Giọng điệu trong văn chương
Có thể nói đây là một bài viết quan trọng về nhận thức văn
chương cho cả người sáng tác lẫn người đọc đó là sự nhận diện “giọng điệu trong
văn chương”. Với một lý luận sắc sảo và giản dị giáo sư Hoàng Ngọc Hiến lý giải
vấn đề này thật bổ ích và lý thú. HNVC xin trích đăng phần chính của bài viết
này.
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ”. Ngôn từ không chỉ bao gồm từ
mỹ từ. Trong tác phẩm văn học câu văn phải có hồn. Ngay trong một bài viết lý
luận mà câu văn có hồn thì còn “văn học” hơn một bài thơ giàu hình ảnh nhưng
câu thơ không có hồn (điều này có thể cảm nhận được rất rõ mặc dù nói cho ra được
điều này không dễ). Câu văn có hồn là câu văn có giọng ngữ điệu bởi vì từ ngữ của
bài văn được chọn có thông báo nhiều điều quan trọng nhưng bài văn không có giọng
đọc lên vẫn nhạt nhẽo vô vị. Sự phong phú tính đa nghĩa ý vị đậm đà của bài văn
trước hết là ở giọng. Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được
trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm
mình viết. Bắt được giọng đã khó làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng
khó công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên. Về phương diện
này quan điểm của nhà nghiên cứu văn học M.B. Khravchenko tiếp cận tác phẩm văn
học như một “kết cấu các giọng điệu” như một “hệ thống các ngữ điệu” như một
“gam ngữ điệu” là một luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với
công việc giảng văn. “Hơi văn” “văn khí” “giọng văn”…đó là những khái niệm rất
cơ bản của các tác phẩm văn học. Người Pháp có câu “ Cest le ton qui commande
la musique” (Chính cái giọng chi phối bài nhạc). Ở những áng văn hay cái giọng
của câu văn mở đầu có ý nghĩa quyết định cho sự cảm nhận cảm hứng chủ đạo và nội
dung của toàn bộ tác phẩm. Nhà văn Marquer có thuật lại sau khi viết xong truyện
Giờ rủi ro ông đã đầy đủ tư liệu để viết Trăm năm cô đơn nhưng ông không thể
nào cầm bút viết vì chưa tìm được giọng.
Mãi năm năm sau ông mới tìm được giọng thích đáng: đó là cách kể của một bà già nói về những chuyện hoang đường siêu nhiên bằng một giọng hết sức tự nhiên. Chỉ khi ấy tác giả mới viết được. Phải mấy năm mới tìm ra giọng. Hóa ra giọng kể có khi còn quan trọng hơn câu chuyện được kể rất nhiều! Muốn hiểu Truyện Kiều phải bắt được cái giọng của tác giả trong sáu câu triết luận mở đầu. Điều quan trọng trong đoạn mở đầu này không chỉ ở luật oái oăm ác hại trong “cõi người ta”: tài mệnh tương đố bỉ sắc tư phong hồng nhan bạc mệnh. Điều quan trọng hơn cả là cái giọng mỉa mai hờn mát đay đả của tác giả khi nói đến những luật này:
Mãi năm năm sau ông mới tìm được giọng thích đáng: đó là cách kể của một bà già nói về những chuyện hoang đường siêu nhiên bằng một giọng hết sức tự nhiên. Chỉ khi ấy tác giả mới viết được. Phải mấy năm mới tìm ra giọng. Hóa ra giọng kể có khi còn quan trọng hơn câu chuyện được kể rất nhiều! Muốn hiểu Truyện Kiều phải bắt được cái giọng của tác giả trong sáu câu triết luận mở đầu. Điều quan trọng trong đoạn mở đầu này không chỉ ở luật oái oăm ác hại trong “cõi người ta”: tài mệnh tương đố bỉ sắc tư phong hồng nhan bạc mệnh. Điều quan trọng hơn cả là cái giọng mỉa mai hờn mát đay đả của tác giả khi nói đến những luật này:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Tác giả không thản nhiên ghi nhận cái luật oái oăm này. Thái
độ tác giả bao hàm nhiều sắc thái. Từ “khéo là” có bao nhiêu nghĩa thì cái giọng
của tác giả biểu hiện ở đây có bấy nhiêu sắc thái: mỉa mai hờn mát bỡn cợt châm
chọc… “Tài mệnh tương đố” không phải là tư tưởng của Truyện Kiều. Triết lý của
Truyện Kiều là ở cái giọng của tác giả khi nói về tư tưởng này nói ở chữ “khéo
là” xen vào câu “tài mệnh tương đố”.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Cũng như cách phân tích ở trên “bỉ sắc tư phong” “hồng nhan bạc
mệnh” không phải là tư tưởng đích thực của Truyện Kiều. Ở đây cái giọng của tác
giả rất rõ. Trước luật cõi đời và luật của trời Nguyễn Du là một người đáo để với
cái giọng đay đả đay nghiến của ông: “Lạ gì…” ở đây bộc lộ một thái độ dè bỉu bực
tức chán ngán. Khi ta nói “lạ gì anh ấy” thì hoặc là ta dè bỉu hoặc là
ta bực tức hoặc là ta chán ngán… anh ấy chắc không phải là một thái độ thiện cảm.
Cái giọng văn của Nguyễn Du khi nói đến luật “hồng nhan bạc mệnh”
bao hàm một thái độ đối với “trời xanh” một cái giọng xẵng và có thái độ xấc. Với
thái độ ấy và cái giọng ấy nhà thơ có chửi luôn cả trời thì chẳng có gì đáng ngạc
nhiên. Nếu như “trời xanh quen thói” thì sự “má hồng đánh ghen” không thể là
một điều tốt lành. “Quen thói“ có nghĩa là làm theo quán tính. Có thể nói “
quen thói hại người” không bao giờ nói “quen thói giúp người”. Làm điều thiện
dù rất nhỏ bao giờ cũng đòi hỏi sự nỗ lực. Mỗi lần làm điều thiện là một lần nỗ
lực mới. Có thể làm điều thiện theo quán tính nhưng như vậy có còn là thiện nữa
không?
Trong câu tục ngữ “Ăn không nên đọi nói không nên lời” thì
“nói không nên lời” là một sự đau khổ của con người. Năng lực văn nhất thiết phải
bao hàm năng lực nói nên lời. Có ý có từ đấy nhưng vẫn lúng túng chưa thành câu
hoặc câu văn có thành thì tẻ nhạt bởi vì còn thiếu cái quan trọng nhất: thiếu
khẩu khí thiếu hơi văn chưa có ngữ điệu giọng điệu thích đáng. “Vạ miệng” nhiều
khi chỉ là do không tìm được một giọng thích đáng để trình bày chân lý. Khi người
ta có cảm hứng dường như giọng và ngữ điệu nảy sinh trước và từ ngữ dường như
được gọi đến thể hiện ngữ điệu và giọng điệu thành lời thành câu. Lời và văn
hình thành như vậy thường rất hoạt. Người giỏi văn không chỉ là dồi dào ý giàu
từ ngữ mà còn giàu ngữ điệu giọng điệu. Mỗi lần cần đến có thể tìm được ngay giọng
nói hoặc ngữ điệu thích đáng. Vả chăng ý hình thành chưa rõ chưa dứt khoát nhờ giọng điệu trở thành rõ hơn dứt khoát hơn. Người dạy văn giỏi tạo ra nhiều ngữ
điệu giọng điệu thích đáng đa dạng ăn sâu vào cảm nhận của học sinh và đây là một
phần quan trọng trong tiềm lực văn của học sinh. Cảm hứng nào giọng điệu ấy;
nhưng cũng có thể ngược lại giọng điệu định hướng sự hình thành cảm hứng.
Ở trường phổ thông đặc biệt cấp cơ sở học thuộc lòng để thuộc ngữ điệu tiết tấu cũng như đọc diễn cảm để thấm các giọng điệu của bài văn là hết sức quan trọng. Cũng phải thể tất cho giáo viên văn đôi khi “nói trạng” ở lớp. Tuy có lan man ngoài đề nhưng sự giàu có ngữ điệu và giọng điệu ở người có tài “trạng” sẽ để lại sự cảm nhận của học sinh những điều có khi còn quý giá hơn kiến thức. Đấy là chưa nói không khí hào hứng tạo ra trong lớp hết sức cần thiết cho sự cảm thụ văn học. Nói trạng hay cũng là một tài năng.
Ở trường phổ thông đặc biệt cấp cơ sở học thuộc lòng để thuộc ngữ điệu tiết tấu cũng như đọc diễn cảm để thấm các giọng điệu của bài văn là hết sức quan trọng. Cũng phải thể tất cho giáo viên văn đôi khi “nói trạng” ở lớp. Tuy có lan man ngoài đề nhưng sự giàu có ngữ điệu và giọng điệu ở người có tài “trạng” sẽ để lại sự cảm nhận của học sinh những điều có khi còn quý giá hơn kiến thức. Đấy là chưa nói không khí hào hứng tạo ra trong lớp hết sức cần thiết cho sự cảm thụ văn học. Nói trạng hay cũng là một tài năng.
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ”. Dạy văn không chỉ có dạy
ngôn từ còn có một mục tiêu cơ bản hơn là xây dựng và bồi dưỡng ý thức ngôn từ.
Có ý thức về sức khỏe còn quan trọng hơn là có sức khỏe. Có ý thức về ngôn từ
là có ý thức về tính tích cực chủ động và khả năng sáng tạo của mình trong việc
tiếp nhận và sử dụng vốn ngôn từ của xã hội. Là người có ý thức - không cứ gì
trong đọc văn hay đọc sách báo mà ngay cả trong giao tiếp hằng ngày- thường
xuyên nhặt nhạnh những từ ngữ độc đáo những cách nói đích đáng những cách diễn
đạt thần tình làm giàu cho vốn từ ngữ của mình thường xuyên tiếp nhận những giọng
điệu ngữ điệu làm giàu cho khẩu khí văn khí của mình.
Để bồi dưỡng ý thức ngôn từ cho học sinh ở những lớp dưới có
thể cho các em làm quen với những cách nói láy chơi chữ tài tình. Ở những lớp
trên có thể phân tích từ nguyên của từ cảm nhận sự lấp lánh nghĩa đen và nghĩa
bóng trong ngôn ngữ cảm nhận sự trả lại nghĩa đen cho từ được dùng theo nghĩa
đen giúp cho các em thử nghiệm việc xé những cụm từ cố định để làm sống lại
nghĩa của từ bị lờn mòn trong cụm từ cố định… Chẳng hạn thường ta nói “đau
lòng” khi Nguyễn Du nói “đau đớn lòng” thì cụm từ cố định “đau lòng” bị xé ra
và đau đớn làm sống lại ý nghĩa đích thực của từ “đau”. Tìm những thủ pháp nhằm
kích thích bồi dưỡng ý thức ngôn từ của học sinh đó là một lĩnh vực còn mới mẻ
của giáo học pháp giảng văn và đương chờ đợi những tìm tòi sáng kiến của giáo
viên văn học.
Có ý thức ngôn từ là có ý thức về sức mạnh của ngôn từ. Hơn
ai hết các nhà văn có ý thức về sức mạnh này. “Tôi biết sức mạnh của ngôn từ… ngôn
từ là tướng của đạo quân sức mạnh con người” (Maiakovsky). Nghĩa của ngôn từ
càng hèn kém đi thì xã hội càng ít thành đạt trong tất cả những biểu hiện của
nó. Ngôn từ là chìa khóa cho “tất cả”.
(In trong Những ngả đường vào văn học NXB Giáo dục 2006)
(In trong Những ngả đường vào văn học NXB Giáo dục 2006)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét