Ca dao, dân ca là những bông
hoa của tâm hồn người lao động. Nói về cảm xúc, sáng tác ca dao và thơ không có
gì khác nhau nhiều lắm. Nhưng nếu tìm hiểu sâu sắc về hai loại cảm xúc ở hai
hình thái sáng tác ta thấy có những khía cạnh khác nhau, khác xa trong đó có cảm
xúc.
Trước hết cảm xúc trong thơ
là cảm xúc cá thể, cảm xúc của cá nhân nghệ sĩ, những thi sĩ với sự thăng hoa của
thời khắc trong tâm hồn đã sáng tạo ra những thi phẩm còn mãi với thời gian.Thơ
chỉ trào ra khi trong tim cảm xúc đã thực đầy. Còn cảm xúc của ca dao là cảm
xúc toàn dân. Các thi sĩ dân gian thường bộc lộ cảm xúc trên những cung bậc
tình cảm quen thuộc mang tính phổ biến toàn dân. Riêng về phương thức cảm xúc
này hình như thơ và ca dao dường như có sự đối lập nhau - sự đối lập tương đối.
Các thi sĩ hầu như chẳng
bao giờ chấp nhận, ít nhất trong ý thức sáng tác - sự quen thuộc, sự lặp lại sự
sáo mòn... Họ chống lại điều này một cách kịch liệt. Với họ mỗi đứa con tinh thần
phải là sự khám phá mới mẻ về nội dung, sự sáng tạo độc đáo về hình thức. Vì thế
các thi sĩ bao giờ cũng đi tìm cái mới và lạ. Các thi sĩ đã đi tìm cái mới một
cách toàn diện, không riêng gì cảm xúc mà là cánh nói mới, từ ngữ, nhịp điệu,
hình ảnh mới lạ...
Nhịp điệu mới:
“Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim ”
(Màu tím hoa sim - Hữu Loan)(1)
Hình ảnh mới:
“Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần”
(Thơ duyên – Xuân Diệu)(2)
Cách nói mới lạ:
“Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng!
(Xuân tha hương - Nguyễn Bính)(3)
Thơ là nói bằng hình ảnh. Mọi
tư tưởng trừu tượng đều được diễn đạt bằng hình tượng đó là đặc trưng của thơ.
Nhưng hai phương thức diễn đạt có những thủ pháp khác nhau. Với ca dao thì hình
tượng hóa những tình cảm trừu tượng bằng những hình ảnh cụ thể với lối nói giản
dị cụ thể. Còn phương thức sáng tạo của thơ ca thì đa diện hơn. Dân gian chỉ “đọc
chữ” hoặc đọc ánh mắt đã hiếm hoi lắm. Còn “đọc tương tư” thì quả là lối nói xa
lạ với dân gian. Cũng trong trường hợp đó, thi sĩ mới nhất của phong trào thơ mới
từng viết: “Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy/ Lòng anh thôi đã cưới lòng em”
(Thơ duyên – Xuân Diệu). Trai gái có tình ý với nhau, dân gian thường nói là “
phải lòng”, Xuân Diệu nói “lòng anh thôi đã cưới lòng em”, có một cuộc đính ước,
có một cuộc hôn nhân ngấm ngầm giữa hai tâm hồn diễn ra trong buổi chiều thu ngọt
ngào, tĩnh lặng. Quả là một cách nói không dễ thấy trong dân gian, tất nhiên,
được chắp cánh từ dân gian. Thơ lấy cái cụ thể để làm rõ cái trừu tượng, lấy
cái trừu tượng để chắp cánh cho cái cụ thể - hình ảnh để mang ý nghĩa khái
quát. Cách nói ấy trong thơ hầu như xa lạ với ca dao, dân ca.
“Anh như cây gỗ xoan đào
Em như câu đối dán vào nên chăng
Anh như cây kiểng trên chùa
“Đọc tương tư” dân gian cho
là chẳng bao giờ đọc được, thậm chí là vô lý thì trong thơ các tác giả lại nói
rất hay. Cái cây gỗ xoan đào để cho câu đối dán vào thì về phương diện nào đó
cũng là tương tư, nhưng hai cách nói thật khác xa nhau. “Đọc” cái không thể đọc
được thì trong cảm xúc của người đọc mới băn khoăn, trăn trở...đến bề bộn. Nếu
đọc được thì đọc rồi chẳng còn gì để thao thức. Ngoài tấm lòng, yêu em, nhớ em
thì không còn gì có thể băn khoăn. Cho nên “đọc tương tư”, chữ “tương tư” ở câu
thơ trên là một chữ “thần” của nhà thơ tài năng. “Tương tư chẳng ốm cũng sầu/
Con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn”. Dân gian nói thế. Thi sĩ trong câu thơ
trên chắc có buồn nhưng chưa đến sầu càng chưa đến mức ốm. Vì còn tỉnh táo đến
mức “đọc ” được cả tương tư kia mà. Và ta thấy từ “tương tư” có thêm nghĩa phái
sinh, nghĩa mới. Tương tư trong cách hiểu dân gian truyền thống chỉ là nhớ người
yêu. “Đọc tương tư” là xem xét, nghiên cứu, đào bới sàng lọc tuyển chọn trong
cái tương tư của mình, của đời. Ý tưởng trong câu thơ đa dạng, ngổn ngộn. Vậy
thì không chỉ dừng lại ở sự nhớ nhau nữa, “đọc tương tư” - trong trường hợp này
thơ đã trở thành bội số của nó.
Cánh cò trong ca dao rất nhiều
“Cánh cò bay lả bay la”, “Cánh cò bay bổng bay cao”, “Cái cò đi đón cơn mưa/ Tối
tăm mù mịt ai đưa cò về/ Cò về thăm quán cùng quê/ Thăm cha thăm mẹ cò về thăm
anh” nhưng cánh cò phân vân chỉ có thể có trong cách nói của Xuân Diệu. “Mây biếc
về đâu bay gấp gấp/ Con cò trên ruộng cánh phân vân”. Trong ca dao, dân ca cũng
chẳng thiếu tiếng chim vì có cả bài ca “Trăm chim”, chim kêu, chim hót, chim ca
vô cùng phổ biến nhưng “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng...” (Khương Hữu Dụng )
quả là không phổ biến. Tác giả đã đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ một (tiếng
chim) đến khái quát “sáng cả rừng”, từ âm thanh đến hình ảnh. Qua một vài ví dụ
trên ta có thể thấy được ít nhiều đặc điểm cảm xúc của nghệ sĩ thi ca. Cảm xúc
của thi sĩ văn học dân gian có những điểm khác biệt.
Nếu các thi sĩ hiện đại suốt
đời tìm tòi sáng tạo một cách nói riêng thì thi sĩ dân gian đã có những “gam”
tình cảm riêng, những cung bậc tâm hồn, những giác độ tâm trạng, những ngăn
“yêu”, “ghét” sẵn có trong cuộc đời, nghệ sĩ dân gian chỉ cần tìm cách nói cho
sát thực, cho thích hợp.
Nguyên nhân của vấn đề có thể
phức tạp hơn, nhưng theo tôi thì cuộc sống quần chúng lao động vốn đơn giản.
Trong quá trình sinh sống, tạo dựng quê hương làng xã họ chỉ có một số quy định
mang tính đạo đức xã hội không thành văn. Từ những quy định đó mà xem xét con
người tốt, xấu, hay dở. Yêu thì chung thủy đi đến vợ chồng, phản bội thì căm
ghét, xa thì nhớ, gần thì vui, nghèo khổ thì oán trách, gian ác thì lên án, thất
đức thì căm giận, hiền lành thì yêu thương...Và đặc biệt cách nói, lối nói,
hành văn để diễn đạt những cung bậc tình cảm đó chỉ có một số kiểu cách có khi
thành công thức. Vì thế ngày xưa trong các cuộc hát giao duyên, những người hát
giỏi thắng cuộc là những người thuộc nhiều bài ca, thuộc nhiều công thức. Do trong
đầu có những công thức họ dễ dàng vận dụng linh hoạt. Những công thức ấy còn in
đậm trong kho tàng ca dao dân ca. Ví như:
“Đôi ta như ...”, “Thân em
như”, “Hôm qua”, “Đêm qua”, “Ai ơi”, “Ai về”, “Ai đi”... Về hình ảnh cũng có những
hình ảnh đắc dụng, lặp đi lặp lại trong hàng nghìn hàng vạn bài ca dao: trầu
cau, con cò, con bống, con cá.
Ví dụ:
“Cá nào chịu được ao này
Chẳng giập con mắt, cũng trầy con ngươi”
“Nước trong cá lội thấy vi
Buông câu chẳng được cũng vì sóng xao”
“Sự đời nghĩ cũng nực cười
Một con cá lội mấy người buông câu”
“Người ta câu bể câu sông
Tôi đây câu lấy con ông cháu bà
Có chồng thì nhả mồi ra
Không chồng em cắn em tha lấy mồi”(5)
Xin nêu thêm một ví dụ nữa
mà người “ngoài cuộc” nếu không quen sẽ cho là không phổ biến nhưng nó lại là
“cái ngăn” trong công thức ca dao, một từ lặp đi lặp lại:
“Gặp nhau em nắm cổ tay
Xưa sao anh trắng ngày rày anh đen
Hay là lấy phải vợ hèn
Cơm khê canh mặn nó đen mất rồi”
“Gặp nhau anh nắm cổ tay
Ai xoa nên trắng, ai day nên tròn
Gặp nhau hỏi chuyện nước non
Hỏi về một nỗi chồng con thế nào?”
“Gặp nhau anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không”
“Gặp nhau anh nắm cổ tay
Xưa sao em trắng ngày rày em đen
Hay là lấy phải chồng hèn
Cơm sống, áo rách em đen mất người”
“Xin chàng buông tay em ra
Mai kia em lại đi qua chốn này
Nếu chàng vẫn cứ cầm tay
Mai kia em biết chốn này là đâu” (6)
Có mỗi từ “nắm cổ tay” khi
trai gái “gặp nhau” mà biến hóa trong hàng trăm bài ca dao ở mọi miềm quê
hương. Nhưng câu nào cũng tha thiết, da diết và đều nảy ý mới. Khi đi dạy các
thầy cô giáo trong chương trình vừa học vừa làm, tôi có mang điều này chia sẻ
và các thầy cô đã cung cấp lại, những cách nói mới của ca dao hiện đại trong một
công thức truyền thống. Những ví dụ rất thú vị về hiện thực cuộc sống và tình cảm
con người. Ví như hiện tượng “Vợ và Bồ” trong cuộc sống đương đại:
“ Vợ là chè lá chè cành
Bồ là chè ngọn chè ngành non tơ”;
“Vợ là gói cước trả sau
Bồ là gói cước gặp nhau trả liền”;
“Vợ là than cám đã sàng
Bồ là than củ còn đang nguyên hòn”;
“ Vợ là chia hộ, chia lô
Bồ là cơi nói, nhấp nhô thụt thò”
“Vợ là cuốn sách giáo khoa
Bồ là tham khảo gọi là đọc thêm”
“Vợ là thuốc uống theo đơn”
Tôi tin rằng khái niệm “Vợ”
và “Bồ” sẽ còn được chia sẻ dài mãi, vì ở mỗi ngành nghề, mỗi vị trí công việc
những nghệ sĩ dân gian hiện đại sẽ có những định nghĩa mới về hai mối quan hệ
làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của nhân
loại.
Vì cảm xúc mới mẻ như cuộc sống
và mỗi câu đều có ý mới cho nên hàng trăm bài lặp lại cái công thức ấy mà vẫn
không chán không cảm thấy sáo mòn. Nói chung sự lặp lại các hình ảnh, các yếu tố,
câu từ quen thuộc trong ca dao dân ca không bao gời là sự lặp lại nhàm chán mà
là sự lặp lại và nảy sinh cảm xúc mới. Những hình ảnh nghệ thuật truyền thống,
những tổ từ nghệ thuật truyền thống lặp đi lặp lại để cùng thể hiện các khía cạnh
các cung bậc của một tâm trạng, một cảnh huống, một nỗi đau buồn hay sự reo
vui. Thân phận người con gái, người vợ trong xã hội nhiều nỗi bất công chịu nhiều
cay đắng thì ví von “Thân em như”, “Em như”:
“Thân em như con hạc đầu đình
Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay”
“Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”
“Thân em như cấy quế giữa rừng
Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay”
“Thân em như con cá rô thia
Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu”
“Thân em như quả xoài trên cây
Gió đông gió tây đánh lúc la lúc lắc
Một mai không biết rơi vào tay ai”(8)
Thân em ở đây là một loại
người, một hạng người với những nỗi khổ, sự hèn mọn đắng cay đến tự nguyền rủa:
“Thân em như cây thầu dầu
Ngoài xanh trong héo những sầu
tương tư”(9)
Như vậy không thể kể hết những
bài ca dao có các tổ hợp từ truyền thống, mỗi câu nêu lên một số phận, một thân
phận. Các tổ từ đã nêu mỗi lần xuất hiện là mỗi lần nêu được cái mới. Ca dao
dân ca là thơ trữ tình dân gian. Nhiều nhà nghiên cứu đã nói như vậy. Thơ trữ
tình, thơ bộc lộ nội tâm cho nên mang tính tâm sự, thủ thỉ tâm tình. Nhưng điều
này chưa phải là phong cách chủ đạo của ca dao dân ca. Phong cách ca dao dân ca
là phong cách trữ tình buồn. Mặc dù trong ca dao có một bộ phận là thơ trào
phúng hoặc đây đó vang lên tiếng cười dù là cười tình cười mỉm. Nhưng dù sao
thì phần lớn của nền thơ ca dân gian vẫn dành để nói về nỗi buồn của nhân quần:
đau khổ, uất ức, oan khiên, lo lắng... nói chung là buồn. Những cung bậc của
cái buồn đó thường được biểu hiện dưới những vần thơ than thân, trách phận, oán
trách ca thán sự bất công. Nỗi buồn trong ca dao dân ca là nỗi buồn rất thật.
Buồn từ trong cuộc đời thực, từ những đắng cay, mất mát thực. Buồn sâu, buồn nặng
vì cuộc đời. Xuân Diệu có lần đã nói: Người xưa muốn lấy nước mắt tưới cho tắt
bớt ngọn lửa đời đang thiêu đốt họ. Trong ca dao dân ca thỉnh thoảng cũng có những
tiếng thét nguyền rủa bất công, độc ác nhưng dòng cảm xúc chủ đạo trong ca dao
dân ca vẫn là lời than thở, cầu mong hy vọng. Từ những bài hát “đưa linh” tiễn
linh hồn người chết đến những bài dân ca lễ hội, dân ca sinh hoạt... ta đều thấy
vang lên tiếng cầu xin, mong ước, hy vọng là chính. Trong những bài hát đưa
linh ta thường gặp những lời người sống cầu chúc cho linh hồn người chết được
yên nghỉ, siêu thoát. Chết rồi mà còn sợ không được yên, còn sợ bị áp bức đó chẳng
là tâm trạng thực của cả xã hội nhân quần hay sao!
Như
vậy, có thể hình dung: Cuộc sống của người lao động được trải trên một mặt phẳng.
Trên cái mặt phẳng của cuộc đời ấy là những dạng thức của số phận đã bày đặt rõ
ràng trước mắt mọi người - vui - buồn - căm ghét - yêu - thương - hữu hạn - vô
hạn...Thi sĩ dân gian chỉ cần tìm ngôn từ hình ảnh, lối diễn đạt, hành văn sao
cho sát thực với dạng thức mà mình cần diễn tả là có thể chạm đến cõi lòng sâu
thẳm của muôn người. Lời ca dao sẽ trở thành ký ức chung của cả cộng đồng, kỷ
niệm riêng của cả tộc người. Ca dao dân ca là thơ trữ tình dân gian. Nhiều nhà
nghiên cứu đã công nhận như vậy. Thơ trữ tình, thơ bộc lộ nội tâm cho nên mang
tính tâm sự, thủ thỉ tâm tình. Nhưng điều này chưa phải là phong cách chủ đạo của
ca dao dân ca. Phong cách của ca dao dân ca là phong cách trữ tình buồn! Nỗi buồn
tập trung ở tiếng nói của người phụ nữ là nhiều hơn cả. Họ là “phận mỏng cánh
chuồn”, yếu đuối mỏng manh bị nhiều tầng áp bức. Họ tiêu biểu cho kiếp người khổ
đau trong một xã hội bất công. Một xã hội biết quý trọng phụ nữ mới là xã hội
văn minh - vì họ là đóa hoa đẹp nhất của đất trời, họ làm đẹp cho xã hội cho cuộc
đời. Nhưng cũng chính họ lại là sự kết tụ của nỗi buồn trong thơ trữ tình dân
gian.
(1) (3) Thơ tình Việt
Nam thế kỷ XX (1996), Nxb QĐND, H
(2) Lý Hoài Thu
(1998),Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (Thơ thơ, Gửi
hương cho gió),Nxb Giáo dục, H
(4)(5)(6)(8) Nguyễn
Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb
Văn hóa, H
(7) Tư liệu giáo viên
THCS tỉnh Thái Nguyên cung cấp.
(Bài viết đăng trên Tạp chí
Nghệ thuật số 363, Tháng 9, 2014, Tr.15)
Ngô Thị Thanh Quý






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét