1. Về ý tưởng thi ca:
Ý tưởng là tiền đề “mạch” của thơ - “thi mạch”. Khi cảm xúc trước hiện thực, ý tưởng "nhập" vào đầu nhà thơ nhiều khi còn cụ thể, ngổn ngang; chưa hẳn đã là tứ thơ hoặc thi mạch. Khi đưa ý tưởng đó được đưa vào khung thi ca, thì nó mời thành thi mạch. Với thi mạch, người xưa có câu “Thi mạch kỵ lộ”, nghĩa là ý tưởng thơ không được lộ! Nhưng bản thân “mạch” không tự mình lộ hay không lộ, mà phải “viện” đến hình tượng và ngôn từ thi ca. Ví dụ: Khi tôn vinh ý tưởng về tinh thần tập thể - cộng đồng, nhà thơ Tố Hữu đã mượn hình tượng và ngôn từ là con ong, con cá và nhiều thứ khác…
Ý tưởng là tiền đề “mạch” của thơ - “thi mạch”. Khi cảm xúc trước hiện thực, ý tưởng "nhập" vào đầu nhà thơ nhiều khi còn cụ thể, ngổn ngang; chưa hẳn đã là tứ thơ hoặc thi mạch. Khi đưa ý tưởng đó được đưa vào khung thi ca, thì nó mời thành thi mạch. Với thi mạch, người xưa có câu “Thi mạch kỵ lộ”, nghĩa là ý tưởng thơ không được lộ! Nhưng bản thân “mạch” không tự mình lộ hay không lộ, mà phải “viện” đến hình tượng và ngôn từ thi ca. Ví dụ: Khi tôn vinh ý tưởng về tinh thần tập thể - cộng đồng, nhà thơ Tố Hữu đã mượn hình tượng và ngôn từ là con ong, con cá và nhiều thứ khác…
Con ong làm mật, yêu hoa
Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí yêu người anh em
Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí yêu người anh em
Một ngôi sao chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Một người - đâu phải nhân gian?
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Một người - đâu phải nhân gian?
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!
(Tố Hữu - Tiếng ru)
2. Về hình tượng thi ca:
Như là thể dáng của bài thơ, hình tượng là da thịt của ý tưởng . Con ong, con cá, con chim, ngôi sao, thân lúa là hình tượng tao nên thể dáng của bài thơ, để thể dáng ấy “mang” ý tưởng “tinh thần tập thể-cộng đồng”.
Có nhiều cách để tạo dựng hình tượng thi ca: Kể, tả, ví von, tự tình…; có nhiều khuynh hướng để bộc lộ tư tưởng – tình cảm thi nhân như trữ tình, triết luận hoặc phản biện, hài tiếu…; có nhiều phương pháp để bộc lộ trong thi phẩm như hiện thực, lãng mạn, trừu tượng, siêu hình… Song, dù thế nào, hình tượng vẫn phải là thể dáng của bài thơ. Nhiều bài thơ không giữ được tính thể dáng ấy, bởi nhà thơ tùy tiện phát triển phi lô-gic của hình tượng, khiến người đọc bối rối, ngỡ ngàng trước thi phẩm! Đây không phải là cách thể hiện cũ hay mới; gò bó hay tự nhiên; khép hay mở…, mà là nguyên tắc lô-gíc của tư duy sáng tạo và cảm nhận thi ca. Đã là nguyên tắc, thì mọi thi nhân phải tuân thủ, chứ không thể nói “tôi thích thế này, tôi tích thế kia”!
Như là thể dáng của bài thơ, hình tượng là da thịt của ý tưởng . Con ong, con cá, con chim, ngôi sao, thân lúa là hình tượng tao nên thể dáng của bài thơ, để thể dáng ấy “mang” ý tưởng “tinh thần tập thể-cộng đồng”.
Có nhiều cách để tạo dựng hình tượng thi ca: Kể, tả, ví von, tự tình…; có nhiều khuynh hướng để bộc lộ tư tưởng – tình cảm thi nhân như trữ tình, triết luận hoặc phản biện, hài tiếu…; có nhiều phương pháp để bộc lộ trong thi phẩm như hiện thực, lãng mạn, trừu tượng, siêu hình… Song, dù thế nào, hình tượng vẫn phải là thể dáng của bài thơ. Nhiều bài thơ không giữ được tính thể dáng ấy, bởi nhà thơ tùy tiện phát triển phi lô-gic của hình tượng, khiến người đọc bối rối, ngỡ ngàng trước thi phẩm! Đây không phải là cách thể hiện cũ hay mới; gò bó hay tự nhiên; khép hay mở…, mà là nguyên tắc lô-gíc của tư duy sáng tạo và cảm nhận thi ca. Đã là nguyên tắc, thì mọi thi nhân phải tuân thủ, chứ không thể nói “tôi thích thế này, tôi tích thế kia”!
3. Ngôn từ thi ca:
Còn gọi là thi từ - thi ngữ. Đây là yếu tố rất quan trọng của thi ca. Nhà thơ phải chọn ngôn từ “đạt” và “độc” trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc cho bài thơ của mình. “Đạt” là ngôn từ đắc địa được dùng; “độc” là ngôn từ hiếm, gây sững sờ đối với bạn đọc. Nhà thơ Khương Hữu Dụng có câu thơ trong một bài thơ nói về những người đi trong rừng đêm tối tăm và buồn vắng:
Còn gọi là thi từ - thi ngữ. Đây là yếu tố rất quan trọng của thi ca. Nhà thơ phải chọn ngôn từ “đạt” và “độc” trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc cho bài thơ của mình. “Đạt” là ngôn từ đắc địa được dùng; “độc” là ngôn từ hiếm, gây sững sờ đối với bạn đọc. Nhà thơ Khương Hữu Dụng có câu thơ trong một bài thơ nói về những người đi trong rừng đêm tối tăm và buồn vắng:
Một tiếng chim kêu sáng cả rừng
Từ “sáng” là một từ “độc”, bởi
chỉ một tiếng chim kêu thôi, rừng đêm bỗng bừng sáng – bừng sáng tâm hồn những
con người kia đi trong rừng đêm buồn vắng!
Người làm văn chương có nhiệm vụ và vinh hạnh đóng góp cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc ngày càng phong phú. Nhà thơ càng rõ hơn trong vấn đề này. Bài thơ “Paris màu rượu chát” của nhà thơ Đặng Hà My đã được dùng cụm từ “chiếc váy hời hời” bay trên đầu các cung điện, tượng đài… của thành phố Paris tráng lệ. Chữ "hời hời" trong trường hợp này chưa ai dùng, nhưng nhà thơ muốn bộc lộ sự ngạo nghễ, khiêu hãnh của người phụ nữ trước Paris với "hời hời". Đọc chữ “hời hời”, mọi người thấy lạ, song đó là một sáng tạo ngôn từ của nhà thơ.Đến lúc nào đó, rất có thể “hời hời” sẽ đi vào kho tàng ngôn ngữ dân tộ nhằm chỉ tinh thần kiêu hãnh, ngạo nghễ của người phụ nữ và của con người nói chung!
Người làm văn chương có nhiệm vụ và vinh hạnh đóng góp cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc ngày càng phong phú. Nhà thơ càng rõ hơn trong vấn đề này. Bài thơ “Paris màu rượu chát” của nhà thơ Đặng Hà My đã được dùng cụm từ “chiếc váy hời hời” bay trên đầu các cung điện, tượng đài… của thành phố Paris tráng lệ. Chữ "hời hời" trong trường hợp này chưa ai dùng, nhưng nhà thơ muốn bộc lộ sự ngạo nghễ, khiêu hãnh của người phụ nữ trước Paris với "hời hời". Đọc chữ “hời hời”, mọi người thấy lạ, song đó là một sáng tạo ngôn từ của nhà thơ.Đến lúc nào đó, rất có thể “hời hời” sẽ đi vào kho tàng ngôn ngữ dân tộ nhằm chỉ tinh thần kiêu hãnh, ngạo nghễ của người phụ nữ và của con người nói chung!
4. Vần điệu trong thi ca
Nói đúng hơn là vần và điệu. Vần là đối với các thể thơ có vần phải thể hiện đúng vần, như lục bát, song thất lục bát, thơ khổ với dòng có số chữ khác nhau. Điệu là bắt buộc đối với thơ tự do, thơ văn xuôi…Thơ khác với văn về nét cơ bản là vần điệu. Âm nhạc có giai điệu làm rung động lòng người. Thơ có ưu thế gần giống với với âm nhạc là có vần điệu; và vì thế mà thơ khác với văn. Có một số nhà thơ bỏ quy luật vần điệu trong thi phẩm của mình, đồng nghĩa với tự tước bỏ yếu tố âm nhạc trong thi ca – yếu tố mà người đọc, người nghe rất thích thú như khi nghe một bản nhạc du dương, trầm bổng! Vậy thì, dại gì mà các nhà thơ tự tước bỏ vần điệu trong thơ?
Nói đúng hơn là vần và điệu. Vần là đối với các thể thơ có vần phải thể hiện đúng vần, như lục bát, song thất lục bát, thơ khổ với dòng có số chữ khác nhau. Điệu là bắt buộc đối với thơ tự do, thơ văn xuôi…Thơ khác với văn về nét cơ bản là vần điệu. Âm nhạc có giai điệu làm rung động lòng người. Thơ có ưu thế gần giống với với âm nhạc là có vần điệu; và vì thế mà thơ khác với văn. Có một số nhà thơ bỏ quy luật vần điệu trong thi phẩm của mình, đồng nghĩa với tự tước bỏ yếu tố âm nhạc trong thi ca – yếu tố mà người đọc, người nghe rất thích thú như khi nghe một bản nhạc du dương, trầm bổng! Vậy thì, dại gì mà các nhà thơ tự tước bỏ vần điệu trong thơ?
Một tiểu luận ngắn mà đã quá
dài! Xin tạm dừng tại đây! Mời các bạn cùng trao đổi.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét