Ở Việt Nam, khoảng hơn 30
năm trở lại đây chứng kiến sự bung nở mạnh mẽ của dòng “văn học nữ tính” trên
nhiều phương diện: Đội ngũ sáng tác (bao gồm cả lĩnh vực sáng tác, nghiên cứu -
phê bình, dịch thuật), chất lượng tác phẩm, hiệu ứng dư luận, sự thừa nhận của
các đồng nghiệp nam, vị trí quan trọng trong các hoạt động nghề nghiệp, số lượng
giải thưởng dành được hàng năm… Riêng trong lĩnh vực sáng tác, không khó để nhận
diện hàng loạt những gương mặt tiêu biểu góp phần làm nên diện mạo của văn học
Việt Nam sau Đổi mới: Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu
Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, Đoàn Lê,
Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Lý Lan,
Dương Thu Hương, Trang Hạ, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư…
Sự xuất hiện và phát triển mạnh
mẽ của dòng “văn học nữ tính” ở Việt Nam được khơi nguồn và cộng hưởng từ nhiều
yếu tố nội sinh và ngoại sinh: (1) tinh thần “đổi mới”, “dân chủ” tạo điều kiện
cho nữ giới phát huy năng lực, tự do cất tiếng nói, khẳng định giá trị tồn tại
độc lập của mình; (2) sự giao lưu văn hóa đa phương với thế giới bên ngoài mở
mang cho nữ giới những kinh nghiệm, hiểu biết, qua đó tạo nên sự thay đổi lớn
trong nhận thức, tư duy về giới; (3) bản thân nữ giới luôn có ý thức nâng cao
trình độ học vấn, tự chủ về kinh tế, độc lập trong suy nghĩ, từ đó từng bước nắm
trong tay quyền tự quyết số mệnh của mình; (4) sự thức tỉnh của cái tôi - chủ
thể sáng tạo, nữ giới luôn tự ý thức về mình, vượt lên cái tôi thường nhật để
khẳng định nhân vị; (5) cấu trúc bộ não, nhịp sinh học cũng như sự nhạy cảm bản
năng cùng những mối quan tâm, trăn trở của nữ giới có nhiều điểm gặp gỡ với nhịp
sống hiện đại và thực tiễn vận động, phát triển, đổi mới của nền văn học nước
nhà. Chính sự cộng hưởng, tương tác của các yếu tố trên đã truyền được cảm hứng
cho những khát khao của người nghệ sĩ thăng hoa thành sinh thể nghệ thuật mang
chiều sâu văn hóa, giá trị nhân văn hiện đại.
1. “Thế giới bé mọn” nhìn từ
cảm thức đời tư - thế sự - nhân văn
Tinh thần dân chủ xã hội mở
rộng, người phụ nữ ngày càng có ý thức đầy đủ hơn về cá nhân của mình. Họ muốn
là một nhân cách, một nhân vị độc lập, không bị chế định trong quy ước cộng đồng;
được phát huy tận độ những “năng lực người”, được quyền tự định đoạt cuộc sống
của mình. Cảm hứng sáng tạo trong tác phẩm của các nhà văn nữ được khơi dậy từ
chính sự trải nghiệm giới tính cùng những suy tư, trăn trở về thân phận con người.
Không xa vời, to tát, không ảo tưởng, phù phiếm, phạm vi hiện thực mà các cây
bút nữ hướng tới là những vấn đề gần gũi với bản thân, những câu chuyện rất đời,
rất người gắn với “thế giới nhỏ mọn”, có khi tủn mủn, nhỏ nhặt. Hơi ấm nữ tính
được toát ra, “bảo lưu” và thăng hoa trọn vẹn trong hệ đề tài, chủ đề vĩnh hằng
mang “hậu tố nữ” rõ nét: Thiên tính “mẫu”, niềm kiêu hãnh giới, tình yêu đôi lứa,
hạnh phúc gia đình, khát vọng tự do, giải phóng bản thể/ bản năng, nỗi đau thân
phận đàn bà…
Những khát vọng nhân bản
mang tầm phổ quát này đã đem lại sức ám ảnh cũng như sự quyến rũ trong tiểu
thuyết của các nhà văn nữ đương đại. Trong các sáng tác đó, câu chuyện trung
tâm là thế giới đàn bà, hình tượng trung tâm là các nhân vật nữ với những tính
cách đa diện, những trạng huống tâm lý phức tạp, những mối quan hệ đời tư đan
xen cùng số phận và tấn bi kịch nghiệt ngã: Cuộc sống riêng tư, đời thường, “bi
kịch nhỏ” (Mỹ Tiệp - Gia đình bé mọn, Hạ - Blogger, Mai và Liên - Paris
11 tháng 8, An Mi - Và khi tro bụi…); đời sống tính dục, bản năng (Pát - Paris
11 tháng 8, Từ, Xuân - Xuân Từ Chiều, Mỹ Tiệp - Gia đình bé mọn,
Không Bé - Tiểu thuyết đàn bà); bị chấn thương vì hệ lụy chiến tranh (Thoa
- Tiểu thuyết đàn bà, An Mi - Và khi tro bụi…), bởi định kiến của cộng
đồng Mỹ Tiệp - Gia đình bé mọn), do xung đột văn hóa, cuộc sống hoang hoải
xa xứ (Không Bé - Tiểu thuyết đàn bà, Liên, Mai, Pát - Paris 11 tháng
8, “tôi” - Chinatown, Vy - Vân Vy…); khát vọng tự do, yêu thương
và lầm lạc của kiếp nhân sinh (Nhuệ Anh, Ngạn La - Giàn thiêu, Bạch Dung,
Bạch Vân - Đàn đáy); nghị lực phi thường và sức sống bất diệt (Mai - Cánh
chim kiêu hãnh)...
Với những trải nghiệm cá
nhân, sáng tác của các nhà văn nữ chất chứa khát vọng, nỗi niềm và bi kịch của
nhiều thế hệ đàn bà trong một đất nước đã phải trải qua quá nhiều biến động khắc
nghiệt. Ở đó in dấu cả nét rạng rỡ hạnh phúc lẫn nỗi tăm tối dày vò; sự trong
trẻo, thuần khiết đan bện những đau đớn, lầm lạc của kiếp người. Nỗi ám ảnh,
day dứt khôn nguôi đối với người đọc đó là những gương mặt đàn bà, dù có những
tính cách khác nhau nhưng họ lại có những điểm chung: Luôn lạc lõng, bơ vơ, bất
hạnh, bị bủa vây bởi những giới hạn thường tình, loay hoay đi tìm thứ hạnh phúc
nhỏ nhoi đáng ra thuộc về mình. Những bi kịch, éo le, những nghịch lý, đắng đót
được trưng ra để kiếm tìm sự sẻ chia, đồng cảm. Càng bị vùi dập trong bất hạnh,
đau khổ thì niềm kiêu hãnh về giới, thiên tính “nữ” càng trỗi dậy mãnh liệt. Và
quan trọng hơn, với những người đàn bà, đó là nơi họ thể hiện bản lĩnh sống, khẳng
định niềm tin yêu, biết trân trọng, giữ gìn tình yêu và nuôi dưỡng, bảo vệ hạnh
phúc gia đình. Thiên tính “nữ”, biểu tượng của sự bao dung, vị tha, tái sinh,
che chở cứ ngời lên trên mỗi con chữ được viết ra từ chính nỗi đau và niềm kiêu
hãnh của nữ giới; mang đến cho đời sống văn học những dư vị ngọt ngào, lắng đọng
của thứ triết học - văn hóa nhân bản.
2. Chiến tranh và lịch sử
nhìn từ cảm thức nhận thức lại trên nguyên tắc đối thoại
Viết về chiến tranh và hậu
chiến, các nhà văn nữ không có tham vọng phục dựng lại bức tranh hoành tráng
mang tinh thần sử thi. Phạm trù cái hùng, cái lý tưởng nhường chỗ cho cái bi,
cái nghịch lý; cái đời thường/ nhỏ bé được thay thế cho cái cao cả, lớn lao;
phương diện đời tư, cá nhân được đẩy lên hàng đầu choán chỗ phương diện cộng đồng,
dân tộc, giai cấp. Nỗi đau thân phận đàn bà trong và sau cuộc chiến trở thành nỗi
ám ảnh, sự day dứt khôn nguôi trong các sáng tác của Lý Lan (Tiểu thuyết đàn bà),
Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi), Bích Ngân (Thế giới
xô lệch)... Trải dài trên những trang văn là những cuộc đời nối dài những cuộc
đời, những bất hạnh xếp chồng những bất hạnh. Những gương mặt đàn bà từ bà Tổ mọi,
bà Ngoại, Thoa, Liễu, đến chị Đen, Không Bé (Tiểu thuyết đàn bà), Mỹ Tiệp (Gia
đình bé mọn), An Mi (Và khi tro bụi)… dù tính cách khác nhau, nhưng lại giống
nhau ở cùng bi kịch: Làm đàn bà trong một đất nước chiến tranh. Cả cuộc đời họ
phải chịu thử thách, phải chờ đợi, phải tha hương sầu xứ và cuối cùng hứng chịu
bất hạnh từ những di chứng về thể xác, những chấn thương về tinh thần…
Khi có một độ lùi nhất định
về thời gian, con người luôn có nhu cầu nhận thức, luận giải và đối thoại với
các vấn đề chiến tranh và những hệ lụy của nó. Không chỉ là chiến thắng, vinh
quang, cái giá phải trả để được tự do, độc lập quả thật không gì có thể đo đếm
được. Chiến tranh là một biến cố khác thường, nó không phải chấm dứt khi
tiếng súng ngừng nổ mà hệ lụy của nó vẫn còn dai dẳng, nhất là đối với những
người phụ nữ. Cái nhìn hướng nội từ tâm cuộc chiến khiến cho những tác phẩm của
các nhà văn nữ mang một tinh thần nhân bản sâu sắc. Những khát vọng tình yêu, hạnh
phúc, thân phận đàn bà, những trải nghiệm giới tính, trong chiến tranh được nhiều
tác giả miêu tả chân thực, sinh động và đầy sức ám gợi.
Các sáng tác về đề tài lịch
sử của nhà văn nữ không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng tiếp cận gần gũi
hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, soi rọi từ góc nhìn đời tư bình dị, truy
tìm và giải mã đời sống văn hóa, tâm linh; mà còn trình hiện, luận giải về số
phận và bi kịch cá nhân con người. Trong bức tranh hiện thực lịch sử ấy vang
lên những thông điệp về tình yêu, hạnh phúc gia đình và khát vọng tự do (Giàn
thiêu - Võ Thị Hảo); sự trường tồn bất tử của ý chí, nghị lực… (Cánh chim
kiêu hãnh - Đỗ Bích Thúy); những nỗi đau thế thái nhân tình, yêu thương và
lầm lạc của kiếp người (Đàn đáy - Trần Thu Hằng). Tiếng nói cá nhân trở
thành trung tâm trong tư duy tự sự về lịch sử và âm hưởng nữ quyền tạo sắc thái
giọng điệu rất riêng.
Trên lãnh địa sáng tạo văn học,
người đàn bà văn tự tin công khai bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình và dám
chịu trách nhiệm trước những phát ngôn, những diễn giải mà họ trao gửi cho người
đọc.
3. “Lối viết thân thể”, giải
phóng bản ngã nữ giới
Các nhà văn nữ bày tỏ thái độ
chống lại sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông, vượt thoát khỏi không gian văn hóa
nam quyền. Họ dám sống và viết theo tiếng gọi của trò chơi, của giấc mơ, của dục
tính nguyên sơ… Những vấn đề vốn trước đây là vùng đất cấm, nay được các nhà
văn nữ không ngần ngại xông vào, nhất là đề tài tình dục.
Dục tính tồn tại hiển nhiên
trong mỗi người là yếu tố quan trọng làm nên bản thể. Nó cho con người những
giây phút sống đích thực là mình với những rung động và thăng hoa cảm xúc. Với
các nhà văn nữ, tình dục là một phương diện thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã
và khát vọng tự giải thoát khỏi các mã diễn ngôn, mã văn hóa do nam giới đặt ra
và duy trì. Ở đó dần lộ diện “lối viết bằng thân thể”, phô diễn những khoái lạc
dục vọng. Họ đã dùng ngôn ngữ thể xác như một nhịp mạnh, một điểm nhấn táo bạo
để biểu hiện dòng chảy của tư tưởng và cảm xúc. Không phải ngẫu nhiên, nhà nữ
quyền Pháp, Hélène Cixous, kêu gọi phụ nữ đặt thân thể của họ dưới ngòi bút của
mình.[3]
Khai thác vấn đề bản năng
tính dục như là cách thức để nhà văn nữ khám phá sự đa chiều, đa diện về con
người, đồng thời giải phóng người đàn bà khỏi những định chế văn hóa xã hội hẹp
hòi. Nhiều nhà văn nữ trong giai đoạn này đã miêu tả các nhân vật nữ bằng vẻ đẹp
thân thể, gợi tình, giàu nữ tính. Những lớp ngôn từ ngồn ngộn diễn tả thân thể
trở thành điểm hẹn hội ngộ của vẻ đẹp nguyên thủy độc đáo trong mã diễn ngôn tự
sự. Sâu xa hơn, đó còn là một cuộc đối thoại về giới nhằm tái khẳng định quyền
năng của phái nữ. Những hình ảnh có tính gợi về thân thể không mang đến cảm
giác nhục thể, khiêu gợi mà biểu hiện cho tính cách, số phận, bi kịch của người
đàn bà.
Bên cạnh ca ngợi vẻ đẹp thân
thể người phụ nữ, các nhà văn nữ trong nỗ lực nhận diện về con người một cách
thành thực, không tô vẽ; con người như chính sự tồn tại phức tạp trong đời sống,
đã mạnh dạn đi sâu khám phá những khoái cảm tính dục. Khao khát dục tình đã cho
phép nhiều tác giả thám hiểm về con người trong khía cạnh tự nhiên, bản năng và
nhân bản của nó. Quan trọng hơn nữa, qua đời sống tính dục thầm kín, riêng tư
này các cây bút nữ dường như muốn lên tiếng đòi giải phóng người phụ nữ khỏi những
diễn ngôn nam quyền về tính dục. Những cảm giác tuổi dậy thì, sự trải nghiệm “lần
đầu tiên” gắn với sự kiện mất trinh tiết, nỗi đau đàn bà trong những lần phá
thai… được Phạm Thị Hoài (Thiên sứ), Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Võ Thị Xuân Hà
(Tường thành), Phong Điệp (Blogger), Đoàn Lê (Tiền định), Thuận (Paris 11 tháng
8, Chinatown, T mất tích)… miêu tả gắn với cái nhìn nhân văn về giới.
Bằng lối viết chạm đến những
điều trước đây là cấm kỵ, những nhà văn nữ đã len lỏi vào những ngóc ngách của
tầng sâu vô thức để quan sát, nắm bắt những biến thái xúc cảm tế vi cùng những ẩn
ức bản năng của người phụ nữ. Qua các nhân vật nữ, các nhà văn đã thẳng thắn, mạnh
bạo nói lên tiếng nói bình quyền, tiếng nói đòi giải phóng cái tôi cá nhân cho
những người thuộc giới họ. Con người không chỉ được quan niệm như là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội mà còn như là một sản phẩm của tự nhiên đã giúp cho nhà
văn có cái nhìn chân thực hơn, “người” hơn và theo đó, cách đánh giá cũng độ lượng
hơn, giàu tính nhân bản hơn.
Các nhà văn nữ và những “đứa
con tinh thần” của họ là một minh chứng cho quyền được bình đẳng, tự do trên
trang viết, quyền được công khai bộc lộ chính kiến cá nhân, mở ra một thế giới
tự do trong sáng tạo, mang đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ.
Chú thích
[1]: Xem thêm Nguyễn Đăng Điệp,
“Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, nguồn:
http://phebinhvanhoc.com.vn.
[2]: Xem thêm Lưu Tư Khiêm,
“Văn học nữ tính”, Phan Trọng Hậu lược dịch, Báo Văn nghệ số 42, ngày
14.1.2006.
[3]:
Xem thêm Raman Selden, “Phê bình nữ quyền”, Tạp chí Sông Hương số
278, 4- 2012, Hồ Thị Dương Liễu dịch, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét