Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

Con Rồng Việt Nam - Phần 5

Con Rồng Việt Nam - Phần 5

BẢN DỊCH HIỆP ƯỚC VÀ PHỤ ĐÍNH TIẾNG VIỆT
Phụ đính I

Hiệp ước Bảo Hộ ký ngày 6 tháng 6 năm 1884 (tức Hiệp ước Patenotre)
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và Chính phủ của Đại Nam Hoàng đế, vì muốn tránh vĩnh viễn các khó khăn đỗ từng xảy ra từ trước đến nay, và muốn liên kết trong tình bang giao tốt đẹp, nên đã đồng thanh quyết định, ký một thỏa ước về vấn đề này, và bổ nhiệm các vị đặc mệnh toàn quyền làm việc này, kê rõ:
Thay mặt cho Chính phủ Pháp là ông Jules Patenotre, có Danh dự Bội tinh, và đeo huân chương đệ nhất đẳng, Bắc đẩu Bội tinh, v.v… và v.v… được cử làm đặc mệnh toàn quyền của Chính phủ Pháp ở Bắc Kinh, làm khâm mạng đặc biệt về việc này.
Thay mặt cho Hoàng đế nước An Nam là quí ông:
Nguyễn Văn Tường, đệ nhất phụ chính đại thần, thượng thư bộ Lại.
Phan Thân Duật, thượng thư bộ Hộ.
Và Tôn Thất Phan, quyền thượng thư bộ Công, đặc trách về ngoại giao với nước ngoài.
Những vị đó, sau khi thông báo chức vụ và quyền hạn của họ cho nhau, nhận chân là đúng và hoàn hảo, đã thỏa thuận ký với nhau hiệp ước, theo những điều khoản dưới đây:
Điều Khoản Thứ I.
Nước An Nam, công nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp.
Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trong sự giao dịch quốc tế.
Người An Nam ở ngoại quốc sẽ được đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp.
Điều Khoản Thứ II.
Một binh đội của Pháp sẽ chiếm đóng Thuận An trong một hạn định vĩnh viễn. Tất cả các pháo đài và công sự binh bị phòng ngự ở trên bờ sông Hương sẽ bị phá hủy.
Điều Khoản Thứ III.
Những viên chức An Nam đang làm việc từ biên giới xứ Nam kỳ đến biên giới phía bắc tỉnh Ninh Bình, vẫn được lưu dụng, và cai trị như cũ, trong phạm vi giữa hai miền ranh giới ấy, ngoại trở về các địa hạt thương chính, công chính và nói chung về các cơ sở đòi hỏi sự điều khiển duy nhất và riêng biệt hay việc sử dụng các kỹ sư hay cán bộ ngoại quốc,
Điều Khoản Thứ IV.
Trong phạm vi các điều khoản đã nói ở trên, Chính phủ An Nam công bố mở cửa các hải cảng cho việc giao thương với tất cả các nước, ngoại trừ cửa bể Qui Nhơn, Tourane và Xuân Đáy. Mặt khác, các hải cảng khác cũng sẽ được đặt ra sau sự thỏa thuận tương đồng. Chính phủ Pháp sẽ đặt các viên chức cai quản hải cảng ấy theo lệnh viên Khâm sứ ở Huế.
Điều Khoản Thứ V.
Một viên Tổng Khâm sứ, đại diện cho Chính phủ Pháp sẽ chủ tọa về ngoại giao cho vương quốc An Nam và đảm nhiệm chức vụ bảo hộ, nhưng không xen kẽ vào việc nội trị địa phương hàng tỉnh, đã được ghi rõ theo điều khoản III nói trên. Vị Đại diện này sẽ ở trong nội thành Huế với một đoàn vệ binh quân sự.
Viên Tổng Khâm sứ được quyền yết kiến Hoàng đế An Nam với tính cách tư, và cá nhân.
Điều Khoản Thứ VI.
Tại Bắc kỳ, các Công sứ hay Phó Sứ được đặt dưới quyền của Chính phủ Pháp. Họ ở các thị trấn, mà sự có mặt của họ là cần thiết. Họ được lãnh đạo bởi viên Tổng Khâm sứ.
Họ ở trong nội thành, ngay cả trong tự dinh các quan, và được bảo vệ bởi một binh đội Pháp hay bảo an người bản xứ.
Điều Khoản Thứ VII.
Các viên Công sứ sẽ cố tránh không được đụng chạm đến nền cai trị địa phương hàng tỉnh. Các quan lại An Nam vẫn tiếp tục cai trị và làm nhiệm vụ của mình, dưới sự kiểm soát của viên Công sứ. Đồng thời họ có thể bị cách, bãi theo yêu cầu của nhà chức trách Pháp.
Điều Khoản Thứ VIII.
Các viên chức và công nhân người Pháp, bất cứ thuộc loại nào chỉ được giao dịch với nhà chức trách An Nam qua trung gian các viên Công sứ Pháp.
Điều Khoản Thứ IX.
Một đường giây điện thoại sẽ được nối liền Hà Nội với Sài Gòn, do viên chức Pháp điều khiển, và bảo trì.
Một phần tiền thuê kinh phí, sẽ được chia cho Chính phủ An Nam, để trở về tiền thuê đất và đặt đài.
Điều Khoản Thứ X.
Tại miền Trung và Bắc kỳ, những người ngoại quốc bất kể quốc tịch nào, đều do Tòa án Tây xét xử.
Nhà chức trách Pháp sẽ phân loại các vụ kiện, để ấn định việc xử án giữa người ngoại quốc với người bản xứ, hay giữa họ với nhau.
Điều Khoản Thứ XI.
Tại Trung kỳ, các Quan bố sẽ thâu thuế cho Chính phủ An Nam, không trực thuộc viên chức người Pháp.
Tại Bắc kỳ, các viên Công sứ sẽ cùng các viên Quan bố tập trung các khoản thuế đó và sử dụng việc chi tiêu. Một phái đoàn hỗn hợp gồm các viên chức Pháp và An Nam sẽ ấn định các khoản tiền dành cho từng ngành của nền hành chính và các ngành khác công lập. Số tiền thặng dư sẽ được nộp vào quỹ của Triều đình Huế.
Điều Khoản Thứ XII.
Trên toàn quốc, tất cả các khoản tiền thuế thương chính được đặt lại, và trao toàn quyền cho nhà cai trị người Pháp. Tiền thuế ấy chỉ gồm các thuế thương chính do hàng hải và do từ biên giới đến, mà sự cần thiết sẽ cần phải đặt ra. Bất cứ các sự khiếu nại về thương chính vốn do binh sĩ An Nam đặt ra cho đến nay đều không được chấp thuận.
Các luật lệ và điều khoản về thuế gián thâu, thể thức và giá biểu về quan thuế cũng như các điều kiện vệ sinh của xứ Nam kỳ, từ nay được áp dụng trên toàn lãnh thổ của Trung kỳ và Bắc kỳ.
Điều Khoản Thứ XIII.
Tất cả các công dân hay bảo hộ Pháp được quyền đi lại tự do buôn bán, và là sở hữu chủ các động sắn và bất động sản ở trên toàn lãnh thổ Bắc kỳ, hay ở các nhượng địa của các hải cảng ở Trung kỳ, Hoàng đế An Nam xác nhận các đảm bảo vốn được đề cập đến do hiệp ước ngày 15 tháng 3 năm 1874 đối với các giáo dân và các nhà truyền giáo ở những nơi đó.
Điều Khoản Thứ XIV.
Những người muốn đi lại trên nội địa xứ Trung kỳ, chỉ cần được phép của viên Tổng Khâm sứ ở Huế hay viên Toàn quyền Nam kỳ.
Các viên chức cai trị Pháp này sẽ cấp cho họ giấy tờ thống hành, và sẽ do quan lại An Nam kiểm soát.
Điều Khoản Thứ XV.
Nước Pháp từ nay cam kết bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ cá nhân Hoàng đế An Nam, để chống lại bất cứ kẻ địch từ bên ngoài, hay sự nổi loạn ở bên trong lãnh thổ.
Vì vấn đề này, binh lực Pháp sẽ chiếm đóng trên toàn lãnh thổ hai xứ Trung kỳ và Bắc kỳ các địa điểm cần thiết, để thi hành quyền bảo hộ.
Điều Khoản Thử XVI.
Hoàng đế An Nam.vẫn tiếp tục cai trị như cũ, nền hành chánh địa phương, ngoại trừ những điều đã do hiệp ước này đề cập đến.
Điều Khoản Thứ XVII.
Những khoản tiền nợ hiện nay của Vương quốc An Nam đối với nước Pháp, sẽ được thanh bạch do cách trả sẽ được ấn định sau. Hoàng đế An Nam từ nay cũng không được quyền vay mượn của nước ngoài, nếu không được chính phủ Pháp quốc công nhận.
Điều Khoản Thứ XVIII.
Những cuộc đàm phán sau sẽ định rõ số cửa bể được mở ra và các nhượng địa của Pháp trong các cửa bể ấy, sự xây cất các hải đăng trên các xứ Trung kỳ và Bắc kỳ, thể chế và qui ước khai thác các hầm mỏ, qui ước về tiền tệ, sự phân chia tiền thuế thương chánh, thuế trực thâu, thuế bưu chính và mọi thứ khác chưa được nói đến theo điều thứ XI của hiệp ước này.
Bản hiệp ước này sẽ được đệ trình lên chính phủ Pháp quốc và chính phủ Vương quổc An Nam, để duyệt xét và chấp thuận, nếu cần phải thay đổi gì, sau đó sẽ được áp dụng tức khắc.
Điều Khoản Thứ XIX.
Hiệp ước này sẽ thay thế các bản hiệp định ngày 15 tháng 3, ngày 31 tháng 8 và ngày 23 tháng 11 năm 1874.
Trường hợp có sự phản đối, thì riêng bản tiểng Pháp là đủ.
Để chấp chiếu, các đặc mệnh toàn quyền nói trên đều ký kết vào bản hiệp ước này cùng kiềm ấn riêng của họ để làm bằng.
Làm tại Huế, gồm hai bản, ngày 6 tháng 6 năm 1884.
PATENOTRE HOÀNG ĐẾ AN NAM
Phụ chính Đại thần
Nguyễn Văn Tường ký
Phan Thân Duật ký
Tôn Thất Phan ký

Phụ đính II
Ký Ngày 6 Tháng 3 Năm 1946
Giữa các nhân vật cao cấp phía dưới: Về Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên, do, ông Sainteny, đại diện của Thượng sứ Pháp, Đô đốc D’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp quốc, và một bên Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện của Hội đồng Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh, hai bên đã thỏa thuận như sau:
1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân sự, và nền tài chính riêng biệt, nằm trong Liên bang Đông Dương và ở trong Liên hiệp Pháp.
Về việc thống nhất ba kỳ, Chính phủ Pháp công nhận sẽ chấp thuận quyết định của toàn dân, sau khi được trưng cầu dân ý.
2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp, theo đúng tinh thần quốc tế, khi quần đội này kéo vào tiếp quản quân Tàu.
Một phụ ước sẽ được đính kèm vào bản hiệp định sơ bộ này, sẽ đặt ra các thể thức khi họ bắt đầu vào tiếp quản.
3. Những thể thức rõ ràng nói trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi hai bên trao đổi chữ ký, phần bên nào dùng biện pháp cần thiết làm tạo hoàn cảnh thích hợp để mở những cuộc đàm phán thân hữu và thẳng thắn.
Nhưng sự đàm phán đó sẽ đề cập đến vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam với bên ngoài, qui chế tương lai của Đông Dương và quyền lợi văn hóa và kinh tế của Pháp ở Việt Nam.
Hà Nội, Sài Gòn, hay Paris sẽ có thể được chọn để làm chỗ đàm phán.
Giữa hai bên đã ký hiệp định sơ bộ, nay thỏa thuận như sau:
1. Lực lượng được thay thế sẽ gồm có:
a) 10.000 binh sĩ người Việt với số sĩ quan chỉ huy Việt Nam sẽ thuộc quyền quân đội Việt Nam.
b) 15.000 binh sĩ người Pháp bao gồm cả số binh lính Pháp đang đồn trú tại Việt Nam về phía Bắc vĩ tuyến thứ 16. Những binh sĩ ấy chỉ được gồm các binh lính gốc chính quốc, ngoại trừ số binh sĩ chịu trách nhiệm canh giữ tù binh Nhật. Tất cả các lực lượng quân sự đó sẽ do bộ Tự lệnh tối cao Pháp sử dụng, có đại diện của nhà chức trách Việt Nam chứng kiến. Sự phát triển, đồn trú, và sử dụng các lực lượng đó, sẽ được ấn định do một qui ước của bộ chỉ huy, do đại diện của quân lực Pháp và Việt Nam, sẽ họp bàn ngay sau khi quân Pháp kéo vào miền Bắc.
Các Uỷ ban hỗn hợp sẽ được đặt ra, theo từng cấp tương đồng, trong một tinh thần thân hữu, giữa hai bên quân đội Pháp và Việt.
2. Các đơn vị Pháp cùa lực lượng thay thế sẽ được chia làm ba loại:
a) Những đơn vị chịu trách nhiệm coi giữ tù binh quân sự Nhật Bản. Những đơn vị đó sẽ được hồi hương ngay sau khi nhiệm vụ của họ được hoàn tất, trong vòng tối đa 10 tháng.
b) Các đơn vị phụ trách hợp tác với quân lực Việt Nam, để giữ an ninh công cộng, trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Những đơn vị này sẽ lần lượt được rút hết, và thay thế bằng quân lực Việt Nam, theo tỉ lệ 1/5 hàng năm. Như vậy, số quân đội Pháp sẽ rút đi hết trong vòng thời gian là năm năm.
c) Những đơn vị chịu trách nhiệm phòng thủ các đồn bót Việt Nam, vẫn đang trấn đóng; những địa phần đồn trú đã được chỉ định rõ ràng.
3. Chính phủ Pháp cam kết sẽ không dùng tù binh Nhật cho mục tiêu quân sự của mình.
Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946.
Ký tên: Sainteny, Salan, Võ Nguyên Giáp.
Phụ đính III
Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1948 tại Vịnh Hạ Long
Giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên,
Và,
Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quí ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.
Đã lập bản tuyên bố chung như sau:
1.  Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sẽ chấp nhận vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.
2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành quyền ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ, và khuếch trương kinh tế của mình.
3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế tài chánh và chuyên môn.
Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long.
Ngày 5 tháng 6 năm 1948
Ký tên:
Bollaert
Nguyễn Văn Xuân
Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch

Phụ đính IV
Paris, ngày 8 tháng 6 năm 1949
Tổng Thống Cộng hòa Pháp
Tổng Thống Cộng hòa Pháp quốc Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Kính gởi Hoàng đế Bảo Đại
Thưa Hoàng thượng,
Hoàng thượng đã có ý muốn cụ thể hóa nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, theo nguyên tắc dựa trên bản Tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949 tậi vịnh Hạ Long, ký kết giữa ông Emile Bollaert, Thượng sứ Pháp ở Đông Dương và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Chủ tịch Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam có sự chứng kiến của Hòàng thượng.
Ý muốn đó rất trùng hợp với ý kiến của Chính phủ Pháp, sau khi Hội đồng Bộ trưởng đã họp bàn, đã yêu cầu tôi, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp, được trao đổi văn thư với Hoàng thượng, để đi đến một thỏa ước hầu cụ thể hóa những điều khoản của bản tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949.
Nay thuộc phạm vi chính phủ của Hoàng thượng, một mặt để kết thúc với ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương những thỏa ước riêng biệt hoặc tạm thời, không ra ngoài lý lẽ của sự trao đổi văn thư này và hoàn cảnh hiện tại mà trật tự và an ninh được vãn hồi giữa Liên hiệp Pháp và Việt Nam, mặt khác, sửa soạn cùng với đại diện của nước Pháp, có sự tham gia của đại diện các Chính phủ Hoàng gia Ai Lao và Cam Bốt, để giải quyết những dị biệt cần thiết đang diễn ra hiện nay.
Trên căn bản ấy, và trong hoàn cảnh ấy, tôi nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, xác nhận sự chấp thuận của tôi, theo những định ước dưới đây:
I- Thống Nhất Việt Nam: Không còn dựa vào các hiệp ước từ trước, mà nước Pháp còn có giá trị, nước Pháp long trọng xác nhận quyết định, không phản đối sự trở về của đất Nam kỳ vào lãnh thổ Việt Nam, được kê rõ: bao gồm các đất đai của Bắc kỳ (Bắc Việt Nam) của Trung kỳ (Trung Việt Nam) và Nam kỳ (Nam Việt Nam).
Nhưng sự tái sát nhập đất Nam kỳ vào nước Việt Nam, chỉ được coi như chính thức, sau cuộc trưng cầu dân ý của toàn dân, được tự do lựa chọn hay đại diện của họ lựa chọn. Toàn thể các điều khoản trong thỏa ước này chỉ có giá trị, khi sự sát nhập đầy đủ hiệu năng và chính thức của Nam kỳ vào toàn cõi nước Việt Nam.
Trong hoàn cảnh ấy, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc cam kết thi hành các thể thức đã được ấn định trong Hiến pháp.
Khi các cách thức trên được hoàn tất, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ công bố dứt khoát sự thống nhất của Việt Nam như đã được định nghĩa trên.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc từ chối về qui chế đặc biệt do các sắc dụ, đã nói về ba nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane.
Sự cai trị các sắc dân không phải người Việt Nam, mà vị trí địa dư vốn nằm trong lãnh thổ của nước Việt Nam, như vừa định nghĩa trên, và từ xưa vẫn thuộc quyền Hoàng đế An Nam, sẽ được cứu xét bằng qui chế riêng, do Hoàng đế định đoạt. Các qui chế này phải được sự thỏa thuận của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, vốn có những trách nhiệm đối với họ. Qui chế này vừa phải bảo đảm cho những quyền hạn chính đáng của Việt Nam, vừa phải bảo đảm sự tiến triển của dân tộc ấy, với sự tôn trọng phong tục tập quán của họ.
II- Vấn đề Ngoại Giao: Nền chính trị đối ngoại của Liên hiệp Pháp, trong đó có đại biểu của Việt Nam trong Hội đồng Tối cao, do chính sách đối ngoại sẽ được định dưới, phải được cứu xét phù hợp, dưới quyền chủ tọa của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, hội đồng mà Chính phủ nước Việt Nam được quyền lựa chọn do chính người của mình.
Để thực thi các định kiến của mình, về chính sách đối ngoại, Hoàng đế Việt Nam sẽ phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp.
Các trưởng phái đoàn ngoại giao sẽ được đề cử đến Việt Nam do Chủ tịch Liên hiệp Pháp và Hoàng đế Việt Nam chấp nhận.
Các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao, phải được định rõ, có sự tương đồng của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Sự thống nhất của nền chính trị ngoại giao của Liên hiệp Pháp trong những quốc gia ấy, sẽ được đảm trách bằng đường lối chung, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ chuyển đạt cho chính phủ Việt Nam, kể cả việc tiếp xúc trực tiếp giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt. Đối với những quốc gia khác, nước Việt Nam sẽ được đại diện bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, tức phái biểu là đã có đại diện của Chính phủ Việt Nam trong đó.
Nước Việt Nam có quyền điều đình và ký kết những thỏa ước riêng, liên hệ đến quyền lợi của mình, với điều kiện đặc khẩn là trước khi điều đình, phải đưa trình dự án của mình cho Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, để đưa lên hội đồng tối cao nghiên cứu và những thỏa ước này đã được cứu xét bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc. Sự chấp nhận của hội đồng tối cao là cần thiết thì các thỏa ước này mới được coi là nhất định.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẵn sàng, thể theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam, để mở những lãnh sự quán Việt Nam trong những nước mà Việt Nam nhận thấy liên hệ đến quyền lợi của mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước này mà Việt Nam thấy có liên hệ đến mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước mà Việt Nam có phái đoàn ngoại giao, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của trưởng phái đoàn, vốn có liên lạc với trưởng phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc; trong các quốc gia khác, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, cam kết, thể theo lời yêu cầu của Việt Nam, đưa đơn của Việt Nam vào Liên hiệp quốc, khi Việt Nam đã hội đủ các điều khoản của Liên hiệp quốc.
III- Vấn đề Quân Sự: Nước Việt Nam có quân đội riêng, để giữ trật tự và an ninh công cộng, đồng thời để bảo vệ lãnh thổ của quốc gia. Về trường hợp sau cùng, quân đội này sẽ được sự hỗ trợ của quân lực Liên hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham dự vào sự phòng thủ biên giới của Liên hiệp Pháp đối với bất cứ kẻ thù nào từ bên ngoài.
Quân số của quâh đội Việt Nam và quân số của quân đội Liên hiệp Pháp đóng tại Việt Nam sẽ do một thỏa ước riêng biệt ấn định, để toàn thể có đủ khả năng hữu hiệu, bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ Liên hiệp Pháp, trong trường hợp có chiến tranh.
Quân đội Việt Nam sẽ bao gồm các phần tử quốc gia Việt Nam, do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy; các huấn luyện viên và cố vấn kỹ thuật Pháp sẽ đặt dưới quyền sử dụng của quân đội Việt Nam.
Những sĩ quan Việt Nam sẽ do các trường quân sự Việt Nam đào tạo, và tùy trường hợp sẽ do các trường quân sự Pháp đào tạo, không phân biệt một cách rộng rãi. Để dễ dàng hợp tác trong thời kỳ có chiến tranh, tổ chức nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ cố gắng sắp xếp giống tổ chức nội bộ của quân đội Pháp.
Chính phủ Việt Nam chịu trách nhiệm đài thọ ngân sách cho quân đội này.
Mọi yêu sách về quân nhu, sẽ do Chính phủ Việt Nam đề cập với chính phủ Pháp.
Để góp phần bảo vệ hữu hiệu Liên hiệp Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp đồn trú tại lãnh thổ Việt Nam, ở những đồn bót, mà danh sách, phạm vi và qui chế sẽ do một thỏa ước riêng ấn định. Bất kể lý do nào, qui chế này sẽ bảo đảm cho quân đội ấy hoàn tất nhiệm vụ, trong khi về nguyên tắc, vẫn giữ được chủ quyền quốc gia Việt Nam. Quân đội ấy có thể tự do đi lại từ những đồn bót của họ, theo phạm vi của thỏa ước. Theo nguyên tắc của sự hợp tác, trong phạm vi của Liên hiệp Pháp, quận đội này sẽ bao gồm cả những phần tử Việt Nam, mà sự tuyển mộ đã được ấn định theo như thỏa ước.
Để có một đường lối duy nhất hữu hiệu, trong thời kỳ có chiến tranh, một Uỷ ban quân sự vĩnh viễn sẽ được thành lập, Uỷ ban này gồm nhiều sĩ quan tham mưu của quân đội hai nước được thành lập sẵn ngay trong thời bình, để sửa soạn sự phòng thủ chung, và hợp tác quân sự chung giữa quân đội Quốc gia và quân đội của Liên hiệp Pháp. Ủy ban này, trong thời bình, có thể đảm nhiệm sự liên lạc giữa hai quân đội. Cách thức cấu tạo và hoạt động trong thời bình, sẽ được ấn định theo thỏa ước riêng biệt, phụ đính vào hiệp ước Pháp Việt này.
Trong thời kỳ có chiến tranh, phần lớn phương pháp chống cự do quân đội Việt Nam điều động, còn quân đội Liên hiệp Pháp sẽ phối hợp và viên chỉ huy trưởng người Pháp lãnh đạo Uỷ ban hỗn hợp, và chịu trách nhiệm về môi trường chiến cuộc ở Việt Nam phần lớn, vị chỉ huy khác của Uỷ ban phải là người Việt Nam.
IV- Chủ Quyền Nội Bộ: Chính phủ Việt Nam thi hành đầy đủ quyền nội bộ nước mình. Chính phủ ấy, sẽ thỏa thuận với viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, lập những thỏa ước riêng biệt hay tạm thời, tùy từng trường hợp, để trao lại cho Việt Nam những thẩm quyền trước đã nhượng cho người Phap.
Chính phủ Việt Nam, khi cần đến chuyên viên, hay cố vấn kỹ thuật, phải dành ưu tiên chọ các thuộc dân của Liên hiệp Pháp, nhất là trong các xí nghiệp hay cơ quan liên hệ đến sự phòng thủ của Liên hiệp Pháp.
Ưu tiên dành cho thuộc dân Liên hiệp Pháp này chỉ bị tước bỏ khi Chính phủ Pháp không thể nào thỏa mãn được sự đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam. Cách thức sử dụng về vấn đề này sẽ được ấn định rõ ràng bằng một thỏa ước sau.
Không một công dân Pháp nào, hay một thuộc dân Liên hiệp Pháp được quyền tham dự vào nền nội trị của Việt Nam, nếu không được sự thỏa thuận của Liên hiệp Pháp và ngược lại, không một người Việt Nam nào được quyền can thiệp vào việc nội trị của nước Pháp, nếu không được sự thỏa thuận của nước mình.
V- Vấn đề Tư Pháp: Nước Việt Nam được toàn quyền xét xử mọi việc về dân sự, thương mại hay hình sự trên khắp lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, việc thụ lý về dân sự hay thương mại, đối với thuộc dân Liên hiệp Pháp, không phải người Việt Nam, hay với các thuộc dân các quốc gia, mà Pháp đã ký các thỏa ước dành ưu quyền về tư pháp, và sự truy tố đối với họ do phạm lỗi, đối với nước Pháp, sẽ do một tòa án hỗn hợp, trong đó các định lệ sẽ được đặt ra, bằng một thỏa ước phụ đính với bản Hiệp ước này.
Định lệ ấy sẽ phải tôn trọng các nguyên tắc sau này:
1. Các bản án được xét xử sẽ mang tiêu đề như sau:
“Nhân danh Liên hiệp Pháp và quốc gia Việt Nam,
Hoàng đế Việt Nam ban lệnh và quyết nghị”.
Việc thi hành bản án ấy, ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam sẽ do những thỏa ước sau, dự trù việc ủy quyền thi hành.
2. Luật sử dụng, sẽ là luật của nước Pháp, đối với bất cứ công dân Pháp khi phạm pháp.
3. Luật sử dụng, sẽ là luật của Việt Nam, mỗi khi người Pháp nào không phải vướng mắc luật ấy sẽ được thi hành tùy theo trường hợp của sự tranh chấp.
Thiếu sót điều ấy, thì sẽ là luật của Pháp.
Tóm lại, theo như định lệ quốc tế, những sự kiện vốn nằm trong qui chế riêng của quốc gia của họ.
Những việc tranh tụng về hành chánh cũng sẽ được áp dụng những căn bản tương tự, và quyền đối kháng tương đồng.
Thỏa ước tư pháp riêng biệt sẽ được giải quyết như các việc nêu trên phụ đính này.
VI- Vấn đề Văn Hóa: Trong bậc sơ học và trung học, nước Pháp tự do có thể mở các trường công hay tư, ngoại trừ phải theo các luật lệ về địa phương của vấn đề.
Các định lệ và qui chế ấy không mang ẩn ý, trực tiếp hay gián tiếp giữa người Pháp và người Việt Nam.
Những văn bằng chuyên nghiệp, hay tinh thần đòi hỏi để được dạy ở những trường học này, cũng như các điều kiện được hành nghề ờ Pháp.
Tất cả những văn bằng ấy, được áp dụng chung có các trường chuyên nghiệp và kỹ thuật.
Các trường học Pháp sẽ theo một chương trình đang thực thi tại Pháp; một chương trình về sử ký và văn minh Việt Nam bắt buộc phải dạy, không thể thiếu sót.
Những học sinh Việt Nam được tự do theo học ở các trường Pháp, mở tại Việt Nam. Các trường này sẽ mở một lớp học bằng tiếng Việt Nam, để dạy học sinh Việt Nam.
Sinh ngữ giữa tiếng Việt và tiếng ngoại quốc, sẽ được dành cho tiếng Pháp, vốn là sinh ngữ của nền ngoại giao của nước Việt Nam.
Nước Việt Nam chấp nhận sinh ngữ Pháp dạy ở ban trung học, đủ để theo ban cao đẳng vào cuối niên học, sẽ giữ số trường Pháp ở bậc trung học ngày càng nhiều.
Giá trị văn bằng Việt Nam và văn bằng Pháp sẽ được ấn định do một thỏa ước sau, khi hai chương trình Việt và Pháp được đem ra so sánh.
Nước Việt Nam có quyền dự trù theo đuổi ngành cao học Pháp, đồng thời công nhận nước Pháp tiếp tục phát triển ngành cao học ở Việt Nam, ngang hàng với chương trình của Liên hiệp Pháp.
Tuy nhiên vì hoàn cảnh khó khăn hiện tại, nhất là để huấn lụyện một số nhân viên Việt Nam thích ứng, một trường Đại học chung được mở ra, theo những điều lệ địa phương. Qui chế của trường Đại học đó, sẽ là đề tài của thỏa ước đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia khác thuộc Liên hiệp Pháp, nếu họ muốn, có thể tham gia vào tổ chức này, và phải cam kết những sự cần thiết với nước Pháp và nước Việt Nam.
Quy chế của trường Đại học này phải theo các nguyên tắc dưới đây:
Trường Đại học chung này, sẽ là một tổ chức tự trị, của các trường Đại học áp dụng trong hầu khắp các nước tiền tiến trên thế giới.
Trường Đại học sẽ do một viên khoa trưởng điều khiển, vị này sẽ được bổ nhiệm bởi chính phủ, sau khi Ủy ban tư vấn của nhà trường đề cử ba người, để lựa chọn, Vị khoa trưởng này sẽ được các trưởng ban phân khoa giúp đỡ, để điều khiển nhà trường. Và hội đồng đại học sẽ gồm các phân khoa trưởng, các đại diện giáo sư, đại diện sinh viên, và nhiều nhân vật chú trọng đến nền giáo dục, cũng như các trưởng nhiệm sở các cơ quan khoa học, và một vị đại diện cho chính phủ liên hệ.
Chương trình giảng dạy, sẽ bằng sinh ngữ của người sáng lập ra nhà trường, đối với những trường chuyên nghiệp.
Trong chương trình học vấn tổng hợp:
a) Sẽ giảng bằng tiếng Pháp, nói về kỷ luật.
b) Sẽ giảng bằng tiếng Việt Nam, tùy theo cách thức, do hội đồng nhà trường ấn định. Bằng cấp do nhà trường cấp, được coi như chính thức công nhận bởi hai quốc gia, tuy nhiên, các bằng cấp được cấp phát tạm thời vì hoàn cảnh, riêng đối với Việt Nam, không được tự do chấp nhận vào theo chương trình Pháp, và được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương, trong Liên hiệp Pháp
Để được dễ dàng, nhập vào ngành cao học, các văn bằng được nới rộng rất thấp do những chính phủ liên hệ, gia giảm.
Trường đại học chung, sẽ dành số nhập học cần thiết cho các sinh viên được học bổng của các quốc gia liên hệ.
Số phận các trường khoa học đã có hiện nay ở Việt Nam, đã được các thỏa ước Pháp và Việt Nam giải quyết, hoặc do quốc gia Việt Nam giải quyết với ban Giám đốc nhà trường. Tuy nhiên, một vài nguyên tắc căn bản cần phải chú trọng chặt chẽ:
Sự hoạt động của trường Bác Cơ Viễn Đông, sẽ là di sản chung của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, và nước Pháp. Nó không thể đem nhường lại cho ai được. Hội đồng quản trị sẽ bao gồm các đại diện của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, cùng đại diện của Chính phủ Pháp. Viên quản đốc sẽ được bổ nhiệm, do quyết định chung của bốn chính phủ sau khi viện Khoa học Pháp đưa ra ba đề nghị để lựa chọn.
Hoàn cảnh viện Pasteur nằm trên lãnh thổ Việt Nam cũng sẽ được giải quyết giữa cơ quan của viện ấy với Chính phủ Việt Nam.
Thỏa ước về viện Pasteur phải tôn trọng các điều khoản dưới đây:
Những cơ sở đã có sẵn là di sản của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, cùng nước Pháp, đối với các bất động sản tại Sài Gòn, Đà Lạt và Nha Trang.
Nước Việt Nam là chủ nhân ông các bất động sản và cơ sở thuộc viện Pasteur ở Hà Nội. Nước Việt Nam cam kết chấp nhận một qui chế tương tự đối với các cơ sở khác.
Viện Pasteur nhận giữ các sản phẩm và bất động sản, mà viện đã nhận được, bằng sự tặng dữ, hay đó di nhượng.
Viện Pasteur là sở hữu chủ các dụng cụ khoa học.
Việc áp dụng thỏa ước này sẽ được thi hành cho đến hết nhiệm kỳ, vào cuối tháng chạp năm 1949.
Thư Viện: Mọi chính phủ là sở hữu chủ của quốc khố đồ thư của nước mình. Người quản thủ thư viện và sự bảo tồn quốc khố đồ thư, phải được thực hiện theo những định lệ rõ rệt.
Vấn đề quản thủ thư viện, cơ sở Nông nghiệp, cơ sở Thiên văn, Hải dương học, và Bảo tàng viện sẽ được ấn định do những thỏa ước riêng biệt.
VII- Vấn đề Kinh Tế Và Tài Chánh: Các công dân Việt Nam ở Pháp hay ở trong các nước thuộc Liên hiệp Pháp, cũng như công dân Pháp hay công dân Liên hiệp Pháp đều có quyền tự do lập nghiệp y như người bản xứ trong khuôn khổ các định luật và qui chế địa phương. Họ được hưởng quyền di chuyển tự do, quyền thương mại, và nói chung tất cả các quyền dân chủ trong lãnh vực ấy.
Những động sản và xí nghiệp thuộc về công dân của Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam, được hưởng cùng qui chế với người công dân Việt Nam, nhất là về phạm vi thuế khóa và luật lao động. Sự bình đẳng đó sẽ được coi như tương đồng, đối với người Việt Nam trong lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
Luật lệ tài phán giữa các xí nghiệp thuộc về công dân Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được ấn định theo một thỏa ước chung giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam.
Sẽ được trả lại quyền lợi và quyền tư hữu của công dân Liên hiệp Pháp, theo như hiện trạng, vốn bị mất đi do hoàn cảnh thực tại của Việt Nam kể từ tháng 3 năm 1945.
Một Ủy ban hỗn hợp sẽ được đề cử để ấn định cách thức hoàn trái đó.
Vốn của người Pháp được đầu tư tự do ở Việt Nam, theo những hạn chế sau này:
a) Chính phủ Việt Nam, nếu xét thấy cần thiết, sẽ dự vào các vụ đầu tư đó được sắp xếp vào mục quyền lợi quốc gia.
b) Mở những xí nghiệp, trong mục gọi là về quốc phòng, và phụ thuộc vào sự chấp thuận của chính phủ Việt Nam.
c) Chính phủ Việt Nam có quyền trưng mua lại các xí nghiệp, không hoạt động nữa.
Một Ủy ban hỗn hợp Pháp Việt sẽ ẩn định rõ rệt địa bàn của các lãnh vực ấy cũng như khả năng hoạt động của các xí nghiệp được đặt tại đó.
Những hạn chế nói trên không áp dụng cho vốn đầu tư xí nghiệp hiện tại trên lãnh thổ Việt Nam, cũng không áp dụng cho sự phát triển dự trù của hoạt động của họ.
Chính phủ Việt Nam được toàn quyền sử dụng nền tài chính của mình. Chính phủ ấy sẽ lập và quản lý ngân sách của mình. Chính phủ Việt Nam sẽ được thừa hưởng tất cả mọi ngân khoản về thuế khóa trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ những khoản thu, liên hệ đến công ích chung giữa các nước liên kết, thì phải được Chính phủ Pháp và chính phủ các nước liên kết, chấp thuận.
Chính phủ Việt Nam có thể tăng thuế hay đặt ra các sắc thuế mới. Nếu sự gia tăng này có dính dấp gì đến các nước liên kết, thì sẽ có những sự thảo luận chung giữa các quốc gia liên kết, hầu có sự tương đồng về thuế khóa ở Việt Nam và các nước Đông Dương, để mọi hoạt động kinh tế khỏi bị chênh lệch.
Nước Việt Nam sẽ có sự tương đồng về tiền tệ với ba nước Đông Dương. Tiền đang thông dụng ở ba nước ấy hiện nay là đồng bạc, do cơ quan Đông Dương phát hành.
Cơ quan phát hành có thể đặt ra các dấu hiệu riêng biệt cho Việt Nam, Cam Bốt và Ai Lao.
Đồng bạc Đông Dương nằm trong khuôn khổ ảnh hưởng của đồng quan Pháp. Sự tương đương giữa đồng bạc Đông Dương và đồng quan Pháp không phải là nhất định, mà có thể thay đổi, theo hoàn cảnh kinh tế. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ được ấn định, do các nước liên kết Đông Dương thảo luận.
Vấn đề thay đổi sẽ do cơ quan hối đoái Đông Dương thực hiện.
Nước Việt Nam có chung nền thương chính với các nước Đông Dương liên kết khác. Giữa họ với nhau, không có một hàng rào quan thuế nào. Ở biên giới ba nước ấy, không phải chịu thuế thương chính, cũng như vấn đề xuất nhập trên toàn lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
Hoàng thượng nhận thấy trên địa hạt kinh tế và tài chánh, nước Việt Nam được hưởng cùng nguồn lợi như các quốc vương Cam Bốt và Ai Lao, cũng như với Liên hiệp Pháp, các nguồn lợi này sẽ được phân phối công bình và nhịp nhàng thì sự mở hàng cơ quan hỗn hợp để điều hành là cần thiết.
Do thế sẽ được mở ra ở Sài Gòn, do sự triệu tập của các viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, một hội nghị, để mời các đại diện của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, đại diện của Chính phủ Việt Nam, đại diện của Vương quốc Cam Bốt và Ai Lao, để ấn định về thành phần, và quyền hạn của các cơ quan hỗn hợp này. Tại Hội nghị Đông Dương này, sẽ bàn đến:
- Vấn đề viễn thông,
- Kiểm soát di trú,
- Ngoại thương và thương chính,
- Ngân khố,
- Đồ trang bị.
Cũng phải nói rõ, về vấn đề này, Hội nghị Đông Dương cần chú trọng nhất về đồ trang bị hiện đang được nghiên cứu.
Hội nghị này, khi mở mang, phải đặt ra cách thức và cho kết quả dự trù.
Hội đồng tối cao Liên hiệp Pháp có thể cho ý kiến hay điều giải, nếu cần.
Các văn kiện sẽ được trao đổi tại Sài Gòn, giữa Hoàng thượng và ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và hiệp ước sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ lúc ấy.
Lời tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các bản chính thức của Việt Nam sẽ kết hợp vào điều 61 của bản Hiến pháp của Cộng hòa Pháp quốc. Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, và cá nhân tôi sẵn sàng chấp nhận sự thực thi của Hoàng thượng và của vị đại diện nước Pháp, trong tín cẩn hoàn toàn, trong thiện chí, các điều khoản nói trên sẽ tạo điều kiện văn hồi hòa bình ở Việt Nam, liên kết trong bình đẳng, và thân ái với nước Pháp.

HIỆP ƯỚC SƠ BỘ PHÁP-VIỆT NAM
PHỤ ƯỚC VỀ HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA PHÁP VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
TUYÊN BỐ CHUNG:

Xin Hoàng thượng, nhận nơi đây, lòng tôn kính của tôi.
Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc.
Chủ tịch Liên hiệp Pháp: Vincent Auriol.
Được ủy nhiệm bởi Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc.
Chủ tịch Liên hiệp Pháp.
Thủ tướng Hội đồng Bộ trưởng: H. Queuille.
Paris tháng 7-1979
Bảo Đại
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ngô Văn Cư - Nỗi nhớ tình cũ bao giờ cũng mới

Ngô Văn Cư - Nỗi nhớ tình cũ bao giờ cũng mới Chọn thể thơ mới 1-2-3 để trình hiện cảm xúc, tư duy của mình về đề tài tình yêu cũng là “cá...