Vai trò nhà văn trong quan
niệm
của ông cha ta xưa
Việc xác định vai trò của
nhà văn trong quá trình sáng tác văn chương là một trong những vấn đề lý luận
trọng yếu được nhiều người quan tâm trong những năm gần đây. Khi đi sâu tìm hiểu
những ý kiến phong phú và quý báu về văn chương của ông cha xưa, chúng ta vô
cùng cảm động và tự hào vì nhiều vấn đề lý luận cơ bản trong đó có vấn đề vai
trò của nhà văn trong quá trình sáng tạo đã được đặt ra và lý giải khá đầy đủ,
khá thỏa đáng.
Từ thực tiễn sáng tác phong
phú của văn chương trong nước và ngoài nước (chủ yếu là lịch sử văn chương
Trung Quốc), nhiều khi chính bằng sự thể nghiệm thấm thía của bản thân, ông cha
ta trước sau đều dứt khoát khẳng định vai trò chủ đạo của người cầm bút trong
sáng tác thơ văn. Vào thế kỷ XIX, một học giả khi tìm lẽ trường tồn của những
áng danh văn thời xưa đã viết rất đúng rằng: “Riêng ta trộm nghĩ: Người xưa hồn
hậu cho nên những điều họ viết ra sách phần nhiều là những danh ngôn không còn
chỗ nói” (trích từ Nguyên mặc lược biên) [4a]. Sách ở đây gồm cả tác phẩm
của các nhà trước thuật và văn thơ của các bậc văn nhân. Nhìn chung về sách
xưa, văn xưa là vậy mà nhìn riêng vào những tác giả, tác phẩm cụ thể, quan niệm
của ông cha ta vẫn không khác. Chi phối nhất quán bởi quan niệm trên, Nguyễn
Văn Siêu đã giải thích khá biện chứng văn phong của Đào Tiềm:“... Cái thế mà
ông gặp phải không được thuận lợi, cho nên cái tâm của ông mờ tối, nên khi phát
ra lời thì đâu phải hoàn toàn “phẳng lặng” (hòa bình)” (trích trong “Phương
Đình vấn loại”) [4b]. Cố nhiên, kiến giải sơ sài trừu tượng của Nguyễn Văn Siêu
chưa làm chúng ta ngày nay hoàn toàn thỏa mãn, nhưng phải chăng nhà văn đồng thời
là học giả có tiếng này của thế kỷ trước khi đi từ “tâm” của Đào Tiềm để lý giải
“lời” của thi sĩ, và hơn thế biết tìm cội nguồn cái “tâm” của thi sĩ họ Đào từ
hành tích, từ cái “thế” không được may mắn của ông, là người bình luận đã tìm
được hướng đúng, có sức thuyết phục người đọc.
Dù ở đâu và nói bằng cách
nào, vị trí của từng yếu tố trong quan niệm của các học giả xưa vẫn xác đáng,
rành rọt. Cái quyết định chất và văn bao giờ cũng thuộc về chủ thể sáng tạo. Bởi
vậy Cao Bá Quát mới cho rằng: “Thơ không có phẩm chất nhất định, phẩm chất của
người là phẩm chất của thơ. Phẩm chất của người cao thì phẩm chất của thơ cao”
(Bài viết trang cuối bài thơ “Rừng chuối” - Cao Chu Thần thi tập). Hay nói cách
khác văn tức là người. “Văn thâm hậu thì con người của nó trầm và tĩnh, văn ôn
nhu thì con người của nó đạm và giản, văn hùng hồn thì con người của nó cương
và nhanh, văn uyên sâu thì con người của nó thuần túy mà đúng đắn” (Nguyễn Đức
Đạt) [2]. Câu nói “Văn là người” truyền từ xưa ấy có phần khuôn sáo. Song dù
sao nó cũng soi rọi cho chúng ta ngày nay thấy được mối quan hệ khăng khít giữa
sản phẩm sáng tạo với chủ thể sáng tạo trong ý niệm của người xưa.
Vì văn là người, người chi
phối văn, nên muốn tìm hiểu văn cần hiểu người; hiểu người càng thấu đáo, càng
có điều kiện hiểu văn đến ngọn nguồn. Muốn đi vào lâu đài văn chương, đối với
người xưa, thì đây là cái chìa khóa hiệu nghiệm hơn cả. Còn khi chưa nắm được
cái chìa khóa ấy thì việc thẩm văn, bình văn vốn đã khó lại trăm lần khó hơn.
Nguyễn Tư Giản đã tiếp cận tới chân lý nói trên khi thừa nhận: “Bởi vì không nắm
được tinh thần của tác giả, thì cũng khó mà phân biệt được thể cách của
tác giả” (Thạch nông toàn tập). Cũng bởi văn là người cho nên việc mô phỏng
trong văn thơ xưa nay hầu như là điều không làm được, nếu người mô phỏng không
muốn trở nên kệch cỡm trước con mắt của thiên hạ. Nguyễn Văn Siêu khi bàn tới những
cây bút lăm le phỏng theo thơ Đào Tiềm đã viết: “Tôi thấy từ xưa đến nay các
nhà mô phỏng họ Đào nhiều lắm, dù họ có cái hành tích của ông, nhưng cũng không
sao giống được. Vì con người của họ Đào rất chân chính, tài lại cao, ý lại xa
cho nên thơ văn của ông không gò ép, mới nhìn hầu như tản sơ đạm phác nhưng bên
trong lại chứa đựng nhiều tư thái hào hùng, phong độ kỳ diệu muốn khơi dậy ý
chí của con người, cho nên các nhà thơ chỉ phỏng theo được cái vỏ của nó mà
thôi” (Rút từ Phương Đình vấn loại) [4 con người]. Giữa Đào Tiềm và
người phỏng theo thơ ông có sự khác biệt rõ rệt về tư tưởng, về bản lĩnh, về
tài năng. Người bắt chước giỏi lắm chỉ nhận đôi cái vỏ ngoài của thi sĩ mà
thôi! Rõ ràng, từ nhiều giác độ khác nhau, ông cha ta tự nhiên soi tỏ cái đạo lớn
của nghệ thuật về vai trò chủ đạo của nhà văn trong sáng tạo văn chương.
Theo ông cha ta xưa, có nhiều
yếu tố chủ quan ở nhà văn tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đó là phẩm
chất tư tưởng cao sâu, tầm hiểu biết uyên bác nhờ học hỏi, nhờ trải đời. Và để
đáp ứng đòi hỏi riêng của văn chương, một hình thái hoạt động đặc thù của con
người, ông cha ta còn nói đến tư chất, tài năng văn chương nữa. Thật là đủ đầy
trong lời bình của Lê Hữu Kiều: “Người làm thơ hay được như thế tất phải là người
tài hoa và có tư tưởng tột bậc, họ là người có suy nghĩ rộng và có học vấn đầy
đủ, nghe được thấy nhiều” (Bài Tựa tập thơ Tàng thuyết của Mai Doãn
Thường). Theo được yêu cầu toàn diện như vậy, nhà văn mới đáp ứng được đòi hỏi
nhiều mặt của văn thơ. Để sản sinh ra những áng danh văn lưu truyền đến muôn đời,
những yêu cầu trên càng phải cao, càng phải dồi dào. Nguyễn Tư Giản xác định:
“Bàn về văn của văn nhân cốt yếu là ở thần, ở khí, ở thế, ở cách. Tinh nghĩa nhập
thần thì cái thần văn sẽ đầy đặn, nuôi tầm nhìn rộng trông xa thì hơi văn sẽ
thăng bằng, trong bụng nuốt tám chín Chằm Vân Mộng thì thế văn sẽ bao la và thoải
mái, đọc nát vạn cuốn sách thì cảm thấy có thần bên mình, thì thể cách văn sẽ lớn
lao và đúng đắn” [4d]. Chính từ việc thỏa mãn những đòi hỏi về thần, khí,
thế và cách mà học giả họ Nguyễn chia nhà văn làm ba loại: Ưu tú
nhất là những ai đáp ứng trọn vẹn những mặt nói trên, thứ đến là những ai đáp ứng
được đầy đủ nhưng hơi yếu, còn những người nào chỉ xuất sắc về từng phương diện
thì đứng vào hàng cuối cùng. Nghiêng về tiêu chuẩn lượng trong tương quan với
chất khi định hạng nhà văn, Nguyễn Tư Giản quả có phần đơn giản. Nhưng đáng lưu
ý là cái nhìn ít phiến diện của ông khi bàn về chất văn tương ứng với yêu cầu về
chất người làm văn. Chất người càng cao thì có cơ sở khiến chất văn càng dồi
dào. Có điều, muốn có phẩm chất của bậc danh gia, hơn nữa của một bậc đại gia
thì cần phải khổ công rèn luyện trau dồi, tích lũy dài lâu. Đó phải là công việc
của cả một đời người, một đời người gắn bó máu thịt với nghiệp văn. Trả lời câu
hỏi của học trò “Văn cao quý dường ấy liệu có học được chăng?” Nguyễn Đức Đạt
nói: “Lý thấu suốt thì văn kỳ lạ, tu dưỡng sâu thì văn mênh mông. Cây không
vun gốc, suối không khơi nguồn còn văn như thế nào?” [2].
Văn nương tựa nhiều ở phẩm
cách nhà văn. Trên một giải đất luôn bị nạn ngoại xâm đe dọa và đày đọa như nước
ta, phẩm cách nhà văn thử thách cao nhất trong quan hệ với kẻ thù dân tộc. Điều
đáng trách nhất là vong quốc. Tội lớn nhất là mại quốc. Về mặt này có không ít
những bài học phản diện. Mấy ai quan tâm đến văn học lại không biết câu chuyện
về một nhà nho yêu nước nọ khi đọc lại hai câu thơ vịnh Bà Trưng của tên Việt
gian Hoàng Cao Khải. Y viết:
Cột
đồng Đông Hán tìm đâu thấy
Chỉ
thấy Tây Hồ bóng nước gương.
Nhà nho đó phẫn nộ bảo
rằng: “Cái tên Việt gian phản quốc mà cũng dám lòe đời bằng giọng trung nghĩa
ư?”. Thế là ông liền làm một bài thơ khác cũng vịnh Bà Trưng với hai câu kết có
ý phỉ nhổ vào bộ mặt dơ dáy của tên quan chó má họ Hoàng:
Mày
râu ướm hỏi quân luồn cúi
Khoát
nước Tây hồ rửa thẹn thò. [3]
Tư tưởng nhà văn không chỉ lộ
rõ ở những phương diện trọng yếu nhất của cuộc sống. Tư tưởng này hay bộc lộ ở
mặt đạo đức thường ngày. Thói thường cái danh và cái lợi lại hay vẩn đục nhân
tâm hơn cả. Những bậc chân nho khi xưa luôn gắng giữ mình trong sạch để khỏi sa
vào cái bả lợi danh. Nhữ Bá Sỹ chân tình tâm sự bằng thơ:
Không
dám tắm nó (chỉ văn chương) bằng bạc tiền
Bán
bài phú để chu cấp lúc nghèo suông.
Thực tế, kẻ sĩ đắm đuối lợi
danh không ít. Nguyễn Văn Siêu từng thẳng thắn phanh phui mai mỉa: “Bọn người
viết văn thời bây giờ vì ý nghĩ lợi lộc vắt ngang trước ngực, họ bỏ sách chẳng
thèm ngó tới, bàn luận dông dài, ngày ngày đem những lời bàn cũ rích, chắp nhặt
thành văn. Tuy họ biết rõ là vô nghĩa lý nhưng cứ theo bừa để mua chuộc thói đời”
(Phương Đình vấn loại) [4d].
Mỉa mai thay, những kẻ hám lợi,
hám danh lại thường là những kẻ bất tài. Bất tài đấy mà lại hay lên mặt khinh
thường người khác. Cái thói kiêu căng tự mãn vốn dễ bị ngộ nhận là tật chung của
văn nhân, thi sĩ. Nguyễn Đức Đạt nhân trả lời câu hỏi: “Nhà văn phần nhiều rơi
vào khinh bạc, văn chương xui nên như vậy chăng?”, đã bác bỏ hoàn toàn sự ngộ
nhận đó. Lý lẽ của ông đưa ra thật rành rọt: “Lời khinh bạc thì con người khinh
bạc chứ văn chương có dự gì” [2]. Khinh người, trọng mình là do thiếu tu dưỡng
sinh ra, đâu phải tại văn chương! Từ một góc độ khác, Lê Quý Đôn còn giải thích
thêm: “Văn nhân kiêu căng là vì họ ít học vấn” [4e]. Quả thật trình độ học vấn
của một người có quan hệ qua lại với nhân cách của họ. Nhưng vốn hiểu biết lại
là một lãnh vực tương đối độc lập trong thế giới tinh thần của nhà văn.
Vốn hiểu biết trước tiên bao
gồm vốn học vấn sâu rộng. Lê Quý Đôn nhiều lần nhấn mạnh: “Bản chất của văn
chương vốn từ học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì viết văn mới hay.” (Vân đài
loại ngữ). Câu nói của nhà bác học lớn này sở dĩ thấm thía bao nhiêu thế hệ vì ở
ông, nói và làm đi liền với nhau. Lê Quý Đôn đã thâu thái tất cả mọi tri thức có
thể có của thời đại ông nhờ trí tuệ hơn người và nhất là nhờ sức đọc, sức làm
việc phi thường của mình. Người đời đã xác nhận điều đó. Và người đời còn hiểu
rõ học vấn cao sâu đã trợ giúp, tiếp sức cho văn thơ ông đến mức nào! Vả chăng,
tri thức của Lê Quý Đôn cũng như của những bậc tài cao học rộng khác trong quá
khứ đâu phải do trời phú. Phải học hỏi miệt mài không mỏi. Dường như trong ý niệm
của nhà nho xưa, kẻ sĩ hơn người chính ở sức học ấy. Ta hãy cùng đọc những lời
gan ruột sau của Nhữ Bá Sỹ: “Bá Sỹ tôi ngu độn, xuất thân từ chốn đồng quê
không có nghiệp nhà dòng dõi, lại rất quê lậu, dốc một lòng tin ở người xưa,
không dám chưa biết mà cho là biết, buổi đầu chuyên cần cử nghiệp, sau đó lại học
cái mà người đương thời gọi là văn thơ tài tử, mỗi khi được một câu vừa ý, thì
tự cho là gấm vóc kém chi. Tới khi xem khắp câu văn của người xưa thì
trong lòng rất cho là kỳ lạ” (Trích từ Phi điểu nguyên âm) [4g]. Việc học
thật không chút dễ dàng! Học người xưa hay học người nay cũng vậy. Có khác
chăng là khi học những người cùng thời, kẻ học phải đánh tan định kiến cố hữu
“quý xưa rẻ nay” vốn là một trở ngại không nhỏ trên con đường nâng cao trình độ
học vấn. Các nhà văn, các nhà phê bình xưa cũng như nay không ít người tự trói
mình bằng quan niệm lầm lạc đó. Vào thế kỷ XIX, Miên Trinh trong lời tựa chép ở Vi
Dã hợp tập cũng có viết: “Thơ của người đời nay không bằng xưa, việc làm của
người đời nay lại càng chẳng bằng xưa, phải chăng đấy là trọng xa khinh gần...
tại sao lại cho rằng thơ nay không bằng thơ xưa?” [4h]. Đã rõ là cha ông ta vừa
quý xưa vừa trọng nay.
Cái cốt yếu của sự học là tự
trang bị, tự bồi bổ bằng mọi cách tất cả những gì cần cho mình. Đối với nhà
văn, nên học cái để trau dồi chất văn, cũng nên học cái để bồi bổ lời văn. Bởi
“loại văn tột bậc của thiên hạ đúng là không ở trong cái giới hạn đóng mở kết cấu,
nhưng không đóng mở kết cấu thì cũng không thành văn chương” (Nhữ Bá Sỹ) [4y].
Học thấm nhuần kinh nghiệm làm văn của người rồi tự mình làm. Hơn ở đâu hết,
trong sáng tạo văn chương, mọi lý thuyết kinh nghiệm thuần túy chưa đủ, không
bao giờ đủ. Phải vừa học vừa làm. Riêng ở mặt này, Nhữ Bá Sỹ lại góp thêm cho
người cầm bút một kinh nghiệm quý giá: “Thế là tôi vừa học, vừa làm, có lẽ mới
bước vào khuôn phép, chưa thể nhảy ra khỏi khuôn phép” [4k]. Người làm cần phải
và có thể phá vỡ phép tắc văn chương, nhưng chỉ làm điều đó khi đã tinh thông
phép tắc. Không hiếm những người cầm bút, có khi mới bước vào nghề, chưa nắm vững
những cái thông thường nhất của công việc sáng tác đã lăm le bước ra ngoài đi
tìm những cái khác người, hơn người. Trong trường hợp này cái lạ mà họ đi tìm
không giống chút nào với cái mới, và vì vậy không bao giờ nó giúp họ đạt được mục
đích.
Ai cũng biết vốn học là cần
nhưng chưa đủ để làm văn. Ông cha ta đặc biệt cho rằng: Nhà văn cần phải lịch
lãm nhiều. Nhất là hiểu người. Thật khó thay việc hiểu người! “Tri nhân
tri diện bất tri tâm”. Nguyễn Trãi từng giãi bày: Đi khắp núi cao, sông sâu.
Núi có thể đo được, sông có thể dò được, nhưng không thể đo, dò được lòng người.
Khó đấy, nhưng đó lại là yêu cầu trọng yếu, chính yếu của những ai muốn trở
thành văn nhân thi sĩ. Chính đó là chỗ thử thách tầm nhìn, cách hiểu,sức soi
sáng của người làm văn. Nhà văn phải “vượt ba đào của biển lớn, trải phong vật
Trung Châu” (Lý Văn Phức). Nhà văn cần giống chàng họ Vương theo học nghề vẽ mà
Lê Hữu Trác có lần nói đến: “Một lá thuyền lênh đênh giữa ngũ hồ, mắt nhìn rõ
những cảnh tuyết phủ chiều hôm, mây mờ sáng sớm và ánh sáng lọc qua màn khói
lam lúc lòe lúc tắt.” (Bài Tựa Y Hải cầu nguyên). Chỉ có khi đó, mỗi lời
mà nhà văn viết ra mới có sức nặng, sức sống. Nhưng đi nhiều, trải nhiều vị tất
đã hiểu nhiều. Vấn đề còn tùy thuộc ở cách xem xét ra sao nữa. Nói như một học
giả: “Vật có xem xét cặn kẽ, thì hiểu biết mới đến nơi đến chốn. Có hiểu biết đến
nơi đến chốn thì văn chương mới tuyệt vời” (Rút từ Luận văn tạp thuyết)
[4l]. Như thế mới xứng là kẻ trải đời. Thêm vào đó, như câu nói của người xưa
mà Phan Huy Vịnh rất tâm đắc: “Không đọc muôn quyển sách, nên đi muôn dặm đường”
[4m]. Thời xưa, khi sự giao lưu văn hóa chưa rộng rãi và thuận lợi như ngày nay
thì sự lịch lãm xa rộng sẽ bổ sung cho cái khiếm khuyết của việc học. Trên tinh
thần đó, Cao Bá Quát trong Đề sát Viên Bùi Công yên đài Anh ngữ khúc hậu đã
hết lời ca ngợi ông Đô Sát họ Bùi, người đã có may mắn sang Sứ nhà Thanh vào
năm 1848:
Ông
là người vết chân đã in khắp trên non sông muôn dặm.
Khi
trở về trong bụng chứa đầy sách vở.
Chà
chà! Làm trai như thế mới thực là khoái!
Đáng
phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn.
Lải
nhải nhai lại từng câu từng chữ.
Có
khác chi con sâu đo muốn đo cả đất trời?
Rồi chính khi Cao Bá Quát có
dịp chu du ra khỏi lãnh giới của nước mình, ông lại càng thêm thấm thía:
Từ
khi vượt bể qua đất Ba - Sơn,
Mới
cảm thấy vũ trụ là bao la
Chuyện văn chương trước đây là trò trẻ con!
Trong thế gian này có ai là bậc tài trai
Mà lại phí cả một đời đọc mấy pho sách cũ?
Cho hay làm văn cần phải có
vốn nhiều. Vốn lớn có cơ làm nên tài lớn. Do vậy không phải không chứa hạt nhân
chân lý trong khái niệm “Tài” của Nguyễn Đức Đạt: “Tài cũng là của vậy. Kho đụn
chứa không nhiều thì hẹp hòi về ân huệ, bụng dạ chứa không nhiều thì nghèo nàn
về lời lẽ.” (Nam Sơn tùng thoại) [2]. Nói thế, tất nhiên chỉ đúng khi cần nhấn
mạnh ý nghĩa không cần bàn cãi của vốn học, vốn đời. Còn suy cho cùng có công
việc nào xưa nay lại không cần chuyên sâu? Đó là cái cớ khiến Trần Doãn Giác
trong bài Bạt Nam phong giải trào dám quả quyết rằng: “Nếu chẳng phải
là người có kiến thức sâu rộng học lực phong phú, ý chí chuyên nhất (PQT
nhấn mạnh) thì dẫu muốn diễn dịch ra văn tự hoặc phổ vào điệu đàn, lời ca cũng
đều khó!”. Nhờ “ý chí chuyên nhất” ấy người làm văn hun đúc nên cái thực tài
văn chương.
Ông cha ta xưa bao giờ cũng
ngưỡng mộ thơ văn cũng như người sáng tạo thơ văn. Thái độ này xuất phát chủ yếu
từ sứ mệnh cao quý của văn chương trong cuộc đời của mỗi người và trong cuộc sống,
cuộc đấu tranh của cả dân tộc. Nhận thức này chứa đựng tập trung trong câu thơ
của Trần Thái Tông ở thế kỷ XIII: Văn bút tảo thiên quân chi trận (Nghĩa
là: Văn chương [phải có] thế trận quét nghìn quân [giặc]). Nhưng thái độ trọng
nể nhà văn, văn chương của người xưa còn từ cái khó trăm bề, nhất là cái lao
tâm, khổ trí cực nhọc của chính lao động sáng tạo văn chương. Nhữ Bá Sỹ thổ lộ:
“Tôi thường xem người xưa làm văn, họ vật lộn với nó, nó bật ra từ đáy lòng họ,
mà vốn có điều không thỏa mãn với lòng nên vài năm mới được một câu, mười năm mới
xong một bài thơ...” [4]. Cái khó, cái khổ trong nghề văn bắt nguồn từ đặc thù
của văn. Không giống với những hoạt động sáng tạo khác của con người, hầu như
trong sáng tác thơ văn, cả con người nhà thơ nhà văn đều được huy động. Có cái
dễ thấy, dễ tường giải. Lại có cái khó thấy, khó biện luận. Tất cả đều sống dậy
hướng tới thành phẩm lao động kỳ lạ của con người: Áng văn, áng thơ. Cái nét
riêng biệt đó ít nhiều được Phan Huy Chú nhận diện khi so sánh lao động của học
giả với lao động của thi nhân trong lời đề tựa Quế Đường thi tập của
Lê Quý Đôn. Các nhà trước thuật theo ông: “Vốn bắt nguồn từ thể văn Kinh Thư,
Xuân Thu” nên “cô đọng, sâu suốt, bao quát xa rộng cốt ở tính chất mực thước và
hệ thống”, còn các nhà ca vịnh thì lại: “Bắt nguồn từ thể “tỷ” và “hứng” ở
Kinh Thi, ở nỗi xúc cảm tiếng thở than của Ly tao” “nên lấy việc diễn đạt tình
cảm đến tột bực” và việc “thu lượm được mọi cảnh hay vật lạ làm chính” [1].
Nhìn chung, không nên tầm
thường hóa văn chương mà cũng không nên thần thánh hóa nó. Văn thơ là cái kỳ lạ
ở đời. Song, văn thơ tuyệt nhiên không phải là cái gì chỉ có thể “kính nhi viễn
chi”. Dẫu sao, quả có năng khiếu thiên tư làm nên những lời thơ, lời văn bất hủ.
Nghĩ về những nhân tố bên trong của nhà văn, ông cha ta luôn nhấn mạnh đặc chất
của những người có thiên hướng nghệ sĩ. “Cái tư chất (nhấn mạnh -
PQT) của bậc thượng trí bên trong thì lớn lao, bên ngoài thì rực rỡ, chạm vào
nơi nào thì văn nảy sinh ra nơi ấy: Là hoa cỏ của hóa công, là khói sóng của biển
lớn, có thể gọi là gạn lọc điều chất chứa trong lòng mà viết nên văn”. [4o]. Nhữ
Bá Sỹ, người rất coi trọng việc học như đã nói ở trên, chính là người viết những
lời nồng nàn về tư chất văn chương. Nó rất thần diệu, mà cũng không một chút thần
bí. Nó là “hoa cỏ của hóa công” là “khói sóng của biển lớn”. Nói như vậy, Nhữ
Bá Sỹ cũng đã thấy được mối liên hệ giữa khiếu văn với cuộc đời. Song có một thực
tế nghiệt ngã là nhiều người gần như suốt đời cầm bút mà vẫn không được coi là
văn nhân thi sĩ. Bậc danh gia, đại bút ở đời lại càng ít nữa. Đối với công việc
này hình như sự học, cho dù kiên tâm miệt mài vẫn chưa đủ. Bởi trong nghiệp
văn có những cái không thể dạy được, không thể truyền được. Khi nghe người đời
lý giải tài thơ của tác giả Mỹ Đình thi tập, Ngô Thì Sĩ vừa thừa nhận:
“Nghề thơ hay là do nếp nhà sẵn có”, lại vừa bổ sung: “Hay thơ là do ngày thường
thấm thía được cái ở ngoài những cái cụ thân sinh đã dạy” [4q]. Những điều thu
nhận được trong ý và nhất là ngoài ý của thầy dạy, cùng với kiến văn sâu rộng
tích lũy được góp phần làm nên tài năng văn chương - cái không thể thiếu trong
sáng tạo nghệ thuật của những nghệ sĩ lớn xưa nay.
Rõ ràng, từ xưa ông cha ta
không chỉ thấy rõ vai trò của các nhân tố chủ quan của nhà văn, mà còn nhìn
đúng những con đường trau dồi nên chúng. Khi “đầy ứ ở bên trong” thì khắc “tràn
khắp ra ngoài” [4q]. Không thể có văn hay, thơ hay mà trong lòng trống rỗng,
khô cằn. Muốn sáng tạo nên những “áng văn chương của tạo hóa” (Nguyễn Văn
Siêu)người làm văn cần phải ra công bồi dưỡng về nhiều mặt để đáp ứng những đòi
hỏi khe khắt của nghề nghiệp■
Tài liệu tham khảo
1. Phan Huy Chú, Học giả
và thi nhân, Tạp chí Văn học số 2, (1977).
2. Nguyễn Đức Đạt, Nam
Sơn tùng thoại, Tạp chí Văn học số 1, (1979).
3. Vũ Ngọc Khánh, Truyền
thống phê bình trong văn học ta, Tạp chí Văn học số 4, (1969).
4. Từ trong di sản...,
Nxb Tác phẩm mới, H., 1981. [4a] tr.160; [4b] tr.120; [4c] tr.120;[4d] tr.169;
[4đ] tr.124; [4e] tr.93; [4g] tr.138; [4h] tr.164-165; [4i]tr.136; [4k] tr.138;
[4l] tr.174; [4m] tr.148; [4n] tr.137; [4o] tr.136; [4p]tr.61; [4q] tr.129.
(Trích từ cuốn
sách Quan niệm văn chương cổ Việt Nam từ một góc nhìn, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2011. Giải B, Giải thưởng VHNT tỉnh Lâm Đồng lần thứ I.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét