Lao động bản thảo của các nhà thơ
Viết văn, nhất là làm thơ, là sự cân nhắc ý nghĩa trong từng
câu thơ. Nếu trong tay chúng ta có đầy đủ bản thảo của các nhà thơ cổ điển Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… chúng ta dễ dàng cân nhắc chữ nghĩa trong văn bản
mà chúng ta được đọc ngày nay. Thiên tài thơ ca của họ trước hết là ở việc sử dụng
tài tình ngôn ngữ. Không ai có thể phủ nhận thành tựu về ngôn ngữ trong “Truyện
Kiều”. Và không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu tôn vinh Hồ Xuân Hương là Bà chúa
thơ Nôm.
Điểm qua một số câu thơ trong một vài bài thơ của các nhà thơ
cận, hiện đại, ta cũng có thể thấy được sự dụng công về ngôn ngữ khi họ lao
động bản thảo.
Bản thảo Tràng giang được Huy Cận sửa chữa 17 lần.
Huy Cận đã phải lựa chọn trong rất nhiều câu thơ: Một cánh bèo xanh lạc giữa
dòng/ Một cánh bèo trôi đã lạc giòng/ Một cánh bèo đơn lạnh giữa giòng/ Một
cánh bèo xanh lạc mấy giòng/ Củi một cành xuôi lạc mấy giòng… để cuối cùng
đi đến hai câu thơ nổi tiếng trong bài “Tràng giang”:
Thuyền về nước cũng sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy giòng
Huy Cận còn kể lại rằng: Khi đưa in bài “Gánh xiếc” có mấy
câu:
Gái lệ kiều đi với ngựa voi
Về nhà đứa bé vẫn đùa chơi
Nhưng lòng trẻ đã theo đoàn xiếc
Xếp với màn to của rạp dời.
Dời có nghĩa là dời đi, rạp xiếc đã dời đi chỗ khác. Câu
thơ cũng gợi cảm, nói lên được cái ngơ ngẩn của chàng trai trước cái trôi nổi của
gánh xiếc, của cuộc đời. Nhưng đến lúc chữa mo-rat và in ra, ông thấy: “Xếp với
màn to của rạp đời”. Tác giả choáng ngợp, vì thấy chữ “rạp đời” hay quá,
vì ý rạp đời nằm trong luồng cảm xúc của bài thơ. Thế là tác giả giữ
nguyên nó. Một sự tình cờ may mắn biết bao cho thơ!
“Thề non nước” của Tản Đà là một bài thơ nổi tiếng, quen
thuộc với chúng ta. Để diễn tả nỗi chờ mong, ngóng trông, nhớ thương khắc khoải
của cô gái trong bài thơ, tác giả đã trăn trở rất nhiều. Và cuối cùng câu thơ
diễn tả tận cùng cái ý đó phải là:
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Nằm trong trường hợp này là bài thơ “Mẹ Tơm”của Tố Hữu: Tác
giả phải lựa chọn “vùi” vơi “hòa” trong hai câu thơ: “Sống trong cát, chết vùi
trong cát. Những trái tim như ngọc sáng ngời”. Từ “hòa” diễn tả được sự gắn bó
của người dân với cách mạng hơn, được tác giả chọn trong câu thơ. Cũng cần nói
thêm, mở đầu bài thơ này có câu: “Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa” được tác
giả giải thích: “Trong hai câu sau có âm vang của gió và sóng, có cả âm vang của
cả một tấm lòng. Nếu viết: Gió thổi lao xao, sóng biển rì rào, thì có lẽ không
còn gì. Hai câu thơ không chỉ đơn thuần tả cảnh, mà còn tả tình trong cảnh”. Từ lao
xao, rì ràođơn thuần tả cảnh, còn từ xôn xao, đu đưa vừa tả cảnh,
vừa tả tình, tất là phải qua sự lựa chọn này.
Nhà thơ Xuân Diệu không bao giờ dễ dãi với chữ nghĩa trong
thơ. Viết “Gửi hương cho gió”, “Hy mã lạp sơn”, Xuân Diệu đã nháp đến chục lần.
Theo những bản thảo của văn bản các bài thơ được công bố, ta thấy nhà thơ có sự
lựa chọn, cân nhắc cẩn trọng. Nhà thơ chọn “Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng
ngần” trong bài “Nguyệt cầm” thay cho “Trăng thương, trăng rộn, hỡi trăng
ngần”, dùng “con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu, lả lả cành hoang nắng trở chiều”
(Thơ duyên) hơn là “cánh hồng lả lả gió xiêu xiêu” “Con én về đâu nắng trở chiều”
và “Ngàn năm sực tỉnh lê thê. Trên thành son nhạt, chiều tê cuối đầu” (Chiều
xưa)… Bạn đọc có thể hiểu vì đâu nhà thơ có sự lựa chọn như thế.
Và đây là hai mẩu chuyện nhỏ trong công việc làm thơ của Xuân
Diệu. Mùa thu năm 1939, trên gác 40 phố Hàng Than, Hà Nội. Xuân Diệu đang làm
thơ “Thu” có mấy câu.
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
Buồn ở sông xanh nghe đã lại
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Xuân Diệu đọc, cứ đến câu thơ thứ hai của đoạn thơ là
ngắc ngứ. Huy Cận bảo cứ thử thêm vào bất cứ câu gì để lấy âm hưởng toàn bài.
Xuân Diệu đọc bừa:
Gió thầm, thu lặng, dáng thu xa.
Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà.
Huy Cận thốt lên: “Hay rồi. Hay lắm rồi!”. “Mới tạnh, mưa
trưa, chiều đã tà” thì thật là tuyệt. Câu thơ nói được cái cảnh mưa rào trưa sớm
tạnh, và cái trôi chảy của thời gian. Câu thơ rất cảnh, rất nội tâm. Đó là một
trong những câu thần bút của Xuân Diệu.
Sự thưởng thức của công chúng có khi cảm nhận ra điều mới mẻ,
bất ngờ ngay với nhà thơ, đem đến cho chữ nghĩa một sức biểu hiện khác, làm
giàu thêm cho văn học. Trong bài thơ “Biển” rất tình tứ, Xuân Diệu đã ví chàng
trai như những con sóng đại dương vỗ mãi vào bờ và các cô gái như: “Bờ đẹp đẽ
cát vàng/ Thoai thoải hàng thông đứng/ Như lặng lẽ mơ màng/ Suốt ngàn năm bên
sóng”. Chính Xuân Diệu đã đọc đoạn thơ này lên với tiếng sóng, bằng cách nhấn mạnh
các âm: Vàng, hàng, ngàn, màng. Cùng là tiếng sóng nhưng được ví cho cả
chàng trai lẫn cô gái! Kể cũng lạ! Một bạn đọc cho rằng cô gái ở đây được mô tả
rất đẹp, thuỳ mị lại pha chút kiêu kỳ, tóm lại là rất đáng yêu. Nhưng đã là cô
gái đáng yêu thì lúc nào các chàng trai cũng chờn vờn, quấn quýt xung quanh.
Xuân Diệu rất thích thú và về sau cũng giải thích như vậy. Sức mạnh của chữ
nghĩa trong thơ, trong văn học nghệ thuật chính là ở chỗ đó.
Nhà thơ Khương Hữu Dụng có một câu thơ rất hay trong bài: “Từ
đêm mười chín” là “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”. Sau này ông còn có bài thơ
tứ tuyệt: “Côn Sơn”
Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi
Trên đầu xanh ngắt một bầu không
Bàn cờ thế sự quân không động
Mà thấy quanh mình nỗi bão giông…
Nhiều sách báo khi in bài thơ này đều nhầm thành nổi bão
giông. Ông mấy lần đề nghị đính chính. Đây là cái bão giông ở trong lòng tác giả,
nên phải viết là nỗichứ không phải cái giông bão của trời đất mà có thể nhầm
thành nổi được. Một chữ nỗi nghe thật thấm thía và đau đớn
nữa.
Năm 1968, Trần Đăng Khoa lúc bấy giờ mới 10 tuổi sáng tác bài
thơ lục bát “Đêm ngủ ở Côn Sơn” có câu thơ khá hay:
Ngoài thềm rụng chiếc lá đa
Tiếng rơi rất nhẹ như là rơi nghiêng
Sau có người đề nghị Khoa sửa lại chữ nhẹ. Vì theo
nguyên tắc vật lý, chiếc lá khi rơi nghiêng, diện tích chạm vào mặt đất rất nhỏ
thì tiếng rơi phải rất nặng chứ không thể nhẹ được. Khoa ngẫm
nghĩ thấy cũng phải, và sửa lại:
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
Chữ mỏng hay quá, bất ngờ quá, mới lạ quá. Xưa nay
chưa ai dùng chữ tiếng rơi rất mỏng cả. Đó là chữ dùng tài hoa của thần
đồng thơ Trần Đăng Khoa.
Sinh thời nhà thơ Nguyễn Bính đã được thợ nhà in sửa chữa thơ
ông. Sự thật thì thợ sắp chữ sắp nhầm thơ ông. Ấy là vào năm 1954, Nguyễn Bính
tập kết ra Bắc, để lại người vợ ở miền Nam. Năm 1956 ông viết bài thơ dài thể
song thất lục bát được Nxb Phổ thông ấn hành mang tựa đề “Gửi vợ miền Nam”. Một
khổ thơ trong bài nội dung nói về người vợ trẻ ở lại miền Nam chịu đựng gian khổ
trước sự dọa dẫm của kẻ thù. Người mẹ một mực chờ chồng nuôi con. Ông viết:
Lấy thân làm bức thành đồng cho con
Thì người thợ sắp chữ là:
Lấy thân làm bức thành đồng che con
Tập thơ ấy in xong, Nguyễn Bính đọc lại bản in thì thấy từ cho được
thay bằng từ che, ông thoạt đầu ngạc nhiên thấy in sai, rồi nghĩ lại
một lát, ông không buồn giận nhà in, mà tủm tỉm cười, gật đầu tấm tắc nói nhỏ một
mình: “Hay quá!”. Quả chữ che hay hơn chữ cho, vì trước mũi súng
quân thù, mẹ che cho con mới đúng với vị trí, tình cảm của người mẹ khi cái chết
kề bên.
Sau đó 6 năm, lại có trường hợp tương tự nhưng không ở câu
thơ mà với tập thơ. Ấy là lần nữ sĩ Xuân Quỳnh có tập hợp các bài thơ đăng lẻ để
in chung với Cẩm Lai. Tên chung của tập thơ là “Tơ tằm - Chồi biếc”. Nhưng bản
thảo vốn tên “Tơ tằm - Trời biển”. Biên tập viên của Nxb Văn học lúc đó là nhà
thơ Khương Hữu Dụng đã đổi tên thành “Chồi biếc” cho phần thơ của Xuân Quỳnh.
Khi sách in ra, cầm tập thơ đầu tay, Xuân Quỳnh rất ngỡ
ngàng. Chắc nhà thơ xứ Quảng nghĩ tài thơ Xuân Quỳnh hé nở trong tương lai như
chồi biếc chăng?. Lời tiên đoán này thật chính xác, bởi sau đó ta biết, tài
năng thơ Xuân Quỳnh nở rộ, đứng đầu bảng trong các nhà thơ nữ thời chống Mỹ.
Nhà thơ Phạm Đình Ân kể lại quá trình hoàn chỉnh bài thơ “Nhớ
rừng” của Thế Lữ trong bài “Thế Lữ và số phận bài thơ Nhớ rừng” (Phụ bản Thơ,
Báo Văn nghệ, số 9, tháng 3-2004) như sau: “Nhớ rừng” của Thế Lữ là một
trường hợp hẳn là khá trớ trêu và có phần lý thú. Bài thơ này được nằm trong tập
“Mấy vần thơ” xuất bản lần đầu năm 1935 (Nguyễn Thế Lữ, Mấy vần thơ, Nxb Đời
nay, H. 1953), lần 2 vào năm 1941 (Thế Lữ, Mấy vần thơ, tập mới, Nxb Đời nay,
H. 1941). Trước tiên cần thấy rằng, ở bản 1941, bài thơ có 47 dòng thì bị thay
và thêm bớt từ ở 27 trường hợp thuộc 20 dòng. Đầu năm 1982, Thế Lữ gửi tặng họa
sĩ Tô Sanh văn bản bài thơ “Nhớ rừng” do ông chép tay được sửa chữa 28 chỗ
(Theo Tô Sanh - Nhà thơ Thế Lữ đã sửa chữa bài thơ “Nhớ rừng”, Tạp chí Sân khấu
TP. Hồ Chí Minh, Xuân 1997). Cho đến bản ấy bài thơ chỉ còn lại 15 dòng nguyên
vẹn trên tổng số 47 dòng thơ.
Xin nêu một số ví dụ về sự sửa chữa của nhà thơ Thế Lữ với
bài “Nhớ rừng”:
1. Một dòng thơ ở khổ đầu, bản 1935: “Giương mắt bé diễu oai
rừng thẳm”Sửa ở bản 1941: “Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm” Sửa lần
cuối khi tặng Tô Sanh: “Đứng giương mắt, diễu oai phong rừng thẳm”.
2. Một dòng thơ ở khổ thứ ba, bản 1935: “Để chiếm lấy phần tối
tăm bí mật”. Sửa ở bản 1941: “Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?”. Sửa
tay vào bản 1941:“Để chiếm lấy riêng ta phần bí mật”. Sửa lần cuối khi tặng
Tô Sanh: “Để chiếm lấy riêng ta đời bí mật”.
3. Một dòng thơ ở khổ cuối, bản 1935: “Nơi ta chẳng còn
mong được thấy bao giờ”. Sửa ở bản 1941: “Nơi ta không còn được thấy
bao giờ”. Sửa tay vào bản năm 1941: “Nơi ta chẳng mong còn thấy lại bao
giờ”. Sửa lần cuối khi tặng Tô Sanh:“Nơi ta không gặp lại được bao giờ”.
Bài “Nhớ rừng” tập trung nhiều tâm sức sửa chữa kéo dài
trong nhiều năm tháng của Thế Lữ, nhằm tạo ra một văn bản thứ hai hoàn mĩ đến tối
đa.
Không chỉ chữa thơ cho chính mình, nhà thơ Thế Lữ còn chữa
thơ cho người khác. Trong tập thơ “Gái quê” (1936) của nhà thơ Hàn Mặc Tử có
bài “Bẽn lẽn” với hai câu mở đầu vào loại “tuyệt cú” được nhiều người thuộc:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi…
Thật ra trong bản thảo của tác giả khi gửi in báo Ngày
Nay, câu đầu nguyên văn là: “Trăng nằm sóng sượt trên cành liễu” .
Nhà thơ Thế Lữ, lúc bấy giờ phụ trách phần thơ trên Ngày Nay đã chữa
chữ “sượt” thành chữ “soãi”, và do vậy, cứu cho câu thơ khỏi bị
rơi vào tình trạng không… thơ. Thế Lữ vốn rất quý tài thơ của Hàn Mặc Tử và vẫn
tiếc là Hàn mất quá sớm nên không được gặp.
Cũng chính Thế Lữ đã chữa thơ trong bài “Nhị hồ” của nhà
thơ Xuân Diệu. Trong bản thảo gửi về báo Ngày Nay, Xuân Diệu viết:
Sương nương theo trăng ngừng giữa trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
Chỉ cần chữa một chữ “giữa” thành chữ “lưng” người
“biên tập” đã biến hai câu thơ thành toàn vần bằng, rất thanh thoát. Suốt nhiều
chục năm sau, nhà thơ Xuân Diệu vẫn còn cảm kích cái ơn tri ngộ của nhà thơ đàn
anh. Và cũng chính hai câu thơ toàn vần bằng, được cả tác giả lẫn bạn đọc
yêu thích ấy, đã gây nên cái “mốt” một thời làm những câu - thậm chí cả bài thơ
toàn vần bằng. Đến nỗi chính Thế Lữ - dưới bút hiệu Lê Ta - làm thơ chế giễu:
Thơ ơi là thơ, mềm ơi mề
Than ôi lòng ta sao lim dim
Sầu ru? Hay là ta hơi gàn
Cho nên nghiêng đầu luôn luôn than
Chưa đủ, Lê Ta còn đăng bài toàn vần trắc để thậm chế giễu một
kiểu bắt chước lố bịch:
Lúc đó quả bóng sắp tới mép,
Bỗng chạm phải nách một lực sĩ.
Tức khắc một tiếng thổi dõng dạc
Bóng bị giữ lại cách sáu thước…
Thế mới biết, có khi chỉ một chữ, có thể làm hỏng một
câu, thậm chí cả một bài thơ và vai trò của người biên tập thật là lớn.
Việc dụng công chữ nghĩa trong thơ làm ta nhớ đến chuyện xưa:
Nhà thơ Giả Đảo đời Đường (779-813), có việc đến nhà người bạn là Lý Ưng. Trên
đường đi ông nghĩ được hai câu thơ:
Điểu túc trì biên thụ
Tăng thôi nguyệt hạ môn
Nghĩa là:
Chim ngủ trên cây bờ ao
Nhà sư đẩy cửa dưới trăng.
Nhưng ông phân vân không biết nên dùng chữ thôi (nghĩa
là đẩy) hay dùng chữ xao (nghĩa là gõ) nên vừa đi đường vừa giơ tay
làm động tác đẩy rồi lại làm động tác gõ vào không khí. Mải mê quá ông vô tình
đâm sầm vào chiếc xe chở một vị đại quan đang đi kinh lý. Ông vô cùng hoảng sợ
xin quan tha tội cho. Rất may vị quan ấy là Hàn Dũ (768-824) cũng là một nhà
thơ lớn đương thời. Hàn Dũ dừng lại hỏi han. Giả Đảo bèn kể lại đầu đuôi câu
chuyện. Nghe xong Hàn Dũ khuyên nên dùng chữ xao vì chữ xao vừa
tả động tác lại vừa tạo cả âm thanh, hay hơn. Sau đó người đời quen dùng chữ thôi
xao để nói đến việc chọn chữ kỹ lưỡng trong khi làm thơ.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét