Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Đặc trưng cảm xúc trong ca dao

Đặc trưng cảm xúc trong ca dao
Ca dao, dân ca là những bông hoa của tâm hồn người lao động. Nói về cảm xúc, sáng tác ca dao và thơ không có gì khác nhau nhiều lắm. Nhưng nếu tìm hiểu sâu sắc về hai loại cảm xúc ở hai hình thái sáng tác ta thấy có những khía cạnh khác nhau, khác xa trong đó có cảm xúc.
Trước hết cảm xúc trong thơ là cảm xúc cá thể, cảm xúc của cá nhân nghệ sĩ, những thi sĩ với sự thăng hoa của thời khắc trong tâm hồn đã sáng tạo ra những thi phẩm còn mãi với thời gian.Thơ chỉ trào ra khi trong tim cảm xúc đã thực đầy. Còn cảm xúc của ca dao là cảm xúc toàn dân. Các thi sĩ dân gian thường bộc lộ cảm xúc trên những cung bậc tình cảm quen thuộc mang tính phổ biến toàn dân. Riêng về phương thức cảm xúc này hình như thơ và ca dao dường như có sự đối lập nhau - sự đối lập tương đối.
 Các thi sĩ hầu như chẳng bao giờ chấp nhận, ít nhất trong ý thức sáng tác - sự quen thuộc, sự lặp lại sự sáo mòn... Họ chống lại điều này một cách kịch liệt. Với họ mỗi đứa con tinh thần phải là sự khám phá mới mẻ về nội dung, sự sáng tạo độc đáo về hình thức. Vì thế các thi sĩ bao giờ cũng đi tìm cái mới và lạ. Các thi sĩ đã đi tìm cái mới một cách toàn diện, không riêng gì cảm xúc mà là cánh nói mới, từ ngữ, nhịp điệu, hình ảnh mới lạ...
Nhịp điệu mới:
                   “Màu tím hoa sim
                   Tím chiều hoang biền biệt
                   Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
                   Áo nàng màu tím hoa sim ”
(Màu tím hoa sim - Hữu Loan)(1)
Hình ảnh mới:
                   “Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu
                   Anh với em như một cặp vần”
(Thơ duyên – Xuân Diệu)(2)
Cách nói mới lạ:
                   “Cột nhà hàng xóm lên câu đối
                   Em đọc tương tư giữa giấy hồng!
(Xuân tha hương - Nguyễn Bính)(3)
Thơ là nói bằng hình ảnh. Mọi tư tưởng trừu tượng đều được diễn đạt bằng hình tượng đó là đặc trưng của thơ. Nhưng hai phương thức diễn đạt có những thủ pháp khác nhau. Với ca dao thì hình tượng hóa những tình cảm trừu tượng bằng những hình ảnh cụ thể với lối nói giản dị cụ thể. Còn phương thức sáng tạo của thơ ca thì đa diện hơn. Dân gian chỉ “đọc chữ” hoặc đọc ánh mắt đã hiếm hoi lắm. Còn “đọc tương tư” thì quả là lối nói xa lạ với dân gian. Cũng trong trường hợp đó, thi sĩ mới nhất của phong trào thơ mới từng viết: “Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy/ Lòng anh thôi đã cưới lòng em” (Thơ duyên – Xuân Diệu). Trai gái có tình ý với nhau, dân gian thường nói là “ phải lòng”, Xuân Diệu nói “lòng anh thôi đã cưới lòng em”, có một cuộc đính ước, có một cuộc hôn nhân ngấm ngầm giữa hai tâm hồn diễn ra trong buổi chiều thu ngọt ngào, tĩnh lặng. Quả là một cách nói không dễ thấy trong dân gian, tất nhiên, được chắp cánh từ dân gian. Thơ lấy cái cụ thể để làm rõ cái trừu tượng, lấy cái trừu tượng để chắp cánh cho cái cụ thể - hình ảnh để mang ý nghĩa khái quát. Cách nói ấy trong thơ hầu như xa lạ với ca dao, dân ca.
                                 “Anh như cây gỗ xoan đào
                          Em như câu đối dán vào nên chăng
                                Anh như cây kiểng trên chùa
                    Em như con bướm đậu nhờ nên chăng?” (4)
“Đọc tương tư” dân gian cho là chẳng bao giờ đọc được, thậm chí là vô lý thì trong thơ các tác giả lại nói rất hay. Cái cây gỗ xoan đào để cho câu đối dán vào thì về phương diện nào đó cũng là tương tư, nhưng hai cách nói thật khác xa nhau. “Đọc” cái không thể đọc được thì trong cảm xúc của người đọc mới băn khoăn, trăn trở...đến bề bộn. Nếu đọc được thì đọc rồi chẳng còn gì để thao thức. Ngoài tấm lòng, yêu em, nhớ em thì không còn gì có thể băn khoăn. Cho nên “đọc tương tư”, chữ “tương tư” ở câu thơ trên là một chữ “thần” của nhà thơ tài năng. “Tương tư chẳng ốm cũng sầu/ Con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn”. Dân gian nói thế. Thi sĩ trong câu thơ trên chắc có buồn nhưng chưa đến sầu càng chưa đến mức ốm. Vì còn tỉnh táo đến mức “đọc ” được cả tương tư kia mà. Và ta thấy từ “tương tư” có thêm nghĩa phái sinh, nghĩa mới. Tương tư trong cách hiểu dân gian truyền thống chỉ là nhớ người yêu. “Đọc tương tư” là xem xét, nghiên cứu, đào bới sàng lọc tuyển chọn trong cái tương tư của mình, của đời. Ý tưởng trong câu thơ đa dạng, ngổn ngộn. Vậy thì không chỉ dừng lại ở sự nhớ nhau nữa, “đọc tương tư” - trong trường hợp này thơ đã trở thành bội số của nó.
Cánh cò trong ca dao rất nhiều “Cánh cò bay lả bay la”, “Cánh cò bay bổng bay cao”, “Cái cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt ai đưa cò về/ Cò về thăm quán cùng quê/ Thăm cha thăm mẹ cò về thăm anh” nhưng cánh cò phân vân chỉ có thể có trong cách nói của Xuân Diệu. “Mây biếc về đâu bay gấp gấp/ Con cò trên ruộng cánh phân vân”. Trong ca dao, dân ca cũng chẳng thiếu tiếng chim vì có cả bài ca “Trăm chim”, chim kêu, chim hót, chim ca vô cùng phổ biến nhưng “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng...” (Khương Hữu Dụng ) quả là không phổ biến. Tác giả đã đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ một (tiếng chim) đến khái quát “sáng cả rừng”, từ âm thanh đến hình ảnh. Qua một vài ví dụ trên ta có thể thấy được ít nhiều đặc điểm cảm xúc của nghệ sĩ thi ca. Cảm xúc của thi sĩ văn học dân gian có những điểm khác biệt.
Nếu các thi sĩ hiện đại suốt đời tìm tòi sáng tạo một cách nói riêng thì thi sĩ dân gian đã có những “gam” tình cảm riêng, những cung bậc tâm hồn, những giác độ tâm trạng, những ngăn “yêu”, “ghét” sẵn có trong cuộc đời, nghệ sĩ dân gian chỉ cần tìm cách nói cho sát thực, cho thích hợp.
Nguyên nhân của vấn đề có thể phức tạp hơn, nhưng theo tôi thì cuộc sống quần chúng lao động vốn đơn giản. Trong quá trình sinh sống, tạo dựng quê hương làng xã họ chỉ có một số quy định mang tính đạo đức xã hội không thành văn. Từ những quy định đó mà xem xét con người tốt, xấu, hay dở. Yêu thì chung thủy đi đến vợ chồng, phản bội thì căm ghét, xa thì nhớ, gần thì vui, nghèo khổ thì oán trách, gian ác thì lên án, thất đức thì căm giận, hiền lành thì yêu thương...Và đặc biệt cách nói, lối nói, hành văn để diễn đạt những cung bậc tình cảm đó chỉ có một số kiểu cách có khi thành công thức. Vì thế ngày xưa trong các cuộc hát giao duyên, những người hát giỏi thắng cuộc là những người thuộc nhiều bài ca, thuộc nhiều công thức. Do trong đầu có những công thức họ dễ dàng vận dụng linh hoạt. Những công thức ấy còn in đậm trong kho tàng ca dao dân ca. Ví như:
“Đôi ta như ...”, “Thân em như”, “Hôm qua”, “Đêm qua”, “Ai ơi”, “Ai về”, “Ai đi”... Về hình ảnh cũng có những hình ảnh đắc dụng, lặp đi lặp lại trong hàng nghìn hàng vạn bài ca dao: trầu cau, con cò, con bống, con cá.
Ví dụ:                               “Cá nào chịu được ao này
                            Chẳng giập con mắt, cũng trầy con ngươi”
                                         “Nước trong cá lội thấy vi
                            Buông câu chẳng được cũng vì sóng xao”
                                        “Sự đời nghĩ cũng nực cười
                               Một con cá lội mấy người buông câu”
                                        “Người ta câu bể câu sông
                                    Tôi đây câu lấy con ông cháu bà
                                          Có chồng thì nhả mồi ra
                              Không chồng em cắn em tha lấy mồi”(5)
Xin nêu thêm một ví dụ nữa mà người “ngoài cuộc” nếu không quen sẽ cho là không phổ biến nhưng nó lại là “cái ngăn” trong công thức ca dao, một từ lặp đi lặp lại:
                                         “Gặp nhau em nắm cổ tay
                                 Xưa sao anh trắng ngày rày anh đen
                                            Hay là lấy phải vợ hèn
                                 Cơm khê canh mặn nó đen mất rồi”
                                        “Gặp nhau anh nắm cổ tay
                                   Ai xoa nên trắng, ai day nên tròn
                                     Gặp nhau hỏi chuyện nước non
                                 Hỏi về một nỗi chồng con thế nào?”
                                        “Gặp nhau anh nắm cổ tay
                                 Anh hỏi câu này có lấy anh không”
                                        “Gặp nhau anh nắm cổ tay
                                  Xưa sao em trắng ngày rày em đen
                                         Hay là lấy phải chồng hèn
                               Cơm sống, áo rách em đen mất người”
                                       “Xin chàng buông tay em ra
                                     Mai kia em lại đi qua chốn này
                                         Nếu chàng vẫn cứ cầm tay
                                  Mai kia em biết chốn này là đâu” (6)
Có mỗi từ “nắm cổ tay” khi trai gái “gặp nhau” mà biến hóa trong hàng trăm bài ca dao ở mọi miềm quê hương. Nhưng câu nào cũng tha thiết, da diết và đều nảy ý mới. Khi đi dạy các thầy cô giáo trong chương trình vừa học vừa làm, tôi có mang điều này chia sẻ và các thầy cô đã cung cấp lại, những cách nói mới của ca dao hiện đại trong một công thức truyền thống. Những ví dụ rất thú vị về hiện thực cuộc sống và tình cảm con người. Ví như hiện tượng “Vợ và Bồ” trong cuộc sống đương đại:
                                           “ Vợ là chè lá chè cành
                                  Bồ là chè ngọn chè ngành non tơ”;
                                           “Vợ là gói cước trả sau
                                   Bồ là gói cước gặp nhau trả liền”;
                                          “Vợ là than cám đã sàng
                                Bồ là than củ còn đang nguyên hòn”;
                                           “ Vợ là chia hộ, chia lô
                                   Bồ là cơi nói, nhấp nhô thụt thò”
                                       “Vợ là cuốn sách giáo khoa
                                   Bồ là tham khảo gọi là đọc thêm”
                                      “Vợ là thuốc uống theo đơn”
                                Bồ là viên thuốc lên cơn uống liều”(7)
Tôi tin rằng khái niệm “Vợ” và “Bồ” sẽ còn được chia sẻ dài mãi, vì ở mỗi ngành nghề, mỗi vị trí công việc những nghệ sĩ dân gian hiện đại sẽ có những định nghĩa mới về hai mối quan hệ làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của nhân loại.
Vì cảm xúc mới mẻ như cuộc sống và mỗi câu đều có ý mới cho nên hàng trăm bài lặp lại cái công thức ấy mà vẫn không chán không cảm thấy sáo mòn. Nói chung sự lặp lại các hình ảnh, các yếu tố, câu từ quen thuộc trong ca dao dân ca không bao gời là sự lặp lại nhàm chán mà là sự lặp lại và nảy sinh cảm xúc mới. Những hình ảnh nghệ thuật truyền thống, những tổ từ nghệ thuật truyền thống lặp đi lặp lại để cùng thể hiện các khía cạnh các cung bậc của một tâm trạng, một cảnh huống, một nỗi đau buồn hay sự reo vui. Thân phận người con gái, người vợ trong xã hội nhiều nỗi bất công chịu nhiều cay đắng thì ví von “Thân em như”, “Em như”:
                       “Thân em như con hạc đầu đình
                 Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay”
                       “Thân em như giếng giữa đàng
              Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”
                   “Thân em như cấy quế giữa rừng
                   Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay”
                   “Thân em như con cá rô thia
                   Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu”
                   “Thân em như quả xoài trên cây
                   Gió đông gió tây đánh lúc la lúc lắc
                   Một mai không biết rơi vào tay ai”(8)
Thân em ở đây là một loại người, một hạng người với những nỗi khổ, sự hèn mọn đắng cay đến tự nguyền rủa:
“Thân em như cây thầu dầu
Ngoài xanh trong héo những sầu tương tư”(9)
Như vậy không thể kể hết những bài ca dao có các tổ hợp từ truyền thống, mỗi câu nêu lên một số phận, một thân phận. Các tổ từ đã nêu mỗi lần xuất hiện là mỗi lần nêu được cái mới. Ca dao dân ca là thơ trữ tình dân gian. Nhiều nhà nghiên cứu đã nói như vậy. Thơ trữ tình, thơ bộc lộ nội tâm cho nên mang tính tâm sự, thủ thỉ tâm tình. Nhưng điều này chưa phải là phong cách chủ đạo của ca dao dân ca. Phong cách ca dao dân ca là phong cách trữ tình buồn. Mặc dù trong ca dao có một bộ phận là thơ trào phúng hoặc đây đó vang lên tiếng cười dù là cười tình cười mỉm. Nhưng dù sao thì phần lớn của nền thơ ca dân gian vẫn dành để nói về nỗi buồn của nhân quần: đau khổ, uất ức, oan khiên, lo lắng... nói chung là buồn. Những cung bậc của cái buồn đó thường được biểu hiện dưới những vần thơ than thân, trách phận, oán trách ca thán sự bất công. Nỗi buồn trong ca dao dân ca là nỗi buồn rất thật. Buồn từ trong cuộc đời thực, từ những đắng cay, mất mát thực. Buồn sâu, buồn nặng vì cuộc đời. Xuân Diệu có lần đã nói: Người xưa muốn lấy nước mắt tưới cho tắt bớt ngọn lửa đời đang thiêu đốt họ. Trong ca dao dân ca thỉnh thoảng cũng có những tiếng thét nguyền rủa bất công, độc ác nhưng dòng cảm xúc chủ đạo trong ca dao dân ca vẫn là lời than thở, cầu mong hy vọng. Từ những bài hát “đưa linh” tiễn linh hồn người chết đến những bài dân ca lễ hội, dân ca sinh hoạt... ta đều thấy vang lên tiếng cầu xin, mong ước, hy vọng là chính. Trong những bài hát đưa linh ta thường gặp những lời người sống cầu chúc cho linh hồn người chết được yên nghỉ, siêu thoát. Chết rồi mà còn sợ không được yên, còn sợ bị áp bức đó chẳng là tâm trạng thực của cả xã hội nhân quần hay sao!
     Như vậy, có thể hình dung: Cuộc sống của người lao động được trải trên một mặt phẳng. Trên cái mặt phẳng của cuộc đời ấy là những dạng thức của số phận đã bày đặt rõ ràng trước mắt mọi người - vui - buồn - căm ghét - yêu - thương - hữu hạn - vô hạn...Thi sĩ dân gian chỉ cần tìm ngôn từ hình ảnh, lối diễn đạt, hành văn sao cho sát thực với dạng thức mà mình cần diễn tả là có thể chạm đến cõi lòng sâu thẳm của muôn người. Lời ca dao sẽ trở thành ký ức chung của cả cộng đồng, kỷ niệm riêng của cả tộc người. Ca dao dân ca là thơ trữ tình dân gian. Nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận như vậy. Thơ trữ tình, thơ bộc lộ nội tâm cho nên mang tính tâm sự, thủ thỉ tâm tình. Nhưng điều này chưa phải là phong cách chủ đạo của ca dao dân ca. Phong cách của ca dao dân ca là phong cách trữ tình buồn! Nỗi buồn tập trung ở tiếng nói của người phụ nữ là nhiều hơn cả. Họ là “phận mỏng cánh chuồn”, yếu đuối mỏng manh bị nhiều tầng áp bức. Họ tiêu biểu cho kiếp người khổ đau trong một xã hội bất công. Một xã hội biết quý trọng phụ nữ mới là xã hội văn minh - vì họ là đóa hoa đẹp nhất của đất trời, họ làm đẹp cho xã hội cho cuộc đời. Nhưng cũng chính họ lại là sự kết tụ của nỗi buồn trong thơ trữ tình dân gian.
(1) (3) Thơ tình Việt Nam thế kỷ XX (1996), Nxb QĐND, H
(2) Lý Hoài Thu (1998),Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945  (Thơ thơ, Gửi hương cho gió),Nxb Giáo dục, H
(4)(5)(6)(8) Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hóa, H
(7) Tư liệu giáo viên THCS tỉnh Thái Nguyên cung cấp.
(Bài viết đăng trên Tạp chí Nghệ thuật số 363, Tháng 9, 2014, Tr.15)
Ngô Thị Thanh Quý
Theo http://khoavan.dhsptn.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...