"Gió lẻ" của Nguyễn Ngọc Tư
Người bố nói một câu xúc phạm người mẹ treo cổ tự vẫn và cô
con gái 10 tuổi như ném trả tiếng nói lại cho loài người cô câm hẳn và bỏ nhà
đi lang thang cho đến ngày thành thiếu nữ rồi chết trong một tình yêu ngổn
ngang. Gió lẻ là gió gì cũng không ai biết gió năm ấy năm kia hay năm nào cũng
cũng không ai biết cô gái như mang gió đi theo và thổi vào tất cả nơi nào những
ai cô gặp cái lạnh không thể lấp đầy của sự một mình trên thế gian. Hàng trăm
hàng ngàn chuyện đã xảy ra trên những ngày lang thang ấy được kể lại bằng giọng
kể không đầu không cuối tuỳ vào những liên tưởng bất chợt như ký ức vậy ký ức
trở về đâu cần có đầu có đuôi! Câu chuyện được kể không đơn tuyến chính thủ
pháp này đã khiến người đọc khó nắm bắt mạch chuyện từ đầu thế nhưng một khi đã
hiểu câu chuyện thì những ký ức những mảng chuyện bất chợt này như đứng độc lập
và bản thân nó như một bài thơ ngắn đầy cảm xúc.
Với thủ pháp này truyện không còn những
đoạn dẫn dắt những câu chào mời giới thiệu tất cả như được cô đọng lại tinh tế
như những bài thơ đứng cạnh nhau. Và thực sự những chi tiết truyện là những cảm
xúc thơ đúng nghĩa tuy được trình bày dưới hình thức văn xuôi nhưng người đọc vẫn
dễ dàng nhận ra nhịp điệu của thơ trong mỗi câu chữ. Trong những ngày Nguyễn Ngọc
Tư viết Gió Lẻ đồng thời chúng ta thấy trên blog của chị những chùm thơ văn
xuôi thật đặc sắc.
"Những toa tàu trượt qua tôi trong sớm mai dằng dặc
gương mặt người ẩn hiện trong ô cửa tối trong những hành khách kia có thể có
người tôi thương nhớ đã lâu rồi. Cái khao khát gặp nhau đã không còn hình dáng
của khao khát nữa nỗi nhớ không còn nhận biết đó là nỗi nhớ tình yêu xưa cũng
không chắc tình yêu. Chỉ cháy lên ý nghĩ được nhìn lại gương mặt nụ cười ánh mắt
và tay tôi đan vào những ngón tay khô..." (Nghĩ trong lúc tàu đi qua)
"Những ngày lang thang trên đất lạ với tấm bản đồ rách
rã đôi khi tôi phải dừng lại hỏi đường
Ông ơi lối đi này dẫn tới đâu cháu muốn tới những thung sâu
Những bãi cỏ buổi sáng từng là chợ họ bán mấy rau và tặng mấy
hẹn hò
Ông già im lặng và ngón tay gầy quắt vẽ cho tôi một con đường" (Hỏi
đường)
Đọc Gió lẻ tôi cứ hình dung Nguyễn Ngọc Tư như một mụ phụ thuỷ
lần đầu nắm được sức mạnh của âm binh chị tung bên này hứng bên kia hô phong
hoán vũ cái sức mạnh của ngôn từ mà chị đã bắt đầu nắm được. Chị không kể chuyện
nếu phải tóm tắt thì có thể kể câu chuyện trong ba dòng là xong (như tôi đã tóm
tắt ở đầu bài) câu chuyện chỉ là cái cớ để trong đó ngôn từ có thể biểu hiện được
quyền lực rõ nhất của nó
Và bất ngờ chính ở chỗ này chị đã chạm đến điều sâu xa nhất cổ
xưa nhất và cũng là căn bản nền tảng nhất của văn minh loài người đó là: Ngôn
ngữ!
Không có ngôn ngữ con người sẽ vẫn mãi là động vật hoang dã
không hơn con heo con chó ta thấy hằng ngày. Kể từ khi có ngôn ngữ con người bắt
đầu có tư duy và nhờ có tư duy con người đã có thể hiểu được những bước đi của
Tạo hoá thậm chí đang âm mưu dần thay sự sáng tạo của tạo hóa! Không có ngôn
ngữ con người không thể tư duy. Chúng chỉ có thể tư duy trong chiếc áo lớp vỏ của
ngôn ngữ. Và khi Descartes nói: "COGITO ERGO SUM - I think therefore I am
- Tôi tư duy tức là tôi tồn tại" thì ta hiểu ông không chỉ nói đến sức mạnh
của tư duy mà còn là ý nghĩa nhân sinh của con người trong vũ trụ này.
Thế nhưng kể từ khi có ngôn ngữ con người cũng bắt đầu
"tha hoá" và xa rời dần "bản thể" của mình. Đầu tiên là Lão
Tử cái chữ ĐẠO của ông đến bây giờ chúng ta vẫn không thể hiểu chính xác nó là
cái gì vì: "Đạo khả đạo phi thường đạo danh khả danh phi thường
danh". Giáo sư Nguyễn Huệ Chi giải điều này như sau: "Chân lý mà nhất
là chân lý tối thượng nó không phơi ra những đường nếp hình khối... để cho giác
quan chúng ta dễ dàng bám lấy. Thế nên thay vì giác quan con người phải dùng đến
một thứ siêu giác quan là lương năng để mặc khải chân lý. Mà lương năng chỉ thật
sự sáng lên khi giác quan cùn lụt đi. Cho nên phải làm ngược lại với quy trình
thông tục của sự suy nghiệm phải bắt cái tâm của mình giác quan của mình trở
nên tối tăm ngu độn mới may ra có thể tiếp cận được chân lý" (Nguyễn
Huệ Chi - Tư duy phương Đông nhìn dưới ánh sáng học thuyết Einstein).
Và sau đó là Phật giáo. Kinh Lăng Nghiêm nói rõ TƯ LÀ NGHIỆP
sự tư duy là nghiệp chướng! "Từ một niệm (chữ "niệm" với
nghĩa: ý nghĩ tư duy suy nghĩ) bất giác mà sinh ra sơn hà đại địa" từ một
ý nghĩ bất giác (không phải của bậc giác ngộ) mà sinh ra đất trời sông biển! Vật
lý học hiện đại qua các bài viết của giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã chứng mình rằng
không có một thực tại khách quan mà chỉ có một thực tại được quan sát có nghĩa là
thế giới là thế giới trong mắt mỗi người chứ không có thể giới tuyệt đối khách
quan. Mà mắt mỗi người thì gắn liền với tư duy người đó. Mà tư duy thì lại gắn
liền với ngôn ngữ.
Để hiểu cái ĐẠO của vũ trụ Lão Tử bảo phải lìa ngôn ngữ nhà
Phật thì bảo phải lìa tri kiến (tức hiểu biết kiến thức) dứt niệm bặt tư duy (tức
cũng lìa bỏ ngôn ngữ)
Trong "Gió lẻ" nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư (đến hết
chuyện ta vẫn không biết cô tên gì ngoài cách gọi Cô gái câm !) không câm bẩm
sinh từ bé mà cô "ném trả" tiếng nói lại cho loài người cô sống và
không cần đến tiếng nói ngôn ngữ và sự diễn đạt nữa thậm chí cô buồn nôn với tất
cả những lời nói âu yếm ngọt ngào. Trong cái thế giới phi ngôn ngữ ấy phi cái
khái niệm trung gian là ngôn ngữ ấy cô gái câm như hoàn toàn hòa vào thiên nhiên và cô có thể nghe và hiểu được tiếng
gió tiếng của cỏ cây của mây trời và của những con chim con chó con mèo cô gặp
hằng ngày.
Cuộc trốn chạy vì nỗi sợ hãi cuộc sống loài người của cô gái
ngày càng bị đẩy đi xa hơn; những cưu mang chở che dịu dàng nhất lại ẩn giấu những cướp đoạt phi nhân nhất. Cô gái co mình lại
đến độ cảm giác được máu chảy trong con người mình một "khả năng kỳ dị"
nhưng thật ra đó là tín hiệu đầu tiên tác giả muốn nhắn gởi: "Tại sao
người ta không nhìn thấy mình khi mình còn sống?". Mà "Nhìn thấy
mình" há không phải là mục tiêu tối hậu của Phật giáo đấy ư? Hiểu được
mình nghe được mình nhìn thấy mình tâm ở trong thân... là điều các thiền sư vẫn
luôn nhắm đến. "Gió lẻ" không chỉ là câu chuyện thương tâm một tầm tư
tưởng về nhân sinh thật lớn như đã được chạm đến.
Hẳn chúng ta còn nhờ tiểu thuyết "Barie" của nhà
văn Bungary Paven Vêginốp trong đó Ðôrôtêa nhân vật chính là một cô gái có khả
năng tự bay lên và đêm đêm cô vẫn bay lượn trên bầu trời Xophia tuyệt đẹp. So với
truyện này "Gió lẻ" của Nguyễn Ngọc Tư hay hơn nhiều. Nó hay không chỉ
vì một cú pháp thấm đẫm chất thơ mà còn là một vấn đề có thể Nguyễn Ngọc Tư chỉ
vô tình hoặc bằng trực cảm của một nhà văn chị đã vô tình chạm đến điểm khởi
sinh và cũng là điểm cuối cùng mà văn minh loài người bắt đầu và đến đích.
Dường như tất cả đã thật chín để đến một lúc nhân loại để lên
mặt bàn công và tội của ngôn ngữ.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét