Thơ là niềm xúc cảm chân
thành đồng thời là tiếng nói sâu thẳm của trái tim nhà thơ đến trái tim bạn đọc.
Sự gò bó của niêm luật thơ Trung đại làm hạn chế khả năng ấy của thơ. Đến phong
trào Thơ mới các nhà thơ đã có một cuộc cách mạng giải phóng thơ thoát khỏi sự
gò bó ấy. Và cách tân ngôn từ về từ vựng nằm trong cuộc cách mạng thơ ca
đó.
Nói như vậy không có nghĩa
thơ Trung đại không có cách tân về mặt từ vựng. Với thao tác thống kê, phân loại,
chúng tôi đã tiến hành khảo sát những hình thức cách tân về mặt từ vựng trong
thơ Trung đại. Kết quả thu được cụ thể là 14 lần xuất hiện/ 50 tác phẩm, với tần
số xuất hiện 0.28 lần/ bài. Như vậy, so với Thơ mới thì đây là con số khá khiêm
tốn.
Nhìn chung, sự cách tân từ vựng
trong thơ Trung đại chủ yếu sử dụng những biện pháp tu từ để nói về tâm trạng
và cuộc đời:
Chiếc bách buồn về phận nổi
nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh
đênh.
(Hồ Xuân Hương - Chiếc bách)
Đôi khi, các nhà thơ Trung đại
sử dụng thêm hình dung ngữ, từ láy làm cho câu thơ, bài thơ mang tính hình tượng
hơn:
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ
là ngây!
(Nguyễn Khuyến - Anh giả điếc)
Hay:
Khiến người ngao ngán, ngẩn
ngơ sao!
(Tú Xương - Cái nhớ)
Các ví dụ trên cho thấy những
sáng tạo nhất định trong thơ Trung đại. Mạnh dạn hơn, các tác giả trong phong
trào Thơ mới ngoài việc sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ với mật độ dày đặc,
những hình dung ngữ, những từ láy với tần suất cao, thì còn biết kết hợp, đưa
vào thơ nhiều từ ngữ chưa có trong thơ Trung đại. Xuân Diệu sử dụng những so
sánh kỳ lạ làm nên cái “mới nhất trong Thơ mới”:
Tháng giêng ngon như một cặp
môi gần
(Xuân Diệu - Vội vàng)
Trong lịch sử thơ ca Việt
Nam, trước Xuân Diệu chưa từng có bất kỳ một nhà thơ nào so sánh như vậy. Tháng
giêng đẹp đẽ tươi mát như một cặp môi căng đầy, trao nhau nụ hôn của tuổi trẻ.
Thủ pháp so sánh sống động này đã thực sự làm cho hình ảnh thơ tươi trẻ hơn,
thú vị hơn, thể hiện mãnh liệt hơn lòng yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của
thi sĩ. Cũng rất độc đáo là thơ Hàn Mặc Tử:
Trăng nằm sóng soãi trên
cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Thật khó có thể bình thản
khi bắt gặp hình ảnh thơ ấn tượng như trên. Trăng không còn là một sự vật vô
tri nằm yên trên nền trời theo sự an bài của tạo hóa, mà nó đã biến thành người
con gái ôm trong mình những dục vọng, thèm khát được ái ân.
Bên cạnh đó, các nhà Thơ mới
còn đưa vào thơ hàng loạt hình dung ngữ, góp phần làm giàu, làm phong phú thêm
vốn từ dân tộc:
Nắng xuống, trời lên
sâu chót vót
(Huy Cận - Tràng giang)
Nắng chiều rây vàng bột xuống
dân quê
(Nam Trân - Nắng thu)
Khác với thơ Trung đại các
thi sĩ Thơ mới dùng nhiều tính từ làm câu thơ trở nên gợi cảm hơn:
Với ngày xanh hờ hững
(Hàn Mặc Tử - Tình quê)
hay:
Sột soạt gió trêu tà
áo biếc
(Hàn Mặc Tử - Mùa xuân chín)
Trong vòm xanh. Màu cưới
màu, bình lặng
(Bích Khê - Duy tân)
Khách quan mà nói thì trong
thơ Trung đại, các nhà thơ cũng đã sử dụng những biện pháp tu từ để làm tăng
tính chất hình tượng của ngôn ngữ. Tuy nhiên, nhìn chung, họ chưa ý thức rõ về
vai trò và tác dụng của nó. Chỉ đến thời kỳ Thơ mới, các nhà thơ mới sử dụng rộng
rãi các biện pháp tu từ như một công cụ đắc lực để gia tăng màu sắc chủ quan của
mình trong cách cảm, cách nhìn. Ví như nghệ thuật tu từ được Nguyễn Bính sử dụng
trong bài Người hàng xóm:
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút
thôi…
(Nguyễn Bính - Người hàng
xóm)
Hay sự ví von đầy nghệ thuật:
Lá trên cành héo hắt, gió ngừng
ru:
(Hàn Mặc Tử - Trường tương
tư)
và sự hóa thân tài tình:
Gió đào mơn trớn liễu buông
tơ
(Thế Lữ - Vẻ đẹp thoáng qua)
Nhờ nhân hóa mà sự vật trở
nên gần gũi với chúng ta hơn. Hình ảnh gió đào mơn trớn vô tình làm ta nghĩ
ngay đến một vẻ đẹp nhẹ nhàng như gió đùa vui trên tóc cô thiếu nữ. Phải chăng,
chỉ có sự tinh tế và linh hoạt trong cách dùng từ mới giúp nhà thơ đạt được hiệu
quả cao như vậy?
Ngoài ra, trong Thơ mới, sự
gia tăng của các giới từ trong một câu làm cho khoảng cách giữa thơ và cuộc đời
thực như xích lại gần nhau hơn. Các kiểu từ tình thái kiểu như a, ư, ô, ôi, ơi,
hỡi, nhé, nhỉ… cũng làm cho lời thơ trở nên gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng
ngày:
Thủa chờ đợi, ôi, thời gian
rét lắm
(Huy Cận - Buồn đêm mưa)
Đặc biệt, ở Thơ mới, từ láy
được sử dụng khá phổ biến nhằm miêu tả thiên nhiên, cảnh vật, miêu tả những sắc
thái tình cảm phong phú đa dạng của con người:
Đêm bâng khuâng đôi miếng
lẩn trong cành
(Xuân Diệu - Tương tư chiều)
Sàn gỗ trơn chập chờn
như biển gió
(Vũ Hoàng Chương - Say đi
em)
Bằng sự trưởng thành trong ý
thức, các nhà thơ đã chuyển cái ta chung thành cái tôi cá nhân qua các đại từ
nhân xưng ngôi thứ nhất. Điều đó nhằm khẳng định tư tưởng tình cảm của cái tôi
trữ tình:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Xuân Diệu - Vội vàng)
Như vậy, qua hàng loạt những
biện pháp mới tiêu biểu mà chúng tôi đã khảo sát và minh họa, chúng ta thấy rằng,
Thơ mới đã thật sự tạo nên một cuộc cách mạng lớn về ngôn từ, mà đặc biệt là về
từ vựng. Sự cách tân ấy góp phần làm giàu cho tiếng Việt, đồng thời tạo nên nền
tảng tốt đẹp cho các thế hệ thơ ca sau này vận dụng và sáng tạo.
Hiệu quả nghệ thuật qua cách
tân từ vựng
Thơ ca là sự kết hợp hài hòa
giữa nội dung và hình thức. Mỗi từ mỗi chữ trong thơ đều là sự gọt giũa một
cách tỉ mỉ của người sáng tác. Các nhà thơ đã linh hoạt trong việc lựa chọn những
từ ngữ, đồng thời sáng tạo nên từ ngữ mới thể hiện nội tâm của nhà thơ trước
thiên nhiên và cuộc sống. Một trong những điểm làm nên thành công đó là sự cách
tân ngôn từ về mặt từ vựng với những hiệu quả nghệ thuật rất lớn mà nó mang lại.
Ta thấy, từ vựng trong Thơ mới
không còn sự sáo mòn, khuôn phép mà đã có nhiều ngôn từ mới lạ, biểu thị tinh tế
hơn trạng thái tâm hồn và cảm xúc của thi nhân. Các nhà thơ đã sử dụng nhiều từ
láy làm cho câu thơ, bài thơ trở nên ngọt ngào hơn, dễ đi vào lòng người hơn.
Hơn nữa, những động từ chỉ dùng cho con người nay đã được các nhà thơ đưa vào
trong thơ một cách tự nhiên:
Ông lái buồn để gió lén mơn
râu.
Thơ bộc lộ được cảm xúc dâng
trào của thi nhân trước sự vật:
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn
vào ngươi!
(Xuân Diệu - Vội vàng)
Trước Xuân Diệu, chưa từng
thấy một nhà thơ nào có đủ tâm lực và bút lực phơi nguồn cảm xúc, bộc lộ lòng
mình bằng một câu thơ sinh động, táo bạo, gợi cảm và mãnh liệt đến như vậy. Động
từ “cắn” chứa đựng cả sức mạnh của lòng ham sống ham yêu “cho chuếnh choáng mùi
thơm, cho đã đầy ánh sáng, cho no nê thanh sắc của thời tươi”. Dường như, ông
hoàng thơ tình Xuân Diệu muốn cắn vào xuân hồng là muốn được hưởng thụ mùa xuân
đẹp đẽ của đất trời, muốn trở thành mùa xuân đẹp đẽ của lòng người.
Như vậy ngôn ngữ Thơ mới đã
bộc lộ trực tiếp cảm xúc của thi nhân, giãi bày tâm trạng thành thật qua các
cung bậc cảm xúc luôn biến động. Đó là sự lo sợ thời gian, tuổi xuân qua đi nên
cần vội vàng, gấp gáp tận hưởng, đưa con người đến với thế giới thực tại chân
thực nhất chứ không đứng ngoài với sự xoay vần của vũ trụ như thơ Trung đại.
Không chỉ trực tiếp thể hiện
cảm xúc của thi nhân trước thực tại, sự cách tân ngôn từ về mặt từ vựng còn làm
nên sự đa dạng trong cách thức biểu hiện. Đúng như nhà thơ Huy Cận đã từng viết:
“Thơ mới tạo ra ngôn từ mới để biểu hiện cảm xúc mới. Tiếng Việt trẻ lại với
thơ. Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn… Tiếng Việt thời Thơ mới đã
đổi thịt thay da một lần nữa”. Nói cách khác, Thơ mới đã cởi bỏ những gò bó,
khuôn sáo, những điển tích, điển cố trong thơ Trung đại để khoác lên mình chiếc
áo tươi mới hơn. Rõ ràng, sự mới mẻ của thơ với hệ thống từ ngữ phong phú, giàu
khả năng biểu cảm, vừa hàm ẩn vừa súc tích vừa trong sáng và sang trọng quý
phái đã thực sự làm nên điều kỳ diệu. Chúng ta có thể khẳng định rằng, chính
cái tôi cá nhân đã tạo nên bước đi táo bạo của Thơ mới và đưa ngôn ngữ thơ Việt
Nam từ “điệu ngâm sang điệu nói” (Trần Đình Sử). Mỗi tác giả bắt đầu có cái
nhìn mới hơn về cuộc sống, đồng thời đã định vị được giọng điệu vừa mới vừa
riêng để làm thay đổi ngôn ngữ thơ. Những câu thơ giãi bày với hô ngữ, thán từ
và cách nói với các con số được sử dụng khá dày đặc và hết sức tự nhiên. Đó là
chưa kể đến những câu thơ với số lượng chữ tùy ý, hay sự xuất hiện của nhiều từ
ngữ trong đời sống thường ngày bỗng trở thành ngôn ngữ nghệ thuật đánh dấu từng
phong cách thơ.
Bộc lộ cảm xúc trực tiếp của
thi nhân và đa dạng trong cách biểu hiện chính là hai giá trị nghệ thuật lớn mà
sự cách tân về mặt từ vựng mang lại. Những bước đi đầy sáng tạo ấy của ngôn ngữ
Thơ mới đã dệt nên những vần thơ hay, những câu thơ đẹp, biến thành “ngôn ngữ của
thế giới huyền diệu”.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét