Con Rồng Việt Nam - Phần 4
PHẦN BỐN
LÀM QUỐC TRƯỞNG 1949-1955
Nước Việt Nam Cuối Cùng Thì Thống Nhất
Tôi quyết định, vì lý do nhã nhặn, chưa nên vội và đến ngay Sài
Gòn. Vì vậy, tôi chọn Đà Lạt thuộc Trung phần Việt Nam, để hạ cánh.
Chúng tôi tạm nghỉ ở Chypre, ở đó tôi được viên Thống đốc người
Anh tiếp đón, sau tôi qua Beyrouth, Karachi, Bombay, Ceylan, Singapour, và tôi
nghỉ ở biệt điện của viên Cao ủy Anh là Ngài Malcolm Mac Donald. Tướng Xuân,
thủ tướng chính phủ lâm thời miền Nam đến đây đón tôi. Chúng tôi cùng đi chung
trên một chiếc máy bay tư, do tự tôi thuê lấy.Đây là lần đầu tiên, tôi bay trên lãnh thổ miền Nam và tôi bảo Bác
sĩ Đôn:- Từ gần một thế kỷ nay, Hoàng đế chưa bao giờ được quyền đặt chân
đến đất này. Hôm nay, tất cả đất này là của ta… nhưng cẩn thận, có thể còn
nhiều bẫy sập!Khi máy bay hạ cánh xuống Đà Lạt, ông Pignon đã đón tôi ở đây,
cùng vài các nhân viên Nội các. Phan Văn Giáo đứng đợi tôi ở chân thang máy
bay, ông ta trình tôi một chiếc khay, trên đó có tấm điện tín. Tôi cầm lấy và
trao cho Nguyễn Mạnh Đôn và bảo:- Đây chắc chắn là cái bẫy đầu tiên đó.Trong buổi nghênh đón nhỏ bé này, tất cả các bộ mặt đều rạng rỡ,
nhưng linh cảm của tôi quả đã không lầm.Vừa tới căn biệt điện cũ của tôi trên đỉnh Liên Khang ở Đà Lạt,
tôi biết được nội dung của bức điện tín. Đây là một thỉnh nguyện thư xin được
yết kiến của các đại biểu Quốc hội địa phương Nam Việt Nam. Tôi ra lệnh cho Đôn
phải triệu tập họ ngay.Đến đúng hôm được vời, họ đến cả. Đôn vừa giữ vai bí thư vừa là
trưởng ban nghi lễ, đưa họ vào trong phòng đợi. Sau đó, Đôn đến mời tôi vào.
Khi tôi đến, tôi lấy làm ngạc nhiên, không thấy một đại biểu Pháp nào của Quốc
hội có mặt. Một chi tiết khác làm tôi lưu ý, đó là mọi người đều mang một chiếc
cặp. Tôi mời họ ngồi và bảo:- Thưa quý vị trước hết nhân danh dân tộc Việt Nam, tôi xin cám ơn
quý vị đã tỏ lòng ái quốc mà quý vị đã làm, và đã giúp cho nước nhà trở lại nền
thống nhất, từng bị mất đi sau 85 năm.Thế là một đại diện liền đứng lên, gãi cổ và thưa:- Thưa Hoàng thượng, các đại biểu của Quốc hội địa phương chỉ làm
nhiệm vụ của mình. Họ lấy làm hãnh diện được tung hô Hoàng đế khi trở về đất
tổ, nhưng tâu trình Hoàng thượng, tôi muốn nhân danh các đồng nghiệp tôi, cũng
như nhân danh cá nhân tôi, để xin Hoàng thượng chấp nhận cho một khẩn cầu.Lúc ấy, ông ta mới lôi trong cặp ra một mớ giấy, và bắt đầu đọc:- Trong 85 năm, người miền Nam nhờ sống dưới chính thể Pháp nên đã
biết được một hình thức của nền dân chủ. Vì vậy, ngày hôm nay, họ yêu cầu Hoàng
đế vui lòng lưu ý tới chỗ đó, để ban cho họ một quy chế riêng…Tôi như không tin ở tai minh nữa, Chẳng rõ có đúng như vậy không?
Nhưng mà tôi đang ở đâu đây? Ở cạnh các sắc dân miền núi?… Trong khi viên đại
biểu này ngưng lại để thở, tôi cắt lời:- Thưa quý vị, tôi sẽ nghiên cứu tất cả các thỉnh nguyện của quý vị. Trong 15 hôm nữa, tôi sẽ tới Sài Gòn, và lúc ấy chúng ta có đủ thì giờ để
xem xét và bàn bạc. Nhưng trước hết, tôi muốn hỏi quý vị, chỉ cần trả lời bằng
hai chữ Có hay Không đối với câu hỏi của tôi thôi. Quý vị vừa hỏi tôi rằng, xin
dành cho quý vị một quy chế riêng biệt. Như vậy thì tôi phải coi quý vị như thế
nào: như là đại diện của một sắc dân thiểu số, hay là như người Việt Nam sống
trong một nước Việt Nam thống nhất đây?Tất cả đều đồng thanh trả lời:- Nhưng chúng tôi đều là người Việt Nam cả…- Vậy thì thưa quý vị, không còn vấn đề giữa chúng ta nữa. Chúng
ta sẽ gặp lại nhau ở Sài Gòn trong ít lâu nữa, và chúng ta sẽ cùng nhau ăn mừng
cuộc thành công lịch sử này.Tôi đứng lên để tỏ sự tiếp kiến đã chấm dứt, và mời họ sang một
phòng khác để uống một ly champagne.Khi trở về nước, tôi đã đoán là sẽ phải đương đầu với một nhóm dân
biểu, nếu không phải là lập pháp thì ít ra cũng là lập hiến, nhưng quả tôi
không ngờ lại gặp phải loại động tác này.Như thế, sao lại không có thể có loại yêu cầu tương tự, về phía
nhân dân miền Bắc hay miền Trung? Gần phải đánh tan ngay những hoạt động tương
tự, vì làm sao mà cai trị được với những sự chỉ trích, yêu sách liên miên của
những nhóm đại biểu như vậy?Bây giờ, tôi mới hiểu sự vắng mặt của các đại biểu Pháp, và cái
thỉnh nguyện thư trình tôi kia - nếu tôi không lầm - chính là một chứng cớ cho
thấy bọn đầu não thực dân, vẫn chưa chịu hạ cờ. Có lẽ, họ biết sau khi bọn mật
vụ đi nghe ngóng các nơi trở về, báo cho biết là đã có cái gì thay đổi ở Việt
Nam rồi. Tôi cũng biết rằng, chẳng phải dễ dàng, một khi bắt tay vào việc. Cuộc
chiến đấu mà tôi đã đương đầu được ở bên ngoài, nay lại phải bắt đầu ở đây, với
những con người khác, và trong những hình thức khác.Khi tôi còn ở Hong Kong, tôi đã mời hoạt động cùng với tôi, một số
đông nhân vật người Nam như Xuân, Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, và
nhiều người khác nữa. Tôi đã hứa hẹn với họ những vị trí để tùy họ lựa chọn,
chỉ cần họ nắm vững được công tác do sự giao dịch với các đồng bào Việt Nam
khác, cần phải để họ thích hợp với hoàn cảnh. Là Hoàng đế, miền Nam Việt Nam,
từ trước vẫn bị ngăn cách đối với tôi. Nay tôi cần phải thành đạt sự hội nhập
này. Như vậy, tôi biết nhiệm vụ của tôi chỉ là chuyển tiếp: thu hồi xứ Nam kỳ,
xây dựng một nền hành chánh Việt Nam, kiến tạo một quân đội Việt Nam xứng đáng
với danh từ ấy. Tôi hiểu rõ phạm vi sứ mạng của tôi, không thể vượt qua ba mục
tiêu ấy.Quả nhiên, tôi đã đến sớm. Bởi vì từ 1946 đến 1949, đó là sự trống
rỗng chính trị toàn diện. Nếu tôi chưa xuất hiện, con người vốn sợ sự trống
rỗng, thì nước Việt Nam sẽ đi về đâu? Tôi rất lo âu thấy lấp ló ở biên thùy
phía Bắc quân đội của Mao Trạch Đông. Đúng như vậy, khi tôi bắt tay vào việc
mới chưa tới bốn năm khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Nước Pháp kiệt quệ đến rỗng
tuếch. Âu châu bị băng hoại. Chỉ còn có Mỹ là có thể giúp đỡ tôi sự cần thiết
để khởi đầu, và hy vọng thành công. Nhưng tất cả sự đó cũng chỉ là nhỏ giọt.Tin chắc về tầm vóc của công tác ấy, tôi cố gắng chiến đấu, được
phần nào hay phần ấy cho đất nước tôi.Trong tinh thần ấy, để có thể thực hiện được ba mục tiêu trên, tôi
ra một sắc lệnh tự đảm nhiệm làm Quốc trưởng “cho đến lúc mà hòa bình đã vãn
hồi, dân chúng trong sự khôn ngoan sáng suốt, tự quyết định được chế độ mà họ
mong muốn”.Để có thể có tư thế trước bình diện quốc tế, một thông điệp nhán
mạnh rằng chức vụ của tôi được gọi là “Hoàng đế, Quốc trưởng”. Vị trí này cũng
có giá trị cho đến lúc mà đất nước có được một quốc hội lập hiến.Sắc lệnh thứ hai lập ra cơ cấu hành chánh do ba tỉnh lớn: Bắc
Việt, Trung Việt và Nam Việt.Hai văn kiện này sẽ là căn bản của tổ chức hành chánh trên toàn
quốc. Ngoài ra còn lập ra một khu vực gọi là “Hoàng triều cương thổ” dành cho
các sắc dân miền núi. Xưa kia, đất này không được coi là đất của Hoàng triều…
Vì vậy, các dân tộc sống lâu đời trên đất ấy, vẫn bị gạt ra ngoài, thì từ nay
được sát nhập hẳn vào quyền hạn của Quốc trưởng và được che chở bởi Quốc
trưởng. Vị trí này đã do ông Léon Pignon gợi ý cho tôi, trong một cuộc gặp gỡ ở
Paris, nhằm để hoàn tất sự thống nhất dân chúng của nước Việt Nam.Tôi rất chú trọng đến quyết định cuối cùng này, bởi vì tôi đặt
niềm tin cho công tác của tôi vào sự trung thành của các sắc dân này, mà tôi
từng hài lòng về sự thẳng thắn và niềm tôn kính của họ đối với cá nhân tôi,
trong những dịp đi nhàn tản lẻ loi trước khi xảy ra chiến tranh.Vì vậy, tôi quyết định dành cho họ cuộc thăm viếng chính thức đầu
tiên, khi cầm quyền Quốc trưởng. Ngày 30 tháng 5, cùng với Cao ủy Pháp, tôi đến
dự lễ tể chức ở Ban Mê Thuột, giữa vùng sơn cước, để nhận tượng trưng đất Hoàng
triều cương thổ, và nhận lễ tuyên thệ của các vị tù trưởng các dân tộc vùng cao
nguyên miền Nam. Trong dịp kinh lý này, ông Pignon đã cho tôi biết sự khó khăn
xảy ra giữa ông ta và Tướng Blaizot, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương.
Thực tế, có hai quan điểm đối nghịch nhau: của ông Cao ủy, thì muốn dành cho nỗ
lực quân sự vào các tỉnh miền Nam hầu hoàn tất cuộc bình trị rồi lan dần ra như
vết dầu loang cho toàn lãnh thổ quốc gia; của Tướng Blaizot, vì bị ám ảnh bởi
sức tiến của quân đội Cộng sản Tàu đến sát ngõ biên giới miền Bắc, sẽ không
ngần ngại hỗ trợ mạnh mẽ cho lực lượng Việt Minh, nên mong muốn dốc toàn lực
binh bị cho miền Bắc. Sự dị biệt về quan điểm đó đã gây nên những va chạm giữa
hai người mỗi ngày mỗi nhiều. Nó trở nên trầm trọng, do từ một nguyên nhân cá
biệt mà ra. Số là năm 1945, Tướng Blaizot là Tư lệnh đoàn quân viễn chinh Pháp
đang thành hình ở Ceylan. Dưới quyền ông ta có một nhân viên thuộc bộ Pháp quốc
Hải ngoại, ông Léon Pignon. Ngày nay, vị trí lại quật ngược. Ông Léon Pignon là
Cao ủy Pháp ở Đông Dương trở thành thượng cấp của vị Tổng tư lệnh, Tướng
Blaizot.Để tìm một giải pháp thích nghi cho vấn đề hai mặt đó, chính phủ
Pháp liền cử sang công cán tại chỗ, vị Tham mưu trưởng Lục quân, là Tướng
Revers. Ông này tới Sài Gòn ngày 16 tháng 5 năm 1949. Ông ta bắt đầu mở cuộc
tìm hiểu, xuyên qua khắp nơi ở Đông Dương, và ngỏ ý muốn gặp tôi.Tôi đã dành những ngày đầu tiên đầu tháng sáu để đi thị sát toàn
thể vùng cao nguyên miền Trung và miền Nam, để tỏ lòng ưu ái đối với các sắc
dân Mọi, mà tôi vẫn giữ được cảm tình như thời khó khăn cũ.Chữ Mọi theo danh từ, có nghĩa là còn dã man, mà chúng tôi vẫn
dùng để gọi các sắc dân thuộc chủng tộc Mã Lai và hải đảo (Malayo-Polynesien) ở
Thái Bình Dương, sống trong các khu rừng núi và cao nguyên của rặng Trường Sơn.
Họ là dân tộc đầu tiên chiếm đóng bán đảo Đông Dương, họ đã bị các sắc dân Khờ
Me, Chàm, Trung Hoa và cuối cùng là Việt Nam đẩy lui mãi vào sâu trong rừng
thẳm. Họ phải trú ẩn vào vùng núi non hiểm trở giữa biển Nam Hải về phía Đông,
nước Cam Bốt và nước Lào về phía Tây, ở phía trên xứ Nam kỳ và cuối Bắc kỳ. Đó
là xứ sở của rừng rú, của thâm sơn cùng cốc, và các cao nguyên trên đó có nhiều
bộ lạc Mọi chia ra thành các nhóm lớn như người Rhade, người Djarai, người
Bahna, người Sédang. Sống về nghề du mục và săn bắn từ nguyên thủy, chỉ có thời
gần đây mới ở yên một chỗ để cầy cấy, và núi rừng đã ngăn cách họ sống biệt lập
với thế giới bên ngoài.Kẻ thù kinh niên của họ, là người Việt Nam da vàng, đến tự đồng
bằng và từ miền bể. Bề ngoài thì khác xa hẳn người Việt Nam, người Mọi vốn cao
lớn, khỏe mạnh, bắp thịt cứng rắn, màu da đồng giống như người thổ dân Mã Lai.
Về thời ấy, chưa có đến 100 người Việt Nam trên khắp vùng Darlac, rộng quãng
gấp ba lần một quận ở Pháp. Chưa bao giờ có sự pha giống giữa Mọi và người Việt
Nam, và một vài cuộc nhân duyên nếu có, thì cũng khô cằn, không sanh con đẻ cái.Riêng tôi, tôi được họ tôn sùng, vì Hoàng đế là vua của các vị
thần che chở cho rừng núi và bình nguyên của họ.Tôi đã từng đi săn nhiều lần ở trong vùng này, chỉ có một người
đưa đường. Tôi cũng đã tới vùng biên giới nước Ai Lao. Tôi đi vào quãng một tuần
hay 15 ngày. Ban chiều, khi đến một bản nào, tôi trở thành “Thượng đế” và người
Mọi đã coi tôi như vị Thần sống vậy.Vùng đất này đã từng biết có những nhân vật, tự hào về màu da, như
kẻ lãng tử này tự xưng là Vua mọi Sedang, với danh hiệu là Marie đệ nhất. Hay
như viên quan cai trị Ban Mê Thuột tên gọi Sabathier, đến đây năm 1920 đã chặt
cầu khi được tin có viên Khâm sứ tới… Các bô lão đã kể cho tôi nghe những
chuyện lạ lùng ấy vào ban tối.Người Mnong ở Bandon là những người chuyên về săn voi. Sau khi bắt
được những con voi họ giao cho người Lào huấn luyện. Chính tại địa phương đó mà
tôi lựa chọn các con thú dành cho kho bảo tàng bảo vệ thú rừng Ban Mê Thuột.Cuộc chuẩn bị đi săn phải sửa soạn trước đó ba ngày trai giới, và
cúng lễ thần săn bắn. Trong ba ngày ấy, người đi săn phải kiêng không được ăn
đồ ăn kém tinh khiết, và phải trai giới về sinh lý. Nhưng đến hôm trước ngày
săn, họ được uống rượu thả cửa đến say khướt thì thôi.Buổi lễ đặc biệt nhất về tín ngưỡng của sắc dân miền núi này là lễ
hiến sinh trâu. Lễ này bắt đầu vào lúc chập tối. Tất cả đàn ông đàn bà đều ngồi
xung quanh cây cột buộc con trâu, cột này là cột cây tre lớn cao quãng 20 mét
mà trên ngọn vẫn còn lá. Cột được sơn, vẽ và trang điểm thật đẹp, có đặt những
vòng hoa, gió đưa hây hẩy. Đây là một hình thức thờ vật tể của bộ lạc này mà họ
thờ cúng trong máu lửa. Một con trâu đen to lớn, sừng rất rộng, được trói chặt
vào chân cột, đầu cúi xuống, tỏ vẻ bực bội và lấy chân cào đất. Lửa được châm ở
bốn bên như đánh dấu tứ phương, rồi cháy rần rần, bốc cao ngọn tới trời xanh.
Lửa không thiêu hết mọi vật, mà dâng ngọn đến cao xanh, chứng tỏ con người đang
thần phục sẵn sàng tôn sùng Thượng đế.Những người hành lễ mời tôi ngồi vào vị trí danh dự, ở giữa các bô
lão. Đêm đã xuống thấp hoàn toàn. Cuộc nhảy nhót bắt đầu theo tiếng gồng, tiếng
trống, tiếng chiêng, và tiếng vỗ tay của đàn bà và trẻ con. Tay cầm dáo nhọn,
cánh tay đeo mộc, các người nam nhảy nhót theo điệu lẫm chiến, đâm con vật một
cách đầy thù hận. Bởi vì con trâu đen này, một con vật thật hiền từ, chiều hôm
đó đã là hiện thân của một ác thần, đã làm họ biết bao đau khổ. Đây là vật hy
sinh hữu ích dâng cho Thần cứu trợ để cầu mong thần chiếu cố.Bị trói chặt giữa bốn đóng lửa ở xung quanh, tượng trưng cho lời
cầu nguyện, nó chết vào ban sáng, dưới chân vật tổ tế thần, nhằm cản trở sự xui
xẻo đè nặng lên khắp bản, bởi vì tôi, Vua của các vị Thần, tôi đang ngồi ở giữa
họ.Một kẻ hành lễ đem đến dưới chân viên phù thủy một quả bầu rỗng và
một con gà trống màu trắng. Ông già quì xuống, cắt tiết gà, mổ lấy tim và hứng
lấy tiết vào trong quả bầu.Viên tù trưởng đưa cho tôi một chiếc cần bằng sậy và mời tôi hít
rượu đựng trong hũ, đồng thời tôi ăn cùng với ông ta hai miếng gan heo nướng
thành chả bằng một chiếc xiên, mà một đứa trẻ đưa cho ông ta. Thế là các bô lão
đứng lên, và lần lượt choàng vào cổ tay trái tôi chiếc vòng đồng, nói lên sự
phục tòng, giao hiếu mà mọi người dâng cho tôi, có khắc nhãn hiệu của họ, rồi
cúi đầu, tung hô tôi là Thượng đế!Khi tất cả đã trở về chỗ ngồi bên cạnh tôi, viên phù thủy liền cất
cao giọng và hát:- Hỡi Thần linh! Xin hãy công nhận Cha mà chúng tôi đã lựa chọn.
Hãy chấp nhận Ngài và chúng tôi đã kính dâng buổi lễ này, cả hai bằng chiếc hủ
rượu này có tiết của con gà trống bạch. Xin Thần của núi rừng che chở cho chúng
tôi, xin Thần của sông nước che chở cho chúng tôi, xin Thần Đất dẫn dắt chúng
tôi, xin Thần Săn bắn che chở và đứng về phía chúng tôi, xin Thần Gió thanh lọc
sự giao kết của chúng tôi, xin Thần Lửa làm sự giao hảo sáng chói như chớp, sự
đồng minh mạnh như sấm như bão, xin cho chúng tôi sự trường thọ vô cùng, xin
cho tóc của chúng tôi bạc trắng phau trước khi đến với các Ngài. Hỡi Thần linh,
Hỡi Thần linh, xin hãy chứng giám cho lời thề vĩ đại giữa hai chúng tôi, hỡi
Thần linh, hỡi các bậc linh hồn, xin mời các Ngài hãy dự tiệc trước đã. Xin cho
phép chúng tôi được hưởng thụ thịt của vật bị hy sinh này, và hưởng thụ huyết
của con trâu này vào sáng ngày mai. Sống lâu, mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúng tôi
nguyện trung thành giữa chúng tôi cho đến đời con, đời cháu chúng tôi. Bởi đó
là lời Thần dạy.Sau lời khấn vái ấy, tôi cùng các bô lão vào nghỉ trong căn lều
của viên phù thủy, mái lợp bằng da đan vào nhau, căn lều hoàn toàn bằng tre,
ngoại trừ các cây cột và xà ngang đều bằng gỗ teck. Trong nhà có trang hoàng
nhiều hình thù bằng gỗ khắc, các dấu hiệu về mặt trời, mặt trăng, hình bò cạp,
cá, và bao giờ cũng là hình to lớn của thần rắn, và hình mặt trời gọi là
Svastika. Ở chân cột có treo nhiều giá đựng binh khí, những bộ trống chiêng,
những vò, hũ cổ, những chậu đồng. Chúng tôi uống rượu cần xung quanh lò lửa.Ở giữa bọn người mộc mạc cổ xưa này, tôi cảm thấy an ninh vô cùng.
Tình lưu luyến tôn kính của họ đối với cá nhân tôi không bao giờ phai lạt. Họ
là người ưa chuộng tự do, rất hãnh diện và kiêu ngạo, lòng trung thành của họ
là điều khuôn mẫu. Bị dồn ép vào sâu trong rừng núi, khuất hẳn với thế giới bên
ngoài do tấm bình phong dày đặc của rừng, họ được hiểu biết, yêu mến kính trọng
và che chở.Chính vào dịp đàm phán ban đầu, trước khi ký thỏa hiệp mùng 8 tháng
3, tôi đã nêu lên vấn đề đất đai rừng núi và những sắc dân thiểu số, ông Léon
Pignon đã gợi ý rằng đất đai này và các sắc dân này phải được đặt trong một qui
chế riêng, đặt họ vào đất đai của Hoàng triều cương thổ. (Xin xem phụ đính V.)Thị sát các kinh đôSau kỳ thị sát vùng cao nguyên Darlac, tôi đến Sài Gòn ngày 13
tháng 6. Tại đây, thật lạ một sự tiếp thu thực sự, vì thủ đô miền Nam trước đây
vẫn là cấm địa đối với tôi, khi còn là Hoàng đế. Hôm sau, ngày 14 tháng 6, tại
điện Norodom, tôi ký với ông Pignon nhiều chi tiết về thể thức, theo như các
điều khoản của thỏa ước mùng 8 tháng 3 năm 1949.Trong dịp này, tôi gửi một thông điệp cho dân chúng:“Đồng bào miền Nam thân mến,“Hôm nay đặt chân lên phần đất của miền Nam Việt Nam này tôi không
khỏi nén đi bao xúc cảm sâu đậm tràn ngập trong tim, xúc cảm có chứa đựng niềm
vui sướng vô biên. Đất cát này, dân tộc Hồng Việt chúng ta đã kiến tạo với bao
công lao trong nhiều thế kỷ. Các Hoàng đế Minh Vương và Võ Vương đã liên tiếp
xây dựng nên. Cũng từ đất đai này, mà Hoàng đế Gia Long và các bậc anh hùng
nghĩa sĩ vùng Đồng Nai, Gia Định đã phất cờ khôi phục lại sơn hà từ Sài Gòn đến
Thuận Hóa, rồi từ đó ra đến Hà Nội, tiến tới tận biên giới Trung Hoa.“Dòng máu anh hùng của tổ tiên chúng ta vẫn còn sôi sục trong
huyết quản giòng giống cháu Lạc con Hồng. Trong rừng sâu, cũng như trong các
vùng sình lầy, biết bao nghĩa sĩ, anh thư đã đền nợ nước cho một chính nghĩa
sáng ngời dân tộc.“Đất đai của tiền nhân chúng ta đã trở vê với chúng ta ngày hôm
nay. Kết quả đó đạt được là nhờ ở tâm hồn dũng cảm của toàn thể nhân dân ta, và
ở lòng hy sinh và sự tận tâm của các đồng bào ta ở mọi giới, và ở tình hữu nghị
đầy thông cảm của dân tộc Pháp. Mặc dù có cuộc sống khác biệt qua bao năm dài
tháng lậm, đồng bào miền Nam đã chứng tỏ là dân chúng Việt Nam không bao giờ
quên gốc rễ và giòng giống của mình.“Trong công cuộc phục hưng đất nước, miền Nam Việt Nam đã đặt viên
đá đầu tiên và đã ghi một trang thật lẫy lừng trong lịch sử.“Công cuộc ấy chỉ có thể vững bền và thịnh đạt, nếu dân tộc chúng
ta vẫn tiến lên trong kỷ luật, trật tự và hòa bình. Thế mà, trong bốn năm qua,
vì các nguyện vọng quốc gia chưa được thỏa mãn, sự tàn phá của chiến tranh vẫn
kéo dài, và làm tan hoang đất nước.“Không có một cảnh tượng nào đau đớn hơn là trông thấy hai dân tộc
Pháp và Việt, vốn cả hai đều tha thiết đến hòa bình, mong mỏi sự tự do, và công
lý, buộc lòng phải dùng đến sức mạnh bạo tàn để giải quyết mọi dị biệt. Để chấm
dứt tinh trạng đau lòng ấy, tôi không ngần ngại tự đảm đương lấy sứ mạng là tìm
một giải pháp hòa bình, để san bằng mọi mâu thuẫn, và để thỏa mãn các nguyện
vọng chính đáng và sâu đậm của chúng ta.“Chỉ cốt có một vị trí quốc tế chính thức, mà buộc lòng tôi phải
giữ tạm thời danh vị cũ, nhưng lập trường của tôi vẫn không thay đổi, đối với
dân tộc. Dân tộc đã chiến đấu anh dũng cho nền độc lập của Tổ quốc. Vậy thì tất
nhiên, nguyên lý về các hoạt động quốc gia, phải từ dân mà ra.“Tuy nhiên, vì hoàn cảnh quốc tế rất quan trọng, và vì trưởng hợp
của đất nước chưa thuận tiện cho các cuộc tổng tuyển cử, tôi phải nhận kể từ
hôm nay trách nhiệm lãnh đạo công việc của quốc gia.“Đồng bào miền Nam thân mến,“Theo đúng nguyên tắc đã được ký kết trong thỏa ước mùng 8 tháng
3, nền thống nhất của đất nước đã được thực hiện. Ngày mùng 6 tháng 6 vừa qua,
Quốc hội Pháp đã long trọng bỏ phiếu chấp nhận sự trở về của đất Nam kỳ vào
lãnh thổ nước Việt Nam. Như vậy, qui chế thuộc địa do các hiệp ước năm 1862 và
1873 đã được vĩnh viễn hủy bỏ. Nền độc lập của đất nước được phục hồi, và kể từ
ngày hôm nay, nước Việt Nam tự mình sẽ giải quyết công việc nội bộ của nước
mình, trên bình diện quốc tế củng như trên bình diện quốc gia.“Trên lãnh vực quốc tế, nước ta được toàn quyền của một nước độc
lập: quyền đại diện ngoại giao, quyền đặt đại sứ ở các nước ngoài, quyền tiếp
nhận ngoại giao đoàn, quyền ủy nhiệm sứ thần đến các nước khác, quyền đàm phán
và ký kết tất cả mọi hiệp ước quốc tế, và quyền được tham gia vào các tổ chức
của Liên hiệp Quốc…“Trên lãnh vực quốc gia, một thể chế cho đất nước phải phù hợp với
lòng dân là một vấn đề vô cùng quan trọng. Danh dự của tổ quốc, buộc chúng ta
phải hành động sao cho xứng đáng để nước ngoài trông vào, thấy bộ mặt thực sự
của Việt Nam, biết tôn trọng trật tự, và tôn thờ công lý.Đầu tiên, về mặt hành chánh, các cơ quan lập ra phải phục vụ nhân
dân. Một tổ chức làm trái với nguyên tắc ấy, sẽ không bền vững được bao lâu.
Như vậy, cần phải ấn định lại quy chế cho các nhân viên trên toàn quốc v.v…“Một chương trình xã hội cũng phải đặt nền móng để thực hiện.
Chúng ta cần phải chống nạn mù chữ, mở mang liên học công lập tổng quát, nâng
cao nền công dân giáo dục. Giới cần lao là mục tiêu của sự cải tể canh tân của
chúng ta, và mối quan tâm của chúng ta phải nhằm vào việc nâng cao mức sống của
toàn thể đồng bào.“Quyền năng chính trị dù tốt đẹp đến mấy, cũng không có nghĩa lý
gì, nếu không đem lại được kết quả nào trên toàn quốc, người dân còn phải ăn
đói, và không đủ quần áo che thân.“Dưới mái nhà tổ quốc đã được độc lập và thống nhất, tôi gửi lời
kêu gọi thành thực và nồng nhiệt đến tất cả tầng lớp dân chúng, để chúng ta
cùng trở lại trật tự và hòa bình hầu kiến tạo đất nước đang cần phục vụ. Biết
bao năm phải hy sinh mà đồng bào đã chấp nhận sẵn sàng, là một điều bảo đảm đầy
hứa hẹn. Tin tưởng vào tương lai của dân tộc, chúng ta hãy tập hợp lại tất cả
mọi nỗ lực, để bắt đầu ghi một trang vẻ vang vào lịch sử nước Việt Nam mới của
chúng ta”. Đất Nam kỳ bao giờ cũng là đất của thành thật, nơi thánh địa của
các giáo phái những loại gần như hội kín, những người sống ra ngoài vòng pháp
luật. Ba trong số hội này, đã đóng vai trò quan trọng từ 1945, đó là Cao Đài,
Hòa Hảo và Bình Xuyên.Đây là vào năm 1926, giáo phái Cao Đài trở
thành một tôn giáo có thánh thất và Tòa Thánh, với những đền đài, nghi lễ, và
hệ thống lãnh đạo, được tổ chức dựa theo đạo Công giáo. Thiết lập từ năm 1902,
do một nhân viên Bưu điện ở Sài Gòn, vốn đầy mình tin tưởng vào sự tồn tại của
linh hồn, đạo Cao Đài muốn đóng vai trò hòa hợp các tôn giáo và triết học ở
Đông phương: đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật, đạo thờ Thần và đạo Thiên Chúa.Linh hồn Cao Đài dùng hình thức cầu cơ để đọc và nghiền ngẫm những
lời tiên tri ban bố xuống. Vì vậy, vào tháng 11 năm 1926, ở Tây Ninh, đạo Cao
Đài truyền bá ra một tin rung động: “Ngọc hoàng Thượng đế, chính là Ta. Phật Tổ
cũng là Ta. Thích Mâu Ni tôn giả cũng là Ta, Jesus Christ cũng vẫn là Ta. Ta
mang danh là Cao Đài để dạy dỗ một đạo mới”.Nhờ sự độ lượng của chính phủ Pháp, và dưới ảnh hưởng của một nhân
viên Hội đồng Thuộc địa là Lê Văn Trung, đạo này đạt được mức tiến bộ khả quan.
Vào năm 1940, đạo Cao Đài đã có trên một triệu rưỡi tín đồ, phần nhiều tập
trung cả ở miền Tây Nam kỳ.Đứng đầu là Giáo chủ Phạm Công Tắc, cựu nhân viên thương chính,
một người đầy mưu trí và ngoại giao khôn ngoan, muốn biến đạo Cao Đài thành đạo
duy nhất ở miền Nam Việt Nam. Có tài lãnh đạo khép léo, ông ta có một số nhà
truyền giáo khá đông đảo, và có kỷ luật, và về sau có cả một quân đội.Sau cuộc thất trận của Pháp năm 1940, ông ta không giấu tinh thần
quốc gia của mình, nên bị bắt và đày ra đảo Comores năm 1941. Đạo Cao Đài không
phải vì thế mà kém hoạt động, cho đến năm 1945, nhờ người Nhật giúp đỡ, họ trở
thành quốc gia cuồng tín. Sau sự hình thành chính phủ Dân chủ Cộng hòa của Hồ
Chí Minh, quân đội của Cao Đài đứng vào hàng ngũ của Việt Minh, và vào đầu năm
1946, đã chiến đấu chống lại đoàn quân viễn chinh Pháp. Nhưng các lãnh tụ Cao
Đài chẳng bao lâu cũng bất hòa với Xứ ủy Việt Minh Nam bộ, và vào tháng 6 năm
1946, một đoàn đầu tiên ra hợp tác với Pháp. Tuy nhiên, nhiều đoàn khác vẫn hợp
tác chặt chẽ với Việt Minh, và cũng có những đoàn khác đứng riêng để chiến đấu
cho bản thân họ. Ngày 30 tháng 4 năm 1946, nước Pháp trả tự do cho Phạm Công
Tắc. Ông này lập tức lại bắt tay vào điều khiển công việc. Vài tháng sau, ông
ta đến gặp tôi ở Hong Kong, cùng đi với một nhân vật thượng thặng của Tòa
Thánh, Bác sĩ Lê Văn Hoạch, vốn làm Thủ tướng chính phủ lâm thời Nam kỳ, sau
Tướng Xuân.Hiện nay, không được Pháp chấp thuận cho kiểm soát độc quyền các
tỉnh miền Tây, Phạm Công Tắc giữ thái độ trung lập. Nghĩa là ông có cả người
theo phe Việt Minh, người khác theo quân đội Pháp và các gián điệp đủ loại ở
khắp mọi nơi…Giáo phái Hòa Hảo được thành lập từ năm 1939
trong tỉnh Châu Đốc bởi một nông dân là Huỳnh Phú Sổ, vốn bị bệnh nan y, ở
trong một làng nhỏ ở Hòa Hảo. Vì bệnh tật, Huỳnh Phú Sổ sống cạnh một ông đạo,
có tài chữa bệnh. Ông đạo dạy Sổ về các thuật phù thủy, thôi miên cũng như về
châm cứu.Trở về nhà trong một đêm tối trời, ông ta tự dưng khỏi bệnh, bắt
đầu truyền giáo đạo Phật canh tân. Ông đạo mới chinh phục nhanh chóng được đám
đông, bằng những luận điệu sơ sài, dễ hiểu, và những đường lối dễ theo của đạo
mới. Ông ta vẫn căn cứ vào nguyên lý của đạo Phật, mà ông ta chỉ muốn giản dị
hóa cách thức tu, mà không thay đổi đạo lý. Ông ta tiên tri tương lai, chữa
bệnh cho mọi người bằng khoa châm cứu và làm thuốc bằng các rễ cây và đặt ra
các câu sấm để tiên tri. Sự thành công của ông được giới chính trị lợi dụng, và
con người được gọi là nhà sư điên, chẳng bao lâu bị chính phủ thuộc địa chú ý,
do có tinh thần chống Pháp, xuyên qua các lời tiên tri của ông ta. Họ giam ông
vào nhà thương điên Chợ Quán trong mười tháng, và ông ta lại truyền giáo được
cho viên y sĩ điều trị, làm ông ta nổi danh hơn. Bị đặt vào tình trạng an trí
có kiểm soát ở Bạc Liêu năm 1941, các tông đồ của ông biến nơi an trí thành nơi
hành hương.Đến lượt người Nhật cũng tìm đến nhà sư này để che chở cho ông ta.
Tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ tạo một mặt trận chính trị hợp tác với Việt
Minh. Nhưng cũng không hơn gì giáo phái Cao Đài, sự kết hợp cũng chẳng kéo dài
được bao lâu. Ít lâu sau, Việt Minh và Hòa Hảo va chạm với nhau mạnh mẽ, và bắt
đầu một thời đại thanh trừng và tàn sát, mà người của Việt Minh đã tỏ ra vô
cùng man rợ. Tướng chỉ huy quân đội Hòa Hảo là một viên lơ xe, Trần Văn Soái,
nổi tiếng với tên là Năm Lửa. Có bộ râu cằm rất uy hùng, Năm Lửa nổi danh vì
vậy. Ông ta vừa hợp tác với Việt Minh, coi như đồng minh chính thức, để chống lại
quân đội Pháp, nếu không thì để đi ăn cướp, cho quyền lợi riêng của ông ta, và
năm 1947, cũng có đến gặp tôi ở Hong Kong. Vào tháng 4 năm ấy, Huỳnh Phú Sổ bị
bắt và bị Việt Minh hành quyết, nhưng cái chết của nhà sư này chẳng làm cho phe
ấy tan vỡ hay nhụt đi.Ít lâu sau, Trần Văn Soái liên kết với nhà binh Pháp, họ công nhận
Soái là Tổng tư lệnh quân đội Hòa Hảo, và phong cho hàm Thiếu tướng “một sao”.
Nhưng sự liên kết của Trần Văn Soái với Pháp không kéo nổi các thủ lãnh Hòa Hảo
khác trở về. Riêng có Lâm Thành Nguyên chỉ huy vùng Long Xuyên bằng lòng hòa
giải với Soái vào tháng 2 năm 1949. Sự hòa giải này chỉ có hình thức bên ngoài,
vì vẫn có những đụng độ, những thủ tiêu ám sát lẫn nhau và các màn ngoạn mục
khác nữa. Ba Cụt một thủ lãnh trẻ thuộc phe Hòa Hảo giữ trọn kỷ lục vì ông ta
nay đầu mai đánh đến bảy lần, rồi cuối cùng lại vào bưng.Đảng Bình Xuyên không giống hai giáo phái
nói trên. Cách Sài Gòn quãng 20km về phía Nam, có một vùng đất cằn cỗi, không
trồng trọt gi được. Có dăm ba cọc cù lao nhô lên giữa sình lầy rộng vài ngàn
hécta, nước mặn chát đầy mòng muỗi và rắn độc: đó là Rừng Sát. Nơi đó chứa đủ
hạng người sống ngoài vòng pháp luật, bọn tù vượt ngục, và tất cả những ai phải
lẩn trốn công an, cảnh sát. Bọn này lập ra thành một bang riêng biệt bầu các
viên thủ lãnh, thường tụ hội nhau trong một ngôi làng nhỏ là làng Bình Xuyên,
từ đó có tên gọi Bình Xuyên”,Một thủ lãnh của đảng “Mafia” này bỗng nổi tiếng từ 1945. Tên anh
là Lê Văn Viễn, thường nổi tiếng với tên gọi Bảy Viễn. Tù Côn Đảo vượt ngục,
anh ta là cựu đảng viên một đảng bí mật, rất được giới Hoa kiều ở Chợ Lớn kính
nể và từng bị Tây bắt nhiều phen. Được người Nhật giải thoát. Việt Minh vào
tháng 8 ân xá cho anh ta. Đối với vị tướng cướp hiệp sĩ này, trên nguyên tắc
chỉ cho đánh cướp nhà giàu, mà không bao giờ đụng đến người nghèo, đây là cơ
hội bằng vàng. Vì vậy Bình Xuyên liên kết với Xứ ủy Nam bộ, để tham gia vào các
cuộc tấn công quân đội viễn chinh Pháp. Tháng 2 năm 1946 Bảy Viễn được bầu làm
Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu, anh ta trở thành chống đối
với viên Tư lệnh Cộng sản miền Nam khét tiếng là Nguyễn Bình. Đầu năm 1948, sự
đụng độ nẩy lửa nổ ra công khai. Trong một cuộc phục kích tận diệt Bình Xuyên,
Bảy Viễn nhanh chân chạy thoát, liền liên kết với quân đội Pháp. Được phong làm
Đại tá, anh ta đem quân bản bộ giữ an ninh cho vùng Chợ Lớn.Khi tôi trở về nước, tôi chỉ mới biết có những nhân vật Cao Đài,
qua các quý vị Hộ pháp Phạm Công Tắc, Bác sĩ Lê Văn Hoạch, và ông Trần Quang
Vinh, vốn phụ trách trông coi Tòa Thánh, trong khi Hộ pháp bị đi đầỵ. Cả ba vị
này đều đã đến yết kiến tôi tại Hong Kong, có cả Trần Văn Soái, là viên tướng
Hòa Hảo.Nay tôi vào Sài Gòn vào đầu năm 1949, cả ba hệ phái này, đồng
thanh, mở đại tiệc để đón mừng tôi. Trong bữa tiệc, tôi được gặp phụ thân của
Huỳnh Phú Sổ, một nhà điền chủ giàu có, và trong bài diễn văn của tôi đọc vào
cuối bữa tiệc, tôi ca ngợi những đức tính của “Nhà sư điên” qua ông cụ này,
theo như truyền thông của Việt Nam xưa. Cũng trong dip này, tôi đươc gặp Bảy
Viễn, lúc ấy đã hợp tác với Thủ tướng Trần Văn Hữu!Tôi nhận lời mời của ba đảng phái này, vì họ có thực lực, để tạo
nên một lực lượng hữu hiệu. Cao Đài đóng quân ở vùng Tây Ninh, ở Thủ Dầu Một, ở
phía Bắc Sài Gòn, ở mặt giữa và sườn phía đông thành phố, và ở khắp vùng Cà
Mau.Hòa Hảo đóng ở vùng Châu Đốc, Cần Thơ, Long Xuyên, Chợ Mới, còn
Bình Xuyên ở vùng Sài Gòn-Chợ Lớn. Đó là một hệ thống quan trọng mà tôi không
thể bỏ qua. Khi đến thăm tôi tại Hong Kong, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã thề trung
thành với tôi và tự nguyện đặt dưới quyền điều động của tôi. Vì vậy, khi tôi về
nước, tôi không ngần ngại kêu gọi đến ông ta, đành rằng cũng có một vài điều
thất vọng đối với phần tử vũ trang của giáo phái này, nhưng phần lớn họ có ảnh
hưởng tốt đẹp với nhân dân.Do thế, tôi đến Tây Ninh, vào thăm Tòa Thánh Cao Đài và được Giáo
chủ Phạm Công Tắc với đầy đủ chức sắc của Tòa Thảnh đón tiếp tôi. Đến Cần Thơ,
kinh đô của Hòa Hảo, Tướng Trần Văn Soái giới thiệu tôi với vợ ông ta là bà Lê
Thị Gấm là nữ tướng đã tạo nên một đội nữ binh, rất ghê gớm, mà nhiệm vụ là bảo
vệ các kho tàng và chiến lợi phẩm của giáo phái.Tôi đã can thiệp nhiều lần với Tướng Boyer De La Tour phụ trách
miền Nam, để tiếp viện quân sự cho các giáo phái được hùng hậu hơn nữa. Vấn đề
viện trợ quân sự này đã gây ra nhiều khó khăn quan trọng. Chính vì vậy, có thể
là do sự tiếp tế vũ khí cho quân đội Cao Đài không được chấp nhận, nên Tướng
Chanson khi thay Tướng Boyer De La Tour, và Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành,
đã bị ám sát ở Sa Đéc ngày 31 tháng 7 năm 1951, trong một cuộc phục kích do
Trình Minh Thế, tướng phụ tá của Phạm Công Tắc điều khiển.Khi được tin này, tôi nghiêm cấm Hộ pháp phải bị cưỡng bách an trí
tại Tòa Thánh trong sáu tháng, cho đến ngày ông ta phải xin yết kiến tôi để thú
nhận rằng, đã bị bọn quân nhân dưới trướng làm bừa.Ngày 20 tháng 6, Tướng Xuân, theo như các điều khoản đã định, đệ
đơn xin giải nhiệm toàn thể chính phủ của ông.Ngày 3 tháng 7, tôi bổ nhiệm ba vị Thủ hiến cho ba kỳ. Nguyễn Hữu
Trí ở Bắc Việt, Phan Văn Giáo ở Trung Việt, và Trần Văn Hữu ở Nam Việt. Cả ba
đều đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quốc trưởng.Ngày 12 tháng 7, tôi trở về Huế là cố đô của Việt Nam mà tôi rời
bỏ đã bốn năm qua. Tôi đọc một diễn văn vào ngày 14 tháng 7, trước cửa Ngọ Môn,
nơi đó đã tập trung rất đông dân chúng. Lạ lùng sao, đám đông này như thấy một
mặc cảm tội lỗi đối với tôi. Vì không phải là sự nồng nhiệt mà tôi thấy họ mừng
vui như ở Sài Gòn, và ở Hà Nội. Dân chúng ở kinh thành như có vẻ ngượng ngùng
đối với tôi, ngay khi tôi lái xe đi trong thành phố. Hình như họ đã hốì hận, do
bốn năm trước đã gây ra sự thoái vị của tôi. Chắc chắn trong tai họ còn văng
vẳng lời tuyên ngôn thoái vị của tôi, cũng ở nơi này, vào tháng 8 năm 1945.Rất cảm động, tôi lại gặp lại mẫu thân tôi, chưa rời bỏ kinh thành
Huế, mà suốt trong thời gian vắng mặt của tôi, vẫn cam phận chịu đựng, để làm
tròn bổn phận thờ cúng tổ tiên, không bao giờ xao lãng.Tôi kết thúc cuộc thị sát các thủ đô ở Hà Nội vào ngày 16 tháng 7.
Trước Nhà Hát Lớn, tôi đọc một bài diễn văn nhấn mạnh về các vấn đề xã hội và
kinh tế “Chính phủ do tôi lãnh đạo, Cố gắng hoàn tất một chương trình canh tân
xã hội, nhằm đặt căn bản cho một chế độ quốc gia công bình và nhân ái”.Tôi kể ra một số các biện pháp nằm trong chương trình ấy: đưa gạo
miền Nam ra Bắc, vì miền Nam thừa lúa gạo, xây cất các nhà rẻ tiền để xóa bỏ sự
thiếu hụt nhà cửa ở miền Bắc, nhất là ở Hà Nội mà 12 ngàn ngôi nhà đã bị phá
hủy trong thời đầu chiến tranh năm 1946, canh tân vấn đề nông nghiệp ở miền Nam
theo những phương pháp khoa học, kỹ nghệ hóa cấp tốc miền Bắc, khai thác sâu
đậm lâm sản và hải sản ở miền Trung, hoàn hảo các hệ thống giao thông, tổ chức
ngành hàng hải thương nghiệp… Tôi nhấn mạnh đến hình thức xã hội của công cuộc
tái thiết:- Luật lao động sẽ được ban bố, quỹ bảo hiểm xã hội được đặt ra,
và sự hợp tác chặt chẽ giữa chủ vá thợ, hay giữa vốn đầu tư lao động là càn bản
của một xã hội công bình…Tôi cũng loan báo những biện pháp khác: Canh tân tổ chức thôn quê,
phổ biến những ý thức thông dụng về vệ sinh, phát triến công dân giáo dục, giúp
đỡ các gia đình nghèo khó, mở rộng giáo dục phổ thông, phát triển nền học vấn
chuyên nghiệp, cử người đi du học ngoại quốc đông đảo. Sau khi lưu ý rằng cần
phải bảo vệ nền văn hóa cổ truyền, chúng ta vẫn thanh toán các nạn mê tín dị
đoan, tôi lên tiếng kêu gọi các thanh niên như sau:- Trong công cuộc rộng lớn này, thanh niên đóng vai trò quan
trọng, và dân chúng là nền tảng của quốc gia, mỗi một hành động của chính phủ
đều phải nhằm vào sự nâng cao đời sống chọ nhân dân.Và tôi kết luận:- Nếu chúng ta biết đoàn kết, dân chúng sẽ được hưởng kết quả tốt
đẹp của sự hy sinh, các anh hùng liệt sĩ của chúng ta sẽ thấy rằng sự hy sinh
tính mạng của họ cho Tổ quốc không phải là vô ích.Lời nói cuối cùng của tôi được tất cả mọi người hoan nghênh và
phất cờ nhỏ cầm nơi tay. Cuộc biểu dương này đã tập hợp khoảng 50 ngàn người,
và họ đứng riêng từng làng, từng khu phố. Họ diễn hành trước mặt tôi và các
nhân viên chính phủ gần một giờ đồng hồ mới hết.Sự đi thị sát kinh đô đã thành công mỹ mãn, và gây cho Việt Minh
một trái đấm nặng nề. Các đồng minh của họ cũng ý thức được rõ ràng như vậy,
nên cố gắng phản pháo để phá đám. Vì vậy, đảng Xã hội Pháp trong cuộc đại hội
kỳ thứ 41 đã ra lời tuyên bố vào ngày 17 tháng 7 như sau:“Đảng Xã hội nhận thấy rằng đường lối chính trị ở Việt Nam theo
đuổi đến ngày nay, vẫn chẳng đem đến sự ổn định nào cho tình thế bi đát của đất
nước này. Vì vậy, sự thận trọng theo dõi hoạt động của chính phủ là đúng. Các
khuôn khổ cho hòa bình vẫn còn xa, đồng thời sự hy vọng hợp tác đầy tín nhiệm
và lâu dài giữa hai dân tộc Pháp và Việt cũng còn lâu mới đạt. Đảng Xã hội nhắc
lại rằng lúc nào chúng ta cũng đòi hỏi sự chấm dứt hận thù bằng phương thức
điều đình với tất cả các phe nhóm của dân tộc Việt Nam, không trừ một ai”.Lời nhắn nhủ ấy, rõ ràng không còn lầm lẫn gì nữa, chính là để hỗ
trợ cho Hồ Chí Minh, và như để trả lời với một chút thận trọng từ từ, đối với
lời tuyên bố của Tướng De Gaulle trong cuộc họp báo ngày 29 tháng 3, vào đứng
hôm sau ngày tôi trở về nước:“Nước Pháp, tôi xin nhắc lại, chỉ coi bản thân Hoàng đế Bảo Đại là
người có căn nguyên chính thống của chủ quyền Việt Nam. Nước Pháp đã ký các
hiệp ước với tổ tiên ông ta. Nước Pháp sở dĩ ở Đông Dương là do các hiệp ước ấy
vẫn còn hiệu lực. Thế nhưng cần nhất Bảo Đại phải ở ngôi để cầm quyền, và dưới
sự lãnh đạo của ông ta, phải thiết lập một chính phủ có đủ khả năng để điều
khiển nước Việt Nam”.Lời tuyên bố của nhân vật cô đơn ở làng Colombey này, nhân danh
nước Pháp mà nói ra quả là một lời “tấn phong” vô cùng quí giá…Tất nhiên sau lời tuyên bố ấy, vốn tiếp nối với lời tuyên bố ngày
28 tháng 2, trong đó vị tướng lãnh này, sau khi nhắc lại rằng: “đối với nước
Pháp, Hoàng đế Bảo Đại giữ căn nguyên chính thống về chủ quyền quốc gia...” lại
nhẩn mạnh thêm:“Điều kiện thứ ba về giải pháp Đông Dương là phải kết thúc giữa
Pháp và Việt Nam bằng một hiệp ước ấn định rõ ràng sự bang giao để thay thế tất
cả các hiệp ưởc cũ. Hiệp ước này phải đặt nước Việt Nam trong vị trí độc lập,
và trong khuôn khổ bất khả phân ly của Liên hiệp Pháp, liên hiệp này chỉ có một
đường lối đối ngoại duy nhất và một nền quốc phòng chung, dưới trách nhiệm hoàn
toàn của nước Pháp”.Hiệp ước ấy, tôi đã ký kết ngày 8 tháng 3 năm 1949. Tất nhiên đối
với De Gaulle, và người Pháp, đó là điểm kết thúc, nhưng đối với tôi và nước
Việt Nam, nó lại chỉ là điểm khởi đầu. Ai có thể trách được chúng tôi, trách
được chính tôi? Bởi vì, thẳng thắn mà nói thế nào là độc lập quốc gia khi nó
không được quyền tự chủ về ngoại giao và cả sự bảo vệ lãnh thổ?Thật sự ra, nếu tôi có chút hậu ý gì, tôi cũng chẳng cần phải thắc
mắc tí gì. Há tôi chẳng từng được biết, khi tôi còn tạm trú ở Paris, rằng Tướng
De Gaulle mà ngày nay cho rằng tôi là người duy nhất giữ chủ quyền chính thống
quốc gia của Việt Nam, đã có một quan điểm khác biệt về tôi, vào năm 1945. Ông
đã ngỏ ý trong tập hồi ký của ông:“Về mục đích có thể cần thiết, tôi có một dụng ý kín đáo. Đây là
để cho cựu Hoàng đế Duy Tân có phương tiện xuất đầu lộ diện, nếu kẻ kế vị ông
ta, cũng là người bà con là Bảo Đại cuối cùng tỏ ra bất lực, và bị thời thế
vượt qua. Vua Duy Tân bị Pháp truất phế năm 1916 và trở thành Hoàng thân Vĩnh
San, bị đày ở đảo Réunion, trong thế chiến vừa qua đã phục vụ trong quân đội
của chúng ta. Ông ta mang cấp bậc Thiếu tá. Đó là một nhân vật cứng cỏi. Vài ba
chục năm đi đầy đã xóa đi tâm hồn dân tộc Việt Nam của vị quốc vương này…”Đây chính là những lời tuyên bố chính trị đã được dạy trong cuốn
sách Prince (Quân vương) của Machiavel.Cuối tháng tám, ông Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải
ngoại, bất khả thay thế, đến thăm tôi. Ông ta nói xa xôi cho tôi hiểu là kể từ
ngày tôi trở về, thái độ của tôi làm cho Paris lo ngại. Chính phủ có cảm tưởng
là tôi đã không quan tâm đến họ nữa, là tôi không hoàn toàn áp dụng các điều
khoản đã ký kết. Khi mới tới, ông Coste Floret đưa cho tôi một bức thư của Tổng
thống Vincent Auriol, đề ngày 27 tháng 7, phản ảnh sự lo ngại đó.“Chính phủ của Cộng hòa Pháp quốc đã chính thức nhận được bản
thông điệp của Hoàng đế, nói về sự thành lập chính phủ Việt Nam để chịu trách
nhiệm thi hành các điều khoản của hiệp định mùng 8 tháng 3, đặt cơ cấu quốc
gia, ấn định các biện pháp canh tân cấp tốc, sửa soạn và duy trì hòa bình, và
khi hòa bình được phục hồi, tổ chức trưng cầu dân ý cho thế chế chính trị và
tìm hình thức nhất định cho chính phủ.“Chúng tôi tin chắc rằng Hoàng thượng sẽ hoàn tất các công tác ấy
một cách mỹ mãn.“Về phần của chúng tôi, chính phủ của Cộng hòa Pháp quốc đã đem
hết các cố gắng cho mục đích ấy, và chúng tôi đã giúp Hoàng thượng một cách đầy
đủ và thành thực để thi hành thỏa hiệp giữa Hoàng thượng với chúng tôi.“Thật sự, chính phủ chúng tôi trong dịp đàm phán trung thực này,
đã thỏa mãn tất cả các nguyện vọng quốc gia của dân tộc Việt Nam, như những
nguyện vọng mà chính Hoàng thượng từng tuyên bố vào năm 1945 cũng như những lời
tuyên bố về thời ấy, của chính phủ thực tế Hồ Chí Minh.“Nền thống nhất của Việt Nam đã được Quốc hội Pháp bỏ phiếu chấp
thuận và luật của nước Pháp ghi nhận sự thay đổi qui chế cho xứ Nam kỳ.“Nền độc lập của Việt Nam đã được công nhận trong bản thỏa hiệp
mùng 8 tháng 3 năm 1949 bởi chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.“Sự bang giao giữa Việt Nam và Pháp, trọng Liên hiệp Pháp đã được
giải thích rộng rãi và rõ ràng, theo các điều khoản của Hiến pháp, hầu bảo đảm
nền thịnh vượng chung và sự quốc phòng chung là cần thiết hơn bao giờ hết, đối
với mọi bất ổn, rối loạn hay sự lo âu của toàn thế giới.“Như vậy việc tranh chấp bằng vũ khí, dù được bào chữa là để thực
hiện những nguyện vọng quốc gia, không còn lý do tồn tại nữa. Nền hòa bình, vẫn
từng khát vọng, do dân chúng Việt Nam cũng như nước Pháp, nằm ở trong tay dân
chúng Việt Nam, và chỉ ở trong tay họ mà thôi.“Chắc chắn, thưa Hoàng thượng, một không khí tin cậy, hữu nghị, chân
thành và thẳng thắn trong sự hợp tác có lẽ cũng phải được thực hiện trong các
quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp.“Công cuộc để thực hiện, là do chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, và
chính tôi, với tư cách Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc, kiêm Chủ tịch Liên hiệp
Pháp, chúng tôi xin bảo đảm về việc thi hành toàn diện, thẳng thắn các hiệp ước
đã ký kết.“Ông Cao ủy đã nhận được chỉ thị để trao cho chính phủ của Hoàng
thượng, các cơ sở này từ nay thuộc trách nhiệm của chính phủ Việt Nam quản trị,
và đặt dưới quyền điều hành của Hoàng thượng các nhân viên và các chuyên viên,
mà Hoàng thượng muốn, và cho đến bất cứ lúc nào, mà Hoàng thượng thấy cần
thiết.“Các tướng lãnh quân đội sẽ giúp đỡ Hoàng thượng sự hợp tác của
họ, để đặt nền móng tổ chức và huấn luyện đạo binh Việt Nam, dưới quyền điêu
khiển của chính phủ của Hoàng thượng, để cùng hoạt động trong nỗ lực bảo vệ an
ninh chung, cùng với quân đội của chúng tôi.“Tôi củng xin xác nhận về phần tôi, nhân danh chính phủ Cộng hòa
Pháp quốc, theo điều khoản của bức công hàm ngày 22 tháng 5 năm 1949, theo đó
tôi đã tuyên bố là sẵn sàng chấp nhận các đại sứ, các bộ trưởng đặc mệnh toàn
quyền và các sứ thần được Hoàng thượng đề cử đi công cán đến các quốc gia đã
được nhìn nhận bằng hiệp ước của đôi bên, đồng thời chấp nhận cùng với Ngài
những đại sứ, bộ trưởng đặc mệnh toàn quyền, và sứ thần của các nước ngoài cử
đến bên Ngài.“Ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Cộng hòa Pháp quốc sẽ hỗ trợ,
theo những điểm đã dự trù làm phương tiện ghi trong hiệp ước mùng 8 tháng 3 năm
1949, trước khoáng đạí Hội đồng Liên hiệp quốc (ONU) đơn của nước Việt Nam xin
được gia nhập vào tổ chức quốc tế quan trọng này, hầu nhờ Liên hiệp Pháp và sự
liên kết của toàn thế giới, để bảo đảm cho nền độc lập, sự an ninh và biên giới
của quốc gia.“Sau hết, thật là điều đại hạnh cho chính phủ của Cộng hòa Pháp
quốc và niềm hân hoan của chính cá nhân tôi, đã được nghe lời tuyền bố cao
thượng của Hoàng thượng, rất đáng khâm phục là Hoàng thượng cam kết long trọng
trao vào tay dân chúng Việt Nam, sau khi đất nước thanh bình và được tổ chức
chu đáo, sự lựa chọn qui chế theo hiến định, lựa chọn đường hướng chính trị và
chính phủ của họ.“Nếu về tổ chức thống nhất đất đai, và do cuộc trưng cầu dân ý ấy,
dân chúng Việt Nam quyết định hợp nhất đề ngừng mọi hận thù, sự đó, chúng tôi
xin nhắc lại, chỉ do họ mà thôi, chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và cả tôi nữa,
chúng tôi rất vui sướng được trông thấy bằng phương pháp hoà bình, sự phục hưng
của nước Việt Nam, và sợi giây thân ái phải thắt chặt lại nền thịnh vượng và sự
an ninh chung của hai nước chúng ta.“Nếu không được như vậy, dù có được thỏa mãn thực sự những nguyện
vọng đã đạt được lúc ban đầu giữa cuộc tranh chấp này, còn một số người hay một
số hành vi chính trị hoạt đầu, cho những mục tiêu trá ngụy, bằng những lý do
ngoan cố, đấy chính là họ đã muốn đẩy nước Việt Nam vào sự cô lập để đưa nó vào
những số phận mỗi ngày một rõ ràng, mà dân chúng Việt Nam sẽ mở mắt ra, vì đã
có một thời bị lợi dụng rồi.“Chúng tôi muốn tin rằng sự đó sẽ không phải như vậy.“Dù sao nữa, Hoàng thượng chắc chắn đầy hảo ý với chính phủ của
Hoàng thượng vì với các sắc dân bị tan tác, và tàn phá bởi chiến tranh, chính
phủ Cộng hòa Pháp quốc không bao giờ bỏ dân chúng Việt Nam cũng như các nước
liên kết trong sự cô lập ghê gớm ấy, và trước những sư phiêu lưu đáng sợ, trong
đó các dân tộc sẽ bị tước mất nền độc lập, và những tự do mà con người được
quyền hưởng dụng. Nước Pháp không bao giờ bỏ họ, và nếu cần, sẽ cùng với chính
phủ bảo vệ họ, với sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, đối với mọi áp bức ngoại lai,
để bảo vệ nền độc lập và sự an ninh, nếu họ bị đe dọa.“Chính trong tình thân ấy, mà chính phủ Cộng hòa Pháp quốc và tôi
nữa, chúng tôi xin hợp tác theo lời kêu gọi mà Hoàng thượng đã gởi cho các đảng
phái chính trị, các nhà trí thức, chính trị và tôn giáo, cũng như cho toàn thể
dân chúng thành thị hay thôn quê, đang bị thử thách nặng nê, để thực hiện ý chí
chụng là: hòa bình, kiến thiết và thịnh vượng.“Chúng tôi tin cậy đối với nỗ lực của Hoàng thượng cũng như với nỗ
lực của chính phủ của Ngài, hầu đặt các mục tiêu đã được nhắc đến trong bức thư
này, và để báo cho toàn thể nhân dân giữa nơi đồng ruộng đến làng mạc du xa
xôi, rải rác khắp nơi trong mọi tổ chức tự hạ tầng cơ sở.“Tôi xin Hoàng thượng hãy nhận nơi đây, cho toàn thể dân chúng
Việt Nam, tình hữu nghị thân thiết của dân chúng Pháp đối với họ cũng như đối
với Hoàng thượng lời chúc tụng vô cùng nồng hậu”.Bức thư được Thủ tướng Henri Queuille cùng các Bộ trưởng Robert
Schuman, Paul Coste Floret, Paul Ramadier đồng ký dưới.Câu cảnh cáo đã được nhắc một cách rõ rệt:… Nếu không phải
là như vậy…, Chúng tôi muốn tin rằng không phải là như vậy…Để làm dịu sự lo âu của chính phủ Pháp, ngày 28 tháng 8, tôi cho
công bố một thông điệp, trong đó chính phủ Việt Nam tái xác nhận ý chí dẹp Cộng
sản, và đảm bảo rằng chính phủ không có sự đồng tình nào với Việt Minh cả.
Ngoài ra, sau khi báo trước rằng chính phủ sẽ cử đại sứ đến Hội đồng Tối cao và
bên Đại hội đồng Liên hiệp Pháp, chính phủ Việt Nam tái yêu cầu nước Pháp giúp
đỡ.Tuy nhiên, ông Coste Floret, đã chẳng thu thập được gì bên các
cộng sự viên của ông ta, khi trở về Pháp, đã đưa hai bức thông điệp cho Hội
đồng Bộ trưởng ngày 13 và 23 tháng 9. Ông ta không giấu tình thế tại Đông Dương
vẫn đáng quan ngại trước mắt ông ta: Không có sự hồi chánh nào từng được dự trù
đã xảy ra, tình hình quân sự vẫn nghiêm trọng, các cuộc bàn cãi để thiết lập
các thể thức thực hành vẫn bế tắc. Nói với các nhân viên nội các ông ta phê
bình:- Chính phủ Bảo Đại luôn luôn vẫn đặt giá quá cao, chỉ nói đến
tính chất tiến bộ của hiệp ước mùng 8 tháng 3. Ta có thể nghi ngờ thiện chí của
Bảo Đại về việc lãnh đạo này…Cuối tháng tám, Tướng Carpentier thay thế Tướng Blaizot cầm đầu
đoàn quân viễn chinh Pháp.Trong thời gian đó, nơi trú ngụ của tôi ở Đà Lạt đã trang bị xong
xuôi. Một vài công tác kiến thiết đã được sửa sang tại căn biệt thự cũ để tôi
có thể làm việc với mấy tay thân cận chính: Bửu Lộc làm Chánh văn phòng, Nguyễn
Đắc Khê cố vấn kỹ thuật, Vĩnh Cẩn là tùy viên. Nhưng căn biệt thự đó, gần như cô
lập giữa một đồi thông, không lấy gì làm lớn lắm, vì vậy các nhân viên văn
phòng khác phải làm việc trong các công ốc của viên Khâm sứ Trung kỳ cũ.Khi tôi đến Đà Lạt, tôi lấy làm ngạc nhiên được gặp lại một khuôn
mặt cũ trong con người ông Cousseau, một viên chức ngành cai trị từng đóng vai
sứ giả của Cao ủy Bollaert, khi tôi còn ở Hong Kong. Ông ta ở trong một biệt
thự của Cao ủy với một viên chức khác, một người lai Pháp có tên là Faugere.
Tôi mới rõ sau khi đó, là hai vị này đã được ông Pignon đặt ở đây, để phục vụ
tôi, và cũng để kiểm soát tôi nữa…Sự đó không làm tôi phật ý. Trái lại nữa. Cousseau vẫn giữ nguyên
thái độ khi còn ở Hong Kong, và thường sang thăm tôi và để chuyện trò. Vì vậy,
qua ông ta, tôi được biết một điều bêu riếu ở Paris, hình như đã làm rung động
nền Cộng hòa đến tận gốc rễ. Điều đó cũng có những tiếng vang sâu đậm ở Việt
Nam đó là Vụ các tướng lãnh.Sau khi hoàn tất nhiệm vụ ở Đông Dương, Tướng Revers đã thảo một
bản tường trình quan trọng. Đã dùng những biện pháp cực kỳ đặc biệt để bảo vệ
tính chất “tối mật,” theo từ ngữ quân sự, của tờ trình đó. Bản tài liệu có chứa
đựng, dĩ nhiên nhiều bí mật quân sự, và đề ra những phương thức rõ rệt để chỉ
huy các cuộc hành quân, đồng thời phê bình nghiêm khắc đường lốì chính trị của
chính phủ ở Đông Dương. Số bản được phân phôi rất hạn chế, và mỗi bản đều được
người cầm tay mang đến, có ký nhận phản hồi.Thế mà, rất nhanh chóng bí mật của tờ trình Revers trở thành bật
mí. Cuối tháng tám, toàn thể nội dung tờ trình được một đài phát thanh lậu đặt
ở Miến Điện bật tung ra. Đài Tiếng nối Việt Nam, cơ quan tuyên truyền của Việt
Minh, mấy ngày sau cho phát thanh lại.Điều ô nhục nổ ra giữa ban ngày ban mặt, trong một cuộc xô xát bên
bãi chờ buýt ở Paris, giữa một người thương binh từ Đông Dương trở về, với một
người mang quốc tịch Việt Nam. Trong chiếc cặp của anh này, thật là sự trùng
hợp lý thú cảnh sát tìm thấy một bản sao của tờ trình Revers. Ngoài ra còn thấy
được một cuốn sổ ghi địa chỉ, và nhiều câu ghi chú về sự trở về nắm quyền của
Bảo Đại, cũng như những tham vọng của Tướng Mast, lúc ấy là Giám đốc Viện
Nghiên Cứu Đại học Quân sự của bộ Quốc Phòng.Vụ này cho thấy địch đã khiêu khích ngay trước mũi, và vấn đề được
khai thác triệt để. Nhờ cuốn sổ ghi địa chỉ, nhiều cuộc khám bắt đã xảy ra ở Pháp,
ở đâu cũng tìm thấy những bản sao của tờ trình. Chỉ riêng có tôi là người độc
nhất không bao giờ có nó dưới tay mà thôi. Sự tẩu tán đã được chuyền đi theo ba
ngả: ngả cho một chính khách Pháp; ngả cho Việt Minh, nhưng cũng cho luôn một
nhóm người Việt có liên lạc với Tướng Xuân. Những nhân vật vừa lạ lùng vừa mờ
ám đã lần lượt lọt lưới, và cuộc điều tra còn khám phá ra một hình thức ô nhục
khác nữa: Nhiều tấm chi phiếu quan trọng đã được phân phối cho các nhân vật dân
sự cũng như quân sự Pháp. Tại sao, và do đâu mà có cái quỹ ấy?Người ta không bao giờ biết chắc chắn được điều đó, vì công việc
đã rơi và thất bại, ngoại trừ đối với hai Tướng Revers và Mast mà công danh sẽ
bị bẻ gãy.Tuy nhiên, một buổi chiều, khi gặp tôi, Cousseau báo cho tôi một
tin chưa bao giờ thú vị đến thế:- Câu chuyện bến xe buýt, cũng như các bản sao của tờ trình, hay
ít ra một phần của bản sao, sổ địa chỉ… tất cả sự đó chỉ là một sự ngụy tạo
hoàn toàn. Người làm ra kế hoạch này, một viên thiếu tá vô danh, đã chỉ huy ở
Paris một cơ sở tình báo thuộc về bộ Pháp quốc Hải ngoại, là phòng chuyên môn
liên lạc và phối hợp, gọi tắt là BTLC (Bureau Technique de Liaison et de
Coordination).Và Cousseau với nụ cười láu lỉnh, đã kết luận sự tiết lộ kia:- Chúng ta đã nắm được họ rồi!Rồi ông ta giải thích:- Bản tường trình của Revers có chứa đựng nhiều điều nhận xét sắc
bén đặc biệt, vừa dưới khía cạnh quân sự vừa dưới khía cạnh chính trị ở Đông
Dương. Nhưng nó kéo chính phủ phải lật ngược lại với chính sách vẫn có từ
trước. Thứ nhất đoàn quân viễn chinh không phải đi đánh nhau vì cần thiết. Thứ
hai, sự suy thoái về quyền năng đã đưa đến mâu thuẫn giữa văn và võ làm tê liệt
sự chỉ huy. Thứ ba, “giải pháp Bảo Đại” do chính phủ nặn nên chỉ là một miếng
mồi để đánh lừa. Trước hết bởi vì nó có một tiếng xấu về tham nhũng, và nhất là
người ta chỉ có thể chấm dứt chiến tranh bằng cách điều đình với kẻ đã gây ra
chiến tranh là Việt Minh. Kết luận: củng cố binh bị và cương quyết chống lại
cuộc chiến tranh du kích, tập trung tại chỗ cả hai quyền văn và võ để đặt dưới
quyền chỉ huy một người duy nhất, nên hiểu là một nhà binh, bởi mình đang đánh
nhau. Trở lại dự định có mầu không tưởng của Tướng Leclerc, kẻ được điều đình
là Hồ Chí Minh chứ không phải Bảo Đại. Người được chỉ định hoàn tất nhiệm vụ,
chính là Tướng Mast.Tôi ngắt lời ông ta:- Nhận định của tôi cũng không xa mấy với một số nhận định mà ông
ta đã gán cho là của Tướng Revers. Đồng ý là đánh nhau ở đây không phải là vấn
đề cần thiết, và người ta cũng không có thể làm gì để cho chúng tôi một đạo
quân quốc gia được. Đồng ý là ở trên hết, cần có một người rất mạnh, vừa có
quyền năng chính trị lẫn quyền năng quân sự. Điều mà tôi không thể hiểu, đó là
những luận điệu đả kích của Tướng Revers đối với giải pháp hiện tại. Trước hết,
không phải là giải pháp Bảo Đại mà phải nói rằng giải pháp của chính phủ Pháp
mới đúng. Vì nếu là giải pháp Bảo Đại, thì sự việc lại đi theo chiều hướng
khác… Thế rồi, trên căn bản nào mà Tướng Revers có thể nói được rằng “giải
pháp” ấy vốn nổi tiếng tham nhũng ghê gớm? Khi ông ta rời Sài Gòn ngày 15 tháng
6, thì tôi mới từ Pháp về Việt Nam chưa được một tháng.- Dù sao nữa, Cousseau nói tiếp, ông Pignon không thể chấp nhận
được luận cứ của Tướng Revers, luận cứ này rất chắc chắn sẽ làm hại cho một
chương trình vốn được xây dựng nên một cách khó khăn, và sẽ đưa Đông Dương
xuống dốc. Theo ý thức trách nhiệm của ông, ông đã phản ứng theo kiểu của ông.Đến bây giờ, tôi cũng không rõ sự tiết lộ của Cousseau, có thật sự
và hoàn toàn nói lên căn bản của vấn đề hay không. Tôi ngờ rằng, còn có nhiều
uẩn khúc lắt léo khác nữa, nhằm thanh toán lẫn nhau, nhưng đó lại là việc của
nước Pháp, không phải của tôi.Dù sao nữa, sau khi được biết trong cuộc điều tra, tôi nhận thấy
quả là không phải chỉ Việt Nam mới giữ độc quyền tham nhũng. Nhiều chứng cớ
khác nữa đã được trình cho tôi biết, kể từ ngày thiết lập nền đô hộ của Pháp,
đã có truyền thống là các đảng phái chính trị Pháp tìm cách vung bón cho quỹ
đen của họ ở Đông Dương bằng những chiến dịch, mà nhiều vụ thô bạo nhất, không
cần giấu diếm đã bất chấp cả hình thức hợp pháp nữa.Trong thời gian này, tôi nhận được một bức thư của Đức Cha Lê Hữu
Từ, Giám mục ở Phát Diệm, mà tôi đã từng dự lễ tấn phong ông ta vào năm 1945,
thay mặt Hồ Chí Minh, khi tôi là cố vấn tối cao chính phủ. Chính ông ta, sau đó
cũng được cử làm cố vấn tối cao tôn giáo của Hồ Chí Minh. Với chức vụ đó, ông
ta đã lập được trên địa phận của mình, một giáo khu, mà ông ta giữ trọn cả
quyền năng tôn giáo lẫn quyền năng cai trị. Nhà tu khổ hạnh, sư huynh Maire
Ansehen Thade ngự trị như thủ lãnh tuyệt đối trong đời sống tinh thần lẫn thể
xác của mọi giáo dân. Ông ta có quân đội, có tài chánh, tư pháp, và riêng cờ
thánh của Vatican phất phới trên khắp các làng thuộc giáo khu. Nhân vật mà
Graham Greene mô tả như một “người rất nghiêm nghị, có cái đầu nhỏ như đầu khỉ,
với vẻ mặt u sầu và suy tư” đã giữ một điểm chiến lược rất quan trọng, vì đóng
trấn ở cửa ngõ bắt buộc đưa các đoàn vận tải tiếp tế từ Thanh Hóa ra cho Việt
Minh.Giám mục Lê Hữu Từ có nhiều mối lo âu, y như đồng nghiệp của ông
ta là Giám mục Phạm Ngọc Chi cai quản địa phận Bùi Chu. Đây là một nhân vật rất
tháo vát, cũng có những mối ưu tư cho riêng mình và cho các con chiên về đời
sống tinh thần của họ. Việt Minh bắt đầu đè nặng lên hai giáo xứ này mỗi ngày
một chặt chẽ thêm. Nhiều đám thủ tiêu, ám sát, mặc dù bọn tự vệ đã hoạt động
mạnh, nền an ninh cứ mất dần. Thế nhưng cha Lê Hữu Từ lại ghê tởm quân đội
Pháp, bởi thế, ông ta cầu cứu đến tôi. Lần tiếp xúc đầu tiên, tôi gửi đến cho
ông ta một sĩ quan nhảy dù xuống Phát Diệm đó là Đại úy Nguyễn Văn Vỹ, trá hình
làm nông dân. Thỏa hiệp được chấp thuận nhanh chóng.Vài ngày sau, Nguyễn Văn Vỹ cùng với hai đại đội nhảy xuống Phát
Diệm. Để che mắt Việt Minh, Giám mục Lê Hữu Từ cho dàn quân đối địch, ở vệ
sông. Khi quân nhảy dù tới, bọn dân quân tự vệ bắn nhiều phát súng chỉ thiên.
Người của Nguyễn Văn Vỹ cũng bắn xối xả lên trời, và mở cuộc xung phong. Làm
giả bộ đã chống trả mãnh liệt, để bảo vệ giáo khu trung lập, Cha Lê Hữu Từ đành
phải chấp nhận đã thua trận, và ký một thỏa hiệp với đại diện của tôi.Quân đội viễn chinh Pháp của Tướng Alexandre kéo đến, do hai đại
đội dù Việt Nam mở đầu đóng vai trò tiền phong, bắt đầu giải quyết vấn đề: Binh
sĩ Việt Nam chịu để giáo dân chửi bới là Việt gian, nhưng cha Lê Hữu Từ cứ việc
tiếp thu súng đạn, vốn vẫn yêu cầu, để chờ quân Việt Minh trở lại, và tuyên bố
vẫn trung thành với cách mạng. Đó là mở đầu một loạt xoay sở, nay Sở mai Tề,
khi đầu khi đánh, nhưng các giáo khu miền Bắc dần dà đi sâu mãi vào sự chống
lại Việt Minh. Thật vậy, theo gương các giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu, các
giáo dân khác mà tổng số lên tới một phần năm dân số miền Bắc đều trang bị và
phát động phong trào Thánh chiến gọi là Liên tôn diệt Cộng.Sau khi tin chắc vào các sắc dân thiểu số miền Bắc, miền Trung và
miền Nam, nay lại đến các tầng lớp giáo dân Công giáo miền Bắc, vốn bắt buộc
phải tỏ lập trường nhưng dù là quốc gia họ vẫn phải giữ thái độ trung lập bề
ngoài. Bổn phận tôi trong những tháng tới là phải thu nhận được sự cam kết
tương tự ở các giáo phái ở miền Nam Việt Nam.Ngày 18 tháng 10, tôi trả lời bức thư của Tổng thống Vincent
Auriol viết cho tôi về tháng bảy, và tỏ cho ông sự đồng ý của tôi về điểm được
gia nhập vào Liên hiệp Quốc, mà ông đã đề nghị cùng tôi khi tôi cần đến. Tôi
cũng gửi cho ông Boisdon, chủ tịch Quốc hội của Liên hiệp Pháp, để báo cho ông
ta rằng, nước Việt Nam sẽ gửi đại biểu đến tổ chức này.Cũng trong tháng mười, tôi ra một sắc lệnh cải tổ nền tư pháp và
các tòa án Việt Nam. Sự cải tổ này được kèm theo danh sách các vị thẩm phán vào
nhiệm sở mới của họ.Vẫn trong tháng ấy, nước Việt Nam được chấp nhận vào Ủy ban Kinh
tế của Liên hiệp Quốc (ONU) ở Viễn Đông.Có lẽ do hậu quả “vụ các tướng lãnh” mà Nội các Queuille đổ vào
ngày 28 tháng 10. Ông Georges Bidault được đề cử lập nội các mới. Một nhân vật
vô danh thay thế ông Coste Floret ở bộ Pháp quốc Hải ngoại là ông Jean
Letourneau, một người thuộc đảng MRP (Mặt trận Cộng hòa Dân chủ của De Gaulle).Vào hạ tuần tháng mười một, tôi tiếp ông Malcolm Macdonald, Cao ủy
Anh tại Thái Bình Dương, ông này khi trở về Singapour ngày 24 tháng 11 đã tuyên
bố như sau:- Tất cả các nhà lãnh đạo ở Đông Dương, đều đồng ý quan điểm là
kết quả của giải pháp không phải chỉ có vấn đề quân sự. Nó phải là chính trị.
Do thế, giá trị đặc biệt dính liền vào các nỗ lực đàm phán vẫn đang tiến hạnh.
Yếu tố quan trọng nhất đã đưa quảng đại quần chúng hỗ trợ cho chính phủ Bảo Đại,
chính là sự tin tưởng mỗi ngày một lớn của họ đối với Hoàng đế Bảo Đại, do hiệp
ước ký được với nước Pháp, để đem lại hòa bình, tự do, chủ quyền quốc gia và sự
công nhận quốc tế đối với dân tộc Việt Nam.Từ mùa thu, quân đội của Mao Trạch Đông tiến gần đến biên giới
miền Bắc Việt Nam. Ngày 30 tháng 11, Cộng sản Tàu chiếm đóng Trùng Khánh, cựu
kinh đô của Tưởng Giới Thạch. Kéo dài hơn 20 năm, mục đích tối cao của Cộng sản
Trung Hoa đã đi đến đích. Đối với thế giới Tây phương, đây là một câu chuyện ra
ngoài tưởng tượng. Lúc khởi thủy, đây là cuộc Vạn lý trường chinh, một cuộc bôn
tẩu chạy lên miền Bắc. Ngày nay, đó là sự tràn ngập về phương Nam, quân đội của
Tưởng chạy trước, quân của Mao đuổi phía sau. Không một phát súng, không một sự
bỏ xót nào. Chẳng có gì cản nổi được. Tất nhiên là trừ đường biên giới của Bắc
kỳ.Trong số các tướng lãnh Pháp, chắc chắn ai đã từng biết khá rõ về
Á châu - nhưng chưa bao giờ biết đến sự nổi dậy của nước Tân Trung Hoa này -
hẳn đã dự đoán rằng, khi quân đội của Cộng sản tới biên giới miền Bắc Việt Nam
sẽ là một yếu tố của trật tự. Nhưng dần dà, giới chức ở bộ Tham mnu đâm ra lo
ngại. Đại tướng Carpentier nằm trong phòng lạnh, bỗng giật mình khi tưởng tượng
đến đạo quân của Lâm Bưu, viên tướng nổi tiếng nhất của Hồng quân Trung quốc,
đưa tay ra bắt với đoàn quân của Giáp và yểm trợ cho Giáp. Cuối tháng mười một,
Hồ Chí Minh đã trao đổi thông điệp với Mao Trạch Đông.Nhưng trước khi lo ngại đến quân của Lâm Bưu, thì nay lại là quân
của Pai Chung Si, một lãnh chúa quân phiệt cuối cùng chạy đến biên giới. Lúc ấy
Tưởng Giới Thạch đã chạy ra Đài Loan rồi. Pai Chung Si vẫn còn chiến đấu đằng
sau sông Dương Tử. Nay ba trăm ngàn quân của ông ta tràn ngập các chân núi ở
Quảng Tây, trong một sự hỗn độn mạnh không một ai này thoát. Viên lãnh chúa đề
nghị với Pháp xin được hợp tác với quân đội viễn chinh Pháp để chiến đấu ở miền
Bắc Việt Nam. Nhưng Lâm Bưu cảnh cáo người Pháp ngay, nếu không chịu tước khí
giới bọn thổ phỉ của Pai Chung Si, khi đến biên giới, thì chính Lâm Bưu sẽ đến
thẳng Việt Nam để tước khí giới bọn quân này.Ban tham mưu Pháp quên bẵng mất cuộc tấn công của Giáp vào cuối
tháng mười, Việt Minh đặt tên là chiến địch Lê Lợi, một vị Hoàng đế Việt Nam về
thế kỷ 15, sau nhiều năm chiến đấu du kích trong rừng sâu, đã thành công thâu
hồi được đất nước. Nay chỉ còn một vấn đề: Người Tàu, dù là Cộng sản hay Quốc
gia, thế thôi.Sự hoang mang đó chứng thực cho tôi biết, sự bất lực và thiếu
cương quyết của người Pháp. Rất có thể họ mong cho quân Cộng sản Tàu giết hết
bọn Quốc gia này, trước khi đến được biên giới…Người Pháp đã không thể hiểu, nên không nghĩ được rằng tới lúc mà
Tàu Đỏ để lộ bộ mặt đế quốc của họ. Người Pháp không nhìn thấy lập luận, theo
kiểu Mao Trạch Đông phải là Việt Minh tự tay đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt
Nam. Không cần biết hậu quả, sau khi đặt xong vững chãi chế độ bằng một cuộc
thanh trừng tuyệt đối, không ai có thể tưởng tượng ra được bộ mặt thật và sự
tàn nhẫn của họ, mà chỉ riêng tôi là biết được.Thế nhưng, khẳng định với bạn đồng minh Pháp của mình như thế để
làm gì? Họ cũng không thèm cho tôi biết những biện pháp mà họ đối phó nữa? Thế
mà đó là việc của Việt Nam, đó là tương lai của Việt Nam, mà tôi lại là Quốc
trưởng.Thật sự, như tôi đã nói với Cousseau, cũng như không ngớt nói với
các nhân vật đối thoại với tôi trong những tuần lễ kế tiếp, rằng nước Việt Nam
đang sống trong giải pháp cuối cùng của Pháp chứ không phải
là bằng giải pháp Bảo Đại.Thay vì tôi phải nắm lấy vận mệnh của nước tôi, tôi đành phải ký
với ông Pignon, ngày 30 tháng chạp, các bản phụ ước cụ thể, nhằm thực thi việc
bàn giao giữa các giới chức Pháp với các nhà chức trách Việt Nam, theo như thỏa
ước ngày 8 tháng 9 ngoại trừ các cơ sở thuộc ngành công an và cảnh sát.Ngày cuối năm, tôi gửi một bức thư cho Tổng thống Vincent Auriol,
nhân danh cá nhân tôi và dân tộc Việt Nam, để cảm ơn ông về việc ký kết bàn
giao cơ sở. Tôi kết luận như sau:“Phúc đáp bản thông điệp mà Tổng thống có nhã ý gửi cho.tôi trong
dịp này, tôi hân hạnh được chia xẻ lòng tin tưởng của Tổng thống đối với tương
lai của hai nước chúng ta, đã liên kết chặt chẽ cho công tác hòa bình. Nước
Việt Nam rất sung sướng được tham dự vào cuộc thịnh vượng chung của Liên hiệp
Pháp và vào sự vinh quang của hai quốc gia”.Quân đội Quốc gia Việt NamĐầu năm 1950, sau tám tháng cầm đầu chính phủ, mặc dù bị rất nhiều
chống đối gieo rắc chông gai, tôi có cảm tưởng là chưa đến nỗi bỏ mất thời gian
vô ích. Cuộc đặt nền móng hành chánh Việt Nam rất tiến đạt, điều làm tôi quan
tâm nhất chính là việc kiến tạo một đạo quân quốc gia. Cuộc thảo luận về quân
sự sẽ họp vào ngày 2 tháng giêng tại Vũng Tàu, coi như là bước khởi đầu.Cho đến năm 1948, tại Việt Nam mới chỉ có một số cơ cấu quân sự
địa phương, không được tập trung, loại địa phương quân của các viên tỉnh
trưởng. Toàn thể quân số không hơn 20 ngàn người, và giá trị cũng chênh lệch vô
cùng. Sau thỏa ưởc ở vịnh Hạ Long, chính phủ lâm thời đã đặt được sự thỏa thuận
để ấn định quân số tương đối, sự hình thành một đạo quân Việt Nam. Nhiệm vụ của
đạo quân này là phối hợp với lực lượng quân đội Pháp, tái lập lại an ninh và
bảo vệ lãnh thổ.Chương trình dự định là sẽ có hai loại quân: một loại cố định,
đóng tại chỗ tương đương với lính bảo an với quân số khoảng 20 ngàn người, và
một loại cơ động khoảng 16 ngàn người, chia ra làm ba lữ đoàn. Từ đó, sẽ lập ra
một đạo quân tự trị, và song song với nền hành chánh trung ương để cùng được
thành lập.Vào tháng 6 năm 1949, ít ngày sau cuộc trở về của tôi, quân lực
Việt Nam lúc ấy đã có khoảng 23.000 người, trong đó có hai lữ đoàn quân chính
qui - mà hai đại đội đã nhảy dù xuống giáo khu Phát Diệm vào mùa thu - thêm vào
đấy 18.000 quân trừ bị tạm thời nữa. Thỏa ước mùng 8 tháng 3 đã đặt căn bản cho
một qui chế thực sự của đạo quân quốc già, mà những thỏa hiệp hay những giao
kết sau này, chì là sự giải thích hay áp dụng tùy theo trường hợp mà thôi.Qui chế ấy nói rõ về tính chất của quân lực Quốc gia Việt Nam: Sự
hình thành là do người Pháp giúp đỡ, trong thời có chiến tranh, nó phải phụ
thuộc vào một viên tướng Pháp, sự cấu tạo một Uỷ ban quân sự hỗn hợp vĩnh viễn,
và cuối cùng sự bảo đảm căn cứ và dồn trú cho lực lượng quân đội của Liên hiệp
Pháp sau khi hòa bình được vãn hồi.Thỏa hiệp quân sự được ký ngày 30 tháng chạp năm 1949 với ông
Pignon, giải thích các nguyên tắc ấy. Ngoài ra, sự thỏa hiệp cũng nhấn mạnh về
phần của Việt Nam trong việc duy trì đạo quân ấy với sự góp phần của nước Pháp:
cung cấp dụng cụ và trang bị, cung cấp sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp và huấn luyện
các cấp chỉ huy Việt Nam.Trong hoàn cảnh hiện tại, một điều khoản đặc biệt được dành cho bộ
Tư lệnh Pháp để sử dụng lực lượng quân sự Việt Nam, và sự kiến tạo một Uỷ ban
Tối cao nhằm vào đường lối chung để tái lập trật tự. Vẽ quân số điểm chính là
tăng quân số lên thành 50.000 người, trong đó có tám tiểu đoàn đặt dưới quyền
sử dụng của chính phủ trung ương.Hội nghị ngày mùng 2 tháng giêng đặt nguyên tắc tăng cường quân số
này cho năm tới là 30 ngàn quân chính qui, gồm 12 tiểu đoàn và 35 ngàn quân trừ
bị. Nó cũng dự trù thành lập Hải quân quốc gia Việt Nam, dưới hình thức các
giang đỉnh, và dự trù được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ sau này.Theo dự tính của tôi, một thời hạn tám năm là đủ, để chúng tôi có
thể hoàn toàn thay thế được quân đội Pháp bằng quân lực của Việt Nam. Tôi đã dự
trù sự thành đạt này vào khoảng năm 1958. Nhưng trong lãnh vực ấy, công việc
đối với tôi như đã đi đúng đường hướng, và tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi có thể
rời bỏ nhiệm vụ lãnh đạo chính phủ, để dành thời giờ làm nhiệm vụ lãnh đạo quốc
gia, một cách dễ dàng hơn. Việc đảm trách cả hai nhiệm vụ này chỉ là sự cần
thiết để tái lập quyền hành cho chính phủ. Ngày nay thì công việc đã được hoàn
tất. Vì vậy, ngày mùng 5 tháng giêng, tôi ban bố một thông cáo trong đó, tôi
nhắc lại nhiệm vụ của tôi là đặt cơ cấu cho quốc gia và cho nền cai trị của
quốc gia Việt Nam, rằng nước Pháp qua vị đại diện là ông Pignon đã trao trả
Việt Nam tất cả mọi quyền hành, tôi báo tin sự rời bỏ chức vụ lãnh đạo chính
phủ của tôi, và do thế bãi bỏ toàn thể nội các ấy.Ngày hôm sau, với cương vị Quốc trưởng, tôi đề cử ông Nguyễn Phan
Long lập tân chính phủ. Nguyễn Phan Long, bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính
phủ của tôi đã đặc biệt thành công trong công tác của ông ta, vì đã đạt kết quả
đưa nước Việt Nam vào Uỷ ban Kinh tế của Liên hiệp quốc ở Á châu và Viễn Đông,
để có thể tiến thêm bước nữa mà vào thẳng Liên hiệp Quốc (ONU).Cũng ngày hôm ấy, tôi cử 12 đại biểu cho Việt Nam vào Quốc hội
Liên hiệp Pháp, trong số đó có Phạm Văn Bính coi như là Trưởng phái đoàn.Tất cả mọi hoạt động đó, nếu không được dư luận Pháp chú trọng đến
nhiều thì ngược lại, đã gặt hái được nhiều kết quả trong dư luận quốc tế. Ngày
11 tháng giêng, tờ báo Times viết như sau: “Sau khi Hoàng đế Bảo Đại trở về Việt Nam, những nhà ái quốc
có lập trường quốc gia vốn e ngại Ngài vẫn chỉ là một thứ bù nhìn trong tay
Pháp, nên không mấy sốt sắng để tôn phò Hoàng đế, mặc dù họ rất thù hận đối với
chế độ đàn áp của Hồ Chí Minh, và đảng Việt Minh thiên Cộng sản. Thái độ ấy nay
thay đổi hẳn. Dân chúng Việt Nam nhận thấy rằng các vị trí then chốn trong
chính phủ Bảo Đại đều do các đồng bào mình đảm trách, rằng Vua Bảo Đại thật sự
là chủ nhân ông đất nước, và quân đội Việt Nam dù được lực lượng quân sự Pháp
yểm trợ, vẫn cầm đầu cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích của Hồ Chí Minh.“Vua Bảo Đại đang từ từ liên kết được mọi người. Ngài đã mở rộng
ảnh hưởng đến những vùng trù phú lúa gạo ở Nam kỳ; ngay tại miền Bắc mà Việt
Minh mạnh nhất, Ngài bắt đầu tạo được ảnh hưởng của mình. Điều này một phần là
do Ngài được Pháp dần dần nhượng bộ nhiêu để thỏa mãn các nguyện vọng quốc gia
của toàn thể dân chúng Việt Nam. Chính phủ của Ngài đã có quyền gửi đại diện
ngoại giao riêng biệt ra các nước ngoài, và trong nước thì chủ quyền quốc gia
được hoàn toàn, ngoại trừ một số đặc ân dành cho quân đội Pháp. Ngay chính
Hoàng đế cũng đã từ bỏ nhiệm vụ Thủ tưởng, và bắt đầu làm việc trong một nội
các theo kiểu của Pháp...”Ngày hôm sau, tôi đi bằng máy bay ra miền Bắc để thăm các sắc dân
thiểu số của vùng Hoàng triều cương thổ. Đầu tiên, đến Lạng Sơn là nơi cửa ngõ
của Việt Nam với Trung Hoa. Sau đến vùng thượng du ở Lai Châu. Tôi được viên
Quan lang Đèo Văn Long, kiêm nhiệm chức chủ tịch Liên hiệp các sắc dân Thái Mèo
đón tiếp. Ông này vốn là truyền nhân của Sơn vương Đèo Văn Trì, về thế kỷ
trước, từng làm run sợ dân chúng hiền hòa Lào. Long có ảnh hưởng rộng lớn chẳng
những đối với người Thái trắng ở Lai Châu, và còn cả với người Thái đen ở Sơn
La. Đây là một khu vực rộng lớn gồm toàn núi và rừng trong đó còn có người Yao
và Mèo, chiếm đóng hoàn toàn vùng tây bắc thượng du miền Bắc.Sự thăm viếng của tôi đối với các sắc dân này, theo truyền thống
hiếu khách cổ xưa, tạo nên những ngày hội hè để chào đón, với nhiều thú vui của
dân gian. Lai Châu mang hình thái tươi vui của ngày hội. Rượu ủ lâu năm từng vò
tuôn ra như nước chảy, và các thiếu nữ Thái diêm dúa trong những chiếc váy bằng
lãnh đen, áo sơ-mi cổ viền trắng, có các đồng trang sức bằng bạc. Họ múa xòe và
chỉ ngưng lại để nhấm mứt gừng, rồi lại múa nữa liên miên.Sự đón tiếp vừa long trọng vừa mộc mạc đó, làm cho tôi rất ấm lòng
và tin tưởng. Hơn nữa, Đèo Văn Long và người em là Đèo Văn Muôn, hứa với tôi sẽ
thành lập nhiều tiểu đoàn Thái để tạo nòng cốt cho đạo quân mới sơ sinh của
tôi. Như vậy, vào giờ phút mà những sự xâm nhập qua biên giới miền Bắc là đầu
đề chính để chúng tôi lo ngại thì sự trấn đóng của các đạo quân Nùng khét tiếng
của Vòng A San ở địa đầu miền Động Bắc, và đạo quân người Thái trung thành ở
miền Tây Bắc này, tạo cho tôi những cơ cấu khá yên tâm. Tôi trở về Đà Lạt rất
hài lòng.Tại Paris, đây là lần đầu tiên, đại diện của chúng tôi can thiệp
vào Quốc hội của Liên hiệp Pháp, đang thảo luận về dự án đạo luật nhằm duyệt y
các hiệp ước ký kết giữa các quốc gia liên kết của Việt Nam, Cam Bốt và Ai Lao
cùng nước Pháp. Sự duyệt y này sẽ do Nghị viện Pháp biểu quyết vào ngày 26
tháng giêng năm 1950, trong đó, ông Devinat phát ngôn viên của Hội đồng Lãnh
thổ Hải ngoại tuyên bố như sau:- Những tiến bộ đã không thể chối cãi. Vua Bảo Đại đã có thể di
chuyển rất bình an trong những tỉnh lớn của nước ông. Sự trở về với tân chính
phủ mỗi ngày mỗi nhiều, trong sáu tháng gần đây, đặc biệt đối với miền Bắc, ở
vùng Bạch Mai, Lào Kay, và Lạng Sơn, ở miền Nam trong các tổ chức Cao Đài và
Hòa Hảo.(Cần đặc biệt lưu ý là những diễn biến tháng mười vừa qua đã cho
thấy sự qui hồi của 200.000 giáo dân Phát Diệm, ở về phía đông nam Hà Nội.
Chính lãnh tụ của họ, Đức Cha Lê Hữu Từ lần này đã phải cầu cứu đến sự che chở
của Vua Bảo Đại. Và cũng chính một đơn vị lính dù Việt Nam đã được ủy nhiệm
nhảy xuống giải phóng và che chở cho tập thể quan trọng dân chúng này. Sự trở
về đó đã tạo cho chính phủ Việt Nam một ảnh hưởng tâm lý rộng lớn. Nó thúc đẩy
lớp giảo dân đoạn tuyệt hẳn với Việt Minh)“… Như thế, những cam kết của Vua Bảo Đại đã được thực hiện. Những
nỗi e ngại có thể ngờ từ lúc đầu về sự nhu nhược của nhà Vua đã được giải tỏa.
Chính phủ của ông đã được thành lập. Những điều khoản cần thi hành trên các
hiệp ưdc đều được ký kết. Quyền hành trước kia ở trong tay Pháp thì nay đã trao
trả lại cho nhà Vua. Ông đã có thực lực trong tay, và chứng tỏ đã biết sử dụng
thực lực ấy.“Tân chế độ đã tăng trưởng được uy tín, và bành trướng được quyền
hành một ngày một mạnh, để có thể tự mình, với đạo quân quốc gia của mình, đảm
trách được nhiệm vụ khó khăn là vãn hồi được trật tự trên đất nước. Thêm vào
đấy nữa, đó là cảm tưởng của những quan sát viên quốc tế, mang từ Đông Dương
về, vốn từ lâu vẫn nghi ngờ về sự khoe khoang nội lực của chúng ta lẫn của nhà
Vua.Lấy ngay lời lẽ mà Chủ tịch Liên hiệp Pháp, viết trong bức thư đề
ngày 27 tháng 7 là Hòa bình nằm trong tay dân chúng Việt Nam, và chỉ
nằm trong tay họ, nước tân Việt Nam chỉ còn chờ sự duyệt y của các
hiệp định, để mang về cho dân chúng do Hoàng đế Bảo Đại lãnh đạo, chứng tích
của sự trưởng thành của đất nước”.Trong dịp tranh luận ở Nghị viện, tân bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải
ngoại, ông Jean Letourneau không ngớt can thiệp nhiều lần. Trả lời các nghị sĩ,
ông đã chứng tỏ rằng việc lựa chọn Hoàng đế Bảo Đại làm người trung gian đàm
phán đã gạt ra ngoài mọi điều đình với Việt Minh. “Quyền năng của Hoàng đế do
thiên mạng, và đo uy tín của hoàng triều mà có được. Uy quyền mà ông đảm trách
hàng ngày càng vút lên cao trong những tháng gần đây, nền cai trị của ông càng
thêm hữu hiệu và hơn nữa, những cam kết của ông, đã tiến đạt đến chỗ, có thể mở
được một cuộc trưng cầu dân ý, một khi hòa bình được vãn hồi, để đưa đến một
nền dân chủ cho đất nước”.Một nghị sĩ đã nói đến những khó khăn mà gần đây, nước Việt Nam đã
được Trung Hoa công nhận. Ông Letourneau trả lời: Vấn đề ngoại giao giữa Tàu và
Việt Nam, chỉ có thể thực hiện được, do sự chấp nhận chung của Việt Nam và Pháp
sau cuộc họp bàn của Hội đồng Tối cao Liên hiệp Pháp. Mặt khác, các lãnh sự
quán Trung Hoa hiện nay đang có mặt ở Việt Nam tạo những dữ kiện có lợi cho chủ
quyền nội bộ Việt Nam, và là yếu tố quan trọng cuối cùng để chính phủ Việt Nam
được Mao Trạch Đông công nhận.Cuối phiên họp, ông Letourneau nhấn mạnh đến sự tương đồng, và
những mối quan ngại của các nước Tậy phương, qua nhiều thế kỷ, đã thiết lập
bang giao với nhiều nước ở vùng Đông Nam Á:- Nước Hòa Lan vừa giải thích ở Hội nghị La Haye mối liên lạc mới
của họ với các nước Nam Dương. Tại Hội nghị Colombo, các nước thuộc khối Hoàng
gia Anh cũng được giải thích về mối bang giao này, như nước Ấn Độ hay
Pakistan.., Vậy thì, sự chuẩn y các hiệp định ngoại giao của nước Pháp cũng
được dựa theo hình thái của nước Hòa Lan và Anh quốc.Rồi ông kết luận bản tường trình cửa ông như sau:- Việc gia nhập cuối cùng mà chúng ta hy vọng ở các nước Đông
Đương vào Liên hiệp quốc, sẽ là điểm chót của nền độc lập, để thỏa mãn tất cả
mọi nước đều mang một mộng ước dân chủ như nhau. Nước Pháp để cho ba nước Liên
kết ở Đông Nam Á tự đảm đương lấy trách nhiệm hoàn toàn của họ. Từ nay nó chỉ
còn hiện diện để bảo vệ họ đối với những đe dọa bên ngoài. Nước Pháp chỉ còn ở
đó, để giúp đỡ họ, bằng những cố vấn, hay bằng những kỹ thuật gia để giúp đỡ họ
qua những điều vật chất và kinh tế, để tái thiết mọi điều đổ nát, để xây dựng
một nền hòa bình nội bộ, và để phát triển mọi sự mở mang…Các nước Liên kết mới của chúng ta này phải dành mọi nỗ lực để tổ
chức trên bình diện quốc gia, một lực lượng cao lớn để có thể thoát sự nhờ vả
vào chúng ta hầu kiến thiết đất nước. Để chấm dứt một lần vĩnh viễn, đối với
những nghi ngờ bất công là chúng ta không có thực ý, hay lấy lại cái mà chúng
ta đã cho, sự chuẩn y các hiệp định này có một giá trị không thể so sánh, trên
toàn bán đảo Đông Dương cũng như toàn Liên hiệp Pháp ở hải ngoại. Cử chỉ ấy,
vẫn được dư luận thế giới, từ nhiều năm qua chú trọng đến. Đã từ lâu, người ta
vẫn muốn chấm dứt, nhanh chừng nào hay chừng ấy, là đáp ứng nguyện vọng của dân
chúng Đông Dương. Nay cửa đã mở do hiệp định này, địa hạt ngoại giao cũng như
vào tổ chức Liên hiệp quốc, để có thể được sự trợ giúp hỗ tương quốc tế.Nhưng thật sự người ta đã bỏ phí đi mất bốn năm quí báu, và tất
nhiên điều gì đã nói ra ở Paris dù thiện chí đến mấy vẫn không phải lúc nào
cũng có những tiếng vang trung thực. Vì vậy, mặc dù có lời tuyên bố long trọng
của Nghị viện, lẽ ra là một đạo quân hoàn toàn quốc gia Việt Nam, người ta vẫn
nói là lai Việt Pháp và cũng không phải đây là điều mâu thuẫn đáng kể nhất, cho
lời nói ở Paris khác với việc làm ở Sài Gòn, mà còn nhiều người Pháp, nghĩ
rằng, mục đích cần thiết, dù hiệp ước có ký, vẫn là để đặt nước Pháp ở lại Đông
Dương.Dù sao nữa, thì sự việc cũng đã xảy ra, và tôi rất lấy làm hài
lòng, khi được Anh quốc công nhận ngày 7 tháng 2 cùng với Hoa Kỳ, rồi ngày 2
tháng 3 do nước Xiêm và ngày 12 tháng 3, do Tòa Thánh Vatican. Về phía Việt
Minh, họ được Trung Cộng của Mao Trạch Đông công nhận và sau đó ngày 31 tháng 1
được Nga Sô công nhận. Cộng sản quốc tế trên tất cả các nước, đứng chung vào
một khối…Dù sao nữa, họ cũng có phản ứng ở Pháp. Vài tháng sau, tôi được
biết đầu tháng 3, cảnh sát Pháp nghe phong phanh một dự mưu của một nhóm cực
tả. Chúng định bắt cóc Hoàng thái tử Bảo Long, và dùng làm con tin để đánh đổi
tôi phải rút lui, nhường chỗ cho Hồ Chí Minh. Hoàng tử sau niên học đã ghi danh
vào học trường Roches ở Masselac, trong miền cao nguyên Hautes Pyrénées lập tức
được Tòa Đô chánh bảo vệ trước, sau được đưa vào một tu viện trong vùng.Khi tôi được tin Tòa Thánh đã công nhận nền độc lập của Việt Nam,
tôi được hai Giám mục Phát Diệm và Bùi Chu báo tin ngay bằng thơ. Rồi sau đó,
hai Cha ra Hà Nội gặp tôi ngày 23 tháng 3. Tôi hiểu hoàn cảnh của hai vị lúc
ấy. Việc nuôi một đạo quân tự vệ rất tốn kém đối với các ông… Vì vậy, mặc dù bị
Nguyễn Hữu Trí, thủ hiến Bắc Việt, không mấy tán thành, do một đạo dụ, tôi cho
phép hai ông được rộng quyền ít nhiều trong việc quản trị giáo khu, và thêm một
trợ cấp mỗi tháng là 300.000 đồng nữa.Quyết định này gặp phải phản ứng của nhóm Đại Việt, là nhóm cầm
quyền ở Bắc Việt mà Nguyễn Hứu Trí là một lãnh tụ.Phan Huy Quát, Lê Thăng và Nguyễn Tôn Hoàn đệ đơn từ nhiệm vào
ngày 24 tháng 3. Việc trợ cấp cho các giáo khu gây một hậu quả khác nữa. Phạm
Công Tắc, khi biết tin, cũng đến gặp tôi để yêu cầu một sự hỗ trợ cho quân đội
Cao Đài. Vị Hộ pháp Cao Đài này chỉ xin được trông thấy một nhân vật của ông
ta, được đặt vào vị trí bộ trưởng bộ Tài chánh, hay bộ trưởng bộ Quốc phòng.
Theo ý kiến của ông ta, sự bổ nhiệm này tương đương với một sự hỗ trợ bằng hiện
vật.Tình hình miền Nam làm tôi rất quan ngại. Người ta nhận thấy một
sự gia tăng của khủng bố. Trong tháng tư, viên chánh mật thám Bazin bị ám sát
chết. Do một thân nhân của mình đang ở trong kháng chiến, Nguyễn Phan Long đã
muốn tìm cách tiếp xúc với Nguyễn Bình là tướng trong chiến khu ớ miền Nam Việt
Nam. Thế nhưng, sự mong muốn tiếp xức này, đã chẳng đi đến đâu, mà ngược lại,
lại đẩy viên tướng Việt Minh đến chỗ mạnh tay hơn.Việc thẳng tay khủng bố ở Sài Gòn đã có một ảnh hưởng tai hại;
dưới hình thức mù quáng, là một hành động vừa dễ dàng lại vừa đắt giá đối với
Việt Minh.Tôi cương quyết yêu cầu Cao ủy để chính tôi nắm quyền chỉ huy cảnh
sát. Sau nhiều buổi thảo luận, hai ông Pignon và Perrier đồng ý chấp nhận lời
yêu cầu này. Theo chỉ thị của tôi, Trần Văn Hữu liền bổ nhiệm Nguyễn Văn Tâm
làm bộ trưởng An ninh. Ông này được tiếng là “Cọp xám Cai Lậy,” liền hoàn tất
nhiệm vụ của mình bằng một công tác khả quan, và hệ thống khủng bố của địch bị
tan rã lần lượt hết. Trong công tác ấy, vấn đề tình báo là yếu tố quan trọng
bậc nhất.Tất nhiên, là những tin tức đem đến cho viên chức chỉ huy tình báo
Việt Nam vẫn dễ dàng hơn đối với nhân viên Pháp.Ngày 24 tháng 4, nội các Nguyễn Phan Long bị suy yếu vì bốn bộ
trưởng thuộc đảng Đại Việt, phải đệ đơn từ chức.Vào tháng 4, do dụ mang số 6, tôi đặt vào đầu tỉnh các viên tỉnh
trưởng người Việt để thay thế các cựu công chức người Pháp. Tôi củng bổ nhiệm
vào các vùng Cao nguyên, Hoàng triều cương thổ, những người có trách nhiệm
thuộc các sắc dân thiểu số ở nơi đó. Như vậy, đã đặt ở vùng Đồng Nai thượng,
vùng Lang Biang, Pleiku, Darlac, Kontum đối với miền Nam và miền Trung Việt
Nam. Vùng Phong Thổ, Lạng Sơn, Hagiang, Lao Kay, Backan, Cao Bằng, Hòa Bình,
Hải Ninh, Lai Châu và Mongcay ở miền Bắc Việt Nam, để giữ những nét độc đáo của
những tỉnh ấy. (Xin xem phụ đính V)Đối với ba tỉnh miền Cao nguyên miền Nam, tôi bổ nhiệm ba viên
chức người Pháp, là ông Riener ở Pleiku, ông Doustin ở Kontum, và ông De
Pontiche ở Darlac, Đại tá Didelot đại diện cho tôi bên cạnh họ.Vào đầu tháng 6, để hoàn tất nội các, tôi bổ Nguyễn Đệ làm Chánh
vằn phòng của tôi. Thế là giữa hai chúng tôi, đã có sự trở về để gặp lại nhau.
Năm 1932, khi tôi về nước cầm quyền, thì Nguyễn Đệ là một thanh niên trẻ tuổi,
tây học mà tôi muốn dùng để canh tân xứ sở. Nhưng người Công giáo rất trung tín
này, vốn thân với Ngô Đình Diệm rất bực mình thấy thực dân Pháp quá bủn xỉn,
nên đã từ chức cùng với họ Ngô. Từ đó, ông ta rất nổi tiếng trong mọi vấn đề mà
ông đã đạt, với tinh thần liêm khiết tuyệt đối. Được người Nhật biết đến, ông
ta không chịu hợp tác với Nhật nên vào thời ấy, đã cố gắng lẩn trốn để khỏi bị
khủng bố. Cho đến tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh vời ông ta ra làm cố vấn kinh
tế.Từ đó, ông ta bắt tay vào việc. Khi ông từ Âu châu trở về, ông ta
được Cao ủy Pignon, nhiệt liệt giới thiệu với tôi, chắc chắn là do ảnh hưởng
của Vatican.Tôi liền bổ nhiệm ông ta làm Chánh văn phòng dự khuyết, thay thế
cho Bửu Lộc, giữ văn phòng của tôi ở Paris. Vì ông ta được sự giới thiệu của
ông Pignon, tôi đâm cảnh giác: Phải chăng ông ta được đặt cạnh tôi để canh
chừng tôi?Sau đó ít lâu, tôi nhận thấy ông đảm trách công tác rất hoàn hảo,
vì vậy, tôi gọi ông ta đến và nói cho biết vị trí rất khó khăn của tôi. Nhiều
khi tôi phải dùng đến những biện pháp thật khó chịu, bất đắc dĩ vô cùng. Tuy
nhiên, tôi phải là người “không ai được đụng chạm đến”. Như vậy, tôi cần phải
có một người đóng vai hộ giá, để hứng chịu thay tôi mọi điều chỉ trích. Tôi
liền hỏi ông ta:- Nếu ông nhận đóng vai trò đáng ghét và bạc bẽo ấy, tôi sẵn sàng
giữ ông ở lại chức vụ Chánh văn phòng này… Nếu không, ông có thể rút lui, và
tôi đã nói hết lời.Người Công giáo rất nghiêm chỉnh này, không thể nào chờ đợi lâu la
để nghe lời đề nghị ấy. Trong gần cả thế kỷ, tổ tiên ông đã là những thần tử
khuôn mẫu của các tiên đế của triều đại. Vậy thì ông phải tỏ cho tôi biết, ông
là một cộng sự viên mà lòng trung thành không thể chối cãi được. Bất cứ ở đâu,
ông cũng theo tôi như bóng theo hình, làm các nhiệm vụ rất tế nhị và nhiều khi
khó khăn với một tinh thần và một tấm lòng xả kỷ, trong bất cứ trường hợp nào,
và cũng với đầy đủ tư cách, nhiều khi làm cho ông có khuôn mặt nghiêm trang của
kẻ dâng mình mang thập giá. Như vậy, giữa lúc mà chiến tranh đã lan rộng sang
Lào và Cao Miên, gieo rắc chia rẽ và hận thù, thì Việt Nam đã bắt đầu phục hồi
lại được thống nhất. Tôi đã kêu gọi các nhà trí thức, và một năm sau ngày trở
về chấp chính, tôi đã có một cơ cấu thống nhất và dính liền. Từ nay tôi đã có
thể chơi đủ ngón đờn dư luận: Với các gia đình Phật tử, tôi có Phạm Công Tắc,
giáo chủ Cao Đài. Tôi lại có ba khuynh hướng của đạo Hòa Hảo với Tướng Trình
Minh Thế, với Tướng Trần Văn Soái và viên phụ tá của ông là Ba Cụt, với nhóm
Bình Xuyên của Bảy Viễn, đối với bên Công giáo, tôi có Đức Cha Lê Hữu Từ và
Nguyễn Đệ, đối với các sắc dân thiểu số tôi dùng các đặc ân của Hoàng triều
cương thổ.
Hội nghị Paris
Ngày 20 tháng 6 năm 1950, tôi đi Pháp, bởi ở đó có một Hội nghị
Paris. Tôi đến phi trường Nice để đi Cannes, thăm gia đình. Tại đây tôi được
hai tin nóng hổi: Chiến tranh Triều Tiên, và sự đổ vỡ của chính phủ Georges
Bidault. Tin thứ nhất rất quan trọng bởi hậu quả của nó có thể có ảnh hưởng đến
khắp cả Viễn Đông. Cốn tin thứ hai, thì chẳng có gì để cho tôi quan tâm, bởi sự
bấp bênh của chính phủ Pháp vẫn là thứ thường xuyên kể từ năm 1945, vì lý do
tất yếu của sự yếu kém của nước Pháp.
Hội nghị Paris khai mạc từ 29 tháng 6, trong khi Pháp không có
chính phủ. Cần phải đợi đến ngày 11 tháng 7, để chính phủ mới Pleven của Pháp
được thành lập, hầu tìm thấy qua ông Jean Letourneau, trở thành tân Bộ trưởng
các nước Liên kết, một nhân vật chính thức có thẩm quyền về vấn đề này. Thủ
tướng Trần Văn Hữu theo tôi sang Pháp giữ vai trò đại diện cho Việt Nam ở Hội
nghị.
Ở Paris, Hội nghị liên quốc gia, đã tập trung các đại diện của
Việt Nam, của Cam Bốt, của Lào và của Pháp. Hội nghị nhằm giải quyết các vấn đề
quan thuế, ngoại thương, các vấn đề trang bị, và du nhập của ba nước Đông
Dương, đồng thời vấn đề đi lại trên sông Cửu Long và trong tương lai, cả qui
chế về cảng Sài Gòn.
Lúc đầu, dự định tối đa là một tháng, hội nghị kéo dài với rất
nhiều rắc rối và kết thúc vào ngày 27 tháng 11, sau năm tháng đấu khẩu và nói
chuyện cà kê dê ngỗng.
Cựu Toàn quyền Đông Pháp Albert Sarraut đến với tư cách trưởng
phái đoàn Pháp, được bầu làm chủ tịch hội nghị. Đối với tôi, tôi đã cố gắng né
tránh để đứng ngoài hội nghị.
Ngày 30 tháng 7, tôi bổ nhiệm Bửu Lộc làm Cao ủy của Việt Nam ở
Pháp. Rồi trước khi về Cannes để nghỉ ngơi ít ngày, tôi đến thăm Tổng thống
Vincent Auriol. Nhiều tiếng vang, và do nhiều nguồn tin đã báo cho tôi biết,
trước đây mặc dù với biết bao cố gắng tại chỗ của tôi, Tổng thống đã nhiều lần
tức giận về thái độ của tôi. Tổng thống đã gợi ý với nhiều người là cần phải
gạt tôi ra, để thành lập dễ dàng một chính phủ lâm thời dân chủ cộng hòa, hầu có
thể nói chuyện với Hồ Chí Minh và đưa ra những đề nghị hòa bình với ông ta.
Tuy nhiên, khi tiếp tôi, Tổng thống Auriol vẫn giữ thái độ niềm nở
cố hữu, và không tỏ gì là có sự thay đổi thái độ đối với tôi.
Tổng thống đã nhắc đến một bài báo của ông Maurice Duverger, nói
về Đông Dương, viết trên tờ Le Monde vào đầu tháng 7, bài báo mà Tổng thống cho
rằng có tính chất đầy tội ác, đã xác nhận là nước Pháp đã quyết định dành một
nỗ lực lớn lao, rồi nói cho tôi biết cảm tưởng của ông đối với nước Tàu của Mao
Trạch Đông và nhấn mạnh đến yếu tố mới mẻ do chiến tranh Triều Tiên gây nên.
Tổng thống kết luận tình bằng hữu và chúc cho hội nghị Paris - tôi luôn tự hỏi
lý do nào mà lại đặt hội nghị ở tỉnh này - chóng kết thúc vào đạt kết quả cụ
thể.
Ở Cannes, ngày 19 tháng 8, hai ông Letourneau và Pignon đã bất
chợt đến gặp tôi. Họ đến để bàn với tôi một vấn đề quân sự. Vấn đề này không
được sáng sủa cho lắm, như các bản thông cáo của bộ Tư lệnh Pháp đã tung ra.
Trên biên giới nước Tàu, các đạo quân Việt Minh được thành lập, trang bị, và
huấn luyện bởi các tay cộng sản Trung Hoa, và bắt đầu hoạt động mạnh. Điều làm
cho hai ông này lo ngại nhất, chính là sự bất đồng ý kiến giữa hai viên tư lệnh
Pháp, tức vị Tổng chỉ huy là Đại tướng Carpentier và vị Phó của ông ta ở miền Bắc
là Tướng Alexandri. Thế mà, gần đây, viên tư lệnh phó này lại được nghỉ ở
Cannes, trong một thời gian ngắn. Hai vị quí khách yêu cầu tôi khuyên giùm ông
ta nên bớt nóng đi, và bỏ mộng hạ bệ Việt Minh vốn là điều trái nghịch với ý
định của viên tướng của ông ta. Cũng phải nói thêm rằng Tướng Alexandri. lợi
dụng cơ hội về Pháp để loan rắc trong các giới Paris, những lý luận không đúng
với luận cứ mà người ta gán cho là của Sài Gòn. Tôi cho mời Tướng Alexandri và
theo như yêu cầu của vị bộ trưởng, tôi gợi ý cho ông ta nên trở lại Sài Gòn
càng sớm càng tốt.
Tôi chỉ được biết vài ngày sau đó, do bản thông cáo của ông
Pignon, là Tướng Cárpentier, trở lại các dữ kiện đã được đề ra từ 15 tháng
trước của Tướng Revers là bỏ hết các đồn binh dọc biên giới Trung Hoa, từ vùng
thượng du Bắc kỳ cho đến Lạng Sơn. Tôi không rõ có phải do ảnh hưởng của tôi,
mà Tưởng Alexandri lên đường trở về Hà Nội hay không, ở Paris người ta thở ra
nhẹ nhõm, nhưng cũng chẳng được bao lâu…
Nhân dịp nghỉ hè cho các niên học, tôi sang Ý cùng với Hoàng hậu
và các con. Thật vậy, Đức Giáo hoàng Piô XII vẫn hằng muốn tiếp kiến tôi dưới
tính cách tư. Tòa Thánh Vatican đã công nhận nước Việt Nam ngày 12 tháng 3 năm
1950. Ngày 4 tháng 9, Tổng giám mục Montini đón tôi trước cửa tư dinh của Giáo
hoàng, để đưa tôi vào gặp Đức Thánh Cha. Trước mặt toàn gia đình và Khâm mạng
R.P. Dooley, từ Sài Gòn sang về việc này, Giáo hoàng đã tiếp kiến tôi với tất
cả niềm ưu ái. Đức Giáo hoàng cảm tạ tôi đã giúp đỡ cho các giáo dân Việt Nam.
Ngài nói rằng, trong công cuộc chiến đấu chống lại vô thần cộng sản, tôi có thể
tin ở cộng đồng Công giáo Việt Nam được. Sau sự tiếp kiến này, mặc dù dưới hình
thức thân ái, vẫn tỏa ra sức mạnh của Đức Thánh Cha, chúng tôi cùng chụp một
bức ảnh của cả gia đình. Sau đó, chúng tôi thăm nhà thờ Saint Pierre vốn vẫn
nghiêm cấm đối với dân chúng, do đặc ân của Đức Giáo hoàng. Chúng tôi được
chiêm ngưỡng đài, tượng kỷ niệm vốn không bị dân chúng quấy rầy. Dành cho danh
dự của riêng tôi, người ta đã cho mở chiếc cửa bằng đồng.
Khi trở về khách sạn, tôi thấy có nhiều đám đông dân chúng tụ họp,
do cộng sản Ý tổ chức, để phản đối việc tôi đến Rome. Buổi chiều bộ trưởng Bộ
Ngoại giao Ý đến xin lỗi cho chính phủ của ông, về sự kiện này.
Chúng tôi trở về Pháp qua nhiều chặng nhỏ.
Về đến Cannes, tôi được biết tin đồn Đông Khê, sát biên giới Trung
Hoa đã bị mất. Kể từ lúc đó, những tin xấu kế tiếp nhau kéo đến không ngớt.
Việc rút ra khỏi Cao Bằng như trước đây, ông Pignon đã báo cho tôi biết, bắt
đầu từ mùng 2 tháng 10, đã gặp nhiều tai họa. Những tin đầu tiên đưa đến Paris
xác nhận là điều đáng sợ nhất, là quân đội Pháp đã lọt vào các ổ phục kích của
Võ Nguyên Giáp trên đường thuộc địa số 4. Những sư đoàn Việt Minh được thành
lập bởi Tầu cộng, đã có thật và đang chứng tỏ sự có mặt. Tất cả chiến lược của
bộ Tư lệnh Pháp đều sai lầm hết.
Được khuyến cáo cách đây hơn một năm do Tướng Revers, sự triệt
thoái dưới áp lực của đối phương, đã hoàn toàn thất bại và tất cả các đồn bốt
dọc biên giới đều phải bỏ cả. Ngay tại thị xã Thái Nguyên từng được xem như
kinh đô của Việt Minh, do Pháp chiếm lại tháng 9, cũng phải bỏ nốt, và cơn gió
hoang mang bắt đầu thổi… giao động hoàn toàn.
Chính phủ Pháp liền cử Tướng Juin đến tận nơi công cán, đi cùng
với Bộ trưởng Letourneau. Họ đi từ ngày 18 tháng 10. Trước đó tám hôm, tôi đã
cử Trần Văn Hữu về gấp Sài Gòn. Thoạt mới về, ông ta đọc một bài diễn văn không
ngớt đả kích hình thức mà nước Pháp cho áp dụng, hiệp ước mùng 8 tháng 3, đồng
thời cũng đả kích luôn các viên chức Pháp vẫn còn bấu víu mãi vào các công thức
thuộc địa cũ.
Tức giận tột độ bởi Tổng thống Vincent Auriol, e ngại rằng Hoa Kỳ
có thể nhắc những lời tuyên bố này, để trách cứ nước Pháp đã không chịu thi
hành các lời cam kết, ông chủ tịch hội nghị Paris, Sarraut ngày 14 tháng 10
liền đập các quốc gia liên kết, là nên bớt cãi vã lẫn nhau… Đại diện của chúng
tôi Nguyễn Đắc Khê liền lên tiếng trả lời. Những hội nghị vẫn sa lầy, và dù sao
nữa, trong thời kỳ khẩn trương, thủ tướng chính phủ phải có mặt ngay tại chỗ.
Tôi cũng vội vã dời Cannes ngày 20 tháng 10. Khi đến Sài Gòn, hai
ông Letourneau và Tướng Juin đều nhận thấy tình hình càng sa sút hơn, như các
ông tưởng. Dưới sự giao động tột độ, việc triệt thoái ở Lạng Sơn đã bắt đầu. Đó
chính là một lầm lẫn lớn đã mở cửa Hà Nội, cho quân đội Việt Minh tràn về Lai
Châu, thủ đô của ngưòi Thái mà tôi đã thăm thú mùa xuân vừa qua, cũng bị Pháp
bỏ đi vào đầu tháng 11.
Ngày 5, nhân dịp Tướng Juin và ông Letourneau sang thăm Việt Nam,
tôi cho khánh thành trường sĩ quan Đà Lạt. Giám đốc là một sĩ quan có tài, Thiếu
tá Lefort, và lớp học đầu tiên thu nhận 210 khóa sinh. Trong buổi khai mạc này,
đã có bàn đến các vấn đề quân sự. Trần Văn Hữu và Phan Văn Giáo, đều được tôi
phong tướng, cũng tham dự. Có nhiều quyết định quan trọng được đề cập đến, như
thành lập ra 4 sự đoàn hoàn toàn Việt Nam, và việc đào tạo cấp tốc các khóa
quân sự tại chỗ các trường hạ sĩ quan và chuyên môn kể cả một trường quân y.
Ông Letourneau gửi thư cho tôi, từ Pháp báo cho biết sự thay thế
Tướng Carpentier và xác nhận chỉ thị của Tướng Juin là cần phải bảo vệ Hà Nội
và miền Bắc Việt Nam bằng mọi giá. Ông ta không giấu tôi sự lo ngại của ông,
nhưng xác nhận ý chí của Tổng thống Vincent Auriol là muốn thấy hình thành đạo
quân Việt Nam hầu có thể đối phó được với Việt Minh ngay trên phần đất của mình,
đồng thời chúc cho việc thi hành các khoản của hiệp ước mùng 8 tháng 3, được
hoàn thành mỹ mãn.
Do báo chí, tôi được biết sự can thiệp của quân đội Trụng Hoa đối
với Triều Tiên.
Tôi đến Ban Mê Thuột ở mấy ngày, và có ý định lập ở đây một biệt
điện thứ hai. Quả nhiên, tôi đã rất chú trọng đến vùng cao nguyên giữa dân tộc
miền núi này. Tôi muốn chấm dứt tất cả các tiếng xì xào, nói về tôi trong những
ngày gần đây. Hình như họ cho rằng, tôi ít chung đụng với quần chúng, tôi đã
sống tách rời, trong khi binh sĩ Pháp chết ngoài mặt trận. Tất nhiên, kẻ tung
tin này, đã không hiểu gì về vị trí của ngôi Vua theo quan điểm ở Việt Nam.
Không phải rằng cứ đóng vai mị dân mà người ta có thể phục vụ được dân chúng
của mình. Trò mị dân là trò xảo trá của bọn làm chính trị, không phải việc của
tôi. Tôi theo đuổi sứ mạng, mà tôi được trao phó. Thật vậy, ở Ban Mê Thuột, gần
ba biên giới, tôi có mặt cho toàn thể vùng Nam Đông Dương.
Chính tại Đà Lạt, tôi tiếp Bảy Viễn, chúa đảng Bình Xuyên. Đảng
này tôi ít biết đến, không bằng giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, mà đại diện đã
đến Hong Kong để gặp tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Bảy Viễn kể từ khi tôi
tới Sài Gòn.
Đây là một nhân vật đặc biệt. Từng bị đi tù biệt xứ, anh ta vượt
ngục Côn Đảo trở thành thủ lãnh đao búa, và anh ta tự tạo cho mình một địa hạt
ở xung quanh Sài Gòn và vùng Đồng Tháp Mười. Xuất thân từ giới bụi đời, một
loại thú hoang, đầy tinh thần chiến đấu, trong ba năm liền, anh ta đã đánh nhau
với Pháp vô cùng quyết liệt. Nhưng từ tháng 6 năm 1948, vì mâu thuẫn nẩy lửa
với Tướng cộng sản Nguyễn Bình, anh ta bỏ về thành. Chính phủ Xuân bổ anh ta
làm Đại tá, từ đó với 900 tay súng võ trang cùng mình, anh đặt bản doanh ở ven
sông, nơi cầu Chữ Y, ngay sát Sài Gòn. Chỉ trong sáu tháng, anh đã có thể bỏ
túi tất cả các hàng bang Trung Hoa ở Chợ Lớn, và đem lại trật tự và an ninh cho
vùng ấy. Vậy thì sao không trao cho anh ta một nhiệm vụ lớn lao hơn? Nhân vật
vừa giống Mandrin (tướng cướp Pháp) 4, lại vừa giống Vidocq 5 Việt Nam này quả là tay sáng giá, anh hào.
- Tôi rất lấy làm sĩ diện được tiếp một nhân vật ái quốc như ông,
tôi bảo anh ta thế.
Bảy Viễn lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm sĩ diện được tôi khen
ngợi. Để cho anh ta có vẻ thoải mái, tôi đưa anh ta đi xem biệt thự, và các
cộng sự viên của tôi. Rồi tôi lại cho xem các võ khí đi săn của tôi. Anh ta lấy
làm thích thú khi thấy khẩu súng săn của Tướng Franco gửi cho tôi, để chứng tỏ
tình đồng minh chống Cộng sản. Tất nhiên, nước Tây Ban Nha chưa thể công nhận
Việt Nam trong hiện tại, nhưng Thống chế Franco muốn tỏ thiện cảm đối với tôi,
bằng cử chỉ này.
Sự gặp gỡ đầu tiên với Bảy Viễn, mới đi tới chỗ ấy, và tôi mời anh
ta đi săn, vài ngày hôm sau.
Trong suốt một ngày, chúng tôi đi chung với nhau. Tối đến, chúng
tôi đến một ngôi làng mọi. Quanh đống lửa, chúng tôi trò chuyện. Rất nhanh
chóng, câu chuyện trở nên thân mật. Bảy Viễn xưa nay vốn ít nói, liền kể cho
tôi về đời anh ta, thuở hàn vi cũng như lúc bị án đầu tiên, vào năm 1936 bị kết
12 năm về tội “gian nhân hiệp đảng và tàng trữ võ khí bất hợp pháp”. Bị đưa ra
Côn Đảo, anh ta gặp những tay cộng sản đã từng được huấn luyện ở Nga: Bùi Công
Trừng, Hạ Bá Cang, Tôn Đức Thắng, một kẻ gây loạn ở Hắc Hải, Phạm Hùng, Phạm
Văn Đồng, vốn dậy các lớp về chủ nghĩa Mác ở ngay trong tù, và nhiều người khác
nữa… Năm 1940, anh ta vượt ngục và thành công, lập ra ở Chợ Lớn nhóm anh chị
thuộc giới xích lô, và trở thành một “Kẻ tháp tùng” đoàn đua xe đạp vòng Đông
Dương, tôi cùng Hoàng hậu Nam Phương đã đến để chứng kiến cuộc về đích thứ nhất
trong cuộc đua. Chìm giữa đám đông, Bảy Viễn nhận ra tôi, vận chiếc áo vàng ở
giữa các quan phẩm phục xanh đỏ, thêu chỉ vàng chỉ bạc. Bây giờ, anh ta hơi
ngạc nhiên được đứng cạnh bên Quốc trưởng…
Anh ta kể cho tôi nghe tất cả cuộc đời phiêu lưu của mình. Sau khi
từ chối sự che chở của quân đội Nhật, anh ta lại bị cảnh sát Pháp bắt, tán tỉnh
với bọn Trotskistes (đệ tứ Cộng sản), nên họ thả ra vào tháng 7 năm 1945, thế
rồi với đám đàn em tập hợp lại được, anh ta lăn mình vào công cuộc phục quốc,
không cần biết đến ý niệm, chính trị hay tôn giáo nào hết. Anh tự phong cho
mình là Tổng Tư Lệnh quân đội Sài Gòn - Chợ Lớn, và lấy tên cũ là Lê Văn Viễn.
Bị bắt buộc phải rút vào vùng sình lầy Rừng Sát, chẳng mấy lúc anh ta đã chống
lại Nguyễn Bình, mà anh ta từng biết ở Côn Đảo, mà Ủy ban Cách mạng miền Bắc đã
cử vào Nam để cầm quyền tư lệnh ở Nam bộ. Anh ta liền tham gia vào sự thành lập
Mặt trận Quốc gia Thống nhất vừa để chống lại người Pháp, vừa để chống lại Cộng
sản. Sau khi Cao Đài và Hòa Hảo bỏ về theo người Pháp, riêng còn anh ta chiến
đấu đơn độc một mình. Nhưng mỗi ngày một bị Cộng sản đe dọa, anh đành phải chấp
thuận quay về, khi biết tin nước Pháp đã trả lại độc lập cho Việt Nam… Dưới
danh nghĩa Bình Xuyên, anh công nhận chính phủ Xuân ngày 17 tháng 6 năm 1948,
và khi tôi trở về nước, anh ta liền ra tự đặt dưới quyền điều động của tôi.
- Miền Nam rất quý báu cho Việt Minh - tôi bảo anh ta như vậy - Đó
là vựa lúa của nước Việt Nam, và cả cho Đông Nam Á nữa. Ai nắm được lúa gạo là
nắm được toàn thể Việt Nam. Đối với Việt Minh, cái lợi lại gấp ba. Thoạt tiên,
họ gặt lúa gạo, rồi họ lợi về chuyên chở, và cuối cùng là mãi dịch. Hẳn ông
hiểu vì sao, Việt Minh tìm mọi giá để củng cố quyền hành đối với miền Nam.
Không phải đây là một yếu tố suông về chính trị, mà chính là điều sinh tử đối
với họ.
Bảy Viễn nghe tôi nói với tất cả sự chú ý, sau ngắt lời:
- Vựa lúa, đối với tiểu dân, thật quá rộng lớn. Nhưng các cửa
hàng, thưa Hoàng thượng tiểu dân có thể đảm trách được. Mà cửa hàng, thì người
Tàu nắm hết, tất cả lúa gạo đều qua tay người Tàu. Mà người Tàu, tức Chợ Lớn
rồi, đó chính là địa hạt của tiểu dân vậy. Tuy nhiên, cần một điều kiện: tiểu
dân cần có Đại thế giới, bởi vì Đại thế giới vẫn là một nguồn lợi cho Việt Minh
vậy.
Bảy Viễn không nói rõ cho tôi gì cả. Tôi hiểu, tôi đang dính vào
một chuyện gì. Bởi Đại thế giới là sòng bạc lớn của Á châu, và có thể là cả thế
giới nữa. Chúng tôi có thể không cần biết đến sự nổi tiếng này. Được mở ra năm
1946, mặc dù có sự nghiêm cấm của chính phủ Nguyễn Văn Thinh, vốn không ưng để
người Việt sát phạt nhau, nhưng người Việt Nam lại rất đam mê, nên chính phủ
Thinh phải cho đấu thầu, cứ hai năm một lần cho ai bỏ giá cao. Từ năm 1948,
việc giao nhượng được chuyển cho một nhóm người Tàu từ Macao sang. Đến giờ phút
này, người Tàu sẵn lòng trả 400.000 đồng một ngày cho chính phủ Việt Nam. Nhưng
để được yên trí làm ăn, họ phải nộp cho Việt Minh 500.000 đồng nữa. Không kể
các thù lao cho quan thuế, cho cảnh sát và các nơi khác…
Ở Đại thế giới người ta chơi đủ mọi lối, nhưng có hai thứ chính,
là đánh ba quan và tài xỉu. Ngoài ra mỗi chiều, còn mở số đề 36 con vật, một
thứ như xổ số. Đó là một sự tai hại cho dân chúng vùng Sài Gòn, đã nướng vào
đấy hết sạch cả đồng lương nhỏ bé của mình. Để tránh những tai họa, tôi ra lệnh
nghiêm cấm các công chức và binh sĩ Việt Nam không được lui tới Đại thế giới.
- Đến kỳ đấu thầu vào tháng chạp tới, ông có thể nộp đơn đấu thầu,
tôi bảo Bảy Viễn như vậy.
- Thưa Hoàng thượng, xin tuân lệnh. Tôi sẽ xin nộp mỗi ngày một
triệu đồng cho chính phủ Việt Nam, nhưng Việt Minh thì đừng hòng một xu nhỏ.
Đồng thời, tôi có thể trả lương và trang bị cho người của tôi khá hơn trước nhiều.
Như vậy, liệu hồn cho Nguyễn Bình.
Đến tháng chạp, Bảy Viễn thực hiện được mộng này. Chỉ cần rỉ tai
bọn Tàu Macao, có sự hỗ trợ của phe Tàu Chợ Lớn cùng với bọn Corses ở Sài Gòn,
sự tin tưởng của chính phủ tước bỏ nguồn lợi vĩnh viễn này của Việt Minh, và
trò chơi đã đạt. Bọn Bình Xuyên trở thành Mafia giữ an ninh cho vùng Sài
Gòn-Chợ Lớn và Bảy Viễn là Tổng tư lệnh quân đội.
De Lattre tới
Trong những ngày đầu tháng chạp 1950, chính phủ Pháp cử Tướng De
Lattre nắm quyền Tổng tư lệnh ở Đông Dương. Ông ta cũng đảm nhiệm luôn chức vụ
chính trị của Cao ủy nữa. Nghĩa là ông ta thay Tướng Carpentier lại vừa thay
Cao ủy Pignon. Đó là một hình thức tốt, bởi vì trong chiến tranh sự chia xẻ
quyền hành thường gây ra nhiều trở ngại không mấy tốt đẹp. Ngày 17 tháng chạp,
ông ta đến Sài Gòn cùng với toàn thể bộ Tham mưu. Cũng trong thời gian ấy, Việt
Minh loan tin Hồ Chí Minh sẽ ăn tết ở thủ đô Hà Nội.
Tướng De Lattre đến với danh tiếng là người rất khó khăn. Tôi nghe
trong các cơ cấu đầu não là lại có một luồng gió mới của sự hoang mang thổi
đến. Nhiều người tìm cơ hội để trở về Pháp, họ đã sắp sẵn hành trang. Người ta
cũng nói đến một số đề nghị. Trước khi rời Paris, Tướng De Lattre đã đi thăm
tất cả những ai đã hay đương có liên hệ đến Đông Dương, từ De Gaulle đến
Decoux, và ông ta nghe như đã tuyên bố:
- Chủ tịch (Liên hiệp Pháp) Albert Sarraut từng khuyên tôi nên tận
tình giúp đỡ Hoàng đế Bảo Đại, vì Ngài là Vua chân truyền của dân tộc, cần phải
giúp đỡ Ngài trong việc trị quốc, nhất là giúp Ngài thành lập dần dà một đạo
quân hoàn toàn Việt Nam để có thể thay thế chúng ta chiến đấu chống lại Việt
Minh.
Sự kiện ấy làm tôi chú ý. Ông tân Cao ủy muốn cùng tôi cùng chung
ý kiến. Như vậy, điều mà tôi không bao giờ đạt được cạnh Tướng Carpentier và
ông Pignon thì có thể tôi sẽ đạt được với ông chăng: Đó là việc thành lập nổi
một đạo quân hoàn toàn Việt Nam. Vậy tôi không nên cứng rắn với ông quá đáng,
mặc dù vẫn phải cần tỏ cho ông hiểu chính tôi là Quốc trưởng. Ông ta đến đây
với rất nhiều sự hiểu biết sai lầm. Trước hết, do các sĩ quan luôn luôn bị ám
ảnh bởi nước Tàu, mà quên mất bọn Việt Minh. Sau đến bọn công chức hành chính
Pháp. Ông ta đã đem hai viên chức kỳ cựu của Toàn quyền Decoux là ông Gautier
và ông Aurillac. Tôi biết rõ vị thứ hai này, khi ông ta còn ở Huế dưới thời
Khâm sứ Graffeuil. Bọn này chẳng hiểu gì về tình hình trong năm năm qua. Có thể
họ đã nói xấu tôi cạnh De Lattre, tả tôi như một thứ kỳ đà cản mũi, chỉ biết
phá ngang.
Chẳng lâu lắm tôi hiểu hết. Muốn ra Hà Nội vào dịp ngày 19 tháng
chạp, kỷ niệm của Việt Minh, De Lattre đã dừng lại vài giờ để lên Đà Lạt chào
tôi. Bề ngoài thì thế, nhưng có dụng ý bề sâu nữa.
Đại tướng De Lattre tất nhiên là một người mã thượng. Chúng tôi
rất tương đồng. Tôi cảm thấy ngay tự phút đầu có nhiều sự hiểu lầm của ông về
tôi đã được giải tỏa. Tuy nhiên ông vẫn còn nhiều kiêu ngạo, như vẫn chẳng được
gọi là Vua Jean đấy ư? Sau bữa ăn, câu chuyện hiện ra rõ rệt.
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến đây để củng cố nền độc lập cho Ngài,
và tôi chẳng phải là một tay thực dân. Ông ta nói với tôi như vậy. Tôi ước mong
rằng sẽ được trông thấy một nước Đại Việt Nam, xứng đáng với các bậc tiên đế
của Ngài.
- Thưa Đại tướng, người miền Bắc Việt Nam đã hiểu rõ tôi.
Thế là vị Cao ủy cho thấy một dụng ý. Trên chiếc máy bay ra Hà Nội
có Trần Văn Hữu mà ông ta đã kéo theo, cùng với đoàn tùy viên của ông ta. Dụng
ý đã rõ rệt, theo đúng câu châm ngôn cổ là “chia để trị,” và Tướng De Lattre
muốn chơi trò bắt cá hai tay. Người ta lập tức hiểu ngay đã có kẻ lưu ý ông ta
Chính phủ Sài gòn và Chính phủ Đà Lạt…
Làm ra bộ cấp tốc, bỗng nhiên ông ta nói với tôi:
- Thưa Hoàng thượng, chiều nay tôi sẽ ở Hà Nội, và tôi sẽ duyệt
binh vào ngày kỷ niệm 19 tháng chạp của Việt Minh. Xin Hoàng thượng đi với tôi.
Chúng ta sẽ cùng xuất hiện trước dân chúng miền Bắc Việt Nam và Hoàng thượng sẽ
cùng duyệt binh với tôi.
Tôi trả lời tức khắc:
- Thưa Đại tướng, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nơi Đại tướng. Tốt
lắm, đi theo Đại tướng trong trường hợp này là một sự vụng về mà chúng ta đều
hỏng việc cả hai. Tôi thì mang tiếng là tù nhân của Đại tướng, còn Đại tướng
thì giảm hết giá trị của mình. Vì vậy, tôi không theo Đại tướng ra Hà Nội.
Ông ta không tỏ vẻ gì là thất vọng, cũng không nói một lời, và rút
lui. Chắc hẳn ông ta đã hiểu rằng tôi rất khó bảo như người ta đã nói với ông.
Để đánh dấu quyết định này, ngay chiều hôm ấy, tôi đến biệt thự thứ hai của tôi
ở Ban Mê Thuột.
Là võ tướng, De Lattre phải tỏ ra xứng đáng đứng đầu quân đội. Đó
là sự cần thiết nhất là Cao ủy, ông cần phải có nhiều cuộc tiếp xúc để tăng
cường cho uy tín cá nhân. Ông phải đóng đủ các vai trò trên sân khấu, dùng sự
lịch sự khả ái để chinh phục, cũng như sự nghiêm khắc, tạo nên những tiếng vang,
hầu nuôi dưỡng huyền thoại. Ông bị dính liền vào sân khấu.
Sự đó khác xa với vì Thiên tử. Trong văn hóa cổ truyền ở nước tôi,
tính chất thiêng liêng của ngôi vua, không cần phải trình diễn kiểu ấy. Ngược
lại, tính chất thiêng liêng này nằm trong sự huyền vi. Khi Hoàng đế đi qua, thì
thần dân cúi đầu, nhắm mắt. Quyền năng của vị Thiên tử tỏa ra từ cung cấm cô
đơn, sau bức bình phong tịch mịch.
Tướng De Lattre cần phải hiểu sự dị biệt đó. Nhưng chúng tôi mớỉ
chớm vào có một chút ban đầu, và tôi không mong muốn một sự đổ vỡ. Ông Cao ủy
là một người thuộc chủng tộc khác với các vị tiền nhiệm của ông ta. Ông có thể
rất quí báu cho Việt Nam. Mặc dù cố gắng giữ điều cách biệt, tôi cũng không nên
chứng tỏ là một kẻ địch mà là một đồng minh, mà ông ta có thể được coi trọng
ngang hàng.
Dịp may đã đến vào mấy ngày sau, khi ký thỏa hiệp Paris ở Sài Gòn
ngày 23 tháng chạp. Tất nhiên, thỏa hiệp đã được ký kết tại chỗ do đại diện của
chúng tôi ký ngày 12 tháng chạp, nhưng chúng tôi còn thiếu một chữ ký nữa. Ngày
hôm đó, Tướng De Lattre ở bên phải tôi, Trần Văn Hữu ở bên phải Bộ trưởng
Letourneau. Thành ra đã có sự vô tình quí báu, nằm trong ngôn ngữ ý nhị của
ngoại giao
Chưa tới một tuần sau, đây là một tiếng sét. Như Hồ Chí Minh đã
loan báo trước, các sư đoàn của tướng Giáp đánh vùng đồng bằng. Sau một trận
nghi binh đánh cạnh biên giới Trung Hoa ở Tiên Yên, cuộc tấn công được nổ ra ở
chân núi Tam Đảo. Trận chiến Vĩnh Yên bắt đầu. Tôi để cho De Lattre trọn quyền
quyết định.
Ngày cuối năm, trước khi ra Bắc mà tình hình rất nghiêm trọng, ông
ta tìm tôi ở Ban Mê Thuột. Tôi tiếp ông ta ở bên lầu thủy tạ. Ông Cao ủy lại
trở lại vấn đề muốn lôi kéo tôi, ông nhất định mời tôi đi cùng với ông ta. Tôi
vẫn từ chối. Để chứng tỏ rằng tôi không lầm, trước khi chia tay, tôi hỏi ông ta
nghĩ sao về Trần Văn Hữu, nếu ông này cầm đầu chính phủ. Ông ta trả lời một
cách lơ là, nhưng tôi cảm thấy là sự nghi ngờ đã đúng. Viên Cạo ủy không muốn
ai đoán trước được ý định của mình…
Buổi sáng ngày 17, tướng Giáp ra lệnh rút lui, và dồn quân về phía
bắc. Hồ Chí Minh không được ăn tết ở Hà Nội. Chiến thắng ở Vĩnh Yên đã đạt, và
đây là chiến thắng đầu tiên của Đại tướng De Lattre ở Đông Dương.
Hai hôm sau, ông ra tìm tôi ở Huế, mà tôi mời ông ta đến dự một
buổi lễ dành cho tổ tiên tôi. Ông đã đi cùng với bà De Lattre, mới sang Việt
Nam. Tất cả ngoại giao đoàn có mặt ở Việt Nam đều đông đủ, nhất là ông Heath,
Đại sứ của Hoa Kỳ. Tôi hành lễ bằng phẩm phục đại trào. Tướng De Lattre theo
dõi cuộc hành lễ với tất cả sự chú ý. Các quí khách sau đó được đưa đến cung
của Đức Thái hậu để dự yến. Vị quí khách của tôi không biết cầm đũa. Sau một sự
cố gắng mà không đạt, ông ta đành lấy đồ ăn để trước mặt mình bằng một chiếc
tăm. Đức bà Thái hậu trông thấy sự lúng túng này, nên cho đem lại cho ông một
chiếc nĩa và con dao nhỏ.
Sau bữa ăn, ông phải đi ngay Hà Nội, nhưng đã kéo tôi ra một chỗ
vắng, ông cố gắng nài nỉ:
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng theo tôi ra Hà Nội. Cuộc
chiến thắng ở Vĩnh Yên tôi xin dâng Hoàng thượng. Chúng ta sẽ đến tại chỗ để
ngợi khen binh sĩ và chia xẻ với họ sự chiến thắng này.
Chống lại tất cả sự đợi chờ, tôi vẫn từ chối. Ông Cao ủy đã sửa
soạn sẵn cho trường hợp này: Vậy thì Trần Văn Hữu sẽ đi Vĩnh Yên để nghe chính
người dự trận trình bày cuộc chiến. Chắc chắn, hai tên nịnh thần Gautier và
Aurillac vẫn tiếp tục bầy mưu tính kế cho De Lattre… Chúng thúc đẩy viên tướng
này nên dựa vào Trần Văn Hữu để cân bằng ảnh hưởng của tôi. Tôi cần phải chứng
tỏ xem ai mới thật sự là chủ ở Việt Nam, và cầm quyền thật sự tại đây.
Nhân dịp ngày Tết, vào ngày 6 tháng 2 tây, tôi gửi cho dân chúng
Việt Nam một bức thông điệp.
Sau khi nhắc lại những chặng đường đã qua trong năm, tôi nhấn mạnh
đến nền độc lập vừa thu hồi được, giúp cho nước nhà tự đảm trách lấy nền cai
trị của mình. Tôi công bố một chương trình chính trị, xã hội, kinh tế mà chúng
tôi cần phải thực hiện trong những tháng tới:
“Trên địa hạt chính trị, khẩu hiệu là Bảo tồn. Bảo tồn lý tưởng cổ
truyền Việt Nam ở trong nước, bảo tồn đất đai của quốc gia đối với những đe dọa
bên ngoài.
“Tôi xin cám ơn tất cả mọi người đã có công, trong hành động, mặc
dù gặp nhiều khó khăn to lớn, để gìn giữ và tranh đấu cho quyền lợi của dân tộc
Việt Nam. Tôi cần phải nói thêm rằng, kể từ nay, nước Việt Nam cần phải mở rộng
chính phủ trong mọi địa hạt cai trị, từ xã hội, chính trị đến địa hạt chuyên
môn. Ban hành pháp trung ương cần phải sáng suốt, đối với nhiệm vụ quốc gia
cũng như đối với tinh thần phục vụ công ích.
“Chúng tôi thật sự đang cương quyết bảo tồn nếp sống ngàn xưa của
chúng tôi trong đời sống cá nhân và tập thể.
“Trên địa hạt hành chánh, chính phủ cố gắng đem lại mọi nỗ lực vào
việc vãn hồi trật tự.
“Quốc gia Việt Nam đã cử đến ba miền ba vị Thủ hiến để thay mặt
mình. Như vậy, các sáng kiến địa phương, tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam,
có thể được trình bày thẳng lên trung ương, để chính phủ có thể giải quyết mọi
việc mà bảo tồn được tính chất chính đáng, đặc biệt của địa phương mình…
“Trong những khu vực xã hội, có nhiều công nhân được các hãng,
xưởng thu hút, qui chế công nhân khá cao, thường cao hơn ở các nước lân bang,
qui chế ấy, cần được bồi bổ và củng cố. Việc áp dụng toàn diện, y như hệt, sẽ
được tất cả các nhà kinh doanh tiếp tục thi hành.
“Nhưng mọi tiến bộ xã hội, chỉ thực hiện được qua những trách
nhiệm hỗ tương. Một mặt, thợ được tự do ra vào nghiệp đoàn, mặt khác các nghiệp
đoàn phải có sự hợp tác liên tục và bắt buộc với nghiệp đoàn của chủ, hầu cố
một hoạt động hoàn toàn xã hội.
“Cuối cùng, việc đảm bảo tiền tệ là một điều chính của chương
trình. Chính phủ là kẻ thù nhất định của sự phá giá tiền tệ, nó luôn đánh vào
giới thợ thuyền, công tư chức bằng cách làm giảm đông lương thực sự của họ.
“Sự tiến bộ xã hội, phải phù hợp với sự phát triển kinh tế.
“Việc trang bị kinh tế tốt đẹp cho Việt Nam do viện trợ của Pháp
quốc, đang được phục hồi và phát triển.
“Một nỗ lực tức khắc đang được hình thành để đào tạo những chuyên
viên cho Việt Nam trên mọi lãnh vực. Các kỹ thuật gia và vốn đầu tư của Pháp
cũng như của ngoại quốc rất được hoan nghênh. Nước Việt Nam không phải là cái
lò “đốt các vốn đầu tư ấy…”
“Đó là những nét chính của chương trình của chúng tôi, chương
trình mà tôi gọi là đất đai màu mỡ.
“Hỡi đồng bào,
“Tôi mong rằng đồng bào sẽ hiểu tôi, khi nói thẳng với đồng bào
như vậy.
“Thay vì nhận những lời mừng tuổi đầu năm cổ truyền, tôi muốn đưa
ra một chương trình xây dựng, mà những nét lớn nằm trong sự phú cường của quốc
gia, hạnh phúc của đồng bào. Những điều mong ước của tôi, chính là đĩều mong
ước của đồng bào. Chương trình của tôi là của đồng bào. Vì thế, tôi mới yêu cầu
đồng bào góp phần vào nỗ lực của tôi…”
Chủ tịch Albert Sarraut, do Cao ủy mời, đã đến thăm Việt Nam mấy
hôm, rất tán thành bản thông điệp này, và nhất là đối với chương trình mà tôi nhấn
mạnh ở trên. Cụ đến thăm tôi ở Đà Lạt, và bảo tôi như vậy.
Thông điệp ấy cũng gây được nhiều cảm tình đối với các cường quốc,
nói về Đông Nam Á. Tôi chỉ còn khuất phục Tướng De Lattre nữa mà thôi.
Từ ngày gặp ở Hà Nội Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí, Tướng De Lattre
tưởng đã tìm ra được một thứ ngọc Biên Hòa. Không thể chối cãi, viên lãnh tụ
Đại Việt này, có thừa hình thái sang trọng đối với viên Cao ủy, có điệu bộ rất
lương thiện và thành tích chống Cộng hăng say. Tôi dùng ông ta để đưa Trần Văn
Hữu vào vị trí đúng của mình.
Nhưng hai vị này lại không ưng nhau, việc đặt họ cạnh nhau đang
gặp thất bại.
Tôi liền sai viên Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ, gửi cho
Trần Văn Hữu một công điện, yêu cầu Hữu từ chức Thủ tướng, và cùng lúc đó, lại
trao lại cho ông ta nhiệm vụ lập tân chính phủ. Đó là ngày 21 tháng giêng, công
tác đạt đích hoàn toàn. Tất cả mọi sự vận động của Trần Văn Hữu đều thất bại.
Trong các vị được vời làm bộ trưởng, chẳng ai còn muốn liên hệ với một người mà
Quốc trưởng đã bất tín nhiệm, khi yêu cầu ông từ chức. Cuộc khủng hoảng nội các
kéo dài, không một triệu chứng gì tiến tới. Thế là Đại tướng De Lattre liền đề
nghị với tôi yêu cầu Trần Văn Hữu lấy Nguyễn Hữu Trí làm Phó thủ tướng kiêm
nhiệm bộ trưởng bộ Quốc phòng. Đấy là cái bẫy. Thủ tướng Hữu biết như vậy, liền
kêu lên là không thể được. Không ai có thể hợp tác được với bọn Đại Việt, họ đã
đặt một cái gông lên toàn thể nước Việt Nam. Về phần Nguyễn Hữu Trí, từ khi tên
tuổi mình được Cao ủy biết đến, thì ông ta lại lùi bước. Ông lảng xa, tự nấp
sau lưng của đảng ông. Họ chỉ đưa ra các quyết định vào những ngày sau.
Để chứng tỏ thiện chí, tôi cho vời Nguyễn Hữu Trí, và khuyên ông
ta nên hòa giải với Trần Văn Hữu. Vô ích. Tôi không có tin tưởng gì nữa. Còn
Trí cũng không thiết tha gì. Sự đòi hỏi của Đại Việt không thể chấp nhận được.
Theo sự tham gia của họ vào chính phủ, họ muốn đưa chế độ vào một xu hướng độc
đảng. Tất cả mọi sự hòa giải của Trí với Hữu coi như bất khả thực hiện.
Trí xác nhận với tôi khi từ Sài Gòn lên Đà Lạt:
- Thưa Hoàng thượng, tôi không thể nào hợp tác được với Thủ tướng
Trần Văn Hữu. Trong trường hợp đó, tôi xin trở về Hà Nội, đảm trách chức vụ của
tôi.
- Theo như việc vừa xảy ra, tôi bảo ông ta, không thể được nữa
rồi. Ông không thể làm Thủ hiến, khi ông đã chống lại với Thủ tướng công khai
như vậy.
Bỏ vào chỗ của ông ta, tôi đặt Đặng Hữu Chí làm Thủ hiến Bắc Việt,
lúc ấy đang giữ bộ Y tế như trong nội các cũ.
Thế là tưởng rằng sẽ ngồi vào chỗ của Trần Văn Hữu, như các bạn
ông đã báo cho biết, Nguyễn Hữu Trí cảm thấy như vừa bị gạt. Sự mất quyền của
ông đáp ứng đúng điều tôi muốn. Dụng ý của tôi đã đi đúng đường.
Ngày 15 tháng 2, Cao ủy đến Đà Lạt với bà De Lattre và con trai là
Trung úy Bernard và rất đông nhân viên của văn phòng. Khi ông đến, tôi mời ông
ăn sáng. Ăn xong, ông nói thẳng với một giọng rất thành thực. Ông bảo tôi:
- Không ổn rồi, thưa Hoàng thượng. Tất cả những gì mà tôi dự định,
đều sụp đổ. Tôi đã hiểu lầm Ngài. Tôi đã nhầm, tôi đã nhầm hết… Vậy Ngài có
muốn giúp cho Trần Văn Hữu lập xong chính phủ?
- Nhưng thưa Đại tướng, tôi cười trả lời ông ta, Đại tướng đã đi
sâu vào nội bộ nước Việt Nam. Đại tưởng đã can thiệp trực tiếp vào nền chính
trị của chúng tôi, không phải là điều mà các Ngài đã hứa.
Tướng De Lattre cũng cười và đáp, vẻ ngượng ngùng:
- Tôi muốn chơi trò Á Đông, nhưng đã thất bại. Nếu Hoàng thượng
muốn, ta bỏ qua đi xóa hết đi, và bắt đầu làm lại từ đầu.
Tôi lặng im, De Lattre tiếp:
- Để chứng tỏ tôi thực tình. Thưa Hoàng thượng, tôi xin vì Hoàng
thượng mà xây dựng một đạo quân hoàn toàn Việt Nam, xứng đáng với Hoàng thượng,
xứng đáng với nước Việt Nam, một đạo quân tối tân, chưa từng có ở Viễn Đông, và
Ngài sẽ là Tổng tư lệnh đạo quân đó.
Lập tức, tôi tin chắc là ông ta thực hiện đúng lời hửa… thế nhưng
cần phải năm năm mới có thể đi tới chỗ đó. Đại tướng liền giãi bày:
- Quân đội Việt Nam cần phải đại diện cho ý chí toàn thể dân chúng
muốn thắng Cộng sản. Nó cần phải là đạo quân Quốc gia, nghĩa là các chiến sĩ
phải từ các tầng lớp nhân dân mà ra, và họ chiến đấu là vì bổn phận chứ không
phải vì lương bổng. Quân đội Pháp sẽ huấn luyện và tình nguyện đóng vai chỉ
huy, trong khi chờ đợi các cấp chỉ huy người Việt khi đến lượt mình đế rồi lại
huấn luyện cho những lớp mới. Như vậy, cứ tuần tự như vậy tiến rất nhanh chóng.
Tôi đòi hỏi mỗi một cấp chỉ huy tiểu đoàn tự lập ra một tiêu đoàn Việt Nam
trong một thời gian sáu tháng. Như vậy, người ta lập ra ngành võ cho giới thiếu
niên Việt Nam, như tôi đã làm từ 1944 cho Mặt trận FFI (Mặt trận Pháp quốc Tự
do) của đệ nhất quân đoàn Pháp…
Sau lần nói chuyện ấy, sự liên lạc giữa chúng tôi theo một chiều
hướng mới. Chúng tôi nay trở thành đồng minh. Về phần tôi, tôi cần phải giữ sự
trao đổi này. Đại tướng De Lattre sẽ cho tôi một đạo quân, tôi phải cho Đại
tướng một chính phủ. Chưa phải là một chính phủ của chiến tranh, như ông từng
mong muốn, nhưng tôi cần phải giúp đỡ cho Trần Văn Hữu. Ông này biết rằng không
có tôi, thì ông chẳng làm gì được. Thời gian đã đến để ông có thể ra thoát sự
bế tắc này. Lập tức, kể từ đó, các khó khăn của ông từng gặp, lần lượt rơi
xuống. Ngày 21 tháng 2, chính phủ của ông được thành lập 6.
Đại tướng De Lattre đóng đô ở Đà Lạt, trong dinh Khâm sứ cũ, cùng
với toàn thể nhân viên của ông. Hàng ngày chúng tôi vẫn gặp nhau. Sau hôm tấn
phong nội các Trần Văn Hữu, tôi mở đại tiệc. Đến lúc uống cà phê, chúng tôi
ngồi chung với nhau có Tướng De Lattre, ông Aurillac và Nguyễn Đệ.
Cao ủy trở lại vấn đề tham gia chính phủ của Nguyễn Hữu Trí và
cách thức mà tôi loại ông ta ra khỏi vị trí Thủ hiến. Tôi dùng dịp này để nói
cho ông ta hiểu tình hình trong xứ. Nó không còn giống như thời của nền hành
chánh cũ, như hai ông Gautier và Aurillac đã nghĩ. Tôi là Quốc trưởng, chỉ có
tôi là giữ quyền hành, và chỉ có một mình tôi thôi… Trong dịp chuyện trò, tôi
cũng được Đại tướng hứa là sẽ che chở cho đất “Hoàng triều cương thổ” tức đất
vùng sơn cước. Vì vậy mới thành lập ra quân đoàn thứ tư lính thổ, mà quyền chỉ
huy giao cho Thiếu tá Lecoq.
Tại Pháp đang có sự khủng hoảng nội các. Sự về Paris của Đại
tướng, để tường trình về ba tháng đầu tiên cầm quyền Tổng tư lệnh ở Đông Dương,
và để xin thêm tiếp viện, người và vũ khí, phải hoãn lại. Ngày 2 tháng 3, chúng
tôi trở về Sài Gòn. Nhân dịp này có đặt đại tiệc. Chủ tịch Albert Sarraut, nhớ
đến kỷ niệm cũ, thấy cả một thế hệ mới, đã tỏ ra rất có cảm tình với tôi. Cao
ủy cũng đọc một bài diễn văn, chúng tôi sau đó có sự trao đổi riêng tư.
Ngày hôm sau, ở dinh La Grandière (sau này là dinh Độc Lập), trước
mặt một số quan khách ngoại quốc, nhất là Đại sứ Heath của Hoa Kỳ, và Đại sứ
Gibbs của Anh quốc, đó là sự tấn phong chính thức của chính phủ Hữu. Chính phủ
đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Ông Cao ủy tuyên bố trong bài diễn văn của
ông như vậy, và ông kết luận, đó là cái mà chúng tôi gọi là “độc lập theo kiểu
Pháp...” Đến buổi chiều, bà De Lattre đặt một tiệc trà lộ thiên mà tất cả các
nhân vật Sài Gòn đều có mặt.
Sau một thời gian cố gắng quá độ ở Đông Dương, Tướng De Lattre rất
mệt mỏi và cần phải nghỉ ngơi mấy ngày. Tôi liền lợi dụng cơ hội để rủ con trai
của ông ta, Trung úy De Lattre đi săn cọp. Bernard De Lattre là một thanh niên
khả ái và dù có ít tuổi, anh ta đã tỏ ra là một sĩ quan ưu tú. Anh ta sẵn sàng
giữ chức chỉ huy một đại đội Việt Nam đang thành hình. Bởi vậy, sau khi hết
phép, anh ta sắp lên đường nhận chức ở miền Bắc, tôi đề nghị anh ta vào võ
phòng của tôi, mà tôi đang thiết lập. Đại tướng liền trả lời một cách rất cương
quyết:
- Khi người ta đã đeo danh họ De Lattre, người ta ở tiền tuyến chỗ
đang đánh nhau.
Tôi không nài nỉ nữa. Việc thành lập một võ phòng là vấn đề quan
trọng mà tôi chú ý cực độ. Nhiệm vụ của nó là liên lạc trong suốt thời gian
đang thành lập đạo quân Việt Nam. Người đầu tiên giữ chức vụ chánh võ phòng là
Nguyễn Văn Hinh, một phi công trẻ của Pháp, đã từng dự chiến ở Âu châu trong
thời gian từ 1944 đến 1945. Đó là con trai của Nguyễn Văn Tâm. Hinh xuất thân
từ quân đội Pháp. Trong thời gian ở Pháp, anh ta lấy một người vợ Pháp. Do tình
phụ tử với Tâm, anh ta giữ mối liên lạc với nước Việt Nam. Tôi liền bổ anh ta
làm Đại tá Chánh võ phòng. Với Hinh, tôi tìm thấy một cộng sự viên xuất sắc,
tận tâm và trung tín.
Tại Pháp, đã hết khủng hoảng nội các. Bác sĩ Henri Queuille cầm
đầu chính phủ mới và ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Hải ngoại.
Trước khi về Pháp, tôi mời Tướng De Lattre đến chơi với tôi hai
ngày trên du thuyền sông Hương, trong vịnh Nha Trang. Tôi giải nghĩa cho ông ta
rất lâu về địa vị của mỗi người mà chúng tôi phải giữ, tôi nhấn mạnh đến chỗ
quân đội quốc gia Việt Nam không phải mở cuộc chiến tranh với nước Tàu, mà chỉ
để chống Cộng sản… Tôi kết luận:
- Thưa Đại tướng, thật khác lạ với điều mà Đại tướng nghĩ khi mới
bắt đầu cầm quyền tư lệnh ở đây. Người bênh vực độc nhất cho nước Pháp, chính
là tôi vậy.
Tối ngày 14 tháng 3, ông ta bay đi Pháp.
Ngày 27 thì ông ta trở lại. Một sự đe dọa mới của Việt Minh đang
thành hình ở vùng châu thổ sông Hồng. Các sư đoàn thiện chiến của tướng Giáp là
308, 312, 316 đã được báo xuất hiện ở mạn Đông Triều. Nhưng cuộc tấn công hỏng
ở Mạo Khê, hai Đại úy Toàn và Thọ nổi bật trong một trận đương đầu oanh liệt.
Cuộc thăm thú ở Pháp của Cao ủy bị thất bại. Ông ta chỉ được một
số viện trợ cỏn con. Vì vậy, ông ta muốn gây một tiếng vang tâm lý, và khai
thác trên địa hạt chính trị một điểm thất bại của Việt Minh. Ông ta báo tin tôi
biết, mà Tướng Salan phó tư lệnh của ông ta tự tay đem đến Đà Lạt trao cho tôi.
Tôi yêu cầu vị này chuyển sự đồng ý hoàn toàn của tôi cho Tướng De Lattre được
toàn quyền hành động.
Tất cả chính phủ Việt Nam do Trần Văn Hữu dẫn đầu, đều đến Vĩnh
Yên, coi như nơi điển hình của sự thất trận của Hồ Chí Minh. Tại đó, trước mặt
các viên chức văn cũng như võ, De Lattre nói với các vị bộ trưởng vào chiều
ngày 19 tháng 4:
- Thật là một sự vui mừng lớn cho tôi, được đưa các quý vị tới
đây, như tôi đã từng đưa quí vị trước kia, ra mặt trận, mà lực lượng quân đội
Việt Pháp đã thắng trận, để tôi có thể kể lại trên đất này, một chiến công của
trận đánh, để được trình diện trước quý vị những binh sĩ đã từng thắng trận, và
để cho quý vị trông thấy công tác đang thực hiện để bảo vệ đồng bằng. Trên phần
đất Việt Nam này, giữa binh sĩ của Liên hiệp Pháp, thưa ông Thủ tướng, thưa các
ông Bộ trưởng, quý vị đã hai lần đang ở trên đất nước mình…
Chiến thắng đạt được ấy, là nguồn hy vọng lớn lao của nước Việt
Nam. Nó chứng tỏ giá trị và sự hữu hiệu của binh sĩ của xứ sở của quý vị.
Trường hợp đau thương của cuộc chiến tranh này, đã làm nổi lên những đức tính
cao quý và giá trị của dân tộc quý vị đang tô điểm trang sử vẻ vang của dân
tộc, và giúp đỡ họ trong cuộc chiến đấu họ phải đương đầu trong hàng thế kỷ để
giữ lấy sự tự do của nước mình. Tất cả các binh sĩ Việt Nam từng nổi bật ở Vĩnh
Yên, ở Mạo Khê, ở Bến Tắm, chứng tỏ lời tôi nói, đặt niềm tin vào nước Việt Nam
ngày mai, bởi vì thanh niên Việt Nam phục vụ ngày hôm nay dưới sự chỉ huy của
sĩ quan Pháp, cũng vẫn là giới trẻ Việt Nam sẽ phục vụ trong quân đội Việt Nam.
Nó chứng tỏ trước mắt thế giới, là sự cuồng tín Cộng sản chẳng phải nắm giữ độc
quyền về can đảm, và nắm được chìa khóa của mọi thành công… Sự vui mừng của tất
cả chúng ta, là được trông thấy những người lính Việt Nam ấy, mỗi ngày mỗi
nhiều, từ các tỉnh, các làng, đổ xô vào quân đội Việt Nam, đang hình thành và
đặt then chốt vào cán cân chiến đấu cho tổ quốc mình thêm nặng và giá trị. Quân
đội của Liên hiệp Pháp của chúng ta, thưa ông Thủ tướng, đã đủ sức đảm trách
nhiệm vụ thiêng liêng của sứ mạng, nước Việt Nam là cột trụ chiến lược ở Đông
Nam Á châu…
Tôi đến đây là để hoàn tất nền độc lập của quý vị, chứ không phải
để hạn chế nền độc lập ấy. Quân đội Pháp chỉ tới đây để bảo vệ nó…
Thế rồi, sau khi nhắc lại trong trường hợp nào, nền độc lập này
được thực hiện, Đại tướng De Lattre đã nhắc đến một đoạn tuyên ngôn của tôi đọc
trong dịp Tết về chương trình mà tôi muốn thực hiện, ông tiếp:
- Những sự hoan nghênh nồng nhiệt mà thưa ông Thủ tướng, ông Thủ
tướng đã nhận được của dân chúng, đến chào mừng ông, chứng minh một cách hùng
hồn rằng dân chúng ủng hộ và đặt niềm tin vào Ngài cũng như mọi sự hoạt động
của Ngài. Không có lý gì mà tiếng vang của sự hoan nghênh ấy, lại không vượt
quá làn ranh này sang phía bên kia. Qua làn ranh giới này, chỉ vài cây số khỏi
đây thôi, nhiều người đã đau khổ. Phần đông, họ bị giữ trái với ý muốn của
mình, trong gọng kìm của khủng bố. Có một số đã tin vào lời tuyên truyền bịp
bợm, và đã chọn một con đường xấu để thực hiện những nguyện vọng sâu xa của dân
tộc Việt Nam.
Những nguyện vọng ấy, chính phủ của Ngài, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đức Hoàng đế Bảo Đại, đã đạt được bằng một con đường khác. Nước Việt
Nam đã tự do, nước Việt Nam đã độc lập. Nước Việt Nam độc lập, nước Việt Nam là
chúa tể của mình. Nước Việt Nam đứng vào khối các quốc gia dân chủ thân hữu, để
được giúp đỡ trong tương lai, một khi hòa bình lập lại, là một nước sung sướng
và thịnh vượng. Thật không có lý gì mà người Việt Nam lại không ý thức như vậy,
và đứng vào hàng ngũ kháng chiến chính đáng, hàng ngũ của tự do chống lại độc
tài và đàn áp, dưới sự lãnh đạo của Đức Hoàng đế Bảo Đại và của chính phủ của
Ngài.
Được khuyến khích, Trần Văn Hữu hăng hái lao mình. Trong phần đáp
từ, ông xác nhận:
- Trong khung cảnh của tấn bi kịch này, tất cả mọi việc, hàng ngày
đều làm cho mọi người nghẹt thở. Tôi xin nhắc lại công khai và long trọng rằng
chính phủ của tôi, và toàn thể dân chúng Việt Nam đặt niềm tin vào Đại tướng
trong công cuộc chống kẻ thù chung này. Tôi nói thật sự rằng đây là kẻ thù, bởi
cái họa đang buộc chúng tôi phải đương đầu này, không cho phép chúng ta được
trì hoãn đối với những xảo quyệt mà chúng ta phải trả giá đắt bằng máu xương
của thanh niên Việt Nam, và cả xương máu của thanh niên Pháp nữa. Liệu họ có
thể nói rằng, họ là ái quốc được nữa không, khi mà họ đã tự đặt dưới sự điều
khiển của ngoại bang, để tuyên truyền cho một lý tưởng mà hễ mở mồm ra là chối
bỏ tổ quốc và dân tộc. Như vậy, thật không còn nghi ngờ gì nữa, Việt Minh là kẻ
thù của dân tộc, Việt Minh không thực hiện nguyện vọng của dân chúng, mà nó
muốn đặt dưới sự độc tài đô hộ của ngoại bang…
Tiếng vang về ngày hôm ấy thật to lớn, chẳng những ở Việt Nam mà
còn ở khắp Ẩ châu, và cả ở Hoa Kỳ nữa. Tất nhiên, tại Pháp tiếng vang ấy rõ
ràng hơn cả.
Vị Tổng tư lệnh quân đội của tôi
Luôn luôn tôi phải đương đầu với hai nỗi lo âu này là: sự đe dọa
của quân Tàu ở biên giới và sự đe dọa của Cộng sản ở trong nước. Thế mà tôi
không thể quên rằng giải pháp Pháp - không phải giải pháp Bảo Đại như người ta
thường nói rất nhiều - vốn hạn chế tôi trước kia. Người ta đã làm tôi mất rất
nhiều thời gian quí báu, để tổ chức quân đội của tôi. Vì vậy, không phải là
không tốt lành gì mà lao đầu hết mình vào công tác, vì tôi cần phải chống đỡ vị
trí của tôi cho tương lai. Tôi chỉ còn một giải pháp duy nhất: lợi dụng thời cơ
này đến mức tối đa, cho thật nhanh chóng, Đại tướng De Lattre đã giúp tôi một
thời hạn mà tôi cần phải sử dựng trên địa hạt chính trị.
Ngày 7 tháng 5 năm 1951, Đại tướng đã ngồi với tôi trong suốt một
ngày. Chúng tôi đặt nền móng cho sự phòng thủ vùng sơn cước, đối với các sắc
dân thiểu số. Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng. Hai hôm sau, Cao ủy sang
Singapour để dự một hội nghị quân sự tay ba với người Mỹ và người Anh, cho tới
ngày 20, để bàn về các vấn đề Đông Nam Á. Khi ông trở về, ông có cảm tưởng là
chưa để lỡ mất thời gian. Trong cuộc thảo luận này, ông đã có thể chứng minh sự
cần thiết về đoàn kết giữa ba nước, nước Pháp, nước Mỹ và nước Anh, đối với
những sự len lỏi của Nga Sô và của Trung Cộng, giúp cho các phong trào Cộng sản
địa phương hành động.
Ngay sau khi ông trở về, ông phải đương đầu với một trận tấn công
mới của Việt Minh, bắt đầu nổ ra vào cuối tháng trong suốt vùng sông Đáy. Hai
sư đoàn 304 và 308, mà tướng Giáp đưa vào trận chiến, sau một cuộc đụng độ nẩy
lửa, bị bắt buộc phải tan vỡ và bỏ chạy. Trong trận này, Trung úy Bernard De
Lattre bị tử trận ngày 30 tháng 5 trên đỉnh núi ở Ninh Bình.
Tôi vội gửi điện phân ưu cùng với Đại tướng De Lattre. Tôi biết
ông đang bị xúc động mạnh, vì Bernard De Lattre là con trai độc nhất của ông.
Cũng do sự yêu cầu của con ông một phần, mà ông ta đã nhận lời sang nhận chức ở
Đông Dương và bây giờ ông có cảm tưởng, đã không bảo vệ được chính con ông. Tôi
liền truy cấp Long Bội tinh cho Trung úy Bernard De Lattre với lời tuyên dương
như sau:
“Sĩ quan ưu tú, chết ở sa trường ngày 30 tháng 5 năm 1951, trong
trận đánh ở Ninh Bình, để bảo vệ Liên hiệp Pháp, đã làm rạng danh những truyền
thống tốt đẹp của nước mình, quân đội mình và gia đình mình. Do sự hy sinh anh
dũng, đã mang một minh chứng cao quí và chặt chẽ về mối liên kết bình đẳng giữa
hai nước Pháp và Việt. Đã lưu lại một tấm gương sáng láng cho giới thanh niên
can đảm của hai quốc gia, và cho các người kiêu hãnh, không còn ngờ vực gì về
sự bảo vệ tự do và tổ quốc chính là một hy sinh tối thượng của con Ngài”.
Đại tướng gửi cho tôi vài câu trả lời để cám ơn, trong đó có toát
ra mối lo âu của ông, là đẩy tất cả tầng lớp nhân dân trên toàn quốc vào cuộc
chiến, điều mà tôi vẫn mong muốn:
“Vâng, Bernard có thể là đại diện ưu việt của giới thanh niên
Pháp. Nó là sĩ quan thứ 59 tốt nghiệp khoa học ở Saumur, chết ở chiến trường
Việt Nam, và là người con thứ 18 của các tướng lãnh Pháp. Nhưng nó không thể
nào đại diện cho giới thanh niên ưu tú Việt Nam được. Bọn này ra ngoại quốc,
nhưng không phải là để ra trận. Nếu các sinh viên của quí quốc có ra trận thì
đó là trong hàng ngũ của Việt Minh. Họ là con cái của dân chúng, các tiểu điền
chủ mới ra trận, và đánh rất hay. Con của chúng tôi không thể nào đại diện cho
giới thanh niên ưu việt Việt Nam được”.
Một hôm đau đớn đến tột cùng, ông bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, con trai Bernard của tôi không phải chết cho
nước Pháp. Thế mà trên mộ bia của nó, lại đề là như vậy. Như thế là không đúng.
Nó chết ở Ninh Bình, Bernard đã chết cho nước Việt Nam.
Kể từ ngày chết của Bernard, tôi nhận thấy ở Đại tướng có một biệt
nhãn đối với tôi. Bởi con ông chết cho nước tôi, tôi thấy ông càng quan tâm đến
nhiệm vụ đã dành cho ông. Đối với cá nhân tôi, sự gắn bó ấy như nhiễm tình phụ
tử. Bất cứ trường hợp nào, ông cũng đứng về phía tôi, và tìm cách dung hòa mọi
dị biệt. Ông đã nhìn tôi như nhìn vua Albert đệ nhất của nước Bỉ, lúc nào cũng
cầm quân ra trận. Tôi cũng là một vì vương rong ruổi sa trường, và như các
Hoàng đế của Việt Nam cổ xưa, tôi sẽ thân chinh, cầm đầu quân đội. Ông chỉ muốn
là vì nguyên súy, được ủy nhiệm mà thôi…
Tình cảm ấy đã do ông bộc lộ ra, qua bài diễn văn dài, đọc ngày 11
tháng 7 năm 1951, trong dịp phát thưởng ở trường Trung học Chasseloup Laubat
tại Sài Gòn. Qua các sinh viên đang đứng trước mặt ông, lời nói của ông như để
gởi cho tất cả các giới thanh niên toàn quốc.
“Đã có nhiều lúc nghiêm trọng của lịch sử các dân tộc, mà giới
thanh niên vốn là tương lai của đất nước vẫn phải nắm lấy hiện tại ngay tự bây
giờ. Khi một quốc gia đang ngồi dưới bóng tử thần, thì giới thanh niên như bông
hoa hàm tiếu vẫn nở đúng lúc giao thừa trong ngày tết, cũng phải biết nở ra
đúng dịp để mang lại kết quả tốt đẹp trước khi lại thầy ánh bình minh ló dạng”.
“Phải chăng đó chính là trường hợp ở đây? Từ mảnh đất cổ xưa của
Việt Nam, từng chịu mang bao cuộc xâm lăng, tôi như nghe thấy từ chốn mịt mù
đen tối của dã man tàn bạo, lời kêu gọi dành cho giới thanh niên đầy nhiệt
huyết… Và tôi đây đã từng biết và từng yêu giới thanh niên ở khắp mọi nơi, tôi
nói rằng thanh niên ở đất nước này có thừa khả năng đề tin cậy, và đáp ứng nổi
những nhu cầu của lịch sử, Thanh niên mẫn cán và hăng say, khôn khéo và kiêu
hãnh, đầy tham vọng và đầy nhiệt huyết, vốn đã từng được chứng minh qua từng
thể kỷ, thanh hiên rất nhạy cảm, sẵn sàng nghe tiếng gọi của đại nghĩa; thật
sự, thế hệ thanh niên đang trưởng thành này ở Việt Nam, đã có tất cả những đức
tính đặc biệt mà hiện tại vô cùng khẩn trương đang đòi hỏi sự có mặt tức khắc…
“… Đó là chiến tranh, hãy tỏ ra xứng đáng là con người. Nghĩa là
nếu anh là Cộng sản, hãy bỏ ra theo với Việt Minh. Nơi đó, có rất nhiều kẻ
chiến đấu gan dạ cho một ý đồ xấu, nhưng nếu các anh là những người yêu nước,
các anh hãy chiến đấu cho Tổ quốc và dân tộc, vì cuộc chiến này là của các anh.
Nước Pháp chỉ đến đây để giúp các anh, với điều kiện là các anh phải đi với
họ”.
Tiếng nói của Đại tướng còn vang bên tai tôi, với một giọng chứng
tỏ đã có sự liên hệ thật chặt trong sự đau thương của tâm hồn ông, với linh hồn
của dân tộc tôi.
“Các anh là thanh niên trí thức của Việt Nam. Các anh phải đòi cho
được đặc ân ưu tiên ra trận. Thiện chí vô biên của dân tộc Việt Nam đang chờ đợi
nơi anh. Nó đòi hỏi sự nhập ngũ và chí hướng của các anh. Các anh không có
quyền làm cho nó thất vọng. Hãy nhớ câu này của Khổng Tử: “Trái lòng dân là
trái lòng trời”.
“Các anh có thể là hạt muối trên cõi đất này. Khốn nạn thay cho
hạt muối ấy, nếu nó nhạt phèo: Khi mà một quốc gia bị phản bội bởi giới trí
thức, nó sẽ chết hoặc phải thay bằng lớp trí thức mới khác. Tôi nói với giới
thanh niên đang trưởng thành ở Việt Nam: Hãy thuộc nằm lòng câu nói bất hủ đã
trở thành châm ngôn của một tay lãng tử từng kêu lên trước Quốc hội Ba Lan:
‘‘Tôi muốn sống trong nền tự do đầy nguy hiểm, còn hơn sống trong thanh bình
của nô lệ”. Vào giờ phút long trọng của số phận Á châu này, hành động mà lịch
sử chờ đợi ở các anh đã vượt quá tầm vóc quốc gia của nước anh. Nó phải đáp ứng
được nguồn hy vọng âm thầm của hàng triệu con người, sẵn sàng phải chịu ách
Cộng sản như một định mệnh phũ phàng. Tự tay anh, mà mai đây, có những con
người thoát được nạn khủng bố của “Đế quốc Bắc phương”, có thể reo lên ở biên
giới Việt Nam, như năm 1789, những người khách phương xa đến biên giới Pháp đã
từng reo: Đây bắt đầu đất của tự do.
“Tất cả các anh đây, tất cả, các anh được tự do lựa chọn đường lối
của mình, hoặc theo con đường hướng thượng, là con đường của danh dự, của bổn
phận và của nỗ lực, hoặc theo đường đi xuống, là con đường của bất động của
chạy trốn và từ nhiệm… Nhưng đối với các anh, thanh niên trí thức Việt Nam, mà
tôi ưu ái như đối với thanh niên nơi quê cha đất mẹ, thời gian đã điểm để các
anh bảo vệ lấy xứ sở của mình… Để đi tới ánh sáng của độc lập, còn phải mất
nhiều mồ hôi và xương máu, mới có thể gặt hái được những bông hoa quý ấy.
“Vậy thì chỉ có trung thành với lý tưởng do Đức Hoàng đế Bảo Đại
tượng trưng mới tìm ra chân lý ấy… Tôi tin rằng nước Việt Nam sẽ được cứu thoát
do chính bởi các anh”.
Lời nói sau cùng này, ông muốn được tôi cụ thể hóa, nên mời tôi ra
duyệt binh tại Hà Nội ngày 14 tháng 7. Trong dịp này, có hàng tiểu đoàn binh sĩ
của quân lực Quốc gia mới thành lập, nên mang tính chất một ngày hội của quân
đội.
Tôi nhận lời ra Hà Nội, và ở biệt điện đường Puginier tức Phủ Toàn
quyền cũ, mà nước Pháp đã long trọng trả lại cho Việt Nam.
Bên hồ Hoàn Kiếm đã dựng sẵn một chiếc rạp. Tôi ngồi trên bục ở
giữa rạp, bên phải có Đại tướng De Lattre, trước quốc kỳ, có hàng quân danh dự
dàn chào.
Các thân cận của Đại tướng muốn trong dịp này, tôi vận binh phục
để chứng tỏ tôi đang thực sự cầm đầu quân đội. Tôi từ chối dứt khoát, cho rằng
vị Quốc trưởng không thể đóng trò như thế được, nó sẽ làm tôi trở thành một
thượng khách của Đại tướng. Thử hỏi Clemenceau, khi đến ủy lạo binh sĩ chiến
đấu trong các hầm vào Đệ Nhất Thế Chiến, ông có vận binh phục không? Ngược lại,
để minh chứng vị trí dành cho mỗi người, ngay đầu buổi lễ, trước quốc kỳ và
quân đội nhân danh Quốc trưởng tôi tặng thưởng Đệ nhất Long Bội tinh cho vị
Tổng tư lệnh quân đội. Rồi lên xe Jeep cùng với Đại tướng, và Đại tá Hinh,
chúng tôi đi duyệt các hàng quân. Tại đây, có đủ các binh chủng của quân đội
trẻ của tôi, đã từng hiển danh trong các chiến trường Vĩnh Yên, Mạo Khê và Sông
Đáy. Sau đó là cuộc diễu binh, được dân chứng đứng đông đặc hai bên đường hoan
hô cổ vỗ.
Tôi ngợi khen Đại tướng, và cảm ơn nồng hậu, về thành quả của ông
đã dành cho quân đội và cho đất nước tôi.
Ông Cao ủy nói cho tôi biết sự ngạc nhiên của ông, được trông thấy
sự mau lẹ mà các tân binh đã thu lượm được về các căn bản quân sự, cũng như về
sự can đảm của họ khi ra trận. Mặt khác, họ cũng thích ứng rất dễ dàng với mọi
mặt của chiến tranh. Mới gần đây thôi, người Việt Nam chưa được ai biết đến là
một chiến sĩ thiện nghệ. Vì vậy, trong thế chiến thứ nhất 1914-1918 và thế
chiến thứ hai 1939-1945 khi sang Pháp họ chỉ được xung vào các đoàn lính thợ.
Người Việt Nam nhỏ con, bỗng là thứ bé hạt tiêu, có thể liệt vào huyền thoại,
mà không ai dầm khinh nhờn.
Đại tướng De Lattre biết rõ như vậy, và nhiều khi chính ông đã đòi
phải trao trách nhiệm cho các sĩ quan Việt Nam. Vì vậy, khi bắt đầu đặt ra các
cấp tiểu đoàn, tôi để mặc ông toàn quyền bổ nhiệm các tiểu đoàn trưởng trong
giới sĩ quan mới ra trường. Ông chọn hai người là Dinh và Đồng, để trao cho hai
tiểu đoàn số 1 và số 2 BVN (tức tiểu đoàn Việt Nam), trong hàng ngũ đó có
Bernard De Lattre đã bị tử trận. Tôi thấy cả hai người đều còn quá trẻ, và
thiếu kinh nghiệm cho một trọng trách như vậy. Nhưng Đại tướng bảo nên để họ tự
tin, và đã có lý. Về sau, cả hai sĩ quan này đều tử trận cả. Trong tinh thần
ấy, cũng như trong sự phấn khởi ấy, Tướng De Lattre lại xúc tiến lập sư đoàn
thứ 4 lính thổ, để giữ an ninh cho vùng Cao nguyên.
Quân đội Việt Nam tiến vững. Tôi liền cho nổ thêm một sự hăng say
nữa. Ngày 16 tháng 7, tôi ra lệnh động viên ở Việt Nam. Tất nhiên là tôi không
chú ý đến sự khó khăn mà quyết định này đưa lại. Có thể là do sự thiếu sót về
tổ chức hành chánh chưa được hoàn mỹ. Nhưng tôi chú trọng nhất về điểm tâm lý
mà vụ này có thể đưa tới. Vì ngoài việc buộc các thanh niên đến tuổi cầm súng
để bảo vệ xứ sở, tôi muốn giúp đỡ họ khỏi thắc mắc về vấn đề chọn nghề hạy tự
nguyện đầu quân.
Quyết định ấy đối với tôi, có tầm quan trọng lớn lao ở trong nước
cũng như ở ngoài nước.
Ít ngày sau, Cao ủy bay về Pháp. Tôi hiểu rõ, ông đã quá mệt mỏi
do những nỗ lực tung ra kể từ ngày đến đây. Tôi chỉ gặp lại ông ba tháng sau
đó.
Trước hôm ông ra đi, tôi đã đưa cho ông một bức thư qua ông Hữu,
để ông có thể trình trước chính phủ Pháp.
“Những cuộc đàm phán về hòa bình ở Triều Tiên, không phải là không
làm cho dân chúng Việt Nam xúc động, bởi vì nó có thể đưa đến sự tiến công miền
Bắc Việt Nam.
“Hội đồng chính phủ, trong cuộc thảo luận dài ngày mùng 6 tháng 7,
đã ước lượng rằng, hòa bình xúc tiến được ở Triều Tiên, không phải là chấm dứt
đươc chiến tranh ở toàn châu Á, nếu nó không được sự bảo đảm về phía Cộng sản
đối với Việt Nam. Chỉ nước Pháp là có thẩm quyền, khi nhân danh Liên hiệp Pháp
trong các hội nghị ngoại giao quốc tế, chính phủ Việt Nam rất tri ân ông Cao
ủy, để xin Cao ủy can thiệp cạnh chính phủ Pháp, đạt được lời cam kết trong
cuộc đàm phán về hòa bình ở Triều Tiên, liên hệ đến an ninh và toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam...”
Tiếc thay, khi Cao ủy về tới Pháp thì lại gặp kỳ khủng hoảng nội
các. Chính phủ Queuille đổ ngày 10 tháng 7 và mãi đến ngày 10 tháng 8, ông
Pleven mới gỡ được các khủng hoảng này. Ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Liên
kết.
Đúng trước hôm Cao ủy trở về Pháp, thì chúng tôi được tiếp ở Sài
Gòn, vị Thống đốc tiểu bang New York, ông Thomas Dewey. Như phần đông các đồng
hương của ông, ông cũng không biết tí gì về tình hình Việt Nam. Vậy mà khi qua
Hong Kong mấy hôm trước ông vẫn cứ tuyên bố những điều bất lợi cho chúng tôi.
Đến Sài Gòn, tôi tiếp đón ông cùng với Tướng De Lattre. Ông rất lấy làm ngạc
nhiên về tình thân thiết giữa Đại tướng với tôi. Trước khi ông đi, ông đã đọc
một bài diễn văn đáng chú ý sau đây:
“Tôi đã thấy một quốc gia đang sửa soạn chiến tranh, trong những
trường hợp thật can đảm. Nước đó đang được vị đại diện nước Pháp thúc đẩy và
nâng đỡ, vị này chẳng những là bạn thiết của họ, mà họ lại còn được coi như ân
nhân, mà gần đây, cái tang mà ông ta chịu được coi như tang chung của dân tộc.
Tôi phải nói rằng, qua kinh nghiệm suốt một đời chính trị của tôi, tôi chưa
từng thấy một trường hợp nào tương tự. Thật là cảm động, đến độ mà chúng ta,
người Mỹ chúng ta không tài nào nghĩ tới…”
Rồi trở lại điểm mà Đại tướng De Lattre nói ở hội nghị Singapour,
muốn đặt miền Bắc Việt Nam như tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á, ông kết luận:
“Vấn đề không phải là chia xẻ các ảnh hưởng giữa các nước lớn, hay
sự tranh giành kinh tế đối lập, mà là trọng trách phải được trao phó. Tôi đã
thấy cái nguyên lý nhiệm màu rồi. Tôi đã trông thấy điếu kỳ diệu rồi, và tôi sẽ
nói ở Mỹ”.
Vậy thì đó là luận cứ mà Đại tướng De Lattre có thể sử dụng, và
tôi hoàn toàn đồng ý. Ở Việt Nam chúng tôi đang dẹp nội loạn, nhưng chúng tôi
cũng bảo vệ chiến tuyến của tự do, trên một bình diện ngang hàng và liên kết.
Tại Triều Tiên, người ta đang bảo vệ chiến tuyến của tự do. Vậy thì đó là cùng
một trận chiến. Chỉ có một cuộc chiến ở châu Á, và thật vô lý, nếu đàm phán về
hòa bình ở Triều Tiên với Trung Hoa, lại không nói với họ về tất cả các nước
khác ở Đông Nam Á, nhất là cuộc viện trợ của Tàu cho Việt Minh để đánh chúng
tôi.
Ông Cao ủy đã ngỏ ý cho tôi biết là ý định của ông là muốn sang
Mỹ, lập luận này rất có ích cho ông cũng như cho Trần Văn Hữu, khi đi dự Hội
nghị ở San Francisco từ mùng 3 đến mùng 8 tháng 9, để ký hiệp ước hòa bình với
Nhật. Đây cũng là lần đầu tiên mà Việt Nam can thiệp trên bình diện quổc tế. Sự
tham dự của nước tôi trong Hội nghị này là điều thắng lợi to lớn cho dân tộc,
vì nó củng cố nền độc lập của nước tôi.
Biết rõ người Mỹ rất tôn thờ tự do dân chủ, tôi lưu ý ông Cao ủy
cũng như Thủ tướng Hữu về những câu hỏi, mà họ có thể nêu lên với các ông về
cuộc bầu cử tương lai. Không phải là tôi chống lại các cuộc bầu cử này, nhưng
tôi không mấy chú trọng đến điều đó trong hiện trạng. Có thể, họ sẽ nêu lên đối
với Việt Nam, nếu quyết định sẽ là trưng cầu dân ý ở Triều Tiên, để xem dân
chúng Triều Tiên thích chế độ nào. Còn vấn đề bầu cử ở đây, thì quả là khôi
hài. Người ta đã thấy trong dịp bầu cử ở Lào, có đến 92% dân chúng không đi
bầu. Ở Cam Bốt thì đến 70% không đi. Còn đối với truyền thống của nước tôi,
cũng như hoàn cảnh hiện tại, cuộc bầu cử chỉ là một con mồi. Nó chỉ dùng để
phục vụ bọn Cộng sản. Nếu thật sự người ta muốn phục vụ nền tự đo dân chủ, thì
người ta cần phải mang đến cho chính phủ những nỗ lực để thực hiện, như trong
bản thông điệp mà tôi từng đọc trong dịp Tết. Tất cả những cải cách ấy, đã được
Hồ Chí Minh tung ra, như chia lại ruộng đất, chính trị về gạo, y tế, xã hội,
thuốc men… Hiện nay, các cải cách ấy đang được thực hiện. Việt Minh chỉ còn có
nước câm lặng mà thôi.
Ở Pháp, các ông chính khách, vắt tay lên trán suy nghĩ có nên bàn
lại, nếu ngày mai Hồ Chí Minh đề nghị với chúng tôi một giải pháp hòa bình. Tôi
không phải là người bạo động, nhưng quả thật khó mà chấp nhận được. Bởi vì Hồ
Chí Minh không những chỉ là kẻ phiến loạn đối với Tổ quốc Việt Nam, mà còn là
tay Cộng sản có đường hướng vượt quá biên thùy của nước tôi. Tại Âu châu, người
ta có lẽ có cảm tưởng rằng đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật. Tuy nhiên,
các lãnh tụ Tây phương không thể ngờ được rằng, chiến lược toàn cầu của Cộng
sản, chính là một hệ thống quân bình. Hòa bình ở Âu châu thì chiến tranh ở Á
châu. Nếu mai đây mà chiến tranh ngưng ở Á châu, hãy tin rằng không thể có an
ninh ở Âu châu…
Đại tướng De Lattre đã có định kiến riêng về vấn đề này. Ông không
nói thẳng với tôi, nhưng thái độ của ông đã bộc lộ. Ông thường nhắc lại ở khắp
mọi nơi: Nước Pháp không có tí quyền lợi gì ở đây cả… Điều mà ông muốn tìm
kiếm, chính là một lối thoát, lối thoát trong danh dự, có hàm ý rằng ông muốn
nói đến cái ngõ hẹp, mà ông không tin chắc là sẽ tìm thấy. Ông chẳng từng nói
với vài tay thân tín: “Theo tôi, nước Nga, nước Tàu, rồi mai đây là Ấn Độ, mai
đây nữa khi tất cả chúng tôi đã ra đi, toàn thể Đông Nam Á, tất cả sẽ vĩnh viễn
bị nhuộm đỏ”.
Như vậy, phải chăng tôi đã có lý, khi người ta nói đến giải
pháp Bảo Đại đã chữa lại là giải pháp của nước Pháp. Nhưng
thế thì Việt Nam sẽ ra sao? Một sự thay thế Pháp bằng Hoa Kỳ? Nó cũng sẽ chỉ
ngắn hạn mà thôi. Những ai đã kết tôi là bất động, phải hiểu thái độ dè dặt của
tôi. Đối với dân tộc tôi, tôi có bổn phận phải biết nhìn xa hơn. Tôi tin chắc
tự thâm tâm rằng ngày nay Tướng De Lattre đã hiểu đang phải đương đầu với những
gì. Riêng tính chất mã thượng, theo truyền thống Pháp của ông, đã thận trọng
không dám hở ra với tôi, và buộc ông phải giữ một thái độ vô cùng hăng say để
thúc đẩy tôi, mà ông càng ưu ái với tôi.
Khi tôi chắp vá lại những tin tức phản ảnh thời đại ấy, tôi rất
đau buồn về những sự nhận định thiếu tính chất vô tư của những tác giả nông nổi
ấy. Chẳng một ai trông thấy cái hiện tượng kỳ lạ đã đưa Tướng De Lattre vào nền
độc lập của Việt Nam. Mang một vết thương đau đớn do cái chết của đứa con trai
độc nhất, thêm vào nỗi vất vả nhọc nhằn vô bờ, cộng thêm bệnh hoạn, sự trãi đó
của hiện tượng này đã đòi hỏi ở Đại tướng một tâm hồn can đảm siêu phàm.
Hiện nay, Cao ủy đảm trách vai trò đi cầu viện tại Hoa Thịnh Đốn.
Một nhiệm vụ không mấy được ông ưa chuộng, nhưng ông vẫn hoàn tất theo sự hăng
say thường lệ. Ông phải theo đuổi tận Luân Đôn để trình bày nhãn quan sáng suốt
của mình: “Bắc Việt Nam là chìa khóa giữ toàn thể hệ thống phòng thủ
Đông Nam Á. Để mất Bắc Việt Nam là mở cửa cho Cộng sản tiến đến cửa ngõ Đại Tây
Đương”. Chặng cuối cùng của ông là La Mã, mà người ta cho rằng ông đến để
xin Đức Giáo hoàng ban phép Thánh cho đoàn quân thánh chiến của ông.
Trong khi ông còn lênh đênh trên tầu L’Ile de France đưa tới Nữu
Ước, tôi gửi cho ông một bức điện, tỏ lòng tín nhiệm và sự hỗ trợ của tôi.
“Thưa Ngài Cao ủy, tôi mong rằng trước khi Ngài đến Hoa Kỳ, Ngài
sẽ nhận được bức điện tín này tỏ lòng tín nhiệm và nguồn hy vọng của toàn thể
dân chúng Việt Nam.
Chính là vì họ mà Ngài đảm trách sứ mạng này, để bảo đảm cho nền
độc lập mà nước Pháp đã trao trả cho chúng tôi.
“Khi làm luật sư đấu tranh cho sự bảo vệ Việt Nam trước một nước
lớn, là nước bạn Hoa Kỳ vĩ đợi, Ngài đã tiếp tục thể hiện nền độc lập ấy, được
cụ thể hóa ở Vinh Yên, do một đại quân nhân của nước Đại Pháp, mà các chiến
thắng lẫy lừng ở khắp chiến trường Bắc Việt, đã cứu thoát nước Việt Nam qua cơn
hiểm nghèo, bằng một giá vô cùng đau đớn. Tôi xin tỏ lòng tri ân của cả một dân
tộc và sự quyết tâm của họ cho những trận chiến trong tương lai. Những biện
pháp động viên mà tôi ra quyết định, do đề nghị của Thủ tướng Trần Văn Hữu và
của Hội đồng Bộ trưởng, đã được toàn thể dân chúng hoan nghênh. Họ rất hãnh
diện được đặt dưới quyền chỉ huy của một tướng lãnh như Ngài. Tất cả các thanh
niên Việt Nam đều sẵn sàng nghe theo lời kêu gọi của tôi để xả thân cứu quốc.
Vậy thì với tất cả sự cuồng nhiệt mà quân đội Việt Nam sẽ chiến đấu sát cánh
với quân đội Liên hiệp Pháp, để sẵn sàng thay thế lần lượt, theo như phương
tiện mà họ được trao cho.
“Thưa Ngài Cao ủy,
Với tất cả sự cầu chúc Ngài thành công trong sứ mạng, tôi xin nhắc
lại. Thưa Ngài Cao ủy, lòng ưu ái, sự tín nhiệm hoàn toàn và tình bạn thắm
thiết của tôi đến với Ngài”.
Ông đã trả lời tôi như sau:
“Thưa Hoàng thượng,
“… Bằng chứng của sự tin tưởng của Hoàng thượng, đối với tôi thật
quí báu trước khi tôi đến Washington, để nói chuyện. Tôi xin chân thành đa tạ
Hoàng thượng, đã tỏ ra tín nhiệm và ưu ái đối với tôi. Đối với một người trong
sự cô đơn, chỉ tìm thấy lại được tình thân, là do những cảm tình chân thực, sự
tín nhiệm và lòng ưu ái ấy thật vô giá”.
Một mặt khác của công tác của chúng tôi. Đại tướng phải làm việc
chống lại thời gian, còn tôi thì phải đi đôi với thời gian. Đối với ông, còn
biết bao nhiêu sự việc phải hoàn tất mà thời gian quá ít ỏi. Đối với tôi, thì
chỉ có một công tác có thể làm được trong hoàn cảnh này, là đặt nền móng cho
một nền hành chánh và một quân đội vững chắc, do thế tôi phải tính từng thời
hạn của từng sự việc và giá trị con người. Chúng tôi không thể nào hòa nhịp
đúng bước của nhau. Sau khi đã cố gắng đi hia bảy dặm để đối phó với những sự
việc mà ông cho là trì trệ, sau rốt Tướng De Lattre cũng quen với sự lủng củng
đó.
Vì thế, hiện nay chúng tôi đang chú ý vào miền Bắc Việt Nam. Miền
Nam Việt Nam bỗng dưng có sự kiện nổi bật vào thời gian ấy. Đó là Tướng Chanson
Tư lệnh quân đội ở Nam phần kiêm Thượng sứ Pháp ở Cộng hòa Việt Nam, trong khi
đi thị sát tỉnh Sa Đéc, bị một đoàn quân Cao Đài ly khai ám sát. Thủ hiến Nam
Việt Thái Lập Thành cũng bị giết cạnh ông ta.
Tôi rất hâm mộ Tướng Chanson. Cựu sinh viên trường Võ bị
Polytechnique, ông ta đã tỏ ra can đảm, có sự hiểu biết sâu rộng và tận tụy,
nên đã đặc biệt thành công trong sứ mạng. Nhờ ông ta, mà sự bình trị ở miền Nam
đạt rất khả quan. Tôi đã gặp ông ta nhiều lần, và bàn bạc với ông ta về nhân
vật chỉ huy Nam bộ của Việt Minh, là Tướng Nguyễn Bình.
Trước khi bị tù Côn Đảo, Nguyễn Bình từng ở lâu năm ở Tàu, rồi ở
Nga, trước khi nắm quyền tư lệnh quân du kích miền Nam. Uy tín và cá nhân của y
đã dựng y lên đối đầu với tướng Giáp mà y đã làm cho lu mờ. Do Bẩy Viễn, tướng
lạnh của Bình Xuyên, tôi biết chỗ ẩn náu, và hoạt động của viên tướng độc nhỡn
này, và tôi đã đưa cả cho Tướng Chanson. Nhưng Nguyễn Bình vẫn thoát hiểm trong
mọi cuộc bao vây. Thế mà ngày 29 tháng 9, Nguyễn Bình bị giết, chắc do một tên
trong đoàn hộ tống y, trong một cuộc đụng độ với quân tuần kiểm Cam Bốt bên
sông Srepok. Lúc ấy, Nguyễn Bình bị Hà Nội triệu hồi, để trả lời về những hành
động lạc hướng Mác Lê của y, do tướng Giáp tố cáo. Cái chết vẫn bị bao trùm
trong bí mật, do một sự tranh quyền, thanh toán lẫn nhau… Đối với tôi, tôi ước
mong bắt sống được Nguyễn Bình. Dù sao nữa, anh ta đã chết, và cũng không thọ
hơn người mà anh ta từng chạm trán nhiều phen là Tướng Chanson.
Cuối tháng 9, tướng Giáp lại mở một cuộc tấn công mùa thu lên
thượng du Bắc Việt. Tướng Salan lức ấy quyền Tổng Tư Lệnh quân đội, đã khôn
ngoan cho thả quân nhảy dù trong đó có một tiểu đoàn Việt Nam xuống Nghĩa Lộ,
là một thị trấn nhỏ ở phía Nam sông Hồng.
Khi Tướng De Lattre đáp xuống Sài Gòn, tất cả đều đã xong xuôi.
Ngay khi ông đến, chúng tôi hội đàm với nhau suốt ba giờ liền. Ông kể cho tôi
thật tỉ mỉ, cuộc nói chuyện của ông ở Hoa Kỳ, ở Anh quốc, và ở La Mã, đồng thời
cho biết tình hình chính trị mà ông ta thấy tại Pháp.
Biết trước rằng, ông lại sắp đi Pháp, sau đó một ngày, là ngày 21
tháng 10, tôi mở tiệc chiêu đãi ông, có đông đủ các nhân vật trong chính phủ
tham dự. Đến cuối bữa ăn, tôi ngỏ lời khen thành quả mà Cao ủy đã đạt, nhất là
về công tác cuối cùng này. Trả lời tôi, Tướng De Lattre đọc một bài diễn văn
rất đáng chú ý:
“Thưa Hoàng thượng, tôi có bổn phận phải báo cáo với Hoàng đế, là
Tổng Tư Lệnh quân đội của quân lực Việt Nam, sau khi thi hành công tác…”
Rồi nhấn mạnh từng chữ, như đang đứng kiểu nghiêm chào ông nói:
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin báo cáo lên Ngài công tác đã được
trao phó. Công tác này với kết quả cụ thể thuộc lãnh vực quân sự, nhưng căn bản
chính của nó lại nằm trong chính trị. Bởi vì không một nước nào lại muốn kéo
dài vô tận, nỗ lực binh bị, tài chánh và nhân sự, không một nước nào muốn xúc
tiến và tăng cường mọi viện trợ cụ thể cho một nước mà cơ cấu chính trị chưa đủ
vững và mạnh mẽ. Binh lực riêng rẽ chỉ là một yếu tố trong đại thể, tạo nên sức
mạnh, khả năng đề kháng của một quốc gia, y như một võ khí chỉ giá trị khi ở
tay người dũng sĩ, vậy thì lực lượng quân sự tùy thuộc vào nền tảng vững chắc
của chính trị, do thế viện trợ quân sự phải dựa vào nên tảng chính trị trước
tiên…
“Tôi đã đem quyền lực của tôi, để phục vụ theo lòng tin tưởng của
tôi, và tôi đã nói rằng Hoàng đế Bảo Đại là biểu tượng, là cây cột cần thiết
cho nền thống nhất của Việt Nam.
“Hoàng gia là mối liên lạc vững chãi của đất nước này, vừa rộng
lại vừa phong phú đi từ ải Nam Quan tới mủi Cà Mau. Thêm vào đấy, Hoàng gia là
sợi giây liên lạc chặt chẽ để thống nhất được toàn thể các sắc dân thiểu số
trên đất nước này. Hoàng đế là sự thống nhất, dẹp tắt được tất cả mọi mâu
thuẫn, mọi dị biệt chính trị, và mọi sắc thái phong kiến trên toàn lãnh thổ.
Ngài là chủ tể quân đội, mà quân đội vốn là lợi khí cũng như ý nghĩa của nền
thống nhất trên toàn quốc.
“Tôi cũng đã nói, Hoàng đế là vị tân quân, thừa kế trẻ và tiến bộ
của một triều đại cổ, vốn là tinh hoa duy nhất của ngàn xưa của nền Quân chủ
Việt Nam, là gạch nối giữa quá khứ với tương lai, đảm bảo cho sự thống nhất
toàn quốc, bởi vì Ngài đã đứng lên trên hết mọi giai tầng xã hội, cũng như trên
hết mọi xu hướng chính trị. Hoàng đế là biểu tượng cho toàn quốc, đại diện cho
khắp mặt thần dân ở Việt Nam.
“… Việc tấn phong nước Việt Nam trên bình diện quốc tế - do đó,
tôi đã được cử đi Washington, đi Luân Đôn, đi La Mã - đòi hỏi những điều kiện
tiên quyết và nhất định, là sự thể hiện hai điều kiện sau này, hầu có thể tạo
được nền thống nhất và sự hữu hiệu của nước Việt Nam: đó là sự tạo thành tức
khắc một quân đội quốc gia, và sự đặt nền móng cho một chương trình canh tân
rộng rãi, hầu đạt được sự vững chắc của chế độ và hạnh phúc của nhân dân...”
Hôm sau, chúng tôi tiếp Tướng Collins, Tham mưu trưởng Mỹ đến tại
chỗ, để nghiên cứu việc sử dụng các đồ viện trợ cho Quân lực Việt Nam. Tướng De
Lattre cũng dành một buổi để tiếp vị này, vì chỉ có ông ta mới đủ khả năng hiểu
được. Vị tham mưu trưởng Hoa Kỳ ở lại 48 giờ, và trước khi ra về, có xác nhận
lại những lời hứa của chính phủ Mỹ với Tướng De Lattre.
Chiều chủ nhật tuần sau, Thủ tướng Trần Văn Hữu đãi tiệc Tướng De
Lattre trước khi ông ra Hà Nội.
Trong thời gian này, tôi được biết Thượng sứ Pháp ở Cam Bốt là ông
De Reymond bị ám sát chết.
Ngày 1 tháng 11, Tổng giám mục Đức Cha Dooley được Giáo hoàng cử
làm Khâm mạng Tòa Thánh tại Việt Nam. Sự công nhận chính thức này của Tòa Thánh
Vatican, rất quan trọng, vì Giáo hội Việt Nam cũng như cộng đồng Công giáo toàn
thế giới, đều cam kết trong cuộc chiến đấu chung này.
Tại Minh Giảng, ngày 5 tháng 11, Cao ủy đọc một bài diễn văn trước
hơn 10 ngàn nông dân. Ông ta nói với họ về những thành quả chính trị đã đạt
được:
- Công tác này đã đánh dấu một chỗ ngoặt, công tác của những kẻ đi
xây dựng, bởi vì nền chính trị, trong xã hội đang theo đuổi, ở đây đầu tiên
phải là căn bản xây dựng. Nhưng công tác ấy, chỉ có thể thực hiện được, do sự
hoạt động của Hoàng đế Bảo Đại, người đã thể hiện được nền độc lập và thống
nhất cho Việt Nam.
Trong khi tôi tiếp Cao ủy Anh, là ông Malcolm Mac Donald ở Đà Lạt,
thì Tướng De Lattre đến gặp tôi ngày 9 tháng 11. Sau khi dùng cơm với vị thượng
khách xong ông ta nói riêng với tôi:
- Thưa Hoàng thượng, tôi phải trở về Pháp chữa bệnh. Vì sức khỏe
suy nhược, tôi phải về để chịu một sự giải phẫu, nhưng trước khi tôi đi, tôi
muốn đánh một đòn quyết liệt đối với Việt Minh.
Ông cho tôi biết những lời phê bình ông ở Paris, trên lãnh vực
quân sự, người ta đã gán cho ông là “bất động”, sự đó càng chứng tỏ các chính
khách Pháp đã không biết một tí gì. Ông đã tỏ ra bất mãn với những luận điệu đả
kích ông, liên can đến hành động chính trị của ông, nhất là một loạt bài đăng
trên báo Le Monde do một ngưòi tên Danielle Hunebelle viết. Tôi cũng không được
chừa ra.
Vị Tổng tư lệnh quyết định hành động. Ông nói cho tôi biết chương
trình của ông đã được đặt rồi.
- Tôi sẽ cắt đôi lực lượng của tướng Giáp. Cho đến bây giờ, chúng
ta chỉ đóng vai thụ động, tùy theo sáng kiến của họ. Nay đến lượt tôi tung đòn
ra để xem chúng đối phó cách nào. Mùa khô sắp tới, trường hợp rất thuận tiện.
Chúng ta sẽ mở cuộc tấn công ra quá phạm vi đồng bằng…
Trước tiên ông nhắm vào Hòa Bình, một tỉnh nằm ở khuỷu sông Đáy,
và là điểm giao liên bắt buộc thông miền Trung với miền Bắc Việt Nam, và với
miền Bắc Lào. Đây là điểm mà các đơn vị Việt Minh tiếp tế vũ khí và quân cụ.
Đánh chiếm Hòa Bình là đánh một đòn chí mạng đối với địch thủ. Ông Cao ủy lại
trông thấy một ưu điểm nữa: Đó là sự giải phóng cho một sắc dân thiểu số, dân
Mường, sống ở nơi này, mà sự giải phóng sẽ tạo nên một yếu tố có lợi cho chính
phủ. Vì lý do đặc biệt ấy, Tướng De Lattre muốn xung vào trận chiến, một số tối
đa các tiểu đoàn Việt Nam.
Công việc có vẻ hấp dẫn, và không mấy nguy hiểm nhiều. Tôi hơi dè
dặt, vì tôi biết Việt Minh rất nặng ở xung quanh chốt này. Hơn nữa, tôi lo sợ
một tai hại cho dân chúng, thường dân. Biết bao người nhà quê sẽ bị cảnh đạn
lạc tên bay trong vụ này.
Cuộc nói chuyện của chúng tôi đã tãi ra trong một bầu không khí
hoàn toàn tin cậy. Chưa bao giờ tôi thấy sự thông cảm cùng với Cao ủy đến mức
ấy. Ông này đã nói với tôi bằng một giọng vô cùng ưu ái, y như tình ruột thịt
của người cha, mà ông đã lưu luyến với tôi, kể từ ngày chết của con ông. Thật
sự, Tướng De Lattre chỉ kém cha tôi là Vua Khải Định có bốn tuổi, mà thôi.
Ngay giờ đây, ông như có ý muốn chia xẻ trách nhiệm làm tướng của
mình. Bất thình lình, ông kêu lên:
- Thưa Hoàng thượng, tôi quá yêu Hoàng thượng, bởi vì Ngài bí mật.
Tôi hiểu ông muốn nói gì. Cái bí mật kia, không phải đứng trên
phương diện tâm tình, người Á Đông, mà ông muốn nhắc đến, mà là cái bí mật của
người lãnh đạo quốc gia. Rồi ông vẫn tiếp tục tâm sự với tôi. Ông rất thất vọng
đối với nước Pháp. Ông chẳng được giúp đỡ gì. Trong khi nước Mỹ sẵn sàng giúp
đỡ chúng tôi, thì ở Paris, ông lại gặp những sự thiếu thông cảm. Ông muốn phàn
nàn, để ám chỉ bọn thực dân ở Sài Gòn đã được các chính khách ở Paris nâng đỡ.
Ông nhắc lại:
- Tất cả bọn ấy, chúng chẳng hiểu gì hết.
Tôi mới lấy giọng hài hước, hỏi lại ông rằng:
- Vậy thì thưa Đại tướng, sao Ngài còn phải nhận lệnh từ Paris
nữa? Gần đây, đã có người lập một nước Pháp tự do ngoài biên giới lãnh thổ. Tại
sao Ngài không lập một nước Pháp tự do ở Sài Gòn?
Tướng De Lattre nhìn tôi rất lâu, mắt trông rất mơ màng, nhưng
không nói gì. Đến chiều, sau bữa cơm, ông lại bảo tôi:
- Cần phải một năm nữa, mớí hoàn thành xong sứ mạng của tôi ở đây…
Cái chiến thắng mà chúng ta sẽ thu lượm được ngày mai này, Tổng tư lệnh của
Ngài xin dâng Ngài. Và lúc ấy, chúng ta sẽ cùng đến Hòa Bình để thu nhận quyền
chiếm lãnh tỉnh đó.
Đây là lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi vậy.
Ngày 10, cuộc tiến công bắt đầu. Chợ Bến bị chiếm ngay, và với tốc
độ đó, ngày 14, quân lực Liên hiệp Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Tướng De Lattre đã
chiến thắng. Ngày 19 tháng 11, ông bay ra Hải Phòng để về thẳng Pháp từ 29
tháng 11 đến 16 tháng chạp, ông dự Thượng hội đồng Liên hiệp Pháp. Ngày 12,
trong dịp dự tiệc có ông Letourneau, và các nhân vật của chính phủ Việt Nam,
Lào và Cam Bốt, ông đánh một bức điện để cám ơn tôi đã đến Hòa Bình, như tôi đã
từng ngỏ ý. Bức điện ấy vẫn mang một hình thức mà Tướng De Lattre thường dùng
để xưng hô với tôi, trước lúc chia tay: “Tổng tư lệnh quân đội của Ngài”. Ngày
19 tháng chạp, Cao ủy vào bệnh viện.
Trước ngày ông đi, tôi đã có một quyết định có tầm quan trọng rất
lớn. ít ngày trước đây, Thủ hiến Bắc Việt Đặng Hữu Chí, lấy cớ là sức khỏe kém,
xin được thoái lui. Nguyễn Hữu Trí tìm cách để trở lại quyền hành, và các chân
tay của ông ta, cánh Đại Việt, loan tin rằng nếu Nguyễn Hữu Trí không được trở
về chức cũ thi lại có cách mạng nữa ở Bắc Việt Nam.
Tại miền Nam, tôi cũng phải đối phó với nhóm Đại Việt. Thực tế,
tôi phải thúc đẩy, tài trợ, cho một nhóm trẻ để họ len lỏi vào trong đảng này,
mà họ gây khó khăn cho mấy lãnh tụ già nua.
Tại miền Bắc, tôi suy nghĩ cách khác. Để thỏa mãn yêu sách của
Đặng Hữu Chí, ngày 19 tháng 11, tôi cho ông ta từ chức, và bổ nhiệm vào chỗ của
ông ta, viên bộ trưởng An ninh Nguyễn Văn Tâm, làm Thủ hiến Bắc Việt. Bổ một
người miền Nam làm Thủ hiến, cầm đầu miền Bắc, quả là một sự thách thức. Chỉ
riêng tôi mới có thể làm được, mà không gây phản ứng tai hại. Quyết định ấy
nhằm hai mục tiêu. Trước hết, đó là sự chứng tỏ, tôi đang nắm vững quyền hành.
Sau nữa, khi trao cho một người miền Nam, trọng trách về miền Bắc, chứng tỏ đó
là sự thống nhất ba kỳ. Thật là một thành công tuyệt vời. Với sự hăng say, như
từng hăng say ở miền Nam, trong nhiệm vụ bộ trưởng An ninh, Tâm đã chứng tỏ ở
miền Bắc là một vị Thủ hiến rất có quyền uy, và thuộc loại giá trị đáng kể.
Tôi vẫn hy vọng kéo dài được thời gian, để Việt Nam đủ sức phòng
vệ lấy mình. Nay thì không thể được nữa.
Sau cái chết của Tướng De Lattre, tôi có cảm tưởng rằng hòa bình
chỉ là hy vọng hão huyền.
Thế mà, tôi trở về để đem lại hòa bình cho đất nước. Tôi chỉ thấy
chiến tranh mỗi ngày một nặng. Những sự bàn phiếm của bọn chính khách Pháp, và
sự sợ hãi quân đội của Mao đến sát biên thùy phía Bắc Việt Nam, làm mất bao thì
giờ không thể nào lấy lại được. Ngay giờ đây, khi Nghị viện Pháp biểu quyết cấp
ngân khoản cho Bộ trưởng Letourneau thì nước Pháp tìm cách quanh co và chỉ viện
trợ nhỏ giọt, không có gì là thiện chí. Tôi cần phải nghĩ đến tương lai, một
tương lai, trong đó giải pháp Pháp rất dễ bị thất bại, để kịp thời đối phó.
Mỹ quốc sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, Tướng De Lattre bảo tôi như
vậy. Nhưng liệu nước Việt Nam có thể trở thành, như Y Pha Nho năm 1936, khi
nhận viện trợ quân sự của Đức, bãi chiến trường trong cuộc chiến tranh huynh đệ
tương tàn, không lốì thoát, để hai bên thi tài, thử sức nhau, do hai khối đối
lập đang tranh nhau thống trị hoàn cầu?
Trống rỗng hoàn toàn
Như tôi đã từng e ngại từ cuối tháng giêng, quân đội Liên hiệp
Pháp bắt đầu rút khỏi Hòa Bình. Tất nhiên, phải rút để né tránh cái có thể tồi
tệ hơn, nhưng còn dân tộc Mường khốn khổ kia sẽ ra sao, khi họ đã đặt hết hy vọng
vào quân đội của chúng tôi? Tôi bỗng nhớ lại câu hỏi của viên Tổng ủy khi tôi đến
đây lần trước, và nỗi lo âu của ông ta qua câu hỏi ấy. Chắc chắn bọn Việt Minh
sẽ thu lợi đối với sự bỏ ngỏ này. Theo tôi nghĩ, không nên tái chiếm Hòa Bình,
và cũng không nên tới đây, để rồi hai tháng sau rút lui. Tôi đã nói thế trước
đây, nhưng chẳng được ai nghe.
Trong những biến cố đó, lại có khủng hoảng mới của chính phủ
Pháp. Nội các Pleven đổ ngày 7 tháng 1 năm 1952, và thay bằng nội các của ông
Edgar Fauré, ngày 23 cùng tháng. Ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết, rồi
sau đó, kiêm nhiệm luôn chức Cao ủy Pháp ở Đông Dương, trong khi Tướng Salan
trước quyền Tư lệnh tạm thay Tướng De Lattre, nay trở thành Tổng tư lệnh quân đội.
Như vậy, chúng tôi lại trở về thế cũ: quyền lực chia hai giữa văn và võ.
Trong dịp Tết, ngày 27 tháng giêng, tôi gởi một thông điệp
hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Ngay phần mở đầu, tôi nhấn mạnh đến nguồn hy vọng
về những đức tính cao quí lẫn sự anh dũng của quân đội trẻ của nước tôi, và tôi
tỏ lòng ngưỡng mộ cá nhân của Đại tướng De Lattre:
“Chúng ta không thể nói đến quân đội Việt Nam mà không nhắc đến
khuôn mặt cao thượng, đầy vinh quang của Đại tướng De Lattre De Tassigny, mà tư
tưởng lẫn hành động đã đề lại cho chúng ta một giá trị vĩnh cửu và tuyệt vời.
Vào giờ phút mà nền độc lập mới phối thai của chúng ta đang bị thử thách bởi tập
đoàn Cộng sản, người hiệp sĩ Pháp này đã đem đến đất nước ta, sự tôn thờ của tự
do, bản tính chiến đấu, lòng can đảm vô biên và tài dụng binh rực rỡ của người.
Trước hương hồn ông cũng như đối với các anh hùng tử sĩ khác, từng da ngựa bọc
thây trên đất nước tôi, tôi xin tỏ tri ân của toàn thể đất nước Việt Nam. Nguyện
cầu cho tất cả những anh linh tử sĩ được vĩnh cửu tôn thờ trên đài chiến sĩ trận
vong, và trên hương án các gia đình, nhờ gương anh dũng của họ, mà ra thoát được
cảnh đọa đày nô lệ, gương sáng ấy còn làm rạng rỡ đến con cháu chúng ta, làm
cho tất cả đàn con dân Việt Nam siết chặt hàng ngũ với nhau, đoàn kết chặt chẽ
cho nên phục hưng mà đất nước đòi hỏi”.
Tôi lại giải thích đến nhiệm vụ của Quốc trưởng, phải là một
nhân vật biết suy tư và đầy kinh luân thao lược, phải xa các nhiệm vụ hàng ngày
của quyền bính, đã trao cho chính phủ, vì Quốc trưởng chỉ còn có nhiệm vụ quốc
kế dân sinh, dựa vào thực tế hiện tại, để vạch ra được kế hoạch đáp ứng cho tương
lai. Vị đó phải tìm đường hướng thuận lợi ở trong cũng như ngoài nước, và phải
biết lý thuyết vĩnh cửu nào sẽ đưa đến sự vinh quang và bền vững cho tổ quốc.
Sau khi nhắc nhở các viên chức ngành cai trị, xã hội, kinh tế,
về những mục đích mà tôi đã đọc trong bản thông điệp năm ngoái, tôi nhấn mạnh đến
sự cần thiết của đoàn kết, biết tương thân tương ái. Chúng ta phải ý thức lấy
trách nhiệm quốc gia để có chính nghĩa bảo vệ xứ sở:
“Có cái gì khác biệt giữa nước Việt Nam với các nước khác?
Chúng ta có những điểm gì đặc biệt?
“Ai cũng biết rằng vào giữa lúc trên đất của chúng ta, Đông
và Tây đang va chạm vào nhau, xã hội chúng ta đã được xây dựng trên căn bản của
đạo Khổng, lấy gia đình làm nền tảng, mà giai tầng xã hội đã được cấu tạo vững
chắc tự ngàn đời lấy hiếu trung làm gốc.
“Khi con người lấy ngũ luân làm phương châm xử thế, người ấy
đã già dặn biết bảo tồn xã hội, dựa vào tam cương mà thực hiện: Quân thần, Phụ
tử, Phu phụ.
“Tất nhiên là chúng ta không thiên hết về đạo Khổng, bởi vì
chúng ta còn biết tham bán vào đạo Phật; nhưng các nguyên tắc Khổng Mạnh vẫn là
những bí quyết tạo nên sức mạnh, của chúng ta. Dù sao thì nước Tân Việt Nam
ngày nay củng chẳng phải là ngoan cố phong kiến, lạc hậu gì. Cách đây một thế kỷ,
Tây phương, do các bạn Pháp của chúng ta đã đặc biệt đem đến đây một nền văn
hóa mới. Tây phương đã đem lại phương pháp trật tự, bí quyết của tình thần sáng
tạo, tình thần tổ chức, tình thằn dân chủ và bình đẳng, bí quyết của sự chinh
phục nhân tâm.
“Đó là đặc điểm nhiệm màu, phong phú của dân tộc Việt Nam
chúng ta.
“Ngày nay, nếu tất cả thực tế của thời đại làm cho Việt Nam
khó có thề đứng riêng rẽ một mình, và tất cả mọi nền chính trị ngoại lai không
thể tự nó một mình thực hiện được, thì ngược lại, chúng ta tự thâm tâm, chúng
ta đủ lực tự cường, do tinh thần tập thể đưa lại.
“Thế mà, chủ nghĩa Cộng sản định đem đến chúng ta cái gì? Ly
dị hẳn những mối liên hệ tương quan với Tây phương, đã lầm chúng ta giàu thịnh
về tinh thần, lại canh tân nước ta thành một nước tiền tiến. Sức ép ghê gớm của
Tàu, trong hơn 20 thế kỷ đã truyền bá nghệ thuật, văn chương, triết lý, muốn
tranh hơn thua với chúng ta sự hấp thụ ấy, đã biến tất cả liên văn minh của
Trung Hoa ra thành của ta, bởi vì những tinh hoa ấy, đã nâng cao phẩm giá con
người và giá trị của quốc gia.
“Thay vì đem cái tình thần trật tự, chủ thuyết Cộng sản đem đến
cho chúng ta một tư tưởng bí hiểm, Mác-xít; thay vì cái tinh thần của tổ chức,
họ định đem đến cái hệ thống của Mốt-cu (Moscou); thay vì một liên dân chủ, họ
lại đưa đến sự phục tòng mù quáng bọn cán bộ đảng viên… Đó là một phong trào
thoái hóa, mà chúng ta ngày nay, chúng ta phải cầm súng chiến đấu. Đó là ý
nghĩa của trận chiến này.
“Đó là cuộc thánh chiến quốc gia, để hoàn tất nên cách mạng
trong nền độc lập của từng khối óc, và tình cảm của mọi trái tim, mà tôi muốn
nói với các anh.
“Sự gặp gỡ giữa Tây phương và Đông phương, như Tagore đã nói,
rất cần thiết cho nhân loại, phải mang theo tình, cảm tế nhị, tương thân tương
ái, và đấy tinh thần sáng tạo…
“Huynh đệ quốc gia, đó là bí quyết của nước Tân Việt Nam và của
xã hội mới Việt Nam.
“Như vậy, thời đại quan liêu, dân chi phụ mẫu, nay đã cáo
chung rồi, chỉ còn riêng một uy quyền của vị quân vương đồng loạt cho khắp nhân
dân. Ngày nay, người công chức là kẻ dẫn đường thân ái của đồng bào, thực sự
dân chủ, tức là trong guồng máy cai trị, đã có những uỷ ban chặt chẽ, sự kiểm
soát các quyền hành và nhân sự, quốc gia Việt Nam trở thành một quốc gia rất xã
hội, và vì dân mà phục vụ, theo đúng khẩu hiệu: Dân vi quí.
“Như vậy, tất cả con dân nước Việt Nam sẽ cảm thấy một sự ấm
lòng của huynh đệ chi tình, và niềm vui phục vụ vô cầu lợi, cảm thấy bình đẳng,
và biết thông cảm lẫn nhau hơn. Chúng ta đều là con một gia đình, cùng chung một
tổ. Về điểm này, tôi cần phải nói riêng với bên nữ giới. Tình yêu tổ quốc rất mạnh
trong đầu óc họ, tinh thần đoàn kết rất bén nhạy trong trái tim họ. Đã có nhiều
chị em tỏ sự hăng say khi vào đoàn thể “Hội chữ Thập đỏ Việt Nam”. Đây là ở người
đàn bà Việt Nam đã đem đến nguồn sinh lực vào khắp mọi nơi trong xã hội chúng
ta, trong tình huynh đệ quốc gia. Và kể từ hôm nay, tôi sẽ đặt một ngày làm quốc
lễ cho phụ nữ Việt Nam là ngày kỷ niệm, hàng năm để ghi ơn Hai Bà Trưng.
“Vậy thì trong tình huynh đệ quốc gia, phải hoàn tất nền cải
cách xã hội của chúng ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, tình huynh đệ đó được hữu
hiệu, bởi đã được nghiên cứu khôn ngoan và kỹ lưỡng. Nhưng giờ mà người lại bóc
lột người ở nước ta đã cáo chung rồi…”
Tôi nêu lên vài đặc điểm, sau khi cải cách điền địa đã được thực
hiện, và tôi kết luận bằng lời kêu gọi như sau:
“Mỗi một người trong chúng ta đều có trách nhiệm đối với quốc
gia.
“Hỏi để làm gì, khi mà khai thác đất đai, mở mang trồng trọt,
và xây cất những nhà máy, nếu người dân không được lãnh phần chính đáng về công
quả của mình đã bỏ ra. Bởi xã hội như thể là xã hội chưa săn sóc đến mối lo âu
của dân chúng. Sự lo âu của xã hội, còn thúc đẩy người chủ, phải săn sóc đến thợ
nhiều hơn là chỉ biết thu hoạch nhờ kết quả lao động của mọi người.
“Năm ngoái, tôi đã đảm bảo với các xí nghiệp Pháp và ngoại quốc
rằng sẽ miễn cho họ nhiều thể lệ, trực tiếp hoặc gián tiếp. Tôi xác nhận lại
ngày hôm nay, sự bảo đảm ấy. Khi đến đều tư tại Việt Nam, trong tinh thần tôn
trọng luật pháp và sự công bình xã hội, vì lý do sáng tạo sinh lời, các xí nghiệp
ấy đã mang công ăn việc làm cho dân chúng, trong một quốc gia còn thiếu nhiều
phương tiện hoạt động thì đó là một sự hữu ích đáng quí. Họ đã năng cao mức sống
của thợ thuyền và sự tín nhiệm của họ vào người thợ chắc chắn sẽ không bị phản
bội.
“Nước Việt Nam, được tự do liên kết với nước Pháp trong
Liên hiệp Pháp, được các nước bạn hỗ trợ; mỗi ngày một củng cố vị tri của mình
trước quốc tế. Dinh liền vào cơ thể khổng lồ của Á châu ở khúc giữa quan trọng
nhất, và ở ngã ba quyết định của toàn thể Đông Nam Á, nó ý thức được vị trí và
nhiệm vụ của mình. Nó đã chọn sự đứng vững và không cho tự mình lui bước, mặc
dù bị thách thức trước một cuộc cách mạng đang diễn ra trước mắt. Đây cũng là một
cuộc cách mạng, mà nó quyết theo đuổi, chứ không phải sự suy thoái, như Cộng sản
đã rêu rao.
“Chính trong sự canh tân của đầu óc, và sự thanh lọc
trái tim, mà tổ quốc thân yêu của chúng ta sẽ tìm thấy một ngày gần đây, tôi chắc
vậy, nên hòa bình trong tự do và trong lẽ công bình”.
Sau khi đã giải thích rõ ràng tư tưởng của tôi trong bản
thông điệp ấy, đã được phổ biến rộng rãi ngày 27 tháng giêng năm 1952, tôi hy vọng
rằng dân chúng cũng như các quốc gia bạn đã được nghe biết, và viện trợ của họ
sẽ đem đến để giúp đỡ cho sự cố gắng này. Sau đó ít ngày, quả nhiên tôi được tiếp
ông Etienne Denis của công ty Denis Frères. Tôi bảo ông ta:
- Chính phủ Pháp sợ cho các ông. Họ rất lo ngại về công việc
của các ông. Vậy các ông muốn tôi bảo đảm gì cho các ông?
- Thưa Hoàng thượng, chúng tôi chỉ mong người Việt Nam mua
50% cổ phần là đủ. Còn chúng tôi, chúng tôi không lo ngại gì hết, chúng tôi chỉ
mong làm việc với họ…
Như vậy, tôi chỉ còn có vơ lại nền độc lập, từng mảnh một, và
sự đó không phải là dễ.
Về viện trợ ngoại quốc, ông Letourneau đã cho tôi biết điều
mà Tướng Juin đi Washington dự hội nghị với các Tham mưu trưởng, là Tướng
Bradley của Hoa Ky, và Thống chế Shim của Anh quốc. Họ đã nghiên cứu về sự phát
triển Á châu, đã dự trù trong cuộc hội nghị ở Singapour, về tháng 5 vừa qua. Tướng
Juin trở về, khá thất vọng về thái độ của Hoa Kỳ. Người Anh thì xin dành Hải
quân của họ để di tản người Pháp nếu có gì thất bại. Vị Tham mưu trưởng Pháp có
cảm tưởng là tất cả như thất vọng, và muốn rút chân ra khỏi ổ kiến càng này, tức
sẽ mất cả Đông Nam Á và Viễn Đông, Người Mỹ thì tìm cách điều đình về vấn đề
Triều Tiên. Còn người Anh, dụng ý chỉ nhằm vào Singapour, nếu có sự tràn lan của
quân Tàu. Tướng Juin kết luận trong bản tường trình là cần nhất quân đội Việt
Nam đủ mạnh, để Pháp có thể “trao lại” trọng trách, càng nhanh càng tốt. Đó là
điều rất hợp với tôi.
Tại chỗ, các quân dụng đã đến. Về cuối tháng giêng, chiếc tàu
thứ 100 chở đồ viện trợ cho chúng tôi, đến cảng Sài Gòn. Để xúc tiến mọi việc
được nhanh nhẹn, ngày 3 tháng 3, tôi bổ nhiệm Nguyễn Văn Hinh làm Thiếu tướng,
Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam. Cũng trong thời gian ấy, tôi đặt ra bốn quân
khu. Về sư đoàn thứ tư quân thổ, phụ trách giữ an ninh cho vùng cao nguyên, đã
được thành lập xong, và đặt bản doanh ở Ban Mê Thuột. Điều đó làm giảm bớt gánh
nặng cho quân đội Pháp về phần đất này. Sư đoàn đó được đặt dưới sự chỉ huy của
Thiếu tá Lecoq, mà phó là Lê Văn Kim, tiểu đoàn trưởng, vừa tốt nghiệp xong ở
trường tham mưu. Các sĩ quan người Thượng đều được huấn luyện ở Ban Mê Thuột, ở
trường quân sự Bợ Hồ.
Trong dịp này, tôi tiếp Tướng Salan ở Ban Mê Thuột. Ông ta nhấn
mạnh là xin tăng cường nhiều tân binh, nhân dịp có viện trợ Mỹ này, và tôi đồng
ý. Mặt khác, Tướng Salan cũng rất hài lòng về công việc của Tướng Hinh. Vị này
đã tỏ ra rất đắc lực với nhiệm vụ Tham mưu trưởng của mình, và sự liên lạc của
ông ta với nhà binh Pháp rất được khen ngợi.
Tại Paris, Thủ tướng Antoine Pinay đã thay thế Thủ tướng
Fauré chỉ đứng có hai tháng. Sự thay đổi chính phủ luôn luôn ở Pháp, làm tê liệt
nền chính trị dài hạn cho nước Pháp. May mắn, ông Letourneau vẫn giữ bộ Quốc
gia Liên kết.
Ngày 4 tháng 4 năm 1952, tôi đặt ra qui chế cho các sắc dân
thiểu số miền núi ở miền Bắc, và do một đạo dụ khác ngày 24 tháng 4, tôi đặt
các đất đai của người Thượng miền Bắc và miền Nam vào đất của Hoàng triều cương
thổ (Xin xem các phụ đính VI và VII). Tôi cử viên Chánh văn phòng của tôi là
Nguyễn Đệ đảm trách chức vụ đó.
Trong tháng 5, miền Nam gặp khá nhiều khó khăn. Tất nhiên,
sau cái chết của Nguyễn Bình, tình hình đã yên tĩnh hơn. Nhờ vậy, một phần lớn
trách nhiệm, trước kia trao cho quân đội Pháp, thì nay trả lại cho chúng tôi.
Đây chính là chỗ mà chúng tôi gặp khó khăn. Nguyên do, có nhiều khu vực được
trao cho các quân đội Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, không kể khu vực do Đại tá
Jean Leroy, là một người lai ở Bến Tre, đã bình định do lực lượng của ông ta,
là lực lượng UMDC (Unites mobiles de défense des chrétientés) tức lực lượng lưu
động phòng vệ các giáo khu Thiên Chúa. Nay là lúc phải đặt tất cả mọi người vào
hàng ngũ của quân đội quốc gia. Trần Văn Hữu thiếu tế nhị ngoại giao đã đụng độ
nẩy lửa với Leroy, và xin đổi Leroy đi ngay nơi khác. Không đổi nổi, vì viên đại
tá 31 tuổi này, là con của một người làm ruộng Pháp với một cô gái Nam kỳ đã thắng.
Trước đây, năm ngoái đã có một sự kiện đặc biệt xảy ra. Nguyên do Leroy đã đứng
đầu để tổ chức một cuộc bầu cử. Ông ta muốn tổ chức nông dân thành một nhóm dân
chủ nông dân… Đối với Leroy, Hinh có một giải pháp. Lực lượng UMDC vốn đặt dưới
quyền lãnh đạo của nhà binh Pháp, nhưng trong các cuộc lễ chính thức, Leroy thường
vận binh phục quân đội Việt Nam, để chứng tỏ trước mắt nhân dân là tỉnh này
hoàn toàn đặt dưới quyền lãnh đạo quốc gia. Đối với các phe Cao Đài, Hòa Hảo,
Bình Xuyên, họ sẵn sàng chấp nhận đặt dưới quyền tôi, với điều kiện là tôi ký với
họ những thỏa thuận như trước kia bộ Tư lệnh Pháp đã ký với họ. Tôí từ chối dứt
khoát, vì họ là nhân dân của quốc gia.
Chuyện đặt họ vào hàng ngũ quân đội quốc gia này, là vấn đề
mà tôi thảo luận với Tướng Salan ngày 10 tháng 5 trên du thuyền của tôi ở Nha
Trang. Thoạt đầu đã có điềm không may. Vì một sự vụng về, tướng Tư lệnh rơi xuống
biển cùng với tùy viên quân sự của tôi là Đại tá Nguyễn Tuyên. Tôi cho đưa quần
áo của tôi để ông thay.
Thật sự, Tướng Salan đang bận nghĩ về vấn đề sát nhập các lực
lượng tự trị này vào quân đội quốc gia Việt Nam. Paris muốn giảm quân số và
đang là lúc cần đến các chuyên viên đã cho quân đội Việt Nam mượn. Ông ta yêu cầu
tôi trưng dụng các thợ chuyên môn, các kỹ thuật gia về cầu cống, về viễn thông
và tài xế lái ô tô nữa. Ông khẩn khoản thêm là tôi lại gọi đến sinh viên. Tôi
không phải là muốn chống lại sự tham gia của khắp cả các tầng lớp nhân dân Việt
Nam vào nỗ lực chiến tranh, nhưng những thỉnh nguyện của ông Tổng tư lệnh có thể
làm tê liệt ngành kinh tế mới phôi thai, nên tôi trả lời ông là cần phải hết sức
khôn ngoan để khỏi gây xáo trộn đến nếp sống ổn định một cách mong manh ở đất
nước.
Đầu tháng 6, tôi để Hoàng thái tử Bảo Long lúc ấy đã 16 tuổi,
sang Anh thay tôi, dự lễ đăng quang của Nữ hoàng Elisabeth II. Hoàng thái tử đi
cùng với Bửu Lộc, với tính cách là Hoàng thân.
Để chứng tỏ ý chí về sự tăng cường động viên trên toàn quốc,
ngày 3 tháng 6, tôi chấm dứt nhiệm kỳ của Trần Văn Hữu, và bổ nhiệm vào chỗ
ông, vị Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Văn Tâm. Ông này rất cương quyết, đã tỏ ra
thành công trong mọi lãnh vực được trao phó, dù là bộ trưởng An ninh, hay bộ
trưởng Nội vụ, hay cuối cùng như Thủ hiến Bắc Việt. Tại đây, ông đã làm tan biến
thành kiến đánh vào ông, vì ông gốc ở Nam kỳ. Thay vào chỗ của ông, tôi bổ Phạm
Văn Bính làm Thủ hiến Bắc Việt.
Nguyễn Văn Tâm liền đặt một chính phủ quốc gia đoàn kết 7 gồm những nhân vật từng tỏ ra tha thiết với
nền độc lập quốc gia. Nội các ấy được thành lập ngày 25 tháng 6 năm 1952, chứng
tỏ trong mọi lãnh vực, sự tăng cường nỗ lực chiến tranh trên toàn quốc. Lần đầu
tiên, người ta thấy xuất hiện một bộ trưởng coi về cựu chiến binh, để chứng tỏ
rằng quốc gia rất chú trọng đến những con dân chiến đấu cho nền độc lập và bị
hy sinh vì nước.
Trong tháng 7, Lãnh sự quán của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, được đổi
thành Tòa Đại sứ. Đối với tân chính phủ, đó là một triệu chứng tốt đẹp. Phần
khác, tình hình chiến sự dịu dần trên khắp lãnh thổ, nhờ vậy Thủ tướng Nguyễn
Văn Tâm có thể lợi dụng thời gian này để đặt nền móng cho một chính phủ mạnh, hầu
động viên toàn lực quốc gia. Đối với ông ta, đó là sự thi hành các quyết định
đã từng thảo luận vào tháng 4 ở Đà Lạt, với ông Letourneau và Tướng Salan. Hậu
quả đầu tiên về cuộc họp này là sự xúc tiến việc đào tạo các sĩ quan, nhất là
do trường sĩ quan Đà Lạt. Mỗi khi có cuộc lễ ra trường, tôi đều đến dự để nghe
lời tuyên thệ, và không quên nhắn nhủ họ, phải tuân theo kỷ luật trung thành và
chặt chẽ.
Ngày 7 tháng 8 tôi đi Pháp chữa bệnh ở Evian.
Sau khi chữa xong, ngày 4 tháng 9, tôi đến Muret do lời mời của
Tổng thống Vincent Auriol. Ông tiếp tôi tại nhà riêng:
- Thưa Hoàng thượng, không phải chỉ cần một giải pháp quân sự,
mà tất cả các người Việt Nam phải thu hồi lấy đất nước. Và Ngài phải hoạt động
về mặt trận quân sự. Song phương với vấn đề về quân sự, lại phải có những cải
cách chính trị, để đạt tới tự do, dân chủ xã hội. Có như vậy, Ngài mới có thể
bình trị được.
- Thưa Tổng thống, chúng tôi vừa đặt nền móng cho một đạo
quân quốc gia xong. Với vị Tổng tư lệnh, quả không có vấn đề. Về cấp thấp hơn,
thì chưa hẳn tốt đẹp như vậy. Nhưng với các cơ quan dân sự, thì lại khác. Chính
phủ Pháp vẫn còn đó, không có gì thay đổi, và hầu ở khắp mọi nơi. Và sự bàn
giao thường thường được coi như trò hề. Người ta không để tôi hoàn tất nhiệm vụ,
mà trong khi ấy, báo chí Pháp lại không ngớt đả kích tôi, cho là bất động và
bôi đen giải pháp.
- Thưa Hoàng thượng, tôi sẵn sàng sang thăm Việt Nam để kêu gọi
chính phủ Pháp phải tôn trọng điều hứa hẹn và thi hành một cách nghiêm chỉnh.
- Thưa Tổng thống, chúng tôi xin đợi Tổng thống.
- Xin Hoàng thượng hiểu cho tôi, tôi sẽ sang thăm Việt Nam với
tư cách là thượng khách do Quốc trưởng mời, chứ không phải là với địa vị Chủ tịch
Liên hiệp Pháp, do Cao ủy tổ chức. Trong khi chờ đợi, xin Hoàng thượng tin rằng,
tôi sẽ truyền đạt cho chính phủ Pháp tất cả nhận định của Ngài. Tôi chỉ làm được
có thế, tiếc thay, Quốc hội Pháp không cho phép hơn nữa…
Sau vụ này, tôi quyết định đổi chức Cao ủy ở Pháp của Hoàng
thân Bửu Lộc ra là Tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Để đánh dấu sự liên lạc giữa
hai nước, ông Lejean cũng được cử làm Đại sứ Pháp ở Việt Nam.
Mặc dù có quyết định tương đồng giữa hai nước độc lập như
nhau Đại Hội đồng Liên hiệp Quốc vẫn từ chối đơn xin gia nhập của Việt Nam, kể
cả Lào và Cam Bốt.
Tôi trở về Đà Lạt vào cuối tháng 9, và về đến nơi tôi được biết
mùa khô đã tới để Việt Minh mở cuộc tấn công lên đất Thái. Vậy thì đất Hoàng
triều cương thổ bị đe dọa trực tiếp. Việt Minh khi đánh sang mặt Lào, muốn tỏ
ra rằng muốn rải chiến tranh đến khắp mọi nơi trên cái gọi là Liên bang Đông
Dương, đồng thời muốn chứng tỏ trước dư luận dân chúng Việt Nam, nhất là trước
các sắc dân thiểu số, chúng tôi không đủ khả năng bảo vệ họ. Việc bắt đầu tỏ ra
bất lợi cho chúng tôi. Kể từ tháng 10, chúng tôi đành phải bỏ vị trí quan trọng
là Nghĩa Lộ.
Tướng Salan liền có ý kiến là nên lập ở Nà Sản một căn cứ
không quân nhằm hai mục đích: nhử cho quân đội Việt Minh đến thử sức, để chống
cự lại, đồng thời dùng làm bàn đạp tiến công, chứng tỏ chúng tôi có mặt tại
vùng này. Địa thế đã được lựa chọn, ở giữa lòng xứ Thái, trên con đường sang
Lào bắt buộc, không có lối khác, vừa phải, không gần Hà Nội, mà cũng không xa lắm.
Địa thế đủ để máy bay đáp xuống, và được bao quanh bằng một dẫy đồi, giúp cho sự
phòng thủ dễ dàng. Tôi đồng ý và chấp thuận điểm chọn.
Để chứng tỏ sự xác nhận chúng tôi sẽ đóng ở Nà Sản, ngày 28
tháng 11, tôi cùng với viên Tổng Tư lệnh đến địa điểm đang được xây cất rất
nhanh chóng. Tôi có một cảm tưởng nhẹ nhõm. Buổi chiều, Tướng Salan mời tôi dự
cơm chiều ở Hà Nội. Tôi có ngỏ cho ông biết những khó khăn trên bình diện chính
trị, và tôi lấy làm tiếc về sự chậm trễ của nước Pháp trong việc tổ chức quân đội
Việt Nam, điều làm cho Việt Minh lợi thế trong sự củng cố quân đội của họ, nhất
là điểm tâm lý có lợi cho họ trước mắt dân chúng.
Như vậy, thật là mệt để bắt lại thời gian mất đi này và do thế
tôi thấy tương lai quả là bi thảm.
Tuy vậy, tôi bảo ông ta, là tôi rất phấn khởi được trông thấy
tại Nà Sản, sự kiến tạo này, và quân đội của tướng Giáp sẽ cắn phải miếng mồi
quá hóc, nếu y định đánh vào căn cứ này. Tháng chạp qua đi, trong khi chờ cho
cá đớp mồi.
Tướng Salan đồng ý với tôi, và chúng tôi được rảnh tay ở miền
Nam. Tôi lên cho chỉ thị Tướng Hinh.
Cuối năm, chỉ có một sự việc đáng kể xảy ra, đó là ông
Antoine Pinay từ chức ngày 23 tháng chạp. Nước Pháp trong dịp lễ Noel và lễ
Saint Sylvestre, không có chính phủ, sự đó vốn rất thường ở Pháp.
Tình hình suy thoái
Tướng Eisenhower được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1
năm 1952. Khi nhận chức vào Tòa Bạch Ốc, ông đọc một bài diễn văn trong đó có
câu: “Người lính Pháp chiến đấu ở Đông Dương, và người lính Mỹ chiến đấu ở Triều
Tiên, đều cùng chung một mục đích...” Như vậy, đối với người Mỹ, cuộc chiến ở
Đông Dương không phải là chiến tranh giữa thuộc địa với mẫu quốc, mà chiến
tranh của phương Tây chống Cộng sản, một cuộc chiến để giành lấy tự do ở Việt
Nam.
Một đề tài khác khá hài lòng. Nhờ quân đội và nghĩa dũng
quán, tỉnh Hưng Yên ở Bắc Việt hoàn toàn nằm trong tay người Việt, cũng như các
tỉnh Tân An, Bến Tre, Gò Công ở Nam Việt.
Trên tất cả đất nước, chương trình bình định đang được Thủ tướng
Tâm áp dụng, đều mang lại kết quả tốt đẹp. Sau cuộc hành quân của quân đội, thì
hệ thống hành chánh và chính trị được thế ngay vào đó, đầu tiên do một hạt nhân
từ trung ương lan dần ra như vết dầu loang, tãi rộng ra mãi. Nhiệm vụ ấy được
trao cho một cơ quan gọi là Quân Thú Lưu Động GAMO (Groupement
Administration Mobile Opérationnel). Đoàn này hoàn toàn do người Việt Nam đảm
nhận, và lần lượt đóng ngay vào vùng vừa được càn quét, để đảm trách các vấn đề
hành chính, xã hội, y tế, cảnh bị, học chính và tuyên truyền. Cuộc bình định
này đã tỏ ra rất hữu hiệu ở vùng Hải Phòng và Hà Nội.
Nguyễn Văn Tâm dùng một chính sách khôn khéo. Nhân vật này, từng
tỏ ra cương quyết và chống Cộng triệt để, thích bắt chước Thủ tướng Clémenceau,
nên đã thành công trong việc tập hợp rộng rãi trong chính phủ của mình, mọi
giai tầng xã hội trong nước. Nhờ vậy, ông ta đã được nhóm Cao Đài ủng hộ, đưa
hai đại diện vào trong chính phủ, thêm hai đại diện phe Việt Nam Quốc dân đảng
trong đó có lãnh tụ Vũ Hồng Khanh, từng ở trong chính phủ với Hồ Chí Minh năm
1946, có thêm một đại diện của Đại Việt, vì khi Nguyễn Văn Tâm làm Thủ hiến Bắc
Việt, Tâm đã trù ếm phe này khá nặng.
Ngoài ra, những ưu đãi của ông trước quân đội quốc gia, vì có
con là Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng, càng củng cố vị trí chiến đấu
của ông, nên rất lừng danh. Cuộc cải cách điền địạ, sự chuẩn bị một Quốc hội
toàn quốc, đã đem lại cho ông một số đông dân chúng, nhất là trong giới bình
dân.
Như vậy, chúng tôi không thể bị coi là bất động được. Tuy
nhiên, điều đó không đúng như ở Pháp. Dư luận dân chúng vẫn không hiểu gì về
tình thế cả. Các đảng phái chính trị tỏ vẻ lo âu, và đảng Xã hội lại có ý định
quay về điều đình với Hồ Chí Minh. Vì vậy tình hình chính trị nước Pháp đứng im
tại chỗ. Tuy nhiên, chúng tôi được nhiều lợi điểm đối với các nước Tây phương,
bây giờ tỏ ra đoàn kết trước cuộc chiến ở Đông Dương. Vì vậy, ngày 17 tháng chạp,
Hội đồng Đại Tây Dương họp ở Paris, đã ra một thông cáo nói rằng:
- Cuộc chiến do quân đội Liên hiệp Pháp đang phải đương đầu ở
Đông Dương, rất đáng được các chính phủ Đại Tây Dương yểm trợ liên tục. Cho đến
nay, chỉ có Hoa Kỳ viện trợ cho Đông Dương, vì gần một nửa các binh phí đều do
Mỹ đài thọ. Sự viện trợ đó không phải không đưa lại vài vấn đề giữa Pháp và
chúng tôi. Chúng tôi thì mong rằng, viện trợ của Hoa Kỳ được đưa thẳng cho
chúng tôi không phải qua trung gian nước Pháp, mà chúng tôi biết nền kinh tế của
họ sẽ được hưởng một nguồn lợi quan trọng, riêng về mặt chuyển ngân thôi. Tuy rằng
điều mong ước của chúng tôi giống như của Hoa Kỳ, chính phủ Pháp không bao giờ
chấp nhận điều thỉnh cầu đó.
Tổng thống Auriol nói:
- Chúng tôi rất mong họ (Hoa Kỳ) giúp đỡ cho Đông Dương,
nhưng xin họ đừng có để chân vào.
Nhưng điều chính của tôi vẫn là việc thành lập đạo quân quốc
gia. Cuộc nói chuyện của tôi với Tướng Salan vào tháng 11 là đề tài của một
chương trình dự trù tỉ mỉ, mà tôi bảo Hinh soạn thảo, khi chính phủ mới được
thành lập ở Paris.
Ông René Mayer làm Thủ tướng của chính phủ mới này, được
thành lập ngày 8 tháng giêng. Ông Letourneau vẫn còn là thành viên và vẫn giữ bộ
Quốc gia Liên kết.
Tướng Hinh được sự đồng ý của Paris về chương trình này, là tạo
dựng đợt đầu, 54 tiểu đoàn khinh quân. Các tiểu đoàn này tương đương với lực lượng
địa phương của Việt Minh, đủ khả năng đánh lại họ tại chổ, dùng để bình trị khi
những đơn vị của quân đội viễn chinh Pháp dành cho các trận di động. Đến năm
1953, quân số của chúng tôi sẽ tăng cường tới 40.000 người. Dự trù này được
viên Bộ trưởng Quốc phòng của chính phủ Tâm muốn nói biến ra thành đạo quân qui
ước với các sư đoàn nặng, để kể từ tháng 10, sẽ đem ra sử dụng trên trận địa được.
Sự tham gia đó rất cần thiết, khi có cuộc phản công vào trung
tuần tháng giêng trên vùng sơn cước ở miền Trung. Tại đó, các đơn vị của sư
đoàn 4 lính thổ, đã bị đụng độ nặng nề. Sau cuộc tấn công mùa thu ở vùng sơn cước
miền Bắc Việt Nam, quân đội Việt Minh bị chặn đứng ở Nà Sản, nay thì chúng sẽ cố
gắng đánh vào miền cao nguyên Trung phần này. Tại Nà Sản, căn cứ không quân
đóng vai trò chiến lược. Thì đây sẽ là trái đấm đối với các cuộc đổ bộ vào bờ
biển Qui Nhơn mà chúng vẫn sử dụng thường xuyên. Như tại Nà Sản, quân địch có vẻ
lảng xa, ít nhất cũng tạm thời. Nhiều cuộc tuần tiễu phát ra từ Qui Nhơn đến An
Khê làm giảm bớt dự định của Việt Minh.
Tết năm Quí Tị, ngày 13 tháng giêng, tôi gửi bản thông điệp
thứ ba hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Bản thông điệp thứ nhất vào năm 1951,
tôi vạch ra những nét chính để kiến thiết quốc gia. Trong bản thông điệp năm
ngoái, tôi ấn định về nền cải cách văn hóa. Và năm nay, tôi dành để vạch một đường
lối quốc tế cho Việt Nam trên thế giới và vào thế kỷ 20:
“… Chúng ta ở cửa ngõ một đế quốc bao la, vĩ đại vì văn hóa,
nhưng đối với chúng ta vẫn là một mối đe dọa cụ thể thường xuyên. Hai bên chênh
lệch quá nhiều, tôi bảo cho những người lầm đường hay những Việt giãn đã xúi giục
họ lầm lạc. Các anh hẳn biết rằng ngày mà thể chất quốc gia của chúng ta đông
hóa với đế quốc đó, thì nó sẽ hút hết chúng ta. Chúng ta chỉ có thể tồn tại,
khi giữ mình nguyên vẹn, khác xa với họ.
“Hỡi đồng bào,
“Vào ngày tết thiêng liêng của quốc gia này, hãy nhớ rằng
hình dáng và nhiệm vụ của Việt Nam làm cho chúng ta có mặt trên quả địa cầu.
Chúng ta chỉ dính vào Á châu, phải chăng có một chút ở bên sườn? Thật sự, chúng
ta ngoảnh lưng vào châu Á, và nhìn ra bể, nhìn ra các hải đảo và bán đảo, nhìn
vào các dân tộc sống trên bể và do bể mà ra. Chúng ta là một cái sườn núi dốc
hướng vào Mặt Trời. Thế mà một dân tộc phải có liên chính trị địa dư của nó.
Chính là trên ngọn sóng, và ngoài ngọn sóng, mới là bạn, là khách hàng và đồng
minh của chúng ta.
“Về phương diện ấy, sự tập hợp của những dân tộc đầy tương
lai, ở rải rác khắp năm châu, là Liên hiệp Pháp, đối với chúng ta là chỗ tựa
đáng quí. Ngay một lần đầu, nó đã cho chúng ta một địa bàn đầy bè bạn, khách
hàng, và người hợp tác...”
Về phần hai của thông điệp, tôi kêu gọi các đồng bào còn rụt
rè chưa dám tham gia, và đặc biệt là giới thanh niên học sinh:
“Vì thế mà nhiều người phần đông là các thanh niên trẻ tuổi,
chỉ biết cái học sách vở, tự hào là trí thức để hợm hĩnh, đã coi địa bàn chính
trị như một sân khấu, chỉ có động tác đóng kịch là đáng kể…”
Rồi tôi kêu gọi tất cả những ai đã chiến đấu chống lại chúng
tôi:
“Những con đường quá khích nào cũng đều ngắn ngủi, và sẽ làm
cho kẻ sử dụng phải lao đao. Chỉ có con đường trung dung, thanh thản, là dùng
được, mà tôi muốn tập hợp tất cả đồng bào lại, kể cả những người đã đi quá trớn,
hay những ai còn đang chờ đợi, những ai nhạo báng, hay còn ngờ vực loanh quanh.
Còn đối với ai đã đi ngược lại quyền lợi quốc gia, liệu có cần phải nói rằng, cửa
ngõ gia đình vẫn luôn luôn bỏ ngỏ?”
Trong tháng 2, nhiều cuộc viếng thăm tới tấp. Đầu tiên là Tướng
Lechères đến để xác nhận với Tướng Tổng Tư lệnh mục đích chiến tranh đã được
chính phủ ấn định rõ rệt. Rồi đến ông Paul Raynaud, Chủ tịch Ủy ban Tài chính
Quốc hội, đi du lịch qua, từ ngày 10 đến 24 tháng 2. Sau là cuộc viếng thăm của
dân biểu phái tả Paul Devinat, đi công cán cho Quốc hội, đến để kiểm soát việc
sử dụng các binh phí, tình trạng quân nhu, quân cụ và sự tiến triển của các
quân đội quốc gia Việt, Miên, Lào. Cuối cùng, là sự viếng thăm của Thống chế
Juin, đi cùng ông Letourneau. Chúng tôi lợi dụng sự có mặt của ông này để triệu
tập một hội nghị quân sự ở Đà Lạt ngày 24 tháng 2.
Hội nghị này đặt dưới quyền chủ tọa của tôi. Tham dự ngoài
ông Letourneau có Tướng Salan, Tướng Hinh, Thủ tướng Tầm, quyền Bộ trưởng Quốc
phòng Lê Quang Huy và Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ.
Nhiều quyết định quan trọng được đề ra. Trước tiên là sự chấp
nhận dứt khoát chương trình thành lập đoàn khinh quán, mà binh phí một phần sẽ
do ngân quỹ Việt Nam đài thọ, vào khoảng 50 tỉ quan.
Cũng quyết định trên nguyên tắc, rằng tất cả các đơn vị đó sẽ
đặt dưới quyền chỉ huy của Việt Nam. Phần khác, vị Tổng Tư lệnh vốn là Quốc trưởng,
và vị Tham mưu trưởng Việt Nam phải có những phối hợp với viên Tổng Tư lệnh
Pháp liên hệ đến các cuộc hành quân và đặt kế hoạch. Quân đội Việt Nam không
còn là một quân đội nằm trong quân đội Pháp, mà là một quân đội đồng minh. Đó
là Việt Nam hóa chiến tranh.
Chương trình tổng quát được chấp nhận là sự nâng giá trị của
quân đội Việt Nam đến năm 1955 trên căn bản là 8 sư đoàn, bao gồm 175.000 quân
chính qui trong đó có 50,000 quân trừ bị. Ngoài ra chương trình ấy còn đặt ra
các cơ quan liên hệ, sự hình thành của một đoàn Không quân, gồm có một trường học
hai nhóm chiến lược, và một tiểu đoàn, cũng như sự thành lập đoàn giang đĩnh và
tuần duyên. Như vậy, điều chúng tôi đòi hỏi cho chương trình này, để hoàn tất
vào năm 1953, 54 tiểu đoàn khinh quân, 14 đại đội pháo binh, và 19 đơn vị dân
chuyển, đưa tổng số quân đội lên 40.000 người nữa. Sự đánh giá chương trình này
được ấn định ở Paris, để vào tháng 6, sẽ đưa cho Washington, hầu được viện trợ
tương xứng.
Tôi ghi nhận với tất cả sự hài lòng, vì các quyết định này đã
được toàn thể hội nghị chấp nhận trong bầu không khí hoàn toàn thông cảm và nhất
trí.
Bốn ngày sau, Thống chế Juin và ông Letourneau đến Nà Sản để
khen thưởng binh sĩ đã đạt được mục tiêu, làm cho tướng Giáp phải thu quân bỏ
chạy.
Viên thanh tra quân lực Pháp vừa đi thăm Triều Tiên một tuần
về. Tôi tiếp ông ta ngày 4 tháng 3, tại biệt điện của tôi ở Ban Mê Thuột. Ông
có vẻ bớt lo lắng hơn lần trước khi ông gặp tôi ngày 15 tháng 2. Ông bảo cho
tôi biết, ông đã được ông Letourneau đồng ý, sẽ mời Tướng Clark, Tổng Tư lệnh
quân đội Mỹ ở Viễn Đông, đến quan sát tại chỗ, những điều chúng tôi đã làm ở Việt
Nam. Rồi ông kể cho tôi nghe dự định Mỹ về Triều Tiên:
- Người Mỹ không biết làm cách nào để rút chân ra khỏi vụ này
mà khỏi bị mất mặt. Họ đã dự định những giải pháp rất mâu thuẫn là đưa cả người
Tàu ở Đài Loan vào trong vụ lộn xộn này. Nhưng rồi họ lại bỏ cuộc. Dù sao nữa,
nếu sự đàm phán hiện nay mà thành, thì Triều Tiên sẽ bị cắt làm hai. Như vậy, họ
sẽ tạo ra miền Nam Triều Tiên một đạo quân, theo kiểu Mỹ. Theo tôi, đó là sự nhầm
lẫn lớn. Dù sao nữa, không phải đó là điều mà người ta sẽ làm ở đây.
- Thưa Thống chế, hẳn Thống chế đã biết những điều mà chúng
tôi đang muốn sử dựng các tiểu đoàn khinh quân đặc biệt?
- Vâng, đây chính là điều cần thiết. Những người thấy cần phải
chống lại với đoàn quân du kích Việt Minh, nhưng cần phải đem đến cho họ một nền
hành chánh, do các công chức đã thành, để đến ngay vùng đất vừa chiếm được.
- Đó là chúng tôi đang dự định với đoàn GAMO (Quân thư lưu động),
nhưng chúng tôi chưa đủ nhân viên. Hẳn Thống chế thấy nước Pháp đã để lại đây cả
một đống công chức vô ích, chỉ dùng thì giờ để chọc gậy bánh xe. Những người mà
chúng tôi cần, đó là các kỹ thuật gia, các chuyên viên, chứ không phải bọn người
trong ngành cai trị thuộc địa…
- Thưa Hoàng thượng, khi tôi qua Triều Tiên, điều tôi đã nhìn
thấy ở Việt Nam làm tôi tin tưởng, nhất là ở miền Nam, dân chúng đã bắt đầu ý
thức được sự chuyển tiếp chế độ, nền độc lập của đất nước, ở miền Trung và miền
Bắc thì chưa nhất định, vì vậy, tôi muốn rằng Ngài sẽ thành lập sớm đạo khinh
quân của Ngài. Tôi đã trông thấy viên Tham mưu trưởng trẻ tuổi, Tướng Hinh, mà
tôi từng biết, đó là một thanh niên vững chãi, và kết quả mà y đã đạt được đều
rất đáng khen. Quân đội của Ngài đánh trận giỏi, nó đã mất nhiều người, bởi vì
chưa quen đánh trận lắm.
- Thưa Thống chế, tôi xin đa tạ Thống chế về những điều nhận
xét vừa qua, tôi mong rằng Thống chế sẽ nhắc lại ở Paris, mà người ta thường
không hiểu lắm về nỗ lực của chúng tôi.
- Thưa Hoàng thượng, tôi sẽ không quên điều đó. Nhưng tôi xin
Ngài nên đề phòng. Một mặt, nước Pháp đã phải gánh chịu quá nặng, mà nó còn nhiều
điều bắt buộc khác nữa. Mặt khác, dù cho công việc tiến triển ra sao, không thể
chỉ lấy quân sự mà giải quyết hết được, còn cần phải có sự điều đình khác nữa,
và đó là việc của Ngài…
Ý nghĩ điều đình chính trị chẳng phải mới nhen lên lần đầu.
Trước khi chính phủ đổ, ông Pinay với sự thỏa hiệp của Tổng thống Auriol đã có
ý định dùng cách đi đêm để nói chuyện với phe đối nghịch. Được ông Letourneau
báo động, vì ông này thành thực ác cảm với bọn Việt Minh, tôi phải miễn cưỡng
chấp nhận sự đi đêm, trên nguyên tắc.
Giáo sư Bửu Hội, một nhà bác vật (kỹ sư) Việt Nam đã ở Pháp
lâu năm, được tôi cử vào sứ mạng này. Thủ tướng René Mayer liền lo liệu việc
này. Bửu Hội đến Rangoon, để gặp đại diện của Việt Minh ngày 26 tháng 2. Tôi
không bao giờ rõ cái gì đã xảy ra, vì câu chuyện này không có đoạn cuối. Nhưng
sự việc ấy đã giúp tôi hiểu được tâm trạng của giới chính trị gia Pháp, Tôi sợ
rằng, dưới áp lực của dư luận quần chúng, chính phủ Pháp có thể có một sáng kiến
mới loại ấy, đẩy tôi vào chỗ sự đã rồi. Vậy thì cần gì đến bao sự hy sinh, và nỗ
lực do dân chúng Việt Nam đã bỏ ra trong mấy năm liền? Giả thuyết ấy thật độc
ác đối với chúng tôi, cũng như nước Pháp là kẻ đầu tiên đã nản lòng trước những
khó khăn bởi tiên thiện bất túc. Thế thì phản ứng của bọn người đầy nhiệt tâm
mà chúng tôi đưa vào cuộc kháng chiến này, mà họ phải riêng mình gánh chịu với
vài người lính Pháp tất cả những hậu quả tai hại?
Tôi mong rằng có thể nói nỗi khổ tâm ấy với vị đại diện của
chính phủ Pháp, nhưng ông Letourneau đến đây như gió, mỗi khi sự có mặt của ông
là cần thiết, rồi trở về Pháp ngay do những hoạt động chính trị khác của ông ở
Paris. Sự biến dạng của Đại tướng De Lattre bỗng trở lại với tôi ngày nay như một
điều tai hại vô cùng.
Đáp lời mời của Thống chế Juin, Tướng Clark đến Sài Gòn ngày
19 tháng 3. Tôi tưởng rằng cuộc thăm viếng này sẽ có lợi. Dù sao nữa, nó cũng
giúp cho viên Tư lệnh quân lực Mỹ để xác nhận công khai là: “tính chất tương đồng
giữa cuộc chiến ở Triều Tiên và ở Đông Dương y hệt như nhau”.
Sự thăm viếng đầu tiên của Tướng Clark trùng hợp với những
triệu chứng đầu tiên cho thấy sự chuyển quân của Việt Minh muốn tiến về Bắc
Lào. Tại đây, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp phải đương đầu. Như ở Nghĩa Lộ
năm ngoái, người ta mở đầu trận đánh mùa xuân, để di tản Sầm Nưa, thị trấn của
tỉnh cùng mang tên ấy, ở sát biên giới nước tôi.
Chính vào lúc đó, có một sự kiện khá lạ lùng. Năm 1953 lẽ ra
phải tổ chức tế Nam Giao. Đức bà Từ Cung Thái hậu vẫn có liên lạc với các nhà
chiêm tinh cũ của Triều đình báo cho tôi biết ngày giờ thuận tiện để làm lễ.
Lúc ấy tôi đang ở Ban Mê Thuột, nên định rằng sẽ cử hành buổi tế ngay tại chỗ,
vì con đâu cha mẹ đấy, theo đúng phong tục Việt Nam.
Nơi đất được chọn là làng Boun Trap, cách xa Ban Mê Thuột khoảng
trên 10 cây số, trên đường ra Hồ và ở cửa rừng. Tôi cho đem đoàn voi của tôi đến,
độ 20 con to lớn đồ sộ, tập trung thành vòng tròn, để như là dâng buổi tế sống
vậy. Vì hiện nay đang có chiến tranh, tôi muốn cho đoàn voi của hoàng gia tham
dự, để tỏ lòng tôn kính như xưa kia Đức Vua Gia Long đã thu phục sơn hà, voi đã
đóng vai trò khai quốc công thần.
Mỗi một con vật đó, có một tiểu sử ly kỳ. Trong bọn này, đặc
biệt có con gọi là Buôn Con, tôi từng cỡi thường nhật, là con voi đực cao tới
ba mét. Khi tôi tới Ban đơn viên chủ làng Kim Jo Nop cho tôi mượn con voi này để
đi săn. Đó là con vật giá trị nhất của ông ta. Thấy con vật cực kỳ tinh khôn,
tôi đề nghị với Kim Jo Nop bán lại cho tôi, ông ta từ chối và kêu lên: “Người
ta có thể lấy vợ tôi, lấy con gái tôi, nhưng không lấy được voi của tôi...”
Cuối cùng, với sự hỗ trợ với viên công sứ sở tại, sau khi tổ
chức nhiều buổi hội hè, viên tù trưởng mềm lòng và bằng lòng bán lại cho tôi,
những quản tượng người Rhadé đã đưa nó đến kho sưu tập thú rừng của tôi ở Quảng
Trị. Khi đến gần Cam Lộ, họ liền trao cho các quản tượng Việt Nam, mà con voi
kiêu hãnh này tòng phục ngay. Tôi cỡi nó hàng tuần.
Theo gương của các tay săn bắn người Bandon, thà chết đói còn
hơn là trồng một cây lúa, Buôn Con cũng từ chối làm việc, kể cả việc đi lấy thức
ăn. Tôi phải đưa từ Huế ra một con voi cái, để gom góp đồ ăn lại cho nó. Buôn
Con chấp nhận và ăn.
Nhưng voi cái lợi dụng lúc đi tìm thức ăn để lảng ra xa và chạy
trốn. Có đến sáu lần như vậy. Cứ mỗi lần bỏ chạy, Buôn Con phải cùng viên quản
tượng đi tìm, đưa về đoàn. Đến lần thứ bảy, viên quản tượng lại đi tìm, và khi
bắt được con voi cái vô kỷ luật này thì bị nó quật chết tươi.
Buôn Con nghe được đủ thứ tiếng mọi, tiếng Việt Nam và cả tiếng
Pháp. Nó rất quen thuộc các động tác của tôi, để mỗi khi đi săn, thì bao giờ
cũng ngưng lại cách xa con mồi độ 40 thước, để tôi có thể bắn với độ hữu hiệu
nhất.
Một hôm, có con hổ nhẩy lên lưng nó từ phía sau, và cào nó rất
sâu. Vết thương bị nhiễm trùng. Cần phải giải phẫu nơi bả vai. Người thú y
không có thuốc tê. Trong suốt thời gian giải phẫu, người quản tượng nói với nó,
bảo nó rằng cần phải chịu đau một chút, vì điều đó có ích cho nó. Nó nằm im
không nhúc nhích. Sau đó nó khỏi.
Gặp biến cố năm 1945, bọn Cộng sản chiếm được Quảng Trị, nó
không chịu làm gì với họ. Rồi có thể là do chính biến, nó bỏ chạy và vào rừng
trong suốt thời gian tôi vắng mặt. Khi tôi trở về năm 1949, nó lại về khu sưu tập
thú rừng. Không phải chỉ có một mình nó, nhiều con khác cũng lục tục trở về, có
cả quản tượng. Có lẽ bọn này cũng chẳng muốn hợp tác với bọn Cộng sản.
Buôn Con chỉ có một ngà. Voi một ngà rất dữ tợn, nên khi
trông thấy voi một ngà là các loài khác đều sợ hãi.
Vào đêm mùa xuân của tháng 4, quãng 3 giờ sáng, bên cửa rừng
đầy đuốc cháy sáng, chúng tôi hành lễ Nam Giao. Trong sự lặng thinh của núi rừng,
giữa thiên nhiên tươi tốt, tất cả như thân cận gần nhau, nghi thức buổi lễ đã
vô cùng cảm động, hơn cả buổi tế ở đàn tế Nam Giao ở Huế. Buổi lễ đã nhuốm màu
vĩ đại mà ít khi tôi được cảm thấy. Tôi báo cáo lên Trời Đất sứ mạng của tôi,
và buổi tế đã kéo dài cho tới gần sáng. Một con voi đã tỏ ra nóng ruột. Bất
thình lình, nó tấn công con voi kế cận. Tất cả vòng tròn voi, như một lâu đài
giấy bồi nghiêng ngửa, trở thành lộn xộn và tan rã. Tất cả những người dự lễ, đều
mạnh ai nấy chạy, cố gắng tránh những con vật hung hăng phá đổ mọi vật trên đường.
Tôi đứng lại một mình ở giữa chỗ hỗn loạn đó, trong bộ đại trào, nhiều khi bị
con voi điên chạm phải.
Tôi liền gọi Buôn Con, bảo nó đến gần tôi, và ra lệnh cho nó
dẹp cuộc náo loạn này. Nó liền đi gọi từng con một, lần lượt, có khi chỉ bằng
vài tiếng hí, để bắt đứng vào hàng ngũ. Trong vòng mươi phút, trật tự lại trở lại
như cũ, tôi chưa hề đổi chỗ lần nào. Một số người từng theo tôi dự lễ này, cho
rằng đây là một triệu chứng của nhà Trời.
Cần phải nói rằng, vào mùa xuân năm 1953, nếu tình hình quân
sự không có gì nghiêm trọng, thì tình hình chính trị lại gia tăng. Ngay trong
lãnh vực này, thời gian không làm việc cho chúng tôi.
Mỗi một ngày, chúng tôi đi sâu vào trách nhiệm, mỗi một ngày
chúng tôi phải đối phó với chiến tranh, và cũng mỗi một ngày trên bình diện
chính trị, chúng tôi gặt hái được kết quả tốt. Nhưng nước Pháp, do quan niệm
liên hiệp của khối quốc gia liên kết, vẫn khư khư giữ lấy vai trò chỉ đạo vốn
đã lỗi thời rồi.
Quốc vương Sihanouk hành động đầu tiên, theo kiểu của ông, bằng
một thái độ đáng khen. Sau khi nắm vững tất cả mọi quyền hành quốc gia trong
tay, ông ta sang Pháp vào tháng 4. Tại đây, ông giải thích cho Tổng thống
Vincent Auriol và cho chính phủ là quan điểm hệ thống của Liên hiệp Pháp không
phù hợp với thực tế. Ngày nay, nếu người ta muốn chúng tôi giải quyết việc dẹp
loạn nội bộ, thì chúng tôi cần phải được hoàn toàn độc lập, với tất cả các mặt
ngoại giao, quân sự và kinh tế. Nếu lên những điều của Hiến pháp, cần phải sửa
đổi, chính phủ Pháp từ chối mọi yêu sách của ông Hoàng chùa Tháp. Ông này rời bỏ
Paris để sang Hoa Kỳ, và khi đến Nữu Ước, đã tuyên bố một lời nẩy lửa:
- Nếu người Pháp không thỏa mãn yêu sách của chúng tôi, chúng
tôi sẽ đi theo đường lối chung của Việt Minh.
Phản ứng của René Mayer thật bất ngờ. Ngày 9 tháng 5, không cần
sự tham gia ý kiến của Hội đồng, tự ý ông ta hạ giá đồng bạc Đông Dương, đang từ
17 quan xuống còn có 10 quan. Biện pháp ấy có hiệu lực nhằm hủy bỏ mọi khả năng
hốì đoái, và gây xáo trộn nặng nề cho nền kinh tế của Đông Dương.
Chính phủ Pháp còn đưa ra một quyết định nữa, mà đến khi thi
hành, tôi mới được thông báo: Tướng Salan được thay thế bằng Tướng Navarre, mà
ngày 21 tháng 5 đã được ông Letourneau đón tiếp ở Sài Gòn. Ba hôm sau, Tướng
Salan đến chào biệt tôi ở Ban Mê Thuột. Tôi không giấu ông ta về sự ngạc nhiên
của tôi về thái độ của chính phủ Pháp, và sự mù tịt mà họ để cho tôi trong mọi
quyết định, làm tôi rất bực mình.
Hôm sau, gặp ông Letourneau, tôi tỏ cho ông ta biết sự bất
bình của tôi và yêu cầu ông ta phải định lại nghĩa về Liên hiệp Pháp, càng sớm
càng tốt. Bởi vì căn cứ vào các quyết định của chính phủ Pháp vừa qua, với tính
cách hai bên đồng thỏa thuận, thì Pháp đã vi phạm tinh thần của hiệp định
Paris, tôi yêu cầu bãi bỏ vấn đề tiền tệ và quan thuế giữa bốn bên, và đòi cho
Việt Nam quyền Tổng Tư lệnh quân đội Việt Nam và Pháp.
Thật là phí công, vì ông Letourneau chỉ còn là bộ trưởng phụ
trách giải quyết các việc thông thường. Chính phủ René Mayer đổ từ ngày 21
tháng 5. Cuộc khủng hoảng nội các kéo dài tới 35 ngày.
Ông Joseph Laniel, tân Thủ tướng nội các, được tấn phong ngày
26 tháng 6, tuyên bố:
- Chính phủ kiên trì tìm một đoạn chót cho những biến cố ở
Đông Dương, dù đang là lúc đàm phán được ký kết sau cuộc đình chiến ở Triều
Tiên hay bất cứ cuộc đàm phán nào phù hợp với các chính phủ của quốc gia liên kết.
Từ nay, chính phủ Pháp sẽ không có bộ các quốc gia liên kết nữa,
nhưng chỉ còn là một vị quốc vụ khanh, trao cho ông Marc Jacquet. Còn ông Paul
Reynaud phó thủ tướng nội các, chịu trách nhiệm về các vấn đề Đông Dương do ủy
quyền của Thủ tướng. Thật là giản dị, từ nay không ai biết ai là người chịu
trách nhiệm. Hơn nữa, chẳng ai là đồng nhất giữa hội đồng chính phủ. Nếu ông
Paul Reynaud như sẵn sàng theo đuổi kỳ cùng mục tiêu độc lập, thì nhiều bộ trưởng
khác, tập trung quanh ông Georges Bidault, bộ trưởng Ngoại giao lại muốn giữ
tình trạng liên minh của Liên hiệp Pháp.
Lập trường thứ nhất của ông Reynaud thắng và ngày 3 tháng 7,
ông Reynaud ra một tuyên ngôn, nhân danh chính phủ, trong đó ông nhấn mạnh:
- Nước Pháp muốn kiện toàn nền độc lập và chủ quyền của các
quốc gia liên kết, bằng cách thảo luận trên phương diện bình đẳng, về tính chất
các sợỉ liên lạc sẽ đặt ra với từng nước một.
Để chứng tỏ sự thay đổi đường hướng này, chính phủ Laniel
ngay ngày hôm ấy cử ông Maurico Dejean đang làm đại sứ ở Nhật, vào chức Tổng ủy
viên ở Đông Dương.
Tưởng Navarre đến chào tôi, mấy ngày sau khi ông đến ông cho
tôi hay những nét chính về kế hoạch hành quân mà ông sẽ đặt ra. Điểm chính vẫn
là để lợi thời gian cho quân đội Việt Nam phát triển, trong khi vẫn theo đuổi
chính sách bình trị ở những vùng mà chúng tôi đã thu hồi được.
Về vấn đề quân đội của chúng tôi, tôi cũng cho ông biết thêm
những yếu tố mới. Ít ngày sau, ông đi Paris để xin phép chính phủ chấp thuận kế
hoạch này. Khi ông trở lại, ông cũng không nói gì cho tôi biết cả…
Trong thời gian này, tôi tiếp một phái đoàn trí thức Việt Nam
trong đó có Ngô Đình Nhu, là em của Ngô Đình Diệm. Họ đến để “gợi ý tôi để dân
chủ hóa chế độ bằng cách lập ra một Quốc hội”.
- Tôi muốn lắm, tôi bảo họ thế, nhưng các anh lập như thế
nào?
- Thưa Hoàng thượng, một người Pháp, một nửa Quốc hội này sẽ
do dân bầu, còn nửa kia là dọ Quốc trưởng chỉ định.
Lập tức, tôi ngắt lời:
- Không thể như thế được. Nếu các anh muốn có một Quốc hội,
chúng tôi sẽ lập ra Quốc hội đó, nhưng nó phải do toàn thể dân chúng bầu ra.
Tôi sẵn sàng làm như vậy, nhưng tôi không cần lưu ý các anh nên cẩn thận, và phải
chịu mọi trách nhiệm. Trong đất nước này, chỉ có hai người là có thể đặt ra
đươc một Quốc hội như vậy: Hồ Chí Minh và tôi.
Bọn này liền có phản ứng, mà tôi đang chờ đợi:
- Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là sự gợi ý của chúng tôi, Quốc
hội ấy, tất nhiên là tùy thuộc ở Ngài, để thành lập vào lúc nào Ngài cho là thuận
lợi.
Tôi quyết định đi Pháp và đến vào ngày 2 tháng 8. Tôi về
Cannes với gia đình vài ngày. Cuộc nghỉ ngơi ngắn ngủi ấy giúp tôi thu lượm được
tâm trạng của các nhà chính trị Pháp. Hình như là những quyết định do văn phòng
tôi hay do chính phủ của Tấm đều bị dư luận Pháp lên án dữ dội.
Đối với những người không bằng lòng này, phần tôi, tôi cũng
có những sự bất mãn, và tôi có đầy đủ hồ sơ.
Một người trong bọn họ thì than phiền về chỗ chính phủ Pháp
đã yêu cầu miễn thuế xuất cảnh cho các xí nghiệp khai thác, vẫn chưa được xét đến.
Thế mà các thuế xuất cảnh này được đánh là để bù vào chỗ thua thiệt của chúng
tôi, do sự phá giá đồng bạc. Hồ sơ thứ hai thì nhằm vào quyết định độc đoán của
nước Pháp, là không công nhận giá trị văn bằng do trường Đại học Hà Nội cấp, được
bằng với văn bằng do trường Đại học Pháp cấp. Quyết định ấy thật tai hại cho
các sinh viên Việt Nam muốn tiếp tục theo học ở Pháp. Cuối cùng, có cả hồ sơ
nói về đề nghị ngưng bắn với Việt Minh.
Bởi vì tôi biết sự vận động của Bửu Hội không phải là độc nhất.
Một phái đoàn con buôn, thuộc giới áp phe, mới đây đã sang Tàu, và kẻ chủ chốt
chẳng ai khác hơn là viên cựu Quận trưởng Aubrac, mà sự giao hảo với Hồ Chí
Minh ai cũng đã rõ. Tôi được biết vụ này, do những tin đồn, rỉ tai trong các
nhà băng Trung Hoa và Việt Nam, là bọn tài phiệt sẽ tìm cách cứu vãn và che chở
cho quyền lợi của họ, nếu có cuộc đình chiến xảy ra với Việt Minh, và sự chia
đôi nước Việt Nam, như đã từng xảy ra ở Triều Tiên. Dự định ấy có thể có khá
lâu rồi, vì tôi được biết có những chuyên viên phòng nhì Pháp (2è bureau) đang
tìm những băng cũ thu tiếng nói của Hồ Chí Minh, để có thể kiểm thính được lời
tuyên bố mới nói về đình chiến ở đài Việt Minh.
Tình hình suy thoái
Tôi chọn Bửu Lộc để dự trù trong việc ngoại giao quốc tế, sẽ
họp trong năm 1954. Bửu Lộc đã ở cạnh tôi rất lâu mỗi khi tôi về nghỉ ở Pháp, bởi
ông ta là Cao ủy và Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Như vậy, ông ta thường có dịp học
hỏi và quen biết giới chính trị gia Pháp, và các nhân vật ngoại quốc khác.
Chính phủ của ông thành lập ngày 12 tháng giêng 8. Đó không hẳn là một chính phủ đoàn kết quốc
gia như tôi mong muốn, nhưng nó bao gồm nhiều nhân vật thông thạo, và tận tâm.
Nếu các giáo phái từ chối không chịu tham dự, thì chính phủ này cũng có hai đảng
viên Đại Việt tham gia. Tôi ấn định cho Bửu Lộc hai mục tiêu là theo đuổi các
công cuộc cải cách đang dở dang, và phải kết thúc với Pháp sự bảo đảm độc lập
toàn vẹn trên toàn quốc.
Mục tiêu thứ hai này giúp cho ông ta có uy tín đối với các
phe phái quốc gia, và củng cố vị trí trọng tài của tôi.
Hội nghị Berlin mở ra ngày 25 tháng giêng, với sự tham gia của
các bộ trưởng Ngoại giao tứ cường, Dulles, Eden, Molotov và Bidault. Tôi cử
Nguyễn Văn Tâm đến, với tư cách quan sát viên. Hội nghị này mở màn cho sự quốc
tế hóa vấn đề tranh chấp ở Đông Dương. Việt Minh lợi dụng tối đa về tình thế
này.
Tại chỗ, vị Tổng Tư lệnh đã mở nhiều cuộc hành quân, mà theo
ông nghĩ, một mặt đẩy chúng bỏ chạy khỏi quấy rốì.sự phát triển của quân đội quốc
gia, mặt khác để tảo thanh các vùng mà chúng tôi đang kiểm soát.
Vì vậy, ông cho tái chiếm từ nhiều tháng trước Điện Biên Phủ,
một thị trấn trên đất Thái, ở sát biên giới Lào, để dử cho Việt Minh tấn công.
Mặt khác, ông phải đối phó với một lực lượng Cộng sản tràn lan xuống sông Cửu
Long, qua vùng Trung Lào. Cuối cùng, một cuộc hành quân rộng lớn được sử dụng ở
cao nguyên miền Trung, để giữ vững vùng này.
Tướng Navarre đã báo cho tôi những cuộc hành quân đó. Ông chú
trọng nhất về việc giải tỏa miền Trung Việt Nam. Tôi có đề nghị để các đơn vị
Việt Nam cùng giữ Điện Biên Phủ ông ta đáp:
- Dạ không. Đây là một vấn đề hoàn toàn Pháp. Chúng tôi muốn
bẻ gãy bọn Việt Minh. Hai tiểu đoàn Thái đã có mặt ở đây là quá đủ.
Trong dịp tết Giáp Ngọ, ngày 3 tháng 2, tôi gửi một thông điệp
chúc tết hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Sau khi phân tách tình hình hiện tại,
tôi giải thích những ưu và khuyết điểm mà có chứa đựng, không thể tránh.
“Ngày hôm nay, chủ quyền của chúng ta đã được thu hồi, và năm
nay cũng là năm mà đường lối chính trị của chúng ta đã ra khỏi mẫu đất khó khăn
đã cản mũi chúng ta. Nước Pháp, do giòng lịch sử đã để lại trên phần đất này,
nhiều dấu vết tốt đẹp thì chẳng bao lâu sẽ chấm hết do hiệp ước trả lại nền độc
lập này… Quý hơn hết, quốc gia to lớn này đã không chấp nhận cho đế quốc Sô Viết,
được bắt lấy cái chủ quyền vừa được thu hồi ấy, và nó đã chịu nhiều hy sinh nặng
nề, để chứng tỏ rằng sự giải phóng cho chúng ta không phải là trò bịp bợm bi thảm…
Tôi ước ao rằng dân chúng Pháp sẽ hiểu rằng, chỉ có sự thỏa mãn giá trị tinh thần
quốc gia của Việt Nam mới có thể bảo đảm được tình thân hữu, nền văn hóa và quyền
lợi đã đẩy hai dân tộc chúng ta chung sống gần một thế kỷ cùng nhau.
“Vấn đề hiện tại là bây giờ chúng tôi phải gạt bỏ mọi dấu vết
Cộng sản.
“Năm 1945, toàn thể nhân dân Việt Nam đã đứng lên giành lấy
chủ quyền của mình. Chính bọn Cộng sản đã thực hiện tội ác chống lại tổ quốc,
và làm tan tác sự nhất trí này...”
Rồi tôi giải thích về những xáo trộn năm 1945, chúng tôi sẵn
sàng thiết lập một cơ cấu chính trị dân chủ, theo căn bản dân vi quí, để đưa nước
nhà lên đài vinh quang trong tương lai…
“Một sự đồng minh bình đẳng với nước Pháp, sẽ hỗ trợ chúng
tôi vào vị trí quốc tế. Cảm tình của 33 nước trong khối tự do, đã chính thức
công nhận nước Việt Nam quốc gia này. Trong các nước ấy, sự biết ơn của chúng
tôi đặc biệt dành chứ nước Hoa Kỳ đã giúp đở chúng tôi mạnh mẽ, và không vụ lợi…
“Cuộc chiến của chúng tôi là nội chiến, trong khi bọn chống đối
trá ngụy mà chúng tôi phải đương đầu, lại do ngoại bang chi phối. Nó là lợi khí
địa phương cho một chiến lược quốc tế, mà trung tâm là Moscou. Nếu bọn Cộng sản
Việt Nam cho rằng chiến đấu để giải phóng Việt Nam trong tay Pháp, tại sao họ lại
không đếm xỉa gì đến nền độc lập đã thu hồi được? Nếu bọn Cộng sản Việt Nam tự
nhận chỉ riêng họ là yêu nước, tại sào họ lại đưa chiến tranh, ngay cả bây giờ
nữa, sang đến tận Lào, ở ngoài biên giới của chúng tôi?
“Đồng bào thân mến,
Chính chung quanh lý tưởng quốc gia, mà chỉ chung quanh nó,
mà tôi mời tất cả đồng bào tập hợp lại, để cương quyết hành động, hầu đập tan
các điều thống khổ của chúng ta. Còn nhiều người trong bọn chúng ta, vẫn còn thụ
động, tin rằng còn có những người Việt khác cũng như người ngoại quốc, sẽ làm,
giảm thiểu, hãm bớt đà tìến công của Cộng sản mà đem lại hòa bình. Họ không thể
phạm một lỗi lầm to lớn hơn nữa, và tấm gương của Triều Tiên chứng tỏ cho họ biết,
nếu một dân tộc không tự giải phóng được mình, thì nó sẽ bị tan rã, và vẫn phải
chịu sống dưới quyền đô hộ của ngoại nhân. Nước Việt Nam cuối cùng sẽ là nước
Việt Nam do chính tay người Việt Nam định đoạt…”
Khi nêu gương của nước Triều Tiên, tôi muốn cảnh cáo long trọng
dân tộc tôi về hiểm họa mới đang đe dọa sự đoàn kết của họ, và sẽ đẩy tất cả
vào công dã tràng xe cát trong bao năm vun vén xây dựng.
Trong suốt tháng 2 năm 1954, đây là cả một đoàn người đến
thăm. Đầu tiên là ông Pleven, bộ trưởng Quốc phòng; ông De Chevignée, quốc vụ
khanh về chiến tranh; ông Jacquet, quốc vụ khanh các quốc gia liên kết; Tướng
Ely, Blanc, và Fay, đến thăm nhiều địa điểm hành quân. Đoàn du lịch cuối cùng đến
Điện Biên Phủ mà ai cũng trầm trồ khen ngợi công trình thực hiện được về căn cứ
Không quân này. Tôi tiếp ông Pleven hai lần ở Ban Me Thuột, rồi ở Đà Lạt, và
tôi nói về quân đội quốc gia Việt Nam. Do sự thành lập sư đoàn thứ 8 của đoàn
khinh quân hậu vệ, về đợt thứ hai, quân số của quân đội Việt Nam vào năm 1954,
đã lên từ 200.000 đến 285.000 người, được phân chia như sau:
148,000 quân chính qui với 8 sư đoàn Bộ binh, 80.000 người do
đoàn khinh quân, 44.000 trừ bị và 13.000 về Thủy quân và Không quân. Chương
trình này đã vượt quá 10.000 người đối với chương trình mà tôi vạch cho Tướng
Navarre vào tháng 6 năm 1953. Nó gặp khó khăn về sĩ quan và cấp chỉ huy. Chương
trình mà chúng tôi có thể cung cấp được sẽ bị thiếu hụt độ 14%, theo bảng cấp số.
Cuộc thiếu sót đó sẽ được lấp đầy bằng cách đưa 6.000 sĩ quan và hạ sĩ quan
Pháp, cạnh quân đội quốc gia Việt Nam.
Khi viên Bộ trưởng Quốc phòng trở về Pháp, thì đã có cuộc bàn
cãi sôi nổi ở Quốc hội, trong đó Thủ tướng Laniel tuyên bố ngày 5 tháng 3, là
ông ta nhất định “giải quyết vấn đề Đông Dương bằng đường lối ngoại giao”.
Một sự xác nhận như thế chẳng giúp đỡ gì cho chúng tôi, nó chỉ
làm cho chúng tôi nản lòng, nhất là để động viên tinh thần dân chúng. Nó lại
còn một hậu quả tai hại nữa, là cấp thêm luận điệu cho phe quốc gia cực đoan.
Tôi quyết định cử Hoàng thân Bửu Lộc đi ngay Paris, để thôi thúc việc trao trả
nền độc lập hoàn toàn. Cuối cùng, ngày 29 tháng 3, tôi lập một chính phủ chiến
tranh, đặt dưới quyền tôi đã tập hợp các bộ trưởng liên hệ đến sự phòng thủ,
viên Tham mưu trưởng Tướng Hinh… Bằng hình thức này, tôi muốn nhấn mạnh đến sự
dấn thân của chúng tôi vào chiến tranh chống lại Cộng sản, và muốn chứng tỏ rõ
ràng trước dư luận thế giới, ý chí nhất định của chúng tôi trong sự điều đình về
hòa bình, để giữ cho được nền thống nhất và độc lập cửa Việt Nam.
Tiếng súng đầu tiên do Việt Minh bắn vào căn cứ Điện Biên Phủ,
kể từ ngày 13 tháng 3, đã chứng tỏ sự suy diễn của tôi. Nước Pháp đã bị đặt dưới
hoàn cảnh hạ phong đối với Hồ Chí Minh, và phe đảng của ông ta không bỏ phí cơ
hội để thu lợi tối đa.
Về phần chúng tôi, nước Việt Nam, sau khi đã hoàn tất, trên
bình diện quân sự, vấn đề chính là nói đến điều đình. Tôi quyết định sang Pháp
để đặt giữa trung tâm của cuộc bàn cãi.
Tôi tới Cannes ngày 11 tháng 4. Ngày 16, tôi lên Paris, và gặp
ông René Coty, Tổng thống Pháp tại lâu đài Vizille.
Khi tôi đến Paris, tôi gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles
cũng đi qua đấy. Ông tỏ ra không chịu nhượng bộ nước Trung Hoa. Rồi đến ngày 21
tháng 4, tôi gặp Thủ tướng Laniel và ông Georges Bidault. Tôi xác nhận vị trí của
tôi:
- Bởi vì đã có một hội nghị, tôi chỉ đến dự khi được mời, do
quốc thư của các nước tham dự hội nghị. Nhưng tôi không muốn nhìn Việt Minh.
Tôi là chính phủ chính thức, và tôi không chấp nhận ngồi chung với bọn phiến loạn.
Ngày 23 tháng 4, tôi viết cho Tổng thống Coty một bức thư, để
xin triệu tập hội đồng Liên hiệp Pháp. Tôi không được thỏa mãn.
Ngày 24 tháng 4, tôi được chính thức thông báo về dự định của
chính phủ Pháp đối với Hội nghị sẽ mở ở Genève, do một bản thông báo của ông
Georges Bidault gởi cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Định. Lập tức tôi giữ
gìn thận trọng.
Hôm sau 26 tháng 4, tôi cho Văn phòng của tôi ấn hành bản
thông cáo nói rõ:
“Nước Việt Nam không thể chấp nhận những điều khoản về hội
nghị dàn xếp, trong đó nước Pháp, đi trái với nguyên tắc của Liên hiệp Pháp, mà
nhân danh nó, nước Pháp lại đi điều đình với bọn phiến loạn chống lại nước Việt
Nam và với những cường quốc đã chống lại Việt Nam”.
Tôi tố giác những dự định, mà tôi được biết: phân chia đất nước
Việt Nam, như kiểu Triều Tiên, hay tập hợp riêng rẽ từng vùng một, và tôi kết
luận:
“Cả từ Quốc trưởng lẫn chính phủ Việt Nam đều coi như không
liên hệ gì đến những quyết định đi ngược lại với nền độc lập và thống nhất của
đất nước”.
Hội nghị Genève mở ra ngày 26, bằng một hình thức mở đầu như ở
Triều Tiên. Tôi đi Paris, và về với vợ con tôi ở Cannes. Ở Điện Biên Phủ, tướng
Giáp bứt từng mảnh lần lượt những căn cứ chống cự trong lòng chảo…
Tại Cannes, ông Marc Jacquet đến xin gặp tôi với tính cách cá
nhân. Ông ta báo cho tôi biết là ông Georges Bidault đã gặp ông Molotov và vị
này đã yêu cầu ông ta phải sắp xếp cho sự có mặt của đại diện Việt Minh ngồi cạnh
đại diện của các quốc gia liên kết. Ông ta nhắc tôi nên chú ý:
- Thưa Hoàng thượng, Mỹ và Nga đã đồng ý với nhau ở Berlin, tất
cả đều đã được sắp đặt sẵn rồi.
Hai hôm sau, đây là ông Đổng lý văn phòng bộ trưởng Ngoại
giao, ông Pierre Falaise đến gặp tôi. Cấp trên của ông ta phái ông ta đến đây để
xin tôi đề cử nhân vật của phái đoàn Việt Nam đi dự Hội nghị, và cũng để biết vị
trí của Việt Nam khi có mặt của phái đoàn Việt Minh. Nhiều nơi giục dã, kể cả
người Mỹ, do Đại sứ của họ là ông Heath.
Tôi cảm thấy cái bẫy mỗi ngày một thắt chặt lại. Nhưng tôi muốn
bảo vệ nền độc lập đến kỳ cùng. Tôi phải trả lời ông Bidault:
- Chúng tôi chỉ đến Genève để đàm phán về sự có chấp nhận Việt
Minh vào hội nghị hay không, và với điều kiện là chúng tôi phải được các cường
quốc Tây phương mời: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, để cùng với đại biểu của họ dự phiên họp
đầu tiên.
Lời yêu cầu của tôi được chấp nhận, và ngày 3 tháng 5, Nguyễn
Quốc Định đến Genève, có các ông Bedell Smith lãnh đạo phái đoàn Mỹ, Antony
Eden và Georges Bidault.
Con bài đã ném xuống. Tôi nhớ lại lời của ông Marc Jacquet:
“Đây là người Mỹ đã bày ra tất cả: Ngài sẽ thấy viên Đại sứ Mỹ đi đi lại lại, để
yêu cầu Ngài chấp thuận, nhưng kỳ tình tất cả đã được định trước giữa họ với
các tay tổ Cộng sản rồi”.
Nhưng tôi cũng chẳng để họ khuất phục được. Vì thế, khi nó
chưa từng đề cập đến, tôi vẫn từ chối bọn Việt Minh vào trong Hội nghị. Nay tôi
cương quyết đặt vấn đề với phái đoàn Pháp để được rõ ràng, và buộc họ phải cam
đoan bảo đảm cho nền thống nhất của Việt Nam.
Chắc chắn là sẵn sàng nhận hết, ông Georges Bidault đã được
chính phủ cho toàn quyền giải quyết, cốt giữ cho Hội nghị được trơn tru, đã viết
cho tôi ngày 6 tháng 5:
“Chính phủ Pháp trong thời gian này, không chỉ là đi tìm một
giải pháp chính trị vĩnh viễn. Công việc của tôi, như đã nói rõ trong bản thông
cáo ở Berlin, là tìm hòa bình cho Đông Dương.
“Mục đích của chúng tôi như vậy là tìm việc ngưng bắn, trong
khuôn khổ một cuộc đình chiến, đem lại bảo đảm cần thiết cho các quốc gia Đông
Dương, cho nước Pháp và cho các cường quốc đồng minh mà quyền lợi tổng quát của
họ có liên hệ chặt chẽ với quyền lợi của chúng tôi ở khắp Đông Nam Á Cuộc đình
chiến đó không phải có định kiến cho một ý đồ nhất định nào, khi các trường hợp
về hòa bình và tự do đã có thề mở ra được tổng tuyển cử, khi đã hội đả.
“Ngay tự bây giờ, tôi sẵn sàng xác nhận với Hoàng thượng rằng
không có gì trái với ý định của chính phủ Pháp là sửa soạn lập ra hai quốc gia,
trên lưng riước Việt Nam thống nhất, để hai quốc gia này mỗi nước có xu hướng
quốc tế khác nhau...”
Hai mươi lăm năm nay, tôi đọc lại đoạn cuối của bức thư này.
Lời lẽ rất dứt khoát lời hứa hẹn rất long trọng… Nước Pháp không bao giờ chấp
nhận sự chia xẻ nước Việt Nam. Ngày mùng 3 tháng 5, tại Sài Gòn, Đại sứ Dejean
đã tuyên bố, theo chỉ thị của chính phủ:
- Chính phủ Pháp không có dụng ý tìm giải pháp về cuộc chiến
Đông Dương trên căn bản một sự chia cắt nước Việt Nam… Những đảm bảo nhất định
đã được Bộ trưởng Ngoại giao Pháp trao cho Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn
Quốc Định ngày 25 tháng 4 vừa qua, và quyết định ấy được xác nhận ngày 1 tháng
5.
Chúng tôi đang ở vào ngày mùng 6 tháng 5 năm 1954. Hôm sau,
Điện Biên Phủ thất thủ, sự hy sinh của biết bao thanh niên như đã lấy máu mình
để kiềm ấn vào lời hứa hẹn của Pháp. Từ Paris, tôi gửi cho đồng bào của tôi và
cho các bạn Pháp một thông điệp do hãng AFP đánh đi ngày 8 tháng 5:
“Dân tộc Việt Nam và dân tộc Pháp, vào giờ phút này, chia
nhau niềm thử thách đau thương, sau kết quả bi thảm của chiến trường anh dũng
Điện Biên Phủ, trong đó các chiến sĩ Pháp và Việt Nam đã cho một tấm gương lịch
sử về can đảm, về lý tưởng và sự hy sinh cho chính nghĩa tự do.
“Đầu óc của tất cả chúng ta, Việt Nam cũng như Pháp là phải
tương đồng trong lúc này, để tỏ lòng tôn kính đối với sự hy sinh của các chiến
sĩ đó. Tim chúng ta se sắt, chúng ta nghĩ đến những nỗi đau khổ của những người
bị thương, những cái tang của các gia đình, và chúng ta chỉ còn biết cúi mình
kính cẩn trước nỗi đau do cuộc chiến này đưa lại.
“Nhưng chúng ta cũng không phải là không có ít nhiều kiêu
hãnh, về giá trị của quân lực Pháp và Việt Nam trước một kẻ thù đông đảo và cuồng
tín. Nước Pháp nhiều phen từng làm cho thế giới ngạc nhiên về lòng can đảm, khi
gặp trường hợp quật ngược, và bởi một tinh thần quốc gia mạnh mẽ, đã bùng lên
vào lúc bị thử thách nặng nề. Nước Việt Nam, trong lịch sử từ ngàn xưa, đã trải
qua nhiều thời kỳ đen tối. Tuy nhiên, nó không bao giờ nản chí để chiến đấu cho
nền tự do, độc lập của mình. Ngày hôm nay, sát cánh cùng nhau chung một mục
đích là nền tự do thế giới, chống lại chủ nghĩa Cộng sản, hai nước chúng ta chắc
chắn sẽ vượt qua cái thử thách này, đang đánh phá nặng nề, gây nên bao chết
chóc đau thương, nhưng cũng không thể nào làm suy yếu tình thần cũng như sinh lực
của chúng ta.
“Tôi muốn rằng, ngày hôm nay, nhân danh các đồng bào tôi, nói
riêng với các bạn Pháp của chúng tôi. Nay nước Pháp đã công nhận nền độc lập của
Việt Nam, không ai còn có thể nghi ngờ về tinh thần mã thượng của nước Pháp, đã
chiến đấu cho nước Việt Nam và cho thế giới tự do. Những vinh quang quân sự của
nó được tô thắm bằng những điểm son cho tinh thần cao thượng, thể hiện tại Điện
Biên Phủ theo dòng lịch sử, mà tên của De Castries bừng bừng lên như tên của La
Fayette với nhiều tên của các chiến sĩ chiến đấu cho lý tưởng, khác nữa.
“Người Pháp có thể tin được rằng, nước Việt Nam không bao giờ
quên những hy sinh của nước Pháp. Bổn phận tôi là Quốc trưởng nước Việt Nam, buộc
tôi phải đấu tranh cho quyền lợi và nền độc lập của đất nước tôi. Nhưng, từ nền
độc lập đó, họ cần phải biết rằng, họ không sợ bị bất cứ một hậu quả tai hại
nào, bởi nước Việt Nam lúc nào cũng muốn thắt chặt tình giao hảo với nước Pháp,
và người Pháp có nhiều mối liên hệ vững chắc và có lẽ rất chặt chẽ hơn khi họ
còn đặt dưới hệ thống chính quyền cũ vì sự hợp tác mới này đặt trên căn bản tự
do, không bị bắt buộc. Nó được cấu tạo trên một nền móng tâm lý và tình cảm,
làm cho vững mạnh hơn, và bên chặt hơn bất cứ một giao kết pháp lý nào.
“Vì vậy, hỡi các bạn Pháp của Việt Nam, binh sĩ cũng như thường
dân, khi gửi cho các bạn bản thông điệp tại Đông Nam Á, mà nền văn hóa Pháp được
sáng ngời, đồng thời sẽ là một quốc gia luôn dính liền với quý quốc, bằng sợi
dây thân hữu vĩnh viễn và sâu đậm”.
Tôi chú trọng, tất nhiên, nói về sự thất thủ ở Điện Biên Phủ
chẳng phải là một tai họa chiến lược gì. Trên địa hạt quân số, sự mất mát chỉ
vào khoảng 5% đối với quân đội của Liên hiệp Pháp. Trên lãnh vực tinh thần, sự
thất thủ một thị trấn xứ Thái quả là nặng nề, nhưng trong nhiều trường hợp
khác, cũng chỉ có tầm quan trọng không hơn gì khi bỏ Hòa Bình. Cuối cùng, cuộc
hội nghị tại Genève, trong sự giao dịch giữa Việt Nam và Pháp, trong bất cứ trường
hợp nào cũng chẳng phải là đoạn kết, mà ngược lại nữa, đây lại chính là khúc mới
để bắt đầu.
Về hai đại cường trên thế giới tự do Hoa Kỳ và Anh quốc, tôi
biết vị trí của họ khác nhau. Tất nhiên, sự từ chối của Tổng thống Eisenhower
không chịu can thiệp vào Điện Biên Phủ, nếu cần, sẽ dùng bom nguyên tử, - điều
mà không bao giờ tôi chấp nhận, nếu được hỏi ý kiến - cho thấy Hoa Kỳ không muốn
dính dấp vào nữa. Nhưng ông Foster Dulles, Ngoại trưởng đa số dư luận hỗ trợ, lại
không chịu chấp nhận vấn đề bỏ rơi Bắc Việt Nam, dễ dàng và giản dị như thế được,
bởi sự đó làm cho Hoa Kỳ mất mặt ở Á châu. Tôi không chắc mấy vào ông Bedell
Smith đang lãnh đạo phái đoàn Mỹ. Sau rốt, người Anh vẫn còn nhiều vướng mắc ở
Đông Nam Á vì sợ bọn Cộng sản đóng sát ở cửa ngõ Thái Lan và Mã Lai.
Còn về người Nga và Tàu, mà sự dị biệt như còn tồn tại sau vụ
đàm phán ở Triều Tiên, giữa Molotov và Chu Ân Lai, nên mong rằng họ sẽ có thái
độ bớt khắt khe, mà người ta phải e dè.
Tôi quyết định đến gần Genève để theo dõi cho biết những chuyện
mặc cả này nọ, và tôi ở trong một biệt thự thuê ở La Vergnaz.
Phái đoàn Việt Minh tới, do Phạm Văn Đồng cầm đầu. Thủ tướng
Bidault trình quan điểm của Pháp. Ông ta đề nghi nguyên tắc ngưng ngay mọi sự
thù nghịch, và chia ra trường hợp riêng rẽ của Lào và của Cam Bốt. Ông ta không
đá động gì về giải pháp chính trị.
Hai ngày sau, Phạm Văn Đồng trả lời ông ta đưa ra quan điểm của
họ. Quan điểm này vơ trọn cả Lào và Cam Bốt, và bao gồm sự hồi hương quân đội
viễn chinh Pháp, một dự định bầu cử tự do có dính líu chặt chẽ đến vấn đề quân
sự và chính trị.
Ngày 12 tháng 5, đến lượt đại biểu của chúng tôi, là Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Quốc Định trình bày đề nghị của Việt Nam. Sau khi tố cáo những
tội ác của Việt Minh và nói lên giá trị của những kết quả đạt được từ 1949 do
chính phủ quốc gia: thống nhất, độc lập, tạo một đạo quân quốc gia, được 35 nước
công nhận, đặt nền móng cho một nền hành chánh, ông ta đặt câu hỏi:
- Có cần thiết phải chấm dứt nền đô hộ thuộc địa, bằng cách
đem vào trong nước chủ nghĩa Cộng sản là một hình thức rất tinh vi của chủ
nghĩa đế quốc? Có cần phải, khi không là một thuộc địa của Pháp, lại trở thành
một chư hầu của nước Tàu?
Ông xác nhận sau đó sự chống đối của chúng tôi về việc chia cắt
đất nước “dù trực tiếp hay gián tiếp, dù nhất định hay tạm thời, dù thực tế hay
pháp lý”.
Nhân danh Hoa Kỳ, Tướng Bedell Smith chấp nhận ý kiến của
chúng tôi, và tuyên bố ủng hộ. Than ôi, nước Pháp và nước Anh lại im lặng. Tất
nhiên, Trung Hoa công nhận giải pháp của bọn Việt Minh.
Kể từ lúc ấy, hội nghị sa lầy trong những chuyện đầu cua tai
heo. Tôi ít gặp các đại biểu của Pháp trong thời gian ấy, còn người Mỹ thì luôn
luôn đến cho tôi biết về tiến trình của hội nghị trong thời gian bàn cãi này.
Tại Paris, một cuộc bàn cãi sôi nổi đã xảy ra ở Quốc hội từ
11 đến 14 tháng 5 mà chính phủ Laniel chỉ thắng với số phiếu vừa đủ. Tướng Ely
và Salan được cử đi SàiGòn, đem chỉ thị đến cho Tướng Navarre, để sửa soạn thu
xếp các quân trang quân dụng. Khi họ đi vào ngày 27 tháng 5, Uỷ ban Quân sự cao
cấp họp ở SàiGòn quyết định giao trọn trách nhiệm cho bộ Tổng Tư lệnh quân đội
Việt Nam.
Cũng ngày hôm ấy, tại Genève, Phạm Văn Đồng trong một lời
tuyên bố, đã cho biết là Việt Minh sẵn sàng chấp nhận trên nguyên tắc sự tham
gia và hợp nhất quân đội.
Hai hôm sau, một cuộc họp hạn chế, định rằng hai bộ Tư lệnh
Pháp và Việt Minh sẽ họp ở Genève để bàn về vấn đề các vùng tập kết ở Việt Nam,
rồi ở Lào, và ở Cam Bốt, hầu đi đến sự chấm dứt nhanh chóng và tức khắc những hận
thù, theo điều kiện hòa bình. Bắt đầu từ mùng 2 tháng 6, Hội đồng Quân sự ấy bắt
tay vào việc. Tạ Quang Bửu, thứ trưởng bộ Quốc phòng của Việt Minh và Tướng
Delteil, đại diện cho Tổng tư lệnh quân đội Pháp, có sự ủy nhiệm của tôi, điều
khiển hai phía đối nghịch;
Trong thời gian đó, một việc lạ lùng xảy ra ở Paris, do một
bài báo in trên tờ nhật báo Express, đòi loại bỏ ông Marc Jacquet, để thay vào
chức Quốc vụ khanh đặc trách các quốc gia liên kết, bằng ông Frédéric Dupont.
Ngày 3 tháng 6, Tướng Ely được bổ làm Tổng tư lệnh và Tổng ủy viên ở Đông
Dương, và Tướng Salan làm phó cho ông ta.
Hoàng thân Bửu Lộc được ông Paul Reynaud mời sang nay lại đi
SàiGòn, duyệt ký với ông Laniel ngày 4 tháng 6, các bản hiệp ước về độc lập và
hợp tác, vốn đợi từ lâu. Đây là lần thứ năm “nước Pháp công nhận nước Việt Nam
là một nước hoàn toàn độc lập”, nhưng là lần đầu “… và chủ quyền với tất cả những
thẩm quyền do luật quốc tế công nhận”.
Sự chấp nhận đó gồm hai bản dưới hình thức các hiệp ước. Bản
đầu tiên, cho chúng tôi, thêm một lần nữa, nền độc lập, vì nhắc lại nhiều quá
thành ra lố bịch. Bản thứ hai nói về các điều kiện hợp tác giữa Việt Nam và
Pháp. Tất nhiên chúng tôi đã nhận được, qua bản này là không được dính líu gì
đên những điều khoản riêng của Hiến pháp Pháp liên hệ đến quốc phòng và ngoại
giao, nhưng tôi thấy nên nhắc lại: cần phải ngưng lại đây một chút. Tôi xin giải
thích: hiệp ước về độc lập và hiệp ước về hợp tác chưa được ký, thì nước Việt
Nam không thể dự vào một cuộc đàm phán quốc tế nào. Từ chỗ đó, sự vắng mặt của
chúng tôi ở Genève sẽ bịt kín chúng tôi mặc cho sóng vỗ bèo trôi, hay bị chia cắt
tan tành.
Tôi rời Evian để trở về Cannes.
Kể từ ngày 1 tháng 6, Nghị viện bàn cãi sôi nổi về hiện tình ở
Đông Dương. Ông Mendès France chống lại chính phủ Laniel, dùng luận điệu của
ông Molotov nói ở Genève ngày 8 tháng 6, đổ cho ông Georges Bidault là muốn phá
hội nghị. Bị đặt trong thiểu số với 13 phiếu, chính phủ Laniel từ chức ngày 12
tháng 6. Tổng thống René Coty liền giao cho ông Pierre Mendès France lập chính
phủ mới.
Tôi cho gọi đến Paris Tướng Hinh, và đòi rút phái đoàn về, để
giao lại cho Tổng Tư lệnh quân đội. Nhưng tôi bị từ chối. Tôi nhắc lại với đại
biểu của Mỹ ở Genève là ông Bedell Smith. Lúc đầu, chúng tôi cử làm trưởng phái
đoàn, viên bộ trưởng Ngoại giao vì chúng tôi nghĩ là một hội nghị chính trị,
nhưng trong cuộc họp hạn chế, người ta lại bàn về vấn đề quân sự. Vì vậy, tôi
ra lệnh cho tất cả nhân viên phái đoàn rút lui.
Chúng tôi không còn tin gì vào người Pháp nữa. Tại Genève,
riêng còn người Mỹ là đồng minh của chúng tôi. Trước sự tiến triển về hoàn cảnh,
họ định lập lại một hệ thống phòng thủ mới ở Đông Nam Á. Họ có thể giúp đỡ
chúng tôi tiếp tục cuộc chiến chống lại Cộng sản.
Tại SàiGòn, Thủ tướng chính phủ gặp phải sự chống đối quyết
liệt của các nhà quốc gia trong phong trào Mặt trận Đoàn Kết Cứu Quốc do Ngô
Đình Nhu lãnh đạo. Mặt trận này không công nhận trước tất cả các quyết định có
thể do Genève đặt ra.
Tôi cho vời đến Cannes các lãnh tụ của tất cả các phong trào
chính trị và tôn giáo ở Việt Nam để hỏi ý kiến. Tôi cho họ biết cái gì đã xảy
ra, rằng tất cả đều đã được xếp đặt trước, đến chỗ sẽ chia đôi đất nước. Tôi vạch
ra cho họ sự cần thiết đặt một đường hướng mới, và gợi ý họ là cho thay thế
Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh
ý kiến của tôi.
Biết trước mình khó lòng theo đuổi được con đường đã vạch, Bửu
Lộc đệ đơn xin từ nhiệm cho cả chính phủ.
Sau khi thảo luận với ông Foster Dulles, để cho ông ta biết ý
định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta:
- Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi
đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể
bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.
- Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin
trình Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…
- Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi
đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn
vong của Việt Nam buộc ông như vậy.
Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông ta đáp:
- Thưa Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng
mà Ngài trao phó.
Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó
có cây thánh giá. Trước thánh giá, tôi bảo ông ta:
- Đây Chúa của ông đây. Ông hãy thề trước chân dung Chúa là
giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó, để chống lại bọn
Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên
thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
- Tôi xin thề!
Bốn mươi tám giờ sau, sau khi giới thiệu ông với Tướng Ely, từ
Washington trở về qua Paris, ông Diệm về Sài Gòn cùng với Hoàng thân Bửư Lộc để
bàn giao quyền hành. Trước khi ra đi, tôi trao cho Diệm một đạo dụ ủy cho ông
ta mọi quyền, hành chánh cũng như quân sự.
Trước đây đã dùng Diệm, tôi biết ông ta vốn khó tính. Tôi
cũng biết ông ta rất cuồng tín, và tin vào đấng Cứu Thế. Nhưng trong tình thế
này, không còn có thể chọn ai hơn. Thật vậy, từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết
ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ, ông là nhân vật đủ
khả năng đối phó được với tình thế, vì vậy Washington sẵn sàng hỗ trợ ông. Nhờ
thành tích cũ, và nhờ sự có mặt của em ông, đang đứng đầu Mặt trận Đoàn kết Cứu
quốc, ông được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ
chính phủ Tâm và chính phủ Bửu Lộc. Tóm lại, nhờ cương quyết và cuồng tín, ông
là người chống Cộng chắc chắn. Đúng vậy, đó là người của hoàn cảnh.
Hai mươi bốn giờ sau, sự đề cử ông làm Thủ tướng Việt Nam
trùng hợp với việc tấn phong chính phủ Pháp của ông Mendès France, do Quốc hội
bỏ phiếu ngáy 17 tháng 6, với số phiếu tối đa 419 cho số cử tri 466 người.
Trong khi hội nghị Genève đang họp, vị Thủ tướng tân cử này, liền tuyên bố một
cách lạ lùng:
- Tôi đã nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng và trịnh trọng.
Tôi đã thăm dò các nhà chuyên môn quân sự và ngoại giao, rất giá trị. Quan điểm
của tôi được xác nhận là một sự điều đình ôn hòa có thể thực hiện được.
Vậy thì việc ngưng bắn phải thực hiện tức khắc. Chính phủ do
tôi thành lập, định rằng, - và họ định cho các đôi thủ của chúng ta - một thời
hạn là bốn tuần lễ phải đạt. Chúng ta ngày hôm nay là ngày 17 tháng 6. Tôi sẽ đến
trước các Ngài vào ngày 20 tháng 7, và sẽ báo cáo cùng các Ngài về kết quả đạt
được. Nếu không có giải pháp gì thích ứng vào ngày giò đó, các Ngài có thể
không cần biết đến chúng tôi nữa, và chính phủ của tôi sẽ được trao trả lại cho
Tổng thống…
Như vậy, trong thời gian này - tôi muốn nói kể từ ngày mai -
tất cả các biện pháp quân sự phải được sẵn sàng, để đáp ứng với nhu cầu tức khắc,
và để các chính phủ kế tiếp chính phủ tôi, có thể tiếp tục chiến đấu, nếu do bất
hạnh, lại phải dùng đến.
Quan điểm của tôi như vậy là hòa bình…
Ông Mendès France đang ở nước bài đó. Chỉ cần cụ thể hóa điều
ông đang sửa soạn.
Mục đích của tôi vẫn theo đuổi từ năm năm nay, sự thống nhất
đất nước, nay như bị phá đám. Miệng tôi đã bị khóa chặt. Tôi đã thi hành sứ mạng
trong đó tôi đã chấp nhận thỏa mãn dân tộc của tôi. Tôi đã đạt được thống nhất,
rồi độc lập hoàn toàn. Tôi đã xây dựng được một quân đội để có thể bảo đảm cho
nền độc lập ấy. Chúng tôi đã bắt đầu từ con số không, nay tất cả công việc của
tôi trở thành nước lã ra sông. Giải pháp Pháp, do lỗi ở nước Pháp, đã thất bại.
Công việc không dễ dàng gì cho Ngô Đình Diệm. Việc ông đến
Sài Gòn, chẳng được ai hoan nghênh. Người ta cần phải động viên tinh thần mọi
người cả nước đã rơi vào tình trạng hoang mang. Ngày 30 tháng 6, ông ta ra Hà Nội,
mà những điều ông ta thấy không ai có thể tưởng tượng được. Chống lại Cộng sản,
chẳng ai nghĩ đến… Trái lại nữa, người Pháp bắt đầu di tản trước tiên. Hàng
trăm ngàn người đau khổ, trong đó có những người Công giáo thuộc các giáo phận
miền Bắc, mà ông tin tưởng sẽ đứng bên cạnh ông, thì chỉ nghĩ đến chạy vào Nam.
Thật quá chậm trễ để không thể hành động gì được nữa.
Diệm trở về Sài Gòn. Ngày 9 tháng 7, ông lập chính phủ không
phải dễ dàng gì 9. Cuối tháng 6, cuộc hành quân bi thảm ở đèo An Khê, cả
đoàn quân đã bị tan rã vì sa vào ổ phục kích rộng lớn của Cộng sản, Cuộc hành
quân tảo thanh trong vùng cao nguyên miền Trung cho thấy rằng quân đội Việt
Minh rất cần trấn đóng ở vùng này.
Ở Genève, hội nghị trên thực tế phải
gián đoạn, kể từ ngày 18 tháng 6. Các cuộc gặp gỡ lại tăng trưởng. Ông Mendès
France chửi các nhân viên của mình. Ngày 4 tháng 7, ông Dejean, cựu Tổng ủy
viên Pháp ở Đông Dương, đến báo cho tôi biết là những liên lạc giữa ông
Chauvel, nhân viên của phái đoàn Pháp, đang xúc tiến với Phạm Văn Đồng, viên đại
sứ này nói trước là câu chuyện giữa hai người nhằm vào vấn đề chia cắt. Thật sự,
người ta đang dự vào một cuộc mặc cả của những tên lái buôn vải vóc, để định cắt
đất nước theo chiều cao nào. Nhưng rồi tất cả đã được giải quyết vào phút cuối
cùng.
Kể từ ngày 14 tháng 7 là ngày rất
quan trọng, Thủ tướng Pháp đến Genève. Ông ta đã được người Mỹ chấp nhận để Tướng
Bedell Smith trở lại hội nghị. Được thông báo ngày 12 tháng 7 do ông Heath Đại
sứ Mỹ, về tình hình cuối cùng của hội nghị, tôi biết rằng Washington đã bằng
lòng nguyên tắc chia cắt. Những giá trị ủng hộ nước Việt Nam của họ chỉ còn là
giá trị tinh thần. Kể từ lúc ấy, dưới áp lực của những ai từng là đồng minh mạnh
mẽ nhất của chúng tôi, tôi chỉ còn biết hỏi họ xem sự hỗ trợ của họ đối với miền
Nam Việt Nam.
Ván bài được kết thúc dứt khoát, vào
phiên họp cuối cùng, ngày 20 tháng 7. Người ta phải vặn lại đồng hồ vào nửa đêm
của phòng hội nghị, để không thể quá thời hạn của ông Mendès France đã ấn định.
Ông này như vậy là đã thắng cuộc.
Thể thức đình chiến đã được ký kết bởi
đại diện của hai viên Tổng Tư lệnh. Tướng Dehteil ký cho Tướng Ely, và Tạ Quang
Bửu ký cho tướng Giáp, mà trên văn kiện đã trở thành Tổng Tư lệnh Quân Đội Nhân
Dân Việt Nam.
Ngày 21, hội nghị bế mạc bằng một
Thông Cáo Chung, chỉ do hai viên Tổng thư ký của hội nghị ký.
Người Mỹ công nhận bản Thông cáo
chung, nhưng bất hợp tác. Trần Văn Đỗ, bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Diệm,
lên tiếng phản đối:
- Chính phủ nước Việt Nam đòi phải được
trao bản cộng nhận lời phản đối long trọng của mình, về cách thức mà cuộc đình
chiến đã được thỏa thuận, và bằng những điều kiện của cuộc đình chiến đã không
đếm xỉa gì đến nguyện vọng tha thiết của dân chúng Việt Nam, và giành quyền tự
do hành động, để bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của dân tộc Việt Nam về độc lập
và tự do của mình.
Một tác phẩm đầy mâu thuẫn, thỏa ước
Genève đã chứa đựng những mầm mống mâu thuẫn xảy ra trong 25 năm sau.
Cuộc triệt thoái quân đội Pháp Việt từ
miền Bắc vào miền Nam chia ra từng chặng liên tiếp: Hà Nội 80 ngày, Hải Dương
100 ngày, Hải Phòng 300 ngày, kể từ lúc bắt đầu thi hành hiệp định.
Cuộc triệt thoái của Việt Minh từ miền
Nam ra miền Bắc cũng theo thứ tự với thời hạn là 300 ngày.
Vùng tập kết đặt dưới quyền kiểm sát
của quân đội Pháp Việt là phía Bắc sông Cửa Tùng, cách khoảng 20 cây số phía Bắc
đường số 9, tức ở vĩ tuyến 17.
Bắt đầu bàn cãi, Phạm Văn Đồng đã đòi
đường cắt định vào vĩ tuyến 13. Ông Mendès France đã rất tự hào là đã tranh đấu
được kết quả ấy. Sự nhượng bộ bề ngoài này chỉ có mục đích cũng cố vị trí cho
chính phủ Pháp, mà Việt Minh muốn lưu giữ tại chức. Thật sự, phe Cộng sản lấy
làm ngạc nhiên về thái độ khiêm tốn đối với những đòi hỏi của chúng tôi.
Họ sẵn sàng chấp nhận vĩ tuyến 18 hay
hơn nữa. Họ không ngờ là Pháp lại chịu đầu hàng dễ dàng như vậy. Nikita
Khrouchtchev đã công nhận về sau như thế trong cuốn Hồi Ký của ông ta.
Cuộc thả tù binh, cả hai bên, phải thực
hiện trong vòng 30 ngày, kể từ ngày ngưng bắn.
Lời tuyên bố cuối cùng nhấn mạnh rằng,
các nền tự do căn bản, phải được bảo đảm ở cả hai miền Nam Bắc, không được báo
thù, và một cuộc đình chiến rộng rãi sẽ được công bố. Quyền tự do chọn nơi ở đã
được công bố, và tổ chức để tất cả mọi người Việt Nam có thể dễ dàng đến vùng
mà họ thích.
Tất cả những chia cắt ấy chỉ có tính
cách tạm thời, sự thống nhất đất nước phải được thực hiện nhanh chóng, trong
khuôn khổ một cuộc tổng bầu cử, được tổ chức trong thời hạn hai năm, tức vào
tháng 7 năm 1956, dưới quyền kiểm soát quốc tế, gồm một Uỷ ban của đại diện các
nước Ấn Độ, Canada và Ba Lan.
Trong cuộc bàn cãi ngày 23 tháng 7
trước Quốc hội, điều khoản liên hệ đến vấn đề chính trị, đã gây ra nhiều phản ứng
sôi nổi. Nhất là của ông Fréderic Dupont, khi tuyên bố:
- Sự thật là, tôi muốn bị lầm, tôi phải
nói cho quốc dân đồng bào biết, cuộc đình chiến này nhằm bỏ rơi, dưới ba giai
đoạn, tất cả nước Việt Nam cho Cộng sản.
Ông Frédéric Dupont chỉ lầm về thời
gian của các giai đoạn mà thôi.
Hiệp nghị ở Genève đã được Quốc hội
chuẩn y với 561 phiếu chống lại 5. Như thế, đây là các đại diện Pháp đã giữ lời
hứa long trọng như thế nào như ông Georges Bidault đã nói với tôi 75 ngày trước.
Sau ngày ký hiệp nghị thỏa thuận - nếu
ta có thể nói đến cả những bản mà những nước liên hệ không thỏa thuận, và cũng
chưa bao giờ được ký - Diệm đọc ở Sài Gòn, có treo cờ rũ, một bài diễn văn,
trong đó ông lên tiếng chống lại sự bất công, đã giao cho Cộng sản tất cả miền
Bắc đất nước, thêm bốn tỉnh ở miền Trung… Ông nhắc lại, “chúng tôi không thể đặt
vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào, trung thành với chủ ngỊiĩa Quốc gia...”
Sau hội nghị Genève, tất cả mọi người
đều xa lảng tôi. Người Anh, người Mỹ, người Pháp đều không biết đến tôi nữa.
Không ai còn đến gặp tôi.
Riêng có phái đoàn Việt Minh cử một
người có tên là Văn Chí, đến xin gặp nói là đại diện của Phạm Văn Đồng. Ông ta
là đại diện kín đáo của Việt Minh ở Paris, khi người trước bị bắt.
- Thưa Hoàng thượng, ông ta hỏi tôi,
Ngài nghĩ sao về hội nghị Genève?
- Đó là việc giữa các anh và nước
Pháp.
- Thưa Hoàng thượng, người ta đã cắt
nước Việt Nam thành hai. Vua Gia Long, Đức tiên đế đã từng thống nhất đất nước,
và sau này, Ngài đã phục hồi lại được. Tôi nghĩ rằng Ngài khó có thể chấp nhận
sự việc đã xảy ra tại Genève.
- Anh định đề nghị cái gì? Tôi hỏi lại
ông ta.
- Thượng cấp của tôi đã bảo tôi đến
nói với Ngài là họ sẵn sàng quên hiệp ước Genève và các cuộc bầu cử, để định
cùng Ngài bắt tay đi đến thống nhất đất nước.
- Nhưng anh định thống nhất như thế
nào?
- Thưa Hoàng thượng, thật giản dị.
Xin Hoàng thượng trở lại Sài Gòn, và gọi đến chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng làm
việc với Ngài, theo lệnh của Ngài.
- Như vậy, chính tôi sẽ đưa chế độ Cộng
sản vào Sài Gòn?
- Thưa Hoàng thượng. Không phải chỉ
có người Cộng sản ở đây, đối với chúng tôi, Ngài là bậc quốc phụ của khắp thần
dân Việt Nam. Hẳn Ngài không thể quên đã có hàng ngàn người chết, đã hy sinh
cho tổ quốc.
- Thế thì tại sao mãi đến giờ phút
này, các anh mới tìm tôi? Các anh có thể làm như thế trước đây cách ba năm. Như
thế các anh đã tránh được bao sự chém giết vô ích. Trong các bản tuyên bố của
tôi, không bao giờ tôi đả kích cá nhân ông Hồ Chí Minh… và đến bây giờ, khi tất
cả đã được dàn xếp, các anh mới tìm tôi? Và các anh vẫn còn tiếp tục. Các anh
ngày nay lại lao đầu vào cuộc chiến mới, làm xáo trộn tất cả đất nước, nhất là
về địa hạt kinh tế, mà tôi đã dày công xây dựng từ 1949. Tất cả sự ấy, tại sao?
Trong hy vọng lừa bịp để đặt nền móng cho một chủ thuyết không mấy thích hợp với
tâm hồn người Việt chúng ta.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài rất có lý.
Nhưng xin Hoàng thượng đừng quên, Ngài đứng trên tất cả, Ngài là cha của toàn
dân chúng tôi và Ngài có nhiều con đã phải hy sinh, và đã chết cho đất nước.
Chính là sau cuộc gặp gỡ này, tôi
trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.
Nhưng mà thời của mâu thuẫn chưa chấm
dứt. Vì lời tuyên bố của Tướng Ely ngày 3 tháng 8 ở Sài Gòn: “Vị trí của nước
Pháp, tại Đông Dương, vẫn không thay đổi...” Câu nói này làm cho ta có cảm tưởng
ông Mendès France đã cho các chỉ thị viên Tổng Tư lệnh Pháp, để ông này thu hồi
lại đất Nam kỳ. Trò chơi này đã bị người Mỹ hất cẳng, bởi họ đã đặt chân vào miền
Nam Việt Nam, và biết khai thác sự có mặt của Diệm trên võ đài miền Nam.
Ngô Đình Diệm cầm quyền
Tổng thống Mỹ Eisenhower cũng ra một
lời tuyên bố, sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Lời tuyên bố này tiên đoán
những hậu quả đáng ngờ. Ông nói:
- Hoa Kỳ không dính dấp gì về những
quyết định của Hội nghị và cũng không bị ràng buộc gì bởi những quyết định đó.
Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng nó sẽ đưa đến việc xây dựng một nền hòa bình
thích ứng với những nhu cầu của các nước liên hệ. Nhưng thỏa hiệp vẫn mang nhiều
dự kiện mà chúng tôi không mấy hoan nghênh. Nhiều khoản sẽ tùy thuộc vào những
yếu tố này khi được áp dụng.
Trong khi chờ đợi, người Mỹ bắt đầu đặt
cơ sở. Tại Sài Gòn, người ta đã thấy một đoàn cố vấn mang danh hiệu là MAAG
(Military Aid Advisory Group) tức Cơ quan Viện Trợ Quân sự Mỹ, do Tướng
O’Daniel lãnh đạo, nhưng thực tế là ở tay chủ chốt Đại tá Landsdale, nhân viên
CIA, vốn là tay tổ chống Cộng sản, khi đặt ra đủ các vại trò, như tân Tổng thống
Phi Luật Tân Ramon Masaysay… sau khi đã là cố vấn rất được Hồ Chí Minh tin nghe
năm 1945.
Thực tế, ông Diệm rất cần đến nhân vật
này, vì vị trí của ông rất bấp bênh. Khi mới lên cầm quyền, đó là một người
hoàn toàn đơn độc, chỉ có một người phụ tá đắc lực là em của ông ta, qua phong
trào Mặt trận Cứu Quốc Quốc gia. Tự giam mình trong một phòng nhỏ của Dinh Gia
Long, ông sửa soạn chương trình của mình. Nhãn quan của ông về Việt Nam là cách
mạng, tức phải cải tổ lại guồng máy xã hội. Một nước mạnh, có uy tín cần phải
có một đạo quân mạnh và kỷ luật. Việc đầu tiên của ông, là chống lại tất cả cái
gì là phân tán, là chia rẽ. Những giáo phái với đạo quân của họ là điều không
thể tha thứ được. Quân đội phải đặt dưới quyền của ông ta. Hinh vốn có tiếng ở
đây, là quá thừa.
Ngày 10 tháng 9, ông Diệm ra một nghị
định cử viên Tổng Tham mưu trưởng sang Pháp để học thêm, và ra lệnh cho Hinh phải
cấp tốc đi ngay. Hinh từ chối. Những giáo phái đều biết số phận của mình, nên
chống lại ông Diệm.
Để đem lại tin tưởng cho quân đội,
ông Diệm bổ Xuân làm Quốc vụ khanh, phụ trách Quốc phòng. Tám ngày sau, ông này
từ chức, và chín vị bộ trưởng khác cũng từ chức tập thể.
Bảy Viễn lânh tụ Bình Xuyên đến
Cannes để gặp tôi, và xin tôi nhân danh ba giáo phái để chấm dứt sự lộng quyền
của ông Diệm. Cũng trong thời gian ấy, tướng Hinh gửi cho tôi một thông điệp,
và cho biết sự hợp tác giữa quân đội và chính phủ không thể đi đôi với nhau được.
Ông Diệm dùng hình thức biểu tình với
mấy ngàn người di cư Công giáo. Lực lượng cảnh sát Bình Xuyên, lấy cớ là không
được thông báo trước, đã giải tán họ rất tàn bạo và có người chết. Quân đội liền
can thiệp, để tránh xáo trộn do Cộng sản có thể lợi dụng. Ngày 26 tháng 10,
Hinh cho bao vây dinh Gia Long và chiếm đài phát thanh.
Tướng Ely can thiệp đến gần Hinh và bảo
“Đừng làm gì. Nếu có sự nổi dậy gì, người Mỹ sẽ cắt mọi viện trợ tài chánh, và
mọi đồ tiếp dụng cho quân đội”. về phần họ, người Mỹ làm áp lực cạnh các giáo
phái.
Tướng Hinh hỏi tôi nên làm thế nào. Bằng
điện tín, tôi nói rõ cho ông ta biết, tôi chống lại tất cả mọi bạo động, chỉ
đưa đến sự sứt mẻ của quân đội, và nhiều tai họa khác cho dân tộc.
Hinh đành khuất phục, và rời Sài Gòn
đi Paris.
Quân đội đã tòng phục, ông Diệm tự dựng
cho mình một đạo quân cận vệ, gồm toàn những người tình nguyện, để phụ trách an
ninh cho bản thân, và giữ dinh thự, rồi bắt đầu cải tổ chính phủ 9.
Hai tháng sau các thỏa hiệp Genève, tại Manille được ký kết
hiệp ước SEATO. Đây là hiệp ước về an ninh quân sự, bao gồm chính các nước Hoa
Kỳ, Anh, Pháp, Thái Lan, Phi Luật Tân và Pakistan. Nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt
không ở trong hiệp ước ấy, nhưng được thụ động che chở.
Về cuối kỳ đệ tứ tam cá nguyệt, không tháng nào mà giới hữu
trách Pháp và Mỹ không gặp nhau.
Ngày 24 tháng 10, Tổng thống Eisenhower gởi một bức thư cho
Ngô Đình Diệm, để hứa hẹn với ông ta sự bảo đảm vô điều kiện của Mỹ.
Sau rốt, ngày 13 tháng chạp, hai Tướng Ely và Collins đã ký với
nhau những thỏa hiệp ấn định quyền hạn và trách nhiệm giữa nhà binh Pháp và Mỹ
trong việc thành lập quân đội quốc gia Việt Nam.
Mỗi ngày, miền Nam Việt Nam đi sâu vào giải pháp Mỹ. Thật vô
ích khi nói rằng tôi tự đặt ra ngoài tất cả những chuyện thay Tề đổi Sở này. Giải
pháp Pháp đã chấm dứt, và Washington trở thành người bảo trợ chính thức cho chế
độ của ông Diệm.
Tại chỗ, quân đội viễn chinh Pháp tiếp tục cuốn gói, Ngày 9
tháng 10, quân đội Liên hiệp Pháp bắt đầu triệt thoát ra khỏi thủ đô miền Bắc
Hà Nội.
Vào tháng 11, tôi tiếp ở Paris Tướng Salan, vừa tự ý dời Đông
Dương do một mâu thuẫn với Tướng Ely. Viên cựu Tổng Tư lệnh nói với tôi, về sự
bãi bỏ Tướng Hinh, mà ông thấy là đáng tiếc, và về hành động của Thủ tướng Diệm
đối với các giáo phái mà ông cho rằng rất độc hại, bởi vì họ còn có thể dùng được
ở miền Nam Việt Nam. Thật sự, tôi rút tướng Hinh ra khỏi vị trí quyền hành của
ông ta, là để che chở cho ông ta, vì người của ông Diệm muốn sát hại ông ta.
Ngày 30 tháng chạp, tại Paris, các hiệp ước nhất định giữa nước
Pháp, Lào, Cam Bốt và Việt Nam được ký kết. Nhưng nước Pháp đang có nhiều vấn đề
khác: kể từ ngày 1 tháng 11, người Algeri bắt đầu nổi dậy.
Trong các thung lũng của vùng Hoàng triều cương thổ miền Bắc,
nhiều nhóm người dân tộc, vẫn tiếp tục chiến đâu, với sự thất vọng điên cuồng.
Tại Cannes, ngày 24 tháng giêng năm 1955, nhân dịp tết năm Ất
Mùi, tôi gửi một thông điệp cho đồng bào của tôi. Bức thông điệp này gồm năm đoạn.
Việc chia xẻ đất nước Việt Nam không nên coi là một cớ để thất vọng; chúng ta
phải biết đoàn kết với nhau trong thử thách mới này, nước Việt Nam đã được thế
giới tự do giúp đỡ thì nền ngoại giao quốc tế sẽ do mình tự chọn. Chúng ta phải
đi vào nền cách mạng kỹ nghệ hóa của Âu châu.
Đầu tiên, tôi nhắc lại, kết quả chua cay của hội nghị Genève:
“Việc chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi, ám ảnh đầu óc đồng
bào. Đồng bào nghĩ đến sự ngoan cường và kiêu hãnh của những người ở miền Bắc
đã từ chối tất cả hình thức sống và nghĩ vốn không phải là của họ. Đồng bào lo
ngại rằng ngày mai đây họ sẽ đưa tới đến miền Nam này, ý đồ ghê gớm của họ. Sự
chán nản làm đồng bào thất vọng, trước nỗi chia cắt đau thương của đất nước. Những
kẻ hoài nghi, kẻ vô tích sự, bọn giả đạo đức, đứng vào phe những tên gián điệp
để vu cáo rằng miền Nam không đủ lực để chống lại cái thác lủ của miền Bắc kéo
vào… Tại sao lại chịu để mất lòng tin tưởng vào tương lai của chúng ta?”
Tôi kể lại mấy điều tỉ dụ trong sự kháng chiến của dân tộc
trong lịch sử, rồi tôi mời đồng bào vào nghĩa vụ và đoàn kết. Tôi nhắc cho họ
biết những đảm bảo của các đại cường trong khối tự do, trên bình diện quốc tế,
và sự cần thiết phải dựa vào Tây phương. Rồi tôi kết luận:
“Nhưng trước khi từ giã đồng bào, tôi chắc rằng, tôi đã làm
tròn sứ mạng của người thông ngôn, truyền đạt sự chúc mừng nồng nhiệt của tôi
cho các đồng bào ở miền Bắc, kém may mắn hơn đồng bào, đã không thể thoát được
một chế độ mà họ không ưa thích. Mong rằng họ sẽ hiểu biết là hàng ngày tư tưởng
của chúng ta vẫn hướng lòng về họ, để giúp họ chịu đựng được sức đè nặng đang
quàng lên đầu lên cổ họ. Mong rằng sự cầu nguyện của chúng ta sẽ đem đến cho họ
nguồn an ủi mà họ đang cần, để chờ ngày mà chúng ta lại cùng nhau sum họp lại”.
Đầu tháng 2 năm 1955, ông Mendès France bị thiểu số, phải đưa
đơn từ chức. Ông ta được thay thế bằng ông Edgar Fauré, đã đề cử ông Henri
Laforet làm bộ trưởng các Quốc gia Liên kết.
Tại Sài Gòn, do lời yêu cầu của ông Diệm, người Mỹ nhận trách
nhiệm huấn luyện quân đội Việt Nam kể từ ngày 12 tháng 2.
Theo sáng kiến của Giáo chủ Cao Đài là Phạm Công Tắc, Mặt trận
Quốc gia Thống nhất bao gồm các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và đảng
Dân chủ Xã hội Việt Nam được thành lập.
Tôi cảm thấy một sự thử lửa giữa ông Diệm với các khối võ
trang của các giáo phái khó lòng tránh khỏi. Trong đầu tháng 3, một phái đoàn của
Mặt trận Thống nhất đã sang Pháp để liên lạc. Nhưng không cần phải đợi sự trở về
của đoàn đại biểu này, các lãnh tụ của Mặt trận đã gửi cho Diệm một tôi hậu
thư, buộc Diệm trong vòng năm ngày phải lập lại chính phủ bao gồm trong hàng
ngũ những đại diện của lực lượng dân chủ đối lập.
Ông Diệm tìm cách trì hoãn để lợi thời gian, để thảo luận với
đại diện của Mặt trận nhưng không chịu nhượng bộ về điểm chính. Những giáo phái
không chịu bị mất mặt, tập họp lại xung quanh Sài Gòn. Một biến cố thứ nhất đã
xảy ra ngày 30 tháng 3, mà quân Bình Xuyên phải chịu thiệt hại. Ông Diệm lợi dụng
sự xáo trộn đang xảy ra để chia rẽ phe Cao Đài.
Vì vậy, một người trong giới chỉ huy quân sự của họ, Trình
Minh Thế, từ giã Mặt trận để liên kết với chính phủ.
Trong suốt thời gian đó, ông Diệm không ngớt gởi cho tôi các
điện tín. Mỗi ngày tôi nhận được nhiều điện tín đại ý: “Tên này nói xấu Hoàng
thượng. Tôi đã cho nó vào tù. Tên này đã làm thế này...”
Về phần tôi, tôi gửi cho ông ta ngày 4 và 12 tháng 4 mấy
thông điệp khuyên ông tạ nên cẩn thận, và cho ông ta những lời khuyên giải khôn
ngoan.
Mặc dù, đã thắng phe Cao Đài, tình thế bắt đầu suy nhược xung
quanh ông Diệm, chỉ còn có mấy người trong gia đình. Ngày 28 tháng 4, mười bốn
bộ trưởng cùng nhau từ chức nhất loạt. Ông ta vẫn cương quyết, ra lệnh cấm tụ họp
trong ngày lễ Lao động 1 tháng 5, và tung ra một cuộc hành quân đánh thẳng vào
đại bản doanh của Bình Xuyên.
Tôi gửi cho ông ta bức điện sau đây:
“Có nhiều xáo trộn mới và nặng nề đang đưa đến một tình trạng
khó thở, không có lợi cho sự đoàn kết quốc gia, mà ta đang cần đến. Điều chủ
đích chính buộc tôi nhận thấy rằng, đối với những cuộc từ chức mới và quan trọng
chứng tỏ vị trí không ổn định của chính phủ… Hẳn ông đồng ý với tôi rằng không
phải bằng những biện pháp có tầm hoạt động hạn chế, có thể giải quyết được sự
việc gấp rút cấp thời. Nó sẽ là nguồn móng của những xáo trộn có hạn định dài
hay ngắn, mà sự khủng hoảng hiện nay, rất đáng tiếc đã xảy ra, nhưng có thể giải
quyết được… Đồng ý với những giả thuyết ấy, tôi đã quyết định dùng hình thức
tham khảo các nhà trí thức, chính trị, tôn giáo. Cùng lúc đó, tôi lại triệu tập
các đại biểu của giới nhà nông, rất có uy tín, giới thợ thuyền, mà điều kiện sống
vẫn được tôi chú trọng đặt lên hàng đầu, và những người có nhiệm vụ bảo vệ xứ sở
bằng súng đạn… Nơi tham khảo ấy nên để tại Pháp, để giúp cho sự trao đổi ý kiến
được xảy ra xa vị trí của những tham vọng sôi nổi. Theo vị trí của ông là Thủ tướng
chính phủ, và vẫn quí trọng những đức tính cao quí của ông, tôi mời ông tham dự
cạnh tôi cuộc hội thảo dự trù này… Cuộc khủng hoảng hiện tại, cần phải giải tỏa
không trì hoãn, theo lời tôi hửa hẹn với quốc dân, tôi triệu tập ngày 5 tháng 5
năm 1955 tại Cannes, những nhân vật mà tôi cho rằng có thể là đại diện có lực
lượng của dân tộc Việt Nam… Tôi yêu cầu ông sẽ đến bên tôi bằng mọi cách thật sớm
trước ngày mùng 3 tháng 5, đề góp chung ý kiến với tôi. Chiếc phi cơ của hoàng
gia sẽ đặc biệt dưới quyền sử dụng của ông vào việc ấy...”
Chính phủ Pháp như lại bắt đầu chú ý đến mọi hoạt động của
tôi, và ông Edgar Fauré ngày hôm sau, trong một cuộc họp báo, đã tuyên bố rằng
“ông theo dõi với tất cả nhiệt tình và với cảm tình đặc biệt, đối với lời kêu gọi
hội họp của Quốc trưởng Việt Nam”.
Vừa lúc tôi nhận được một bức điện của Tướng Vỹ xin tôi cho
phép ông ta hoàn tất điều mà Tướng Hinh, đã không thể đạt vào tháng 10 trước
đây.
Nói rõ hơn, ông ta xin phép tôi lật đổ ông Diệm.
Hiểu biết sự khôn ngoan của Vỹ, tôi đoán rằng, trước khi gửi
bức điện cho tôi, ông ta đã được sự chấp thuận, hay ít ra được sự hứa hẹn của
các nhân vật có trách nhiệm Pháp và Mỹ. Nhất là tôi càng tin chắc, vào ngày hôm
trước, có gặp ông Gibson, đệ nhất bí thư của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Paris, ông này
đã khuyến khích tôi hành động gấp, và chính Thủ tướng Edgar Fauré, trong buổi họp
báo đã kín hở nói ra là ông ta không chống lại bất cứ một sự thâu đoạt lại quyền
hành nào.
Tin vào sự đó, quả là nhầm lẫn lớn nếu không kể đến các sự
can thiệp của cơ quan Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Sáng ngày 29, họ đã thúc đẩy Diệm thanh
toán cho xong với đám Bình Xuyên. Các cố vấn chính trị và quân sự của cơ quan
MAAG, chính tự tay mình đảm nhiệm công tác này, và đến chiều thì những tàn quân
của Bảy Viễn bắt buộc phải rút vào vùng sình lầy Rừng Sát. Cuộc chiến thật khốc
liệt, đã có đến hơn 500 người chết, nhưng Diệm đã thắng theo như ý muốn.
Lấy cớ đó, ông ta trả lời bức điện của tôi ngày 28 bằng cách
không đến được, lý do Hội đồng bộ trưởng đã ngăn cản ông ta đến Cannes, vì
không một ai trong hoàn cảnh này, có thể thay thế ông ta được.
Đến ngày 30 tháng 4, tôi lại gửi một bức công điện khác, có
tính chất quyết liệt hơn:
“Những lý lẽ của ông viện dẫn trong bức điện tín, chứng tỏ rằng
chính phủ của ông thật sự ra đã thật mỏng manh, đã mất đường hướng, vốn chú trọng
đến việc thực hiện đoàn kết quốc gia, chứ không phải gom góp hận thù.
“Những cộng sự viên cuối cùng của ông, cũng như chính ông, đã
chỉ cho tôi thấy hình như ông chỉ thich hợp với sự đào sâu hố chia rẽ giữa các
đồng bào, và theo đuổi một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Ngược lại, ông
cố gắng né tránh kỹ càng sự báo cáo trung thực với tôi về mọi tổn thất về nhân
mạng. Tuy nhiên, đã có hàng ngàn người chết và bị thương, không kể hàng ngàn
người khác bị vong gia thất thổ, mà họ đều là đồng bào ruột thịt của chúng ta.
Và danh sách này còn tiếp tục dài lê thê, với chính sách sắt máu mà ông đang
theo đuổi.
“Tôi cũng được biết rằng, ông không hề phổ biến những thông
điệp của tôi, vốn là những lời kêu gọi đoàn kết, và hòa giải quốc gia. Cũng
như, hình như ông không thông báo các chỉ thị của tôi cho các Tướng Nguyễn Văn
Vỹ và Lê Văn Tỵ. Làm cho tôi có cảm tưởng rằng, những lệnh ấy rất phù hợp với
quân đội, vốn không bao giờ dùng để phục vụ cho ý đồ của một nhóm người muốn tạo
phản.
“Những lý do mà ông nêu lên trong bức điện tín như vậy, không
đủ hiệu năng, ông chỉ cần thi hành các lệnh của tôi. Tôi nhắc lại lần nữa, và lần
cuối cùng, lệnh mà tôi gửi cho ông, là phải sang Cannes ngay tức khắc”.
Chiều hôm ấy, Tướng Vỹ tin tưởng vào đặc quyền của tôi, một
mình vào dinh Thủ tướng để đặt các điều kiện, thì bị ông Diệm ra lệnh bắt nhốt
tức khắc. Ông này chỉ được trả lại tự do nhờ Đại tá Đỗ Cao Trí can thiệp, vốn
là bạn của ông, vừa thắng quân Bình Xuyên trở về hợp tác với chính phủ. Ngay
sau khi được thả, Vỹ lên ẩn trên Đà Lạt.
Như vậy, ông Diệm đã loại trừ được hai người trong các phần tử
chống lại ông ta. Lập tức, ông thừa thế làm tới, và tất nhiên có các cố vấn Mỹ
sau lưng. Ngày 1 tháng 5, ông ta tổ chức một cuộc hội họp gọi là Hội Nghị
Các Lực Lượng Nhân Dân, mà người ta đã vội vã mời đến hầu hết các giới quốc gia
cực đoan ở Sài Gòn. Hội nghị này quyết định, sẽ vận động mời đến Sài Gòn ngày 5
tháng 5, tất cả “các lực lượng chung” của toàn thể Việt Nam gồm khoảng 1.000 đại
biểu cho miền Nam và miền Trung.
Trong bức điện đầu tiên của tôi đề ngày 1 tháng 5, tôi lưu ý
Thủ tướng là sự can thiệp của tôi nhằm vào hai mục đích: tránh nội loạn, hay ít
ra là ngăn cản sự bành trướng của nó, vì do hàng loạt đơn từ nhiệm, đứa chính
phủ đến chỗ chỉ còn lại ba hoặc bốn người, để tìm một giải pháp hết sức rộng
rãi, bao gồm tất cả mọi khuynh hướng quần chúng. Chính vì thế mà tôi thấy cần
thiết phải tham khảo với ông ta, nên tôi đã nhất định ra lệnh cho ông ta phải đến
Cannes ngay tức khắc.
Bức điện tín thứ hai được gửi đi ngày 3 tháng 5, trong khi Thủ
tướng chính phủ báo cáo với tôi về sự triệu tập của “những lực lượng quần
chúng”. Đây là bản tường trình:
“Tiếp theo bức điện tín của Hoàng thượng hôm nay, tôi xin
thành cẩn báo cáo với Ngài rằng, tôi phủ nhận cái Hội nghị đó, mà sự bất hợp
pháp không cần phải chứng minh nữa. Trong hoàn cảnh hiện tại, và giữa lúc nội
chiến đang bùng nổ, một hội nghị được tổ chức ở Sài Gòn, cầm đầu bởi một số
cách mạng, quá khích, không thể nào chứng tỏ được là do ý muốn của nhân dân, và
loại hội nghị ấy cũng không quyết định được gi cho số phận đất nước, và những
nghị quyết của nó có thể có những hậu quả tai hại cho an ninh xứ sở. Tôi nghĩ rằng
vì quyền uy của Hoàng thượng, cũng như vì địa vị của Ngài, không thề để cho họ
lợi dụng được, vì nó dìm đắm dân tộc chúng ta vào sự khổ ải mới, và biến Việt
Nam thành hỏa ngục ở Đông Nam Á, sẽ đưa quốc gia vào sự bại vong”.
Rất được người Mỹ nâng đỡ, ông Diệm giữ vững vị trí. Ông ta gặp
phải hai điều bất mãn. Tướng Trịnh Minh Thế, thuộc phe Cao Đài ly khai, vừa trở
về theo chính phủ, vốn là tay phò trợ trung thành của ông ta, ngày 4 tháng 5, bị
tử trận trong một cuộc đụng độ với quân đội Bình Xuyên. Thứ nữa, ngày mùng 5
tháng 5, trong hội nghị của “các lực lượng quần chúng” nếu những đại
biểu các tỉnh miền Trung nhắm mắt nghe theo ông ta, thì các đại biểu các tỉnh
miền Nam, lại bỏ phiếu bất tín nhiệm ông ta, và từ chối tham dự vào các hoạt động
của hội nghị.
Dữ kiện thứ hai này là sự thất bại lớn cho ông Diệm, nhưng
ông ta biết cách đối phó.
Không trả lời các bức điện của tôi, và cũng không đếm xỉa gì
đến cái gọi là dự trù hội nghị, do chính ông ta dựng nên, ông Diệm lập một chính
phủ, lấy cớ là kêu gọi đến chuyên viên, một chính phủ chỉ bao gồm những tay
chân, thủ hạ của ông ta. Rồi ông ta lần lượt thủ tiêu cái gì còn lại ở các giáo
phái.
Chẳng bao lâu, quân đội chỉ còn là vài mảnh tả tơi, các cấp
chỉ huy quân sự thuộc các giáo phái tập trung lại xung quanh Tướng Hinh, người
của tôi cử về, đóng ở biên giới Cam Bốt. Ở đây có Trần Vàn Soái, Ba Cụt, là thuộc
phe Hòa Hảo, Bảy Viễn và Đại tá Leroy của Lực Lượng Dân Chủ Cách Mạng (UDMC).
Họ đợi trong tuyệt vọng chiến tầu chở khí giới, mà cơ quan tình báo Pháp hứa hẹn,
do Bảy Viễn đã bao thuê trước. Tuyệt vọng, điên cuồng, họ đành chia tay. Hinh
sang Pháp ngày 19 tháng 6 năm 1955. Leroy rồi Bảy Viễn tiếp tục theo gót ông
ta. Trần Văn Soái, ít lâu sau phải trở về theo Diệm. Riêng có Ba Cụt là tiếp tục
chiến đấu, và bị bắt vào tháng 4 năm 1956, và bị chém.
Cố gắng giữ mình, Diệm không dám sang Pháp, phải cử một phái
đoàn sang Paris để điều đình sự rút quân của Pháp, và điều đình với những điều
khoản mới, sự hợp tác giữa Pháp và Việt Nam. Nhưng cuộc đàm thoại đã diễn ra
trong một không khí bực bội. Phái đoàn được Thủ tướng gọi về vào trung tuần
tháng 10, không đạt được kết quả gì. Tình giao hảo Pháp Vịệt mỗi ngày một thêm
trầm trọng.
Tướng Ely xin được gọi về, đã rời Sài Gòn ngày 2 tháng 6. Ông
ta được Tướng Jacquet thay thế, làm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp, và ông Hoppenot
làm Thượng sứ. Ông này sau mang danh vị là Đại sứ. Đó là sự thanh toán của nước
Pháp ở Viễn Đông.
Ngày 19 tháng 7 năm 1956, theo như dự trù của hiệp định
Genève, Hà Nội yêu cầu Sài Gòn cử đại diện của miền Nam tham dự Uỷ ban dự thảo
về tổng tuyển cử định vào tháng 7 năm 1956. Hà Nội cũng yêu cầu chỉ định một
nơi làm chỗ gặp gỡ của Ủy ban này.
Thay vì trả lời, ông Diệm cho tổ chức ở Sài Gòn những cuộc diễn
hành cấp tốc và những cuộc xuống đường chống lại tổng tuyển cử. Vào ngày 5
tháng 8, trong một lời tuyên bố trên đài phát tranh, ông ta loan báo rằng, nước
Việt Nam tự coi mình không có ràng buộc gì với hiệp ước Genève, mà ông ta không
phải là người ký kết.
Bất cứ cách nào, ông ta giải thích, những điều kiện về tự do
của cuộc sống, và tự do về bầu cử, đã không thỏa mãn được ai ở miền Bắc thì sự
đó cũng đủ là lý do để từ chối với mọi sự điều đình với miền Bắc.
Ông ta vừa được sự ủng hộ to lớn của Washington, khi ông
Foster Dulles cũng tuyên bố về phần Hoa Kỳ:
“Hoa Kỳ rất đồng ý với chính phủ Diệm, để nhận định rằng các
điều kiện hiện hữu ở miền Bắc Việt Nam chưa thích ứng được trong hiện tại để bầu
cử tự do trên toàn quốc Việt Nam đồng nhất”.
Đó tức là sự từ chối hoãn vô hạn định, bất thành văn, về tổng
tuyển cử.
Gạt bỏ được sự chống đối của các giáo phái, hất bỏ cái di sản
ám ảnh về tổng tuyển cử sắp đến ngày cận kề, với quân đội trong tay, vào cuối
hè năm 1955, Diệm đã là kẻ đắc thắng, và chỉ còn có một trở ngại cần loại trừ để
thỏa mãn tham vọng của mình: làm Quốc trưởng…
Trong giới thân cận tôi, người ta liền khuyên tôi, khi tôi
hãy còn quyền lực trong tay, là truất phế Thủ tướng, trở về Sài Gòn để tự tay cầm
đầu một chính phủ mới. Nhưng tôi không còn tin vào một sự phiêu lưu mới trong
tình trạng hiện tại của quốc gia. Sau cuộc thất bại của giải pháp Pháp, một giải
pháp Mỹ như đang được thực hiện, chỉ có thể đưa đến một sự thất bại mới, còn to
lớn, nặng nề và sâu đậm cho dân tộc Việt Nam hơn nữa. Nước Việt Nam chỉ được tự
mình cứu rỗi, có lẽ phải qua đến bước đường cùng, để lấy làm nguồn để bắt đầu.
Tại Paris, từng nhóm nhỏ chính khách hoạt động. Ngày 7 tháng
10, có mở cuộc đại hội ở khách sạn Raphael. Chung quanh cựu Thủ tướng Trần Văn
Hữu có Tướng Xuân, Tướng Hinh, vốn rất thất vọng về cuộc phiêu lưu vừa qua, Đại
tá Leroy, ông William Baze… Cả hình ảnh của xứ Nam kỳ cũ. Người ta nói đến
chính phủ lưu vong, đến trung lập hóa, nhưng tất cả những sự bàn phiếm ấy chẳng
đi tới đâu.
Về phần tôi, tôi muốn tách rời hẳn với Ngô Đình Diệm, mà tôi
không thể đi chung đường được. Nhất là tôi không muốn liên hệ vào với chính
sách chống Cộng, thanh trừng ở Việt Nam, nó làm cho nước tôi trở thành một quốc
gia cảnh sát trị. Chính ông ta đã cho tôi cơ hội, để đoạn tuyệt với nhau vĩnh
viễn.
Thật vậy, ông Diệm loan báo vào ngày 20 tháng 10 cái gọi là
trưng cầu dân ý, do ý chí của dân chúng Việt Nam quyết định. Câu hỏi trong cuộc
trưng cầu dân ý là:
“Tôi truất phế Bảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc
trưởng Việt Nam, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ”
và
“Tôi không truất phế Bảo Đại, và không chấp nhận Ngô Đình Diệm
là Quốc trưởng để đặt một nền móng dân chủ”.
Sự trình bày thật khôn khéo, sự lựa chọn của cử tri đã được
hướng dẫn rõ ràng.
Dựa vào công tác, chức Thủ tướng không được trao cho nhiệm vụ
tổ chức loại thăm dò liên can đến chế độ, ngày 18 tháng 10, tôi chấm dứt nhiệm
vụ của Ngô Đình Diệm.
Ngày hôm sau, tôi lệnh cho văn phòng tôi trao cho các chính
phủ Pháp, Mỹ, Anh, Ấn Độ và Nga, một công văn, yêu cầu sự giao hảo giữa hai miền
Bắc và Nam Việt Nam phải được bình thường hóa, và hướng vào sự hợp tác chân
thành, mặc dù mỗi bên không cần phải từ chối vị trí chính trị của mình.
Cũng trong thời gian ấy, tôi gửi cho dân chúng Việt Nam một bức
thông điệp.
Trước hết, tôi giải thích lý do nào tôi đã chọn Diệm vào
tháng 6 năm 1954; và nhất là tính chất giao hảo của ông ta với người Mỹ. Sau rồi,
tôi tỏ ý thất vọng trước những biện pháp độc tài mà mỗi ngày ông ta càng đi sâu
vào, biện pháp mà tôi kết án một cách dứt khoát. Cuối cùng, tôi kết luận là cảnh
giác dân chúng Việt Nam phải đề phòng con người có thể đưa họ tới một tương lai
đen tối của tàn phá, đói khổ và chiến tranh.
Tôi không có ảo tưởng nào, tôi không còn hậu thuẫn ở Sài Gòn
nữa. Vả lại bức thông điệp này cũng không được phổ biến ở Việt Nam. Như mọi người
từng biết chắc, Ngô Đình Diệm được bầu làm Quốc trưởng.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa được
tuyên bố thành lập.
Nhưng nó không phải là nước Việt Nam, nước mà tổ tiên tôi và
triều đại của tôi đã dầy công xây dựng, bảo vệ và tái thiết. Quân đội mà tôi tạo
nên để giữ vứng nền độc lập ấy, đã trở thành một thứ lính bảo chính, nhằm để thực
hiện các công tác mật vụ, nếu tối còn là Hoàng đế, tôi lại phải thoái ngôi lần
nữa.
Giải pháp Mỹ
Thế là từ nay tôi trở thành một thường dân, di cư sang Pháp,
y như những người khác. Từ xa, tôi theo dõi cuộc sống của dân tộc tôi, chịu
chung nỗi đau thương, vui buồn cùng họ.
Sau khi người lính Pháp cuối cùng cuốn gói ra đi vào tháng 4
năm 1956, ông Diệm có xung quanh những người thân tín là ông Nhu, Cẩn, Đức cha
Thục và nhất là người em dâu, bà Nhu, đã ngự trị thành chúa tể ở miền Nam Việt
Nam. Thỉnh thoảng, chỉ có sự vãng lai che chở của các cố vấn Mỹ, đem đến cho
ông ta một chút mặc cảm về tinh thần quốc gia u ám của mình.
Tuy nhiên, sự chống đối không phải là chấm dứt hẳn. Việc tiêu
diệt giáo phái đã giao cho Việt Minh từng vùng rộng lớn và phì nhiêu ở nông
thôn, vốn còn có những phần tử Việt Minh đóng tại chỗ, trái lại các điều khoản
của hiệp ước Genève.
Bởi vì, nếu ông Diệm có dẹp bỏ được sự lo âu về tổng tuyển cử,
thì Việt Minh cũng chẳng thành tín gì, đối với việc tập kết mà chứng còn để lại
ở miền Nam, từng bộ phận quân sự của họ.
Thật sự, những điều khoản của Genève chẳng bao giờ được ai
tôn trọng cả.
Chẳng bao lâu, đây là sự xuất hiện của bọn du kích Việt Cộng
mà những sự khủng bố đã làm mất an ninh ở khắp miền Nam. Trước hiểm họa đó, người
Mỹ vội vã xúc tiến việc thành lập quân đội Việt Nam. Nhưng trong lãnh vực này,
họ đã không chịu theo kinh nghiệm của người đi trước, lại đi lập các đạo quân
chính qui cổ điển với đầy đủ trung đoàn, sư đoàn, bộ tham mưu, và các cơ sở
quân sự… Lẽ ra, họ phải giữ lấy nguyên tắc vẫn để các đoàn khinh binh lưu động,
như tôi đã từng buộc Pháp phải chấp nhận là đúng. Các đoàn khinh binh này có sự
uyển chuyển co dãn, để đối phó với quân du kích địch, do chúng có thể đột xuất
nhanh chóng và được áp dụng đúng với chiến tranh du kích cách mạng.
Trong khi đó, ông Diệm và các anh em là Nhu và Đức cha Thục,
đã tìm cách chống lại tứ đổ tường hầu thanh sạch hóa miền Nam vốn mang tiếng là
thối nát. Các sòng bạc và nhà chứa đều bị đóng cửa, nạn đa thê và mãi dâm bị
triệt để cấm hẳn, ngay cả khiêu vũ cũng bị nghiêm cấm. Rượu và thuốc phiện, tất
nhiên bị liệt vào hàng tệ nạn xã hội, không thể được dung túng. Nhưng tất cả
cái phong trào thanh hóa ấy, cũng chẳng thu được kết quả nào đáng kể. Ngay cả
Nhu, dựa vào lý thuyết của Emmanuel Mounier, đã muốn đặt thành quốc sách cái gọi
là Cần Lao Nhân Vị cũng chẳng đạt được kết quả mong muốn, vì thuyết
đó không thích ứng với tâm hồn của người Việt Nam, từng được tiêm nhiễm về Khổng
Mạnh sâu đậm. Vì vậy, các dự định cải cách lớn lao của Ngô Đinh Diệm, nhằm vào
cải cách ruộng đất, lập các ấp chiến lược chẳng những đã không đi đến đâu, còn
làm dân chúng bất mãn, trở thành yếu tố cho bọn du kích bành trướng.
Vì vậy, ngày 20 tháng chạp năm 1960, đã phát sanh ra cái gọi
là Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, và đến ngày 1 tháng 2 năm 1961, Quân
Đội Giải Phóng Miền Nam thành hình. Tuy quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã mạnh
tới 150.000 người, được trang bị đầy đủ do người Mỹ viện trợ, người ta có cảm
tưởng rằng quyền hành đang bị vượt qua.
Cũng do đó, ngày đầu tháng giêng năm 1962, tuy không ai muốn
nói đến đoàn quân viễn chinh Mỹ, đã có từng đơn vị quân đội đang bắt đầu đổ bộ
Sài Gòn. Nhiệm vụ của họ là thay thế cho các đoàn cố vấn, để họ cùng đi hành
quân cùng với quân đội Việt Nam. Hoa Thịnh Đốn càng ngày càng dấn thân thêm nữa,
và sự leo thang trong lãnh vực quân sự đã bắt đầu.
Về mặt kinh tế cũng vậy, để trám vào các sự khiếm khuyết của
Diệm, các cố vấn Mỹ đã đưa các chuyên viên của họ vào các bộ, và các cơ quan
thông tin. Ông Nhu dần dà thay thế anh. Thông minh, can đảm, tàn bạo, Nhu lập
ra nhiều tổ chức, mà mục đích là kiểm soát dân chúng, công chức, thanh niên và
phụ nữ. Sự đoàn ngũ hóa ấy tăng trưởng mãi lên thành phong trào gọi là đoàn Thanh
Niên Cộng Hòa, mà tất cả mọi người đều phải ghi tên kể từ khi lên tám tuổi. Việc
tiểu trừ Cộng sản dâng cao tột độ nhưng vì có những sự vụng về, nên người ta bỏ
ra bưng theo Cộng sản.
Tất cả đang tiến tới, chính phủ gặp phải sự chống đối của các
nhà sư. Ông Diệm và Nhu là người Công giáo. Các nhà sư được Cộng sản giật giây,
và mật vụ Mỹ tiếp tay, liền bắt đầu hoạt động. Chính quyền phải đổi phó lại, vô
hình chung như mang mặc cảm kỳ thị tôn giáo.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông Diệm bị lật đổ, với sự đồng ý của
Mỹ, và bị giết cùng với ông Nhu. Phe quân nhân đảo chính, do tướng Dương Văn
Minh “Cồ” lên cầm quyền.
Ở miền Bắc, sau khi thắng năm 1954, một chính sách độc tài
nghẹt thở đè nặng lên nhân dân toàn xứ. Tuy tin tức ít lọt ra ngoài, nhưng người
ta cũng biết rằng Hồ Chí Minh và phe nhóm đang sửa soạn chiến tranh. Họ đã bắt
đầu chịu gánh nặng viện trợ cho quân du kích miền Nam. Đối với họ, chẳng còn hồ
nghi gì nữa, sự thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện, nhưng dưới lá cờ của Đảng
Cộng sản. Dù cho vị lãnh tụ già nua có chết đi vào năm 1969, các diễn tiến ấy vẫn
không thay đổi.
Ở miền Nam, sau khi ông Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh đua
nhau lần lượt cầm quyền và người Mỹ ngày càng đi sâu vào vấn đề Việt Nam. Đã được
một năm, máy bay Mỹ không ngớt ném bom đều đặn xuống miền Bắc. Nhiều sư đoàn
quân Đại Hàn, quân Úc, và quân Tân Tây Lan đều tham gia chống lại Cộng sản.
Diễn biến ngày hôm nay chỉ là hậu quả của diễn biến ngày hôm
qua. Làm sao mà tôi không thể nghĩ đến Tổ quốc Việt Nam của tôi, khi tôi đang sống
trong đó, và tôi đã từng lãnh đạo lâu năm, và vẫn còn mang nặng trách nhiệm?
Đã có một sự đứt đoạn về thời Diệm, nhưng kể từ ngày ông ta mất
đi, sự việc đã hoàn toàn thay đổi. Bắt đầu, tôi lại có liên lạc với dân chúng
và chúng tôi đã gặp lại nhau. Chưa hẳn là một cuộc tái hồi, nhưng cũng đã có những
môi manh mới.
Tiếc thay, sự chia rẽ ở Nam Việt Nam quả thật trầm trọng. Nhiều
đoàn thể quá, chỗ này chỗ khác, đâu cũng là phe phái, chia rẽ. Phe dân sự chống
lại phe quân sự, và ngược lại. Người theo đạo Phật chồng lại người Công giáo.
Và trên hết, sự tái sanh các giáo phái nẩy lên như cũ. Cần phải
chấm dứt tất cả, vì đó là điều sinh tử của xứ sở. Cần phải có một chính quyền
trung ương vững mạnh để tái lập lại sự thống nhất quyền hành.
Trong nhiều cuộc biểu dương ở Sài Gòn, người ta đã đòi bầu cử.
Nhưng làm sao mà có được bầu cử trong một nước bị rách nát bởi chiến tranh? Quả
là dễ dàng để buộc dân chúng bầu cho ai với khẩu súng dí phía sau lưng. Nếu người
ta tổ chức các cuộc bầu cử, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, thì hai bên vẫn cân
bằng, nơi nào bầu cho nơi ấy. Như vậy thì đâu phải là hình thức thực hiện thống
nhất đất nước ở Việt Nam?
Người ta đã nói đến nhiều về sự các nhà sư tự thiêu, nhưng vấn
đề các nhà sư là vấn đề giả tạo. Phần lớn các nhà tu hành, đã trở về chùa của họ.
Vậy thì ai đã xúi giục họ gây loạn, ai? Họ ở đâu tới? Làm sao mà biết được nếu
họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới. Không giống như các nhà tu hành Công
giáo, mà người ta ai cũng biết, để hiểu được tự cội nguồn, và tìm ra được lý
do.
Tuy nhiên, cũng chẳng có gì là sáng sủa hơn ở Hà Nội. Tôi vẫn
có những người liên lạc, từ nơi đó, và tôi biết miền Bắc cũng đang gặp đầy rẫy
khó khăn, những lo sợ cấu rứt. Ở đó đang đói khổ, và có những mâu thuẫn dị biệt,
hay quan điểm trái ngược. Chẳng hạn như tướng Giáp, ông ta đâu có thân Tầu?
Ở đây, cả thế giới như đang muốn có một giải pháp để chấm dứt
chiến tranh. Thì ngay Đại tá Boumedienne hay Tổng thống Nasser cũng đều tự hào
là có những giải pháp tốt đẹp có thể áp dụng được. Tất nhiên, trường hợp nào
cũng đầy rẫy các cố vấn tài ba cả.
Là một người Việt Nam, và từng là Quốc trưởng, tôi đã suy
nghĩ nhiều, nghiền ngẫm nhiều. Vấn đề hết sức phức tạp. Quả nhiên là quan trọng
quá độ, để có thể tìm được một giải pháp nhiệm mầu. Tìm cách giải quyết, có hàm
ý là phải gặp hàng loạt sự đi đêm, sự thăm dò chính trị và phải trình bày cho
các bên liên hệ, những mục tiêu dự định, và phương pháp để thực hiện. Kế hoạch
mà tôi muốn đưa ra để đem lại hòa bình cho Việt Nam, vướng mắc vào sự va chạm
quốc tế, và quyền lợi riêng tư của dân chứng, mà người ta đã thường không chú
trọng đến.
Dù sao, tất cả các quan điểm được trình bày, quan điểm của Tướng
De Gaulle chắc chắn là điều rõ ràng hơn cả, và cũng có thể là điều hữu lý hơn cả.
Tuy nhiên, nó chỉ thực sự đáng lưu ý nếu được các nước liên hệ
nhất định tôn trọng, và tùy theo tâm trạng của người Việt Nam. Bởi vì chúng ta
chẳng nên nhầm giữa cái gọi là trung lập hóa và vị trí trung lập của một nước.
Về vị trí trung lập, thì như nước Cam Bốt đã chứng tỏ rồi. Còn vấn đề trung lập
hóa, là sự gạt bỏ tất cả mọi sự du nhập ngoại lai, và chỉ có sự tự lực tự cường
của quyền lợi quốc gia. Liệu dân chúng Việt Nam đã nắm vững được ý thức ấy, và
tất cả các nước ngoài chịu cái giải pháp ấy? Chúng ta có thể ngờ.
Trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chiến tranh cứ tiếp diễn, tương
lai về nước Việt Nam sẽ là một nước Việt Nam không có người Việt Nam, một vùng
đất cháy với toàn xác chết.
Tôi không kết án cũng không phê bình về nền chính trị Mỹ đối
với Việt Nam. Người Mỹ đã bị lôi cuốn, đã bị bắt buộc phải vào cuộc chiến này.
Ngược lại, có lẽ họ đã muốn, tôi nghĩ không biết có đúng không, họ đã muốn giúp
nước chúng tôi theo kiểu khác, hòa bình và đáng quí hơn là không phải những khẩu
canon, và bom đạn… Tuy nhiên, họ đã bị vướng mắc, sa vào một lưới nhện, mà họ
không thể tìm thấy lối thoát, nên đành chấp nhận chiến tranh.
Chỗ này cần phải quay trở lại quá khứ. Người ta đã dùng Diệm.
Chính tôi đã cho tìm ông ta, khi ông ta mải mê theo tu học, và tôi đã đưa ông
ta vào quyền hành. Than ôi, rất nhanh chóng, nước Việt Nam bị đặt dưới quyền
gia đình trị của ông ta. Toàn gia ấy đã làm hỏng việc của Diệm.
Thế rồi trước nữa, đó là sự chấm dứt của sự có mặt của người
Pháp Điện Biên Phủ, rồi Genève… Tuy nhiên, không phải là sự liên hệ hỗ tương giữa
hai sự việc. Cái này không phải là kết quả của cái kia. Điện Biên Phủ là một
bãi chiến trường, trong đó vẫn còn tôi ở đấy, miễn là nếu tôi được trang bị khả
quan hơn, thì tôi vẫn quật ngược được Giáp đến từ phương Bắc. Bộ Tổng Tư lệnh
Pháp đã từ chối, với cớ là đang chuẩn bị cuộc hành quân Atlante. Dù sao, hai tuần
lễ sau đó, lực lượng đối kháng của địch đã bị thiệt hại nặng nề, và quân địch
phải yêu cầu tạm đình chiến để rút các xác chết và thương binh của họ. Lúc ấy,
người ta có thể phản công, nhưng các tư lệnh Pháp thì chỉ muốn đánh ngay tại chỗ.
Có lẽ họ đã hồi tưởng đến quan niệm có từ thời Verdun, nên
đành chui trong một xó để im lặng khiếp nhược. Với một chiến lược như thế, thì
dù binh sĩ có can trường đến mức nào, cũng không tài nào đạt nổi chiến thắng được.
Mọi hy sinh đều vô ích. Genève ngược lại là một sáng kiến chính trị. Một năm
trước khi có hội nghị, lúc đó ông Georges Bidault làm Ngoại trưởng, ông ta đã
nói trước với tôi là số phận Việt Nam đã được định đoạt, và cũng không phải là
do hậu quả của một Điện Biên Phủ nào. Số phận Việt Nam được định đoạt, không có
tôi trong đó.
Thực tế, Genève chỉ là một giai đoạn của chiến tranh ở Việt
Nam, mà luôn trong hai mươi lăm năm người ta không ngớt giết chóc nhau. Xứ sở
Việt Nam của chúng tôi thật là xứ sở tuyệt vời, với một dân chúng đặc biệt, và
chúng tôi cũng có thể có một sự tiến triển ngang với Nhật Bản, nếu chúng tôi
không bị đưa vào lò thử lửa giữa hai khối Đông Tây.
Vào năm 1966, không còn phải Paris là chỗ làm mất Đông Dương,
mà là Hoa Thịnh Đôn. Thật sự, người Mỹ đã phải chịu một đòn chiến tranh tâm lý
nặng. Phe Bồ câu chủ hòa đã huy động tất cả các phần tử khiếp nhược và đầu
hàng, các ký giả săn tin, bọn thanh niên phản chiến, sinh viên và báo chí
khuynh tả. Ở khắp nơi, tại Hoa Kỳ đã thành lập các ủy ban phản chiến khuyến
khích binh sĩ Mỹ đào ngũ. Tổng thống Johnson không biết và không dám leo thang
chiến tranh. Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 26 tháng 7 ra một bản tuyên ngôn: “Hoa
Kỳ không muốn xâm lăng miền Bắc Việt Nam, hơn nữa, Hoa Kỳ không muốn mở rộng
chiến tranh, và cũng không muốn lật đổ một chế độ nào”.
Vào lúc cần phải áp dụng sáng kiến để thay đổi số phận của
chiến tranh, như phong tỏa các miền duyên hải Bắc Việt, đưa chiến tranh du kích
vào châu thổ sông Hồng, đánh ra miền Bắc qua vĩ tuyến 17, người Mỹ lại buông
lơi dưới áp lực của phe chủ hòa.
Tại Phnom Penh, ngày 1 tháng 9, Tướng De Gaulle đích thân,
không đá động gì đến sự can thiệp của Cộng sản vào dưới vĩ tuyến 17, lại kết án
dứt khoát sự can thiệp của ngoại quốc từ “bờ bên kia Thái Bình Dương” và kêu gọi
Mỹ hãy rút lui khỏi miền Nam Việt Nam.
Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Mỹ nên quân lực Việt Nam không đến
nỗi đổ sụp ngay, nhưng miền Nam Việt Nam cũng không đạt được tiến bộ vững chắc
nào về chính trị, tuy ngoài mặt có hình thức khả quan. Quân đội có tiến triển,
nhưng sự bình trị vẫn chẳng đi đến một kết quả tốt đẹp nào.
Nhân dịp sang thăm Paris vào kỳ hè năm 1965, ông Richard
Nixon có tìm gặp tôi. Ông nói:
- Thưa Ngài, sự tìm gặp Ngài là do cá nhân của tôi. Tôi chẳng
ăn nhằm gì với chính phủ Mỹ, nhưng tôi muốn biết Ngài nghĩ sao về “leo thang”
nhất là về sự ném bom ào ạt vào miền Bắc?
Tôi hỏi lại ông ta:
- Leo thang để làm gì? Nếu để phá hoại, thì tôi có thể trả lời
Ngài là chúng tôi cũng đã từng làm về thời của chúng tôi… Nhưng xin đừng có đụng
chạm đến đê điều miền Bắc. Và nếu lại dùng đến bom nguyên tử nữa, thì đó là một
tội ác…
Nixon ra về, có vẻ suy tư.
Tháng 9 năm 1967, Tướng Thiệu được bầu làm Tổng thống chính
phủ, Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ làm phó. Chính phủ mới được thành lập dưới
quyền của Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc.
Cuối tháng giêng năm 1968, tiếng sét nổ ra. Đó là cuộc tấn
công Tết Mậu Thân. Quân Việt cộng và bộ đội chính qui miền Bắc mở cuộc xung
phong nhiều đợt. Ai cũng ngạc nhiên hoàn toàn. Tất cả các tỉnh lớn ở miền Nam
như Huế, Đà Nẩng, Đà Lạt, Kontum, Pleiku, Nha Trang đều bị chiếm đóng. Tại Sài
Gòn, quân Cộng sản tấn công vào dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ.
Trong một tháng, chiến trận vẫn khốc liệt, có hàng ngàn người
chết. Nhưng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã hoàn toàn thất bại. Quân Bắc Việt trở
về vĩ tuyến 17, và du kích Việt cộng lại trở vào bưng. Khi chúng đã quay về, thế
giới mới khám phá ra rằng khi Cộng sản mà chiếm được quyền hành, chúng sẽ tàn
sát như thế nào. Một điểm nữa đáng chú ý, đó là những dân tìm cách chạy trốn
trước quân giải phóng, vốn tự cho mình là đi giải phóng cho mọi người.
Đất nước đông nghẹt hàng đoàn người đi tị nạn. Sau này, người
ta đã phải nói rằng, “người Việt Nam đã đi bỏ phiếu bằng chân”.
Vì vậy, lời tuyên bố của Tổng thống Johnson ngày 31 tháng 3,
thật đáng tiếc vô cùng. Khi tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, sự mong muốn của
Hoa Kỳ chỉ là được mở các cuộc đàm phán hòa bình “bất cứ ở đâu, và bất cứ lúc
nào” đồng thời tuyên bố từ chối ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ tới, để giải giới
dư luận Mỹ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1968, tại Paris, miền Bắc Việt Nam chịu mở
cuộc điều đình. Hòa hội này lâu tới năm năm. Qui chế của hòa hội năm 1954 lại
được áp dụng. Ngày 27 tháng 6, để tránh một Điện Biên Phủ mới, người Mỹ rút khội
căn cứ không quân Khe Sanh.
Tại đường Keber ở Ba Lê, ông Averell Harriman, sau được thay
thế bằng ông Cabot Lodge, xúc tiến việc thảo luận với trưởng phái đoàn miền Bắc
là Xuân Thủy. Nhưng đằng sau phái đoàn chính thức này, công việc thực sự là ở
tay hai nhân vật là Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, vốn là cố vấn đặc biệt của Tổng
thống Mỹ. Bởi vì vào tháng 11 năm 1968, ông Richard Nixon được bầu làm Tổng thống
Ông Nixon trong cuộc hội đàm với Tướng Thiệu ở Guam, đã trình
bày quan điểm của mình. Không màu mè gì, ông muốn rút hết trách nhiệm của quân
lực Mỹ tại Việt Nam, nhưng không phải vì thế mà để cho Cộng sản có thể làm chủ
tình thế được. Vì vậy, ông muốn thay thế quân đội Mỹ bằng quân đội Việt Nam. Tức
là Việt Nam hóa chiến tranh. Câu nói đã làm mọi người kinh dị. Bởi vì chẳng mới
mẻ gì. Mười tám năm trước, chính Tướng De Lattre đã từng cố gắng thực hiện, mặc
dù không nói đến danh từ ấy.
Trong một bài diễn văn đọc ngày 4 tháng 11 năm 1969, Tổng thống
Nixon nói với dân chúng Mỹ, đồng bào của ông ta như sau:
“Đừng bao giờ để cho các sử gia của chúng ta có thể bảo được
rằng: Mỹ quốc vào thời kỳ cực thịnh của nó vốn là siêu cường mạnh nhất của nhân
loại, đã bị các lực lượng độc tài, bắt đưa tay bịt kín niềm hy vọng cuối cùng về
hòa bình và tự do, của biết bao nhiêu triệu người nuôi dưỡng…
Trong kỳ vận động bầu cử của tôi, tôi đã cam kết là chấm dứt
chiến tranh, để có thể giúp chúng ta tìm thấy hòa bình. Tôi đã thiết lập ra một
sáng kiến đề giúp tôi hoạt động hữu hiệu. Dân chúng Mỹ càng giúp đỡ tôi bao
nhiêu, tôi càng mau chóng đạt được lời hứa hẹn. Bởi vì chúng ta càng chia rẽ
bao nhiêu, thì khó lòng buộc địch chịu hòa đàm bấy nhiêu. Chúng ta cần phải
đoàn kết để tiến tới hòa bình, chúng ta càng phải đoàn kết để chống lại mọi thất
bại”.
Tại Paris, việc đàm phán dù chính thức hay kín đáo, vẫn kéo
dài. Thực hiện chính sách chiếc gậy và củ cà rốt, Nixon quyết định vào đầu năm
1970 đánh vào hành lang của Bắc Việt Nam, nằm trên xứ Chùa Tháp. Cuộc hành quân
hỗn hợp của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam buộc Thái tử Sihanouk phải chạy sang Bắc
Kinh. Sự thay đổi đột ngột đó, lôi cuốn Trung cộng phải tỏ thái độ trong cuộc
đàm phán Paris, mặc dù có thể chỉ để dằn mặt Moscou. Ông Nixon khôn ngoan đã muốn
khơi to sự rạn nứt giữa hai nước Cộng sản đàn anh. Từ ngày 21 đến 28 tháng 2
năm 1972, ông ta sang thăm Trung quốc, rồi đến tháng 5 cũng sang thăm Moscou.
Trước mặt ông ta, việc giải quyết các vấn đề mâu thuẫn ở Việt Nam là khúc đầu
trong lịch sử bang giao quốc tế. Hành động khôn khéo đó, rất có lợi cho Việt
Nam.
Hà Nội cảm thấy nguy hiểm. Mùa xuân năm 1972, tướng Giáp mở
cuộc tiến công mới qua vĩ tuyến 17. Trước mặt, chỉ có vài sư đoàn quân Việt Nam
Cộng hòa, còn lính Mỹ thì có hơn 50.000 quân đóng tại chỗ.
Ngày 12 tháng 7 năm 1972, trước hoàn cảnh mới này, tôi gửi
dân chúng Việt Nam lời kêu gọi hòa bình dưới đây:
“Giờ đã điểm để chúng ta chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ
tương tàn, giúp cho dân tộc chúng ta băng bó vết thương, để trở về với nền hòa
bình của sự hòa đồng tương thân tương ái. Mong rằng tất cả mọi người hãy xóa bỏ
mọi hận thù và nỗi chua cay, và tất cả hãy đoàn kết lại để xây dựng lại tổ quốc.
Đối với nhiệm vụ thiêng liêng ấy, tất cả mọi người đều có bổn phận góp phần
cũng như có quyền tham dự. Như tất cả mọi công dân Việt Nam khác, tôi thành thực
kêu gọi và ao ước sự hòa giải dân tộc. Hãy cùng nhau giơ tay ra đoàn kết để Việt
Natn được tồn tại đời đời”.
Tôi cho ấn hành một thông cáo, giải thích tại sao sau khi vắng
mặt luôn 17 năm trường nay tôi lại xuất hiện công khai trong mâu thuẫn hiện tại.
Thật vậy, nếu tình hình quân sự có bề khẩn trương, tình hình ấy đang có lợi cho
miền Nam Việt Nam Khốn thay, tình hình kinh tế lại đang bị suy thoái đáng ngại.
Thế mà chính trị bao giờ cũng lệ thuộc nhiều vào kinh tế. Vậy thì đã đến lúc để
lại bắt đầu.
Cuối mùa hè, thì người ta có thể nói dứt khoát là Cộng sản đã
thất bại. Quân đội Cộng hòa đã đứng vững. Liệu quốc gia có thể hồi phục được
tinh thần?
Tại hội nghị Paris, bọn Cộng sản đề nghị một thỏa hiệp rời rạc
và đầy thiếu sót vì nó chỉ quanh quẩn đến vấn đề ngưng bắn tại chỗ. Thiệu với
lý do rất xác đáng, đã từ chối cái thỏa hiệp đó. Tình thế lại bế tắc. Thế là
ngày 18 tháng 12 năm 1972, Nixon quyết định lại ném bom miền Bắc. Cuộc oanh tạc
này thật khủng khiếp, và kéo dài tới 12 ngày.
Trước quyết định đó, ngày 27 tháng giêng năm 1973, miền Bắc
Việt Nam ký ở Paris, về cuộc chấm dứt hận thù, và tái lập hòa bình ở Việt Nam.
Hoa Kỳ, miền Nam Việt Nam, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt đồng ký kết.
Thỏa hiệp ấy dựa vào sự tôn trọng vào căn bản của chủ quyền
quốc gia của dân tộc Việt Nam, và quyền tự quyết của từng cá nhân, đồng thời
nói lên mối quan tâm đối với nền hòa bình của Á châu và của toàn thế giới.
Trong đó có một chương chứa đựng điều quan trọng:
“Nền thống nhất của Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước một,
bằng hình thức hòa bình, trên căn bản thảo luận và hiệp ý giữa miền Bắc và miền
Nam Việt Nam, không có chuyện sát nhập miền này vào miền kia, giữa hai bên, và
cũng không có sự can thiệp ngoại lai. Ngày thống nhất sẽ được quyết đỉnh bởi một
thỏa hiệp chung giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam”.
Trong tháng chạp năm 1972, tôi có gặp ở Paris, một số chính
khách Nhật, họ mời tôi sang thăm nước họ.
Ngày 6 tháng giêng năm 1973, tôi rờí nước Pháp sang Hong
Kong, và lấy làm thích thú được hồi tưởng lại những ngày cũ tôi đã sống tại đây
về năm 1946. Không biết bao lần, tôi nhận được cảm tình nồng hậu và lòng trung
thành của các kiều bào hải ngoại. Như cộng đồng kiều bào ở Nouméa, đã đánh điện
chúc mừng tôi, qua trung gian một vị đại diện của họ, lúc ấy đang làm Giám đốc
Đài phát thanh ở Nouméa (Tân Thế Giới).
Tôi đến Tokyo ngày 7 tháng 2. Ngày ấy, lẽ ra Thiên hoàng Hiro
Hito bận phải xa kinh đô, Ngài đã cho lui lại chuyến công du 24 giờ, vì sợ hiểu
lầm là thất kính đối với tôi.
Ngày hôm sau để chứng tỏ tôi rất cảm động về lòng ưu ái đó,
tôi đến đặt vòng hoa anh đào trong đền thờ Vua Minh Trị Thiên hoàng. Vua Minh
Trị đã giống như tổ tiên tôi là vua Gia Long, đã đem nền văn minh Âu Tây vào đất
Nhật. Cũng chính là vị Vương, ngày đầu thế kỳ này, đã đặt kinh đô ở Tokyo, và đặt
ra Hiến pháp, sau khi tuyên bố bỏ chế độ phong kiến, và thể chế quân phiệt ở Nhật.
Trong thời gian lưu lại Tokyo, tôi đã gặp lại Ngài Yokoyama,
cựu Sứ thần Nhật ở Huế trong những giờ phút khó khăn năm 1945.
Chính ông ta đã thông đạt cho tôi biết quyết định của chính
phủ Nhật là trao trả nền độc lập cho Việt Nam. Ông cụ già này rất cảm động được
gặp lại tôi.
Các nhà kinh doanh Nhật đã liên miên mời tôi dự các buổi tiệc
tùng chiêu đãi.
Chính tại Tokyo mà tôi được biết về bản văn kiện ký ở Paris
31 tháng 1 năm 1973. Lập tức, tôi nhận thấy có nhiều sơ hở, nhất là về những chỗ
nói về sự đảm bảo quốc tế, và nền tự quyết của dân tộc. Qua trung gian hăng AFP
địa phương, tôi ra một bản công bố nói rằng: “Dân tộc Việt Nam qua nội
dung bức văn kiện, không chịu để bị ràng buộc bởi loại hiệp ước kiểu Yalta trao
đổi giữa ông Kissinger và Bắc Việt Nam”.
Nhấn mạnh đến chỗ xây dựng đất nước, tôi lưu ý rằng:
“Mọi viện trợ ngoại quốc, dù to lớn và cần thiết đến đâu, nó
cần phải căn cứ vào nền hòa bình xã hội, nền hòa bình này lại phải do toàn thể
nhân dân Việt Nam chấp nhận. Nếu không có sự đoàn kết quốc gia, thì viện trợ
nào cũng trở thành vô ích, nếu không còn trở thành nguy hiểm cho tương lai xứ sở
nữa”.
Điều cảnh cáo của tôi từ Tokyo chẳng phải là vô ích. Áp dụng
thỏa hiệp ngày 27 tháng giêng, một hội nghị quốc tế được mở ra ở Paris một
tháng sau, để các bên ký kết ngày mùng 3 tháng 3, một văn kiện mới, trong đó nhấn
mạnh:
“Trong trường hợp vi phạm vào hòa bình, độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam, hay vi phạm vào quyền tự quyết của
dân chúng miền Nam Việt Nam, các bên ký kết hiệp ước này hoặc riêng biệt, hoặc
thỏa đồng, phải tham khảo với các phái đoàn khác có ký trên hiệp ước, hầu định
đoạt hay tìm phương thức giải quyết thích đáng”.
Sự tái xác nhận những bảo đảm quốc tế đã được đại biểu 12 nước
tham dự hội nghị quốc tế về Việt Nam cùng ký là nước Pháp, Mặt trận Giải Phóng
Miền Nam, Hung Gia Lợi, Nam Dương, Ba Lan, Bắc Việt Nam, Anh quốc, miền Nam Việt
Nam, Nga Sô, Canada, Trung quốc của Bắc Kinh và Mỹ. Để cho được long trọng, cuộc
ký kết được tổ chức với sự chứng kiến của Tổng thư ký Liên hiệp Quốc đặc biệt đến
Paris về việc ấy. Chúng ta sẽ thấy sự tín nhiệm mà người ta đặt cho bản văn kiện
quan trọng như vậy, nó có giá trị.to lớn và bảo đảm bực nào, cho những chữ ký
được đề cao quan trọng như vậy.
Thật vậy, nhưng thỏa hiệp ấy, nếu có đem đến sự thắng lợi cho
Hoa Kỳ, đã rút chân ra được một bi kịch như vậy, vẫn còn ghi dấu lại lâu lắm.
Còn đối với miền Bắc Việt Nam, nó lại là một sự đồng lõa, hầu tránh một cuộc
chiến bất lợi, chỉ đưa đến sự thất bại về cho toàn thể dân chúng Việt Nam chẳng
còn hy vọng giữ lấy tự do và độc lập của mình.
Thỏa ước Paris đã chẳng đưa đến hòa bình ở Việt Nam, mà nó chỉ
đưa đến sự chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh này.
Chẳng bao lâu, quả nhiên, chiến tranh lại bùng nổ, chẳng những
ở miền Nam Việt Nam, mà thực tế chưa bao giờ chấm dứt, mà nó còn lan rộng sang
Cam Bốt và nước Lào.
Hai mươi ba sư đoàn của Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng
quân đội Cộng sản, ở phía nam vĩ tuyến 17 đã chẳng bao giờ chịu rút đi, càng
làm áp lực mạnh.
Tuy nhiên, sau khi việc phóng thích 500 tù binh Mỹ được chấm
dứt vào ngày 29 tháng 3, Tổng thống Nixon bị dính líu vào vụ Watergate, đó là một
biến cố bất hạnh lớn lao cho Nam Việt Nam.
Thế là sự đồng minh của phe Cộng sản Nga Tàu và khác nữa, cộng
với sự đồng lõa của bọn người tưởng tìm ra được sáng kiến để quân bình thế giới,
cũng như sự im lặng của bọn khác, hầu mong được cảm tình của địch bất chấp ý
chí và quyền lợi của các dân tộc, đã thắng, và Tổng thống Nixon rút lui khỏi
chính trường kể từ ngày 8 tháng 8 năm 1974.
Thế rồi từng đoàn tàu vận tải của Nga, nối đuôi nhau ở cửa bể
Hải Phòng để tháo gỡ quân trang, quân cụ cho Cộng sản Hà Nội, để trang bị từng
sư đoàn Cộng sản vào đầu năm 1975, thì Quốc hội Mỹ đã từ chối, không chịu thổi
cho chính phủ miền Nam Việt Nam một quả bóng dưỡng khí nào, để có thể giúp cho
nó khỏi bị chết ngạt.
Đó là dấu hiệu của sự chia phần. Văn Tiến Dũng tung các sư
đoàn tiến công. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột bị hy sinh trước tiên, để
rơi vào tay bọn Cộng sản.
Cuộc tiến đánh khá mạnh mẽ và rõ rệt, nhưng chẳng có một quốc
gia nào từng ký hòa hội bảo đảm ngày 2 tháng 3 năm 1973, chịu lên tiếng phản đối.
Đối với miền Nam Việt Nam, bị tất cả bỏ rơi nên sụp đổ mau chóng.
Mười lăm ngày sau cuộc di tản đẫm máu của dân chúng Phnom
Penh, các chiến xa Sô viết do quân đội miền Bắc lái, húc đổ các hàng rào của
dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Những cảnh tượng thê thảm đã đè nặng lên cuộc di cư đẫm máu của
cả một dân tộc chạy trốn Cộng sản Biết bao nghìn người chết trong những ngày ấy,
bao nhiêu vụ tự tử, và các gia đình tan tác… Ai có thể, lập được bản đúc kết của
các sự bi thảm đó?
Từ đó, đến nay đã được bốn năm. Thành phần của Mặt trận Giải
Phóng Miền Nam biệt tăm mất tích. Bọn thống trị miền Bắc đã thực hiện điều thống
nhất ký kết ở Paris, không khác gì tờ giấy lộn ném trong sọt rác, điều thống nhất
ấy chỉ có nghĩa là các trại tập trung goulag. Bốn năm đã qua đi, nhưng máu
vẫn chảy, làm cho đất nước Việt Nam bị thất thoát biết bao con em, làm quang sạch
xứ sở, và nếu Hà Nội chỉ khẽ bỏ chiếc gông cùm đè nặng lên đầu lên cổ họ, thì
đó là cả một nguồn vô tận nhân mạng, đã băng hóa ra khỏi vết thương mà đất nước
Việt Nam mang nặng ở bên mình.
Sự thắng trận của Hà Nội, cũng là sự thất bại của họ.
Sự thất bại ấy đã được in hằn trong sự bỏ chạy của bọn đồng
lõa với thực dân Pháp, hay nói với bọn đế quốc Mỹ, mà ngày nay chưa ai có thể
qui trách nhiệm riêng cho một bọn nào.
Sự thất trận ấy, đã được in hằn trong sự kháng chiến của cả một
dân tộc đã từ chối nếp sống ô nhục ấy, và đặt niềm hy vọng vào sự phụe hưng của
một nước Việt Nam hòa bình và tự do.
Ngày nay đây, trong khi đất nước Việt Nam chỉ còn chiến
tranh, hận thù, lầm than và chết chóc, từ Đà Nẵng đến Cam Ranh, Nga Sô đang ngự
trị làm chủ nhân ông, thì chính phủ Hà Nội chỉ còn thấy một con đường sống là
chúi đầu chúi cổ mà tiến lên phía trước.
Sống trong gọng kìm của chiến tranh và đói khổ, nước Việt Nam
Cộng sản buộc phải đi sâu mãi vào chiến lược cổ lỗ của giấc mộng bành trướng của
Hồ Chí Minh, làm nước Đại Việt Nam bao gồm chẳng những Ai Lao, Cam Bốt, mà còn
nhiều tỉnh cũ của Ai Lao, nằm trong lãnh thổ của Thái Lan.
Sau sự thất bại của giải pháp Pháp, đên giải pháp Mỹ, nước Việt
Nam sẽ lại gặp sự thất bại của giải pháp Cộng sân, không còn nghi ngờ chi nữa.
Cảm nghĩ
Vậy thì dân chúng Việt Nam đã xứng đáng để được thấy thái
bình chưa?
Từ hai mươi lăm năm qua, trên các ngọn đồi ở Huế, lời cam kết
nguyện cầu đối với Trời Đất theo như phong tục cổ truyền, đã được ai thắp nén
hương thờ cúng, dâng lễ Nam Giao, để được Đất Trời và thần linh phù trợ cho đất
nước này chưa?
Được tiếp dẫn linh thiêng bởi hình thể địa dư, và hoàn cảnh lịch
sử, lẽ ra Việt Nam phải là đất của gặp gỡ, hòa đồng, bỗng trở thành đất của thù
hận và đương đầu đoạn tuyệt hẳn với tinh thần quốc gia cố cựu. Hỏi dân tộc Việt
Nam đã được lợi lộc những gì? Đã mất cả tự do, lại bị kết án lựu đầy, đuổi ra
khỏi quê hương đất tổ, để cố gắng vớt vát gìn giữ lấy linh hồn.
Cuộc thống nhất bằng vũ lực đã chẳng đưa đến kết quả gì. Nước
Việt Nam vẫn còn là miếng mồi của sự tranh giành. Dù các chữ ký ở các hòa hội
Paris năm 1973 đã chẳng đưa đến chấm dứt chiến tranh, thì cuộc chiếm đóng bằng
quân sự của miền Bắc vào miền Nam Việt Nam cũng chẳng hơn gì, để chấm dứt những
giông bão đang làm sôi sục dân tộc rách nát tả tơi này. Máu đã đổ, tang tóc đã
đầy, và đau đớn hận thù, trong ba mươi năm càng đào hố thêm sâu sắc.
Chỉ còn mỗi một cách để hàn gắn vết thương ấy, là những người
chiến thắng phải có một thái độ đặc biệt. Họ phải tự nén mình xuống, và tuyên bố
những điều tương thân tương ái, đồng thời phải tỏ độ lượng khoan hồng. Nhưng miền
Bắc đã theo đuổi chính sách sắt máu, ngoan cường không chịu thay đổi. Họ chưa bằng
lòng với sự thống trị miền Nam, mà còn muốn bắt nó phải khuất phục, phải chối bỏ
bản ngã, để nhồi sọ nó, bắt nó phải coi chỉ riêng họ là nắm vững được chân lý.
Thế là trên bình diện luân lý, triết lý Cộng sản quả là độc hại,
bởi nguyên lý của Cộng sản đưa đến sự phá sản về nền móng luân thường và xã hội,
mà nước Việt Nam đã dầy công xây dựng trong suốt hai mươi thế kỷ lịch sử. Dân
chúng không thể cảm thấy mình là chủ của mình, trên địa hạt quốc gia, để có thể
theo định lệ tự nhiên của đại thể mà phục vụ tổ quốc của mình.
Theo dòng lịch sử của hơn hai mươi thế kỷ, tánh thái của đất
nước, làm cho nó như cái đáy của mọi biến cố, đường bộ lên phía Bắc khó có thể
sang Tàu, đường sang phía Tây hầu như bịt kín. Do thế, nếu có một biến thiên gì
bỏ dọc từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, dân chúng chỉ còn có nước đổ xô
ra bể, Họ như bị đẩy vào hỏa lộ Thermopyles 10 ở Đông Nam châu Á. Điều đáng chú ý nhất
trong tâm tình của họ, là phải bám sát vào đất đai mà họ sống. Từ hai mươi thế
kỷ qua, chưa có một cuộc chiếm đồng nào được dài lâu.
Vậy mà ngày nay, đám dân chúng đó đều trở thành thuyền nhân…
Đã hai mươi lăm năm qua, tôi rời bỏ quê hương của tổ tiên
tôi. Hai mươi lăm năm tại Pháp, vùng đất bao dung đã đón nhận tôi, đã ràng buộc
tôi với bao kỷ niệm thời niên thiếu. Từ khi Hoàng hậu Nam Phương mất đi, vốn được
tôi thương yêu từ lúc thanh xuân, nay đã ra đi, và các con tôi cũng bay xa, tôi
thường bơ vơ đơn chiếc. Tôi đã cảm thấy, và đã sống như biết bao đồng bào của
tôi, nam cũng như nữ, đang sống hiện nay. Nơi thì cảm tình, bao dung với tình bằng
hữu, nơi thì hiểu lầm, đầy ác ý. Nỗi mừng vui khi gặp lại người xưa, hay sự u sầu
của cô thân chích ảnh.
Trong thời gian đó, tôi không ngớt đập cùng nhịp tim với các
đồng bào khác, đang sống trong lo âu, khắc khoải. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của
họ, tất cả tư tưởng của tôi đều hướng về họ, nuôi chung một nguyện cầu, hay nguồn
hy vọng.
Cuộc sống trong xã hội Việt Nam giống y như cuộc sống tâm
linh của vị Hoàng đế, vẫn ấp ủ linh thiêng đến từng thôn dã. Nhưng nếu Người có
thánh thiện mọi hành động nào, ra chỉ thị nên theo hay kiểm soát chỉ thị ấy,
Người cũng chẳng mang một trách nhiệm nào. Ngược lại nữa, triết lý tuyệt vời của
Việt Nam đối với vị Hoàng đế của mình, là bậc minh quân thánh chúa, trị vì mà
không cần phải huyên hoa “với hai tay thong thả buông xuôi, và với bộ y phục giản
dị, nhẹ nhàng...”. Nhưng hãy bỏ chuyện ấy ra ngoài, như đã từng nói đến về thời
năm 1945, hoàn cảnh bây giờ thật vô cùng nghiêm trọng. Nhưng khí thiêng sông
núi còn ngự trị tại quê hương tổ quốc, và tư tưởng nổi bật vẫn là tư tưởng của
sự phục hồi, có lẽ dưới hình thức mới, sự phục hồi của thuần phong mỹ tục cố hữu
của mình.
Thời gian mà chúng tôi đang sống, không phải là thời gian của
buông xuôi, tuyệt vọng, mà chỉ là sự tạm ngừng. Với những ai hiện đang nắm quyền
hành số phận của tổ quốc, tôi nói: Sửa sai không phải là điều mất mặt… Như Khổng
Phu Tử đã từng nói: “Cái gì mà chúng ta có thể vứt bỏ, thì không phải là Đạo.
Thời đen tối tiếp diễn thời sáng sủa. Sự đó làm nẩy ra Đạo”.
Nước Việt Nam với một nguồn nhân lực, với tài nguyên nông
nghiệp, khoáng sản đầy rẫy, sẽ thành công trong lãnh vực kiến thiết, nếu nó
không bị chia rẽ, mà sống trong nền thống nhất thực sự. Nền thống nhất thực sự ấy
phải được xây dựng, theo sự an bình của nội tâm, truyền thống tốt đẹp của hiền
hòa và cảm thông dễ dàng. Đó là đường đi của hòa bình. Như vậy, dân tộc Việt
Nam đoàn kết trong một nước gồm trên bốn mươi triệu dân, tự do, bình đẳng như
anh em, một dân tộc cần cù, đầy sáng kiến và kiêu hãnh, họ có thể đổi chỗ đứng
xứng đáng trên hoàn cầu, và tự tìm thấy bản chất xứng đáng của mình.
Một bản chất ấy khởi từ cỗi nguồn, đã tìm ra được nguyên lý.
Đó là nguyên lý của sự xử thế giữa con người với con người, và gieo rắc tình
thân hứu với các quốc gia, đồng thời thể hiện được nền độc lập của mình, coi
như một vấn đề tự nhiên, bởi tất nhiên.
Trong tất cả các dân tộc, dân tộc Việt Nam trong suốt ba mươi
lăm năm đã dẫn đầu về sự hy sinh. Từ thế kỷ thứ 19, con số Tử vì đạo cho Thiên
Chúa đã rạng danh nước Việt Nam là Trưởng nữ của Công giáo ở Viễn Đông.
Nhưng bây giờ, đây là cả một dân tộc, dù họ đã bị hướng dẫn lầm
lạc bởi bọn chăn cừu kém cỏi, hay vì họ quá yêu chuộng tự do, vâng, tôi nói cả
một dân tộc, đã minh chứng trước mắt thế giới, khả năng hy sinh tột độ của
mình. Một sự hy sinh bị ép buộc, chịu sống trong nhẫn nhục và cam phận, với một
tư cách khuôn mẫu, với đầy đủ ý nghĩa đó.
Cũng như sự hy sinh của hàng chục ngàn trẻ con, đàn bà cũng
như đàn ông, đã sẵn sàng trao phó đời sống của mình trên một chiếc thuyền mỏng
manh, để không biết bao nhiêu đã mất tích trong sóng cuồng giông bão.
Sự hy sinh đó có giá trị như một bản thông điệp. Bản thông điệp
gửi cho khắp cả các nước trên hoàn cầu. Liệu các nước có hiểu được ý nghĩa bức
thông điệp đó? Đã có một thời mà nước Việt Nam, trong sự lo âu, thất vọng chờ
mong một cử chỉ của tình thương. Ngày hôm nay, sự lo âu tuyệt vọng đó đã quá độ
rồi, tiếng kêu thương của họ không còn là lời kêu gọi suông nữa. Nó phải là sự
can thiệp tức khắc.
Paris tháng 7-1979
BẢO ĐẠI
Chú thích:
1. |
Thành phần chính phủ Bảo Đại:
|
2. |
Ngoài chức vụ Thủ tướng, Nguyễn Phan Long còn kiêm nhiệm cả
bộ Ngoại giao và bộ Nội vụ
|
3. |
Nội các Trần Văn Hữu gồm có:
|
4. |
Tướng cướp Pháp. |
5. |
Cựu tù nhân sau làm Chánh sở An ninh Pháp. Cả hai đều là những tay chọc trời khuấy nước, non sông một chèo. |
6. |
Trong chính phủ thứ hai cùa Trần Văn Hữu, ngoài chức vụ Thủ
tướng, Trần Văn Hữu còn giữ bộ Ngoại giao, bộ Quốc phòng và bộ Nội vụ
|
7. |
Thành phần chính phủ do Nguyễn Văn Tâm Thủ tướng, kiêm bộ Nội
vụ. Hai Phó thủ tướng: Phan Văn Giáo và Ngô Thúc Địch, giữ các bộ Thông tin
và Cựu chiến binh
|
8. |
Thành phần chính phủ Bửu Lộc gồm có:
|
9. |
Thành phần Nội Các gồm có:
|
10. |
Chính phủ thứ hai của Diệm:
|
11. |
Thermopyles: Đường hẻm giữa hai khe núi, hẹp và không có lối thoát ở hai bên, tại Thessalie (Hy Lạp). Nơi đây xảy ra cuộc tử chiến giữa Leonidas, với 300 quân, để chống lại với quân Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả đều bị tử trận. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét