Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Gặp Văn Cao qua bài thơ “Ai về Kinh Bắc”

Gặp Văn Cao qua bài thơ “Ai về Kinh Bắc”
NGUYỄN TRỌNG TẠO: Hai mươi năm trước tôi cùng Nguyễn Thụy Kha và Thanh Thảo giúp Văn Cao tổ chức bản thảo tập thơ LÁ của ông cho nhà xuất bản Tác Phẩm Mới và chúng tôi bất ngờ tìm thấy một số bài thơ rất hay của ông viết từ rất sớm. Bài thơ Ai Về Kinh Bắc là một bài thơ gây bất ngờ như thế. Bài thơ này được viết năm ông 18 tuổi sau khi ông cụ thân sinh qua đời. Có lẽ vì thế mà nó tạc một nỗi buồn “chiều ốm”: Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống/ Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa… Và cũng thật tình cờ tôi có được bài cảm nhận về bài thơ này của Đào Phong Lan trên blog của chị. Đây là những cảm nhận vô cùng tinh tế của một người làm thơ trẻ về một bài thơ đã có từ hơn nửa thế kỷ trước. Một sự “gặp gỡ” đầy hạnh ngộ giữa các thế hệ nhà thơ...
ĐÀO PHONG LAN
GẶP VĂN CAO QUA BÀI THƠ “AI VỀ KINH BẮC”
Ai về Kinh Bắc
Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi nhờ đem hộ lá thư?
Trời hỡi! Ốm nằm trong quán trọ
Bạn bè còn lại mấy bài thơ…
Trông qua song cửa: trời vàng úa
Mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu
Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống
Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa… 
Hỡi người cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi đưa thư hộ mẹ già
Cố thét song lời tôi yếu quá
Ngựa đều chân chạy nhạc càng xa…
14.10.1941
Văn Cao
Tháng 11 năm 1994 tôi gặp Văn Cao ở Đại hội Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông ngồi ở hàng ghế thứ ba già yếu tóc bạc phơ chùm râu gầy thưa thớt. Rất nhanh tâm trí tôi hiện lên bài thơ “Ai về Kinh Bắc” - một trong những bài thơ tôi thích nhất của Văn Cao. Giờ đây khi nhắm mắt lại tôi vẫn thấy một chiều thu bàng bạc xa xăm xót xa buồn:
Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi nhờ đem hộ lá thư?
Trời hỡi! Ốm nằm trong quán trọ
Bạn bè còn lại mấy bài thơ…
Cái nỗi tê tái day dứt lòng ấy như một nỗi ám ảnh nó đã theo tôi suốt những ngày cô đơn nhất buồn bã nhất và những khi kiệt sức vì đau ốm trời ơi… tôi càng thấy thấm thía càng thấy xót xa cho thân phận của con người:
Trời hỡi! Ốm nằm trong quán trọ
Bạn bè còn lại mấy bài thơ…
Tha thiết mong mỏi đến cháy lòng. Trong lúc cô đơn nhất yếu đuối nhất thì nơi người ta mòn mỏi trông về là đâu kia? Là Kinh Bắc là Quê Hương là Mẹ! Tôi thấy một cậu trai 18 tuổi chống trả với cơn bệnh với cô đơn mà thu thì buồn lắm hoang vu lắm…
Trông qua song cửa: trời vàng úa
mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu
chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống
Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa…
Một bức tranh tĩnh vật buồn đến lịm người với màu vàng úa là màu chủ đạo. Người ốm trời chiều cũng ốm. Cảnh vật chỉ gợi lên thêm nỗi nhớ nhà. Tôi cảm thấy mùa thu là mùa tri kỷ với nỗi buồn của Văn Cao không những trong thơ ông mà còn trong âm nhạc và hội hoạ. Ta dễ dàng đồng cảm với nỗi buồn diệu vợi day dứt mà say đắm trong bài hát “Suối mơ” của ông:
Suối mơ bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng
Đẹp quá! Đẹp đến rợn người. Trong cái đẹp đó lẩn khuất một nỗi buồn nỗi buồn trong sáng đầy hy vọng. Văn Cao - thi sĩ ngắm nhìn cảnh vật bằng đôi mắt hoạ sĩ và hát lên bằng tâm hồn nhạc sĩ. Trong âm nhạc hội họa và thi ca của ông cái này ẩn chứa mang dáng dấp của hai cái kia:
Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống
Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa…
Có lẽ đây là hai câu tuyệt bút của bài thơ. Nó đầy đủ nhất đặc sắc nhất. Nhiều khi buồn quá tôi cũng chỉ đọc lên hai câu trên thôi để rồi ngồi buồn hơn ngồi bất động. Từng chữ từng âm điệu như một thứ rượu ngấm sâu vào phủ tạng đập phá đến rã rời. Tôi lại thấy cậu trai ấy ngồi bó gối trên giường nhìn ra cửa sổ thoáng nét vui mừng khi nghe thấy tiếng nhạc ngựa…. Rồi vùng đến bên cửa sổ gọi với ra bằng chút sức lực còn sót lại hy vọng mừng rỡ xúc động run rẩy hồi hộp sung sướng:
Hỡi người cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi đưa thư hộ mẹ già
Nhưng
Cố thét song lời tôi yếu quá
Ngựa đều chân chạy nhạc càng xa…
Hẫng hụt. Sụt lở. Thất vọng. Tôi thấy cậu trai thõng bàn tay xuống gục đầu vào song cửa. Niềm hy vọng xa dần tắt ngấm. Bao giờ đọc đến đây tôi đều nghẹn ngào muốn khóc. Tôi thấy tôi bị nỗi cô đơn bệnh tật phiền muộn… bủa vây giam hãm. Mối liên hệ với thiên nhiên với sự sống bên ngoài chỉ là một ô cửa sổ. Song ô cửa ấy gợi cho ta nỗi hy vọng niềm khao khát tự do nhưng không giúp gì ta được. Nó không còn là cái cửa sổ đơn thuần nữa mà trở thành sự thử thách. Nó thôi thúc ta kiên nhẫn và cũng chính nó ngăn cản bắt ta nản lòng.
Mỗi lần gặp Văn Cao trong mắt tôi ông không phải là một ông già lưng còng chống gậy mà là một cậu trai trẻ với nối lòng xa xứ. Cậu trai mang trong mình giai điệu của âm nhạc màu sắc đường nét của hội hoạ ngôn từ của thi ca. Thời gian và tài năng đã pha trộn tất cả với nhau để chúng ta có được một Văn Cao nhạc sĩ hoạ sĩ và thi sĩ bây giờ.
Phân thân trong ba thể loại nghệ thuật riêng biệt song Văn Cao đã hòa chúng với nhau nhóm lên một nỗi khao khát. Phảng phất những nỗi buồn đẹp những day dứt xót xa lộng lẫy trong sáng sang trọng chúng cháy âm ỉ trong ông và trong tác phẩm của ông. Tôi xem Văn Cao như một người mở đường can đảm ông bình thản ung dung kiêu bạc đi qua khổ đau tuyệt vọng buồn chán sầu muộn của con người và phát quang chúng bằng con - dao - hy - vọng. Niềm đam mê khao khát của ông về cái đẹp về con người vẫn đập trong ông suốt bao năm qua.
Giờ đây dù ông đã không còn nhưng nếu có bất cứ điều gì gợi nhớ đến Văn Cao tôi lại thấy một cậu trai trẻ ngồi bên cửa sổ đợi chờ và không nguôi hy vọng.
Văn Cao - Đôi dòng tiểu sử
Tên thật là Nguyễn Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại thành phố Hải Phòng. trong một gia đình công nhân nghèo. Văn Cao lớn lên trong cảnh thiếu thốn đói khổ. Thuở nhỏ Văn Cao theo học trường tiểu học Bonnal sau lên học trung học tại trường dòng Saint Joseph. Bắt đầu học âm nhạc từ đây. Vì gia cảnh sa sút Văn Cao phải bỏ học đi làm; sau đó sống cuộc đời thất nghiệp lang thang tự học thêm âm nhạc. Viết ca khúc đầu tay Buồn Tàn Thu năm 1939.
Đầu thập niên 40 là thời kỳ rực rỡ nhất của Văn Cao. Hàng loạt các ca khúc nổi tiếng nối đuôi nhau ra đời: Thiên Thai (1941), Bến Xuân (1942), Cung Đàn Xưa (1942), Trương Chi (1943)...
Ngoài âm nhạc ra Văn Cao còn là một văn sĩ một thi sĩ một họa sĩ có tài. Năm 1942 Văn Cao lên Hà Nội học dự thính hội họa tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Tranh của ông được đánh giá cao nhất là bức Cuộc Khiêu Vũ Những Người Tự Tử.
Tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1958. Bị phê phán chỉ trích kịch liệt một thời gian. Sau đó tên tuổi Văn Cao đi dần vào quên lãng.
Sau 1980 tác phẩm Văn Cao dần dần được phục hồi. Năm 1988 Lá tuyển tập thơ đầu tiên và duy nhất của ông được xuất bản.
Văn Cao mất vào lúc 4 giờ sáng ngày 10 tháng 7 năm 1995 tại Bệnh Viện Hữu Nghị Hà Nội hưởng thọ 72 tuổi.
Bài thơ “Ai về Kinh Bắc” được viết ngày 14.10.1941 tại Hà Nội (thời kỳ Văn Cao từ Hải Phòng lên Hà Nội sống đời nghệ sĩ) khi ông 18 tuổi trích từ tập “Lá”.
Hà Nội 8/6/1996
ĐÀO PHONG LAN
Theo http://vanchuong.vnweblogs.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Quan niệm của Xuân Diệu về thơ từ những câu chuyện đời thường Trong hành trình kết nối tình yêu thơ ca với bạn đọc, dẫu chưa là hệ thống...