Chất ngọc 2
Cuôi ba dùm
Những ngày sắp dời lên mạn Đông Đường, được biết đồng bào Thượng
miền ấy có tục Cuôi ba dùm 1. là tôi bắt đầu ăn ngủ không yên.
Thực ra, trong thời gian sống giữa chốn núi rừng hoang vu, lạnh
lẽo, thỉnh thoảng tôi cũng mơ tưởng đến những hình bóng nhẹ nhàng của các cô
gái ở chốn quê hương. Nhưng sau những lần vọng tưởng như thế, kiểm điểm trở lại
tôi thấy mình chẳng yêu một cô nào rõ rệt, bởi vì rõ rệt chẳng có cô nào yêu
tôi rõ ràng. Tôi biết nguyên nhân sâu xa sự thiệt thòi này là tại những khi đến
gần phụ nữ, tôi thường làm bộ ta đây là bậc đàn anh, lên mặt dạy bảo những điều
phải trái. Khi người ta là... cấp trên, chuyên môn nói chuyện đạo đức thì thật
khó lòng hạ xuống cầu xin cấp dưới một chút ân huệ ái tình. Rốt cuộc, cấp dưới
trở thành một thứ cấp trên rất cao, đến nỗi tôi không tin chắc có ngày mình sẽ
đạt tới.
Nhưng không phải chỉ mình tôi gây ra cho tôi sự tình cô độc
mà còn tại các cô nữa. Hình như hầu hết các cô miền xuôi đều không thể hiện
chân thành, giản dị ý nghĩ của mình. Vì vậy, những người không sành về khoa tâm
lý như tôi, khó lòng chiều ý các cô cho được lâu dài. Lại thêm, hễ có một cô
gái vừa lớn là y như ở hàng xóm hoặc một góc đường đều túc trực sẵn một chàng
trai trẻ để mà cười tình và trao lá thư duyên. Cho nên tôi không chắc rằng người
mà tôi yêu có thực trong trắng tâm hồn, hay là trong khi yêu tôi nàng vẫn lẫn lộn
với kẻ xóm giềng nào đó.
Tôi cứ cho rằng đến nông nỗi này có lẽ mình chỉ yêu được những
cô gái Thượng mà thôi, vì tôi nghe nói phụ nữ miền Thượng bao giờ cũng rất giản
dị và rất chân thành. Do những lẽ đó, ngày lên miền núi tôi vẫn ước ao gặp gỡ một
cô gái Thượng thật đẹp để mà có dịp báo thù gián tiếp các cô miền xuôi, nhưng
hình như tôi lên chốn núi rừng không nhằm mục đích đi tìm đàn bà, cho nên tháng
ngày trôi qua tôi chỉ gặp toàn một thứ đàn ông. Thỉnh thoảng, có gặp một ít thú
dữ.
Đến khi được biết sẽ lên nghỉ ngơi nhiều ngày tại mạn Đông Đường
và các cô gái miền này thường Cuôi ba dùm nghĩa là nằm ngủ thân ái với
người khách lạ - thì tôi bắt đầu nhận thấy núi rừng không phải chỉ là vắt sên
hút máu, đèo dốc cheo leo, thác nước ồ ạt tuôn đi không kể tháng ngày.
Lên đường lần này tôi tỏ ra rất hăng hái, y như một người
theo đuổi trước mắt lý tưởng cao siêu. Nhưng đến cái dốc thứ chín, thì tôi cảm
thấy rõ rệt qua cặp đầu gối rằng mỗi một món tình yêu chưa đủ khuyến khích con
người. Tới lúc bước vào cái buôn đầu tiên, gặp hai cô gái đã già ngồi bên suối
nước, phô cặp vú sệ gần như chấm cái váy cụt nhạt màu, giương mắt đục lờ nheo
nheo nhìn tôi rồi nở nụ cười ngây ngô giới thiệu cả hai hàm răng đã cà mòn nhẵn
thì tôi ngơ ngác, và loay hoay mãi vẫn không nhớ thằng ngốc nào đã từng mơ ước
kết duyên với cô gái Thượng.
Chúng tôi hạ trại dưới chân một ngọn núi lớn, cạnh con sông
nhỏ nước chảy lờ đờ luôn luôn chờn vờn những bầy muỗi rừng. Ở lưng chừng núi là
một cái buôn khá lớn, điểm những nét vàng lỗ chỗ giữa nền xanh sẫm. Mỗi sáng, mỗi
chiều, khói lam vươn ra từ các đỉnh dốc, quyện trên sườn cao, rồi tan chìm
trong sương mờ, y như những nỗi mơ mộng của tâm hồn tôi xóa nhòa trong một ý sầu
ngan ngát dâng lên từ khắp núi rừng.
Một chiều, tôi đang lặn lội tìm nguồn một dòng suối nhỏ, chợt
nghe tiếng hát vang lên ở giữa rừng sâu. Tôi không biết được câu hát nói gì,
nhưng giọng mềm dẻo, thỉnh thoảng ngậpå ngừng ngắt quãng, thu hút lấy tôi như
chất nhựa cây chập vào một chiếc lá khô. Dần dần tôi quên nguồn suối đi tìm và
lạc bước vào một vùng khác lạ có nhiều mô đá cheo leo rải rác dưới chân dốc
núi. Khi gặp tiếng hát thì tôi sửng sốt dừng lại. Một cô gái Thượng đang ngồi rửa
rau bên một vũng suối. Không biết có người đến gần, cô vẫn say sưa ngồi hát, đầu
cúi thấp xuống soi mình dưới nước, lắc lư nhẹ nhàng, hòa nhịp với bàn tay đang
chao qua chao lại từng mớ rau rừng. Tôi ngồi bên này dòng suối, gần như đối diện
với cô, yên lặng rất lâu như thế để quan sát một hiện tượng chưa từng bắt gặp
trong đời từ trước đến giờ. Cô nàng bé nhỏ, da ngăm ngăm đen, vóc người tròn trịa,
gọn gàng trong một tấm dồ và chiếc cà tiu xanh đậm, có một vẻ đẹp hết
sức... núi rừng. Lời hát hình như ứng khẩu tuôn ra do nỗi dào dạt từ trong đáy
lòng theo một khuôn khổ âm điệu có sẵn tự bao nhiêu đời, nên nghe miên man như
không bao giờ dứt được. Tôi đã từng nghe nhiều cô người Kinh ca hát, nhưng hoặc
con người không hòa hợp với bài hát, hoặc bài hát không hòa hợp với khung cảnh,
thông thường người hát không giữ được vẻ tự nhiên khiến ta có cảm tưởng chứng
kiến một sự trình diễn rời rạc về con người ấy, còn những bài hát chỉ là cái cớ
phụ thuộc. Ở đây, cây rừng, nước suối, gió ngàn và người con gái với cả tiếng
hát đều là một sự hòa điệu thâm trầm. Tôi có cảm giác đó là lời ca xuất hiện từ
thuở tinh khôi, một sự thổ lộ của núi của rừng như phát tiết ra từ trong hốc
đá, khe sâu, từ trong lòng đất mênh mông thăm thẳm... Tôi ngồi yên lặng, cặp mắt
mờ dần bóng hình cô gái để cho thính giác đưa về một cõi hoang vu chập chờn sắc
màu man rợ, giữa một không khí u uất lá già ủ mục ngàn năm. Rồi những tiếng
chim lạ lùng cất lên, dòng thác ồn ào tuôn xuống, tiếng cồng, tiếng mõ, tiếng
chiêng từ đâu bừng dậy, le lói ánh hồng bếp lửa rừng khuya...
Đột nhiên tiếng hát dừng lại, cả cái sinh hoạt bao la của chốn
núi rừng như chìm hẳn xuống hố sâu. Cô gái chợt trông thấy tôi, ngừng tay khuấy
nước, cặp mắt bỗng sáng long lanh. Cô hỏi vọng sang:
- Làm gì thế?
Tôi cười, trả lời:
- Ngồi nghe núi rừng ca hát.
Cô hơi ngẩng lên, ngây nhìn giây lát, có vẻ không hiểu tôi muốn
nói gì. Rồi cô mỉm cười, cúi xuống, quờ tay chao mớ rau rừng, dường như đã quên
cả người đang ngồi trước mặt. Xong việc, cô đứng lên, tay xách giỏ rau thoăn
thoắt leo lên dốc đá, về buôn. Tôi im lặng đi theo một quãng dài, rồi dừng bước
lại, buâng khuâng tự hỏi đi đâu?
° ° °
Từ đấy, bóng hình người con gái Thượng luôn luôn ám ảnh hồn
tôi. Những giấc mơ đã chết tiệt ngày nào bây giờ dần dần sống lại. Tôi tin tưởng
rằng một dịp nào đó sẽ gặp được người con gái trên buôn, và tôi sẽ ngủ thân ái
một đêm với nàng.
Tôi vốn không quen phân tích tâm tư để hiểu vì sao tôi lại
khát khao mãnh liệt như thế. Chắc rằng ngoài lòng ham muốn cuồng nhiệt và sự tò
mò của tuổi thanh niên, tôi còn bị người lớn tuổi đầu độc bằng cái quan niệm phổ
biến cho rằng trình độ từng trải về một nơi nào phải được chứng minh bằng sự tiếp
xúc với người đàn bà bản thổ. Với số người này, hình như linh hồn của một dân tộc
bao giờ cũng bị kẹp trong đôi vế đàn bà. Nếu chưa thật sự mở được quyển sách
hai trang ấy ra, thì dù quan sát bao nhiêu thắng cảnh, ngâm đọc bao nhiêu tác
phẩm địa phương cũng vẫn chưa am hiểu gì về địa phương ấy. Do đó tôi cứ ngại rằng
ngày sau, khi về đồng nội nói chuyện đường rừng, lỡ ai sốt sắng hỏi tôi đàn bà miền
Thượng thế nào thì chắc tôi sẽ xấu hổ mà ấp úng rằng không biết. Cái ý định ấy
càng ngày càng nung nấu ở trong tôi đến một cường độ không sao tả được. Tôi
không bao giờ tự hỏi ý định như thế, nếu thực hiện được, sẽ gây tác hại thế
nào. Sức mạnh tinh thần của đồng bào Thượng là lòng tin tưởng phong tục. Đồng
bào miền Thượng bám vào phong tục như những dây leo bám lấy thân cành, như loài
hổ dữ nương vào hang đá. Tôi há chẳng biết kẻ nào xúc phạm tập tục miền rừng là
phải chuốc lấy oán hờn trọn kiếp đó sao? Tôi chẳng đã học từng phong tục một,
như học hỏi từng ngón võ hộ thân trong rừng phong tục um tùm chằng chịt của đồng
bào Thượng đó sao? Cái gì đối với đồng bào miền Thượng cũng có thể thành cấm kỵ
thiêng liêng: một nhánh lá tươi cắm ở đầu buôn trong mùa gặt hái còn có giá trị
ngăn cản hơn ngàn lớp cửa gài bằng khóa sắt; một cái xoa nhẹ thân yêu trên đầu
đứa bé có thể coi như xúc phạm bàn thờ và làm bật lên bao nhiêu tia mắt thù hằn;
một thân cây lụi dùng làm gậy chống trên đường, một chút quế thơm phòng vệ những
khi bệnh hoạn, lỡ mang vào tận trong nhà thì chẳng khác gì đã dẫn theo loài ma
quỷ, khuấy lên bao nhiêu căm hờn...
Tôi đã nghĩ nhiều về điều ấy qua khá nhiều đêm thức ngủ chập
chờn. Nhưng lòng nhiệt nồng của tuổi thanh niên khiến tôi hoài nghi phong tục
có thể cưỡng lại ý thức tò mò lồng trong sức mạnh dục tình. Từ đấy, tôi cố học
tập tiếng nói đường rừng. Không biết những người theo đuổi lý tưởng cao siêu
khi học tiếng của nước ngoài thì phải chăm chỉ ra sao, chứ tôi thì chỉ vì chút
mục đích xin ngủ một đêm mà đã hết lòng ra công đèn sách. Bạn hữu không biết
thâm ý của tôi, đều khen tôi có ý thức "nghiên cứu văn hóa miền Thượng",
còn tôi, tuy đã tự hiểu rõ ràng, vẫn cho rằng mình đang chuẩn bị "tham khảo
giá trị nhân bản ở trong phong tục của các chủng tộc đồng bào..."
Nhiều lần, nhân dịp anh em lên tiếp xúc trên buôn, tôi muốn
đi theo để mong gặp lại cô gái hôm nào, nhưng vẫn không sao đi được, vì bận nhiều
công việc khác. Thế rồi, y như mọi lòng ham muốn và mọi đợi chờ trên cõi đời
này đều cũng có dịp toại nguyện, một hôm, vào độ cuối năm, chúng tôi được lệnh
lên buôn tổ chức đêm vui.
° ° °
Buôn trông gần gũi nhưng khi đến nơi thì trời tối mịt, mặc dù
tôi đã khuyến khích mọi người lên sớm để cho "đồng bào" khỏi phải nhọc
lòng chờ đợi.
Một số anh em liên lạc đã lên từ trưa bố trí công việc. Toàn
buôn nhóm họp đông đủ chung quanh một đống lửa to bốc cháy ngùn ngụt giữa vạt đất
lễ, chiếu sáng một vùng rộng lớn, soi rõ khuôn mặt từng người. Trong khi anh em
xếp đặt các màn ca kịch thì tôi len lỏi đi tìm con người bên suối hôm xưa.
Khuôn mặt tròn trịa thơ ngây của nàng nổi bật giữa các cô gái nên tôi không phải
mất công lùng kiếm. Tôi lại gần nàng, nhìn nàng một phút, cố tình cho nàng có đủ
thì giờ để nhận ra tôi. Thấy nàng cứ mãi ngây nhìn, tôi hỏi:
- Có nhớ tôi không?
Nàng bỗng mỉm cười, gật đầu. Nhưng cặp mắt nàng vẫn cứ giương
nhìn, tỏ vẻ không hiểu. Tôi bèn hỏi tiếp:
- Xin lỗi... tên là gì à?
Nàng cười:
- Y Sao...
- Y Sao! Tên hay quá há!
Tôi đứng yên, loay hoay lục lọi trong óc tìm những tiếng gì
thích hợp để ghép thành câu nói chuyện cùng nàng. Nhưng một hồi chiêng vang
lên. Đêm vui bắt đầu. Suốt mấy giờ liền tôi vẫn không quên thỉnh thoảng đưa mắt
tìm nàng và thấy nàng vẫn ngồi y một chỗ, vẫn cười hồn nhiên, long lanh cặp mắt
ngời trong ánh lửa. Tôi cố đóng trọn vai trò của mình, lòng không được vui vì
nôn nao sợ những gì toan tính từ lâu đêm nay không thực hiện được. Đến khi mãn
cuộc, ngọn lửa đã tàn chỉ còn trơ lại một đống than hồng to lớn. Thay vội quần
áo, tôi chạy đi tìm Y Sao. Nàng cùng một số chị em xúm xít bên lửa, tíu ta tíu
tít đun nước, nướng bắp. Ánh than hừng hực tỏa sáng lên người các cô gái Thượng
ướt đẫm mồ hôi, trông có vẻ gì cổ quái lạ lùng. Y Sao nhanh nhẹn bỏ bắp trên lớp
than hồng trải rộng và nàng dùng tay thoăn thoắt lật trở nhịp nhàng từng trái,
gan lì thành thạo một cách khác thường. Tôi lại gần nàng, kêu lên:
- Y Sao! Dùng cây gắp chứ. Nóng tay lắm kìa!
Nàng ngẩng lên cười rồi lại cúi xuống rất nhanh, tiếp tục
công việc và đáp:
- Không có nóng đâu.
Muốn chứng thực thêm lời nói của mình, lần này nàng dừng tay
lại rất lâu trên từng trái bắp, trước khi lật trở cho nó chín đều. Rồi nàng chồm
sang bên cạnh, đưa hai bàn tay nhỏ nhắn của mình nhắc lấy nồi nước đang sôi
sùng sục trên một bếp lửa ngùn ngụt, đặt xuống một bên, rồi lại đặt lên như cũ,
giữa những lưỡi lửa dữ dằn như muốn nuốt lấy tay nàng. Tôi kinh ngạc đứng yên
tưởng mình chứng kiến những trò biến hóa của bà phù thủy. Cuối cùng, tôi lại buồn
rầu nghĩ rằng da thịt chai lì như vậy phỏng nàng còn biết xúc cảm là gì!
Lát sau, tôi lại tự trách mình quá lo xa và rồi vui vẻ ngồi
xuống bên nàng:
- Y Sao!
- Gì à?
- Xem kịch thế nào?
- Hay lắm.
- Thế ai hay hơn hết đấy?
- Ai cũng hay cả.
- À...
Tôi lại ngồi im, không biết mình phải nhập đề thế nào. Sau
cùng tôi hỏi một cách lúng túng:
- Y Sao này...
- Gì à?
- Nướng bắp để làm gì thế?
- Để ăn...
- Cho tôi ăn nhé?
- Ừ, cho các anh ăn.
- Nhưng cho tôi thật nhiều nhé?
- Ừ, đói thì ăn nhiều. Có đói lắm không?
- Đói lắm, nhưng này...
- Gì à?
- Tôi mến Y Sao lắm.
Nàng cười vui vẻ:
- Y Sao cũng mến các anh lắm.
Con đàng gần đến, nếu dừng bước lại thì hóa xa xôi, tôi bèn
đánh bạo nói tiếp:
- Đêm nay tôi ngủ nhà Y Sao nhé?
Y Sao gật đầu.
- Cuôi ba dùm nhé?
Y Sao lại gật, mỉm cười tự nhiên, cúi xuống nướng bắp.
Thế là nàng chịu, Cuôi ba dùm moi măn 2 với tôi rồi! Không ngờ câu chuyện dễ dàng
như vậy. Nhiều khi ta chạy hàng chục vòng tròn vô ích chung quanh chỗ ngồi dọn
sẵn từ lâu.
Suốt buổi tiệc bắp vui vẻ thân mật, tôi làm bộ điệu rất là uể
oải, đợi khi giải tán ra về bèn báo cáo trong người khó ở xin được ngủ lại trên
buôn. Anh em ai cũng ân cần khuyên tôi ngủ lại để mà giữ gìn sức khỏe. Có người
cho rằng tôi vốn nhiệt tâm đối với văn hóa miền Thượng, ngủ lại một đêm cũng là
dịp tốt để nâng cao trình độ ít nhiều.
° ° °
Nằm bên bếp lửa chờ đợi Y Sao, tôi cẩn thận bôi trên mũi nhiều
dầu cù là, nghĩ rằng mỗi dân tộc đều có mùi riêng mà chỉ tiếp xúc vội vàng về mặt
vật chất không đủ tạo nên hòa hợp dễ dàng. Một lát, Y Sao từ một gian nhà bên cạnh
bước ra, miệng nở nụ cười tươi vui khác thường. Nàng đã thay chiếc cà tiu mới
tinh còn hôi nồng mùi lá nhuộm, và mặc một chiếc áo chẽn may rất đơn giản bằng
thứ vải thô điểm những sọc chỉ xanh đỏ còn tươi nguyên màu, có lẽ là áo dùng
trong dịp lễ. Nàng trải xuống sàn ghép bằng những ống lồ ô đập dẹp một tấm chiếu
dày dệt bằng các thứ dây sợi lấy trong các vỏ cây rừng và bảo tôi nằm. Xong,
nàng nhẹ nhàng nâng đầu tôi lên, kê vào một chiếc gối mây thắt rất công phu.
Tôi nằm yên, ngoan ngoãn, mặc nàng sắp xếp, y như đứa bé nghe theo lời chị.
Nhưng khi nàng lấy một tấm dồ rộng còn mới phủ lên mình tôi, thì tôi
kêu lên:
- Y Sao ngủ với tôi chứ?
Nàng cười, gật đầu.
- Thế tôi không thích đắp đâu.
- Khuya lạnh lắm mà. Đắp đi, đắp đi.
Nàng nói dịu dàng, có vẻ như lời nài nỉ.
Tôi đáp:
- Ngủ với Y Sao, tôi không thấy lạnh.
Rồi tôi gỡ tấm dồ ra.
Nàng lại ôn tồn:
- Đắp đi.
Rồi nàng lại kéo dồ để đắp cho tôi.
- Y Sao chưa đi ngủ à?
- Ngủ chứ. Có đói cái bụng không đấy?
- Không đói. Chỉ ưng ngủ với Y Sao đó thôi.
- Có khát nước không?
- Không khát, chỉ ưng ngủ với Y Sao đó thôi.
- Hút thuốc lá chứ?
- Hút thuốc không thích bằng nằm ngủ với Y Sao.
Những ngày sống giữa núi rừng tôi đã tìm thấy trong cái
thú tút xà reo 3 một nguồn an ủi lớn lao. Đó là lãng quên,
vừa là tưởng nhớ, đó là ít nhiều hơi ấm trong cảnh lạnh lùng, ít nhiều khuấy động
giữa chốn vắng vẻ... nhưng bây giờ đây khói thuốc làm sao quyến rũ được tôi.
Y Sao loay hoay sửa soạn bếp lửa. Nàng tém gọn lại rồi rút một
mớ củi khô thêm vào cho lửa sáng hồng rực rỡ hơn lên. Hình ảnh bếp lửa chính là
hình ảnh của mối nhiệt tình nung nấu trong tôi.
Bây giờ, có lẽ đêm đã về khuya. Qua khung cửa hẹp tôi thấy
bên ngoài tối đen dày đặc mênh mông, thỉnh thoảng lập lòe điểm sáng của bầy đom
đóm. Tôi tưởng nghe trong yên lặng âm thầm núi rừng xao xuyến trỗi dậy gom góp
muôn ngàn sinh lực biến đổi sự sống để cho ngày mai dưới ánh mặt trời muôn cành
thêm lá tươi non, muôn vật thêm màu lông mới.
Gia đình Y Sao có lẽ ngủ yên từ lâu. Ban nãy khi nàng chưa đến,
tôi thấy hai người hiện ra ở phía cuối nhà, một bà cụ già, một người trai trẻ,
ý hẳn là mẹ và anh của nàng - cả hai nhìn tôi gật chào, cười rất thân mật rồi
biến mất sau tấm liếp.
Tôi muốn bảo với Y Sao hát cho tôi nghe, như tôi đã từng được
nghe nàng hát hôm nào, để cho đêm vui thực sự hoàn toàn. Nhưng biết rõ mình
không đủ bình tĩnh chờ đợi bất cứ một sự kéo dài nào nữa, tôi hối thúc nàng:
- Khuya rồi, Y Sao!
Y Sao gật đầu:
- Ừ, khuya rồi, ngủ đi.
Và nàng nhanh nhẹn nằm xuống bên tôi.
Bây giờ tôi chỉ còn nghe quả tim của tôi liên hồi đập trong lồng
ngực và hơi thở tôi gấp rút, nặng nề. Đầu óc vần vũ những mớ cảm giác rối loạn,
tôi không biết rõ mình đang nghĩ ngợi những gì. Tôi thoáng nhớ lại những quyển
tiểu thuyết mô tả tâm trạng của người đàn ông khi nằm cạnh người đàn bà và tôi
nhận thấy không có quyển nào nói đúng tâm trạng của tôi lúc này.
Từ khi Y Sao nằm xuống bên cạnh thì tôi bàng hoàng nằm yên
giây lâu, không chút cử động. Sau cùng, định thần trở lại, tôi mới thấy rõ cái
vẻ kỳ dị của việc tôi làm. Nhưng các công trình nghiên cứu, tổ chức, vận động của
tôi lâu nay không phải để được nằm yên bên cạnh một cô gái Thượng. Nếu chỉ có
thế thì tôi nên lựa bất cứ một khúc gỗ nào thật tốt ngoài rừng đem về ôm ngủ có
lẽ yên ổn hơn nhiều!
Tôi bèn bỏ tay qua người Y Sao, kéo nhẹ cho nàng xích lại
thêm gần:
- Y Sao...
- Gì à?
- Tôi thương Y Sao nhiều lắm.
- Y Sao cũng thương các anh nhiều lắm.
- Sao lại các anh? Nhiều thế?
Y Sao vẫn đáp nhẹ nhàng:
- Ừ, nhiều lắm.
- Y Sao chẳng hiểu gì cả! Tôi bảo Y Sao... chỉ thương lấy một
mình tôi.
Y Sao giương mắt ngạc nhiên:
- Sao thế?
Tôi làm thinh, không biết trả lời cách nào cho Y Sao hiểu
tình yêu là sự ích kỷ riêng của hai người. Nhưng tôi chợt nghĩ giữa tôi và nàng
chưa hề có gì chứng tỏ là tình yêu thì làm sao nói cho nàng hiểu được những điều
đơn giản mà phức tạp ấy? Vả lại, tôi không thông thạo tiếng nói của nàng, trình
bày những điều khuất khúc tâm tình là việc khó khăn. Mới biết học nhiều ở trường
mà thiếu một môn tiếng Thượng cũng có hại thực. Sau cùng, bắt chước ông bà từ đời
thái cổ, tôi dùng bàn tay thông ngôn tình ý của mình.
Bắt đầu tôi thử vuốt ve đôi má Y Sao. Y Sao mỉm cười hết sức
dịu dàng. Tôi hạ lần tay đặt trên ngực nàng. Tôi nghe tim nàng đập mạnh, người
nàng tỏa ra hơi nóng khác thường. Khi bàn tay tôi không còn giữ đúng lễ độ con
người bình tĩnh, thì Y Sao nắm chặt lấy và nàng kêu trong hơi thở:
- Đừng thế!
Rồi nàng kéo tay tôi xuống, đặt nó cẩn thận ở trên mình tôi
và còn giữ chặt như thế rất lâu, ý muốn tập luyện cho nó chịu quen tinh thần kỷ
luật. Sau cùng, nàng bảo:
- Ngủ đi.
Thở dài, tôi đáp:
- Không ngủ được đâu.
- Sao thế?
- Nằm bên Y Sao, tôi không ngủ được.
Nàng nhìn tôi sửng sốt:
- Thế à?
- Thực đấy.
Nàng trỗi ngay dậy, có vẻ hơi buồn:
- Y Sao đi ngủ chỗ khác.
Tôi kéo nàng lại:
- Y Sao đi ngủ chỗ khác thì tôi càng không ngủ được.
- Chẳng hiểu.
- Gì mà chẳng hiểu? Y Sao hãy nằm xuống đi.
Y Sao ngoan ngoãn nằm xuống. Tôi vuốt má nàng.
- Thương Y Sao lắm.
- Y Sao thương các anh lắm.
- Cứ thế! Không thương tôi à?
- Thương chứ. Thương nhiều lắm đấy.
- Y Sao làm vợ tôi đêm nay nhé?
- Chẳng hiểu.
Tôi nghĩ: "Trời ơi! Gì mà chẳng hiểu, chẳng hiểu! Ngốc đến
thế này thì thôi!" Và bèn đổi giọng nài nỉ:
- Tôi mở cái cà tiu nhé?
- Đừng!
- Không cho thì tôi chết đấy.
- Chẳng có chết đâu.
- Ghét Y Sao lắm.
Y Sao không nói. Mặt nàng đọng lại trong dáng trầm ngâm khó
hiểu. Thấy dùng văn hóa chẳng ăn thua gì, tôi quyết định dùng quân sự. Tôi vỗ về
nàng, rồi thừa dịp nắm cà tiu của nàng và giằng mạnh xuống. Lập tức,
người đàn bà co lại như bị điện truyền và nàng xô mạnh người tôi, kêu lên hốt
hoảng:
- Không được!
Tôi chồm người tới, cố giằng kéo nàng lại gần, nhưng nàng đã
ngồi ngay dậy, xếp hai đùi lại và co hai tay trong tư thế phòng vệ. Trong ánh lửa
đêm, tôi thấy mắt nàng long lên sòng sọc, miệng nàng mím chặt, cương quyết lạ
lùng.
Những ý nồng nhiệt trong tôi phút chốc đã tiêu tan hết. Nhưng
lòng tự ái vội vàng thế vào chỗ trống, khuyến khích tôi đừng bỏ cuộc. Tôi liền
sán lại ôm choàng lấy nàng siết chặt trong đôi cánh tay hung hãn cố làm ra vẻ
tha thiết yêu đương. Để trợ lực sự chiếm đoạt, tôi bèn phát triển ý thức tò mò
bằng cách khuyên mình cố gắng đến cùng để đo xem sức phản ứng của cô gái Thượng
có thể chịu đựng đến mức độ nào mới phải đầu hàng. Hình như một thứ mặc cảm tự
tôn của kẻ sống ở miền xuôi tự hào văn minh hơn dân rừng núi đã củng cố thêm
cho tôi ôm chặt lấy nàng. Y Sao chuyển hết sức mình cố đẩy tôi ra một cách tuyệt
vọng, nhưng không kêu cứu lời nào, hình như nàng phải nhận lấy trách nhiệm đối
với chính nàng cho đến phút cuối. Tôi hổn hển bảo:
- Y Sao nghe lời tôi đi.
Nàng đáp phều phào:
- Không đâu, không đâu, không đâu...
Nhưng nàng lả người, mềm hẳn cả sức kháng cự. Tôi nới vòng
tay, đặt nàng nằm xuống, vừa toan cúi xuống mình nàng thì nhanh như con sóc rừng,
Y Sao đã lộn người lại, nhào tới phía trước. Tôi thấy nàng đứng thẳng dậy, rút
vội trên sàn chiếc dáo, quỳ xuống chĩa mũi nhọn hoắt về phía ngực tôi, trợn trừng
cặp mắt nói như tiếng rít:
- Đừng bắt Y Sao làm xấu cái buôn... Y Sao không quen, không
biết anh đâu!
Bây giờ nàng không phải là Y Sao dịu dàng bên suối hôm nào,
cũng không phải là Y Sao hiền lành ban tối vừa qua. Đây là Y Sao uy nghi của cảnh
núi rừng hùng vĩ, Y Sao dõng dạc của những phong tục ngàn đời giữ vững lấy sự tồn
tại con người giữa lòng thiên nhiên hiểm độc. Sự chống đối của nàng không phải
là sự phản ứng của một người đối với một người, mà chính là sự bênh vực của nhiều
con người tập trung trong cá nhân nàng. Thấp thoáng sau nàng Y Sao im lặng,
hung dữ như một vị thần bảo vệ, có cả cuộc sống âm thầm dai dẳng của nhiều dân
buôn, và cả màu xanh tươi thắm của núi rừng trùng điệp.
Nàng cứ ngồi yên như thế hồi lâu, sắc diện dần dần dịu lại.
Tôi ngồi thẳng dậy, cố nói bình tĩnh với nàng:
- Y Sao có giận tôi không?
- Không có giận đâu.
- Y Sao giận đấy.
- Không giận đâu mà.
- Không phá Y Sao nữa đâu. Ngủ với tôi, nhé?
Rồi muốn cho nàng yên tâm, tôi quờ tay lấy que củi bẻ đôi đưa
lại cho nàng:
- Tôi đã thề rồi.
Y Sao lại nở nụ cười hiền dịu, nhẹ nhàng dựng chiếc giáo nhọn
nơi liếp rồi nàng ngoan ngoãn nằm xuống cạnh tôi, kéo lấy tấm dồ phủ
lên người tôi. Một lát, tôi ngủ thiếp đi.
Không biết ngủ được bao lâu thì tôi nghe lạnh, giật mình tỉnh
giấc. Tôi thấy Y Sao đang cúi lom khom thổi trên đống lửa sắp tàn. Ngọn lửa từ
từ sáng lại, gieo tỏa hơi ấm khắp nhà. Nàng thêm củi vào rồi nhẹ nhàng, rón rén
như sợ kinh động giấc ngủ của tôi đi lấy tấm liếp che cửa để ngăn hơi lạnh rừng
khuya ồ ạt ùa vào. Xong, nàng lại rón rén, nhẹ nhàng đi lại bên tôi. Tôi vờ ngủ
yên. Y Sao sửa lại tấm dồ cho tôi, vuốt trên tóc tôi, vỗ nhẹ lưng tôi
y như người mẹ, người chị săn sóc giấc ngủ cho con em mình. Cử chỉ âu yếm của
nàng thực là vụng về nhưng rất tự nhiên làm cho lòng tôi rưng rưng cảm động. Rồi
nàng kéo trải một mí tấm dồ ra sàn, nằm đè người lên, vòng một tay
qua ôm lấy mình tôi. Tôi nằm trong một lớp vải bọc kín, một đầu có người của
nàng chèn giữ, một đầu có bàn tay nàng bó lấy. Tin ở lời thề, Y Sao vẫn phải
luôn luôn phòng vệ cho danh dự nàng!
Tôi nằm yên, tâm hồn trở lại bình tĩnh. Nhìn cô gái Thượng
xinh xắn đang nằm bên tôi, nhỏ bé hơn tôi rất nhiều nhưng cố ấp ủ lấy tôi bằng
một tấm lòng bộ lạc rộng lớn, tự nhiên tôi thấy xấu hổ. Sự hối hận này của tôi
chẳng tốt đẹp gì, đây chỉ là phản ứng để hòng vớt vát thể giá sau khi thất bại,
một cách che đậy những sự tầm thường, trơ trẽn của mình, nhưng tôi thấy mình
trong giây phút này vẫn còn hiểu được phần nào Y Sao là cả một sự an ủi. Bây giờ
Y Sao là hiện thân sự chiến thắng của phong tục đối với bản năng, hiện thân sức
mạnh giáo hóa tập thể đối với sức mạnh hoành hành của con người ích kỷ. Trong
khi tôi ép Y Sao phải chiều theo sự thõa mãn nhất thời và cố vẽ vời gọi là
thương yêu thì Y Sao vẫn cương quyết bảo vệ lấy danh dự nàng. Và nàng "chẳng
hiểu" không phải là nàng ngu ngốc. Bởi vì điều tôi xem chẳng có ý nghĩa
gì, chỉ là một sự tò mò khoác ở trên mình bộ lông da thú nhưng đối với nàng lại
là tất cả, là danh dự, là cuộc đời, là nếp sống tinh thần, là tập quán cổ truyền.
Một lát, Y Sao chừng đã ngủ say nhưng nàng vẫn còn ôm giữ lấy
tôi, cánh tay vừa nói lên ý chở che, vừa nói lên sự đề phòng. Đợi cho hơi thở của
nàng trở lại điều hòa, tôi khẽ trở mình gỡ nhẹ tay nàng, cẩn thận lật ngược mảnh dồ mà
tôi đang đắp phủ lên mình nàng. Y Sao nằm gọn ở trong tấm vải. Tôi bỏ tay qua,
ôm trở lại nàng, như ôm núi rừng bao la cô đọng trong một thân xác nhỏ bé, và
thấy rõ rệt từ trong đáy lòng nỗi niềm vui sướng của người yêu thương núi rừng,
yêu thương vì có niềm tin...
Khi tôi thức giấc thì trên người tôi lại phủ tấm dồ, và ở
bên mình không thấy Y Sao. Bên ngoài trời đã sáng rõ. Có lẽ nàng đi xuống suối
lấy nước. Tôi vội ngồi dậy, gỡ liếp che cửa. Ánh sáng ùa vào tưng bừng. Núi rừng
ngồn ngộn khoe khoang sắc lá tươi non, chim chóc phô màu lông mới trong buổi
bình minh dạt dào sức sống của một khung cảnh thiên nhiên vĩ đại.
° ° °
Một thời gian sau, chúng tôi được lệnh lên đường. Anh em rủ
nhau lên buôn từ giã đồng bào. Chúng tôi tìm đến Y Sao, gặp nàng đang giã gạo ở
cuối nhà. Thấy chúng tôi, nàng buông chày chạy ra mừng rỡ kêu lên:
- Đến rồi!
Tôi gọi:
- Y Sao ơi!
- Gì à?
- Tối nay tôi ngủ lại nhé?
- Ừ, ngủ lại buôn đi.
- Y Sao! Cuôi ba dùm với tôi một đêm nữa nhé?
- Ừ, một đêm nữa đấy.
- Cuôi ba dùm ba đêm, năm đêm, nhiều đêm nữa nhé?
- Ừ, ba đêm, năm đêm, nhiều đêm nữa đấy.
Nàng gật đầu lia lịa trả lời, vừa nhoẻn miệng cười rất vui.
- Y Sao ơi!
- Gì à...
- Cám ơn Y Sao, chúng tôi nói đùa đấy mà. Hôm nay chúng tôi
lên chào đồng bào, lên chào Y Sao, sắp sửa đi rồi...
Nàng như kêu lên:
- Đi à?
Rồi nàng đứng yên như thế rất lâu.
- Y Sao ở lại cho mạnh giỏi nhé!
Y Sao ngập ngừng:
- Bao giờ các anh về lại cái buôn?
- Không biết bao giờ, không biết bao giờ, Y Sao à... Nhưng
chúng tôi không quên đồng bào, không quên Y Sao, không quên cái rừng, cái núi của
chúng ta đâu.
- Y Sao nhớ hết các anh, nhớ lắm lắm mà.
Khi rời khỏi buôn, chúng tôi gặp nàng đứng đợi ở lưng chừng dốc.
Tôi nắm tay nàng:
- Đi nhé! Y Sao!
Nàng gật đầu, nhoẻn cười, nhưng trên đôi mi long lanh những
giọt nước mắt. Nụ cười và giọt lệ, đó là tấm lòng đưa tiễn của Y Sao.
1964
(Viết lại một kỷ niệm của bạn L.T.N, thanh niên xung phong thời
chống Pháp
--------------------------------
|
Ngủ đoàn kết. |
|
|
Ngủ thân ái một đêm. |
|
|
Hút thuốc. |
Con ma học trò
Ma quỷ tìm đến gặp ông Cửu Hiền vào lúc đêm khuya, khi ông mất
ngủ, ngồi dậy uống một tách trà. Trăng đã ngả hẳn về tây, chiếu màu ánh sáng nhợt
nhạt qua khe cửa sổ khép hờ. Một ngọn gió lạnh từ đâu thổi lại rạt rào, lay
chuyển chòm tre đầu ngõ, gởi đến nơi ông đang ngồi một mùi oi nồng sót lại từ
chiều của lớp đất gò vừa bén một trận mưa dông ngắn ngủi. Ông Cửu nhăn mũi, tưởng
nghe một mùi mồ hôi ẩm mốc trên một tấm áo quên giặt nhiều ngày.
Khi ông đứng lên, vặn nhỏ ngọn đèn định lại giường nằm, bỗng
thoáng thấy một bóng người lướt nhẹ bên mình. Hơi nồng vẳng nhẹ rồi tan. Ông
không kịp nhận rõ được tất cả sự ẩn hiện ấy, tưởng mình trong lúc mệt mỏi có những
rối loạn tâm thần. Nhưng vừa sờ soạng bước lại gần giường, ông thấy bóng người
lướt qua, cọ vào tay phải của ông rồi vượt tới trước, vòng lại, cọ vào tay
trái. Ông Cửu quay hẳn ra sau, không thấy gì hết. Một hơi lạnh lẽo của chốn mồ
hoang phảng phất mùi nồng ẩm mốc bây giờ như tràn lan cả gian phòng. Tự nhiên
ông Cửu run rẩy, loạng choạng tiến lại phía giường. Ông muốn kêu lên, nhưng hai
hàm răng tê cứng không mở ra được. Vừa ngã xuống chiếu, ông có cảm giác như thấy
một cái bóng người đang nằm nhổm dậy nhìn ông, nham nhở nụ cười quái gở rồi
khuôn mặt ấy lớn dần đến độ nhòe tan, biến vào bóng tối. Ông Cửu nằm yên,
giương mắt thao láo trân trân nhìn lên nóc màn tưởng nghe trong đêm nhiều tiếng
xôn xao từ đâu vẳng lại mỗi lúc một rõ. Trong những vang động mơ hồ như có tiếng
cười, tiếng khóc, những tiếng rên rỉ oán hờn.
Qua đêm thứ hai, ông Cửu giật mình vào lúc nửa khuya, cảm thấy
đau nhức như có ai đang trói chặt chân mình. Ông gượng ngồi dậy, ngơ ngác nhìn
quanh không thấy một ai, nhưng khi nằm xuống nghe một bàn tay lạnh buốt đè nặng
lên trán và ấn đầu ông xuống chiếu mỗi lúc một mạnh. Trong cơn vật vã đuối liệt,
ông có cảm tưởng như bàn tay kia lần xuống cổ họng của ông và bóp thật mạnh,
khiến ông giẫy giụa kêu lên một cách tuyệt vọng. Giữa lúc mê tỉnh chập chờn, mơ
hồ ông nghe nhiều người nhốn nháo lùng chạy quanh nhà, những tiếng sàn sạt kéo
lết ở trên mái ngói, những đồ chén bát loảng xoảng, rơi vỡ tứ tung do một bàn
tay hung hăng phá phách.
Sự phá phách ấy mỗi đêm một tăng khiến ông Cửu Hiền như muốn
điên loạn. Ông gầy rạc hẳn, đôi mắt hõm sâu, dáng đi lạc lõng như người mất
trí. Mỗi lần xô nhẹ cánh cửa ông nghe tiếng rít căm hờn sau đấy, và lúc ngồi xuống,
đứng lên, luôn luôn có một bóng người im lìm nhại theo điệu bộ của ông với một
dáng điệu ủ rũ hoặc đang sôi sục giữa cơn thịnh nộ. Ông Cửu dần dần sợ mọi tiếng
động, mọi bóng dáng người, kể cả hình bóng của ông.
Người phù thủy đầu tiên là ông Hộ Liệu, được mời đến xua ma
quỷ, đã cúng ba đêm liên tiếp và giết hết ba con gà lấy huyết bôi vào cột nhà.
Trong suốt thời gian thầy ê a đọc phù chú, ma quỷ dừng hẳn hoạt động. Nhưng khi
thầy bước ra về, ngay đêm hôm ấy, những sự phá phách càng mạnh hơn lên. Ông Cửu
tưởng chừng căn nhà như muốn sụp đổ và các gốc cột bắt đầu lung lay, nhảy múa
liên hồi. Mùi hôi nồng ẩm lan đầy và một bàn tay sù sì, lạnh ngắt từ đâu xen
vào tay áo, cổ áo của ông như muốn tìm đúng mạch sống để siết thật chặt. Ông Cửu
mời thầy phù thủy thứ hai, ông Tư Ngãi, ở tận trên làng Đồng Thượng xa xôi. Thầy
đến xem vết máu gà đã khô trên cột và các bùa ếm ở bốn góc nhà, cười khẩy nhiều
lần ra vẻ hết sức khinh bỉ. Vợ chồng ông Cửu, đắn đo một lát, mới dám thưa lời:
- Chẳng hay phép cúng của ông Hộ Liệu không thiêng sao thầy?
Ông Tư Ngãi nhíu mắt, làm thinh giây lâu, rồi mới cất giọng
khàn khàn trả lời:
- Trong chỗ đồng nghiệp với nhau, lẽ nào tôi lại đi nói anh
ta dốt nát hay sao? Ông bà hiểu giùm, dù cho anh ta chẳng biết cóc khô gì hết,
tôi cũng không nỡ chỉ trích.
Và ông làm thinh không chịu nói thêm gì nữa để khỏi mang tiếng
nói xấu người bạn đồng nghiệp, sau khi đã cho vợ chồng khổ chủ hiểu rằng Hộ Liệu
vừa rất dốt nát, vừa không hiểu biết cóc khô gì cả. Ông Tư Ngãi cho rửa sạch hết
máu gà và truyền giết con chó mực lớn nhất của ông Cửu Hiền lấy huyết bôi vào
chỗ ấy. Ông Cửu rất thương con chó khôn ngoan nhưng chỉ tiếc thầm trong ruột.
Con chó mỗi đêm thường nằm đầu ngõ sủa vọng về nơi nghĩa địa xa xôi, canh chừng
giấc ngủ của ông, và khi ma quỷ lục đục phá phách, nó thường chạy rảo quanh nhà
tru lên từng hồi ghê rợn như muốn xua đuổi oan hồn quấy nhiễu nơi ăn chốn ở của
ông. Máu của con mực bôi lên đỏ sẫm trên cột và ở chân tường. Ông Tư còn lấy chất
máu vẽ bùa trên những miếng thiếc dựng ở nhiều nơi trong nhà, ông bắt lập đàn
cúng tế hết sức công phu và không quên dặn mua hai lít rượu để phun vài ngụm
vào các mền chiếu - trừ tà - còn lại bao nhiêu ông dùng lai rai đưa tiễn vào
trong bao tử suốt mấy ngày liền.
Trong một tuần lễ có ông Tư Ngãi trong nhà, ma quỷ im hơi, lặng
tiếng. Ông Tư lộ vẻ đắc thắng rõ rệt, ra vào, lên xuống một cách hiên ngang,
không ngớt đòi rượu và đòi thức nhắm. Ông bảo:
- Ma quỷ là giống không bị đau ốm bao giờ cho nên chúng mạnh
khỏe lắm. Nếu mình không nhậu, làm sao mà đối phó được?
Nhưng tối hôm ấy, ông Tư sửa soạn hành lý để sáng về sớm thì
bỗng ma quỷ hiện lên. Ban đầu có tiếng loảng xoảng ở trên bàn thờ và đồ tam sự,
ngũ sự nhào lăn xuống đất lổng chổng. Cả nhà Ông Cửu choàng tỉnh, hướng về ông
Tư cầu cứu. Ông Tư vội vàng rút cái khăn ấn, hối hả thắp mấy cây hương gài lên
mái tóc, đứng ở giữa nhà bắt quyết. Nhưng sự hiện diện của ông Tư Ngãi gần như
không làm ma quỷ mảy may xúc động. Tiếng cười lạnh lẽo, tiếng rít khô khan vẫn
cứ văng vẳng quanh nhà, tiếng kéo sàn sạt ở trên mái ngói vẫn còn tiếp diễn, tiếng
khua lổn cổn, lạc cạc trong các kho lúa vẫn không chịu dừng, mỗi lần sự phá
phách mỗi gia tăng cường độ. Người ta có cảm tưởng rằng ma quỷ có vẻ khinh thường
các vị pháp sư rõ rệt, và sự đình chỉ hoạt động trong mấy thời gian vừa qua chỉ
là giai đoạn nghỉ ngơi của chúng mà thôi.
Ông Tư Ngãi cuốn gói ra về như một chiến tướng bại trận. Sau
đó, còn đôi vị pháp sư nổi danh khác lại được mời đến, nhưng không vị nào có thể
đàn áp nổi giống ma quỷ lộng hành trong nhà ông Cửu.
Giữa lúc gần tuyệt vọng ấy, may thay, còn có một người.
Đó là một vị pháp sư du học nhiều năm ở tại nước ngoài, theo
lời của thầy tự giới thiệu mình. Ông đã qua Xiêm, qua Miên, qua Lào, qua cả Ấn
Độ nghiên cứu pháp thuật, làm như là mấy nước đó độc quyền về môn bắt ma, trừ
quỷ và chỉ chuyên môn về một món ấy mà thôi. Để kỷ niệm những năm du học vất vả,
ông lấy biệt hiệu là "Ba Da Ka Lu Tu Na", một cái biệt hiệu mà khi
nói lên người ta thấy sự ngân nga của Lào, của Xiêm, và của Ấn Độ. Nhưng muốn
cho hợp thời hơn, ông Ba Da... còn để một bộ râu Tây - đúng hơn là râu Ăng lê -
cốt để tăng thêm sự quan trọng của nghề nghiệp mình. Đối với bà Cửu thì vị pháp
sư có râu hay không có râu cũng chẳng quan hệ gì lắm, bởi lẽ ma quỷ có thừa
lông lá đầy mình, đâu có kiêng nể một đôi chòm lông bé nhỏ ở trên môi mép,
nhưng với ông Cửu thì bộ râu ấy thật đáng kính trọng, cụ thể phải thêm rượu, thịt
vào các bữa ăn. Ông Ba... - từ nay xin gọi vắn tắt như thế, miễn là vẫn giữ
nguyên sự thành kính với người - ngay từ hôm đầu đã tỏ ra một bản lĩnh cao cường.
Suốt đêm, ông ta không ngủ, thỉnh thoảng lâm râm khấn niệm như đang cầu khẩn một
sức thiêng liêng độ trì, thỉnh thoảng lại nói lảm nhảm như đang trò chuyện với
kẻ khuất mặt. Sáng ngày, với một dáng điệu ưu tư, ông bảo khổ chủ:
- Tôi đã gặp oan hồn rồi.
Ông Cửu giật mình, kêu lên:
- Gặp rồi? Gặp hồi nào?
Ông Ba chậm rãi trả lời:
- Hồi khuya.
- Nó là hạng nào?
Ông Ba nghiêm nghị:
- Là ma, là quỷ. Nhưng vốn tiền thân là một học trò.
Ông Cửu cau mặt:
- Tôi có quen biết với hạng học trò nào đâu? Nhưng sao ma quỷ
học trò mà lại phá phách quá vậy?
Ông Ba quắc mắt:
- Cụ lầm... Trong các loài ma, loài quỷ xưa nay, chỉ có ma quỷ
học trò là đáng sợ nhất. Hãy nghĩ mà xem, người ta ai cũng vì sự sinh kế ở đời
mà hóa hiền lành nhu nhược, chỉ có một loại hạng người được sống lành lặn mà
không bận tâm về chuyện áo cơm, do đó không hiểu cuộc đời, dễ thành nông nổi,
là hạng học trò. Một khi họ hóa thành ma, thành quỷ, thì họ không biết kiêng sợ
gì cả. Nhưng khốn, tên ma học trò phá phách ở đây lại là một học trò nghèo có mối
nợ nần từ trước với cụ, cho nên xem y còn định báo oán lâu dài...
Ông Cửu làm thinh, vân vê bộ râu, lục lọi ở dĩ vãng cố tìm
bóng dáng một người học trò. Hai người cùng ngồi đối diện rất lâu, không ai mở
miệng nói một lời nào. Ở ngoài, gió thổi rạt rào qua các bờ tre, có tiếng chim
kêu rất nhỏ mơ hồ như tiếng nhắc thầm vẳng lại từ một không gian xa vắng. Bỗng
nhiên ông Cửu giật mình, tái mặt:
- Một học trò nghèo... tôi nhớ ra rồi.
Ông đưa bàn tay gầy guộc, lẩy bẩy vớ lấy bình rượu đặt trên tủ
trà, rót vội vào chén khiến rượu tạt cả ra ngoài mặt chiếu. Ông đưa hai tay
bưng chén rượu lên, không ngăn được sự xúc động và nốc một hơi cạn sạch.
Ông Ba chăm chú theo dõi khổ chủ, rồi bảo:
- Cụ không cần nói với tôi chuyện ấy làm gì. Tôi đã biết rồi...
Ông Cửu kêu lên:
- Biết rồi?... Hồn ma đã nói cho thầy biết rồi?...
Ông Ba gật đầu. Ông Cửu có vẻ lo lắng:
- Tôi không chắc gì ma đã nói thật...
- Chính vậy, ma cũng nói dối như thường. Trong nhiều năm trời
tôi đã tiếp xúc ma quỷ, tôi thấy chúng có gần đủ tật xấu như người. Có lẽ chúng
còn tệ hơn người nhiều. Nhưng cụ đừng lo, tôi biết phân tích lời thật lẽ dối,
ma quỷ không lừa tôi được. Nỗi khổ mà hồi nhỏ cụ đã gây cho người học trò thật
là quá sức lớn lao khiến y phải giã từ đời, bỏ cả tương lai hứa hẹn, bỏ cả tình
yêu tươi đẹp, bỏ hết, bỏ hết. Ngày nay, y đã vượt được bao nhiêu trở ngại ở dưới
cõi âm về đây đòi lại món nợ ngày xưa. Đó là một món nợ máu...
- Nó định làm gì?
- Đẩy cụ vào một cái chết thê thảm, cái chết lần mòn...
chết cả gia đình, dòng họ...
Ông Cửu lặng điếng giây lâu, mới nói:
- Không có cách gì trừ được nó sao?
- Nó không cần nghe ai nữa.
- Hay nhờ hồn ma các thầy dạy nó ngày xưa can thiệp?
Học trò chắc phải biết nghe lời thầy.
Ông Ba lắc đầu:
- Bây giờ, biết những ma thầy ở đâu mà tìm kiếm được? Tôi chắc
mấy ông thầy dạy đều bị nhốt dưới địa ngục cả rồi... Vả lại... việc làm của nó
là vì lẽ phải, không ai mà can thiệp được.
- Còn thầy đành chịu thua sao?
Ông Ba đáp gọn:
- Chịu thua. Nhưng nếu cụ chấp nhận cho điều kiện sau đây,
tôi cũng thử liều một nước cuối cùng.
- Thầy hãy nói đi.
- Chia nửa gia tài...
- Trời ơi! Nửa phần gia tài?
- Thế là mất ít đó cụ... Không thì cụ sẽ mất hết, cả người lẫn
của. Còn một điều kiện sau đây rất là cần thiết: cụ phải làm giấy nhường lại
cho tôi tất cả gia tài càng sớm càng hay, nhưng để khỏi điều ngờ vực cụ cứ giữ
mảnh giấy đó. Chừng nào xong việc, sẽ giao cho tôi cũng được. Xin cụ đừng tưởng
là tôi tham lam. Tôi quyết cùng ma giao đấu một phen sống mái, nếu tôi không hưởng
gia tài của cụ thì ma sẽ không đời nào tranh chấp với tôi... Đã dọ thử ý nó rồi...
- Dọ như thế nào?
- Tôi tỏ lòng muốn đấu phép với nó, nó cười bảo rằng:
"Tôi có can dự gì đến ông đâu mà bày ra sự xung đột cho thêm rắc rối. Tôi
chỉ thèm cái mạng sống của thằng..."
- Của tôi...?
- Của cụ, chính thế.
Ông Cửu suy nghĩ suốt ngày hôm đó, không biết quyết định ra
sao. Đến chiều, thấy bóng đêm đã đem màu đen tối nhá nhem phủ lên vạn vật và
nghe gió lạnh từ xa thổi về rạt rào qua các chòm tre trước ngõ như lời than oán
căm hờn, ông bỗng nhận rõ tất cả ý nghĩa quái gở của sự giàu sang mà ông không
ngừng chạy đuổi gần trọn cuộc đời. Ông rút mảnh giấy, trịnh trọng mời vị pháp
sư lại gần, chính thức chia đôi cho ông "Ba Da Ka Lu Tu Na" tất cả những
gì ông có, tất nhiên không kể đứa con và người vợ già.
Ngay đêm hôm ấy, ông Ba tổ chức giao đấu để quyết diệt loài
ma quỷ.
Ông bảo mọi người ngủ sớm và đem nhiều đạo bùa linh chôn bốn
góc nhà. Ông đã cho tìm mỡ chó đổ vào bảy chiếc đĩa đất làm đèn, đặt sẵn quanh
nhà, cắt đặt một số gia nhân đợi hễ khi nào nghe ông hô xướng thì phải nhất tề
đốt lên cho sáng. Ngoài ra, ông còn đem một bình nhỏ đựng chất bột xám bốc mùi
hăng hắc rưới nhẹ thành một lối đi ra vườn và còn vẽ nhiều hình thù kỳ dị trên
khắp mặt đất.
Gia đình ông Cửu tuy đi ngủ sớm nhưng không ai nhắm được mắt.
Nửa đêm, họ nghe một tiếng cười dài rất đỗi lạnh lùng vẳng lên ở trên nóc nhà
và một tiếng rít rùng rợn tiếp theo. Một lát, nghe tiếng huỳnh huỵch trên đất,
tiếng thở hào hển, tiếng xô, tiếng đẩy phát ra từ sự giằng co quyết liệt. Những
tiếng động ấy kéo dài không biết bao lâu, cuối cùng chỉ còn những tiếng thở gấp
và giọng rên rỉ vẳng lại mỗi lúc mỗi yếu rồi tắt lịm hẳn. Gia nhân ông Cửu đợi
hoài không nghe tiếng hiệu thắp đèn, nên cứ đợi mãi và ngủ gục trên mấy chiếc
đĩa đất lúc nào không hay. Vợ chồng khổ chủ yên trí pháp sư toàn thắng, nhiều lần
định ngồi hẳn dậy coi thử cớ sự ra sao nhưng không có lệnh ông Ba đành phải nằm
chặt trên giường. Mờ sáng, họ thấy ông Ba nằm yên trên đất như một đống thịt mềm
dẻo. Lay mãi ông mới dần dần tỉnh dậy, cố gắng đứng lên rồi lại té xuống. Người
nhà khiêng ông lên giường thấy mình mẩy ông tím bầm, hai bên khóe môi tứa máu
đông thành hai vệt đen sì. Đến trưa, ông Ba mới ngồi dậy được. Ông phều phào
nói:
- Nếu tôi không đem tất cả các món bí truyền đối phó thì hóa
kiếp rồi. Gớm thật! Tên này bản lĩnh cao cường tột bực. Tôi đã chơi thử ma Ấn,
ma Xiêm, đủ loại đủ cỡ mà chưa gặp một hạng nào đánh hiểm thế này.
Ông Cửu lo lắng:
- Thế lỡ tối nay nó đến thì sao?
Ông Ba trả lời mệt nhọc:
- Thì chết... Nhưng nó có bảo tôi trả gia tài cho ông và rời
gấp khỏi nhà này. Tôi xin triển hạn năm ngày cho lại sức đã.
- Nó bằng lòng không?
- Tên này vốn có ăn học nên đối xử khá. Nó đã bằng lòng. Từ
đây đến năm hôm nữa, tôi chắc nó không có mặt nơi đây.
- Bây giờ phải liệu thế nào?
- Để tôi nghỉ khỏe vài hôm rồi lo liệu cách đối phó.
Ông Ba nằm vật ra giường mà thở hổn hển. Suốt hai ngày liền
ông chỉ uống sữa, đôi mắt nhắm nghiền, thỉnh thoảng trằn trọc qua lại có vẻ mệt
nhọc. Đến ngày thứ ba ông mới tỉnh hẳn, đứng lên đi lại trong nhà. Ông mở tráp,
lấy một lá bùa hộ mạng đeo cổ, rồi cầm chiếc gậy phòng thân chào hai vợ chồng
ông Cửu:
- Tôi đã nghĩ kỹ lắm rồi, chỉ có ma quỷ mới loại trừ được ma
quỷ. Tôi đi trễ lắm độ chừng hai ngày là tôi trở về, ông bà đừng ngại. Tôi sẽ
tìm một đối thủ của nó, và gây một trận thư hùng để tiêu diệt nó mới xong.
Đúng hai ngày, ông Ba chống gậy trở về. Ông nói:
- Đáng lẽ tôi còn ở lại thêm vài ngày nữa nhưng sợ ông bà chờ
đợi.
Ông Cửu vội hỏi:
- Có kế gì chưa?
- Có rồi. Tên học trò này mới chỉ thuộc về loại ma vừa lên hạng
quỷ, nhưng chưa thật sự là quỷ thâm niên. Tôi đã dò khắp các nơi hiểm hóc may mắn
gặp được một loài ác quỷ, một thứ đại tinh hiện đang phá phách gia đình ông
Hương Lý Bỉnh trên xã Tứ Hải. Đáng lẽ tôi phải thử sức với nó một phen nhưng
tôi chưa được mạnh lắm, và phải ở thêm lại một đêm nữa, e nỗi ông bà sốt ruột ở
nhà.
- Bây giờ phải làm thế nào?
- Tôi đã có cách.
Suốt ngày hôm sau, ông Ba bố trí một cái võ đài đặc biệt ở
phía sau vườn. Ông ếm thật kỹ các ngõ sau nhà, sai đốt mỡ chó bốn góc và bôi
huyết trâu vào các chân cột. Ông dùng hình nhân trấn đóng quanh vườn và trên
chóp nóc ngôi nhà năm gian lợp ngói của ông Cửu Hiền, ông cho hai vị thiên sứ -
thắt bằng lụa điều cầm hai thanh kiếm - trấn giữ. Trên mặt đất, trên nền tường
đều có vẽ hình bát quái trận đồ, chằng chịt mê lộ, u cung để cho hồn ma, vía quỷ
không biết lối nào mà đặt chân tới. Cuối cùng, ở ngay trong góc võ đài ông dựng
hai cái hình nhân phỏng đúng theo hình của ông và ông Cửu Hiền. Ông bảo ông Cửu:
- Tôi đã ghi dấu của tên đại tinh đại yêu tác quái trên nhà
ông Hương Lý Bỉnh, rồi đem dấu của ma quỷ ở đây xáo trộn trên ấy, cốt gây một sự
khiêu khích và dùng ám hiệu dẫn nó xuống đây. Đêm nay thế nào cũng có một trận
quyết liệt.
Cả nhà hồi hộp chờ đợi như mong một sự giải thoát cuối cùng.
Chuyến này không được thành công thì cầm bằng như chịu chết. Đợi cho bóng tối
tràn đầy khu vườn, ông Ba một mình ra ngồi trong một bụi rậm sau khi cẩn thận
gài kỹ bên mình gần mười đạo bùa. Gia đình ông Cửu nằm yên thao thức, lo âu, lắng
nghe tiếng động âm thầm quanh nhà và cứ hình dung ra những hoạt động quái đản của
giống yêu ma.
Nửa khuya, vẫn không có động tĩnh gì. Đang nằm trằn trọc, ông
Cửu bỗng nghe ông Ba gõ cửa gấp rút. Lập tức ông choàng dậy liền, mở cửa, ông
Ba hấp tấp chạy vào. Ông Ba không giấu được sự vui mừng cố đè nén lại:
- Trời ơi!
- Sao đó? Sao đó? Sao đó?
- Chúng gặp nhau rồi.
- Đánh nhau dữ chưa?
- Chẳng đánh khỉ khô gì hết.
- Úy cha mẹ ơi! Làm sao mình sống cho nổi?
- Đừng lo. Ai ngờ con tinh ở trên Tứ Hải là con quỷ cái...
- Chết cha! Quỷ cái thế thì dữ lắm?
- Nhưng con quỷ này trước kia vốn là người yêu của thằng học
trò phá phách nhà ông. Hai đứa lấy không được nhau nên cùng nhau chết, bây giờ
gặp nhau tình cờ chúng mừng rú lên ôm quấn lấy nhau như sợi dây neo. Ban đầu,
tôi tưởng chúng sẽ một còn một mất ai ngờ sau đó thấy cả hai đứa ra ngồi ở góc
võ đài tỉ tê tâm sự, tôi mới ngã ngửa.
Ông Cửu lo lắng:
- Nguy lắm, rồi chúng hiệp sức hại mình, làm sao đối phó cho
đặng?
Ông Ba cười xòa trong bóng tối dày, vỗ vai ông Cửu:
- Đừng lo! Tôi đã bảo ông bọn ma quỷ này thuộc loại học trò,
vốn quen mơ mộng, bây giờ đã sụp trong hố ái tình thì chúng chết nghẹt trong đó
chứ còn phá phách gì nữa! Rồi xem, chúng còn nỉ non tâm sự, chúng còn hò hẹn gặp
gỡ, rồi nhớ rồi thương, rồi sầu rồi mộng, thế là sinh con đẻ cháu, lo mệt một đời
chứ còn hung hăng sao nổi?
Rồi ông nói tiếp, bằng một giọng trầm:
- Ông chẳng thấy sao, xưa nay muốn đẩy cho một xã hội sớm đi
vào chỗ suy thoái thì cách tốt nhất là làm cho đám thanh niên tê liệt, mê muội
dần đi bằng lối cổ võ, gieo rắc ái tình liên tục, qua những tiếng nhạc, lời ca,
qua các sách báo và bằng mọi thứ gợi cảm có thể tạo được. Dìm chúng xuống dưới
bể tình thì chúng chết chìm, chết nghẹt hết thôi.
Nói xong, ông Ba yên lặng dắt tay ông Cửu rón rén cùng ra sau
vườn. Ông Ba dán lên trán ông Cửu một đạo bùa và cả hai ông cùng vào trong một
bụi cây ngồi nhìn hai con ma trẻ đang quấn vào nhau không chịu buông rời.
Một lát, ông Ba dắt tay ông Cửu rón rén trở vào.
Ông nói:
- Để yên cho chúng yêu nhau, chúng sẽ quên hết sự đời. Tôi
cam đoan mười ăn một với ông là chúng ngồi đây cho đến gà gáy mới đi, và cho đến
già chúng không phá phách gì nữa.
° ° °
Ông Ba nói chẳng sai lời. Ba tháng đã qua không còn thấy bóng
ma quỷ gì nữa. Một năm sau đó, nhà ông Cửu Hiền vẫn được yên ổn như thường. Ông
Cửu vui lòng chia đôi gia sản và ông "Ba Da Ka Lu Tu Na" hể hả nhận lấy
món tiền khổng lồ, sau khi không ngớt ca ngợi tình yêu là thứ quyền lực có đủ
khả năng vật ngã mọi loài ma quỷ và khiến người ta quên hết mọi sự quan trọng
trên đời.
1971
Bút máu
Lương Sinh người đất Mân Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng
thông minh đĩnh ngộ từ khi tóc để trái đào. Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai
cũng ngợi khen là bậc thần đồng. Lên mười, có bài Tơ liễu trong trăng được tán
thưởng nhất mấy câu:
Trăng cũ phô đầu bạc
Liễu tơ chuốt mi dài
Trăng, liễu xa ngàn dặm
Một tối hẹn vườn ai.
Năm lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết,
Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn mất ngủ, lại thêm căn tạng yếu đuối nên
lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn máu lửa,
sọ xương. May có người cậu đem về săn sóc đêm ngày, sau nhờ đạo sĩ họ Trình ở
núi Hoa Dương cho bài Hi-di-ninh-thần dùng toàn não tủy một giống bạch
hầu trong núi Nga Lâm, uống thuần với nước viễn chí nên được lành bệnh, tâm
thái trở lại an tĩnh, điều hoà. Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến
Lã Công, một quan Thủ hiệu bãi chức từ lâu, ở nhà mở trường dạy võ. Sinh học rất
chóng, nửa năm làu thông mười hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến,
một hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập công trao cho luyện tập.
Giữa buổi, Sinh đang múa kiếm bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi, cau mày
kêu lên:
- Máu người tanh quá!
Đoạn đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về.
Đến nhà, lạy cậu thưa lên:
- Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theo. Máu người chảy
trong cơ thể quý báu vô cùng nhưng vẩy ra ngoài lại quá hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi
đao trọn đời sao cho khỏi đổ máu người! Điều tàn nhẫn ấy, cháu không làm được.
Người cậu giận lắm, bảo rằng:
- Mày thật cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu nay. Đành rằng
máu người là quý nhưng để máu ấy chảy trong đầu bọn ác nhân thì càng tác quái
cho người, lại càng có tội!
Lương Sinh cúi thưa:
- Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói xấu tốt rõ ràng?
Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ đấy là gây điều ác, lại càng có tội vì
đã lừa mình, lừa người. Trộm nghĩ binh đao là nghề dứt khoát, cháu chưa dứt
khoát trong người, tự thấy không dám theo đuổi.
Cậu nói:
- Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với
mày. Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác làm sao có thể tự tin mà sống
trên đời? Xã hội chưa đâu có thể là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn
có nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi đao, không thể chỉ thấy một chiều,
chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan
khiên! Ta không có con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn những mong
cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn. Bây giờ, thế thôi là hết. Từ
nay tùy mày định lấy đời mày, ta không nói nữa.
Từ đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà phú túc, chuyên nghề thơ
văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngày. Lời thơ càng gấm, ý thơ càng hoa, tiếng đồn
lan xa, lan rộng như sóng trên biển chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa
phương vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh tướng mạo khôi
ngô, lòng quan cảm mến, tiếp đãi hết sức trọng hậu. Sau đó, quan lệnh mượn những
thi tuyển của Sinh trong một tháng trường, nhiều khi bỏ cả xử kiện để mà bình
thơ. Khi quan giao trả, Sinh thấy sau những bài đắc ý nhất của mình đều có bài
họa, văn từ tao nhã, ý tứ thâm trầm, nét chữ uyển chuyển, dưới đề: "Tuyết
Hồng tiện nữ chuyết họa". Hỏi, biết Tuyết Hồng là gái đầu lòng của quan.
Theo lời nha lại tán tụng thì nàng tài sắc vẹn toàn, khiến Sinh đêm ngày tơ tưởng,
cứ thấy giai nhân chập chờn trong cơn mộng ảo. Càng ngày Sinh càng tương tư mê
mệt tưởng không có nàng thì không thể nào sống được. Nhiều lần lảng vảng sau tư
thất quan để nhìn cho được Tuyết Hồng, chỉ thấy hoa sau rèm lá chập chờn, lại
càng mê mẩn tâm thần hơn nữa. Dịp đâu may mắn, quan mời Sinh đến uống rượu, ngỏ
ý muốn kén Sinh làm giai tế. Sinh mừng run, tưởng có thể đội mái nhà bay lên. Bấy
lâu ước ao người đẹp, bây giờ thế là thỏa nguyện.
Trong lễ hôn phối, Sinh mới nhìn rõ Tuyết Hồng: mặt nàng hơi
gãy, mũi nàng hơi to, lưng nàng hơi cong. Sinh rất buồn lòng, song nghĩ duyên số
tại trời, nhan sắc của nàng tuy kém nhưng tài nàng cao cũng là một điều an ủi.
Suốt tuần trăng mật, nhiều lần Sinh ép Tuyết Hồng làm thơ xướng họa, nàng đều
chối từ. Hỏi sao hồi xưa thi tứ của nàng dồi dào là thế, mà bây giờ chẳng cho
nghe lời nào, thì nàng cúi đầu, ngập ngừng giây lâu mới đáp:
- Chàng kén thiếp để làm vợ đâu phải để làm thơ? Đạo vợ lại
là đạo lớn, e rằng đem hết trí lực chu toàn chưa chắc đã tròn, đâu dám lấy chuyện
thơ văn mà làm chểnh mảng. Dù chàng nài ép bao nhiêu, thiếp cũng cam đành chịu
lỗi.
Đã thế, nhiều lần Sinh đọc thơ cho nàng nghe bảo nàng góp ý,
nàng cũng có vẻ hết sức dửng dưng. Sau cùng, Sinh đâm nghi hoặc, nghĩ thầm có lẽ
những bài thơ họa ngày xưa không phải của nàng mà chính là của quan lệnh. Nghĩ
thầm, chứ không nỡ nói, cũng không dám nói, vì khi giận dữ Tuyết Hồng thường
khóa chặt buồng nằm riêng, hai ba đêm liền không tiếp.
Càng ngày Sinh càng chán nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng
như tuyệt vọng tình đời. Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự nhiên cằn
cỗi, y như nuốt toàn thuốc đắng không có mật đường trợ vị. Nhân tết Nguyên đán,
Tuyết Hồng về thăm song thân, Sinh bèn thừa dịp xuân nhật, noi gương Tử Trường
ngày xưa phiếm du sơn thuỷ, tiếp lấy sinh lực muôn vẻ thiên nhiên nuôi cho văn
khí thêm phần phong phú, siêu dật.
Bước ra khỏi nhà, Sinh chọn con đường hai bên cỏ non phơi phới,
quanh co theo một dòng suối trong veo, lơ thơ bắc đôi nhịp cầu nho nhỏ, mơ màng
lá đào rơi rắc vào chốn thiên thai. Xuân ý, xuân tình chứa chan ở trong cảnh sắc,
màu trời, như theo giác quan dào dạt thấm vào mạch tuỷ khiến Sinh ngây ngất. Đi
đã ba ngày mà không nghĩ đến đường về. Đi được sáu ngày thì sực nhớ đến vợ nhà,
nhưng vợ cách xa đến sáu ngày đường cũng không đáng sợ bằng những cơn giận dữ.
Đi đến mười ngày, tiền lưng muốn cạn, túi thơ chừng đầy. Chợt đến một miền tiêu
điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản muốn quay về nhưng ruột đói, lưỡi khô bèn
đi tìm một tửu quán nghỉ chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một
người để hỏi thăm nơi. Bỗng nghe phảng phất tiếng trống, tiếng chiêng lẫn tiếng
reo cười. Dò theo âm thanh vọng lại, lần bước tới nơi thấy đám hội ở trước
chùa, bèn vào quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết đã mấy năm rồi ở đây
mới có một ngày hội lớn vì quan Khâm sai triều đình sắp về địa phương nên quan
Tổng trấn họ Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữa. Đang ngồi nhắm
rượu lại nghe reo hò rồi thấy đám người trước cửa giạt ra hai bên có vẻ hết sức
sợ hãi. Từ xa tiến đến một chiếc kiệu hoa do bốn người khiêng và thêm chừng mười
lính hầu áo màu loè loẹt, tiền hô hậu ủng. Kiệu đến trước quán thì bị nghẹt người,
dừng lại. Sinh ngước mắt lên, nhìn thấy khuôn mặt đàn bà tuyệt đẹp. Hỏi kẻ
chung quanh, biết đấy là Lý Duyên Hương con quan Tổng trấn vùng này. Người đẹp
nhìn thẳng về trước, mặt hơi vênh lên, như không muốn thấy một ai quanh mình. Vẻ
kiêu kỳ và nét sắc sảo của khuôn mặt tươi hồng khiến Sinh ngây ngất, tưởng như
gặp tiên giáng trần, sửng sốt chiêm ngưỡng, tay cầm ly rượu buông lơi lúc nào
không biết. Ly rượu chạm vào mặt bàn vỡ tan, tỏa hơi nồng ra bốn phía. Người ngọc
nghiêng đầu liếc xuống, thấy vẻ mặt Sinh ngây nhìn, chợt hiểu, bỗng nhoẻn miệng
cười. Nụ cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo đứng lên, không
phải say vì rượu, trả tiền cho chủ quán rồi tiến về phía kiệu hoa. Người xem đã
giãn, kiệu vào trong chùa. Sinh vội bước theo, cố quên rằng mình đã có vợ nhà.
Trong chùa chật ních những người. Phần đông quần áo mùa xuân
tươm tất nhưng đều mặt mày hốc hác mang nhiều vết hằn đau khổ. Ai cũng cố gắng
mà vui, hình như không có dịp nào để vui hơn nữa. Lương Sinh chen vào, nghe mùi
mồ hôi xông lên khó thở, gượng nghĩ vẫn còn hương thơm người đẹp đi qua sót lại
phần nào. Khổ nhọc rất lâu, bước đến thềm trong thì đã thưa người. Thấy Sinh có
vẻ nho nhã, người gác để Sinh đi qua. Vào tận trong xa vẫn chưa gặp được người
ngọc. Thoạt nhìn lên một bục cao, hương trầm nghi ngút sực nức mùi thơm, thấy
Lý tiểu thơ vẻ mặt thành kính, đang cùng mấy vị tăng già đàm đạo. Lương Sinh hậm
hực đứng nhìn, giận mình từ xưa chẳng chịu thế phát quy y.
Một lát, tiểu thơ quay vào bàn lễ, Sinh ngại nàng vội đi về
nên bỗng nảy ra một ý. Lại gần biệt phòng bên cạnh sẵn nghiên bút và hoa tiên để
khách thập phương đề vịnh, Sinh bèn thảo phóng mấy câu:
Lá gió sầu xuân, đưa đẩy duyên trời hẹn ước,
Tiên hoa gài mộng, vấn vương đền Phật bâng khuâng.
Động biếc, thoáng cười tiên nữ
Rêu xanh, ngẩn lối Lưu Thần.
Mặt nước hồ im, xao động bốn mùa sóng gió
Bóng đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân.
Rồi bẻ cành hoa kẹp vào. Khi Lý tiểu thơ lễ xong, khoan thai
xuống thềm, mọi người sợ hãi giạt ra hai bên thì Sinh vội vã đi theo. Đến lúc
nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên chỗ nàng ngồi. Lính hầu thoáng thấy,
kêu lên:
- Có người ám hại tiểu thơ!
Lập tức, hai, ba, rồi chín, mười lưỡi gươm dài vung lên, lính
hầu vây lấy Lương Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập ép đẩy
vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn xuống, không nói một
lời, vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương Sinh đã toan mở lời chống chế nhưng lính
xông vào trói chặt lấy chàng.
Đám đông có tiếng thì thào:
- Anh ta chỉ ném có một cành hoa thôi đấy.
- Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồi!
- Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống là đã bay đầu, nói
chi xúc phạm tiểu thơ vàng ngọc!
Lúc ấy, Lương Sinh sực nhớ đã quên từ lâu mười hai môn võ bí
truyền của nhà họ Lã.
Về đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam rồi
tâu trình lên Tổng trấn. Nằm trong bốn vách tường đá, Sinh nghĩ cuộc đời bằng
phẳng của mình bấy lâu mà lòng rầu rĩ không yên. Chắc là phen này không thể sống
thoát, tiếng vang danh sĩ ngày nào bây giờ phải chịu hoen nhục vì không nén được
tấm lòng bồng bột phút giây. Đang mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng
người gọi dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng trấn ngồi giữa, vóc
dáng phương phi, hàm én râu hùm, trên tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên.
Sinh cúi đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra
lệnh mở trói. Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước xuống thềm, dắt Sinh vào
trong, kéo ghế bảo ngồi. Sinh từ chối hai ba lần không được. Quan nói:
- Ta thường ước ao được gặp một người tài đức, nay biết ngươi
là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ suất phạm điều vô lễ vừa rồi,
ta sẽ nghiêm trị. Gác Đằng thuận nẻo gió đưa, ngươi hãy ở đây với ta hưởng mấy
ngày xuân, vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát lâu nay.
Đoạn truyền đem rượu ngon, thịt béo thết đãi nồng hậu. Lương
Sinh tự thấy tài năng của mình thực đã bảo đảm cái mệnh vô cùng vững chắc, hết
sức cởi mở tấm lòng, uống rượu say khướt từ sớm đến chiều, mỗi khi chập chờn thức
tỉnh Sinh lại ngâm thơ sang sảng, tưởng như lúc nào sau rèm cũng có người đẹp
nép nghe. Tổng trấn có vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh, luôn luôn nhường
lời cho Sinh thành ra Sinh phải độc xướng, độc họa, độc ngâm suốt ngày. Đôi lúc
Sinh muốn hỏi thăm tiểu thư định trao duyên nơi nào chưa, nhưng thấy Tổng trấn
đãi mình như bậc thượng khách nên phải giữ ý làm thinh.
Độ vài hôm sau, quan tổ chức cuộc du xuân đưa Sinh đi xem cảnh
trí trong miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan tạo lập cho
dân: kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để dân lấy nước cấy cày, nọ
là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai
phá cho dân trồng trọt.
Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa
xa, mơ hồ thấy suối, thấy đồng nhiều vẻ khác màu mà miệng không ngừng tán tụng.
Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chan chứa nhiệt tình đối với những bậc "dân
chi phụ mẫu" mà xưa Sinh thường tỏ ý rẻ khinh.
Đến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột
đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt, hết lòng ngợi ca tài đức của quan. Mực
thơm bút quý, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Trước khi giã từ, Sinh còn
lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc ở chốn công đường và bài
minh ký để ghi tạc vào mấy cỗ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt.
Quan ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cỗ ngựa bạch và mấy nén
vàng nhưng Sinh một mực chối từ để giữ vẹn lòng thanh khiết.
Giữa mùa xuân ấy, Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng
liền. Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bây giờ Sinh
có lòng mừng là nàng không biết làm thơ, nhưng Sinh ngày đêm khắc khoải vì
không cầm được cây bút. Một ngày không viết được một câu nào, Sinh có cảm tưởng
như mình không còn sống nữa. Ngoài nỗi bệnh tật giày vò, Sinh còn bị nỗi băn
khoăn sáng tạo hành hạ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên,
giấc ngủ chập chờn ác mộng. Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm
xuống, hơi thở nóng ran như lửa. Một sớm, đang nằm nghe tiếng chim hoàng anh
hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn, Sinh bỗng hốt
hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên, xô mạnh cửa sổ. Mấy
nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mới. Sinh bèn gọi đem
nghiên bút và tập hoa tiên. Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc: nghiên mực đỏ
tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống
từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sững sờ,
tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vệt
huyết khô trên cát. Sinh vội buông viết, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầy.
Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong người.
Sinh nằm vật xuống, mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày Sinh tỉnh dậy, lòng lại khát
khao cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại. Sinh cố tập
trung thần lực, men đến án thư, nhưng vừa cầm bút lại thấy lảng vảng sắc máu,
không đủ can đảm vạch được nét nào. Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ tưởng
như xôn xao chung quanh vô số oan hồn đòi mạng. Từ đó, Sinh gầy rạc hẳn, liệu
không sống thoát.
Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo
sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau
khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu, rồi
nói:
- Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi
gươm tuy ác nhưng mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng có giới hạn. Mượn
sự huyễn hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ
cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua tội ác mờ mịt nên không thấy rõ
hay không muốn rõ mà thôi. Làm cho người gái lớn lên băn khoăn sầu muộn, làm
cho trai trẻ đang hăng khinh bạc, hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ đến vật dục
mà quên ái tình, khêu cho thiên hạ tiếc điều tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười
trên đau khổ tha nhân, hát trên bi cảnh đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực
dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn,
ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô
đạo? Tội ác văn chương xưa nay, nếu đem phân tích, biết đâu chẳng dồn chất
thành ngàn dãy Thiên Sơn? Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản
chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá
nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậy. Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường
chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chầy ngày.
Lương Sinh nghe xong, bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn
hơn nhiều. Cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình
đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm
xúc mà xao nhãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh
thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ lại chưa tìm được lối máu từ đâu. Bỗng
sực nhớ đến những bài phóng bút viết cho Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển,
tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội
chùa lại hiện lên rõ, mấy cánh đồng dài trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên
kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần
lượt sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thực trái ngược làm sao với những bài
tán, bài minh đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định
trở về chốn cũ tìm hiểu sự thực.
Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ
trên cảnh vật tiêu điều, xơ xác. Qua khỏi dòng suối khô cạn, Sinh bước vào một
thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp
thoáng. Đến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rũ trước nấm mộ mới,
hiu hiu mấy nén hương tàn. Sinh dừng bước, lại gần ngồi xuống một bên, khẽ hỏi:
- Bác khóc thương người thân quyến nào vậy?
Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lớp bụi đường trường
bạc thếch trên quần áo Sinh, dịu đôi mắt xuống:
- Người nằm dưới mồ không phải bà con quyến thuộc của tôi.
Sinh nghĩ: "Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân
khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?" Chưa kịp dò ý, người
kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
- Ông từ đâu mà đến đây?
- Tôi từ chốn xa, nhân bước phiêu lưu ghé tạt qua thôi. Buồn
thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác.
Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm
lòng dồn nén, bật lên những tiếng căm hờn:
- Nói hết cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ
này. Ví dù phải chết ngày nay, thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được
sự thực uất hận từ lâu. Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ
Lý, chính sự độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Đầu
xuân này có Khâm sai đi về, cụ thôn trưởng chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết
vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thực. Thế
nhưng Khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá, cột đồng đầy lời hoa
mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ chết khốn nào đó, nên đã ném
bản trần tình, không xét, bảo rằng: "Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học,
đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Danh sĩ bao giờ cũng biết tự
trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài vậy". Thế
đã thôi đâu, Khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã
đầu đơn tố cáo nó. Bao người đã chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ goá, con
côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây đành để nuôi loài cỏ dại mà thôi.
Sinh chết điếng cả người, giây lâu mới gượng gạo hỏi:
- Chẳng hay bác có biết... danh sĩ ấy tên là gì không?
Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
- Làm gì mà biết! Mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu
danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng
ấy thì đâu chẳng có? Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn, mà hắn nào có biết
đâu! Nghĩ thương cho cụ Trưởng tôi, mấy lần đứng ra chịu nhận hết tội để cứu
bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp
này rồi đến lớp khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà
chết để khỏi bị người đày đọa. Trước khi nhắm mắt, cụ còn gượng nói: "Được
chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi của ta, của bà con xóm làng ta, thế là quý rồi.
Chôn ta ở đây, cho ta được gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn, cụ còn
nói tiếp: "Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng
vin vào che lấp sự thực. Đừng oán hờn tên danh sĩ. Đáng thương cho nó, đáng
thương cho nó".
Người nông phu dừng lại, nghẹn ngào rồi tiếp:
- Nhưng bao người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia nghĩ còn
đáng thương đáng xót gấp trăm ngàn lần!
Đoạn, gục đầu trước mồ, khóc than thảm thiết. Sinh cũng sụp
xuống, hòa tiếng khóc theo. Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về
rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh tưởng như theo cơn gió oan hồn của người đã khuất
hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.
12-1958
Người khách không tên
Hồi đó - ông Trần Thế Kỷ kể lại - vào dịp nghỉ hè tôi về Quế
Sơn, quê của người bạn, ở chơi đôi tuần gần mạn núi rừng. Vừa đến, tôi nghe có
một võ sư tên là Bảy Quý chuyên dạy các môn võ Tàu, võ ta cho các thanh niên
trong vùng. Bảy Quý ở miền duyên hải, sống nghề thuyền chài nên có sức mạnh, lại
nhờ đi đây, đi đó trong ngành nghiệp mình nên học võ vẽ được ít côn quyền. Vào
năm quân Nhật kéo sang Đông Dương và các phi cơ Đồng Minh oanh tạc đường biển,
Bảy Quý không thể sống đời ghe chài như trước, lại gặp liên tiếp những mùa biển
động không có cách gì nuôi sống, anh bèn từ giã vợ con lên mạn nguồn này tìm
cách sinh nhai bằng nghề làm mướn.
Lúc mới đến đây Bảy Quý chỉ còn da bọc lấy xương, vì trải nhiều
ngày đói khổ, nên phải làm thuê cho các địa chủ trong vùng. Lần hồi nhờ ăn no đủ,
Bảy Quý hồi phục sức khỏe như xưa. Thấy nghề làm mướn không sao nuôi đủ vợ con,
anh bèn tìm cách dạy võ. Nhưng một kẻ quá lam lũ như anh, xưa nay phục dịch nhà
chủ một cách vất vả, làm sao nhất đán có thể trở thành sư phụ cho các thanh
niên con nhà giàu có trong vùng? Để leo lên vị trí ấy, Bảy Quý loay hoay tìm một
nấc thang. Và nấc thang ấy xuất hiện, vào đêm ba mươi, cuối mùa đông lạnh.
Đêm ấy, nhà ông Chánh Nghị thức khuya để nấu bánh chưng, bánh
tét, và sau khi đã làm lễ giao thừa mọi người mệt mỏi lăn ra ngủ vùi. Ngày xưa,
đêm ba mươi tháng chạp là cái thời khoảng rất tốt để cho đạo chích làm ăn. Một
phần vì đêm tối trời, một phần vì đa số nhà đều tích lũy sẵn bánh thịt, áo quần
ăn Tết, và một phần nữa là do không khí thoải mái, rộn rịp đón chờ xuân đến dễ
khiến cho họ hớ hênh. Gia nhân của ông Chánh Nghị đều ngủ, ngoại trừ Bảy Quý.
Anh nằm thao thức nhớ vợ con ở miền bể xa xôi đang sống trong sự thiếu thốn,
nghèo nàn. Tết đến, con anh chỉ có những tấm áo rách tả tơi trước ngọn gió lộng
từ khơi thổi vào. Gia đình của anh chỉ có cháo lỏng, ngô khoai và đọt rau lang
chấm muối...
Bỗng Bảy Quý nghe một tiếng động nhẹ ngoài tường và anh
nghiêng đầu hướng về phía ấy. Một bóng đen từ cổng sau men theo vách tường nhà
bếp tiến vào. Bóng đen khá lớn nhưng rất lanh lẹ, thoáng chốc đã mất hút sau bể
cạn đặt chỗ nhà ngang. Bảy Quý áp tai xuống đất dò theo tiếng động. Lát sau,
anh nghe một mùi hăng hắc xông nồng rồi có những tiếng đào đất kín đáo vội
vàng, ở mé vách sau của ngôi nhà trên. Bầy chó đông đảo, hung dữ của ông Chánh
Nghị không nghe lên tiếng, có lẽ chúng bị đánh bả nằm chết ngoài vườn. Bây giờ
tiến đến bắt lấy kẻ trộm thật là khó khăn vì nó có thể vụt chạy. Hơn nữa bắt nó
khi chưa có những tang vật thật không đủ lý vững mạnh mà cái thành tích của
mình cũng kém vẻ vang. Bảy Quý nhẹ nhàng ngồi dậy, rón rén vòng quanh sân trước
và men bờ tường bò ra phía sau. Tên trộm đang cúi đào đất, thỉnh thoảng đứng dậy
nghe ngóng, đảo đầu nhìn chung quanh mình. Nhiều lần y dán cặp mắt vào chỗ bụi
cây đinh lăng, nơi anh đang núp, nhưng y không trông thấy gì. Cuối cùng, y lấy
chiếc cây đội chiếc nồi đất luồn qua lỗ gạch cho vào bên trong để dò động tĩnh.
Nếu người nhà núp bên trong chờ đợi có thể tưởng lầm đầu của tên trộm ngoi vào
đã vội ra tay thì y có thể nhanh chân tẩu thoát. Giây lâu, vẫn thấy im lìm, y
bèn chui vào. Đợi cho tên trộm lọt hẳn vào trong, Bảy Quý bê một tảng đá nhẹ
nhàng đến lấp lỗ gạch rồi vòng ra phía cửa hông ngồi chờ. Độ một giờ sau, cánh
cửa hé mở, tên trộm bước ra hai tay xách đầy đồ vật. Trong bóng tối mờ, Bảy Quý
nhìn thấy miệng gã cắn ngang một lưỡi dao dài nhọn hoắt.
Khi tên trộm qua chỗ anh đang núp, Bảy Quý chuyển hết gân lực
đánh đòn chí mạng vào sau gáy gã khiến gã ngã chúi về trước, nhả văng lưỡi dao
loảng xoảng trên gạch. Tuy vậy hai tay gã vẫn giữ chặt xách đồ và gã gượng dậy
rất mau, vọt chạy về phía sân sau. Bảy Quý hô lớn "Ăn trộm! Ăn trộm!",
rồi chạy rượt theo. Anh cũng biết rằng đã đánh một đòn chí tử mà không hề hấn
gì đến tên trộm là nhờ y choàng nơi cổ một vòng khăn dày.
Người nhà nghe kêu có trộm, trỗi dậy vội vàng và cùng ùa chạy
đuổi theo. Biết rằng ham của sẽ khó thoát thân, tên trộm đợi cho Bảy Quý đến gần,
cầm hai xách đồ ném mạnh vào anh. Nhưng sức lực hai cánh tay thạo nghiệp thuyền
chài đủ đánh bật tung hai xách đồ nặng giạt ra hai bên. Thừa cơ hội ấy, tên trộm
vọt lên bờ tường toan leo ra ngoài. Nhanh như chớp, Bảy Quý kịp nắm lấy chân
anh ta kéo mạnh. Bấu chặt tường thành, tên trộm chuyển sức xuống cả đôi chân cố
đá những đòn độc hiểm vào người Bảy Quý. Vừa né tránh đòn, vừa nghiến răng lại
chịu đựng, Bảy Quý cố trì kéo mạnh không cho tên trộm trốn chạy. Lúc ấy người
nhà ùn ùn kéo đến, đã có đôi người nổi đuốc sáng lòa chạy tới vây quanh.
Tên trộm lấy đà ở nơi bức tường nhảy ập trở xuống cố dùng sức
mạnh đè ngã Bảy Quý. Hai người cùng té xoài ra mặt đất, cùng xoắn lấy nhau, kẻ
nắm, người gỡ, tung bụi mù mịt. Bên ngoài, những tiếng la ó vang dậy nhưng
không một ai dám xáp lại gần. Một lát, tên trộm rứt khỏi đôi tay Bảy Quý chồm dậy
phóng đến đánh ngã một người gia nhân, đoạt lấy chiếc gậy cố mở đường thoát. Bảy
Quý trườn chạy đuổi theo. Ánh đuốc chói lòa, soi rõ bộ mặt đẫm ướt mồ hôi cùng
lớp áo quần lấm bết bụi đất của hai đối thủ. Thấy Bảy Quý không nao núng, lớp
người đứng ngoài siết vòng vây lại. Bây giờ tên trộm mới đứng dừng lại, múa tít
cây gậy để buộc mọi người giạt ra, rồi y dõng dạc nói lớn:
- Để cho tao đi yên ổn thì thôi, nhược bằng đứa nào cản trở
thì Mười Thẹo này đập cho bể sọ!
Nghe tên Mười Thẹo, đám đông vội giạt hẳn ra. Đó là tên trộm
khét tiếng từ lâu ở cái vùng này. Y đã giỏi võ lại rất gan lì nên mọi người đều
khiếp sợ. Nhưng Bảy Quý đã cười lớn, bảo y:
- Được lắm. Tao nghe tiếng mày từ lâu, nay mới gặp mặt. Anh
em cứ đứng dang ra để tôi bắt sống thằng này cho coi.
Mười Thẹo trợn mắt:
- Mày mà hạ nổi được tao thì tao nguyện làm con mày.
Bảy Quý liền đáp:
- Ai thèm cha con với mày! Tóm được cổ mày tao sẽ gông đầu mà
giải lên quan để mày ở tù rục xương cho biết.
Bảy Quý huơ quyền nhảy tới, nhưng Mười Thẹo đã lui lại, ném gậy
xuống đất, rồi bảo:
- Mày đánh tay không thì tao cũng đánh tay không với mày.
Cả hai huơ quyền xông vào đánh đấm loạn xạ. Mười Thẹo vạm vỡ,
râu ria, trông tướng thật là hùng hổ, tiến thoái hết sức nhẹ nhàng. Bảy Quý vóc
dáng nhỏ hơn nhưng đôi cánh tay rắn rỏi của anh vung quyền một cách chắc chắn,
thủ thế rất mực kín đáo. Cả hai đón đỡ linh hoạt, tỏ ra bất phân thắng bại.
Nhưng trong cuộc đấu, thế trận tinh thần Bảy Quý lấn áp Mười Thẹo khá nhiều, bởi
anh đứng vào vị trí của kẻ chủ nhân có một đám đông ủng hộ bên ngoài. Mười Thẹo
vốn sẵn đa nghi, luôn luôn hoảng hốt trong cảnh bị động nên dù đã cố liều lĩnh
tạo cách thoát thân rốt cuộc đón đỡ lúng túng bị Bảy Quý đánh một quyền vào
ngay mạng mỡ, loạng choạng ngã quỵ xuống đất.
Đám đông reo hò, ùa đến, kẻ gậy người hèo đánh đập túi bụi.
Mười Thẹo quá đau vì bị cú đánh vừa rồi nên không cách gì đỡ gạt chỉ biết ôm bụng
lăn tròn trên đất. Có người cầm cả bó đuốc đang cháy phừng phực thui đốt người
y, miệng vẫn không ngừng chửi bới. Mười Thẹo cắn răng không nói một lời, không
rên một tiếng, quằn quại, giãy giụa ở trên mặt đất. Giây lâu, y nằm bất động,
đôi mắt trợn trừng, miệng thở hồng hộc. Có người đề nghị đóng bốn cây nọc để
căng y ra, qua mồng một Tết phơi nắng một ngày rồi mồng hai sẽ giải y về huyện.
Bảy Quý đứng giữa những tiếng trầm trồ tán thưởng của kẻ
chung quanh, cảm thấy vô cùng sung sướng nhưng không tránh khỏi xúc động trước
cảnh Mười Thẹo bị người hành hạ. Anh nói:
- Đánh đập như thế đủ làm cho nó thành tàn phế rồi. Bây giờ
còn tính đem ra phơi nắng thì nó chết gấp. Chúng ta hãy trói y lại bỏ ngoài vựa
trấu sau vườn, đến sáng trình làng quyết định.
Giọng nói của Bảy Quý bây giờ là giọng kẻ có uy quyền. Trước
mắt mọi người, anh là một kẻ đáng nể. Mười Thẹo xuất hiện đã làm đổi thay vị
trí của anh, và ông Chánh Nghị cho rằng anh nói chí lý, bảo lớp gia nhân tuân
hành.
Khi mọi người đã lục đục kéo nhau nối lại giấc ngủ dở dang
thì Bảy Quý, tuy mệt rã người, vẫn không sao nhắm mắt được. Chỗ nằm mọi lúc bây
giờ không còn xứng đáng với anh, và anh nghĩ ngợi về một ngày mai có thể tốt đẹp
đang còn đợi chờ. Gần sáng, anh ngồi nhổm dậy ra vườn, ghé lại vựa trấu, muốn
nhìn ngắm lại nạn nhân vừa là kỳ công của mình.
Anh thấy Mười Thẹo nằm yên, bèn lấy bàn tay lay thử. Một chút
cựa mình khó khăn, vài tiếng rên nhẹ, đôi mắt chừng như hé mở trong bóng tối mờ.
Rồi một tiếng nói yếu ớt cất lên:
- Cho... xin... hớp... nước.
Bảy Quý quay ra ảng nước, múc một gáo lớn, sờ soạng tìm miệng
Mười Thẹo đổ vào. Anh nói:
- Ráng mà uống đi để rồi ngày mai chịu đòn.
Mười Thẹo phều phào:
- Đói khổ mới ra cái nông nỗi này. Tôi chết cũng đành, nhưng
vợ con tôi sẽ ra sao đây...
Bảy Quý lặng yên nhìn vào bóng tối, nơi những tiếng nói phát
ra. Anh nghe hơi thở hào hển mệt nhọc của gã ăn trộm:
- Thằng Chánh Nghị này ác đức... lấy bớt của nó chẳng sao...
Anh cũng khốn khổ như tôi... Tôi đã nguyện làm con anh... Anh là cha tôi... Anh
cứu tôi với.
Tiếng nói đứt quãng, hụt hơi như kẻ sắp sửa xuống mồ. Bảy Quý
cảm thấy khó chịu, lặng lẽ bước ra.
- Cứu con với, cha ơi...
Giọng nói mệt nhọc, nhưng thật khẩn thiết chừng nào! Giọng
nói có một vẻ gì tồi tàn, tuyệt vọng và thật quái gở. Bảy Quý bỗng nghĩ đến vợ
con mình, đến cảnh tình mình.
- Cha ơi... Cha cứu con với, cha ơi!
Bảy Quý dừng lại, nghe nhói ở trong gan ruột. Rồi anh lặng lẽ
quay lại:
- Đừng kêu... Hãy nghe tôi hỏi: liệu còn đủ sức chạy không?
Mười Thẹo nín thinh không đáp, nhưng anh tưởng như thấy gã lắc
đầu. Bảy Quý suy nghĩ rồi nói tiếp:
- Ráng lết theo ngõ cửa sau ra phía bờ sông. Có một bờ lau rậm
lắm. Chun vô trong đó, ngâm mình xuống nước. Đợi cho trời tối rồi đi. Nhớ đừng
lai vãng làm ăn đây nữa.
Anh sờ soạng cởi trói cho gã, nhưng gã vẫn không nhúc nhích.
Tiếng gà gáy sáng bắt đầu vang dậy xóm thôn, và ở đâu đây xao xác tiếng người.
Bảy Quý cuống quýt như chính anh là kẻ phải chạy trốn. Anh cúi xuống ôm Mười Thẹo
bồng lên chạy ra ngả sau, nhét gã trong một bồ lúa bỏ trống, rồi kéo thúng hư,
giỏ nát gần đấy phủ tấp lên trên. Xong, anh giả như vừa ra đằng sau nhà tiểu tiện
và làm cái bộ chệnh choạng của kẻ ngái ngủ lần mò về chiếc chõng tre của mình.
Khi đặt lưng nằm xuống chiếu, Bảy Quý mới nghe tim mình đập mạnh như muốn phá vỡ
lồng ngực.
Câu chuyện Mười Thẹo bị đánh gần chết, bị đốt cháy mình, bị
trói gô lại như đòn bánh tét, vậy mà tự tháo chạy được làm cho mọi người khiếp
hãi. Nhất là những kẻ đã có chia phần đánh gã, bắt đầu run sợ. Người ta cho rằng
gã có bùa phép, thư phù gì đó rất đỗi linh thiêng, và dù bị cột bằng những dây
sắt thì gã chỉ cần niệm chú đôi câu là thoát nguy liền. Bởi vậy, không ai còn
nghĩ đến việc lùng kiếm vì gã được coi như biết cả việc tàng hình.
Nhưng càng lo sợ Mười Thẹo bao nhiêu, người ta lại càng hướng
về Bảy Quý bấy nhiêu. Anh thành võ sư trong nhà ông Chánh, lo chuyện kết nạp đồ
đệ, mở các lớp dạy côn quyền. Tài nghệ ông thầy đã được thử thách, chứng minh,
không ai còn hồ nghi nữa.
Tất cả thanh niên trong vùng kéo đến thụ giáo mỗi ngày một
đông, cuộc sống Bảy Quý cũng được mười phần sung túc. Mỗi lần về quê thăm nhà,
anh không lủi thủi một mình với mo cơm nguội dưới nách như xưa, mà bây giờ anh
che dù, mặc áo xuyến đen, có hai hoặc ba đệ tử gánh gồng gạo nếp, vịt gà kĩu kịt
theo sau. Uy tín Bảy Quý càng tăng vì từ khi anh dạy võ không còn xảy ra trộm đạo,
cả đến Mười Thẹo, tài nghệ như vậy, mà cũng không thấy bén mảng trở lại. Đời sống
thôn xóm nhờ có Bảy Quý thổi vào nguồn sinh lực mới dần dần đã bớt những cảnh tụ
họp rượu chè, cờ bạc. Những người trai trẻ nỗ lực tập dượt để cùng đua sức
tranh tài. Cả những chuyến săn cũng có kết quả hơn xưa, bởi các tay giáo đâm mồi
đã được tăng cường bản lĩnh. Bảy Quý rất được trọng vọng, tên tuổi của anh vang
dậy khắp vùng.
Nhưng giữa lúc ấy, tôi đã đi tới. Tôi ở cái tuổi sung sức lại
rất hiếu thắng, khao khát được người bàn tán về mình, nghe dân trong vùng nói đến
Bảy Quý với lời tán tụng nhiệt tình, tôi rất nao nức tìm gặp.
Vào một buổi chiều, qua cái cổng hậu đưa vào sân sau của ông
Chánh Nghị tôi thấy Bảy Quý đang đứng chỉ dẫn cho đám học trò luyện tập. Người
y lùn thấp, đó là một nhược điểm lớn. Y ở trần, phô bộ ngực nở nang và hai cánh
tay gân guốc, cánh tay bền bỉ của kẻ thuyền chài. Tướng mạo y hiền nhưng trong
lời nói, dáng điệu, y có một vẻ nặng nề. Đôi khi y bắt học trò ngừng tập, coi y
biểu diễn thế đánh hoặc múa thảo côn, đường quyền.
Hồi đó tôi chưa học tập võ ta, võ Tàu, và sẵn có ý coi rẻ các
môn võ này. Tuy tôi không biết thảo, thế của y nhưng tôi cũng thấy dễ dàng là y
nhờ cậy sức mạnh hơn là tài võ. Đường quyền của y chẳng được kín đáo và các cú
đánh rời rạc. Đặc biệt là y trở bộ không lanh và các thế chân di chuyển thường
không ăn nhịp vững chãi với sự biến hóa đôi tay. Đã vậy, theo lối võ ta, võ
Tàu, y thường vểnh cao chiếc cằm, nhưng vểnh một cách trống trải, chỉ cần một
cú đia-réc là y loạng choạng.
Nắm vững các nhược điểm của Bảy Quý, tôi rất nôn nóng muốn
vào thử sức. Lại thêm thái độ người ta trọng vọng anh ta cùng đám đệ tử đông
đúc là những yếu tố kích thích tinh thần hiếu chiến của tôi. Tôi nghĩ mình sẽ
thắng cuộc, và sự hiểu biết quyền Anh bấy giờ cho tôi mặc cảm tự tôn của kẻ
nghĩ mình mới là văn minh, hợp thời, còn hạng người như Bảy Quý là lớp nhà quê,
cổ lỗ. Tôi tiến đến gần anh ta, cười nói:
- Chào ông thầy!
Bảy Quý nghiêng đầu theo lối bái tổ:
- Chào ông.
- Nghe thầy dạy võ ở đây đã lâu, nay mới gặp mặt. Muốn được
thử sức với thầy để học thêm ít ngón nghề.
- Chẳng hay ông chuyên về môn võ nào?
- Mới học chút đỉnh quyền Anh.
Bảy Quý có vẻ không hiểu hai tiếng "quyền Anh" có ý
nghĩa gì. Tôi bèn cắt nghĩa:
- Là môn "bốc xơ" đó mà.
- A! Vậy thì ông học khác tôi, đường ai nấy bước, thử thách
làm chi.
Nhận thấy Bảy Quý có vẻ lo âu, tôi bèn khiêu khích:
- Hay là thầy sợ đánh đá giữa chỗ đông người bất tiện?
- Có gì mà bất tiện đâu!
Đám bạn của tôi thuộc những gia đình khá giả, được ra Huế học,
tự coi là lớp tân tiến, văn minh có ý khinh thường ông thầy dạy võ và các học
trò quê kệch, đều muốn cho tôi giao đấu. Võ nghệ của tôi sẽ là món đồ trang sức
cho họ. Chiến thắng của tôi, nếu có, sẽ là một thứ giá trị củng cố thêm những
ưu thế tinh thần và cả vật chất của họ ở tại địa phương. Vì vậy họ thúc đẩy
tôi: "Đánh đi! Đánh đi! Sợ cái gì toa?" Học trò Bảy Quý cũng nôn
nóng muốn anh ta giao đấu vì họ bị cái mặc cảm thấp kém giày vò. Vốn là quê
mùa, chất phác, ít học hơn bọn chúng tôi, nay thấy bọn tôi ăn mặc chải chuốt,
nói năng nghênh ngang có vẻ xa lạ và coi thường họ, tất nhiên họ sinh oán ghét
và muốn tôi bị thầy họ đánh bại.
Do đó, Bảy Quý và tôi bắt đầu giao đấu.
Khi tôi cởi chiếc áo ngoài và chiếc quần dài trao cho người bạn
cầm hộ, tôi thấy Bảy Quý vẫn còn tần ngần, vẻ mặt không vui. Tôi nghĩ y đã thua
cuộc ngay từ lúc đó. Bất cứ cuộc giao đấu nào, cuộc thử thách nào, thái độ tinh
thần tham dự có một ý nghĩa quyết định. Tuy vậy, Bảy Quý không thể chần chờ lâu
hơn. Khi người ta là võ sư, khi đám môn đệ vây quanh đều hướng về mình với sự
tin tưởng và sự chờ đợi, khi cái vị thế của mình ở nơi chốn ấy là phải chứng tỏ,
biểu dương, người ta không còn cách nào khác hơn là phải tiến tới.
Sau khi Bảy Quý bái tổ và đảo vòng người, trở bộ, theo trảo
mã tấn vừa khuỳnh tay trái xuống che một bên thái dương và đưa tay mặt ra trước
với hai ngón chĩa theo lối song xỉ, tôi đã muốn tấn công ngay và hạ y liền.
Nhưng nơi tôi có một sự tính toán: đánh thắng cấp tốc hay là kéo dài trận đấu?
Đánh gấp, thắng mau, đó là thành tích vẻ vang, một cách xác nhận Bảy Quý là kẻ
bất tài, nhưng nếu kéo dài cuộc đấu để mà đùa cợt sự bất tài đó, lại là điều
thú vị hơn.
Tôi nghiêng về ý sau này. Tôi muốn thưởng thức đầy đủ thắng lợi
của mình. Hạ ngay đối thủ thì làm cho y tê liệt về mặt cơ thể nhưng chưa làm y
trầy trụa về mặt tinh thần. Thắng mau, có thể gợi sự hồ nghi ở đám khán giả vì
họ dễ nghĩ là ông thầy võ không đánh thật lòng, và tôi tạo được chiến thắng nhờ
sự bất ngờ nào đó.
Bởi vậy tôi quyết làm cho đối thủ khổ sở, lao đao, khắc khoải
cầu xin một sự thất bại, để cho chính y và cả mọi người hiểu rằng sự kiện tôi
đánh gục y là ân huệ lớn cho y. Tôi không vội vàng để khởi thế công. Quyền Anh
có lối phòng vệ rất chắc, rất ít tốn sức, mỗi cánh tay mặt của tôi ngăn đón nhẹ
nhàng phía trước khiến tôi trở nên bất khả xâm phạm. Thoạt đầu tôi thấy Bảy Quý
diễu võ dương oai hơn là giao đấu thật sự. Có lẽ y muốn thủ hòa để giữ uy tín.
Tôi sẽ làm cho điều mong mỏi đó của y trở thành một nỗi tuyệt vọng lớn lao.
Một lát, Bảy Quý đã cảm thấy mệt trong những cách thế trở bộ
liên tục. Còn tôi thì sự di chuyển rất ít chưa phải hao sức chút nào. Bảy Quý
bèn quyết định đánh thắng mau, và ý thức được nhược điểm của mình là sự thấp
lùn, y cố lăn vào nhập nội thật sát, đánh vào phần dưới của con người tôi.
Nhưng các cú đánh đia-réc liên tục của tôi đã gạt y ra một cách dễ
dàng. Mỗi lần y nhào lăn đến là tôi để lại trên khuôn mặt y một dấu vết đậm.
Sau khi một bên mắt trái bị bầm, đến mũi bị xẹp, rồi môi bị dập, y mím miệng lại
cố nuốt sạch dòng máu đỏ rỉ chảy xuống cằm.
Mỗi lúc thấy y dừng lại, có lẽ để thở, thì tôi xốc tới, nhử một đia-réc,
móc một cờ-rốt-sê, bắt y lúng túng đỡ gạt, nạp y vào thế phải phản công lại.
Nhưng khi y lăn xả vào thì tôi lui về phòng thủ, dù biết rõ rằng nếu tôi tấn công
thì hạ y ngay. Ngại rằng kéo dài quá lâu rồi đánh bại y dễ khiến nhiều người hiểu
lầm tưởng tôi đã thắng được y một cách khó khăn, tôi bèn làm vẻ như không gắng
sức chút nào, và các cú đánh cũng giữ cái vẻ dễ dàng, phóng túng, đôi khi làm
ra bất chợt, đượm chút giễu cợt, khinh thường. Bây giờ Bảy Quý không còn là đối
thủ của tôi nữa. Y thành con chuột và tôi là một con mèo. Một con mèo rất sung
sức nên chưa cảm thấy đói lòng quá sớm.
Trong khi đấm đá, tôi đủ thời giờ để nhìn thiên hạ chung
quanh. Mọi sự chiến thắng sẽ kém ý vị biết bao nếu không thưởng thức được hết
tinh thần tham dự của đám khán giả. Nhưng sự thật không như tôi đợi chờ. Trừ một
số ít bạn hữu thân thiết của tôi tỏ rõ sự tán thưởng tôi một cách nồng nhiệt,
còn thì hầu hết đều giữ im lặng, trong đó chừng như có cả ái ngại và nỗi bất
bình. Bấy giờ điều đó làm tôi tức giận. Tôi nghĩ cái số đông ấy thiên vị, và
còn cho rằng họ vốn mù lòa không biết tán thưởng tài nghệ của tôi. Tất nhiên,
tôi không thể đánh họ được, nhưng tôi phải đánh Bảy Quý để trả thù họ.
Và lần này tôi tấn công thật sự. Khi tôi xáp đến giáng những
cú đấm liên tiếp vào người Bảy Quý, tôi thấy anh ta đã rối loạn rồi, hơi thở
hào hển, gấp rút, khuôn mặt nhợt nhạt, méo mó, đôi mắt hơ hải, kinh hoàng. Rồi
đến một lúc bỗng nhiên anh ta trỗi dậy. Nghiến chặt lấy răng, trợn tròn đôi mắt,
anh ta hầm hè lao tới, cúi đầu chịu hết đòn đánh của tôi và tung liên tiếp quyền
cước vào tôi.
Bảy Quý phải cứu danh dự của y, đời sống của y, cơm áo của vợ
con y. Bây giờ anh ta liều mạng thật sự và tôi bắt đầu nhận thấy đôi tay của gã
thuyền chài dày dạn thật khó coi thường. Cũng có đôi lúc y đánh trúng vào mạng
mỡ, thúc được cùi chỏ vào hông, vào sườn của tôi, đôi khi ngọn cước của gã cũng
phóng được vào ngực tôi, nhưng các sự đụng chạm ấy gã đều mua bằng giá đắt. Tôi
đã khai thác lập tức các điểm hớ hênh, và những cú móc chính xác của tôi phải
làm cho gã khốn đốn.
Từ giai đoạn vờn nhau như để biểu diễn bây giờ chuyển sang
giai đoạn giao đấu quyết liệt, một sống một chết. Cuối cùng, cú cờ-rốt-sê tôi
đã đốn y ngã. Bảy Quý hự lên một tiếng ngắn ngủi, máu họng trào ra và gã khuỵu
xuống, nằm bẹp trên vạt đất nện lấm tấm tro trấu, phân gà, phân vịt đã bị chân
người cày nát. Mấy người học trò của gã ào đến để vực gã dậy. Trong sự rối loạn
lúc đó, tôi có nhìn thấy một đôi ánh mắt căm hờn phóng về phía tôi. Nhưng tôi
là kẻ thắng thế, làm gì tôi được? Thầy của chúng bay tao còn đánh bại, kể chi một
lũ học trò tẹp nhẹp! Và tôi ung dung ra về, thật không thấy lòng hào hứng bao
nhiêu.
Không khí lạnh lẽo sau trận đấu ấy khiến tôi giã từ vùng quê
của đám bạn bè rất chóng. Ở đó không còn những cảnh thân mật, tự nhiên như trước.
Mọi người tỏ ra dè dặt với tôi và đôi khi sự dè dặt còn lộ rõ vẻ khó chịu. Rõ
ràng tài năng của tôi không làm xúc động đến họ chút nào. Nhưng tài năng ấy đã
gây xáo trộn, đã làm đổ vỡ, tạo những lệch lạc, tổn thương đến các sinh hoạt đã
được đặt thành nề nếp từ bấy lâu nay.
Tuổi trẻ quên đi rất mau những sự phá phách của nó. Rời miền
quê ấy, tôi không còn nhớ đến Bảy Quý nữa. Y chỉ là một con số trong cái bản dọc
kê những nạn nhân, thành tích của tôi, và tôi đâu tổn hơi sức tìm hiểu về y cho
thêm bận lòng!
Mãi về sau này tôi có được nghe bạn tôi kể thêm về đoạn kết
đó. Bảy Quý phải nằm liệt giường, liệt chiếu gần hai tuần lễ mới ngồi dậy được.
Một người thầy võ đã bị đánh bại không còn là thầy võ nữa. Không cần một lời
phán định nào khác, Bảy Quý lặng lẽ gói mớ quần áo của mình và gom góp các món
gì có thể mang đi, âm thầm giã biệt vùng ông Chánh Nghị vào một buổi sáng tinh
sương, khi trên các nẻo đường mòn thôn xóm chưa hề có bóng một người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét