Người Việt vốn thích nói ngắn. Không thích nói dài. Ít nhất
là trong thi ca. Một câu lục bát thôi có khi đi cả đời người không hết. Vậy mà,
không dưới hai lần, người Việt đã không thể không nói dài được nữa. Lần thứ nhất.
Vào thế kỷ 18. Sau bao nhiêu năm chiến tranh nồi da nấu thịt, đất nước mới tạm
yên hàn. Truyện nôm và khúc ngâm dài vốn có từ cuối thế kỷ 17 đã đồng loạt vọng
lên niềm tin và ước nguyện nhân nghĩa thắng bạo tàn. Cái thiện thắng cái ác.
Khát vọng thiết tha về tình yêu hạnh phúc thường là của những người đàn bà
trong sự vật vã của cô đơn và niềm tin mọi sự luân chuyển ở đời đều kết thúc có
hậu. Lần thứ hai. Nửa sau thế kỷ 20. Sau những cuộc chiến tranh dài khốc liệt
giành và giữ nền độc lập, dân tộc Việt Nam đi tới vinh quang qua bao đau thương
máu lửa hy sinh. Lá cờ hiệu của Tổ quốc in máu chiến thắng vang hồn nước đã dựng
nên không gian lịch sử bi tráng cho các trường ca sử thi.
Heghen
nói: Các trường ca sử thi làm thành lịch sử toàn thế giới ở chỗ nó có những
gì là đẹp nhất, sinh động và tự do nhất. Xét trên phương diện đó, trường
ca nửa sau thế kỷ 20 đã làm thành lịch sử của dân tộc hướng tới những gì như
Heghen đã nói.
Vào đầu
thế kỷ 20, không một ai dự báo và ngờ được rằng một thời đại của trường ca đã đến.
Trên thi đàn công khai, Thi nhân Việt Nam cũng chỉ giới thiệu 44 tác
giả và xác nhận có một thời đại mới của thi ca đã xuất hiện mà thôi. Phong trào
Thơ Mới là một cuộc hội ngộ lịch sử của thi vận. Nhưng dường như chưa có mặt
trường ca. Ba chàng thi sỹ của phong trào đó đã trót mang duyên nợ với thơ dài.
Mà lại vẫn còn dang dở. Hoài Thanh không ngần ngại gọi Tiếng địch sông
Ô của Huy Thông là anh hùng ca. Rằng chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những
lời hùng tráng như thế. Thực đã đến bực phi thường. Nhưng lại nắc nỏm
tiếc cho Huy Thông, người anh hùng trong mộng tưởng lại cũng là một người
thiếu niên khao khát yêu thương và rất lễ phép với đàn bà. Hoài Thanh không
đưa Tiếng địch sông Ô với 243 câu vào Thi nhân Việt
Nam vì nó dài quá mà lại không toàn bích. Nguyễn Nhược Pháp chỉ
thành tựu trong Chùa Hương. 136 câu. Với Sơn Tinh Thủy Tinh. 124
câu. Cũng vào loại thường thường. Chưa nói việc ông vẽ Sơn Tinh có một mắt ở
trán có nhẽ không nằm trong truyền thống văn hóa Việt. Mùa hạ 1944. Nguyễn Bính
cũng phải một lần lỡ hẹn với truyện thơ. Khi đó Bính khao khát một giai phẩm
dài bằng thơ lục bát và bảo với Mộng Tuyết rằng sẽ làm dài hơn quyển truyện Kiều.
Đêm đêm, cả thị xã Hà Tiên thời đó nhỏ bé trong ánh đèn dầu dừa dầu cá thì
chàng thi sỹ 26 tuổi của chúng ta sang trọng viết dưới ánh hồng lạp thi phẩm Thạch
sương bồ. Được hai, ba trăm trang. Mới xong được một phần thì bỏ dở. Bệnh giang
hồ đã gọi Bính ra đi…? Phải chăng phong trào Thơ Mới đã lỡ hẹn với trường ca?
Và phải chăng sự vận động của lịch sử đầu thế kỷ đã chưa dàn cảnh và thôi thúc
các thi sỹ tài danh đến được với trường ca sử thi?.
Những
người lính vệ quốc đoàn mặc áo trấn thủ ra đi từ mùa đông 1946 vào cuộc trường
chinh của dân tộc thật là dài. Họ đi qua kháng chiến 9 năm chống Pháp. Rồi 20
năm đánh Mỹ. Lại đi tiếp chiến đấu bảo vệ biên cương lãnh thổ gần 15 năm nữa. Nửa
sau thế kỷ 20 vỏn vẹn chỉ còn chưa đầy 10 năm. Họ mới trở về nhà. Dường như đó
là một trong những âm hưởng chủ đạo của thế kỷ 20. Theo chiều dài lịch sử ấy, các
thi sỹ của thời đại chúng ta phần nhiều viết trường ca trên đường ra trận và
trong ánh chớp của khói lửa chiến tranh. Chỉ đôi lúc có quãng ngắt đầy lo âu của
mây trắng hòa bình. Thế kỷ ấy đến bông lúa chín trên đồng mà trẻ thơ cũng hình
dung vàng như băng đạn và ngược lại. Nếu Heghen đòi hỏi ba phương diện thiết yếu
làm nên trường ca sử thi. Dân tộc. Thời đại. Và tính toàn nhân loại thì lịch sử
nửa sau thế kỷ 20 đã mở ra một bối cảnh của ba phương diện ấy.
Nửa
sau thế kỷ 20. Thơ Việt Nam được mùa trường ca. Nhất là sau năm 1975. Chỉ trong
vòng trên dưới 50 năm có tới 164 trường ca của 102 tác giả. Chưa kể đến gần 30
truyện thơ và hàng trăm bài thơ trường thiên khác.
Thời
cuộc đã gửi giấy nhập ngũ tới các thi nhân cho cuộc hội quân đông đảo trên thi
đàn trường ca nửa sau thế kỷ 20. Khương Hữu Dụng. Văn Cao. Giang Nam. Hoàng Cầm.
Phùng Quán. Tạ Hữu Yên. Xuân Hoàng. Xuân Thiêm. Thái Giang. Thu Bồn. Lê Anh
Xuân. Nguyễn Khoa Điềm. Phạm Tiến Duật. Hữu Thỉnh. Nguyễn Đức Mậu. Thanh Thảo.
Anh Ngọc. Viễn Phương. Trần Đăng Khoa. Thi Hoàng. Tạ Vũ. Vương Trọng. Nguyễn Khắc
Phục. Trần Mạnh Hảo. Trần Vũ Mai. Lê Thị Mây. Liên Nam. Nguyễn Trọng Tạo. Trần
Anh Thái. Inrasara. Phan Quế. Lê Anh Dũng. Nguyễn Hưng Hải. Y Phương. Nguyễn Hữu
Quý. Văn Lê. Văn Công Hùng… và nhiều người khác.
Heghen
đã từng đề cập các loại trường ca về giáo huấn triết học, về vũ trụ, về thần
linh… như là khẳng định sức chứa và khả năng biểu đạt kỳ diệu của thể loại
này. Trường ca nửa sau thế kỷ 20 như một dòng hợp lưu lớn với nhiều dòng chảy
làm thành một không gian lịch sử rộng lớn và đầy ghềnh thác. Một trong những
dòng hợp lưu ấy là các bản trường ca làm thành những ký hiệu phát sáng của một
chặng đường lịch sử đầy biến động và bão tố của dân tộc. Từ đêm mười chín.
1951. Chiến thắng Hòa Bình. 1953.Tiếng hát trên địa ngục. 1955. Những
người trên cửa biển. 1956. Tiếng hát người quan họ. 1956. Bài
ca chim Chrao. 1962. Lửa sáng rừng. 1962. Người anh hùng Đồng Tháp.
1969. Núi rừng mở cánh. 1972. Kể chuyện ăn cốm giữa sân. 1973. Mặt
đường khát vọng. 1974. Khúc hát người anh hùng. 1974. Những
người đi tới biển.1977. Đường tới thành phố. 1978. Đất nước hình
tia chớp. 1978. Trường ca sư đoàn. 1980. Sông Mê Kông bốn mặt. 1988. Đảo
chìm. 1994. Sông núi trên vai.1995.
Tiếng bom và tiếng chuông chùa. 1997. Đổ bóng xuống mặt trời. 1999 v.v.. Toàn bộ bức tranh lịch sử bằng trường ca ấy hiện lên số phận của người Việt Nam gắn bó không thể chia rời với vận mệnh của đất nước, với những bước đi thăng trầm đầy bất ngờ và bi tráng của lịch sử. Đi từ những chiến hào bùn đất và máu lửa, những rặng núi và bạt ngàn rừng đầy thương tích; đất nước và những người lính qua bao hy sinh mất mát để đến ngày chiến thắng. Trường ca nửa sau thế kỷ 20 hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm cách của người Việt Nam. Lòng quả cảm. Đức hy sinh. Khát vọng hòa bình. Tình yêu hạnh phúc. Sức bền của sự chịu đựng. Niềm tin không mệt mỏi vào ngày chiến thắng. Lòng vị tha nhân hậu cùng với tiếng hát thiết tha của tình nghĩa thủy chung. Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo chan hòa trong các trang thơ. Đất nước. Người mẹ. Người lính – Những nhân vật chủ đạo được chạm khắc thành những biểu tượng thiêng liêng của thời đại chúng ta.
Tiếng bom và tiếng chuông chùa. 1997. Đổ bóng xuống mặt trời. 1999 v.v.. Toàn bộ bức tranh lịch sử bằng trường ca ấy hiện lên số phận của người Việt Nam gắn bó không thể chia rời với vận mệnh của đất nước, với những bước đi thăng trầm đầy bất ngờ và bi tráng của lịch sử. Đi từ những chiến hào bùn đất và máu lửa, những rặng núi và bạt ngàn rừng đầy thương tích; đất nước và những người lính qua bao hy sinh mất mát để đến ngày chiến thắng. Trường ca nửa sau thế kỷ 20 hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm cách của người Việt Nam. Lòng quả cảm. Đức hy sinh. Khát vọng hòa bình. Tình yêu hạnh phúc. Sức bền của sự chịu đựng. Niềm tin không mệt mỏi vào ngày chiến thắng. Lòng vị tha nhân hậu cùng với tiếng hát thiết tha của tình nghĩa thủy chung. Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo chan hòa trong các trang thơ. Đất nước. Người mẹ. Người lính – Những nhân vật chủ đạo được chạm khắc thành những biểu tượng thiêng liêng của thời đại chúng ta.
Từ
đêm mười chín được Khương Hữu Dụng viết từ 1947 - 1948. Với 672 dòng thơ.
Như là sự mở đầu của nửa thế kỷ trường ca. Khi mà một tiếng chim kêu sáng
cả rừng, người lính vệ quốc đoàn ở đèo Hải Vân hiểm trở: đường leo đá
tụt dốc treo ngược. Trấn thủ người theo vóc ngựa gầy. Những người mặc áo
trấn thủ khi nằm xuống vẫn trao lại nhau khẩu súng và hồn vẫn đi dưới cờ.
Nếu Từ đêm mười chín Xuân Diệu còn cho là sử dụng thể thơ cổ phong giống một
bài phú thì Những người trên cửa biển của Văn Cao và Tiếng hát
người quan họ của Hoàng Cầm cùng viết năm 1956 đã mở đầu cho kết cấu mới của
Trường ca thời hiện đại. Những người trên cửa biển nhìn nhận lại một
chặng đường lịch sử của dân tộc qua không gian cảng Hải Phòng từ những ngày động
biển khi những mái nhà xưa đếm lại thiếu người để nghẹn ngào những ngày báo hiệu
mùa xuân. Những người trên cửa biển với 531 câu được triển khai theo
lối kết cấu mới của trường ca không dựa vào một cốt truyện cụ thể mà lấy bối cảnh
lịch sử rộng lớn để tổ chức và lan tỏa những cảm xúc và hình tượng thơ. Tiếng
hát người quan họ kết cấu theo kiểu liên khúc với 12 bài thơ kể về tôi
người quan họ với sự tích ngày xưa khi gió nằm im chân trời, đừng về đây gợn
nước, sợ tan những bóng người. Những lo toan khi mùa xuân trở về để tìm đến
chân trời của mẹ. Mặt đường khát vọng viết năm 1974. Với 9 khúc 1379
câu. Không phải không có lúc các dòng thơ bị cuốn đi theo logic biện luận khiến
câu thơ… quá mộc. Nhưng toàn bản trường ca cho ta ngạc nhiên về tầm vóc suy tưởng
của tác giả trên những vấn đề thời đại đang xuống đường tranh đấu cùng với những
câu thơ rung động sâu xa đến bất ngờ. Đất nước không phải là cái gì cao xa mà
chỉ là một tình yêu giản dị. Chàng thi sỹ bé nhỏ xứ Huế đã từng nghe cha ông gọi
tên mình ù ù qua họng súng thần công lại nghe được tiếng rơi lặng lẽ của nỗi nhớ
thầm mà viết nên một trong những câu thơ hay nhất của trường ca nửa sau thế kỷ
20. Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm. Đất nước
của Huyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầm. Đất nước của những dòng
sông không biết bắt nguồn từ đâu; chỉ biết mỗi khi về đến đất mình mới bắt đầu
cất lên câu hát để gọi trăm màu trên dáng những dòng sông… Những người đi
tới biển. 1977.
Đường tới thành phố. 1978. Trường ca sư đoàn. 1980… đại biểu cho mùa trường ca sau 1975 cùng hòa tấu về chặng đường gian nan của chiến tranh cùng với phẩm chất ngời sáng về lòng dũng cảm và trắc ẩn yêu thương của người Việt Nam những năm đánh Mỹ. Bóng mẹ Việt Nam đổ dài trên những khúc trường ca. Với Hữu Thỉnh. Mấy cuộc chiến tranh mẹ gánh cùng một lúc … Với Nguyễn Đức Mậu. Khói lên nhớ một dáng nhà. Mây in tóc mẹ trời xa bay về… Với Thanh Thảo. Chiếc áo lính thức trọn đêm có mẹ.Những trường ca ấy cho chúng ta cách đọc, cách hiểu về dân tộc và đất nước mình. Tiếng bom và tiếng chuông chùa viết 1997 kể về số phận của người lính sau chiến tranh. Trong cảm xúc thơ siêu thoát đất Việt ta là đất của người hiền, đến câu dân ca cũng không nỡ làm đau lòng thiên hạ. Người ra trận năm ấy sau hòa bình lại không quên gõ mõ như là khúc tưởng niệm về thế hệ đã từng lấy vợ mà không được làm chồng, đã từng có con mà không được làm bố… Tiếng chuông chùa ở xứ sở này lại gợi tiếng bom để tưởng nhớ người đã nằm lại ở Trường Sơn không có tuổi già, không được quyền già. Âm hưởng xót xa mà không bi lụy trong quãng ngắt lặng lẽ của hòa bình. Trường ca đâu chỉ là những khúc tráng ca chiến trận mà còn là tiếng vọng không nguôi về cảm xúc và tâm hồn Việt Nam giàu lòng yêu thương. Và họ không quên trắc ẩn về nhữngcon cá vàng còn ngủ mê trong điện Thái Hòa. Tổ quốc lại lên đường sau bao nhiêu năm chiến tranh mình đầy thương tích trong trường ca Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo. Tất cả núi lại đổ ra biên giới. Tôi cứ ngỡ Trần Mạnh Hảo ồn ào. Nhưng ở thời khắc giặc xâm lược tràn vào bờ cõi mới cảm thấy hết sự sục sôi của Đất nước hình tia chớp, đặc biệt là chương 10 - mẹ sinh nhiều con trai là cần thiết biết chừng nào. Có lẽ biểu tượng hình tia chớp đã xếp trường ca này là một trong những khúc ca hào sảng nhất những năm cuối thế kỷ 20.
Đường tới thành phố. 1978. Trường ca sư đoàn. 1980… đại biểu cho mùa trường ca sau 1975 cùng hòa tấu về chặng đường gian nan của chiến tranh cùng với phẩm chất ngời sáng về lòng dũng cảm và trắc ẩn yêu thương của người Việt Nam những năm đánh Mỹ. Bóng mẹ Việt Nam đổ dài trên những khúc trường ca. Với Hữu Thỉnh. Mấy cuộc chiến tranh mẹ gánh cùng một lúc … Với Nguyễn Đức Mậu. Khói lên nhớ một dáng nhà. Mây in tóc mẹ trời xa bay về… Với Thanh Thảo. Chiếc áo lính thức trọn đêm có mẹ.Những trường ca ấy cho chúng ta cách đọc, cách hiểu về dân tộc và đất nước mình. Tiếng bom và tiếng chuông chùa viết 1997 kể về số phận của người lính sau chiến tranh. Trong cảm xúc thơ siêu thoát đất Việt ta là đất của người hiền, đến câu dân ca cũng không nỡ làm đau lòng thiên hạ. Người ra trận năm ấy sau hòa bình lại không quên gõ mõ như là khúc tưởng niệm về thế hệ đã từng lấy vợ mà không được làm chồng, đã từng có con mà không được làm bố… Tiếng chuông chùa ở xứ sở này lại gợi tiếng bom để tưởng nhớ người đã nằm lại ở Trường Sơn không có tuổi già, không được quyền già. Âm hưởng xót xa mà không bi lụy trong quãng ngắt lặng lẽ của hòa bình. Trường ca đâu chỉ là những khúc tráng ca chiến trận mà còn là tiếng vọng không nguôi về cảm xúc và tâm hồn Việt Nam giàu lòng yêu thương. Và họ không quên trắc ẩn về nhữngcon cá vàng còn ngủ mê trong điện Thái Hòa. Tổ quốc lại lên đường sau bao nhiêu năm chiến tranh mình đầy thương tích trong trường ca Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo. Tất cả núi lại đổ ra biên giới. Tôi cứ ngỡ Trần Mạnh Hảo ồn ào. Nhưng ở thời khắc giặc xâm lược tràn vào bờ cõi mới cảm thấy hết sự sục sôi của Đất nước hình tia chớp, đặc biệt là chương 10 - mẹ sinh nhiều con trai là cần thiết biết chừng nào. Có lẽ biểu tượng hình tia chớp đã xếp trường ca này là một trong những khúc ca hào sảng nhất những năm cuối thế kỷ 20.
Trường
ca nửa sau thế kỷ 20 minh chứng cho sự trưởng thành của thi ca Việt Nam không
chỉ ở sự phát triển về mặt thể loại mà còn ở sự tròn đầy và hoàn thiện của những
phong cách thơ độc đáo. Nhiều thi sỹ tự nâng tầm vóc của mình không phải chỉ
qua một mà qua nhiều bản trường ca. Dường như đó là một phương thức biểu đạt của
độ dài rộng, sự phong phú và rào rạt của trường cảm xúc. Thu Bồn. Hữu Thỉnh.
Thanh Thảo. Rồi Anh Ngọc, Lê Thị Mây, Trần Anh Thái v.v.. Đáng lưu ý là nhiều
người trong số họ đến với trường ca không chỉ trên danh phận thi sỹ mà còn là
người trong cuộc. Người lính trực tiếp hành quân và ngụp lặn trong chiến hào. Họ
đã đi qua cuộc hành quân dài hơn nỗi nhớ. Những cuộc hành quân bằng ấy
cây số người, bằng ấy cây số đất. Bởi thế cũng là điều dễ hiểu khi tự sự đượm
chất hùng ca là một khuynh hướng biểu cảm chủ đạo trong trường ca của nhiều tác
giả.
Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu là một ví dụ. Với 5 chương và 1847 câu. Được kết cấu trên những mảnh ghép lớn về mặt trận miền Tây, Quảng Trị năm 1972 và trận đánh cuối cùng được khâu chuỗi bằng suy tưởng và cảm xúc trữ tình của tác giả cùng rạng ngời trong vẻ đẹp chân thực của đời sống ở hầu khắp các trang thơ. Không phải là người lính trận thì không thể viết Dưới vực sâu đêm dày vốc được, đốt dép lên soi rõ bước chân mình. Hay Tay bới đào hy vọng. Hố củ mài tối đen…
Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu là một ví dụ. Với 5 chương và 1847 câu. Được kết cấu trên những mảnh ghép lớn về mặt trận miền Tây, Quảng Trị năm 1972 và trận đánh cuối cùng được khâu chuỗi bằng suy tưởng và cảm xúc trữ tình của tác giả cùng rạng ngời trong vẻ đẹp chân thực của đời sống ở hầu khắp các trang thơ. Không phải là người lính trận thì không thể viết Dưới vực sâu đêm dày vốc được, đốt dép lên soi rõ bước chân mình. Hay Tay bới đào hy vọng. Hố củ mài tối đen…
Sẽ
không mới khi nhận định chỉ có số ít trường ca nửa sau thế kỷ 20 dựa vào cốt
truyện cụ thể. Tuy không lấy kể chuyện làm mục đích trước hết mà đặt câu truyện
trên toàn tuyến lịch sử và thời cuộc. Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Người anh
hùng Đồng Tháp. Khúc hát người anh hùng… là ví dụ. Song khuynh hướng chủ
đạo và hầu hết là không dựa vào cốt truyện cụ thể mà lấy cảm hứng về thời đại
và lịch sử, vận mệnh của dân tộc trước thử thách khốc liệt của chiến tranh và
khát vọng tha thiết hòa bình. Bởi thế kết cấu của trường ca hiện đại được tổ chức
đa tầng, đa sự kiện nhằm phản ánh bức tranh về thời đại và lịch sử rộng lớn. Mặt
hào quang của nó thì đã rõ. Nhưng phải chăng vì thế trường ca nửa sau thế kỷ 20
không có điều kiện tập trung để thực hiện việc điển hình hóa nhân vật của thời
đại chúng ta? Đó là điểm khác với trường ca cổ đại hàng chục nghìn câu ghi dấu ấn
không thể phai mờ bằng nhân vật điển hình của nó trong lịch sử nhân loại? Cũng
như vậy. Truyện nôm khuyết danh của văn học trung đại xét về sự chải chuốt của
văn chương chưa hẳn đã nổi trội - Vì sao các nhân vật điển hình thời ấy lại có
sức sống lâu bền như vậy trong đời sống tinh thần của người Việt Nam?
Dường
như giới lý luận phê bình còn bỏ dấu chấm lửng về việc phân định rạch ròi giữa
trường ca, truyện thơ và thơ trường thiên. Có phải sự phát triển của trường ca
đã phá vỡ những quan niệm truyền thống. Và phải chăng vì thế, người ta đã bỏ dở
những trường ca ấp ủ của mình? Nguyễn Bính lỡ nửa chừng xuân với Thạch
sương bồ mùa hạ 1944 có lần nói với Mộng Tuyết rằng Viết truyện thơ tả
cảnh tình không khó. Tự sự mới thiệt khó khăn. Tự sự bằng lục bát của Nguyễn Du
quả là tài tình, người sau khó mà theo kịp. Trường ca Những vùng rừng
không dân không tìm thấy toàn bộ bản thảo. Phạm Tiến Duật băn
khoăn: Gọi đấy là trường ca chăng? Đấy là cái đắn đo đầu tiên của tôi. Dài
thì đúng thật là dài rồi. Nhưng hát thì không hoàn toàn là hát.Có những nhận định
khác nhau về trường ca. Có người nói: Trường ca của chúng ta chưa đạt đến
trình độ truyện thơ về phương diện tự sự. Nhưng cũng không đậm đà chất trữ tình
như trong các khúc ngâm của văn học trung đại.
Trường ca và thơ dài chưa có những ranh giới xác định về hình thức thể loại. Liệu có thể lấy tiêu chí tự sự của truyện thơ và chất trữ tình của khúc ngâm trung đại để bình giá trường ca thời hiện đại khi mà đã thừa nhận sự khác biệt về mặt thể loại giữa chúng. Đáng chú ý là một số trường ca dựa vào câu chuyện cụ thể lại không phải là những trường ca thành công nhất. Một số trường ca nêu tên người tên đất cụ thể. Nhưng chỉ như là những tín hiệu ghi danh đã không giúp gì cho việc điển hình hóa các nhân vật trung tâm. Tôi băn khoăn với nhận định sự nở rộ của thể loại tiểu thuyết đã hạn chế sức lan tỏa của truyện thơ và trường ca nửa sau thế kỷ 20.
Trường ca và thơ dài chưa có những ranh giới xác định về hình thức thể loại. Liệu có thể lấy tiêu chí tự sự của truyện thơ và chất trữ tình của khúc ngâm trung đại để bình giá trường ca thời hiện đại khi mà đã thừa nhận sự khác biệt về mặt thể loại giữa chúng. Đáng chú ý là một số trường ca dựa vào câu chuyện cụ thể lại không phải là những trường ca thành công nhất. Một số trường ca nêu tên người tên đất cụ thể. Nhưng chỉ như là những tín hiệu ghi danh đã không giúp gì cho việc điển hình hóa các nhân vật trung tâm. Tôi băn khoăn với nhận định sự nở rộ của thể loại tiểu thuyết đã hạn chế sức lan tỏa của truyện thơ và trường ca nửa sau thế kỷ 20.
Đã
sang thế kỷ 21 được 10 năm. Ngày 12/10/2010. Chèo Tống Trân Cúc Hoa diễn ở
nhà hát lớn Hà Nội. Tôi không hiểu đã có trường ca hay truyện thơ nào của thế kỷ
20 được dàn dựng ở đây? Người ta còn dựng truyện nôm xưa thành phim nữa. Nhớ lại
hồi miền Bắc mới giải phóng. 1955- 1956. Nơi làng quê xứ Đoài cứ đêm đêm chị
tôi lại chong đèn đọc truyện Tống Trân. Cha tôi thì bảo ông Tống Trân là người
có thật ở xứ Đông. Và tiếng trống chèo rộn rã suốt một dải trời đêm xứ Đoài diễn
các tích chèo về ông trạng Tống Trân, nào đâu phải trước hết ở sự chải chuốt của
văn chương. Với trường ca hiện đại, cần có thời gian để hô hấp những giá trị
tinh thần của một thời oanh liệt vừa mới xảy ra hay chăng?
Nếu Hy
Lạp cổ đại là quê hương của những trường ca vĩ đại thì nay miền văn hóa ấy đang
xôn xao vì nợ; liệu Homere sống lại có tiếp tục viết trường ca hay cũng viết mà
viết theo cách khác? Lịch sử của dân tộc đầu thế kỷ 21 đang kêu gọi các thi sỹ
cất lên tiếng hát của thời đại mình. Đã hai lần người Việt không thể không nói
dài được nữa. Lần thứ ba này sẽ bắt đầu từ đâu? Có điều nó sẽ không gắn với những
cuộc trường chinh. Có phải nó khởi nguyên từ sức mạnh tinh thần của dân tộc, từ
ước mơ và hành động sáng tạo cho phát triển cùng với sự thiêng liêng của độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và khát vọng hòa bình. Nó trả lời câu hỏi: Việt Nam
sẽ là gì của thế giới. Thi ca là con thuyền duy nhất ở cõi nhân sinh này không
đi theo dòng chảy một chiều của thời gian. Những tráng ca thuở trước còn vang vọng
chưa nguôi đến tận bao giờ.
Thi ca
là khúc tâm tình không tuổi của con người. Tôi từng nghe tiếng đàn tỳ bà làm
quan Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh để nghìn năm sau lại xao
xác Long Thành cầm giả ca của thi hào Nguyễn Du. Đất nước là nơi
em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm nửa sau thế kỷ XX sẽ còn lại mãi
với cung đàn mùa xuân bất tử của thi
ca.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét