Đến nay dường như vẫn còn là một vấn đề quá khó đối với không
ít người, khi phải trả lời câu hỏi vì sao thơ tình của Xuân Diệu hay đến mức
khó ai có thể vượt qua? Người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực kể cả những
người đồng thời cũng như hậu thế nhằm đi tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề, nhưng
xem ra cũng chỉ là phỏng đoán.
Cuộc đời và văn nghiệp
Nhà thơ Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2
tháng 2 năm 1916, ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là ông
Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp. Thuở thiếu thời ông sống tại Gò Bồi,
thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và theo học ở Quy
Nhơn.
Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức
ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Sau đấy ông ra Hà Nội sống bằng nghề làm thơ, viết
văn và là thành viên tích cực của nhóm Tự lực văn đoàn từ năm
1938-1940, do Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) sáng lập từ năm 1932. Đến năm 1943,
Xuân Diệu tốt nghiệp cử nhân Luật, rồi vào làm tham tán thương chánh ở Mỹ
Tho. Sau đấy ông lại quay ra Hà Nội tiếp tục làm thơ và viết văn.
Bên cạnh sáng tác thơ, Xuân Diệu còn viết cho các báo như Ngày
Nay và Tiền Phong. Sau đấy ông tham gia sáng lập Đoàn báo chí Việt
Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Xuân Diệu được biết đến với
tư cách là một nhà thơ lãng mạn trữ tình. Ông đã thổi một làn gió mới vào thi
đàn Việt Nam những năm nửa đầu thế kỷ XX. Theo nhà phê bình văn học Hoài Thanh
thì Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới- nên chỉ những người còn trẻ
mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê. Xuân Diệu không như Huy Cận vừa
bước vào làng thơ đã được người ta dành ngay cho chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến
giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà những tiếng khen chê chưa ngớt. Người
khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời (1)
Xuân Diệu được coi là một trong những chủ soái của phong
trào Thơ Mới. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này gồm: Thơ thơ (1938)
và Gửi hương cho gió (1945). Có thể nói hai tập thơ này của
ông được giới lý luận - phê bình văn học và văn học sử xem như là hai kiệt
tác của ông ca ngợi tình yêu và cuộc sống. Tình yêu thường gắn liền với tuổi trẻ
và mùa xuân thiên nhiên của đất trời và của lòng người. Xuân Diệu cảm nhận sâu
sắc đến mức quằn quại đau mỗi khi cảm thấy thời gian đang chảy trôi vào vô tận.
Trong bài Giục giã ông từng mở đầu bằng hai câu thơ thật sự riết
róng:
Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi.
Như vậy đủ thấy ông cảm nhận về sự hữu hạn, mong manh của đời
người, nên cần phải sống thật và yêu một cách hết mình, đắm say. Trước đây đã
có một số người do nhận thức nông cạn nên suy diễn một cách vô lối, quy kết hai
câu thơ của ông là biểu hiện của lối sống gấp của tầng lớp tiểu tư sản,
theo cách nhìn của đạo đức phong kiến lạc hậu, nhuốm màu sắc chính trị hẹp hòi
từ quan điểm của Nho giáo.
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh,
rồi sau đó, khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông hoạt động trong Hội Văn hóa
cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội, rồi công tác trong Hội
Văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ (nay là Tuần
báo Văn nghệ) ở Việt Bắc.
Xuân Diệu tham gia Ban Chấp hành, nhiều năm là Ủy viên thường
vụ Hội Nhà văn Việt Nam kể từ khi mới thành lập (1957). Cũng từ sau năm 1945,
Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ngợi ca cách mạng, ngợi ca
những người lao động. Từ đỉnh cao của dòng thơ lãng mạn trữ tình, ông chuyển
sang dòng thơ anh hùng ca, tự sự trữ tình, pha chút chính luận một cách dứt
khoát ngay từ tập thơ Ngọn quốc kỳ (1945), cho đến Một khối hồng (1964), rồi Thanh
ca (1982)...
Với tư cách là một cây đại thụ của nền thi ca Việt Nam hiện đại,
Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ, trong đó một số lượng lớn vẫn còn nằm
trong di cảo chưa công bố, một số truyện ngắn và nhiều bút ký, tiểu luận, phê
bình văn học.
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội khóa I. Ông còn được
bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm
1983.
Xuân Diệu mất ngày 18 tháng 12 năm 1985 tại Hà Nội. Ông đã được
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật, đợt I, năm 1996.
Tên của ông được đặt cho một đường phố ở quận Tây Hồ và một trường tiểu học
ở quận Ba Đình, Hà Nội, một trường trung học phổ thông ở huyện Tuy Phước,
tỉnh Bình Định.
Suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật, nhà thơ Xuân Diệu đã để lại
cho đời sau một khối lượng tác phẩm đồ sộ, mà các thế hệ sau này không mấy người
sánh kịp, gồm nhiều thể loại khác nhau. Về thơ có: Thơ thơ, Gửi hương cho
gió, Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông, Riêng chung, Hồn tôi đôi cánh... Văn
xuôi: Phấn thông vàng, Miền Nam nước Việt, Việt Nam ngàn dặm... Tiểu luận
phê bình: Thanh niên với quốc văn, Tiếng thơ, Những bước đường tư tưởng của
tôi, Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ, Dao có mài mới sắc, Thi hào dân tộc
Nguyễn Du, Đi trên đường lớn, Ba thi hào dân tộc, Phê bình giới thiệu thơ... Dịch
thơ: Thi hào Nadim Hitmet, Vây giữa tình yêu, Việt Nam hồn tôi, Những nhà
thơ Bungari, Nhà thơ Nicôla Ghiđen...
Cũng cần phải nói thêm rằng, trước thời kỳ đổi mới, một trào
lưu nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học đứng trên quan điểm chính trị, đạo đức
lạc hậu và xã hội học dung tục đã quy cho Thơ Mới đủ mọi thứ tội, mà
nặng nhất là tội lập trường tiểu tư sản thay vì xem Thơ Mới như một
diễn ngôn lịch sử, hay một giá trị nghệ thuật. Vào thời điểm ấy, cái tôi cá
nhân, một phẩm chất tối quan trọng trong sáng tạo thi ca bị quy thành chủ
nghĩa cá nhân vị kỷ theo quan điểm đạo đức và xã hội học dung tục. Với tư
cách là ông hoàng thơ tình, Xuân Diệu không thể nào thoát khỏi
vòng cương tỏa của những tư tưởng bảo thủ ấy. Cũng may mà, chính ông lại là người
tìm đến với Việt Minh khá sớm và đem tất cả lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ và
tình yêu cuộc sống để phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Dù vậy, sau khi Cách
mạng tháng Tám thành công chừng 40 năm, ông vẫn còn là đối tượng bị chỉ trích mạnh
mẽ nhất, mặc dù, khối lượng tác phẩm của ông sau 1945 với tư cách là một nhà
thơ Cách mạng, còn lớn hơn nhiều so với vài ba tập thơ, truyện ngắn trước đấy,
nhưng người ta lại cố tình quên đi, mà chỉ quan tâm đến tính chất tiểu tư sản
trong sáng tác của ông trước 1945.
Trả lại giá trị thực cho thơ tình của Xuân Diệu
Ngay lúc bình sinh, cũng như khi đã về thế giới bên kia, cách
đây gần 30 năm, Xuân Diệu và thơ tình của ông vẫn luôn là vấn đề được nhiều người
quan tâm, bàn thảo với hàng loạt bài viết như: Vạch trần nỗi khổ tình
trai của nhà thơ Xuân Diệu; Nhà thơ Hoàng Cát: Xuân Diệu yêu, còn tôi
chỉ thương; Nghi án tình trai với nhà thơ Xuân Diệu, Giải
mã nghi án giới tính của Xuân Diệu... Còn nhà văn Tô Hoài, người cùng
thời và quen biết Xuân Diệu từ trước Cách mạng tháng Tám, năm 1945 cũng dành hẳn
chương III trong Hồi ký Cát bụi chân ai của mình để viết về ông
hoàng thơ tình này.
Trong các nhà văn, nhà thơ vừa kể trên, mỗi người có quan hệ
và tiếp xúc với Xuân Diệu theo cách riêng của mình, nên có những kỷ niệm và
cách nhìn nhận về ông cũng không ai giống ai. Huy Cận và Xuân Diệu là tình bạn
thuở thiếu thời là hai tính cách đối nghịch nhau, nhưng cả hai đều cần phải dựa
vào nhau để sống và hoạt động nghệ thuật.
Nếu chỉ căn cứ trên hồi ức của nhân chứng để suy ra Xuân Diệu
là người đồng tính hay ái nam ái nữ và thơ của ông cũng là thơ của người đồng
tính hay của người ái nam ái nữ là chưa thỏa đáng, mặc dù ông đã có một số bài
thơ nói về vấn đề này như Tình trai, Em đi, Biển...
Nhân chứng cuối cùng, người vợ duy nhất của ông hoàng
thơ tình Xuân Diệu là NSND, đạo diễn điện ảnh Bạch Diệp. Dù quan hệ vợ chồng
của hai người chỉ kéo dài khoảng sáu tháng, nhưng những gì bà Bạch Diệp nói ra
theo tôi là đáng tin cậy hơn cả. Ngày ấy, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc,
vào một ngày cuối thu đầu đông (11/1958), Xuân Diệu ở ngôi nhà 24 phố Cột Cờ
(nay là đường Điện Biên Phu) với gia đình nhà thơ Huy Cận, đạp xe xuống nhà
nàng ở cuối phố Bà Triệu, nơi có hàng hoa dạ lan thơm nức. Chính nàng Bạch Diệp
đã khơi nguồn cảm hứng để chàng thi sĩ đa tình Xuân Diệu viết nên bài Dạ
hương bất hủ:
Tôi cầm mùi dạ lan hương
Trong tay đi đến người thương cách trùng
Dạ lan thơm nức lạ lùng
Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương.
Cuộc hôn nhân đầu tiên và cũng là cuối cùng trong cuộc đời của ông
hoàng thơ tình đã kết thúc một cách hết sức chóng vánh và buồn thảm. Dù cuộc
hôn nhân ấy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, xét theo khía cạnh thông thường của mọi
cuộc hôn nhân. Tuy thế, đến bây giờ, người vợ duy nhất vẫn nhớ về ông với niềm
cảm mến sâu sắc: Cuộc hôn nhân ngắn ngủi với Xuân Diệu như một luồng gió
mát đi qua cuộc đời tôi. Luồng gió đó dù ngắn nhưng đã để lại mãi ấn tượng
trong tâm hồn. Chỉ là một luồng gió thoáng qua nhưng lại làm tôi giữ mãi niềm
thương mến, bởi tôi thực lòng rất thương Xuân Diệu.
Như vậy chỉ có thể nói số phận không cho Xuân Diệu được làm
chồng, làm cha vì một căn bệnh quái ác. Nhưng dù có thế nào ông cũng đều yêu thật
và sống thật. Với bất cứ ai và bất kỳ thời điểm nào tình yêu của ông với con
người và với cuộc đời đều đằm thắm, nồng nàn đến bỏng cháy, đầy chất nhân văn.
Tôi cho rằng đấy mới là nguồn cội để ông viết nên những áng thơ tình bất hủ, mà
gần thế kỷ nay hoặc có thể sau này sẽ chẳng ai có thể vượt qua được.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét