Nhà văn của những phận nghèo và trẻ nhỏ
Năm 2014, Phạm Thị Bích Thủy cho ra mắt tập truyện ngắn Chạy trốn và
tiểu thuyết Đồi cát bay. Khi giới thiệu tập Chạy trốntrên báo Văn Nghệ
trẻ, chúng tôi đã dự cảm tác giả có vốn sống phong phú và có kĩ thuật nghề nghiệp
cao, có thể sẽ đi xa trên con đường sáng tạo. Tiểu thuyết tiếp theo Đồi
cát bay đã minh chứng điều đó và bây giờ tiểu thuyết Tiếng sáo lạc với
13 chương hoàn thành từ giữa năm 2014, xuất bản quý 3/2015 lại càng khẳng định
dự cảm đó.
Nhìn xuyên suốt ba cuốn sách mà tác giả đã công bố, thấy nổi
lên mối quan tâm nhất của người viết chính là những phận nghèo và trẻ nhỏ. Đó
không chỉ là mối quan tâm, còn là nguồn cảm hứng, cũng là chỗ mạnh của cây bút
nữ được chuẩn bị khá kĩ lưỡng.
Ba truyện ngắn về nông thôn trong tập Chạy trốn là
“Thằng Tê”, “Chạy trốn” và “À í a…” tác giả đã viết về cái nghèo của làng quê,
của nông thôn một cách thấm thía, cảm động. Những nhân vật ấn tượng là những đứa
trẻ. Đó là thằng Tê, thằng Nhất, cái Phúc, con Na… Đến tiểu thuyết Đồi cát
bay thì những phận nghèo được khắc họa sâu sắc. Cái nghèo ở một khu du lịch
đẹp bậc nhất Việt Nam. Hai nhà nghèo làm người đọc bức bối, ngột ngạt và ngậm
ngùi là nhà mẹ của thằng Út Lớn và nhà của bà hai Ù, bà ngoại của cái Bàu. Ấn tượng
ám ảnh người đọc chính là việc “họ nghèo quá, họ không được học hành nên họ
không biết cần làm sạch thế nào và cũng không cần thấy phải làm sạch”. Và những
nhân vật quan trọng nhất của tiểu thuyết Đồi cát bay chính là những đứa
trẻ thất học, ngày ngày đi cho thuê tấm trượt với cuộc sống vất vả, nhọc nhằn,
nghèo nàn, tăm tối.
Trong Đồi cát bay, tác giả đã chú ý đến đằng sau vẻ đẹp
thơ mộng của thiên nhiên, của những nhà hàng, cửa hiệu lấp lánh sáng là “những
căn nhà nghèo nàn lợp lá, lợp tôn, ngược xuôi lúp súp, nhấp nhô trên những cồn
cát đỏ - nhà của những người nông dân, ngư dân”. Bây giờ trong tiểu thuyết “Tiếng
sáo lạc” tác giả viết về Hà Nội, nhưng không phải là những tòa nhà cao ngất, những
cửa hiệu sáng trưng, mà là một Hà Nội khác. Đây là Hà Nội của những người
nghèo. Hà Nội của những con ngõ“không có ánh sáng, sâu hun hút, những nhà bé
tí, dựa vào nhau thò ra thụt vào bám chặt vào mặt con ngõ, không có một khoảng
hở nào để nhìn thấy được một tí trời” (trang 101). Hà Nội của người nghèo như vợ
chồng Thành, Dung, anh Mễ, và những công nhân xây dựng, người tứ xứ dạt về, “tất
cả đều đang lẳng lặng sống, lẳng lặng làm đủ mọi loại công việc”. Trong những
nhân vật quan trọng của tiểu thuyết này, vẫn có những đứa trẻ. Đó là thằng Hạnh
con của Thành và Dung, cu Tròn (thằng Phúc) con do Dung đẻ thuê, và thằng Thừa
bạn đánh giày của thằng Hạnh. Bên cạnh còn có thằng Kình, thằng Hạch cũng làm
việc đánh giày.
Thành và Dung không phải là những người nông dân thuần túy. Cả
anh và chị đều đã học hết phổ thông. Không chịu nổi sự nghèo khổ của nhà quê,
hai người đã “liều” ra thành phố mong đổi đời. Thật sự, nếu so sánh với cuộc sống
ở thôn quê mà hai người từng trải thì dù phải ở trong lán thuê ổ chuột, dù phải
làm việc phụ hồ, nấu cơm cho thợ thì cả hai đều thấy “Đúng là Hà Nội sướng thật!”.
Nhưng rồi Dung mang thai thuê, cô được người ta trả cho đến năm mươi triệu, lại
được ăn uống, tẩm bổ nên cô thấy cái sướng của vợ chồng mình khi mới ra thành
phố… vẫn là quá khổ. Cô đã nghĩ về thân phận những người nông dân “Hóa ra họ-
những người nông dân như Dung, như Thành và bao nhiêu người nông dân quê Dung,
bao nhiêu người nông dân khác không được biết thế nào là sống cả. Họ
đã lao động và làm việc quần quật suốt cuộc đời để rồi luôn sống một cuộc sống
nghèo đói, túng quẫn, ăn đói, mặc rách và ở trong những điều kiện khốn khó cùng
cực nhất, áo quần không ra áo quần, giường chiếu không ra giường chiếu, nhà hóa
ra không phải là nhà. Dung thấy cay đắng” (trang 121). Và cô đã mong cuộc sống
sướng hơn bằng cách dứt khoát bỏ chồng con, đi lao động nước ngoài. Rồi vì ham
lợi, bị trục xuất về nước với hai bàn tay trắng.
Vấn đề là không phải làng quê nào cũng như làng quê của Thành
và Dung. Không phải người nhà quê nào ra thành phố cũng chịu một kết cục bi thảm
là cái chết vì tai nạn lao động như Thành. Không phải ai đi nước ngoài lao động
cụng bị trục xuất tay trắng như Dung, hoặc trở về nhếch nhác, khổ sở như đám thợ
đi làm ở Anggola về mà Dung gặp “vẫn mặc y chang quần áo cũ, vẫn còn đi dép tổ
ong”. “Họ tha lôi đồ xách tay là những túi ni lông nhàu nhĩ, cáu bẩn, buộc
bằng những sợi dây nhựa chằng chịt. Họ mặc những chiếc sơ mi cũ kĩ màu cháo
lòng, có người thì mặc áo kiểu bảo hộ lao động ở công trường xây dựng, có người
mặc hai ba chiếc áo chồng lên nhau vì cô thấy hai ba lớp cổ áo nhô ra, thụt
vào. Họ có nhiều những cái túi lắt nhắt như vậy quá nên chật cả khoang phía
trên ghế ngồi của họ” (trang 179). Có không ít người nghèo ở quê ra phố đổi
đời nhờ chịu khó nhặt đồng nát, làm ô sin, hoặc làm những công việc vất vả
khác. Có biết bao người nhờ xuất khẩu lao động mà đổi đời mình, đổi đời cho những
người thân. Vậy thì tại sao nhà văn lại chọn Thành và Dung, lại chọn những
người đi Anggola, mà không chọn những người khác? Liệu Thành và Dung có phải là
số đông, là phổ biến cho tất cả những người nhà quê ra thành phố? Liệu mấy người
đi về trên máy bay Dung gặp ngẫu nhiên có thể đại diện cho nhiều người Việt
đang làm việc ở Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Libi, và một số nước châu Phi?
Chúng tôi nghĩ rằng nhà văn nữ này không quan tâm lắm đến cái
gọi là tính chất đại diện hay điển hình. Chắc chắn là trong nhiều người nhà quê
ra phố, có những người như Thành và Dung. Chắc chắn có những người đi xuất khẩu
lao động nhếch nhác, khổ cực như một số người Dung gặp trên máy bay. Và hẳn
nhiên, có các chú nhỏ đánh giày như thằng Thừa, thằng Hạnh thất học. Nếu trong
cuộc đời này, họ tồn tại và làm việc âm thầm, lẳng lặng, họ không là số đông,
nhưng họ tồn tại thì họ xứng đáng được đề cập đến trong những trang viết. Nhà
văn Phạm Thị Bích Thủy đã gặp họ ở những góc khuất của cuộc sống. Chị nhạy cảm
với cái nghèo, cái cơ cực và đặc biệt nhạy cảm với những trẻ em. Nhất là những
đứa trẻ thất học, đánh giày. Chị đã chọn họ hay chính họ đã chọn chị để xuất hiện.Trong
tiểu thuyết này, những trang đặc sắc là trang viết về Chân đất - Hạnh,
thằng Thừa và cu Tròn.
Có thể liên tưởng về hình ảnh tượng trưng trong hai tiểu thuyết
của Bích Thủy. Trong Đồi cát bay, những đứa trẻ lấm láp, thất học và cha mẹ
chúng chỉ như những hạt cát bị cuốn xoáy vào cuộc đời luẩn quẩn nghèo nàn, thất
học, không có học nên lại càng nghèo nàn, bế tắc. Còn ở “Tiếng sáo lạc” thì những
con người từ quê nghèo dạt lên thành phố cũng tựa như là một tiếng sáo lạc lõng
chỉ cất lên trong đêm. Tiếng sáo đó “giữa đêm mùa đông nó như một lưỡi dao âm
thanh, nó mỏng, nó sắc, nó cắt ngang tim người nghe, nó đơn độc, nó mong manh,
nó lặng ngắt giữa thành phố sáu triệu người ồn ã” (trang 22). Tiếng sáo đó của
Thành cất lên trong công viên, thì chỉ có thằng Hạnh- thằng đánh giầy Chân
đất nghe thấy. Rồi khi Thành chết, thằng Hạnh lại tiếp nối bố mà thổi sáo.
Cái điệu bèo dạt mây trôi nói về nỗi mong manh, trôi nổi của kiếp người.
Để rồi Dung, mẹ nó từ nước ngoài về chợt nhớ đến Thành chồng cũ, đến con trai.
Những nhân vật thoáng qua như Hưng, anh Mễ, cũng là nhữngtiếng sáo lạc. Người
đàn bà có biệt danh mà thằng Hạnh đặt cho là bà ma đen làm nghề đồng
nát kiêm mại dâm “ai cho bao nhiêu cũng được” cũng là một tiếng sáo lạc giữa cuộc
sống chốn thị thành. Và ngày cả cô Toan, cô gái được học hành tử tế, được làm
trong nhà khách quân đội, tự cho là đảm đang, tháo vát, là “cô Tấm ngày nay”
cũng thành một tiếng sáo lạc khi mọi toan tính của cô đều là tìm chỗ
dựa, tìm cách trở thành bà chủ, có của nả riêng đứng tên mình.
Có thể nói tiểu thuyết được viết chặt chẽ, lớp lang với một kĩ thuật khá nhuần
nhuyễn. Đặc biệt là ngôn ngữ của các nhân vật trẻ em, ngôn ngữ của nhóm làm
thuê về từ Anggola. Về lớp lang, có thể thấy, chẳng hạn tiếng sáo ở đầu sách và
tiếng sáo ở cuối sách gợi cho Dung nhớ chồng, con. Cái vết chàm đen mà cu Tròn
phát hiện là bẩn ở cổ Hạnh, chính là để sau này Dung nhận ra con trai mình là Hạnh
trong tai nạn bất ngờ. Và anh chàng Tưởng trí thức cận thị, người đầu tiên
Toan lừa trả tiền áo diện, sau đó đã đến ngủ với Toan khi Việt đi Sài Gòn, sau
này chỉ xuất hiện với cái tên kính trắng khi Toan đã gá nghĩa với ông
Cần. Việc Dung gây nên cái chết của Hạnh và làm cu Phúc cũng bị thương nặng… là
một kết thúc để lại ấn tượng mạnh.
Tuy nhiên, có thể thấy một nhược điểm lớn của tác giả nữ này,
chị đã không kìm được sự khách quan khi miêu tả. Tôi không muốn tác giả gọi
Dung là “ả”, một cách gọi miệt thị, dù Dung có xấu đến đâu chăng nữa. Mặt khác
Dung nói rằng Dung chỉ muốn mượn thằng Tròn để làm xét nghiệm AND cho các con
ông Cần. Những đứa con ông ấy có ngu gì mà phải đợi đến sự giúp đỡ của Dung,
trong khi chúng còn mò đến tận nhà Toan, bắt quả tang Toan ngoại tình với kính
trắng? Lại nữa nhà văn quên rằng nhân vật của mình đã hết phổ thông trung học.
Thế mà Thành nghĩ về phương Nam “ở đó nghe nói có thành phố to hơn Hà Nội gọi
là Sài Gòn”. Đấy là ý nghĩ của một thanh niên mù chữ chứ không phải của người hết
cấp 3. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là sự miêu tả cẩu thả này: “Đêm nằm ôm
thằng Hạnh, nước mắt Thành cứ lăn ra rơi lộp độp xuống cái quần bò cũ
Toan cho Dung” (trang 117). Hình như thế chưa đủ gây ấn tượng chăng, ngay trang
sau, tác giả lại tả: “Nước mắt cứ lăn ra lộp cộp” (trang 118).
Phải chăng tôi là người khó tính, khe khắt, vụn vặt? Có thể.
Nhưng vì có ấn tượng tốt với tác giả, với thành công của tiểu thuyết nên cứ phải
nói ra. Đúng hay sai thì bạn đọc sẽ phán xét!.
Hà Nội, 21/7/2015





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét