Mỗi năm đến tháng tư là tâm trạng tôi cứ man mác nỗi tiếc
thương. Những kỷ niệm từ 48 năm trước hiện về rõ nét dù lòng không muốn nhớ. Không muốn nhớ bởi những ngày đen tối ấy chẳng những đã giáng
tai ương cho cuộc sống của gia đình tôi và chính bản thân mà còn gieo tang tóc
chia lìa cho hàng triệu người dân miền Nam Việt Nam yêu chuộng Tự Do nói chung. *Ngày 26.04.75 Ðể đến trường Văn khoa học, tôi đều phải đi ngang Ðại Sứ Quán
Mỹ trên đường Cường Ðể. Từ mấy tuần qua, thấy người ta đứng sắp hàng rồng rắn
trước cổng, mỗi ngày mỗi dài ra mỗi nhiều thêm lên. Lúc đầu tôi thắc mắc không
hiểu, sau mới biết là họ đến ghi tên xin đi Mỹ. Rồi trên đường phố thấp thoáng
chỗ nầy chỗ nọ bóng dáng nhiều người mặc quân phục VNCH hơn thường lệ. Rất nhiều
người từ miền Trung chạy loạn đổ xô vào, trong số có gia đình các người bạn học
quê Qui Nhơn, Huế, Quãng Ngãỉ Tôi quyết định bỏ trường, ra xa cảng miền Tây mua vé xe đò về
quê cách 250 km với mục đích kể cho ba má nghe những gì tôi chứng kiến cùng những
gì dư luận bàn tán về cuộc chiến, định thuyết phục ba má tìm đường ra đi. Bởi
chúng tôi sống ở một tỉnh có bờ biển lẫn sông rạch kinh ngòi chằng chịt nên việc
ra đi lúc ấy rất dể dàng như đi dạo chơi. Chỉ cần đến bến tàu, xuống thuyền trả
tiền cho tài công thuê họ chở đến nơi hạm đội của Mỹ chờ sẵn ngoài khơi gần đảo
Phú Quốc, là thoát hiểm hoạ. Ngày 27.04.75 Vì chị ba và em gái thứ năm vẫn còn ở lại Saigon, hai người
vương vấn người yêu nên còn nấn ná? má kêu chị hai sáng hôm sau nghỉ làm (chị
là thư ký cho ty Thông Tin nơi ba tôi đảm trách) đi Saigon đón hai người và thu
xếp đồ đạc về hết quê không được nấn ná. Sáng 5 giờ chị hai ra đi, gần chiều đã
thấy chị quay về một mình, thì ra hôm qua chiếc xe đò chở tôi buổi sáng đi qua
Cai Lậy an toàn đến trưa Cộng quân tấn công với đạn, pháo, mìn, súng? người chết
rất nhiều, đoạn đường bị chận không thể qua lại. May mà chuyến xe tôi đi sớm,
chứ không ai biết có thể chiếc xe bị trúng đạn pháo hay mìn thì giờ nầy tôi đâu
ngồi đây mà kể chuyện. Nhà tôi nằm ở ngoại ô quận cách tỉnh 7km, mặt trước nhà là
liên tỉnh lộ nối dài Long Xuyên, Cần Thơ, Vĩnh Long, Saigon. Bên kia con đường
là sân bay nhỏ dân sự lẫn quân sự chạy dài từ Cầu Hoằng ngút đến tận Ngã Ba.
Nhà chúng tôi nằm giữa đoạn sân bay ấy. Xa hơn phạm vi phi trường là các đồng
lúa xanh ngút ngàn của nhiều nông gia, trong số ấy có của ông bà Ngoại tôi.
Phía sau nhà là dòng sông hiền hoà mà chiều chiều khoảng 5 giờ, nhiều chiếc
giang đỉnh chở khoảng chục người chiến sĩ trên mỗi chiếc, có cả cố vấn Mỹ chạy
ngang nhà vào tận các làng mạc xa xôi cho đến tận sáng hôm sau mới chạy trở về
căn cứ, thỉnh thoảng có những chiếc bị bắn chìm, và người lính đi chiều hôm trước
không bao giờ trở về sáng hôm sau. Ba tôi ban ngày vẫn ra ty- ngoài tỉnh- làm việc bình thường.
Trưa, tối về ăn cơm, nhưng bắt đầu từ tháng ba, mỗi tối ba vào dinh quận cách
nhà tôi gần 1 km ngủ. Bởi từ sau tết, bên kia sông đoạn giữa Cầu Quây và mộ ông
Hội Ðồng Suông, một nơi khá hoang sơ là căn cứ địa của?bọn họ?, cứ vài buổi tối
là họ lén lén lút lút ra phát loa ra rả đòi tiêu diệt nhiều sĩ quan công chức,
mà trong số đó có tên ba tôi. Gần sáng thì thụt trốn đâu mất dạng. Ngày 28.04.75 Lần này đích thân Má đi Saigon để tìm hai con gái bị kẹt trên
ấy. Cũng như chị hai, đến chiều lại quay về vì có trận đánh lớn gần Saigon cắt
giao thông hoàn toàn. Ba má lo lắng, nỗi bất an hằn rõ rệt trên gương mặt. Lúc ấy
chưa có điện thoại nên không sao liên lạc được. Má như ngồi trên đống lửa. Ngày 29.04.75 Má may mười bao vải nhỏ cho mười thành viên trong gia đình, gồm
ông bà Ngoại, Ba Má, và sáu chị em tôi. Xếp vào mỗi bao mấy bộ quần áo cho từng
người, vật dụng cần thiết, giấy tờ khai sinh, bằng cấp học lực, ít tiền?nói để
khi cần thì bao của ai người ấy mang đi cho nhanh. Cách nhà tôi hơn nửa cây số có căn cứ của quân chủng Hải
Quân. Bình thường họ có quyền ra ngoài sinh hoạt những lúc không phải đi hành
quân trên các giang đỉnh siêu nhẹ nhưng vận tốc nhanh lướt trên các con sông,
hay dòng kinh rất tiện lợi. Lúc tôi còn học ở quê nhà, đều nhìn thấy họ mỗi
ngày. Bây giờ họ túc trực ngày đêm trong doanh trại không thấy xuất hiện ngoài
đường phố nữa. Ngày 30.04.75 Khoảng nửa đêm ngày 29.04 rạng sáng 30, mọi người đang ngủ bỗng
choàng thức bởi nhiều tiếng súng, xen tiếng đạn pháo liên hồi từ phía cánh đồng
bên ngoài phi trường bắn vào tới tấp chung quanh nhà chúng tôi và chắc chắn là
cả nhà hàng xóm nữa. Ông bà Ngoại, Má kêu mấy chị em tôi mau ra khỏi mùng chạy
núp vào góc kẹt của bồ lúa ở sau nhà bếp. Bao nhiêu năm chiến tranh, chúng tôi đã thường xuyên nhìn thấy
nhiều bộ quân phục các quân chủng VNCH của họ hàng, thân thuộc, bạn hữủcác xe
thiết giáp, xe jeep, GMC, trực thăng, chiến đấu cơ, chiến hạm, giang đỉnh xuất
hiện mọi nơi, mọi lúc nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi nằm trong tâm điểm của
trận chiến trực tiếp giữa hai phe đối lập. Nghe tiếng súng bắn gần bên tai như
thế. Bàng hoàng, kinh hãi không sao tả hết. Tôi cứ kêu thầm trong đầu: VC đã mò
tới đây rồi sao? Họ có tìm giết chúng tôi? thuộc thành phần có cha làm công chức?
như họ đã làm trong trận Mậu Thân 1968 Huế không? Trời sáng, đã thấy rõ mặt người. Lợi dụng thỉnh thoảng tiếng
súng hơi lơi, Ngoại, Má và cậu em trai ra trước nhà hé mở cánh cửa sổ quan sát.
Nghe tiếng Má thảng thốt kêu nho nhỏ: -Trời ơi, có mấy ông đội nón cối nằm bên kia vệ đường bắn vào
nhà dân kìa. Ðóng cửa chặt lại, vào chỗ núp cho mau. Chúng tôi quá sợ hãi, chui trở lại vào cạnh bồ lúa. Nếu họ có
bắn từ đàng trước vào thì đã có bồ lúa cao chất ngất ngăn che. Trời càng sáng rõ thì âm thanh lửa đạn càng ròn rã. Bây giờ
chúng không phải chỉ đến từ phía cánh đồng mà mọi phía: Từ căn cứ Hải quân, từ
dưới sông các chiếc giang đỉnh bắn đáp trả. Ðến trưa thì tiếng súng, tiếng pháo lớn càng liên tu bất tận,
chúng tôi nằm dí một góc không dám cục cựa. Một tiếng nổ thật lớn ngay nhà dì ba kề bên, rồi nghe tiếng
dì khóc nấc lên kinh hoàng, kêu cứu má tôi: -Trời ơi là trời chị hai ơi, bé Mai Chi bị trúng thương chết
rồi chị hai ơi. Con ơi là con ơi. Sao con bỏ ba má mà đi sớm vậy hả con ơi. Dì ba là em họ dì với má tôi, chồng dì hạ sĩ quan đang làm
nhiệm vụ tuyển mộ tân binh ở tỉnh. Sau, dì kể là một mảnh đạn cối bay lạc, văng
miểng trúng vào ngực con bé 11 tuổi, bé hộc lên một tiếng nhỏ rồi hồn lìa khỏi
xác, trong miệng vẫn chưa kịp nuốt củ khoai lang dì nấu ăn tạm cho qua cơn đói.
Còn dì thì trúng thương ngay chân và bụng, máu chảy lênh láng. Thế là dì cùng bốn con trai còn lại từ 15,13, 9, và 3 tuổi
chân thấp chân cao băng qua mảnh sân sau mò mẫm qua nhà chúng tôi. Thêm mười mấy
người hàng xóm ở gần nhập chung. Thế là có hơn hai chục người dồn đống, kẹt bồ
lúa không đủ chỗ nên chia nhau chui nằm dưới chiếc giường sắt kê cạnh. Má tôi
xé áo băng tạm vết thương cho dì, chứ không còn cách nào khác. Ngày thường Mai Chi học chung, chơi chung với em gái út 10 tuổi
của tôi. Giờ chứng kiến cái chết quá bất ngờ thương tâm bởi miểng đạn vô tình,
và máu me đầy người của dì ba, em tôi khóc la thất thanh, khiến mọi người đều
rúng động tâm can. Tiếng súng nặng, nhẹ vẫn dồn dập không ngớt, ngoài đồng bắn
vào, dưới sông trả đũa bắn lên, nhà dân ở giữa lãnh đủ. Linh cảm sự chẳng lành
nếu cứ trốn trong hóc bồ lúa, Ngoại và hai người hàng xóm liều mình chạy xuống
mé sông, ngẫu nhiên có chiếc tàu nho nhỏ dùng chuyên chở hàng hoá, thực phẩm của
ai neo đậu ngay bến nhà tôi, bèn thúc giục mọi người dìu nhau nhảy xuống, nằm rạp
dưới lòng tàu. Ðạn lớn nhỏ thi nhau rớt chung quanh chiếc tàu, có lúc tung toé
cả vào mặt mũi chúng tôi. Người lớn thay nhau dùng chèo, chống qua bên kia bờ, thoát
ngoài tầm đạn giao tranh mà không ai bị trúng đạn, đúng là phép lạ. Dì ba bị
thương nặng không thể đi, má tôi và cậu em trai 15 tuổi dùng chiếc mền làm võng
đặt dì lên, cột hai đầu mền vào chiếc dầm bơi làm đòn gánh lếch thếch nhấc dì
đi theo con đường đê ruộng gập ghềnh, lần dò ra ngoài lộ lớn cách hơn hai cây số,
chờ xe lam chở dì ra bịnh viện tỉnh. Phần tôi thì ẵm cậu bé Tùng 3 tuổi. Trời
trưa nắng như đổ lửa trên đầu. Ðoàn chúng tôi toàn đàn bà trẻ nít hơn hai chục
người thất thểu lê bước. Tội nghiệp má và em trai, bởi dì ba vốn thân hình khá
tròn trịa nên cứ đi được vài chục thước là phải dừng lại, ì ạch thở. Những người
đàn bà trẻ đi cùng đều bồng bế trên tay con nhỏ nên không ai đỡ đần má và em
tôi để cáng dì ba. Khát nước cháy cổ, lo tránh đạn đâu có thời gian và tâm trí để
mang theo nước, cạnh ruộng có vũng nước nhỏ đục ngầu?có lẽ vũng nước trâu nằm
chăng?? mọi người mừng như bắt được vàng bụm nước vào lòng bàn tay mà uống lấy
uống để, dù nước ruộng có vị sình non! Hơn hai cây số nhưng phải mất từ trưa đến chiều mới ra được
đường cái. Má tôi ngồi vật ra lề, lã đi vì mệt lúc chờ chiếc xe lam chở đoàn
người chạy nạn ra tỉnh. Sau đó gia đình tôi tụ họp ở nhà bà-nội-nuôi. Ba tôi bị
kẹt trong ty Thông Tin tỉnh từ mấy ngày nay, cùng đến đoàn tụ. *Nhưng cuộc đoàn tụ nầy chỉ kéo dài thêm vài ngày, chị ba và
em gái thứ năm thu dọn quần áo về quê, chuyện học hành của chúng tôi hoàn toàn
khép lại. Ba tôi ra trình diện, bên?may mắn thắng cuộc? hứa chỉ cho?học tập?
vài hôm, nhưng vài hôm ấy biến thành bảy năm khổ sai vùng U Minh Thượng, nơi
đĩa kêu như sáo thổi. Ngày hôm sau, chúng tôi trở về nhà, mới thấy góc vách chỗ
chúng tôi ẩn nấp cạnh bồ lúa có nhiều lỗ thủng, còn chiếc giường sắt cháy còng
queo, vạt lót giường bằng tre thì không còn chút dấu vết, chỉ thấy lớp bụi mờ
đen nhẻm phủ mặt đất. Chúng tôi suýt mất mạng nếu không liều mình cùng nhau nhảy xuống
chiếc ghe nhỏ đưa sang sông còn đâu. Cả nguyên ngày 30.04 chạy giặc ngoài đồng, nên đâu thể theo
dõi tin tức từ radio, chỉ chiều tối hôm đó gặp lại ba, má con tôi mới hay là miền
Nam đã mất!. Thanh Hà Theo http://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét