc hiểm để hạ tên trộm gan lì, nhưng tất cả ngón bí truyền của
ông vẫn không thể nào quật ngã được hắn. Có lúc ông dùng song phi tới tấp theo
kiểu liên hoàn tưởng quật được gã, nhưng lúc ông toan áp đến khóa chặt gã nằm
dưới đất thì gã đã lanh hơn một con sóc trườn mình nhổm dậy hươi cả song quyền
vào bụng của ông. Càng giao đấu, ông Thất nhận thấy gã ăn trộm ngựa là tay bản
lĩnh cao cường và gã không dùng một ngón đòn nào thật là ác độc để triệt hạ
ông.
Họ đánh đến chiều thì mệt rã rời. Hai người chỉ còn thủ thế
nhìn nhau, chờ đợi đối thủ sơ hở để tấn công. Bên ngoài hoàng hôn xuống mau giữa
chốn rừng cây vắng vẻ và tiếng bìm bịp, chào mào kêu vang trong các bụi rậm, nhớn
nhác đón chờ đêm tối. Trong nhà, hai người không còn nhìn rõ nhau nữa. Đó là
hai cái bóng đen vờn nhau, tiếng thở hào hển mỗi lúc mỗi vang to hơn. Cuối
cùng, gã chủ nhà bảo:
- Trời đã tối rồi, chúng ta hãy nghỉ tay đã. Tôi còn phải lo
cơm nước cho hai chúng ta.
Ông Thất không mong đợi gì hơn cuộc hưu chiến. Ông buông tay,
đến ngả người trên chiếc giường, kéo áo lau lớp mồ hôi dầm dề trên mặt. Người
chủ nhà chậm chạp xuống bếp thổi lửa, đốt một bó đuốc dầu chai cắm giữa gian
nhà. Đoạn hì hục nấu cơm tối. Ông Thất thiếp đi một giấc mê mệt rồi nghe gọi dậy.
Chủ nhà đã đặt mâm cơm dưới đất, cạnh ngọn đuốc sáng và mời ông lại. Trên chiếc
mâm gỗ cũ kỹ chỉ có chén nước mắm lớn, một ít rau rừng luộc chín, cạnh một nồi
cơm.
- Mời ông dùng tạm bữa cơm nghèo khó. Chắc ông đã quen với
món cao lương, khó lòng dùng mãi các thứ đồ ăn thanh đạm thế này.
Ông Thất cố giữ vẻ mặt tự nhiên, đáp lại:
- Chủ nhà có lòng cho ăn là tốt lắm rồi.
Và ông ngồi lại, ăn khá ngon lành. Vừa im lặng nhai cơm nóng
với món rau rừng chấm mắm, ông tự hỏi thầm: "Quái, sao tên trộm sống nghèo
khổ thế này? Món tiền bán ngựa vừa rồi hắn đã làm gì?"
Hai người ngồi ăn, không ai nói chuyện với ai lời nào. Cơm nước
xong rồi, ông Thất lại giường ngồi nghỉ. Chủ nhà đã vấn cho ông một điếu thuốc
lá khá lớn đặt trên chiếc đĩa, để ở đầu giường. Đợi cho ông Thất hút tàn gần nửa
điếu thuốc, gã nói:
- Bây giờ đã tối, cơm nước đã xong, ông muốn chúng ta tiếp tục
đấu nữa hay là chờ đợi ngày mai?
Ông Thất yên lặng suy nghĩ, rồi móc túi bạc đặt ở trên giường.
Ông nói:
- Dù có đấu sức suốt cả đêm nay, ta chắc cũng không làm sao
phân được thắng bại với anh. Coi như là tài võ nghệ không sao giúp ta đoạt được
lại con ngựa quý. Vậy ta bằng lòng đem tiền để chuộc, anh cứ ra giá cho xong.
Ngặt con ngựa ấy là vật kỷ niệm cha ta lưu lại, nếu không ta cũng sẵn sàng cho
đứt luôn anh, chẳng phải mất tiền chuộc lại làm gì.
Gã chủ nhà đáp:
- Tôi không phải sống bằng nghề trộm đạo. Ông coi, một tên trộm
cướp không phải cực khổ thế này. Một con ngựa quý của ông cũng đủ cung cấp rượu
thịt cho tôi suốt mấy tháng trường, can chi lại ăn rau rừng với mắm cho khổ tấm
thân. Nhưng nghề đốn gỗ của tôi không lấy gì làm thong thả.
Ông Thất bèn hỏi:
- Vậy ngựa tôi đâu?
Gã chủ nhà đáp:
- Được rồi, ông cứ ngủ lại. Ngày mai ông sẽ có ngựa cỡi về.
Ông Thất do dự giây lát, rồi hỏi:
- Anh không phải là trộm cắp, sao lại có ngựa để giao cho ta?
Gã chủ nhà có vẻ buồn, trả lời:
- Chính tôi là kẻ ăn cắp, nhưng tôi không sống bằng cái nghề
này.
- Ta thực chưa hiểu ý anh thế nào...
Gã chủ nhà đi tìm chiếu, trải dưới nền đất cạnh cây đuốc sáng
và nằm dài ra phì phèo điếu thuốc. Ông Thất cũng nằm trên giường nghiêng nhìn
phía gã, chờ đợi một câu trả lời.
Lâu lắm không thấy gã nói tiếng nào, ông bèn gợi hỏi:
- Sao anh không chịu lấy món tiền chuộc của ta?
Gã chủ nhà đáp:
- Lấy để làm gì? Tôi mến tài năng và đức độ ông nên phải nói
hết sự thật để cho ông nghe.
Và gã bắt đầu kể chuyện.
Gã có một người bạn là thợ rừng bị cây ngã đè ở trong hốc
núi. Nhà nghèo, bệnh nặng, bạn gã không sao chạy nổi thuốc thang. Cảm thương cảnh
ngộ của bạn, gã tìm mọi cách giúp đỡ nhưng không biết phải xoay xở thế nào. Biết
tên Chánh tổng trong vùng thích ngựa, gã nảy ý kiến ăn cắp một con ngựa tốt để
bán cho y. Một tối, tìm đến quán trọ bên đường, gã bỗng gặp con ngựa ô của ông
Thất Cừ. Nghĩ rằng người cỡi ngựa quý không phải là hạng nghèo nàn - lấy mất,
thì tìm mua ngựa khác - gã đã lẻn vào trong chuồng giữa lúc đêm khuya, mở dây,
dắt ngựa ra đường, cỡi phóng như bay. Sáng đến, đem bán cho tên Chánh tổng lấy
đúng năm trăm quan tiền. Cả số tiền ấy, gã đã đem giúp người bạn nghèo khổ lâm
nguy.
Người chủ nhà tiếp:
- Tối nay, tôi sẽ giở trò trộm đạo một lần thứ hai để mang ngựa
về cho ông.
Ông Thất bèn nói:
- Rất tiếc là ta không còn đủ số năm trăm quan tiền. Túi bạc
mà ta mang theo chưa đến nửa phần giá ấy. Nếu có, ta sẽ giao hết cho anh đem
chuộc lại con ngựa kia cho khỏi ân hận trong lòng.
Người chủ nhà ngồi dậy, nhìn ông Thất Cừ với một vẻ mặt xúc động
rồi tiến đến gần bên ông, chắp tay thưa rằng:
- Xin cám ơn ngài. Thực là ít có một người hào hiệp như ngài.
Dù có đủ số tiền ấy, ngài giao tôi cũng chẳng dám nhận lãnh. Một là viên Chánh
tổng kia mua được ngựa quý, giá hời, lão đâu chịu cho chuộc lại. Của tốt vào được
trong kho nhà giàu, dễ gì đã được buông ra mà không đem lại món lời gấp chục, gấp
trăm. Hai là tôi không muốn người bạn tôi phải chịu ơn ngài. Anh ta nghèo khổ
nhưng rất trong sạch, lại quá khí khái đâu muốn nhận tiền của kẻ lạ mặt. Bởi
ngài chuộc ngựa là coi như cho gia đình anh ta cả món tiền kia.
Ông Thất Cừ nói:
- Sao lại không thể coi đó là tiền mà ta cho mượn dài ngày?
- Mượn mà biết không trả được, có khác gì là xin xỏ hay cướp
giật đâu. Ông đừng bận tâm. Khuya nay, tôi sẽ lẻn vào bắt lại con ngựa cho ông.
Viên Chánh tổng kia giàu quá, lấy bớt năm trăm quan tiền cũng chẳng hề gì.
Trong khi người ta lâm nạn, chờ chết, đến van xin nó cũng chẳng có được đồng
nào.
- Nhưng viên Chánh tổng có biết rõ mặt anh không?
- Cũng ở trong vùng, biết nhau rõ lắm.
- Vậy anh lấy lại ngựa rồi, hẳn gã phải nghi ngờ anh, đâu có
sống yên đây được.
- Từ tối, tôi có nghĩ đến điều này. Chắc tôi sẽ phải trốn đi
nơi khác.
Ông Thất đỡ gã chủ nhà cùng ngồi xuống giường với mình, thân
mật nói rằng:
- Một người tốt lòng với bạn như anh, bao giờ cũng tốt với những
bạn khác. Mong rằng tôi sẽ được anh coi như là bạn, kể từ đêm nay.
- Xin cảm tạ ngài.
- Đừng gọi bằng ngài. Chúng ta đã là anh em, cứ gọi nhau bằng
thứ bậc ở trong gia đình. Tôi là thứ năm. Còn anh thứ mấy?
- Dạ, tôi thứ tám.
- Chú Tám, nếu chú liệu không thể sống ở đây được nữa hãy về
quê anh mà cùng nương tựa với nhau, đừng e ngại gì.
Ông Thất nói rõ quê quán, chức vụ của mình cho người bạn mới
hiểu rõ. Chủ nhà tỏ ra hết sức xúc động trước tấm lòng tốt của khách. Cả hai
chuyện trò khá lâu, cho đến gần khuya thì ông Thất giục:
- Chú hãy nằm nghỉ giây lát rồi chúng ta cùng lên đường.
- Không, anh để tôi đi một mình.
- Đâu được. Chú đã cho biết nhà viên Chánh tổng hào sâu,
thành dày, gia đinh đông đảo, chú đi một mình có thể gặp sự khó khăn. Chúng ta
đã là anh em, lẽ nào lại để chú đi vào nơi nguy hiểm một mình.
Ông Tám cảm động trước những lời nói chí tình, đáp lại:
- Đã làm phiền anh, còn nhọc đến anh làm gì. Em phải chịu phần
trách nhiệm đem con ngựa về.
Ông Thất nghiêm sắc mặt bảo:
- Chú nói như vậy, anh không bằng lòng. Anh có bổn phận với
chú, đừng nên thắc mắc bận tâm gì hết.
Ông Tám đáp lời:
- Vậy thì mời anh lên đường, vì còn xa lắm. Nghỉ ngơi e lại
trễ mất.
Cả hai cùng giắt vào mình một thanh đoản đao, uống thêm ngụm
nước chè nguội rồi tắt đèn, mở cửa, đi vào đêm tối. Ông Thất im lặng theo sau
người em kết nghĩa, nghĩ thấy mọi sự xảy ra là một run rủi kỳ lạ, đã đưa đẩy
ông, một người lương thiện có chút phẩm trật ở trong làng nước thành một kẻ trộm,
và ăn trộm chính con vật của mình.
Sang đầu canh ba thì cả hai người đi tới một vùng đất cao,
cây cối rậm rạp. Ông Thất nhìn được trong bóng đêm dày tòa nhà sừng sững trước
mặt, chung quanh có thành lũy cao.
Ông Tám ghé vào tai ông, bảo nhỏ:
- Đây là nhà viên Chánh tổng, dinh cơ của lão nằm trên sườn đồi,
nhìn xuống phía trước là đồng ruộng lớn. Tất cả ruộng đất ở đây đều thuộc về
lão.
Ông Thất nghĩ thầm: "Làm Chánh tổng như tên này có khác
gì làm vua đâu. Hẳn là mồ hôi, xương máu của dân bị nó vơ vét cuốn hút đã quá
nhiều đời nên mới có một sản nghiệp lớn lao như thế". Ông Tám bảo thêm:
- Anh nên cẩn thận. Bây giờ phải lội qua một hào sâu mới đến
chân thành. Leo được tường rồi, phải qua mấy dãy sân rộng mới đến khu vực nhà ở.
Chó săn của lão nhiều lắm mà gia đinh cũng đông đảo.
- Thế chú biết rõ chuồng ngựa của lão nằm ở đâu không?
- Dạ không. Mua bán vật gì chỉ đến gặp lão ở tiền đường kia,
không phải tâm phúc đâu có vào trong ấy được.
- Chúng ta sẽ tìm, đừng ngại.
Hai người lặng lẽ cởi đồ, đội lên đầu, rồi cùng men xuống bờ
hào, nhẹ nhàng lội qua vùng nước lạnh buốt và sang được bờ bên kia. Mặc quần áo
xong, cả hai men theo bờ tường đi về phía sau. Theo sự suy luận của ông Tám thì
các cửa hậu bao giờ cũng kém kiên cố hơn là cửa tiền và chỉ có bằng lối ấy mới
lọt vào bên trong được. Tới nơi, cả hai hợp sức dùng đao mới đẩy bật được cánh
cửa. Hai người lách vào, bò rạp xuống đất men theo bờ tường bên trong để tìm
chuồng ngựa. Cứ được một quãng, ông Tám lại ghé tai sát xuống đất nghe ngóng.
Khi vừa đến sau một dãy nhà dài, có lẽ là dãy kho thóc, ông Tám vội ngồi thụp
xuống và kéo ông Thất ngồi theo. Có tiếng người đi và tiếng chó hực, gầm gừ,
đánh hơi người lạ. Giây lâu, không thấy động tĩnh gì nữa, cả hai lại cùng nhổm dậy,
lom khom bước tới. Đêm tối làm cho họ bước khá chậm. Cuối cùng, ông Tám ghé sát
ông Thất, bảo nhỏ:
- Đến chuồng ngựa rồi.
- Thật hả? Sao biết?
- Có tiếng ngựa hí, tiếng chân đạp trên nền đất.
Ông Thất áp tai xuống đất nghe ngóng hồi lâu:
- Quả chú tài thật.
Hai người lần mò đi một quãng nữa, quanh co qua các dãy nhà.
Mùi rơm cỏ, mùi phân, bao nhiêu là mùi ẩm mốc bốc nặng trong đêm giúp cho lỗ
mũi hai ông thay thế được cặp mắt nhìn một cách khá rõ. Lát sau họ đến chuồng
ngựa. Nhẹ nhàng, ông Tám lấy dao nạy cửa. Nhiều tiếng ngựa hí vang lên trong
đêm tối dày.
Ông Thất kéo ông Tám lại:
- Chú gác ngoài cửa, để tôi đi vào. Ngựa tôi quen chủ, tôi dễ
tìm hơn.
Ông Tám vâng lời. Đứng im một lát cho bầy ngựa bớt náo động
và cặp mắt quen bóng tối dày đặc bên trong, ông Thất rón rén đi vào. Quả con ngựa
ô đánh hơi được người chủ cũ, nện móng đì độp và hí vang lên. Ông Thất vỗ nhẹ
trên lưng con vật:
- Ta đây. Ta đến đưa con về lại với ta.
Con ngựa vung đầu, đạp chân, ngoay ngoảy mình mẩy ra tuồng
vui vẻ gặp được chủ cũ. Tháo vội dây cột, ông dắt nó đi ra ngoài. Bỗng trước mặt
ông, một người xuất hiện. Ông hỏi:
- Chú Tám đó hả?
Một giọng ngái ngủ trả lời:
- Tám, chín gì nào. Bây to gan thật, dám ăn trộm ngựa cụ
Chánh...
Ông Thất lợi dụng bóng tối, đánh ngay một quyền vào bụng dưới
gã. Người kia kêu ối một tiếng, ôm ruột, gập người cúi xuống. Ông Thất đã nhanh
như cắt, nhảy tới ôm vật gã xuống, đè lên, chiếc đùi chận lấy cổ họng, sờ soạng
tìm khăn nhét vào họng gã:
Người kia ú ớ:
- Xin đừng giết tôi... Tôi là đầy tớ trong nhà.
- Im đi, ai muốn giết mày làm gì... Tao chỉ cần lấy ngựa
thôi. Chiều nay thấy thằng Chánh tổng mua được con ngựa đẹp quá, tao mượn cỡi
chơi ít lâu, khi nào có dịp ghé lại tao sẽ giao trả.
Ông nghĩ một chút lại tiếp:
- Nhưng cái đó còn tùy ở túi tiền mua rượu của tao. Hễ Thiên
Vương này dư tiền uống rượu thì tao chẳng tiếc gì ngựa mà không trao trả...
Khi ông Thất nới đầu gối của mình để nhét khăn vào họng gã,
gã run rẩy nói:
- Xin ông...
- Cái gì?
- Xin ông trói tôi thật chặt và bỏ tôi vào góc chuồng...
- Sao mày lại muốn trói chặt?
- Ông có trói kỹ thì ông Chánh trừng phạt tôi nhẹ hơn. Không
vậy, ông Chánh lại tưởng tôi thông đồng với bọn cướp.
- Tao không phải cướp!
- Dạ, tôi không có ý nói thế. Xin ông...
- Được rồi, nằm im, tao sẽ làm theo ý mày.
Sau khi trói chặt, ôm gã bỏ vào một xó, ông Thất tháo khăn
nhét vào họng gã, dắt ngựa ra ngoài.
Rồi cả hai người vòng ra ngoài thành tìm đến cầu treo bắc qua
hào nước, hạ xuống. Dắt ngựa qua khỏi, ông Thất bảo ông Tám cùng leo lên và
trên con ngựa thiếu yên cương, hai người phi gấp về nhà.
Đến nhà thì trời hừng sáng. Ông Tám nhảy vọt xuống ngựa, nói
liền:
- Gia đình của thằng Chánh tổng không thiếu gì đứa trước kia
là tay trộm đạo có tài. Nó sẽ dò theo dấu ngựa tìm đến nơi đây rất sớm. Để em
thổi gấp cơm ăn rồi anh lên đường.
Ông chạy xuống bếp lo cơm. Ông Thất theo xuống phụ lực, rồi hỏi:
- Vậy chú làm sao ở yên nơi này?
- Thưa anh, em sẽ liệu cách đối phó.
- Không được. Chú nên theo về quê anh cùng sống cho vui. Đến
dịp ra kinh, anh sẽ tìm cách để tiến cử chú.
- Em xin cảm ơn lòng tốt của anh. Nhưng em còn người bạn cũ bị
cây rừng đè vẫn chưa bình phục, không thể xa được. Khi nào em liệu khó sống nơi
đây sẽ đến tìm anh.
Mối duyên gặp gỡ giữa hai người ấy khởi sự là vậy. Trước khi
lên ngựa ra về, ông Thất cầm tay người em kết nghĩa, bảo rằng:
- Em ráng giữ mình, đừng nghi ngờ sự chân thật của anh. Chúng
ta đã là anh em, còn hơn cả ruột thịt đó.
Rồi ông tạm biệt, lên đường về quê.
Khi ông Tám dọn chiếc giường, thấy gói bạc ông Thất còn trên
đầu nằm. Ông thật bối rối không biết làm sao đuổi theo cho kịp để trao lại cho
ông Thất. Ông cũng không dám mở ra để xem, vì ông nghĩ rằng bạc ấy chẳng phải của
mình, lại là của người mà ông kính mến, làm mất dấu vết không chỉ thương tổn đến
ông mà còn xúc phạm đến anh mình nữa.
Nhưng một cuống lá khá dài thò ra từ gói bạc ấy. Kéo chiếc lá
lên, ông đọc thấy dòng chữ nhỏ, có lẽ viết bằng gai nhọn, như sau: "Muôn sự
của chung". Ông Tám cúi đầu, hiểu ý người anh kết nghĩa của mình.
Mấy năm về sau, đến khi người bạn thợ rừng qua đời, ông Tám mới
dời đến ở cạnh làng ông Thất là miệt Bầu Nai. Ông vỡ đất hoang làm ruộng, không
chịu ở nhờ ruộng đất của người anh mình, những lúc rảnh rỗi dành nhiều thì giờ
thăm viếng hầu hạ ông anh. Tuổi già càng làm cho đời sống họ thiên nhiều về mặt
tinh thần, do đó tình anh em lại càng đậm đà nhiều hơn.
Một đêm, ông Thất Cừ nhận lời mời của người quen ở xã Long Hồ,
đến dự tiệc rượu. Giữa lúc chén uống đang nồng thì có một người trong đám bỗng
hỏi ông ta:
- Xin vô lễ với ông Thất, chẳng hay ông còn nhớ những chuyện
cũ hay không?
Ông Thất đáp lời:
- Chuyện cũ có trăm ngàn thứ, có thứ đáng nhớ, có thứ nên
quên. Chẳng hay ông muốn nói đến chuyện gì?
Người kia đáp lại:
- Chuyện này chắc hẳn là ông không thể quên được, trừ phi ông
muốn quên đi.
Ngừng lại một chút, người kia nói tiếp:
- Ông còn nhớ Lý văn Hổ hay không?
Ông Thất nhíu trán, suy nghĩ, cố lục lọi trong ký ức:
- Lý văn Hổ à? Là ai? Ta không nhớ rõ được con người ấy.
Người kia lại nói:
- Phải rồi, ông đã muốn quên.
- Không, ta chẳng muốn quên. Ta không thể nhớ đó thôi.
Người kia im lặng, nốc từng ngụm rượu khá lớn. Mâm tiệc trở
thành khó chịu vì cái không khí mập mờ của sự khiêu khích bắt đầu. Ông Thất
chăm chú nhìn kỹ người kia qua đôi mắt đã chấp chóa hơi men, cố lục lọi trong
ký ức vẫn không nhìn thấy được gì hơn nữa. Thời gian đã phủ một tấm màn lớn như
lớp sương mù dày đặc ngăn che quay về dĩ vãng xa mờ.
- Quả tình ta không nhớ được tên ấy là ai.
Câu nói có vẻ ôn tồn của ông rơi giữa mâm rượu bỗng làm người
kia ngẩng mái đầu lên, quắc đôi mắt sáng, nhìn ông một cách hằn học.
- Thật tình là ông đã quên Mười Hổ phải không?
Ông Thất gật đầu:
- Đã quên. Ta có sợ gì phải chối nhớ lại cái tên không buộc
cho ta bận lòng. Mười Hổ là ai, anh cứ nói ra.
Hơi rượu làm ông bốc nóng, ông tiếp:
- Mười Hổ hay trăm ngàn hổ, cũng vậy mà thôi.
Rồi cười ha hả:
- Cũng đều là hổ, chứ có khác gì!
Người kia đặt mạnh cốc rượu xuống chiếu, nói lớn:
- Ông đừng khinh mạn, xúc phạm cha ta!
Ông Thất ngạc nhiên:
- Ủa? Tên của thân sinh anh à? Làm sao mà ta biết được điều ấy?
Người kia vội rời chiếu rượu, đứng xuống chống nạnh, gườm
nhìn ông Thất. Chủ nhà vội can:
- Thôi, thôi đây là tiệc vui. Xin đừng gây nên những chuyện
đáng tiếc.
Ông Thất để ý giọng nói của gã chủ nhà không có chút nhiệt
tình nào, chừng như đó chỉ là câu chiếu lệ mà thôi. Bất giác trong một thoáng
mau, ông Thất chợt nhớ là trong dĩ vãng họ có nhiều mối tị hiềm nhưng được thời
gian làm cho phai mờ, như những bãi sình đã được cát lấp và trên cát ấy người
ta tưởng rằng có thể trồng được những loài hoa đẹp. Nhưng đó chỉ là loài hoa ảo
tưởng.
Người kia nghe chủ nhà nói, gằn giọng đáp lại:
- Được rồi, ta sẽ ra khỏi nơi đây, để mà hài tội tên già.
Giọng nói mạnh mẽ của gã đối với chủ nhà cũng có vẻ gì giả tạo.
Ông Thất nghĩ rằng có thể họ đã ăn ý cùng nhau trong một âm mưu hãm hại ông
chăng? Nhưng chất men nồng bốc cháy hừng hực trên đầu, mọi ý đề phòng nhường bước
cho lòng phẫn nộ, ông thấy căm giận cực độ vì lời xúc phạm của kẻ gây chuyện,
nên cũng bước ra khỏi chiếu, hét lên:
- Mày đừng vô lễ. Ta muốn biết mày cố tình gây chuyện là vì lẽ
gì? Cha mày với tao nào có quen biết gì với nhau đâu?
Gã kia hằn học:
- Mày đã đánh chết cha ta, rồi ném xác dưới bờ hào, còn nhớ
hay không?
Ông Thất chợt thấy bàng hoàng. Trong cuộc đời huấn luyện ngựa
cho vua, ông đã lỡ tay đánh chết một người. Đó là một tên ăn trộm ngựa quý của
vua đem về bán lại cho các nhà giàu ở những miền xa, hẻo lánh. Hành vi trộm đạo
của gã là một xúc phạm lớn lao đối với quyền uy thiên tử và cũng là một thử
thách sỗ sàng đối với những người có phần trách nhiệm như ông Thất Cừ. Ông đã để
tâm dò xét nhiều ngày và một đêm kia, ông đã bắt gặp thủ phạm. Hai người đấu sức
quyết liệt và cuối cùng tên ăn trộm bị ông quật ngã. Trong lúc tuyệt vọng, gã
đã tự vẫn để khỏi bị những cực hình giày vò và để gia đình khỏi bị liên lụy.
Không ai biết gã là ai, quê quán nơi nào. Tên trộm đã chết, được đem vứt xác
ngoài thành, rồi bị treo lên lơ lửng đôi hôm trước khi chôn lấp.
Bây giờ, thì con trai hắn xuất hiện nơi đây, mang mối căm thù
dồn chứa từ ba bốn mươi năm rồi. Chắc gã còn phải lớn lên, còn phải tầm sư học
đạo, còn đợi cho triều đại kia sụp đổ và đợi cơ hội đến gần ông Thất. Căm thù
đã lớn như cây cổ thụ và muốn đơm bông kết trái bây giờ.
Cũng có đôi lần ông Thất áy náy về sự nặng tay của mình,
nhưng lòng tự ái của một kẻ có quyền uy như ông đã sớm xua đuổi ra khỏi tâm hồn
một điều thắc mắc kiểu đó. Ông gào to lên:
- À, ra mày là con của tên ăn trộm ngày xưa. Mày muốn những
gì?
Gã kia trợn mắt:
- Mày phải đền tội!
Ông Thất hét to:
- Tội gì? Tao không đánh chết thằng cha của mày. Nhưng dù có
đánh chết được một tên đạo tặc như vậy, tao cũng hả dạ.
Vẻ mặt người kia tối sầm hẳn lại, có lẽ phẫn nộ của gã lên đến
cực điểm. Gã đứng câm lặng tuồng như giận dữ làm cho lời nói nghẹn ngào. Giây
lâu, gã mới cất tiếng phều phào:
- Nếu ngươi có lòng sám hối, biết quỳ lạy ta thì ta tha mạng.
Bằng không thì hãy đến bìa rừng này.
Quỳ lạy người trẻ hơn ông, và là con của một kẻ đạo tặc, làm
sao có thể nghe những lời hỗn xược ấy mà không lồng lộn lên được? Kẻ kia đã để
ông uống rượu say rồi nung chín muồi tự ái của ông cho ông choáng váng mới hạ độc
thủ đó chăng? Tự nhiên, ông Thất cũng cảm thấy nỗi lo sợ. Tuổi già đã đánh mất
niềm tự tin khi phải đối đầu chướng ngại.
Ông quay nhìn các người quanh mâm rượu. Đó toàn là những người
quen, điểm vài khuôn mặt thân hữu và đôi mặt lạ. Ông chờ đợi họ một lời cản
ngăn và tốt hơn nữa một lời bênh vực. Nhưng họ thảy đều im lặng, một sự im lặng
đồng lõa chứ không phải là kết quả của lòng sợ hãi.
Ông Thất cảm thấy lạc loài, cô độc. Thế ra những người từng tỏ
ra trọng vọng ông, những người từ trước đến nay từng khâm phục ông, nay lại chối
bỏ đột ngột sự tín nhiệm ấy là vì lẽ nào? Cuộc đời có lẽ đã đổi thay rồi và các
giá trị mà ông khoác vào từ trước hẳn đã suy giảm rồi chăng? Nhưng gã đối thủ của
ông như hiểu được nỗi bàng hoàng đang làm xáo động hồn ông, gã nói một cách
khinh bỉ:
- Ngươi đừng tưởng rằng giữ ngựa cho lũ vua quan là đáng kính
nể hơn những người ăn trộm ngựa.
Ông Thất quắc mắt:
- Nhà ngươi không được xúc phạm...
- Xúc phạm! Xúc phạm đến ai? Đến ngươi hay là đến lũ vua
quan? Thôi đi, chuyện đó xưa rồi. Nhưng còn mối thù của ta thì không bao giờ cũ
được. Hãy ra ngoài này, không thì ta kéo cổ ngươi đi ra tức khắc.
Ông Thất lảo đảo ra ngoài bìa rừng. Đêm trăng, cỏ ướt đẫm
sương lốm đốm điểm bạc. Ông nghe lạnh dưới đôi chân, lạnh khắp mặt mày. Lòng
căm hờn của kẻ kia đã dựng ông thành đối thủ của nó. Đáng lẽ thì ông không chịu
giao đấu, nhưng tự ái và danh dự đã tổn thương rồi, không thể im lặng, không thể
chối từ, và điều chắc chắn đối thủ của ông không cho phép ông được quyền từ chối.
Họ đã im lặng đánh nhau dưới ánh trăng soi vằng vặc. Những
ngón quyền đánh trúng mặt làm cho ông Thất bừng tỉnh, và ông tìm lại phong độ
đã mất ít nhiều trong những năm qua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét