1. Nếu để ý, ta sẽ bắt gặp các từ ngữ địa phương - phương ngữ
xuất hiện trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Trong ngôn ngữ thơ, việc sử dụng vốn
phương ngữ để làm chất liệu cho tác phẩm quả không dễ gì. Không nhiều thi sĩ
làm được việc này một cách thuần thục, đặc biệt là đối với thơ ca thời kỳ Trung
đại. Điều này càng minh chứng cho sự gần gũi, sự hiểu biết sâu sắc, nhuần nhuyễn
vốn từ ngữ dân gian của Hồ Xuân Hương. Đó là những từ: Thẹn, khem, dòm, chi,
phô, trưa trật, vô, trốc... Tuy với những từ đặc phương ngữ như vậy nhưng
khi đi vào tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, không những không gây cho độc giả
sự khó hiểu, mà ngược lại, nó làm cho câu thơ thêm sức nặng gợi tả, gây ấn tượng
đậm nét đối với người đọc. Từ dòm là một trong những từ ngữ như thế. Hãy đọc lại
các câu thơ của nữ sĩ:
- Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
(Động Hương Tích)
- Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!
(Hang Cắc Cớ)
2. Tại sao là dòm chứ không phải là nhìn? Cũng là nhìn cả,
song cái sắc thái châm biếm, mỉa mai, cái sắc thái tiêu cực chỉ có trong động từ
dòm mà không thể có trong nhìn được. Cái sự để ý thái quá, sự tọc mạch, một
thái độ đáng coi thường chỉ bộc lộ được qua động từ dòm đặc phương ngữ, mà tác
giả đã dày công chọn lựa. Không đơn giản chút nào. Để thấy rõ hơn, ta hãy thực
hiện một thao tác thay thế đơn giản là thay nhìn vào vị trí của dòm trong hai
câu thơ trên, để xem hiệu ứng của sự thay thế này ra sao. Đây cũng là biểu hiện
một khía cạnh tài thơ của “Bà Chúa thơ Nôm”. Hãy đọc hai câu thơ đã thay thế:
- Người quen cõi phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt nhìn.
- Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ nhìn!
3. Thông thường, các tác giả dùng từ ngữ địa phương trong tác
phẩm của mình là nhằm để khắc họa tính vùng miền, muốn cá thể hóa hình tượng
văn học để người đọc dễ định danh được tác phẩm của họ. Đối với nữ sĩ Xuân
Hương, tác giả sử dụng từ ngữ phương ngữ với mục đích hoàn toàn khác. Điều dễ
thấy là, ở đây tác giả đã làm việc hết sức công phu, hết sức thận trọng trên
cái trục liên tưởng của ngôn ngữ, để lựa chọn ra được từ thật giá trị, thật
thích hợp, thật đắt để đưa vào tác phẩm. Vì thế, ở những vị trí nhất định của
câu thơ, của bài thơ không thể dùng được một từ ngữ thông dụng thì bắt buộc tác
giả phải tìm đến một từ ngữ địa phương. Trên cái trục liên tưởng của nhìn sẽ có
trông, thấy và dòm. Nhìn, trông, thấy là những từ thuộc chuẩn mực ngôn ngữ, chỉ
có dòm là một từ địa phương. Song điều quan yếu là không thể lựa chọn các từ
chuẩn mực đó được. Do vậy, mà tác giả đã quyết định lựa chọn một từ thuộc
phương ngữ dòm. Điều này cũng là lẽ tự nhiên của người làm thơ nói chung, đối với
các nghệ sĩ nói riêng. Và đây, cũng là một trong những bí quyết sinh tồn của
ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng vậy.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và
Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội.
2. Lê Chí Dũng (2001), Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm luật
Đường, Nxb Văn học, Hà Nội.
3. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb. Giáo dục.
4. Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (Chủ biên) (1995), Nxb. ĐNẵng
- Trung tâm từ điển học, Hà Nội.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét