Không chỉ là nhà thơ sáng
tác nhiều thơ tứ tuyệt (384 bài, chiếm 42% sáng tác, tính theo Tuyển tập Chế Lan
Viên và 3 tập Di cảo), Chế Lan Viên còn được coi là một trong những
nhà thơ làm thơ tứ tuyệt thành công nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Tứ
tuyệt của Chế lan Viên (TTCLV) mang một vẻ đẹp truyền thống hài hòa với vẻ đẹp
hiện đại.
Là một thể thơ có từ lâu đời,
với hình thức cô đọng, tứ tuyệt đòi hỏi với một số lượng ngôn từ ít nhất, phải
đem đến một thông tin nhiều nhất về bản chất đời sống, chiều sâu cảm xúc, tầm
cao sức khái quát, tạo được những gợi cảm và âm vang thơ đặc biệt. Để đạt được
điều đó, tứ tuyệt có những góc độ nhìn nhận thế giới và những nguyên tắc thẩm
mĩ đặc thù. Tứ tuyệt thường miêu tả những khoảnh khắc dồn nén bản chất của quá
trình đời sống. Hiện thực trong tứ tuyệt được tỉnh lược tối đa. Các chi tiết được
chọn thường là những chi tiết đắt giá, mang tính bản chất cao. Bị hạn chế trong
miêu tả chiều rộng hiện thực, tứ tuyệt dồn khả năng nghệ thuật vào chiều sâu
khái quát, triết lí. Do đó, các cặp phạm trù đối lập diễn tả sự vận động của thế
giới thường được chú ý: hữu hạn-vô cùng, khoảnh khắc-vĩnh cửu, có-không, động-tĩnh,
thực-hư…Giá trị khái quát đời sống đưa tứ tuyệt đến gần hình thức siêu cá thể
mang tính phổ quát cao. Bài thơ là một cấu trúc hoàn thiện, chuẩn mực và cân xứng.
Câu kết, từ kết thường đưa bài thơ hướng tới những đột ngột, bất ngờ, tạo sức vang…
TTCLV thể hiện rất rõ những
đặc trưng truyền thống loại hình mang tính bền vững, như một phương diện “hữu hạn”
của ý thức nghệ thuật, vừa cho thấy sự sinh thành, vận động và phát triển của
thể loại tứ tuyệt. Với phong cách độc đáo, Chế Lan Viên đã mang lại những đóng
góp mới cho thơ tứ tuyệt Việt Nam tiến thêm một bước.
1. TTCLV là một góc
nhìn hẹp nhìn ra thế giới vô cùng.
Bước vào thế giới TTCLV, ấn
tượng đầu tiên là người đọc có cảm giác như đang được ở trong thế giới của
chính cuộc đời mình, bởi thế giới ấy có một không gian cuộc đời rất thực với những
tên đất, tên sông quen thuộc: Huế, Vĩnh Linh, Cửa Việt, núi Yên Tử, chùa Hương,
rừng Cúc Phương, thôn Dương Liễu, ngõ Tạm Sương...; với những sắc màu, âm
thanh, hình ảnh thường nhật: một phố dài bóng nắng cây hai dãy, một mảnh vườn
nhỏ tràn mùi hương, một nhành cây buông trái ngọt bên thềm…; với những con
người, những cuộc đời và những khổ đau, hi vọng, hạnh phúc, buồn vui rất thật…
khiến ta cảm thấy thân thương, gần gũi.
Chưa hết bâng khuâng, xao
xuyến với những gì rất đỗi thân quen người đọc lại được nhà thơ dẫn vào không
gian vũ trụ cao rộng, xa lạ của những thiên hà, sao Chổi, sao Hôm, sao
Mai, Thiên đàng, Ngân hà, Đại dương… Bước một bước nữa, người đọc lại lạc vào
mê lộ của một không gian vô chiều, mơ hồ, hư ảo với những cõi trường sinh,
cõi ẩn hình, cõi không, cõi quên, xứ không mầu, miền xưa, miền quá vãng, rừng
nhân ảnh, bến lú, sông Tương, trời mây dĩ vãng, đền kỉ niệm…
Nếu chỗ đứng của nhà thơ thường
được xác định bằng một vị trí khiêm nhường trong đời thường (căn nhà nhỏ, hè phố,
quê mẹ, một vùng đất, vùng quê cụ thể…) với những tư cách bình dị (nhà thơ, người
tình, người con, một công dân…), thì cái nhìn của nhà thơ không hề bị hạn chế bởi
những không gian cụ thể mà luôn có xu hướng vươn tới một không gian rộng lớn hơn,
vời vợi hơn, và càng ngày càng siêu thực hơn: từ bảy thước phố nghĩ đến muôn
dặm tình, một trang giấy hóa chân trời, giấc chiêm bao bay vượt
nghìn sông núi, một màu hoa giấy đủ gọi con người trở về dẫu đang vui muôn
dặm trời mây khác…
Không gian trong TTCLV được
mở rộng bằng không gian tâm tưởng. Ở trạng thái tự ý thức, khi ngấm nỗi cô đơn,
con người dường như thấy không gian xung quanh mình vắng rộng thêm ra:
Em ra đi, anh dọn lòng anh lại
Một mình anh, trận đánh chẳng cân bằng
Một mình anh chống với cả mùa mưa lũ
Với cả màu mây trắng, chỉ mình anh
(Trận đánh)
Một mình anh, trận đánh chẳng cân bằng
Một mình anh chống với cả mùa mưa lũ
Với cả màu mây trắng, chỉ mình anh
(Trận đánh)
Cảm giác cô đơn càng tăng,
không gian càng mở rộng, từ trận đánh (một không gian có giới hạn), đến mùa
mưa lũ (không gian dài rộng), đến tận màu mây trắng (không gian
mở đến vô tận). Khi ví lòng anh thành bến thu, nhà thơ đã mở ra
một không gian vô bờ, vĩnh cửu của sự chờ đợi, nhớ mong, khắc khoải trong lòng
người (Lòng anh làm bến thu).
Chiều thứ tư-chiều tâm linh,
tinh thần của không gian, nơi trú ẩn của những băn khoăn, trăn trở, bàng hoàng,
thảng thốt của con người về cuộc đời, nhất là khi con người muốn đối diện với
cõi tâm linh của mình trên bước đường tiến về cõi vô cùng, thường được nhắc đến:
Miền nội tâm anh, dặm tinh
thần anh là ngàn lau xao xác ấy.
Bạc trắng ngàn lau cũng là tuổi thơ anh thường nhắn gọi anh về
(Lau-2)
Bạc trắng ngàn lau cũng là tuổi thơ anh thường nhắn gọi anh về
(Lau-2)
Nhà thơ lấy cái xào xạc, bạt
ngàn, hiu hắt của lau ví với miền xưa, miền quá vãng, miền nội tâm, nơi
chứa dặm tinh thần, ngàn kỉ niệm. Như một ám ảnh khôn nguôi về một miền
quá vãng đầy nuối tiếc, một cõi quên đầy bí ẩn, hình ảnh ngàn
lau được nhắc đến nhiều lần, gợi sự hoang lạnh, mịt mù, vô định của cõi hư
vô:
Tất cả những nơi cư trú khi
con người không về đấy nữa
Thì biến thành rừng hoang kỉ niệm, hóa lau le
(Ngàn lau)
Thì biến thành rừng hoang kỉ niệm, hóa lau le
(Ngàn lau)
Người đến tìm anh sau này chỉ
thấy trắng lau le
(Lau-2)
(Lau-2)
Thế giới vô cùng đã được diễn
tả bằng những không gian cấp vĩ mô với vạn thiên hà, vạn sông hồ, vạn trời
mây, vạn khoảng trời, vô hạn, nghìn sông núi, ngàn lau, muôn dặm trời mây khác…Không
chỉ là những con số thực và cụ thể, ngàn, vạn, muôn nghìn ở đây là những
con số tượng trưng, thể hiện sự xa rộng, vô cùng của thế giới.
Nếu như màu sắc đóng vai trò
quan trọng trong kiến trúc không gian thì màu sắc trong TTCLV góp phần tạo nên
một không gian cao rộng, khoáng đạt vô tận từ những gam màu sáng, xanh, trắng được
gợi từ những mây trắng, lau trắng, trời xanh:
Nguy nga dựng vòm mây trắng; Chiến
khu phương hướng ấy trắng mây trời; Ngàn lau xao xác trắng; Giật mình
thấy một sắc không xanh; Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi…
Từ một góc độ hẹp, không
gian trong TTCLV luôn vươn tới tính chất mở, đưa tâm hồn đến một không gian
khoáng đạt và còn vượt ra ngoài không gian để đến với những miền còn bí ẩn của
thế giới vô cùng của trời đất và lòng người. Sự hướng ra thế giới vĩ mô từ góc
nhìn vi mô ấy mang đậm dấu ấn của một cảm quan triết học phương Đông.
2. Vĩnh viễn hóa khoảnh
khắc, nhờ cái thoáng qua để nắm bắt cái vĩnh cửu là cách cảm nhận độc đáo
của TTCLV về thời gian, về sự tồn tại của con người trong thế giới.
Thường gặp hơn cả là những
thời điểm mang tính tâm trạng: nhớ thương, nuối tiếc, đợi chờ, cô đơn… Chỉ
một ngày nữa thôi, nhưng là một ngày để nhớ, để mong, để chờ. Đó
là khoảnh khắc được gọi thành tên:
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay
trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay
Khách thể hóa đối tượng mang
tâm trạng bằng sự vật (nắng, cây, ngõ, bướm), để tâm trạng đó như không là của
ai, mà như là của cả thế giới, của tất cả những ai từng khắc khoải đợi chờ, những
ai từng thấm thía mỗi phút đợi chờ sâu một bể thời gian. Cũng như vậy, chỉ một
giây phút em ra đi mà lòng anh hóa thành bến thu, mùi hoa dại giữa
một trưa nắng Côn Sơn không chỉ thơm giờ khắc ấy mà thơm từ thời Nguyễn
Trãi đến thời ta, màu lau trắng man mác thuở Nguyễn Du bạc xóa đến bây giờ.
Còn rất nhiều những khoảnh
khắc bừng sáng của nhận thức, khoảnh khắc con người “đốn ngộ” chân lí cuộc sống:
Bốn năm đạn lửa chim bay hết
Nay tiếng bom im cánh biếc về
Tiếng hót đầu tiên ơ lạ lắm
Cả làng rưng lệ đứng nghe im
(Cánh biếc Vĩnh Linh)
Nay tiếng bom im cánh biếc về
Tiếng hót đầu tiên ơ lạ lắm
Cả làng rưng lệ đứng nghe im
(Cánh biếc Vĩnh Linh)
Một tiếng chim làm con người
nhận ra sự sống được hồi sinh. Đó là khoảnh khắc hóa đá của thời gian. Khoảnh
khắc bừng tỉnh, cũng là khoảnh khắc có ý nghĩa trong nhận thức về cuộc đời. Từ
sự thấm thía cái lạnh vừa và lạnh gắt của hai đợt gió mùa
trong những lúc cô đơn, con người chợt nghĩ đến một cái lạnh khác còn đáng sợ hơn
tất cả, đó là sự lạnh lòng, sự thay đổi tình cảm:
Từ lúc em ra đi, hai lần gió
mùa đông bắc thổi qua phòng
Lần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt
Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa, không sợ giặc
Chỉ sợ lòng mình, ai sợ gió mùa đông
(Gió mùa đông bắc)
Lần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt
Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa, không sợ giặc
Chỉ sợ lòng mình, ai sợ gió mùa đông
(Gió mùa đông bắc)
Với những số đo của khoảnh
khắc: một vài, một phút, một bữa, trưa nay, một ngày, thình lình, thoáng
chốc, hai lần…và những số đo của vĩnh cửu: muôn đời, một đời, mùa xuân bất
tử, ngày bất tử, đến tận bây giờ… nhà thơ đã đưa những khoảnh khắc thơ vào vĩnh
viễn. Để từ đó, không chỉ là nắm bắt những quy luật vĩnh cửu của quá trình đời
sống mà còn muốn được từ cái hữu hạn của hiện tượng, sự vật để suy ra cái vô hạn
của chính nó, để nối một với muôn đời.
3. TTCLV là một cái
nhìn đa diện về thế giới và con người, dù bị hạn chế bằng hình thức nhỏ của thể
loại, với cách mở rộng hiện thực bằng đề tài, sự chiếm lĩnh chiều sâu hiện
thực bằng cách tăng tính khái quát triết lí ở chủ đề và sự thể hiện con người
nhiều chiều.
Mọi đề tài như tình yêu, lao
động nghệ thuật, lãnh tụ, mẹ, thiên nhiên…đều có thể tìm thấy ở TTCLV. Tứ tuyệt
về tình yêu của Chế Lan Viên không có cái sôi nổi, cái si mê cuồng nhiệt, cái vồ
vập của tình yêu tuổi trẻ, mà có cái đằm thắm, kín đáo, đầy ý nhị của người đứng
tuổi với tất cả các cung bậc tình cảm: có nỗi nhớ da diết (Chim cu gáy, Mây của
em), có sự khắc khoải đợi chờ (Tập qua hàng), cái nồng nàn sâu lắng của lòng
yêu như lửa đỏ, nhưng âm thầm kín đáo với vẻ ngoài cứ trắng như không (Hoa
trắng đỏ).
Thiên nhiên với cỏ cây, hoa
lá cũng ùa vào TTCLV tạo thành một khu vườn ấm áp, đầy sự sống, đặc biệt với
các loài hoa: Hoàng thảo hoa vàng… chợt nhớ ra; Man mác hoa lau
trắng; Lăng vua hoa đại rơi đầy lối; Năm cánh dẻ vàng rơi mặt đất; Rực rỡ mùa
hoa giấy suốt hè… Hoa không chỉ là hiện thân của cái đẹp mà còn được coi như sự
hiện hữu của thiên nhiên vĩnh hằng, là sự sống bất diệt, là số đo của sự tuần hoàn
muôn đời…
Bao quát mọi đề tài của cuộc
sống, từ những vấn đề giản dị nhất đến những vấn đề có ý nghĩa lớn lao; với một
hệ thống đề tài phong phú, đa dạng, hiện thực TTCLV đã vươn đến mọi khía cạnh của
cuộc đời.
Tăng tính khái quát triết lí
ở chủ đề là một cách chiếm lĩnh chiều sâu hiện thực trong TTCLV. Phong cách triết
lí của Chế Lan Viên đã sở đắc với thể loại tứ tuyệt, một thể loại giàu sức khái
quát và triết lí. Từ một chi tiết, một hình ảnh cụ thể, Chế Lan Viên bao giờ
cũng cố gắng phát hiện cái cốt lõi trừu tượng, một ý vị triết học đời thường
sâu sắc. Từ một tên ngõ, nhà thơ vừa chơi chữ, vừa nghĩ về lẽ đời, về sự chung
thủy sâu thẳm:
Sương giăng mờ trên ngõ Tạm
Sương
Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm
Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm
Thương một đời đâu phải tạm thương
(Chơi chữ về ngõ Tạm Thương tức Tạm Sương)
Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm
Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm
Thương một đời đâu phải tạm thương
(Chơi chữ về ngõ Tạm Thương tức Tạm Sương)
Từ tương quan giữa lá và
hoa, nhà thơ nghĩ về mối quan hệ biện chứng nội dung và hình thức trong nghệ
thuật (Nội dung và hình thức), từ tên một con sông, một bến nước, ông lí sự về
độ sâu sắc trong tình cảm, tâm hồn (Bến Lú-Sông Thương)…Tìm ra cái khái quát từ
cái cụ thể, phát hiện quy luật, chân lí từ những hiện tượng, chiều sâu hiện thực
trong TTCLV không hề bị giới hạn bởi cách nhìn tổng hợp được cả ưu thế của
phong cách và thể loại.
Nếu coi sự phong phú và mở rộng
về đề tài và chủ đề là dấu hiệu khách quan đầu tiên đem đến tính hiện đại hóa về
nội dung hiện thực thì TTCLV đã được hiện đại hóa về nội dung hiện thực.
4. Tương ứng với quan niệm về
thế giới và con người, TTCLV có những nguyên tắc thẩm mĩ đặc thù không
chỉ làm nổi bật đặc trưng bền vững mà còn phá vỡ thế ổn định tạo nên sự vận động
của thể loại tứ tuyệt.
4.1 Khắc phục hạn chế về
quy mô phản ánh hiện thực của thể loại bằng những ẩn dụ độc đáo. Trong tương
quan các ẩn dụ, hiện thực được phản ánh không chỉ hạn hẹp ở bề mặt những hình ảnh
cụ thể mà còn được mở rộng ở nhiều tầng ý nghĩa. Được xây dựng bằng các loại ẩn
dụ, thế giới trong TTCLV hiện ra lung linh sắc màu, vừa thực vừa ảo, tầng tầng
lớp lớp đan cài lẫn nhau.
Loại ẩn dụ phổ biến nhất là
các ẩn dụ đơn. Bên cạnh việc sử dụng các ẩn dụ đơn truyền thống: Như Lai.
Ngưu Lang, Chức nữ, nhà thơ còn sáng tạo nhiều ẩn dụ đặc sắc như Sóng: Nỗi
lòng người tha phương (Nghe sóng), bể: sự từng trải đời (Bể), Sông Tiền
Đường: không gian định mệnh (Đọc Kiều), mây trắng: cõi vĩnh hằng (Kỉ niệm
Nguyễn Du)…
Tuy nhiên, sức hấp hẫn tạo
nên ma lực của TTCLV phải kể đến những ám ảnh của các ẩn dụ kép: thuyền-bến,
sen-bùn, trắng-đỏ, bình minh-hoàng hôn, hoa-đá, ong-hoa-mật, lá-hoa, rễ-hoa,
sao Hôm-sao Mai, hạt sương-mạng nhện, ngọc trai-bể, đá nhỏ-thành xây, tro-lửa,
sông Hồng-sông Thương, tuyết-bùn…Ý nghĩa của cặp ẩn dụ được nâng lên cấp lũy thừa
theo quan hệ logic hình thức và nội dung của những cặp hình ảnh được nhắc đến.
Nó tạo cảm giác đời sống con người và đời sống tự nhiên luôn vận động khôn
cùng, theo cùng một nhịp điệu và luôn có những mối dây liên hệ bền chặt mà sâu
thẳm. Và chỉ có chính những đặc tính phong phú của tự nhiên mới có thể diễn đạt
nổi mọi tầng bậc phức tạp, bí ẩn của đời sống tinh thần con người.
Chế Lan Viên còn sử dụng một
loại ẩn dụ đặc biệt: ẩn dụ nhiều tầng. Mỗi hình ảnh không phải mang một mà nhiều
nghĩa ẩn dụ ngay trong một văn cảnh cụ thể:
Miền nội tâm anh, dặm tinh
thần anh là ngàn lau xao xác ấy
Bạc trắng ngàn lau cũng là tuổi thơ thường nhắn gọi anh về
Cả những hạnh phúc mất đi, đẵn đi rồi hóa thành lau lách
Người đến tìm anh sau này chỉ thấy trắng lau le
(Lau-2)
Bạc trắng ngàn lau cũng là tuổi thơ thường nhắn gọi anh về
Cả những hạnh phúc mất đi, đẵn đi rồi hóa thành lau lách
Người đến tìm anh sau này chỉ thấy trắng lau le
(Lau-2)
Lau và màu bạc trắng cùng nơi
cư trú của nó: nơi hoang vu, vắng lạnh, lại như là hiện hữu của một tuổi thơ xa
vời vợi, của một cõi tâm linh hoang dại, mênh mông và bí ẩn suốt đời xao xác
không bình yên, là hình ảnh của những bất hạnh trở thành cỏ dại trong tâm hồn,
là dấu vết của một miền hư vô, cõi siêu thực mà con người rồi ai cũng bước tới.
Có thể nói, với hệ thống ẩn
dụ đặc sắc, mỗi bài thơ TTCLV chứa đựng trong nó nhiều tầng hiện thực hơn khả
năng hình thức thể loại cho phép phản ánh trực tiếp.
4.2 Tăng tính khái
quát, triết lí trong thơ bằng kết cấu đối lập. Là một nhà thơ quen nhìn sự vật
từ hai bề đối lập, Chế Lan Viên phát hiện và nắm bắt nhanh hơn, sâu sắc hơn những
quy luật, chân lí của đời sống. Đặc điểm ngắn gọn, hàm súc với tính khái quát
cao của tứ tuyệt đã yêu cầu nhà thơ sử dụng kết cấu đối lập không chỉ như một
nét đặc sắc của phong cách cá nhân mà là sự cần thiết của phong cách thể loại.
Đặc điểm này của thể loại đã gặp gỡ nét phong cách ưa triết lí của nhà thơ, tạo
nên những thăng hoa trong sáng tạo với tỉ lệ thành công cao. Các phạm trù đối lập
được sử dụng khá nhiều: thật-giả, thực-hư, có-không, hữu hạn-vô cùng, trắng-đen,
sáng-tối, ẩn –hiện, lạnh lẽo-nồng nàn, im lặng-xôn xao, thiên giới-trần gian,
thoát tục-đời phàm…
Kết cấu đối lập thường dựa trên
sự tổ chức các ý thơ, cảm xúc, hình ảnh, ngôn ngữ: hai tư tưởng siêu hình và
duy vật (Hai câu hỏi), vị nghệ thuật và vị nhân sinh (Đi thực tế), quê hương
quen mà lạ (Trở lại An Nhơn), tên thật-tên giả (Hai danh hiệu), ngoài rêu phủ,
trong ánh lửa (Đá), ý thẳng-nhạc vòng (Vần), tro tàn-lửa đỏ (Tro và lửa), ngõ bảy
thước-lòng muôn dặm (Chơi chữ về ngõ Tạm Thương), một giọt mật đời-vạn chuyến
ong bay (Ong và mật)…Với kết cấu đối lập, thế giới trong TTCLV hiện ra với những
mặt đa dạng, vừa tương phản, vừa bổ sung, luôn luôn vận động, bài thơ tăng ý
nghĩa triết học, đi dần về phía chân lí, mang tính phổ quát cao.
4.3 Mở rộng và hiện đại
hóa nội dung hiện thực bằng câu thơ định nghĩa và sự sáng tạo từ ngữ
Câu thơ định nghĩa là kiểu
câu thơ gắn liền với biện pháp so sánh, ẩn dụ. Bằng hình thức diễn đạt của câu
thơ định nghĩa (Năm chiến trận hoa là vũ khí; Hạnh phúc màu hoa lau), một sự vật,
hiện tượng được làm sáng tỏ, mở rộng ý nghĩa, đặc biệt là ý nghĩa cảm tính, trực
giác, ấn tượng. Với mỗi một cách định nghĩa, sự vật được soi chiếu ở một góc độ
nhất định, góp phần diễn tả sự phong phú, sâu rộng, phức tạp của cuộc sống. Đưa
ra những cách định nghĩa, Chế Lan Viên đã thể hiện cách cảm thụ thế giới riêng
biệt, độc đáo:
Anh là tháp Bayon bốn mặt
Dấu đi ba còn lại đấy là anh
Dấu đi ba còn lại đấy là anh
Chỉ với một định nghĩa về anh như
vậy, người đọc cần phải biết: Tháp Bayon là gì? Ở đây? Tượng trưng cho cái gì?
Tại sao lại có bốn mặt? Mỗi mặt mang ý nghĩa gì? Từ đó mới có thể thấu hiểu sự
bí ẩn và phức tạp của đời sống một cá thể trong cõi nhân gian.
Có định nghĩa đi từ trừu tượng
tới cụ thể, đưa ý niệm trở nên dễ cảm nhận, dù sự so sánh rất trực giác:
-Miền nội tâm anh, dặm tinh
thần anh là ngàn lau xao xác ấy
-Biệt li màu rách xé
-Nghìn câu thơ nước chảy
-Biệt li màu rách xé
-Nghìn câu thơ nước chảy
Thế giới hiện thực trong
TTCLV còn được hiện đại hóa bằng một hệ thống từ ngữ tân kì, độc đáo. Có một thế
giới đa sắc, được miêu tả bằng những từ ngữ chỉ màu sắc phong phú, khác lạ, màu
của ấn tượng:
-Hoa phong lan nửa tím, nửa
màu…em
-Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu
-Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu
Những động từ rất mạnh, sắc:
-Nước mắt treo cầu
vồng
-Mùi hương rọi khắp trời
-Hãy im nước biếc, im màu liễu
Im bớt màu hoa đỏ cạnh hồ
-Mùi hương rọi khắp trời
-Hãy im nước biếc, im màu liễu
Im bớt màu hoa đỏ cạnh hồ
4.4 TTCLV đã phá vỡ
tính siêu cá thể của thể loại bằng cách đưa cái tôi cá nhân vào thơ. Tính phổ
quát của tứ tuyệt khá cao vì tứ tuyệt truyền thống thường lược chủ thể, làm cho
cái nhìn, lời nói trong thơ như là không của ai, trở thành lời nói, cái nhìn
siêu cá thể. Câu thơ tứ tuyệt truyền thống thường lược chủ thể mà cũng không hướng
tới ai “Nó chỉ biểu hiện cái nhìn và sự trầm tư nội tại nên cũng ít có khả năng
thể hiện cụ thể giọng điệu, tiếng nói của con người (Trần Đình Sử: Những thế giới
nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục 1995). Nhà thơ cũng ít xuất hiện như chủ thể của một
cái nhìn trong thơ, nếu có thì họ tự gọi mình bằng những danh từ chung chung: thi
nhân, khách, lữ khách. Với cái nhìn siêu cá thể ấy, Phong Kiều dạ bạc của
Trương Kế chỉ là cái cảm biết của một khách trên thuyền, còn Tính dạ tứ nói
tới nỗi nhớ quê hương da diết trong lòng Lý Bạch mà như đang nói nỗi lòng của
ai khác. Câu thơ TTCLV được giải phóng khỏi sự gò bó của niêm luật, được tạo
dáng lại thành câu thơ điệu nói, thành lời nói có chủ thể với các đại từ xác định:
Anh trút tình thương trong sắc
biếc
Ru cho em ngủ giấc trưa lành
Ru cho em ngủ giấc trưa lành
Sự mở rộng câu thơ tứ tuyệt
cũng là sự thể hiện tư tưởng và tình cảm con người cá thể một cách toàn vẹn, đầy
đặn và tự do. Lời thơ là lời nói trực tiếp hàng ngày, là lời phân trần, kể lể
có ngữ điệu tự nhiên của cảm xúc cá nhân:
Đột ngột cây chiều xanh mướt
xanh
Thôi rồi em hẳn nhớ mong anh?
Thôi rồi em hẳn nhớ mong anh?
Sự xuất hiện thường xuyên
các từ đệm (thì, là, mà…), các từ để hỏi (vì sao, sao, làm chi, chi), các từ mệnh
lệnh (hãy, đừng), các dấu hỏi, dấu cảm, chấm lửng (?, !, …), cách ngắt câu mang
nghĩa biểu cảm, tạo cho người đọc cảm giác: cái tôi cá nhân tự bộc lộ, đối thoại,
tự tâm sự:
Anh đi qua trái đất để lại
chừng thơ ấy
Hãy thương anh! Anh nào có chi nhiều
Hãy thương anh! Anh nào có chi nhiều
Với những từ miêu tả trạng
thái: nhớ, mong, chờ, tiếc, sợ, quên, câu thơ có cấu trúc giãi bày trực tiếp,
thành thực:
Không em anh sợ qua vườn
Sợ mùi hương, sợ mùi hương nhắc mình
Sợ mùi hương, sợ mùi hương nhắc mình
Và dầy đặc các từ diễn tả thế
giới thông qua cảm xúc: nước hồ xao xuyến, hồn cây lao xao, đài hoa bịn
rịn, cành hoa hờn dỗi, thơm bổi hổi bồi hồi, sắc mai cười.
Bằng điệu nói, câu thơ TTCLV phá
vỡ cấu trúc tĩnh của thể loại, làm lời thơ tăng tốc độ qua những câu ngắt, ngừng,
nghỉ, hỏi dồn dập:
Sáng nay ra đường gặp ai? Gặp
đóa súng hồng
Hồng như chưa có môi nào hồng được vậy
Đến nỗi anh qua rồi, quay ngoắt lại
Hỏi “Hoa súng hồng, hoa súng hồng, mày có phải hoa không?
Hồng như chưa có môi nào hồng được vậy
Đến nỗi anh qua rồi, quay ngoắt lại
Hỏi “Hoa súng hồng, hoa súng hồng, mày có phải hoa không?
Với một “cách nhìn thể loại”,
một” thế giới quan thể loại” độc đáo, sự kết hợp hài hòa phong cách thể loại và
phong cách cá nhân của TTCLV đã đem lại những đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử
thơ tứ tuyệt Việt Nam.
Lê Lưu Oanh - Đinh Thị Nguyệt
Nguồn Tạp chí Văn học, số 8/1998







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét