Thứ Năm, 27 tháng 10, 2022

XXXĐọc "The Conscience of a Liberal" của Paul Krugman

Đọc "The Conscience of a Liberal"
của Paul Krugman

Paul Krugman là giáo sư môn kinh tế và quốc tế học tại Đại học Princeton và nhà bình luận của tờ New York Times. Ông đoạt John Bates Clark Medal (giải kinh tế học nổi tiếng‎ chỉ sau giải Nobel [1]) vào năm 1991. The Conscience of a Liberal [2] là tác phẩm mới nhất của Krugman, W.W. Norton xuất bản vào đầu tháng Mười 2007.
Đỗ Kh.: Phạm Tùng Cương tốt nghiệp Trường Cao đẳng Thương mãi (HEC) ở Pháp. Ngoài các nước phát triển Âu, Mỹ hay Hồng Kông, Israel, anh đã có dịp làm việc tại các nước trên đà vùng vẫy như Trung Quốc, Ấn Độ hoặc đang phát triển như Madagascar, Việt Nam, Indonesia… Hiện Phạm Tùng Cương đang làm việc trong lãnh vực công nghệ thông tin ứng dụng vào ngân hàng tại New York và London.
Cuộc trò chuyện chung về quyển sách này bắt nguồn từ việc anh kèm tôi luyện môn kinh tế vĩ mô khi tôi theo học tại Viện Chính trị học (IEP) Paris, lớp của GS Raymond Barre trước khi ông trở thành Thủ tướng. Sau này thì tôi… bị đuổi khỏi trường nhưng lý do không phải vì môn kinh tế học và tất nhiên cũng không phải là lỗi của anh. Lần chót tôi đọc nghiêm túc sách về kinh tế, tôi còn nhớ đó là cuốn sách của Samuelson, có anh ngồi cạnh.
Phạm Tùng Cương: Sự vô ‎ý thức của những người khác có thể là tiểu tựa của quyển sách của Paul Krugman. Trước khi bắt đầu, tôi phải nói là cách chúng ta trò chuyện như thời sinh viên ở thập niên 70 làm tôi thích thú.
Thứ nhì, về Paul Krugman, tôi chỉ có thể chủ quan. Đây là kinh tế gia mà tôi ưa thích nhất. Bài viết gieo mầm của ông “The Myth of Asia’s Miracle, a cautionary fable” (“Huyền thoại về phép lạ ở Á Châu, một ngụ ngôn cảnh báo’’, Foreign Affairs Article – November 1994) đối với tôi là một phát hiện. Những yếu tố của khủng hoảng Đông Nam Á năm 97 đã có trong bài viết này. Như Paul Krugman đã có lần nói trong một hội thảo tại Hồng Kông sau khi khủng hoảng xảy ra, rằng sai lầm của ông là ước tính về thời điểm của cuộc khủng hoảng. Và nếu Nguyễn Cao Kỳ đã có thể phát biểu bạo dạn “Hitler là người hùng của tôi’’ thì tôi chẳng ngượng gì mà bắt chước, “Paul Krugman là người hùng của tôi’’.
Anh còn nhớ bài hát của George Moustaki mà chúng mình đã có dịp thấy nhiều lần vào thuở mình còn ở Ile St Louis tại Paris vào đầu những năm 70, bài hát do Serge Reggiani biểu diễn:
Nữ hoàng hoài niệm
Bà khóc vì một tên của thành phố
Và bà lẫn lộn, người khờ đáng tội thật
Tình yêu với lại địa lý
(Madame Nostalgie
Tu pleures sur un nom de ville
Et tu confonds, pauvre imbécile
L'amour et la géographie)
Ta có thể bắt đầu nói về quyển sách mới này của Paul Krugman bằng Nữ hoàng hoài niệm. Nữ hoàng hoài niệm ở đây có những hai tên, mà bà ấy lại không lẫn lộn tình yêu với địa lý; hai cái tên đó là New Deal và tầng lớp trung lưu.
Đỗ Kh.: Hoài niệm quá khứ. Tôi nghĩ là ông Kỳ giờ cũng không còn ngưỡng mộ thần tượng cũ…
Phạm Tùng Cương: Paul Krugman thuật lại tiến trình lâu dài của Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX cho đến tình trạng “xì căng đan’’ của ngày hôm nay và phác thảo một số giải pháp để thoát ra khỏi tình trạng này. Từ “xì căng đan’’ này, lưu ý, tôi bỏ trong ngoặc kép.
Nhiều ghi nhận cho thấy tình trạng tại Mỹ hiện nay không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm:
Sự phát triển của một chính sách bảo thủ cynic, thô bạo và xâm chiếm;
Ngạo ngược đơn phương trong những vấn đề thế giới;
Thâm thủng ngân quỹ gia tăng. Năm 2000, chính quyền Clinton để lại cho G. W. Bush thặng dư ngân sách là 240 tỉ.
Sau đó thì dưới chính quyền G. W. Bush, ngân quỹ trở nên thiếu hụt kinh niên
2003: -378 tỉ US
2004: -412 tỉ USD
2005: -318 tỉ USD
2006: -423 tỉ USD
Món nợ quốc gia tăng trưởng: tiền lời phục vụ món nợ này năm 2005 là 184 tỉ USD và năm 2006 là 220 tỉ.
Ngay cả với một tỉ số tăng trưởng vừa phải, cách biệt giàu nghèo sâu rộng thêm và số người không có bảo hiểm sức khoẻ lên đến gần 50 triệu.
Đỗ Kh.: Chúng ta ngày nay, tôi muốn nói là trong xã hội Hoa Kỳ, hình như đã đánh mất khả năng phẫn nộ, để quên khả năng này trong khi shopping thương xá và chỉ nhớ lại khi phải dừng lại ở cây xăng ($3,35/gallon). “If you are not outraged, you are not paying attention’’ (Nếu bạn không phẫn nộ thì là vì bạn không để ý đó thôi) là một châm ngôn bumper sticker (phát biểu dán đằng sau xe con ở Mỹ).
Để có thể có hình dung cụ thể hơn, có thể đưa ra một liên tưởng thế này: 1 tỉ USD bằng giấy 100 nếu mang ra trải từng tờ một liền nhau trên Quốc lộ 1 thì dài từ Sài Gòn ra đến Hà Nội, nếu chồng lên từng tập thì cao ngất gì đó Hải Vân (1.500m). Ngay đối với nước Mỹ, đây cũng là những con số lớn, tiền lời phải trả món nợ quốc gia năm 2006 cho mỗi đầu người già trẻ lớn bé như vậy là một cây vàng. Nước Mỹ giàu, nhưng để trả phần lời trên món nợ không thôi, trong mỗi gia đình, mỗi ngườ phải cầm một cây vàng ném nhau.
Tôi nhớ chuyện một Bộ trưởng Tài chánh của một nước Phi châu kể lại cách đây 20 năm. Ông có hẹn với Chủ tịch IMF và đang ngồi đợi trước văn phòng thì Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Brazil đến và được tiếp ngay lập tức, tình huống đó khiến ông phải kết luận rằng thằng nào nợ nhiều thì thằng đó to chứ tôi nợ có vài chục tỉ, nhằm nhò gì.
Phạm Tùng Cương: Trước khi có ý kiến về những nhận xét của anh, tôi xin tóm lược quyển sách:
Trong giai đoạn từ 1870 đến ngày nay, Paul Krugman thấy có ba chu kỳ tiến triển, (1): từ 1870 đến 1930, (2): từ 1930 đến 1970 và (3): từ 1970 đến hiện nay.
Ông gọi giai đoạn đầu là “The Long Gilded Age’’, theo chữ dùng (của Mark Twain để chỉ năm 1870 đến 1893) cho thời kỳ cuối thế kỷ 19 của lịch sử Hoa Kỳ. “The Gilded Age’’ (Thời kỳ Vàng mạ) là thời kỳ tập trung của cải chưa từng thấy, cùng với sự phô trương sống sượng khối tài sản này bởi một thiểu số tí hon các nhà lãnh đạo kỹ nghệ, được gọi là “robber barons” (nam tước tướng cướp). Họ là những người đã lập nên những cơ ngơi khổng lồ theo làn sóng kỹ nghệ hoá nước Mỹ (đường ray, hầm mỏ, ngân hàng, nhà máy…) bằng sự thông minh, tháo vát và quả cảm lắm lúc cũng thiếu đạo đức. Những tên tuổi như Carnegie, Rockfeller, Vanderbilt, J.P. Morgan được đại quần chúng biết tới, với mạng lưới liên hệ gia đình và xã hội, chủ yếu là WASP (Kitô Tin lành gốc Anh da trắng).
Thời kỳ thứ nhì bắt đầu với cuộc Khủng hoảng lớn và được tiếp nối bởi chính sách New Deal - chính sách đã thay đổi địa hình xã hội nước Mỹ. Tài nguyên quốc gia được phân phát đồng đều hơn, mặt xã hội có tiến bộ với những công đoàn vững chắc và lớn mạnh. Giai đoạn này chấm dứt trong thập niên 70, được gọi là giai đoạn “Great Compression’’ (sức nén lớn). Chính sách thuế má thích hợp và “tái phân phố”, cùng các chính sách khác, đã làm giảm bớt sự chênh lệch và lập nên từ con số không một giai cấp xã hội sung túc. Số siêu triệu phú giảm nhưng số người nghèo khó cũng giảm và chính sách này vẫn được các chính quyền Cộng hoà duy trì, như dưới thời Eisenhower.
Thời kỳ thứ ba bắt đầu từ cuối thập niên 70 và tiếp tục cho đến ngày hôm nay, với những đặc điểm như đã mô tả một phần ở trên và chúng ta sẽ có dịp bàn thêm.
Ở từng thời kỳ, các giai đoạn chuyển tiếp giữa các thời kỳ này, những lý do sâu xa của các thay đổi về mặt giá trị và hệ quả xã hội của những thay đổi này được tác giả thuật lại một cách logic, trong sáng và mạch lạc.
Sau cùng, ông phác hoạ những đề nghị sơ khởi để thoát khỏi tình trạng kinh tế và xã hội tệ hại của nước Mỹ hiện nay.
Paul Krugman cho thấy trong quyển sách này sự có mặt thường trực của vấn đề màu da trong lịch sử nước Mỹ. Ông chứng minh rằng chính sách là động cơ của các thay đổi xã hội hơn là kinh tế, kinh tế trong lãnh vực này chỉ đảm nhiệm vai trò hậu cần.
Nhắc lại nhận xét của anh vừa rồi thì có thể nói Paul Krugman “rất quan tâm vì ông vô cùng phẫn nộ’’, một phần bởi vì khoảng cách Sài Gòn và Hà Nội ngày càng tăng và đèo Hải Vân mỗi năm lại cao hơn.
Dĩ nhiên, Paul Krugman đưa những ra con số và những quy chiếu để ủng hộ lý‎ lẽ và những phân tích của ông. Nhân đây, xin giới thiệu những ai quan tâm một công trình rất thuyết phục về sự chênh lệch ở nước Mỹ của hai nhà kinh tế trẻ người Pháp, Thomas Piketty và Emmanuel Saez, cả hai đều là cựu sinh viên Cao đẳng Sư phạm và được tác giả trích dẫn trong cuốn sách.
Đỗ Kh.: Đây là một cuốn sách dễ đọc, tôi cám ơn tác giả tuy chi tiết và rành mạch nhưng ông cũng chỉ lướt qua định l‎ý Pareto và đường cong Kutznets cho những người đọc không chuyên còn được nhờ.
So với 100 năm trước, nguồn thu nhập của giới đứng đầu kinh tế đã có nhiều thay đổi. Thu nhập của các tỉ phú, triệu phú không còn là từ tiền vốn tư bản của các chủ nhân ông nữa mà chiều hướng là từ lương và bổng (tức là “bồi dưỡng’’) của các giám đốc, tổng giám đốc làm thuê. Nói cách khác, nếu các đại gia cuối thế kỷ XIX là các “nam tước tướng cướp’’ thì các đại gia ở Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ XXI chắc là nhiều chất tuớng cướp hơn là chất qu‎ý tộc.
Các tập đoàn ngày nay đều là công ty cổ phần, tức là thuộc sở hữu chung của các cổ đông. Khỏi phải kể đến các trường hợp lạm dụng như Tyco, Adelphia, hay điều hành hơi bị “đẹp’’ như Enron [3] , ngay cả các công ty không lấy gì tai tiếng cũng có vấn đề.
Phạm Tùng Cương: Như công ty dịch vụ dầu khí bị phá sản của một tay GW Bush, tốt nghiệp môn Sử Đại học Yale và cựu sinh viên trường danh tiếng Harvard Business School…
Đỗ Kh.: Ngay cả các công ty không lấy gì tai tiếng hay không có vấn đề đặc biệt, việc tưởng thưởng các lãnh đạo công ty vẫn có điều gì như là quá đáng (nói kiểu Trịnh Công Sơn, có điều gì như là tuyệt vọng).
Nhận lương xứng đáng, theo tôi, thì chỉ có những người như Tổng giám đốc Halliburton David Lesar chẳng hạn. Lương ông từ 2003 đến 2004 tăng 171% (27 triệu) nhưng đó là vì công ty ông kiếm được nhiều lời, cổ phần tăng quá xá khiến quần chúng cổ đông (như một ông Dick Cheney) vui vẻ. Halliburton lại được bớt thuế ở Mỹ nhờ quyết định dứt khoát rời trụ sở sang… Dubai, đó là chưa nói đến đóng góp của công ty vào việc “tái kiến thiết’’ một quốc gia bị tàn phá như là Iraq.
Nhưng đây là việc nghĩa rồi, việc gần như là từ thiện chứ không còn là việc kinh tế tư bản, tôi đã đi hơi xa, xin mời anh trở lại.
Phạm Tùng Cương: Cuốn sách quả là dễ đọc. Paul Krugman có cái tài là làm cho người đọc càng vào sâu trong quyển sách, càng có cảm tưởng mình trở nên thông minh hơn.
Ta lấy ra vài con số đặc trưng cho ba thời kỳ. Theo định nghĩa của Brad De Long, nhà kinh tế học ở Đại học Berkeley, thì tỉ phú là người tài sản có cao hơn con số sản xuất hàng năm của 20.000 người lao động Mỹ trung bình. Trong thời kỳ “Long Gilded Age’’, theo định nghĩa này, năm 1900 có 22 tỉ phú và năm 1925 có 32.
Thời kỳ thứ nhì, đếm được 16 tỉ phú năm 1957 và 13 năm 1968.
Cũng dùng những tiêu chuẩn này, ngày hôm nay, ta có 160 tỉ phú.
J. P. Morgan, ông này không phải là một thày tu, đã có nói là nếu mức lương hàng đầu cao hơn 40 lần lương trung bình của người thợ, thì ta nên quan tâm thật sự đến tình trạng xã hội. Chắc là phải kêu cứu “J.P. Morgan ơi, họ điên hết rồi!’’ [4] Tỉ lệ sai biệt này, nếu năm 1970 ở dưới 40 lần, thì hiện nay đã xấp xỉ 400!
Đỗ Kh.: Theo chiều hướng này, tăng trưởng của chênh lệch và bất quân bình xã hội, như quyển sách này nhấn mạnh, xảy ra trong thời của chúng ta, nghĩa là từ thập niên 80, thời của Reagan-Thatcher. Sau Woodstock và các hippy thì là… Wall Street và các golden boy.
Quá khích (Krugman dùng từ “radical”, ở đây gần với nghĩa “cách mạng”) về hướng hữu ở Mỹ là một hiện tượng nổi lên gần đây trong Đảng Cộng hoà, nhờ liên kết giữa các đại diện Tân bảo thủ và thành phần Kitô cơ bản khiến thế hệ của tác giả phải tiếc nuối quá khứ như đã nói tới. Nước Mỹ trước đây của ông “là một nước khác rồi”. “Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi’’ (Nguyễn Bính). Paul Krugman có một nhận xét mà tôi thấy rất thấm thía, là Clinton ở phía bên phải của Carter đã đành nhưng còn có thể nói là ở phía bên phải của Nixon!
Chúng ta không những đi giật lùi mà còn đi rất nhanh.
Phạm Tùng Cương: Như anh vừa nhận xét, thu nhập của thời kỳ thứ nhất chủ yếu là từ nguồn vốn tư bản trong khi ngày nay nguồn là từ số lương quá đáng của một vài thành phần (chẳng riêng gì các Tổng giám đốc, mà còn trong lãnh vực thể thao, biểu diễn), từ các stock-options [5] , các giao kèo bồi thường nghỉ việc bằng vàng khối, cùng với sự bùng nổ của các thị trường chứng khoán.
Paul Krugman thuật lại rành mạch sự chuyển tiếp từ thời kỳ thứ nhì sang thời kỳ hiện tại, với hậu trường là sự lớn mạnh của một phong trào bảo thủ biết chiếm lãnh một cách hệ thống và tính toán các địa bàn tư tưởng và địa bàn kinh tế bằng cách xây dựng một cơ sở quần chúng và một cơ sở trong giới kinh doanh.
Ông dùng từ “Tài phiệt’’ (ploutocratie) để chỉ thời kỳ “Long Gilded Age’’ cũng như thời kỳ của chúng ta. Cả hai có những điểm tương đồng đến ngạc nhiên và làm tôi nhớ lại định nghĩa của Ernest Renan (1823-1892): “Tôi gọi là một tình trạng xã hội lấy của cải làm động cơ chính của mọi sự (…), nơi mà tài năng và đạo đức thường được (…) đánh giá bằng tài sản là một chế độ tài phiệt’’. Quả là hợp với thời đại của chúng ta!
Bảng dưới đây được Paul Krugman trích dẫn từ công trình của Thomas Piketty và Emmanuel Saez về tỉ lệ những thu nhập cao nhất trong tổng số thu nhập:

 

10% thu nhập cao nhất

1% thu nhập cao nhất

Trung bình của thập niên 1920

43,6 %

17,3 %

2005

44,3 %

17,4 %


Trong thời kỳ “The Great Compression’’, lương trung bình của một hộ là vào khoảng 44.000 USD (tính theo thời giá của ngày nay), tức là cao hơn lưong trung bình hiện tại. Lương tối thiểu hàng giờ vào thời ấy cũng cao hơn 5 đồng lẻ gì đó của ngày nay.
Thời kỳ của “The Great Compression’’ đã xây dựng đuợc phần nào một sự đoàn kết xã hội nhờ một phần vào một chính sách thuế má nhắm vào một tái phối xã hội thật sự.
Những phát biểu sau đây cho ta thấy không khí tri thức của thời kỳ này:
Trong Diễn văn 1936, Franklin D. Roosevelt xác quyết “Chúng ta giờ đã biết rằng chính quyền của tiền bạc có tổ chức cũng nguy hiểm không kém chính quyền của những kẻ du thử du thực có tổ chức.’’
Trong Diễn từ nhậm chức lần thứ nhì, cũng Franklin D. Roosevelt lại phát biểu: “Trước ta vẫn biết tư lợi bản thân mà không có tâm thì là đạo đức xấu; giờ thì ta biết đó là chính sách xấu.’’
Năm 1954, tổng thống Eisenhower (Đảng Cộng hoà) viết trong thư gửi cho người anh ruột: “Nếu có đảng chính trị nào định thử bãi bỏ chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, và loại trừ các luật lao động và chương trình trợ giúp các nông trại, thì trong lịch sử sẽ không bao giờ nghe nói đến đảng này nữa. Có một nhóm ly khai, dĩ nhiên là tí hon, lại tin rằng có thể thực hiện được những việc này… Con số thành phần này không đáng kể và họ là những người ngu xuẩn.’’
Paul Krugman kết luận về thời kỳ trên rằng: “ …Trường hợp của ‘The Great Compression’ là một liều thuốc mạnh giải được tiền định, một chứng minh cho thấy cải cách chính trị có thể tạo ra một phân phối thu nhập công bằng hơn và trong khi làm việc ấy, nó tạo ra một không khí lành mạnh hơn cho dân chủ.’’
Phải nói rằng, một xã hội lấn áp thế giới trên tất cả các phương diện: kinh tế, quân sự, kỹ thuật và văn hoá, một xã hội được đưa ra làm gương kinh tế và xã hội cho các thành phần có tham vọng và ít nhiều có năng lực, xã hội này lại chấp nhận gần 49 triệu người đang sống trong đó không có bảo hiểm y tế. Trước một xã hội như thế, chỉ có thể thốt lên một tiếng là “Hello!’’.
Đỗ Kh.: Mong rằng chúng ta sẽ có dịp để trở lại vấn đề ảnh hưởng và gương sáng của chế độ Hoa Kỳ này đối với thế giới, tất nhiên là cả đối với Việt Nam hay Bở Biển Ngà. Khi ông Bush nói đến việc gieo rắc “dân chủ’’, tôi hiểu đây là một thứ codespeak orwell cho một mô hình kinh tế toàn cầu. Đúng là chỉ biết nói “Hello!’’.
Nói đến bảo hiểm y tế quốc gia, Paul Krugman nhắc lại là, tại Đức, từ thập niên 80, đã có bảo hiểm này và chế độ phục viên, an sinh. Đây không phải là thập niên 1980 mà là thập niên 1880 dưới thời Thủ tướng Bismark! “Hallo Hillary, Guten Tag!’’.
Phạm Tùng Cương: Theo Herbert Simon, một trong những khoa học gia tiền phong trong lãnh vực trí tuệ nhân tạo, thì người ta thường không quan tâm đến phần của những yếu tố ngoại vi trong mọi hoạt động (việc ông được giải Nobel Kinh tế năm 1978 là một bất ngờ theo nghĩa trí thức đối với bản thân). Vốn xã hội (kỹ thuật, môi trường pháp lý, khả năng tổ chức, quản l‎ý và lãnh đạo…) của một quốc gia chiếm 90% trong hoạt động của các cá nhân, dù bất kể là ai…
Đỗ Kh.: Tôi ngắt lời bạn ở đây để mở một dấu ngoặc. Chúng ta (trong và ngoài nước) hay nhắc đến những thành công của người Việt ở nước ngoài nhưng có lẽ có quên cái 90% này của môi trường hoạt động. Một thí dụ, gần đây, một bà bạn Pháp thuộc trường Viễn đông Bác cổ (EFEO) đang làm việc tại Bắc Kinh có nói với tôi về vị thái giám gốc Việt xây dựng Cấm Tử Thành. Đây là một thanh niên bị nhà Minh bắt mang sang Trung Quốc lúc còn trẻ, sau này trong cung thăng quan tiến chức và là người quản lý công trình xây dựng vĩ đại này. Tất nhiên, tôi rất là hãnh diện dân tộc, nhưng nếu ông ở lại nước ta thì tài của ông ta có lẽ đã được dùng để xây Chùa Một Cột. Tôi để bạn nói tiếp.
Phạm Tùng Cương: Thành thử ra, đánh thuế 90% các thu nhập cũng chẳng phải là vô l‎‎ý về mặt đạo đức. Dĩ nhiên, Herbert Simon có tiết chế tỉ lệ này căn cứ trên các động cơ cá nhân (kinh nghiệm Xôviết hẳn nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của quyền lợi ích kỷ của các cá nhân). Theo ông thì thuế 70% trên thu nhập sẽ đủ để trang trải mọi kinh phí của tất cả các chương trình chính phủ. Chúng ta đều là “người cổ đông’’ của một quốc gia. Bên ngoài các hoạt động nghề nghiệp của từng người, là cổ đông, chúng ta đều có quyền hưởng phần cổ tức của phát triển và tiến bộ kinh tế của cả nước.
Tỉ lệ thuế trên thu nhập là 63% dưới chính quyền của F.D. Roosevelt thời kỳ đầu và 79% dưới chính quyền thứ nhì của ông. Giữa thập niên 50, tỉ lệ này lên đến 91% để trang trải những chi phí của Chiến tranh Lạnh.
Thuế má là một chuyện, đạo đức lại là một chuyện khác. Paul Krugman còn cho ta thấy sự thanh liêm của các thành phần công chức dưới thời “Great Compression’’ cũng như không khí xã hội nói chung vào thời ấy.
Năm 1969, thù lao của lãnh đạo công ty GM là 4,3 triệu USD tính theo ngày nay. Số lương này đuợc coi như là một xì-căng đan vào lúc một công nhân GM lãnh trung bình chỉ có 44.000 (cũng tính theo ngày nay). Năm 2005, ông lãnh đạo Wal-Mart lãnh lương 23 triệu trong khi lương trung bình của nhân viên công ty này là 18.000 một năm. Và mọi người đều có vẻ thấy đây là chuyện bình thường business. Thì “Chuyện của nước Mỹ là chuyện business’’ mà.
Tại một nước thuộc “Âu châu già nua’’, theo từ mà Donald Rumsfeld ưa chuộng, như Pháp, thì Tổng giám đốc của công ty bảo hiểm tư lớn nhất lục địa này, công ty AXA, là một trong 15 người có mức lương cao nhất nước. Năm 2006, lương của ông Henri de Castries (vâng, cháu ruột của vị tướng thất trận Điện Biên Phủ) là 4,3 triệu Euro (Louis Schweitzer của hãng Renault là người lãnh lương cao nhất với 11,9 triệu Euro). Tổng giám đốc AXA này cho biết ông bố chống việc tiễn chân các lãnh đạo nghỉ việc với hợp đồng vàng ròng (golden parachute), và nhất là ông không chịu nhận phần quà stock-options dành cho ông có thể lên đến 70 triệu! Xin ngả nón chào, bạn đồng chí Henri (bạn đồng khóa HEC với tôi chứ không phải là bạn đồng tổ Đảng Cộng sản) [6] .
Đạo đức cũng góp phần lớn vào một xã hội đoàn kết hơn và bình đẳng hơn.
(Còn 1 kì)
© 2007 talawas
[1]Có đến gần nửa số thủ khoa John Bates Clark Medal về sau này được giải Nobel kinh tế, thời gian trung bình là 20 năm sau.
[2]Tên sách để nguyên vì từ “liberal” khó tìm được được từ tương đương chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa trong tiếng Việt. “Liberal” ở Mỹ gần với nghĩa cấp tiến, tiến bộ phần chính trị, cởi mở và phóng khoáng phần thái độ và tư tưởng và hoàn toàn khác với nghĩa của cũng từ liberal này khi dùng trong lãnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, từ “liberal”, tuỳ theo đối tượng, còn có thể dùng để thoá mạ và thường để gán cho những nhân vật dè dặt với nhãn hiệu này. Thí dụ flip-flop liberal - chong chóng (Thượng nghị sĩ John Kerry) hay card carrying liberal - mang thẻ hội viên (ứng cử viên Bill Clinton, trong trường hợp này là Hội Tự do Dân quyền Mỹ, ACLU). “Liberal” về chính trị thì chỉ có thể là arch-liberal hay crypto-liberal, ấy, nhưng về kinh tế thì ta có neo-liberal.
Ở những nơi khác, về chính trị, phong trào liberal Canada khác với ở Australia hay Thuỵ Sĩ, ở Anh quốc khác với ở… Chad cho nên lại càng khó nói. Tên của cuốn sách The Conscience of a Liberal cũng là tên cuốn hồi ký của cố Thượng nghị sĩ bang Minnesota, Paul Wellstone. Đây là một trùng hợp, Wellstone được coi là một trong những chính trị gia và dân cử tiến bộ nhất của Mỹ. Ông qua đời vì tai nạn phi cơ vào năm 2002.
[3]Hai lãnh đạo của Tyco mang tội thâm lạm 150 triệu của công ty. Tổng giám đốc John Rigas của Adelphia dùng tiền của công ty để xây sân golf riêng, lấy 26 triệu của công ty sắm 1.500 héc ta đất trước cửa tư gia ông để cho thoáng tầm nhìn… Enron làm mất của người đầu tư 50 tỉ.
[4]Theo thành ngữ nổi tiếng “Lenin sống dậy mà xem/ Coi kìa chúng nó đã điên hết rồi”. Morgan là một dòng họ tỉ phú, là gốc của hệ thống tài chánh và ngân hàng J.P. Morgan Chase hiện nay, vào đầu thế kỷ XX, từng giúp vốn vào việc thành lập các đại công ty US Steel và General Electric.
[5]Tiền thưởng hay bồi dưỡng cho nhân viên của công ty dưới hình thức cổ phần ở một giá đặc biệt. Đương sự sau đó có thể quyết định mua (và bán lại) số cổ phần này khi cần thiết và khi giá thị trường cao hơn.
[6]Từ “camarade” để chỉ bạn đồng song, đồng lớp tại Pháp nhưng cũng được dùng để chỉ các bạn đồng chí trong một đảng.
[2]Tên sách để nguyên vì từ “liberal” khó tìm được được từ tương đương chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa trong tiếng Việt. “Liberal” ở Mỹ gần với nghĩa cấp tiến, tiến bộ phần chính trị, cởi mở và phóng khoáng phần thái độ và tư tưởng và hoàn toàn khác với nghĩa của cũng từ liberal này khi dùng trong lãnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, từ “liberal”, tuỳ theo đối tượng, còn có thể dùng để thoá mạ và thường để gán cho những nhân vật dè dặt với nhãn hiệu này. Thí dụ flip-flop liberal - chong chóng (Thượng nghị sĩ John Kerry) hay card carrying liberal - mang thẻ hội viên (ứng cử viên Bill Clinton, trong trường hợp này là Hội Tự do Dân quyền Mỹ, ACLU). “Liberal” về chính trị thì chỉ có thể là arch-liberal hay crypto-liberal, ấy, nhưng về kinh tế thì ta có neo-liberal.
Ở những nơi khác, về chính trị, phong trào liberal Canada khác với ở Australia hay Thuỵ Sĩ, ở Anh quốc khác với ở… Chad cho nên lại càng khó nói. Tên của cuốn sách The Conscience of a Liberal cũng là tên cuốn hồi ký của cố Thượng nghị sĩ bang Minnesota, Paul Wellstone. Đây là một trùng hợp, Wellstone được coi là một trong những chính trị gia và dân cử tiến bộ nhất của Mỹ. Ông qua đời vì tai nạn phi cơ vào năm 2002.
[3]Hai lãnh đạo của Tyco mang tội thâm lạm 150 triệu của công ty. Tổng giám đốc John Rigas của Adelphia dùng tiền của công ty để xây sân golf riêng, lấy 26 triệu của công ty sắm 1.500 héc ta đất trước cửa tư gia ông để cho thoáng tầm nhìn… Enron làm mất của người đầu tư 50 tỉ.
[4]Theo thành ngữ nổi tiếng “Lenin sống dậy mà xem/ Coi kìa chúng nó đã điên hết rồi”. Morgan là một dòng họ tỉ phú, là gốc của hệ thống tài chánh và ngân hàng J.P. Morgan Chase hiện nay, vào đầu thế kỷ XX, từng giúp vốn vào việc thành lập các đại công ty US Steel và General Electric.
[5]Tiền thưởng hay bồi dưỡng cho nhân viên của công ty dưới hình thức cổ phần ở một giá đặc biệt. Đương sự sau đó có thể quyết định mua (và bán lại) số cổ phần này khi cần thiết và khi giá thị trường cao hơn.
[6]Từ “camarade” để chỉ bạn đồng song, đồng lớp tại Pháp nhưng cũng được dùng để chỉ các bạn đồng chí trong một đảng.
[2]Tên sách để nguyên vì từ “liberal” khó tìm được được từ tương đương chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa trong tiếng Việt. “Liberal” ở Mỹ gần với nghĩa cấp tiến, tiến bộ phần chính trị, cởi mở và phóng khoáng phần thái độ và tư tưởng và hoàn toàn khác với nghĩa của cũng từ liberal này khi dùng trong lãnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, từ “liberal”, tuỳ theo đối tượng, còn có thể dùng để thoá mạ và thường để gán cho những nhân vật dè dặt với nhãn hiệu này. Thí dụ flip-flop liberal - chong chóng (Thượng nghị sĩ John Kerry) hay card carrying liberal - mang thẻ hội viên (ứng cử viên Bill Clinton, trong trường hợp này là Hội Tự do Dân quyền Mỹ, ACLU). “Liberal” về chính trị thì chỉ có thể là arch-liberal hay crypto-liberal, ấy, nhưng về kinh tế thì ta có neo-liberal.
Ở những nơi khác, về chính trị, phong trào liberal Canada khác với ở Australia hay Thuỵ Sĩ, ở Anh quốc khác với ở… Chad cho nên lại càng khó nói. Tên của cuốn sách The Conscience of a Liberal cũng là tên cuốn hồi ký của cố Thượng nghị sĩ bang Minnesota, Paul Wellstone. Đây là một trùng hợp, Wellstone được coi là một trong những chính trị gia và dân cử tiến bộ nhất của Mỹ. Ông qua đời vì tai nạn phi cơ vào năm 2002.
[3]Hai lãnh đạo của Tyco mang tội thâm lạm 150 triệu của công ty. Tổng giám đốc John Rigas của Adelphia dùng tiền của công ty để xây sân golf riêng, lấy 26 triệu của công ty sắm 1.500 héc ta đất trước cửa tư gia ông để cho thoáng tầm nhìn… Enron làm mất của người đầu tư 50 tỉ.
[4]Theo thành ngữ nổi tiếng “Lenin sống dậy mà xem/ Coi kìa chúng nó đã điên hết rồi”. Morgan là một dòng họ tỉ phú, là gốc của hệ thống tài chánh và ngân hàng J.P. Morgan Chase hiện nay, vào đầu thế kỷ XX, từng giúp vốn vào việc thành lập các đại công ty US Steel và General Electric.
[5]Tiền thưởng hay bồi dưỡng cho nhân viên của công ty dưới hình thức cổ phần ở một giá đặc biệt. Đương sự sau đó có thể quyết định mua (và bán lại) số cổ phần này khi cần thiết và khi giá thị trường cao hơn.
[6]Từ “camarade” để chỉ bạn đồng song, đồng lớp tại Pháp nhưng cũng được dùng để chỉ các bạn đồng chí trong một đảng.
[2]Tên sách để nguyên vì từ “liberal” khó tìm được được từ tương đương chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa trong tiếng Việt. “Liberal” ở Mỹ gần với nghĩa cấp tiến, tiến bộ phần chính trị, cởi mở và phóng khoáng phần thái độ và tư tưởng và hoàn toàn khác với nghĩa của cũng từ liberal này khi dùng trong lãnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, từ “liberal”, tuỳ theo đối tượng, còn có thể dùng để thoá mạ và thường để gán cho những nhân vật dè dặt với nhãn hiệu này. Thí dụ flip-flop liberal - chong chóng (Thượng nghị sĩ John Kerry) hay card carrying liberal - mang thẻ hội viên (ứng cử viên Bill Clinton, trong trường hợp này là Hội Tự do Dân quyền Mỹ, ACLU). “Liberal” về chính trị thì chỉ có thể là arch-liberal hay crypto-liberal, ấy, nhưng về kinh tế thì ta có neo-liberal.
Ở những nơi khác, về chính trị, phong trào liberal Canada khác với ở Australia hay Thuỵ Sĩ, ở Anh quốc khác với ở… Chad cho nên lại càng khó nói. Tên của cuốn sách The Conscience of a Liberal cũng là tên cuốn hồi ký của cố Thượng nghị sĩ bang Minnesota, Paul Wellstone. Đây là một trùng hợp, Wellstone được coi là một trong những chính trị gia và dân cử tiến bộ nhất của Mỹ. Ông qua đời vì tai nạn phi cơ vào năm 2002.
[3]Hai lãnh đạo của Tyco mang tội thâm lạm 150 triệu của công ty. Tổng giám đốc John Rigas của Adelphia dùng tiền của công ty để xây sân golf riêng, lấy 26 triệu của công ty sắm 1.500 héc ta đất trước cửa tư gia ông để cho thoáng tầm nhìn… Enron làm mất của người đầu tư 50 tỉ.
[4]Theo thành ngữ nổi tiếng “Lenin sống dậy mà xem/ Coi kìa chúng nó đã điên hết rồi”. Morgan là một dòng họ tỉ phú, là gốc của hệ thống tài chánh và ngân hàng J.P. Morgan Chase hiện nay, vào đầu thế kỷ XX, từng giúp vốn vào việc thành lập các đại công ty US Steel và General Electric.
[5]Tiền thưởng hay bồi dưỡng cho nhân viên của công ty dưới hình thức cổ phần ở một giá đặc biệt. Đương sự sau đó có thể quyết định mua (và bán lại) số cổ phần này khi cần thiết và khi giá thị trường cao hơn.
[6]Từ “camarade” để chỉ bạn đồng song, đồng lớp tại Pháp nhưng cũng được dùng để chỉ các bạn đồng chí trong một đảng.
Đỗ Kh.: Đây hẳn không phải là trường hợp của ông Cheney. Sau khi rời chức Tổng giám đốc Halliburton để làm Phó tổng thống, ông vẫn còn hưởng một số lương hằng năm được “trả chậm’’ (năm 2004 là 300.000 USD) và hơn 400.000 stock options trị giá 8 triệu vào năm 2005, chắc sẽ còn gia tăng. Đạo đức ở đây là một khái niệm hết sức mông lung.
Không nói đến đạo đức, hình như là các đại gia Mỹ đã mất ngay cả cái khiêm cung, phong cách giữ gìn, tế nhị và kín đáo của các thế hệ trước. Tôi dùng chữ “đại gia’’ là vì tình cờ thế nào, tuy có một khoảng cách lớn về mặt các con số tuyệt đối, cung cách của các vị này ở Hoa Kỳ và các vị tương đương ở Việt Nam ngày nay rất là giống nhau. Họ sỗ sàng và không biết ngượng. Một cô thiếu nữ Nhật, dù răng đẹp, khi cười vẫn lấy tay che miệng mà khúc khích. Đằng này, là cười hở mười cái răng… vàng! Không buồn đánh, buồn xỉa, buồn floss, nhưng răng bợ cũng không sao, răng vàng mà.
Tổng giám đốc DHB Industries nhờ bán áo giáp dưới tiêu chuẩn cho quân đội trong chiến tranh Iraq mà mở party tốn 10 triệu USD cho con gái 13 tuổi, có các thành viên cũ của ban Eagles tái ngộ để đến ca bài “Hotel California’’ chúc mừng! Giờ thì ông đang gặp rắc rối với luật pháp vì lường gạt quần chúng cổ đông (còn lường gạt Bộ Quốc phòng và áo giáp không đỡ được đạn thì là chuyện nhỏ và bình thường). Khi Đại sứ Mỹ tại Việt Nam phát biểu là thế hệ lãnh đạo Việt Nam sắp tới sẽ có đến 75% được đào tạo ở Hoa Kỳ thì tôi mong là các nhà lãnh đạo đó không được đào tạo bởi ông David H Brooks nói trên.
Sự sỗ sàng đã trở thành một giá trị của xã hội trong những thập niên qua. Chênh lệch giàu nghèo không ai buồn giấu nữa là bởi vì đã có một thay đổi lớn về mặt chính trị và mặt tâm lý của quần chúng. Tướng Eisenhower mà sống lại thời nay chắc là sẽ bị swiftboating [1] ngay thôi.
Nhưng tôi muốn nhân đây trở lại một vấn đề kinh tế đã được tác giả đề cập. Theo ông, chênh lệch thu nhập và tan rã của tầng lớp trung lưu điển hình của Hoa Kỳ không phải là một điều tự nhiên hay tất yếu, vì những lý do thường vẫn được viện ra. Như là những thay đổi kỹ thuật, tiến trình toàn cầu hoá, sự chuyển mình của xã hội tư bản từ tư bản kỹ nghệ sang tư bản tài chánh… Đây là giải thích của những nhà kinh tế mà Krugman gọi hiền lành là “những kinh tế gia không muốn gây chuyện’’. Theo những người này thì bất quân bình xã hội chỉ là một hiện tượng (tuy có đáng tiếc, hay có khi chẳng đáng cả tiếc) nhưng và bởi vì, không tránh khỏi được. Nói cách khác, vẫn theo những kinh tế gia này, đây là tai nạn, một loại collateral damage của phát triển!
Phạm Tùng Cương: “Cynic, chào mi’’, nói kiểu Sagan. Thái độ ngang ngược về mặt đạo đức của một số rủng rỉnh xã hội ngày nay (theo tôi là đã trở thành một “xã hội biểu diễn’’, bắt chước các thành phần biểu diễn để ai cũng trở thành “hot’’ hết, trong khi đừng quên là quý tộc tài sản tại châu Âu có câu: “Muốn sống hạnh phúc, phải sống kín đáo’’), cái ngang ngược này làm tôi nhớ lại câu thoại nổi tiếng của Jean Gabin trong phim La traversée de Paris: “Đồ chó đẻ nghèo!’’, đấy là phiên bản thời nay của câu nói của Brennus: “Khốn nạn cho người bại trận/ Vae victis’’.
Như trích dẫn phía trên của Paul Krugman đã cho thấy, ông khước từ thuyết tối thượng của kinh tế đối với chính trị: giai cấp trung lưu Hoa Kỳ sau Đệ nhị Thế chiến đã được tạo dựng trong vài năm trời từ số không (việc kiểm soát mức lương trong thời chiến cũng là một tác tố đáng kể). Sự bất bình đẳng ngày nay có nguồn gốc từ sự sa sút của những chuẩn mực xã hội và đạo đức hơn là từ các yếu tố như tiến bộ kỹ thuật hay toàn cầu hoá…
Hai thảo luận quan trọng trong Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa qua, theo tờ Economist số 13-19 tháng Mười 2007, là về tăng trưởng bất công xã hội và dân chủ… trong nội bộ của Đảng. Nếu Đảng bắt đầu luận về bất công xã hội thì có nghĩa là Đảng đang tìm những giải pháp chính trị để san bằng trước khi hiện tượng này trở thành đe doạ cho quyền lực.
Guy Debord (1931-1994) viết đâu đó trong Commentaires sur la Société du spectacle là xã hội tự do bao giờ cũng chỉ muốn được phê phán bằng cách so sánh nó với các đối thủ chứ không để cho ai phê phán trên những chính kết quả xã hội này đạt được. Với The conscience of a liberal, Paul Krugman đã vạch trần những kết quả thật của xã hội Mỹ.
Nhắc đến Debord, chắc anh còn nhớ phim võ hiệp Tàu đầu tiên mình từng xem chung ở Paris năm 1972, một bộ phim bị nhóm situationniste [2] dùng phụ đề tiếng Pháp để cướp thoại và có cái tên thú vị là Biện chứng pháp có chặt gãy được gạch thẻ hay không?. Câu trả lời của Paul Krugman là có, biện chứng của một chính sách kiên quyết giảm bớt chênh lệch, với đạo đức và đoàn kết xã hội, chặt gãy được những viên gạch thẻ của bất công bằng.
Đỗ Kh.: Tôi nhớ chứ, và nhớ phim thứ nhì, là một phim sexy Nhật Bản có đoạn tả hai cánh nữ sinh đánh nhau trong phòng vệ sinh của trường, xé áo và tốc váy nhưng phụ đề tiếng Pháp của các thoại lại là tranh luận về thuyết trị giá của Marx. Nhờ vậy mà tôi còn nhớ được phương trình c+s=W!
Phạm Tùng Cương: Anh có nói đến bảo hiểm y tế ở trên. Paul Krugman kể lại cho ta biết là khi F.D. Roosevelt thành lập chương trình An sinh Xã hội (tại châu Âu nhiều nước vào cùng thời có cả phần bảo hiểm y tế), ông ta không muốn có phần bảo hiểm y tế này ngay vào lúc đó vì tình thế chưa cho phép. Đến khi Truman muốn triển khai tiếp việc này thì thất bại, tuy các dự đoán đều thuận lợi, nhưng không phải tại Hội Y tế Mỹ lo (rất đúng) là một số thành viên của họ sẽ mất phần thu nhập mà chủ yếu là tại vì người da trắng nghèo ở miền Nam sợ rằng nếu có bảo hiểm cho tất cả mọi người, họ sẽ phải nằm chung viện với người da đen. Paul Krugman cho rằng vấn đề chủng tộc rất quan trọng trong việc giải thích các hoàn cảnh chính trị và xã hội Hoa Kỳ.
Đỗ Kh.: Theo tác giả thì vấn đề màu da là lý do chính khiến Hoa Kỳ cho đến giờ chưa bắt kịp các nước phát triển khác (châu Âu, Canada, Nhật…) về mặt xã hội. Ông có nhắc lại câu chuyện mà Reagan kể khi ra tranh cử, về một “Nữ hoàng trợ cấp xã hội’’ lãnh tiền nhà nước sắm xe Cadillac. Reagan không cần nói ra nhưng theo Krugman, cử toạ cũng đoán được bà này da màu gì (nếu bà này có thật thì tôi còn đoán được cả là xe Cadillac này màu gì).
Đây là động cơ (sic) để quần chúng da trắng chống lại các chương trình xã hội, mặc dù cư dân da trắng nghèo của các tiểu bang miền Nam sẽ là những người đầu tiên cần đến các chương trình y tế. Gần với chúng ta hơn, là di dân gốc Việt (và đi xe Lexus). Đợt di tản 1975 dưới thời Ford (ngắn ngủi), họ đã được nhận nhiều giúp đỡ xã hội chính đáng và cần thiết khi định cư tại Hoa Kỳ và đó cũng là nền móng của sự vững chãi của cộng đồng ngày nay. Đến thời Reagan, thuyền nhân sang đến Mỹ đã phải tiếc thuở vàng son dưới thời Carter và sang đến giai đoạn HO thì trở thành nỗi buồn.
Dĩ nhiên là theo tờ National Review, đất thép thành đồng của tư tưởng cực hữu, thì Paul Krugman là người hô hào đấu tranh giai cấp và xã hội chủ nghĩa chí ít là ngang với Proudhon. Xã hội chủ nghĩa ở đây được định nghĩa bởi một quan chức Đảng Cộng hoà tại Texas như thế này: “Cái tư tưởng y tế miễn phí, giáo dục miễn phí, cái gì cũng miễn phí là từ đâu ra? Từ Moscow, từ Lenin! Từ hố sâu của địa ngục!’’.
Có lẽ vì vậy mà cộng đồng người Việt ở Mỹ, phần lớn, lớn nhiều hay lớn ít thì tôi không rõ, nhưng có thể nói là phần lớn, vì không ưa Lenin chăng, nên đâm ra ủng hộ các thành phần chính trị đe doạ các chương trình xã hội có từ thời New Deal của Roosevelt hay là Great Society của Johnson, lại là các chương trình chúng ta cần đến và được hưởng.
Chỉ cần lái xe dọc Bolsa là thấy các bảng hiệu văn phòng bác sĩ đề nhận Medicare, Medicaid, có chương trình phát sữa cho trẻ em, cao niên, các chợ Việt đều nhận foodstamp. Nhưng có lẽ chúng ta lại sợ đây là để cho người di dân Mễ lạm dụng? Nếu ý thức hệ “thị trường tự do’’ được mặc sức tung hoành thì chí ít các văn phòng bác sĩ và các chợ phải thay bảng hiệu và chữa thành “nơi đây chỉ nhận cash’’. Tiền mặt là bởi vì ngay cả credit nghe đâu là hiện nay cả nước đang có vấn đề.
Phạm Tùng Cương: Tuy nhiên, sau khi G.W. Bush được tái cử, Paul Krugman thấy có nhiều lý do để hy vọng, như Dân chủ chiếm đa số tại Thượng và Hạ viện và sự bắt đầu khả thi của những chính sách mới: “Thời của một thế giới đã hết bắt đầu’’ như câu rất đẹp của Paul Valery (1871-1945). Paul Krugman phác họa một chính sách mới để giải quyết cấp bách những vấn đề đang tồn tại của bảo hiểm sức khỏe và kê khai sơ luợc những tổn phí do chênh lệch gây ra cùng với chi phí của những chính sách sửa đổi các chênh lệch này. Ông kết luận: một chính sách công bằng hơn hiện nay là điều khả thi. Và thời kỳ đó sẽ là một thời kỳ “Great Moderation’’ (dung hoà lớn) hơn là một thời kỳ “Great Compresion’’.
Đây không phải là chuyện hắt đứa bé Mỹ đi cùng với chậu nước bẩn mà là sửa sai những sự lạm dụng và tiêu trừ các chênh lệch để trả các từ “tự do’’, “công lý’’, “công bằng’’ và “đoàn kết’’ về đúng nghĩa của chúng. Trong một nền dân chủ thực sự, phải có tiếng nói phê phán những sự việc trái. Tuy nhiên, tự do phát biểu cũng chẳng phải là một trong những hình thái của dân chủ. Ở Việt Nam hay ở Trung Hoa, ai muốn phát biểu gì thì cứ phát biểu, chỉ có là sau đó thì có người vào tù. Cái tự do sau khi đã phát biểu mới là tất yếu. Từ trước đến nay, sức mạnh của các xã hội dân chủ và tự do vẫn ở chỗ các xã hội này biết đến, dù là một cách tự nguyện hay là không tự nguyện, các phê phán để thay đổi và... tồn tại lâu dài.
Đỗ Kh.: Anh nói làm tôi nhớ đến một chuyện tiếu lâm ở Liên Xô cũ: Tốt nhất là đừng có suy nghĩ. Nếu suy nghĩ thì đừng có phát biểu. Nếu phát biểu thì đừng có viết ra. Nếu viết ra thì đừng có k‎ý tên. Và nếu ký tên thì đừng có trách!
Nhưng tự do phát biểu, tự do báo chí ở xã hội tự do, nếu một người mà sở hữu 170 tờ báo trên thế giới, cộng với 50 đài truyền hình dưới biển trên trời và ngay tại Trung Quốc nhé, thì ta cũng phải dè dặt. Còn công bình thì sao? Tại sao lại phải công bình? Cái này (chắc) cũng là “cộng sản’’ nốt! Công bình về mặt kinh tế được Krugman coi là một điều kiện của dân chủ. Người lợi tức thấp tại Mỹ bị đẩy ra khỏi sinh hoạt dân chủ, điển hình nhất là trong việc bỏ phiếu.
Nếu về y tế, xếp hạng của Hoa Kỳ làm cho Costa Rica có thể hãnh diện thì kỳ bầu cử năm 2000 làm cho các quốc gia châu Phi phải bật cười. Đến đây, tôi phải nói ngay là tôi không có ý so sánh gian lận bầu cử tại Mỹ ngang với gian lận bầu cử tại Nigeria, tuy là… Khi tài sản và sở hữu tập trung ở mức độ như hiện nay thì sinh hoạt dân chủ tại một nước có truyền thống và pháp quyền như là Hoa Kỳ cũng bị sai lệch và méo mó.
Krugman nêu thí dụ một đạo luật thuế má được duy trì bởi đại biểu của cả hai đảng mặc dù nó chỉ có lợi cho các nhà quản lý quỹ đầu tư (hedge funds manager). Tuy bớt (2 tỉ) thuế cho có 25 người trên toàn nước Mỹ nhưng đặc quyền thuế má này được để yên vì dù thuộc đảng nào thì các đại biểu cũng đều cần có quỹ ủng hộ tranh cử. Trong nền dân chủ Mỹ, nếu người nghèo ít đi bỏ phiếu (tức là trên thực tế phiếu của họ “nhỏ’’ hơn là các tầng lớp ở trên) thì ra tranh cử phải có quỹ rất là giàu. Đến độ còn hơn một năm nữa mới đến bầu cử tổng thống nhưng ứng cử viên nào quỹ to nhất kể như là đã (gần) thắng! Đà này mà tiếp tục, khỏi cần cử tri đi bầu làm gì, các ứng cử viên chỉ việc gây quỹ ủng hộ, ai có nhiều tiền nhất thì nhậm chức luôn cho giản tiện.
Phía Đảng Dân chủ chẳng hạn, bà Clinton và ông Obama suýt soát nhau 90-80 triệu, đa số là nhờ ủng hộ từ 1.000 USD trở lên. Ở dưới bảng, ông Kucinich có 2 triệu và ông Gravel 200.000, đa số là ủng hộ từ 200 USD trở xuống. Không có nhà quan sát nào tiên đoán hai vị này sẽ được Đảng Dân chủ uỷ nhiệm cả, tất nhiên. Nhưng không có tiền ủng hộ thì vẫn có thể bỏ tiền túi, với điều kiện là túi có tiền như Mitt Romney. Quỹ để tranh cử của ông này hiện giờ là 60 triệu, trong đó 15 triệu là tiền riêng của ông. Steve Forbes trước đây, Michael Bloomberg… đều ở trong trường hợp may mắn này. Nhưng tiền người ta cho hay tiền của chính mình, không có quỹ thì đừng hòng tranh cử.
Không thể ví von bầu cử Mỹ với bầu cử Việt Nam (!) cũng như không thể ví von Mỹ với Việt Nam nhưng ngắn gọn, ở Việt Nam phải được Đảng cho phép, giới thiệu, thì mới được ra ứng cử còn ở Mỹ giới thiệu và phép là ở tiền! Lạ thay, ở hai thái cực này (vì đây là hai thái cực), trong khi tại Mỹ, tiền ngày càng gần lại với Đảng Cộng hoà thì tại Việt Nam, Đảng Cộng sản ngày càng gần lại với tiền!
Phạm Tùng Cương: Điều anh vừa nói làm tôi nhớ lại vài giai thoại thú vị. Khi tôi còn trên ghế trường HEC, một hôm, có vị khách là một trong những lãnh đạo (nhưng không phải sáng lập viên) của công ty Club Med, một người Pháp được đào tạo tại Harvard Business School. Trong các phát biểu, ông có lúc nói là Club Med có thể chấm dứt đấu tranh giai cấp với cách tổ chức, phương thức và phong cách hoạt động của công ty này. Thật vậy, khi một cô thư k‎ý và một Tổng giám đốc (loại người này tôi không biết có đến Club Med chăng?) nằm cạnh nhau trần một nửa người trên một bãi biển Djerba, Corfu hay là Phuket, thì nhất định “đấu tranh giai cấp’’ cũng phải nghỉ xả hơi.
Đỗ Kh.: Nói tới Club Med, công ty này đang chết dở và Tổng giám đốc cuối mà tôi nghe nói đến cách đây vài năm lúc công ty đã ngắc ngoải, Cương biết là ai không? Henri Giscard d’Estaing, con của Tổng thống Pháp bấy giờ, mà chính anh đã có lần chỉ cho tôi thấy “Riton’’ này tại sân trường Sciences Po.
Phạm Tùng Cương: Đáng lẽ ra mình đã nên làm thân với hắn và bao y đi uống cà phê vào dạo ấy, giờ biết đâu cả hai đứa chúng ta được hắn mời lại Club Med để chứng kiến “đấu tranh giai cấp’’ đang ngừng lại để xả hơi. Thôi thì lúc trẻ mình dại là như vậy. Trở lại với đề tài chênh lệch.
Cũng như là nói ở Việt Nam không có chênh lệch xã hội vì ông Trương Gia Bình thỉnh thoảng đi ăn một tô “phở gia truyền’’ ở Cửa Đông, Hà Nội, một nhà hàng có cả khách đạp xích lô (được biết đương sự và đã có nhiều bận dùng chung bữa, tôi nghĩ đây là một tình huống rất có thể xảy ra chứ không phải là không). Đây là một cảnh hài hoà xã hội, người nghèo cũng được ăn cùng một thứ phở với người giàu. Nhưng sau khi hết tô thì ông Bình lên xe con lộng lẫy để tài xế lái còn anh đạp xích lô hết tô thì lại leo trở lại lên cái xích lô cà tàng.
Một số người vẫn lẫn lộn chênh lệch thu nhập và chênh lệch xã hội xét từ một tình huống công bằng xã hội nào đó biệt lệ và phù du. Nếu sự khác biệt khổng lồ giữa các thu nhập không mang lại những bất công xã hội lớn thì cũng chẳng nói làm gì. Nhưng chúng ta đều biết là không phải vậy.
Paul Krugman trích một đoạn tỏ tường của cuốn Richistan: A Journey Through the American Wealth Boom and the Lives of the New Rich (Crown Publishers, 2007) của Robert Frank:
Người giàu ngày nay đã thành lập một nước riêng. Họ tạo dựng một thế giới biệt lập cho chính mình, đầy đủ với hệ thống sức khoẻ (bác sĩ trực cửa), hệ thống du lịch (Net Jets, câu lạc bộ nghỉ mát), kinh tế… Người giàu không phải chỉ giàu lên thêm; họ đang trở thành những ngoại nhân tài chánh, thành lập một quốc gia riêng bên trong lòng quốc gia, một xã hội riêng của họ bên trong lòng xã hội, và một nền kinh tế riêng bên trong long kinh tế.
Paul Krugman kể là ông Rudy Giuliani, ứng cử viên tổng thống Cộng hoà năm 2008, từng phát biểu hệ thống y tế Mỹ là hệ thống “tốt nhất thế giới’’. Vừa rồi, tôi cũng nghe một cô y tá tại văn phòng bác sĩ của tôi nói như vậy.
Hệ thống y tế Hoa Kỳ được WHO xếp hàng 37 trên thế giới. Theo các con số của tổ chức này, hệ thống Mỹ “nhất thế giới’’ về mặt tổn phí:

 

Phí tổn đầu người
2004 (USD)

Tuổi thọ trung bình
2004 (số năm)

USA

6 102,00

77,5

CANADA

3 165,00

80,2

PHÁP

3 150,00

79,6

Tất nhiên, điều này không chỉ ảnh hưởng đến bình diện y tế và xã hội mà còn cả bình diện kinh tế nữa. Tính trung bình, một chiếc xe con do General Motors sản xuất, phần chi phí bảo hiểm y tế là hơn 1.500 USD so với 200 USD cho một chiếc xe con Toyota.
Sự hoài niệm giai cấp trung lưu của Paul Krugman được nuôi dưỡng bằng những l‎ý do xã hội, đạo đức nhưng trước hết là bởi những lý do kinh tế. Hoài niệm này nhắc lại những nguyên tắc của các vị “Cha già lập quốc” của Hoa Kỳ. Vào tháng 10 - 1785, Thomas Jefferson [3] viết trong thư gửi James Madison [4] : “địa chủ tiểu nông là thành phần quý báu nhất của quốc gia.”
Ta thấy cái nhìn sáng suốt của Thomas Jefferson vào giai đoạn xây dựng nước Mỹ: một quốc gia không có tầng lớp trung lưu không thể phát triển được, chẳng khác gì một thân thể chỉ có đầu và tay chân mà không có mình. Ngày nay, theo tôi nghĩ, một trong những đặc tính lớn nhất của xã hội chậm tiến là không có một giai cấp trung lưu đa số. Thử nhìn các xã hội châu Phi, Trung Quốc, Việt Nam. Đằng sau những cao ốc hiện đại, những cửa hàng xa xỉ, đằng sau ánh đèn của những thành phố sôi động thì có gì? Cuộc sống thường nhật của người dân bản địa vô danh như thế nào? Hệ thống chăm sóc y tế của họ như thế nào? Hệ thống giáo dục của con cái họ ra sao? Và tổn phí ra sao?
Ta nên ngờ vực những thủ thuật của Xã hội biểu diễn được các chế độ chính trị hay những nhà chính trị dùng.
Đỗ Kh.: Tờ trình của Ngân hàng Phát triển châu Á về bất quân bình cho thấy vấn đề này có tăng truởng đôi chút tại Việt Nam trong thập niên 1990-2000. Chỉ số Gini năm 2004 là 37.1, chưa đạt tầm của Mỹ (46.4) hay Trung Quốc (47.3) nhưng đã vượt Pháp (27) Đức (25) hay Nhật Bản (31.9), Hàn Quốc (31.6). Điều lo ngại cho tương lai là đà tiến của chiều hướng này tại nước ta, rập mẫu của Trung Quốc trên một thập niên về trước! Và nếu nhìn Nga (chỉ số 40.5) thì bức tường Berlin có đổ hay Vạn lý Trường thành có đứng vững thì về mặt này cũng vẫn thế. Từ đâu nảy ra một đám tỉ phú USD, là điều rất tốt, nếu không có cùng lúc cả triệu người bần hàn cũng từ đâu đó bò lết ra một lượt làm tắc cả chợ người.
Như Krugman cho thấy trong trường hợp của Mỹ, điều này xảy ra được vì chính sách tạo ra chênh lệch được quần chúng chấp nhận, cổ võ và tán thành, tất nhiên là bởi vì chính sách này được khéo léo nguỵ trang, chứ chẳng lẽ lại nói trắng ra là lấy tiền của người nghèo mang cho người giàu! Ông dẫn Thomas Frank (What’s the Matter with Kansas, Metropolitan books, 2004):
“Bỏ phiếu để nhà nước bớt can thiệp vào đời sống cá nhân thì nhận được các tập đoàn tụ hợp và độc quyền trong mọi lãnh vực, từ truyền thông cho đến hãng thịt. Bỏ phiếu để đối phó và cứng rắn với khủng bố thì nhận được nỗ lực tư hữu quỹ an sinh xã hội. Bỏ phiếu để giáng một đòn cho ưu tú chủ nghĩa thì nhận được một trật tự xã hội có tài sản tập trung như đời của chúng ta chưa bao giờ được thấy, nơi mà người lao động bị tước quyền và các Tổng giám đốc được tưởng thưởng ngoài trí tưởng tượng.’’
Đỗ Kh.: Tại Nga, tại Trung Quốc và tại Việt Nam tôi thấy cũng chẳng khác, chênh lệch được dẫn khéo như là một quy luật của phát triển và kỹ thuật. Về mặt xã hội, tinh vi chẳng kém, là việc truyền thông hoá loè loẹt, phường tuồng hoá, mang làm gương lối sống “cao cấp’’ của minh tinh và đại gia. Ngày nay, ta “ra ngõ gặp tỉ phú’’, nếu không thì giở tờ báo nào ở trong nước cũng gặp được. Về mặt tư tuởng, thì các tầng lớp ưu tú đã phát hiện ra Friedrich von Hayek (“tự do’’ hay đúng hơn là “tư do’’, không có dấu nặng), các nhà kinh tế sẽ khám phá ra ngay Milton Friedman thôi (“thị trường tư do’’). Đã có một bước tiến lớn, từ cái cười của ông Phạm Văn Đồng đến cái cười của ông Nguyễn Tấn Dũng (tôi nghĩ là ông cười mỉm dễ thương là vì trong đầu ông đang nghĩ đến sự hài hoà giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Free Market). Chẳng phải tình cờ mà cả chủ tịch Trung Quốc lẫn chủ tịch nước ta sang công du Mỹ đều đến thăm Bill Gates thay vì tìm một anh hùng lao động như thuở nào đó để ôm chầm và tặng huân chương.
Nếu Việt Nam giờ có “xưởng đẻ’’ tính 5.000 USD một ca sản phụ thì nền y tế công cộng cùng lúc đó lại xuống cấp trầm trọng. Nếu có hàng ngàn sinh viên du học nước ngoài (75% lãnh đạo tương lai như Đại sứ Mỹ phát biểu) thì nền giáo dục cấp 1 hay cấp mẫu giáo hiện nay ra sao? Mấy ngàn hay mấy mươi ngàn anh chị này vừa cầm cặp lên phi cơ thì có bao nhiêu thanh thiếu niên thiếu nữ ở nông thôn lên thành phố làm ô sin cửu vạn? Tôi tin là luật đội nón bảo hiểm lần này (15.9.2007) sẽ đuợc quần chúng hưởng ứng rộng rãi. Trước đây, luật này có ban hành nhiều lần nhưng không được chấp hành nghiêm chỉnh có lẽ vì đi ra đường chưa ai sợ bị tai nạn do các đại gia cầm tiền tỉ ném nhau và lỡ trúng vào mình lỗ đầu?
Đã có một bước tiến lớn, ngày trước, nhà thơ làm kinh tế đã là buồn cuời, ta còn cười chưa kịp khép miệng lại thì Khmer Đỏ đã mở ngân hàng đầu tư và công ty khuyết danh.
Phạm Tùng Cương: Những nghiên cứu hiếm hoi về chênh lệch tại Việt Nam cũng đề cập đến vấn đề anh nói đến. Chẳng hạn trong Vietnam Inequality Report 2005: Assessment and Policy Choices, Mekong Economics Ltd. Synthesis Paper of the “DFID Drivers of Inequality in Vietnam Project”:

… trình độ và mức độ tăng trưởng về chênh lệch không khác với những gì đã xảy ra tại Trung Quốc vào đầu thập niên 90, vào lúc bắt đầu một thời kỳ “phát triển không đồng đều” cường độ và dài hơi, được nhiều nhà phân tích và quyết định chính sách coi như là sự thể hiện phần nhiều tình trạng bất an ngày càng gia tăng ở nông thôn tại đây. Chuyện những chiều hướng hiện nay sẽ nâng Việt Nam (như Trung Quốc trước đây) nhảy vọt vào nhóm quốc gia châu Á tương đối có chênh lệch cao trong vòng 10-15 năm nữa là điều khả tín.
Tại Việt Nam, tăng trưởng chênh lệch đo dược trong khoảng thời gian 1993-1998 là do cách biệt mở rộng giữa nông thôn và thành thị. Nhưng trong thời gian 1998-2002, phần lớn tăng trưởng là do cách biệt ở ngay tại thành thị và cách biệt ở ngay tại nông thôn.
Trong bức tranh tổng quát của chênh lệch đang lên cao tại Việt Nam, một số vấn đề nổi cộm ở mức độ báo động.
Một nhóm nòng cốt những người nghèo - đặc biệt là các dân tộc thiểu số - hiện hữu khó khăn bên cạnh một giai cấp mới thành lập siêu-giàu, và điều này có thể đe dọa sự ổn định xã hội và chính trị, nhất là cộng với cảm nhận về tham nhũng tràn lan như vẫn thấy tường thuật trên các báo tại Việt Nam..
Đây không phải là sự phê phán những người siêu-giàu (càng tốt thôi vì có bao nhiêu siêu-giàu là bớt đi bằng ấy người nghèo), mà là hiểu những chênh lệch thu nhập và chênh lệch xã hội trong một xã hội nhất định để từ đó tạo dựng những chính sách sửa sai thích nghi. Tôi cho rằng sẽ rất hay nếu có được một nghiên cứu về chênh lệch tại nước ta từ lúc thống nhất đến ngày nay như Thomas Piketty và Emmanuel Saez [5] đã từng thực hiện đối với nước Mỹ. Như vậy, sẽ có thể đưa ra được những chính sách xã hội thích ứng hơn.
Trong khi chúng ta đang nói chuyện thì Ngân hàng Doanh nghiệp Merrill Lynch sa thải Chủ tịch và Tổng giám đốc Stan O’Neal, sau khi thông báo dự phòng thâm thủng kế toán trong tương lai sẽ là 8,4 tỉ USD. Ông O’Neal, lương năm 2006 nhận khoảng 48 triệu, ra đi lại được tiễn chân bằng 161,5 triệu mặc dù không có tiền sa thải vì chính thức là ông được “về hưu’’. Các cổ đông của công ty thì hát bài “Buồn ơi, ta xin chào mi, khi tiền Merrill Lynch nó bỏ ta đi’’ . Nói thêm, O’Neal là hậu duệ của người nô lệ và người da màu duy nhất ở một chức vụ đình đám như vậy tại Wall Street, sau khi đi lên từ đồng gòn Alabama, từ nhà máy General Motors và từ trường Harvard B.S. Tiếc thay, cả anh lẫn tôi sẽ không bao giờ lại được sa thải vì lý do “kinh tế’’ như vậy. Để kết luận, tôi đề nghị các nhà lãnh trọng trách kinh tế nước ta nên đọc quyển sách này của Paul Krugman, chỉ tốn có 15,75 USD với Super Saver Shipping miễn cước phí của Amazon.com ở Mỹ. Chắc chắn là sẽ ít tốn kém hơn mà lại cũng tốt hơn là trả tiền mấy tay tư vấn nước ngoài để điều nghiên vấn đề này. Đây cũng là một biện pháp góp một phần vô cùng khiêm tốn vào việc giảm thâm thủng kéo dài của Ngân quỹ nhà nước Việt Nam.
Chú thích:
[1] Từ này nói rộng dùng để chỉ chiến thuật đặt điều bôi nhọ đối thủ chính trị, sau khi được dùng để đánh ứng cử viên John Kerry thành công về thời gian ông phục vụ trong quân đội trên một giang tiểu đỉnh (swiftboat).
[2] Phong trào chính trị và nghệ thuật tại châu Âu trong thập niên 50 và 60 chống lại lao động tha hóa, chống lại biểu diễn nâng thành quan hệ xã hội giữa con người, truyền thông hoá bằng hình ảnh và từ chối mọi tha hóa của cá nhân. Guy Debord là một trong những người tiền phong của phong trào này.
[3] Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ (1801-1809), tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập (1776), người bảo vệ các lý tưởng của Cộng hoà và một trong những Cha già Lập quốc quan trọng nhất.
[4] James Madison (1751–1836), chính trị gia và tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ (1809-1817), một trong những Cha già Lập quốc. Ông là tác giả chính của Hiến pháp Mỹ.
[5] Piketty T., Saeze.: “Income inequality in the United States, 1913-1998’’, Quarterly Journal of Economics, vol. 118, no 1, 2003, p. 1-39.
4/12/2007
Đỗ Kh. - Phạm Tùng Cương
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...