Diễm Phượng 2
Bên nầy phố Lê Thánh Tôn là một hiệu giải khát, bên kia là một
hiệu cơm Tây hạng kha khá.
Đêm nào Hồ và Biển cũng ra ngồi uống cà phê ở cái bàn vỉa hè của hiệu giải khát
nầy, mà họ chọn từ ngày quán Ngân Đình mà họ thích, không còn đủ an ninh nữa. Họ
quyết đóng đô ở đây luôn cho tới ngày thái bình vãn hồi, vì muốn được yên thân
mà cũng vì...
Ngay đêm đầu dời đô tới đây, họ đã chú ý đến một cảnh nầy : Một thiếu phụ lái một
chiếc Dauphine sơn màu kem, chạy đến đậu ngay trước mũi họ, vì bàn mà họ ngồi,
choáng gần hết vỉa hè, đứa nào ngồi đầu bàn vói tay ra là sờ được chiếc xe ấy.
Cùng đi với thiếu phụ là một con sen, nó ngồi một mình ở băng sau. Xe đậu lại
là nó mở cửa ra liền, chạy băng qua phố, vào hiệu cơm Tây bên kia.
Phố nầy là phố một chiều, xe đậu bên kia là đậu bên phải đấy, nhưng vì khách ăn
bên ấy toàn đi xe nhà, nên không còn chỗ đậu, thành thử nàng lợi dụng tánh cách
một chiều của con phố để đậu bên trái vậy.
Năm phút sau, con sen trở ra, tay xách bữa ăn mà nhờ thạo lối xách cơm tây nên
họ đoán được ngay : các món ăn đựng trong dĩa chớ không phải trong gàu mên như
ta, mỗi dĩa đều được đậy bằng một cái dĩa thứ nhì, đậy úp lên trên, thành thử
những dĩa khác chồng lên mà không sợ hỏng món ăn của các dĩa nằm ở dưới; ba món
ăn, xách lối đó, phải tốn sáu cái dĩa; tất cả được gói lại trong một chiếc khăn
vuông lớn, biên chéo khăn được cột lại ở trên, kết thành một quai xách.
Chắc nàng ăn cơm tháng ở đây nên hiệu nó mới phục dịch nhanh chóng đến thế, mà
kẻ ăn cơm tháng phải đích thân đi lấy bữa ăn, có lẽ vì hiệu không nhận giao
hàng tận nhà.
Nàng mặc đầm, khá đẹp và khá trẻ, họ đoán nàng không quá hăm lăm.
- Yêu
không ? Hồ hỏi đùa bạn.
- Yêu ghê lắm.
- Mổ cũng vậy. Nhưng làm thế nào ?
- Ừ, làm thế nào ? Tụi mình giống hai con sâu đất, ban đêm bò lên miệng hang để
nhìn nàng Sao lấp lánh trên trời. Nàng đẹp quá, nhưng...cao quá.
Đi xe nhà và ăn cơm Tây mỗi hôm, nếu không giàu thì cũng là công nhân hạng cao
cấp, chẳng hạn như nữ kỹ sư hoặc nữ giáo sư cử nhơn đổ lên.
Rồi đôi bạn cười xòa với nhau.
Cái đêm đầu ấy, họ ngỡ nàng bận gì, không lo bữa ăn được, nên tạm mua đồ một lần,
nhưng ngồi đó một tuần lễ là họ biết rằng nàng ăn cơm tháng ở đó.
Hai gã nầy hơi si tình thật đó chớ chẳng nói chơi đâu.
Không có hạng gái nào dễ mê bằng những cô mà ta quen mặt mà không quen biết. Ta
tò mò, phỏng đoán về họ và tưởng tượng toàn chuyện thơ mộng không mà thôi, họ
hóa ra dễ mê vì họ tự nhiên được phủ bằng một lớp hào quang mà ta tạo ra cho họ.
Biển yêu cầu :
- Toa làm việc ở Công chánh thì rất dễ biết nàng là ai. Cứ xem bảng số xe rồi
vào hỏi bạn đồng sở ở Ty Kiểm soát ô tô để xin xem sổ, là tức khắc biết tên họ,
lai lịch của nàng.
- Không dại, Hồ nói, cứ để vậy mà tưởng tượng, thú vị hơn nhiều. Tìm biết càng
hay, và chính sự tìm biết, sự khám phá cũng thú lắm, nhưng phải khó khăn kia,
chứ còn xem sổ thì dễ quá, mất cả thi vị đi còn gì.
Biển đồng ý với bạn, và thế là cả hai người mở một chiến dịch sáng tác về đời
nàng.
Biển vốn là tay viết tiểu thuyết tình cảm, phải viết trước chương đầu. Y nói :
"Nàng sống một mình, vì nếu ở với cha mẹ thì không thể như thế được"
- Sao vậy ? Hồ hỏi.
- Cha mẹ nàng năm nay ít tuổi lắm, cũng thuộc hạng 50, mà thế hệ 50 tuổi, xem
việc ăn cơm xách là hư hèn lắm. Họ có tiền mướn con sen, thì họ cũng có tiền mướn
chị bếp, nếu cả nhà đều bận hoặc đều lười nấu ăn.
Bằng như nàng ở với chồng, thì cái khổ dịch đi lấy bữa ăn nầy chính ông chồng
phải đảm trách lấy, thỉnh thoảng hắn bận, nàng phải đi một đôi lần thì còn cho
được đi, chớ sao cứ nàng đi lấy cơm mãi mỗi đêm ?
- Chương đầu khá hữu lý.
- Mà cũng ly kỳ nữa chớ. Có gì ly kỳ bằng một cô gái sống một mình. Nàng hẳn phải
cô đơn, khát yêu, mê ly chưa ?
- Khá mê ly. Để mỏa viết chương thứ nhì cho. Nầy, nàng là nữ công nhân cao cấp
chớ không phải nhà giàu.
- Bằng cớ ?
- Ta đã đồng ý là nàng không còn cha mẹ. Nhà giàu mà mồ côi, hẳn có biệt thự phụ
ấm. Mà có biệt thự phải có anh làm vườn ăn ở tại nhà, có con sen phải nuôi cơm,
thì thà là mướn một chị bếp có tiện hơn không ?
Không ! Nàng không có biệt thự, tức không phải nhà giàu mà mồ côi, nhưng mức sống
cao như thế thì hẳn phải là tay đi làm, lương rất cao.
- Bồ đoán nàng làm gì ?
- Nữ kỹ sư hóa học hãng đường.
- Như vậy thì buồn quá. Một cô nữ kỹ sư, không biết mơ mộng đâu. Cứ cho nàng là
biên tập viên của Trung tâm Văn hóa Nhựt bổn đi.
- Nhựt bổn không có Trung tâm Văn hóa ở đây, họ chỉ có Phòng thân hữu Nhựt Việt,
sau nhà thương Đồn Đất, trong đó có một cô người mình đẹp kinh hồn, nhưng không
phải là cô nầy.
- Vậy thì cứ cho là Trung tâm Văn hóa Đức đi.
- Cũng tạm được.
Thiếu phụ luôn luôn cột đè mái tóc bồng bềnh xuống bằng một sợi ruy-băng, mỗi
đêm mỗi đổi màu, trông trẻ như con gái mười lăm.
Nàng ít khi nhìn vào hiệu giải khát mà hễ mỗi lần nhìn là mỗi lần ngạc nhiên,
vì đêm nào cũng cứ thấy hai cái bảng mặt quen ấy mãi.
- Có lẽ nàng đoán được rằng ta si nàng.
- Cố nhiên. Ai cũng đoán như vậy. Họ làm sao mà đoán được rằng ta ghiền cà phê
đêm, mà ghiền luôn cả không khí quán lều, nhứt là họ đâu có biết rằng ta chỉ
còn chỗ nầy là chỗ độc nhứt được yên thân.
- Nếu nàng đoán thế thì có lợi lắm.
- Ừ, có lợi lắm. Giờ mà ta ra làm quen thì nàng khỏi ngạc nhiên và chịu chơi liền.
- Nhưng đứa nào được hân hạnh ấy ?
- Ừ, đứa nào ?
- Thôi thì oẳn tù tì.
- Nhưng nghĩ lại thì không nên. Rủi ro có thằng được thì có phải thằng kia buồn
hay không ? Chi bằng cứ để cả hai đứa đều được mơ.
- Sao lại chỉ có một thằng được ? Hễ một đứa làm quen được rồi thì tự nhiên cả
hai đều được quen.
- Mổ nói được là được chuyện khác kia. Không lẽ chỉ làm quen suông vậy thôi thì
làm quen chi cho mất công, ta cũng đã quen chán vạn phụ nữ rồi, thêm một cô
cũng chẳng lợi ích gì.
Đêm nào họ tới trễ, người đẹp đã lấy bữa ăn đi rồi, thì họ nghe nhơ nhớ.
Còn đêm nào, nàng không đến, họ lo ghê lắm, và nhứt là viết nhiều chương tiểu
thuyết rất là éo le, gay cấn, áo não, nghẹt thở.
Một cậu đoán rằng nàng đã xuất ngoại. Cậu kia cho rằng nàng bị tai nạn xe cộ. Rồi
cả hai hoảng hốt khi nhớ ra rằng nàng rất có thể được ai đó mời đi ăn cơm ở nơi
khác.
Họ tức sao họ không làm quen với giai nhân vì nếu đã quen, thì có lẽ đêm nay, kẻ
mời nàng ăn cơm là họ.
Thiếu phụ lái xe rất tài, cứ bằng vào lối vô xe và ra xe của nàng, nó ngọt như
đường phèn, thì biết ngay. Lắm đêm, xe đậu chật cả hai bên phố trước hiệu giải
khát chỉ còn một khoảng trống ba thước, vậy mà nàng vô ra ở chỗ trống nhỏ hẹp ấy
dễ như chơi.
Hai con sâu đất phục lăn nàng Sao, nàng lấp lánh bằng sắc đẹp của nàng, bằng mức
sống của nàng, mà nàng có tài vặt lái xe nầy nữa. Thế nên lắm đêm, tủi thân sâu
đất quá, họ không thèm nhìn nàng Sao, làm bộ như ta đây cóc cần bọn con gái
ca-líp đó, chúng nó chỉ được cái ăn no rồi đánh bóng cho hào nhoáng chớ chẳng
làm nên cái tích sự gì.
Tuy nhiên, những đêm như vậy, Hồ rình và bắt chợt Biển lén lén liếc sơ sơ người
ấy và ngược lại Biển cũng thấy bạn y chớp nhoáng chụp hình nàng bằng hai ống ảnh
trời cho hắn.
Hai đứa bắt nhau quả tang rồi cười xòa với nhau.
Biển nói cho đỡ mắc cỡ :
- Tao xem nàng vô xe đó chớ ! Ngọt quá ! Tao thì phải rộng bằng rưỡi chỗ nầy,
tao vô mới lọt, không thôi tao ủi xe trước, tao hất xe sau bằng mông xe của
tao.
- Nhưng tụi mình bây giờ không đứa nào còn xe nữa, thì đừng có nói "xe của
tao".
Suốt ba tháng trường, hai con sâu đất đêm nào cũng ngắm nàng Sao lấp lánh trên
trời, tại miệng hang của họ. Họ lo mùa mưa sắp đến, không ngồi vỉa hè nầy được
nữa, thì nhớ nàng không biết là bao nhiêu. Ngồi ở trong không thú vị gì cả, với
lại ngồi ở trong, xa nàng quá. Ơ đây, họ nghe được cả mùi nước hoa của nàng nữa,
họ nghe được tiếng nói thanh tao của nàng, mỗi lần con sen ở trong tiệm hơi
lâu.
- Sao lâu quá vậy Thẹo ?
- Trời, giọng nàng sao nó hay như giọng ca sĩ vậy kìa !
Đêm ấy, một biến cố xảy ra. Không, một tang thương. Không, một cuộc tận thế xảy
ra.
Chiếc xe Dauphine màu kem, tù từ sà lại trước bàn họ, nhưng người lái xe lại là
một ông Tây già, đầu sói sọi, và họ đoán rằng cái bụng bự lắm.
Vâng, ông lão nầy là Tây chắc chắn như vậy, chớ không phải Huê Kỳ, vì Huê Kỳ ở
đây không có người nào già hết.
Con sen cũng chiếm một mình nó trọn cái băng sau. Nhưng chỗ ngồi thứ nhì, ở
băng trước, cạnh người lái xe là nàng Sao cột tóc bằng ruy băng màu
- À, ra họ là đầm lai, chắc con của lão nầy. Hồ nói bằng một giọng nghẹn ngào
không tin tưởng, bởi nàng mũi cao, nhưng cao theo người Việt Nam, nghĩa là cũng
xệp, mắt đen, không có vẽ gì là đầm lai cả.
- Không, Biển cũng nghẹn ngào cãi lại, nó là con nuôi của lão nầy.
Biển cũng nói gượng bằng một giọng không tin tưởng rồi cả hai nhìn nhau mà cười
xòa.
Rất có thể là tối lại, cả trên giường, nàng cũng gọi ông Tây bằng papa, nhưng gọi
chế diễu ông chồng già chơi vậy thôi, chớ nàng không phải là con nuôi cái khỉ
khô gì hết ráo.
Nàng nhìn vào hiệu giải khát và đây là lần đầu tiên mà nàng mĩm cười với hai
cái bảng mặt si tình, có lẽ thầm nói :"Có vỡ mộng chưa hai bồ ? Xin lỗi
nhé ! Nào có ai muốn thế đâu ! Lão ta lười ghê lắm, nhưng đêm nay không biết
lão ta mắc chứng gì mà lại đâm hứng lái xe lấy ! Dầu sao "thiếp" cũng
cảm ơn hai bồ đã làm cho thiếp sung sướng từ mấy tháng nay, mà được hai chàng
người Việt nhìn thiếu điều rớt con mắt mỗi đêm. Giờ cả đôi bên đều đánh rơi mất
cả mộng rồi, buồn quá hai bồ ơi".
Buồn thật là buồn ! Pho tiểu thuyết ly kỳ, éo le, gay cấn về nàng, Biển viết tiếp
không được nữa, mà Hồ có làm thơ cũng không tròn vận nữa.
Nàng Sao đã rụng một cách không ngoạn mục như vậy, giúp họ hết tủi thân sâu đất
của họ, nhưng họ cũng không trở lại được như trước.
- Mổ muốn khóc bồ ơi, Biển than.
- Si đến thế à ?
- Đâu phải. Mổ muốn khóc, y như mổ đã khóc chan hòa hồi mổ mười hai tuổi, chẳng,
thuở bé, mổ mê truyện cổ tích lắm. Nhưng đến năm mười bốn vào ly xê, ông giáo
sư khoa học của mổ ổng chứng tỏ rằng, tiên là chuyện láo khoét, khiến mổ khóc nức
nở lên, vì mổ nghe mổ vừa mất đi một cái gì. Cái đó là thi vị của bao nhiêu mộng
tuổi thơ của mổ, giờ cũng thế, đây là một sự thật rất đáng giận, mất thi vị của
mỗi người lớn.
- Ừ, hình như là mổ cũng nghe nao nao, nghe tim mình se thắt lại, mổ chối với mổ
là không có, sợ si mê một cô me tây thì xấu hổ quá, nhưng giờ toa phân tách ra,
mổ đã hết mắc cỡ và dám tự thú rằng mổ cũng muốn khóc vì cái chất thơ của cuộc
đời vừa tan như khói.
- Ta đã chết hai lần.
- Ừ, lần vào trung học và lần nầy. Tên sát nhơn lần trước là ông giáo sư khoa học,
tên sát nhơn bây giờ là lão Tây già.
- Không, không phải lão là thủ phạm đâu, tên sát nhơn là sự xuất hiện của Sự Thật.
- Mổ thì từ đây, không tìm biết con gái nữa, cứ nhắm mắt mà mơ họ thôi. Họ sẽ
cứ là những nàng tiên huyền diễm, những vì sao lấp lánh trên trời.
- Ao ảnh muôn năm !
- Và muôn năm bọn con gái giả dối, giả dối bằng lời nói, hoặc bằng cách giấu sự
thật.
Nàng ơi, nàng đừng cho tôi biết gì cả, mà cũng đừng để hớ ra cái gì. Tôi muốn
tôn thờ nàng trong mù quáng và những bức sơn thủy giả như đề co của cải lương rất
cần cho tâm hồn tôi nó tránh được sự đau xót vì cái xấu xa của cuộc đời.
(Nhật báo Tiếng Vang, 1965)
XUÂN ỦY NHIỆM
Mối tình đầu có lẽ là mối tình dại nhứt, sai nhứt, nhưng lại
sâu đậm nhứt. Lòng ta là một tờ giấy trắng tinh, rất dễ lem, mà hễ lấm được một
cái rồi thì cái vết không sao tẩy được.
Tôi 1 rất yêu vợ tôi, không hề lăng nhăng bao giờ,
vậy mà thỉnh thoảng trong những lúc vui buồn nào đó trên đường đời, tôi không
ngăn được mình tưởng nhớ tới nàng, và tôi tưởng tượng ở nơi chơn trời nào đó,
nàng cũng nhìn qua song cửa để hình dung ra bóng dáng của người khoát áo tơi, lầm
lũi đi trong mưa dầm vào cái buổi chiều mà hai chung tôi vĩnh biệt nhau để ai
đi đường nấy.
Mai, nếu đời ngăn chia ngàn lối,
Đừng quên nhé những ngày bên nhau...
............................................................
Lời căn dặn của chàng nhạc sĩ họ Lam cũng bằng thừa, ít lắm là riêng đối với
tôi.
Làm sao mà không nhớ nhau được ! Họ đã chán nhau đâu và tình đôi bạn đang đậm
đà thì biến cố xảy đến thình lình, xô chàng ra một cách tức tưởi.
Chàng chưa đủ điều kiện cưới nàng, mà nàng thì không có lý do để nói với cha mẹ
mà từ chối một đám rất tốt. Đối với các cụ, đừng tưởng cứ nói: "Con không
yêu người ấy đâu" mà được.
Hễ người ấy là người có địa vị, con nhà danh giá, không cụt tay què cẳng là
nàng phải ưng lấy người ta, không thôi các cụ sẽ qui tội là nàng phải lòng
trai, đó là sự thật, nhưng cho dẫu sai sự thật đi nữa các cụ cũng qui tội ấy và
trừng trị cho mà biết tay.
Nhớ nhau ? Người ta lại nguyện nhớ nhau đến trọn kiếp nữa, nguyện ôm ấp mãi mãi
mối tình không nguôi, mối tình muôn thuở và sẽ muôn thuở sống trong lòng người
ta.
Nhưng ai cũng bận sống nên những phút tưởng nhớ đến cố nhân ngắn ngủi lắm, và
nàng với tôi cứ xa nhau lần lần, mãi cho đến khi vợ tôi qua đời rồi mà tôi cũng
không nghĩ đến nàng nhiều hơn trước.
Có lẽ cũng vì tôi thấy là vô ích chăng ? Người ta đã có chồng, mình có vợ, còn
bận bịu làm gì. Giờ vợ mình nó bỏ mình lại bơ vơ, mình có muốn tìm an ủi thì
cũng chỉ tìm được nơi người khác thôi.
Ngày giáp năm vợ tôi, thình lình một người bạn cũ ghé chơi. Anh Ngọc ấy không
hay rằng tôi góa vợ, nên khi bước vào nhà, thấy lễ cúng, anh ta chưng hửng.
Anh chia buồn trễ muộn với tôi, và anh buồn thật sự, bởi anh cũng mến vợ tôi lắm.
Nhưng trưa lại, anh ta vui vẻ một cách không phải lúc, khiến tôi cũng đến khó
chịu.
Giáp năm không phải là mãn tang, tôi có "bất trung" với vợ tôi bao
nhiêu, không khí nhà tôi hôm nay cũng phải là một không khí buồn. Mà không lẽ
anh ấy cười, tôi lại mếu.
Hôm nay không phải là ngày tôi đi la cà, nhưng tối lại, tôi phải dẫn Ngọc ra giải
khát ở tiệm cà phê cạnh nhà.
Ngọc từ Đà lạt về. Anh ta khai thác một sở dâu trên ấy ! Lúc anh ta dùng muỗng
nhỏ quậy đường dưới đáy tách cà phê đậm đen, anh ta đột ngột nói:
- Hình như là toa quên mất Lan rồi.
Tôi giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Cái tên ấy vang dội bên tai tôi lần đầu
tiên từ mười mấy năm lặng tiếng, và vang dội rất sâu xa trong lòng tôi.
Từ thuở giờ, có nghĩ đến nàng, tôi chợt nghĩ thầm mà thôi và không hề được nghe
ai nói đến tiếng "Lan" cả.
- Quên thì cũng không quên, tôi đáp, sau một hồi thẩn thờ. Nhưng mỏa cố mà quên
cho khỏi buồn.
Ngọc vẫn biết mối tình của tôi và Lan, và vẫn biết cả hai chúng tôi đã đau khổ.
Anh ta tiếp:
- Lan cũng đã góa bụa từ ba năm rồi.
Tôi lại giật nẩy mình, nhưng lần nầy tôi không dáo dác nghe ngóng nữa, mà há miệng,
trố mắt nhìn Ngọc trân trối.
- Lan ?
Lâu lắm tôi mới ấp úng hỏi được một tiếng, rồi cà lăm, cà lắp một hơi, tôi mới
thốt ra câu:
- Lan...đã góa chồng ?
- Ừ.
- Và đã mãn tang ?
- Ừ.
- Nhưng hiện giờ Lan ở đâu ?
- Toa khéo hỏi ! Từ năm năm nay, mỏa chỉ sống trên Đàlạt tạo hình còn biết sao
được người nơi khác ?
- Lan làm gì ?
- Lan theo chồng lên trên ấy. Anh ấy là công chức...
- Mỏa biết điều đó.
- Anh ấy chết rồi, nàng ở đó luôn, mở hiệu bazar.
- Toa cho mỏa địa chỉ được không ?
—¯-
Tôi với Lan thư từ qua lại với nhau suốt một năm trường như là bạn trẻ chơi trò
tìm lại tri âm, theo lời rao trong các báo, viết cho nhau, trao gởi niềm tâm sự,
mà không hề biết mặt mũi nhau ra sao.
Hình bóng của gương mặt Lan ngày xưa đã bị xóa phai lần lần nơi trí nhớ của
tôi, tôi rất khó mà hình dung ra nàng. Chắc là nàng cũng thế, với tôi.
Tháng chạp nầy, nàng về Sài Gòn chơi một chuyến và hẹn cho tôi gặp mặt, sau lời
van nài tha thiết của tôi.
Chúng tôi đã viết cho nhau mỗi đứa hăm hai bức thư rồi, cứ nửa tháng một bức, đứa
nầy xin ảnh đứa kia, nhưng không đứa nào thỏa mãn đòi hỏi của đứa nào cả, có lẽ
muốn giành cho nhau một sự ngạc nhiên ?
Trời, hồi hộp ghê ! Ngày xưa chúng tôi đã gặp nhau trong một phiên chợ Tết, và
ngày nay sắp lại gặp nhau cũng trong một đêm chợ Tết, cả hai đứa đều rảnh rang
như hồi còn con trai, con gái.
Tôi đếm từng ngày, y như là trẻ con ở nhà quê trông Tết để được mặc áo mới.
Hình như là nàng cũng thường về Sàigòn nên có vẻ thạo lắm. Nàng hẹn với tôi tại
hiệu ăn Nam Mỹ, đường Lê Thánh Tôn, hồi bảy giờ rưỡi tối.
Thú vị quá, y như là đôi bạn hàm thụ gặp nhau sau một mùa quen nhau bằng thư,
ra ám hiệu để nhận nhau. Nàng cho biết rằng nàng sẽ mặc áo màu vàng nghệ, và sợ
trùng áo với người khác, nàng sẽ để trên bàn một tập Selection.
Từ ngày được nàng ban ân huệ cho gặp mặt đến nay, tôi cứ lo rằng phải thất vọng.
Mười tám năm đã qua rồi, còn gì nữa ! Lắm cô gái, lấy chồng, mới đẻ có một lửa
mà đã già xọm, phương chi là mạng phụ phu nhơn đã mười tám mùa sương tuyết gội
lên đầu nầy.
Nhưng khi được bức thư mang ám hiệu áo màu vàng nghệ, tôi yêu đời ghê đi. Nếu
nàng già, mặc áo vàng nghệ xem hẳn không được, mà nhớ ra thì Lan rất sành ăn mặc.
Các gian hàng quanh chợ Bến Thành làm cho lòng trai trẻ vui rộn lên mà đặc biệt
cũng làm cho lòng ông già, à không, một ông sồn sồn vui rộn lên nữa.
Rằm ! Mười sáu ! Mười chín ! Hăm mốt ! Đưa ông Táo ! Trời sao mà lâu quá ! Đêm
hăm tám tôi mới gặp được cố nhân !
Tôi đã chiêm bao thấy nàng đến năm lần rồi, lần nào nàng cũng thật thật hư hư,
khi ẩn, khi hiện, gương mặt mơ hồ, huyền ảo, không còn biết ra sao nữa.
Chúng tôi yêu nhau năm Lan mười bảy tuổi, tôi mười chín. Mười tám, Lan đi lấy
chồng. Mười tám mùa xuân đã qua rồi, và năm nay Lan băm sáu.
Băm sáu cũng chưa già.
Hăm bốn ! Hăm lăm ! Trời, thời gian bộ trôi sai tốc độ bình thường sao mà !
Hăm tám Tết.
Hôm nay tôi đi thợ cạo để hớt tóc ăn Tết đây, mặc đầu tóc tôi mới hớt có năm
ngày. Tôi phải trẻ mới được. Và tôi rất hài lòng mà nhìn thấy trong gương của
hiệu hớt tóc và gương ở nhà tôi rằng quả tôi trẻ thật.
Trai băm tám mà sao già được. Tôi trẻ, tôi còn muốn trẻ thêm. Ám hiệu nơi tôi,
đối với nàng là một chiếc quần Texa màu thợ máy với lại một chiếc sơ-mi-dét màu
ngà; bên trái có một lằn dọc màu sô-cô-la chạy từ vai xuống tới trôn áo.
Tôi xức nước hoa hiệu Bain de Champagne, điều đó cũng nói rõ trong thư cho nàng
biết, vì đó là dấu hiệu bổ túc để nhận nhau, y như tập Selection của nàng.
-¯—
Tôi đẩy cánh cửa sắt bông của hiệu Nam Mỹ, bước vào trong, đưa mắt nhìn qua một
lượt thì ngã lòng lắm. Nàng sai hẹn chăng ? Nàng quả quyết rằng sẽ đến trước giờ
hẹn mười lăm phút, nhưng hiện không có mặt nàng ở đây.
Có, có một thiếu nữ mặc áo vàng nghệ, đang ngồi một mình, nhưng đó chỉ là một
thiếu nữ trạc mười bảy, mười tám tuổi thôi.
Thiếu nữ cao lớn như người đã trưởng thành, có vẻ nghiêm trang chững chạc lắm,
nhưng gương mặt còn ngây thơ quá, không thể nào mà một bà băm sáu lại hóa trang
giỏi đến hóa ra một cô học trò được.
Sau lưng cô gái áo vàng còn một bàn trống, tôi bước vào đó, định ngồi đợi nàng
xem sao.
Lúc đi ngang qua bàn của thiếu nữ áo vàng, tôi giật nẩy mình. Trên bàn, một tập
Selection cũ đang nằm cạnh chiếc xắc của cô gái.
Cô gái cũng ngước lên nhìn tôi không ngạc nhiên, cô ta đứng dậy lễ phép chào
tôi rồi hỏi:
- Thưa ông, có phải ông là...
- Thanh.
- Con xin chào cậu, và mời cậu ngồi.
Thì ra Lan có con lớn đã gần gả chồng lận. Có lẽ nàng đi đâu đó, để con lại hầu
đón tôi. Tôi lặng lẽ ngồi xuống trước mặt cô bé và cô bé nói:
- Con là Thủy. Má con dặn con đón cậu ở đây.
- Cũng hay, thế má cháu còn bận mua sắm gì chắc ?
- Thưa không. Má con không xuống Sàigòn được.
Tôi rụng rời, cũng gần gần nhất đi, như ngày mà Lan báo tin với tôi rằng nàng
phải đi lấy chồng.
- Sao... cháu nói sao ?
- Dạ, má con không xuống được vì đau chơn.
- Vậy à ? Tiếc quá !
Tôi ngó mong lên trần nhà, không nghe câu hỏi sau đây của cô bé:
- Má con sợ sai hẹn với cậu, nên dạy con đón cậu đêm nay.
Người hầu bàn đưa thực đơn tới dưới mũi tôi và hỏi:
- Xếnh xáng uống gì ?
Tôi giật mình nhìn xuống rồi nói:
- Nước lạnh.
Quả tôi đang cần nước lạnh thật. Tôi nghe cuống họng khô queo và khát nước quá
sức. Cầm thực đơn mà không xem, tôi hỏi Thủy:
- Cháu xuống hồi nào ?
- Dạ, con vẫn ở đây chớ.
- Vậy à ? Sao lại ở đây ?
Thật là ngớ ngẫn, câu hỏi của tôi, khiến người nữ sứ giả bật cười:
- Thưa, con học ở đây. Con học trường Gia Long.
- À, cậu ngốc thật. Cậu cứ ngỡ con cái, luôn luôn phải ở với mẹ.
Thủy mĩm cười nói:
- Con chắc không phải cậu nghĩ như vậy đâu. Chẳng, cậu thường thấy người ta gởi
con lên Đàlạt học, nên...
Tôi xác nhận:
- Đúng như vậy.
Xác nhận xong, tôi chợt thấy mình đang mất hồn. Quả tôi nghĩ như cô bé Thủy nầy
đoán, nhưng lại nói ra khác, vì đãng trí. Thủy tiếp:
- Điều đó quả có như vậy. Trên bực Đại học thì không nói gì, chớ dưới trung học
thì những nhà muốn làm Tây, hay cho các con lên Đàlạt. Trái lại, nhiều gia đình
trên ấy lại tưởng tượng rằng trường học ở Thủ đô hẳn phải giỏi hơn trường học ở
tỉnh, nên cố cho con họ xuống Sàigòn.
Bây giờ, tôi mới nhìn cô gái mặc áo vàng nghệ không hạp với các bà già, nhưng
cũng chẳng hạp với gái thơ, thành thử cô bé Thủy trông đứng người ra như một
thiếu phụ.
Và tôi ngây người khi bốn mắt gặp nhau. Đây là Lan, Lan của mười tám năm về trước,
y hệt như vậy, không khác nét nào cả. Tôi đã quên mất gương mặt cũ của Lan,
nhưng chỉ quên trong ký ức thôi, chớ thấy được mặt nàng, tôi nhận ra ngay tức
khắc.
Mà làm sao thấy được mặt nàng, bởi gương mặt ấy đâu có thể còn được. Vậy mà
còn. Còn vì Lan đã sao y nguyên bản để gởi xuống cho tôi làm tin.
Bị xô ngã thình lình xuống một giòng thời gian đang trôi ngược với một tốc độ
kinh khủng, trong giây phút tôi sống lại trọn vẹn cái năm hạnh phúc nhứt mà
cũng đau buồn nhứt của đời tôi.
Tôi nhìn sững sờ bé Thủy, lòng phấn khởi vô biên, y như vào đêm đầu chúng tôi gặp
nhau, rồi liền đó, tôi nghe lòng quặn thắt vì chợt tỉnh ra rằng đây chỉ là một
bóng ma dĩ vãng thôi.
Thẩn thờ giây lát, tôi thở dài rồi hỏi:
- Má đau chơn làm sao ? Bịnh hay tai nạn ?
- Thưa, má vấp, suýt té, bị trặc chơn, phải đi cà nhắc, nhưng không sao cả.
- Ngoài việc rủi nho nhỏ ấy, má vẫn mạnh chứ ?
- Dạ, cũng không được mạnh lắm, từ ngày ba con qua đời, má con cứ đau yếu luôn.
Má con bây giờ gầy lắm, với lại già lắm.
Tôi cũng như rơi từ cung trăng xuống. Từ nãy giờ biết rằng Thủy chỉ là Thủy
thôi, mẹ nó hẳn phải già hơn, nhưng không sao tôi khỏi có ảo tưởng lẩn lút rằng
tôi đang ngồi với Lan, và đã nghe sung sướng phần nào vì ảo tưởng ấy.
"Má bây giờ gầy lắm và già lắm !" Tôi vụt hiểu ngay, Lan không hề đau
chơn và có lẽ nàng ở Sàigòn cũng nên. Nhưng người xưa của tôi không thích để
cho cố nhân của nàng gặp lại một cô Lan đã già.
Nàng đã nuôi ảo tưởng suốt một năm nay, suốt thời gian hai người thư từ qua lại
với nhau, nhưng đến lúc tôi nài nỉ được cho gặp mặt thì nàng chợt tỉnh, nhớ ra
thực tế và thấy rằng thà để người cũ mơ mãi bóng xưa của nàng, hay hơn là bắt
tôi phải thất vọng. Tôi thất vọng, gặp nhau rồi chia tay nhau, không xin gặp lại
nữa thì nàng sẽ đau biết bao nhiêu !
Đó là ích kỷ của con người, nàng Mai Phi, người ái phi thứ nhì của Đường Minh
Hoàng, sau khi Dương Quý Phi bị hạ sát, nàng đã ích kỷ như vậy, và có lẽ tất cả
đàn bà, đàn ông trên thế gian nầy đều ích kỷ như vậy, họ không sợ người yêu của
họ thất vọng lắm cho bằng sợ chính họ phải tủi thân.
Riêng Lan, nàng đã ích kỷ hơn tất cả mọi người. Chẳng những nàng lánh mặt, nàng
lại còn ủy nhiệm cho một mùa xuân mới, đại diện cho nàng. Mùa xuân nầy còn ngây
thơ quá. Nàng bắt nó mặc áo màu vàng nghệ cho nó đứng người ra để "ai
đó" quên thực tế, ảo tưởng rằng đang ăn cơm với nàng.
Mối tình nơi "ai đó" phải được sống dậy. Ít lắm cũng trong một tiếng
rưỡi đồng hồ, và đêm nay, giờ nầy, ở một nơi kia trong đô thành, Lan có lẽ đang
ngây ngất sống, tưởng tượng ra hạnh phúc của nàng, nhập hồn vào xác của con gái
nàng để nhìn tôi say đắm ngắm nàng qua Thủy.
Quả tôi đã say đắm ngắm Thủy nhiều lần thật rồi đó và tôi nghe sung sướng vô
cùng, trong những phút giây mà tôi quên thực tại.
Hai chén công-xôm-mê nóng đã nguội, đã lạnh, mà chưa ai buồn uống. Thủy nói:
- Má con nhắn lời với cậu rằng má con bận lắm, nên xin từ đây vô phép không gởi
thư cho cậu nữa.
- Để bù lại, má con dặn con thỉnh thoảng đi thăm cậu, nếu cậu cho phép.
Tôi rơm rớm nước mắt. Tôi nghe mình bị bỏ rơi lần thứ nhì, mười tám năm sau
ngày Lan báo tin lấy chồng.
Lần nầy lan mới thật là chết. Tôi không giết nàng trong ký ức mà chính nàng đã
tự tử. Nàng để lại cho tôi một di vật là con bé Thủy nầy. Nhìn nó tôi có thể tạm
quên.
Nhưng trời ơi, càng nhìn nó, tôi càng nhớ, Lan không biết điểm tâm trạng nầy,
hành động sai, thành thử nàng hóa ra kẻ chơi ác.
Lệ của tôi rịn ra nhiều quá, tụ thành giọt. Tôi mắc cỡ, cúi xuống chén
công-xôm-mê, tay cầm muỗng lên, miệng nói:
- Ta ăn thôi chớ.
(Tuần báo Tiền Phong, 1965)
--------------------------------
|
Người kể chuyện cho tác giả nghe. |
KẺ GIẾT CÔ THU
Tôi làm thư ký riêng cho ông chủ hãng Vinapoupa. Anh cũng biết
rằng cái nghề thư ký cũng giống như nghề phóng viên của các anh ở cái điểm có
thể đi chơi cà rều mà chủ nhơn không kiểm soát được.
Hôm ấy ông chủ hãng mà tôi giúp việc sai tôi đi tìm một người thợ chuyên môn về
chất nhựa plastique và cố nhiên tìm được rồi, tôi còn để ra hai ngày để đi rểu
phố, bởi hạng thợ ấy khá hiếm, rất khó tìm, tôi đi cả tuần, chủ nhơn tôi cũng
chẳng nói vào đâu được.
Hãng không đăng báo cần người vì thợ chuyên môn họ có thất nghiệp đâu, phải biết
nơi họ đang làm việc tới đó "dụ khị" họ, mới mong chuộc kép, chuộc
đào được.
Khi tôi cởi xe gắn máy dòng xuống tiệm hủ tíu cá ở đường Nguyễn Công Trứ thì
tôi thấy hơn một trăm thiếu nữ, cô nào cũng đẹp cả, đang chen lấn nhau trước
văn phòng hãng buôn kia, văn phòng nầy chỉ là căn nhà rộng bốn thước thôi.
Tiệm hủ tíu cá danh tiếng sau Hội Trường Diên Hồng chỉ cách đó mấy căn nhà, nên
tôi ngừng xe lại, hỏi một cô đứng trên vỉa hè, gần tôi nhứt :
- Thưa cô, quí cô làm gì mà xung phong hãng nầy dữ tợn như vậy ?
Cô gái ấy mĩm cười héo hon rồi đáp :
- Chúng tôi đi xin chỗ làm. Hãng đăng báo cần một nữ thư ký đánh máy, báo ra
chiều hôm qua, sáng nay chúng tôi đến thì nghe mấy thầy trong ấy cho biết rằng
chiều hôm qua đã có bốn mươi cô tới xin chỗ rồi.
- Hãng bối rối, đề nghị mở cuộc thi và lát nữa đây thì khóa sổ xin thi, nên
chúng tôi phải thúc cùi chõ để nộp đơn kẽo trễ.
- Nhưng sao cô đứng ngoài coi tỉnh táo quá vậy ?
Thiếu nữ lắc đầu nói :
- Anh thử tưởng tượng coi làm sao mà ta giỏi hạng nhứt trong một trăm năm mươi
người được ! Khó ăn lắm. Em chỉ sợ rách áo mà chẳng được gì.
Bấy giờ tôi mới "thấy" người đối thoại với tôi, vì tôi bận tò mò về
trận xung kích nầy nên chỉ nhìn tổng quát vào đám đông mà thôi, miệng hỏi thăm
thiếu nữ mà mắt vẫn xem mấy cô đeo song sắt cửa sổ, kêu gọi bên trong nhận giùm
đơn của các cô, vì cái thầy nhận đơn ở cửa chánh, cũng là cửa sắt khóa lại, thầy
ấy nhận "rùa" quá.
Thiếu nữ nầy có gương mặt đẹp tuyệt trần. Cô ta bé nhỏ quá, bàn chơn, bàn tay
xoàng, cái co cũng không được eo lắm, nhưng gương mặt thì ăn đứt cả các hoa
khôi, hoa hậu nữa.
Là tư chức khiêm tốn, tôi không dám trèo đèo mơ những trang giai nhân tuyệt sắc,
và một cô gái như thế nầy rất vừa với địa vị của tôi.
Cô ta mặc áo rẻ tiền mà còn sợ rách thì hẳn cô ta sẽ không làm tôi sạt nghiệp
vì khoản làm đẹp của cô ta.
Tôi hỏi :
- Cô đã làm qua nơi nào chưa ?
- Em đã có chỗ làm một lần rồi, cũng làm thư ký đánh máy.
- Như vậy có hy vọng lắm. Nhào vô đi !
Thiếu nữa lại lắc đầu :
- Em biết rằng khó ăn lắm. Em đã thấy đồng nghiệp của em năm đó, họ đánh máy
như gió táp mưa sa; sở dĩ em không bị đuổi chỉ nhờ có gởi gắm mà thôi.
- Nhưng rồi sao cô lại thất nghiệp ?
- Vì lẽ riêng.
Tôi đoán rằng con người có vẻ mặt thùy mị, có tác phong đoan trang nầy, con người
không son phấn, không xức nước hoa trong một đám người diện như bà hoàng, tôi
đoán nàng có lẽ tự dưng xin thôi việc vì khó chịu với ông chủ băm lăm, nên
không hỏi gì nữa, vả tôi cũng không có quyền quá tò mò.
Cô gái hỏi tôi :
- Anh làm việc hay buôn bán ?
- Tôi là tư chức.
- Hãng anh có cần người làm hay không ?
- Có, nhưng chỉ cần người chuyên môn, thư ký thì quá dư. Tôi là thư ký riêng
nên giờ nầy mới được ra ngoài, vì...chắc cô biết nỗi khổ của thư ký riêng chớ ?
- Dạ biết.
- Nhưng tại sao các cô cứ muốn làm thư ký mà không nghĩ đến nghề khác ?
- Ai thì sao không rõ, chớ riêng em, em không biết nghề nào khác hết.
- Sao không học ?
- Biết học nghề gì bây giờ ?
- Thợ may chẳng hạn.
- Thợ may cũng dư xài, cũng thất nghiệp, cũng lương thấp y như thư ký thì học
làm gì ?
- Tôi có nhiều sáng kiến lắm, hay tôi mời cô ăn hủ tíu để ta cùng trò chuyện.
Tôi mời mà không hy vọng được nhận, nên tôi ngạc nhiên mà thấy thiếu nữ không
do dự, bước theo liền.
Gọi xong hai tô hủ tíu, tôi hỏi :
- Quên biết đến quí danh. Tôi là Lộ, hãng Vinapoupa.
- Em tên Thu.
- Cô phải nuôi mấy miệng ăn trong gia đình ?
- Em ở với má và hai em nhỏ, anh của em đi quân dịch, binh nhì, nên cũng chẳng
nuôi gia đình được.
Phổ ky đã bưng hủ tíu lại, và chúng tôi phải ăn ngay, kẻo bánh nhão hết.
Khi uống cà phê, tôi hỏi :
- Cô có dạn dĩ không ?
- Dạ, cũng không nhát, cũng chẳng dạn.
- Cứ vài hôm, cô tới hãng tìm tôi một lần được không ? Để có tin gì về chỗ làm,
tôi mách cô. Tôi có quen với một sạp báo, chị ấy muốn sang lại để làm nghề khác
kiếm được nhiều tiền hơn. Sạp đó khá lắm, mỗi ngày kiếm không dưới hai trăm, vì
chị ấy còn bán thêm thuốc lẻ, vé số, với lại chị ấy cho mướn báo, còn lợi hơn
bán nữa.
- Em sẽ đến tìm anh. Nhưng em không thích bán báo.
- Cũng chẳng sao. Rồi sẽ có "tuy dô" khác nữa. Cô có đến thì đến buổi
chiều, lúc tan sở.
- Dạ.
Tôi thật thà lắm, không biết tán gái, mặc dầu hẹn với Thu, tôi chỉ có hậu ý mà
thôi.
Những ngày sau đó, Thu đến, đúng giờ hẹn và chúng tôi ra đi với nhau vài vòng,
tôi chẳng biết nói cái gì cho hay cả, mà tin tức của chỗ làm cũng chẳng có để
mà mách Thu.
Nhưng Thu vẫn bền chí đến tìm tôi đều đều, không tỏ vẻ nản lòng, cũng chẳng bực
mình vì những câu hỏi ngớ ngẫn của tôi. Tôi hỏi :"Cô có biết nấu ăn chăng
?", "Cô có biết vá áo chăng ?", "Sống khiêm tốn cô có chịu
được chăng ?". Thật là chán phèo !
Đôi khi tôi bắt chợt được nụ cười hóm hỉnh của người thiếu nữ thất nghiệp, tôi
chắc một trăm phần trăm rằng nàng đang rủa thầm :"Thằng ngốc, có muốn nói
gì cứ nói, nào ai ăn thịt được mấy thằng tán gái mà sợ. Cứ bắt con người ta tới
mãi cho mất công, rồi không dám mở miệng. Thôi người ta không tới nữa đâu
!".
Nhưng nàng vẫn tới.
Và hôm ấy, tôi dám nói, nói một cách rất là cổ điển :
- Cô Thu ơi, tôi đã nghĩ ra lối giải quyết sinh kế cho cô rồi.
Thu sáng mắt lên, đoán rằng tôi đã tìm được chỗ làm cho nàng. Nàng hỏi lia :
- Làm gì ? Chừng nào đi làm được ? Em sẽ nhớ ơn anh mãi mãi.
- Làm một việc mà tôi e cô không thích.
- Anh cứ nói thử xem.
Tôi nuốt nước bọt mấy cái rồi liều mạng nói ra một câu cụt ngủn, như một anh
con trai đi quân dịch mới tập bắn lần đầu, nhắm mắt lẩy cò đại, trúng trật bất
cần :
- Làm vợ của tôi.
Nói xong tôi muốn thót lên xe mà chạy ngay.
Nhưng lạ quá ! Thu không nổi giận mà cũng chẳng bật cười.
Nàng làm thinh rồi lâu lắm mới nói :
- Anh Lộ nè, lần gặp nhau thứ nhì, em đã thấy anh nói chuyện ăn trợt và đoán biết
hậu ý của anh. Nhưng em cứ đến, vì sao, rồi anh sẽ rõ.
Đề nghị của anh hôm nay làm cho em kinh ngạc ghê lắm. Té ra anh chưa vợ ?
- Cô cứ theo tôi về nhà để kiểm soát. Tôi cũng nuôi mẹ y như cô, và có một đứa
em trai. Tuy nhiên, tôi vẫn đủ sức nuôi vợ và nuôi mẹ vợ.
- Anh yêu em thật tình chớ ?
- Tôi thật không biết nói sao cho cô tin.
- Em cứ ngỡ anh muốn tán tỉnh em mà còn nhút nhát. Nay thì vấn đề đã khác rồi.
Khó khăn hơn nhiều.
- Cô kén chồng lắm hả ?
- Ừ, nhưng người như anh thì được.
- Má cô khó tánh lắm hả ?
- Em không có má mới chết chớ.
- Sao cô nói là...
- Em nói láo. Giờ thì không còn giả dối được nữa.
- Cũng chẳng sao.
- Rất là khó anh à. Liệu ba anh chịu để anh đem một cô gái bá vơ về làm vợ
không ?
- Sao lại bá vơ ?
- Không cha, không mẹ, không căn, không cội là bá vơ chớ còn gì ?
Tôi châu mày, chợt cũng thấy là rất khó, vì ba tôi khó tánh lắm, không thể nào
nhận một cô gái bá vơ vào gia đình.
Thu hỏi :
- Anh có thể xây tổ riêng cho ta được không ?
Tôi thở dài mà rằng :
- Tôi không thể vắng nhà ban đêm, mà ban ngày nữa, cũng phải về. Nhưng tôi dám
thoát ly gia đình. Mặc kệ.
- Thế nghĩa là anh yêu em nhiều lắm. Anh là người tốt, rất tốt. Mối tình của
anh rất chân thật. Như vậy, nếu xảy ra chuyện gì không may, anh có thể tự tử lắm.
Mà nếu anh tự tử, em sẽ
ân hận suốt đời.
- Có gì lại không may ?
- Biết đâu !
- Cô không tự tin, sợ sẽ phụ tôi sau nầy ?
- Không bao giờ.
- Như vậy tôi sẽ liều. Có chết tôi cũng mát dạ.
- Nhưng em sống sót mà dạ lại sẽ bị nung nấu. Thôi nhá !
- Cô Thu, có gì cô cứ nói thật tôi nghe. Nếu cô từ chối hôn nhơn rồi bặt tin
luôn thì tôi sẽ chết chắc chắn vì tôi yêu cô lắm rồi.
- Khổ quá. Coi bộ anh si lắm rồi. Nếu em từ chối rồi cút luôn, anh dám tự tử lắm,
em tin anh bằng lời về chỗ đó. Nhưng nói thật ra, anh sẽ đau khổ.
- Nhưng đau khổ vẫn hơn là tự tử.
Thu gục gặc đầu. Tôi nói thêm :
- Biết đâu đau khổ mà tôi vẫn bỏ qua được và hạnh phúc được với cô. Chẳng hạn nếu
cô là gái bị chồng bỏ...
- Tệ hơn thế. Sỡ dĩ em phải nói thật là vì trong sở anh có một thầy biết em. Thế
nào thầy ấy cũng bép xép.
- Thầy nào ?
- Thầy Quang.
- Như vậy cô càng nên nói thật.
Chúng tôi đi trên một trăm bước trong im lặng, Thu mới dừng bước lại mà rằng :
- Em không phải tên Thu. Em tên Lê Thị Giang, mồ côi cha mẹ năm em học đệ tứ.
Em học đánh máy rồi đi xin chỗ làm một cách phóng mạng. Em được hãng
Vinacotygéna nhận, và một tháng sau em trở thành nhơn tình của ông Đồng, giám đốc
hãng ấy.
Ông ấy làm áp lực và dụ dỗ em bằng tiền.
Chỗ hẹn là phòng ngủ lậu.
Hai tháng đầu, ông ấy ghen ghê lắm, luôn luôn bắt em đến sau ổng, và ra về trước
ổng. Nhưng qua tháng thứ ba, một hôm ổng lại cho em về sau ổng.
Bà chủ nhà cầm em lại, hỏi thăm ổng có ngọt với em hay không, em thú thật là mỗi
tháng ổng cho một ngàn rưỡi với lương một ngàn rưỡi nữa là ba ngàn.
Bà ấy chửi ổng tan nát hết, và nói rằng ổng bóc lột em thì không dại gì mà
trung thành với ổng. Nếu em muốn kiếm tiền, cứ cho bả biết bả sẽ giúp.
Em bất bình bỏ đi ngay, nhưng về sở thì ông giám đốc gọi em vào phòng giấy của ổng
mà cho em hay rằng ổng không cần em nữa, cho em hai tháng lương bồi thường thâm
niên và sự thôi việc. Ổng nói em mới làm có ba bốn tháng mà được bồi thường hai
tháng lương là hậu lắm đó.
Em tức nghẹn, không nói được mà cũng không khóc được.
Sau suy nghĩ nhiều, em mới biết rằng ổng chán em mà không dứt khoát được nên mới
âm mưu với bà kia, để sẽ có dịp bắt quả tang em nhảy dù. Nhưng em không ngã, ổng
phải đuổi em vậy.
Em thất nghiệp hai tháng, hết tiền và quẫn bách quá, đành trở lại bà chủ phòng
ngủ lậu.
Vì thế mà thầy Quang mới biết em.
Ban đầu em ngỡ là anh biết sự thật, muốn cái gì, nên cứ đến. Không dè anh không
như người khác, đề nghị hôn nhơn, em kẹt vì nhơn chứng Quang ấy, đành phải từ
chối, nhưng lại thương anh sợ anh quá si rồi tự tử, nên lại phải tự vạch áo cho
anh xem lưng.
Anh đau nhưng rồi anh sẽ quên em. Lương tâm em sẽ an ổn.
Tôi đã chết lặng từ lâu, từ hơn mười phút đồng hồ rồi.
Tôi chết đứng vì cô Thu vừa bị giết, bị chính cô ta giết chết.
Cả hai chúng tôi đều im lặng rất lâu, rồi tôi mếu máo nói :
- Em.
- Dạ.
- Em dại quá !...
- Vâng, em chưa phải là con quỉ, vì thế nên em mới còn ráng tìm chỗ làm.
- Em dại quá. Cái kẹt của em rất dễ tháo gỡ. Em cứ tìm riêng thầy Quang, lạy thầy
là để em yên, cho em hoàn lương. Thầy ấy coi vậy mà tốt bụng lắm.
Như vậy có phải là anh được hạnh phúc và em có dịp làm lại cuộc đời hay không ?
Tôi nói vừa xong thì Thu ôm mặt khóc òa, lâu lắm nàng mới nói được !
- Em còn ngu lắm. Con gái trong trắng không ra con gái trong trắng, mà lão luyện
trong tình trường cũng chưa lão luyện. Em tự sát thật là vô ích, làm cho anh
đau, không lợi gì cho ai cả. Nhưng đây là bài học mà em đã trả giá rất đắt, trả
bằng một chuyến hụt xe hoa, chắc rồi em sẽ khôn ra được.
Thôi, vĩnh biết anh nhá ! Lần nầy thì vĩnh biệt thật, em bặt tin luôn mà khỏi
lo anh tự tử.
Tôi tần ngần, đứng nhìn theo hai cô gái cứ xa lần, xa lần tôi, một cô Giang,
sát nhơn, và một cái xác của cô Thu, cả hai thất thểu bước đi trên hè phố.
Tôi rất tiếc là cô Giang còn khờ quá. Nếu cô ta đã thành một con hồ ly chánh hiệu
thì cô ta sẽ tàng hình để cho cô Thu tạo hạnh phúc cho tôi.
Vâng, chắc chắc là tôi sẽ được hạnh phúc thật sự với một ả giang hồ mà tôi
không biết dĩ vãng, bởi cô Thu đoan trang với cô Thu bán phấn buôn hương nào có
khác gì nhau đâu.
Hai cô chỉ khác nhau khi nào cô biết sự thật. Nhưng tôi chỉ biết ảo ảnh mà
thôi, thì tôi sẽ được hạnh phúc.
Thì ra giữa sự lành lặn và sự hư hèn, biên giới rất mong manh, cốt là kẻ ấy có
đặt biên giới, và ta đừng vượt biên giới.
Cả hai chúng tôi đều không may, cô Giang bị kẹt thầy Quang và quá non trí,
không đặt biên giới được, còn tôi thì phải vượt biên giới một cách bất đắc dĩ.
Bóng kẻ sát nhân và bóng xác chết đã mất hút trong đám đông hè phố từ lâu rồi
mà tôi cứ còn tần ngần đứng đó, thương xót một thiếu nữ không may, thương tiếc
một người đẹp vừa mất và thương hại cho mình, vừa bắt đầu yêu đã phải chạm trán
với một bề trái không đẹp của cuộc đời.
(Tuần báo Tâm Tình, 1965)
TIẾNG THỜI GIAN
Từ cầu Cổ Cò vào chợ Mỹ Lương, đi đường thủy, mất ít lắm là
ba tiếng đồng hồ chèo xuồng.
Gặp mùa nước đổ, nước trong Đồng Tháp Mười tuông mạnh ra, khiến cho việc chèo
ngược dòng là cả một kỳ công.
Thế mà Thạnh đã ba lần đòi quay trở lại khi xuồng tiến mau trên rạch Ông Mẻ được
hai phần đường rồi. Nếu không có bạn chàng khuyên dứt thì trong cuộc hành hương
hôm đó, họ đã chẳng đến nơi.
Phải, đây là một cuộc hành hương thật sự. Chợ Mỹ Lương là nơi đã nghỉ yên một
đoạn dĩ vãng của họ, nghỉ yên một thời thanh xuân không bao giờ tìm thấy lại nữa.
Họ đã yêu ở đó, đã đau buồn vì vận nước ở đó, và đã phấn khởi làm phận sự ở đó.
Hàng trăm đám lục bình xanh đang chạy đua xuôi dòng rạch Ông Mẻ vàng khè phù sa
khiến họ nhớ đến những đêm năm nào mà họ vượt đồn Cổ Cò bằng cách lội úp theo
những đám lục bình cứu tinh đó.
Sao Thạnh đã gần đến nơi rồi lại còn muốn quay về ? Sự thật thì chàng đã định bỏ
cuộc ngay từ lúc mới xuống xuồng, và càng đi gần tới đích chàng càng lo sợ và
càng muốn thôi không đi nữa.
Cả hai người bạn đều phấn khởi lúc rủ nhau về đây. Mười năm lăn lóc trong cuộc
vật lộn để giành chén cơm, họ thường nghĩ đến cái nơi cất giữ rất nhiều kỷ niệm
của họ.
Và hôm qua đây, nhơn thấy cũng đỡ bê bối tiền bạc phần nào, họ đồng tình về chốn
quê cũ một chuyến, để thăm lại cảnh cũ người xưa, và nhứt là để xem hòn giả sơn
của chú Dầu Ía có còn hay không.
Ở chợ Mỹ Lương chỉ có độc một gia đình Trung Hoa. Chú Dầu Ía, người chủ gia
đình, thích chơi cây cảnh, non bộ. Sau nhà chú, chú có đắp một hòn giả sơn rất
khéo mà Thạnh chưa thấy hòn giả sơn nào đẹp bằng.
Hôm qua đây, cả hai người đều có ý về Mỹ Lương một lượt, và Thạnh hăng hái nhứt,
nói là rất nhớ hòn giả sơn đó.
Nhưng thật ra, chàng chỉ bồn chồn gặp lại người kia. Cái háo hức buổi đầu lại
nguôi lần lần trên đường thôn du nầy, vì một lẽ làm chàng băn khoăn mãi từ lúc
bước chơn xuống xuồng.
Khi họ thấy đằng xa sông Cái Cối chắn ngang con rạch Ông Mẻ, họ nhìn về bên
trái thì chợ Mỹ Lương thoáng hiện xa xa, cheo leo trên doi đất tại ngã ba sông.
Thì ra chợ Mỹ Lương vẫn còn nguyên vẹn, đó là cái chợ thôn dã hiếm hoi không bị
tàn phá lúc chiến tranh.
Nước sông đổ rất mạnh, khiến Thạnh hoảng lắm, chàng mong cho xuồng cứ tiến thật
chậm để lùi lại cho lâu cái lúc đến nơi.
Ngã ba sông Cái Cối.
Chợ Mỹ Lương là kiểu mẫu cổ điển của nhiều chợ xép Tiền Giang. Chợ ngó xuống
sông, và hai bên hông chợ, hai dãy nhà cũng trông xuống bến. Nhưng hai dãy nhà ấy
lại bị dãy nhà sàn đối diện ngăn tầm mắt lại. Con đường mòn hẹp té, nhưng ngay
bon, đi thẳng giữa hai dãy nhà vừa kể trên rồi mất hút trong rặng dừa đằng xa.
Bốn dãy nhà gồm bốn mươi căn, mỗi căn bán một thứ hàng hóa giống hệt ở mọi chợ
khác. Có tiệm hớt tóc, mà những giờ vắng khách, mấy anh thợ ngồi buồn gảy
ghi-ta; một tiệm may, vài tiệm chạp phô, một hiệu trữ dược phẩm Âu Mỹ kiêm bán
sách báo, một hiệu ba da, một hiệu bán chén và đồ gốm v.v...
Họ lên bờ và căn nhà họ tìm trước hết là hiệu thuốc bắc "Tăng-Thọ-Đường".
"Tăng-Thọ-Đường" vẫn vững như một con người được tăng thọ. Tấm bảng
hiệu dựng đứng theo lối Trung Hoa, trên viết lăng nhăng một cột chữ Tàu, đã rạn
nứt vì mưa nắng gió sương, nhưng chữ mạ vàng vẫn còn đọc được.
Nhà có gác, chiếc gác thấp, mái cong cong như mái chùa, và cửa song sơn đỏ, gợi
nhớ hình ảnh nước Tàu ngàn xưa mà người khách trú chủ hiệu thuốc nầy thương mến
nhái lối kiến trúc ấy được phần nào hay phần ấy.
Cả hai đứng lại rất lâu nơi doi đất trước ngã ba sông, bùi ngùi nhìn những mái
nhà đóng rêu, bùi ngùi nhìn chơn trời quen bên kia sông. Cảnh vật như được ướp
lạnh hằng bao thế kỷ, và nay mở tủ lạnh ra, nó vẫn y nguyên như cũ. Chỉ có người
là khác xưa. Anh thợ hớt tóc tiệm Nam Hưng, căn nhà bìa cheo leo trên bờ sông,
trẻ hơn anh thợ ngày trước nhiều. Khách của ông ta cũng trẻ hơn. Cả bọn chơi
măng-đô-lin, và ca tân nhạc, họ tìm trên vách mãi mà không thấy bóng cây đờn
kìm cẩn ốc của bác thợ năm đó.
Mặc dầu lo sợ, Thạnh cũng bươn bả theo bạn sau lúc đứng chiêm nghiệm ở bờ sông.
Hồi hộp lắm ! Nôn nao gặp lại người xưa, mà sợ sự gặp mặt đó, sợ nhưng cứ muốn
gặp gỡ ngay!
Cụp... keng... keng... cụp... keng... keng... Tiếng chày giã thuốc trong chiếc
cối bằng đồng, cứ giã một cái lại nhịp hai cái trên thành cối, tiếng nhạc đều đều
kéo dài từ ngàn đời rồi trong giới dao cầu Trung Hoa ấy, đã nghe rõ khi họ bước
tới trước thềm Tăng-Thọ-Đường.
Người giã thuốc không phải là ông Tăng-Thọ nữa mà là một người trung Hoa còn trẻ,
độ ba mươi. Ông Tăng-Thọ đầu đã bạc phơ, ngồi ngậm một chiếc điếu dài gần bốn
gang tay, mắt lim dim lắng nghe tiếng nhạc chày nện trên cối.
- Ông chủ a ! Mạnh giỏi chớ, ông chủ ?
Tiếng chày bỗng ngưng nện, tiếng chim chắc chè ngưng gáy trong lồng và ông
Tăng-Thọ nhảy nhổm lên. Ông đẩy cặp kiếng trắng lên cái trán hói và láng bóng,
rồi trố mắt nhìn hai người khách lạ đang bước qua ngưỡng cửa.
- Ông thầy còn nhớ anh em tôi không ?
Ông Tăng-Thọ vừa bán thuốc, vừa làm y sĩ, nên họ mới gọi thế. Ông ta cười hề hề
mà rằng:
- Nhớ... Mà quên... a... nhớ ít ít thôi.
- Thằng Ba với thằng Tư, hai con sâu cam thảo đây mà !
- A, nhớ dồi ! Lâu quá, anh em còn mạnh giỏi hơ. A, ngóa mừng quá mà.
Ông Tăng-Thọ mừng rối rít, hối người nhà pha trà, rồi giới thiệu với khách :
- Thằng Hinh, dể của ngóa.
Thì ra, cái người giã thuốc là rể của ông ta. Thạnh thừ người ra, không phải vì
ngạc nhiên, mà vì hơi bần thần trước một chuyện phải xảy ra, đã xảy ra, nhưng
khó tin vì chàng ta mơ hảo.
Phải, cô Chúi Tín (Thủy Tiên) ấy thế nào cũng phải lấy chồng và cũng phải được
lấy chồng. Cô năm nay có lẽ đã gần ba mươi, đẹp người, lại con nhà khá giả thì
không lý do nào cô làm gái già cho đến lúc doi đất nơi chợ nầy sụp lở.
Chàng đã yêu cô Chúi Tín ấy, một cô gái Trung Hoa đã được Việt Nam hóa một trăm
phần trăm, nhưng ông Tăng-Thọ, từ khi vợ chết, cứ nghe cô đơn và muốn chọn rể
người Tàu cho có bạn, thành thử hai người không lấy nhau được.
Mười năm... Không biết bao nhiêu là nước chảy dưới cầu Cổ Cò, không biết bao
nhiêu là nước chảy dưới dãy nhà sàn trước chợ. Trí chàng cho biết rằng Chúi Tín
thế nào cũng đã lấy chồng, nhưng lòng chàng cứ chối rằng sự ấy đã xảy ra.
Mười năm...
Bây giờ chú rể bắt đầu giã thuốc trở lại, cụp... keng... keng... cụp... keng...
keng.... Ông Tăng-Thọ rót trà ra trong những cái chén nhỏ bằng ngón tay cái và
mời khách. Cả ba ngồi trước một cây xi-cú mà làm thinh, để nhớ lại năm nào mà họ
đã núp sau hàng dừa để xem tàu Tây rần rộ chạy qua trước chợ, bắn bậy lên mà
không ghé lại bao giờ.
Thạnh nóng nảy khi nhìn thấy chủ nhà cứ uống trà từng hớp một, hỏi :
- Ông thầy à, còn hòn non bộ ?
- Hà, cố lứ còn nhớ cái hòn non bộ ấy à. Hà, bây giờ tốt lắm, tốt quá !
- Cho xem được không ông thầy ?
- Sao lại khôn lược.
Ông thầy đứng lên, đi ra sau, hai người khách theo ra bén gót.
Hòn giả sơn ấy nằm ở sân trong, giữa nhà trên và nhà bếp, trong một cái hồ cạn
thả bèo và cá lia thia.
Năm, tháng, gió, sương đã đi qua trên đó thêm mười năm nữa nên lớp rêu xanh bây
giờ xanh rậm ri, đẹp không biết chừng nào. Nước cứ theo sơn khê mà đổ xuống hồ,
và lão ngư phủ cứ thả cần câu, bất kể thời gian, trông hệt như ông già ở sông Vị.
Bộ giả sơn đẹp như một câu chuyện cổ tích bị lớp bụi thời gian phủ lên, càng dầy,
càng hay, càng đẹp.
Bỗng tiếng người trẻ thơ lao nhao từ ngoài trước, ông Tăng-Thọ nhìn Thạnh, cười
hề hề nói:
- Con Chúi Tín về đó.
Thạnh quay lại thì một á xẩm già tay bồng tay bế những bốn đứa con vừa bước vào
tới nơi.
Trời ! Chàng kêu thầm lên trong bụng. Chúi Tín không còn là Chúi Tín nữa. Á xẩm
nầy mới ba mươi tuổi mà răng đã bắt đầu rụng, và má hóp một cách dị kỳ. Nàng dơ
không thể tưởng tượng được vì bận với lũ con.
Vừa lúc ấy thì tiếng đồng hồ con ngựa treo nơi vách nhà trên, chậm chạp gõ.
Keng... keng... keng...
Thạnh quặn thắt lòng, nghe như tiếng thời gian đang rụng, rụng từng chiếc một.
Mười năm! Sinh kế đã làm chàng quên tháng ngày trôi. Nay bỗng dưng gặp lại người
cũ với nhan sắc tàn phai, chàng nghe như thình lình thời gian, vốn đang ngừng
chảy, vụt lướt qua một cái vù.
Keng.. keng.. keng...
Từng chiếc, từng chiếc một, thời gian rụng dần, không hối hả, nhưng chắc chắn,
không một thiên tài nào chống lại nổi cả. Thạnh đã sợ cuộc gặp gỡ nầy vì chàng
biết trước rằng cũng với sự rơi rụng của thời gian, sự tàn rụng của mối tình mà
chàng ấp ủ tận đáy lòng, sẽ đau như ai bị tình phụ.
Kang... keng... keng...
Mỗi tiếng chuông đồng hồ, mường tượng như mỗi giọt mưa rơi trúng ngay tim
chàng. Thời gian bị quên lửng, bỗng dưng nổi lên với cả chiều sâu và chiều dài
của nó, minh mông như vũ trụ.
Thạnh quì bên bệ hồ, tay vuốt lên rêu xanh non mởn của bộ giả sơn : thời gian
đã lướt qua đây rồi xây dựng vẻ đẹp nơi đây, nhưng sao khi lướt qua nơi kia, nó
lại tàn phá nhan sắc của người đàn bà ? Chúi Tín ơi, em có biết hay không lòng
anh cũng vừa sụp đổ tơi bời. Mối tình mà anh ngỡ là kiên cố trong tim anh, bỗng
dưng cũng vừa tan nát hết khi thấy mặt em. Anh đã sợ điều đó, vì anh sẽ xấu hổ
với anh không biết bao nhiêu, nhưng sợ mà cũng không tránh được. Bấy lâu nay
anh sống với một giấc mộng, ôm nó mà ngủ mỗi đêm, và mỗi sáng khi choàng thức tỉnh,
anh âu yếm nó để đủ cam đảm mà vật lộn với đời.
Keng... keng...
Giờ đây giấc mộng đã rụng theo tiếng thời gian rồi !
Dưới kia, trong lòng sông Cái Cối, nước Tháp Mười tuông tràn ra, chảy mạnh như
thời gian, và những đám lục bình trôi mau trên mặt nước, không đám nào giống
đám nào hết, càng không giống đám lục bình của mười năm xưa.
(Tuần báo Vui Sống, 1959)
BỨC THƯ CHƯA GỞI
Có nhiều người kinh nghiệm thường bảo rằng hôn nhơn chỉ là một
cuộc xổ số, may rủi khó lường.
Không rõ với thiên hạ thì sao, nhưng nhận xét ấy đúng với trường hợp của tôi lắm.
Tôi gặp chàng do một sự tình cờ. Rồi quen nhau. Nhưng quen nhau, chỉ có thể biết
tánh tình nhau thôi chớ không có nghĩa là biết hết mọi điều : dĩ vãng, dòng họ
của chàng...
Sau trận thế chiến, trong nước ta lại có chiến tranh riêng của ta, khiến nhiều
gia đình ly tán, tàn rụi, và mất gốc.
Chàng thuộc hạng người đó và tôi cũng vậy. Không còn cha mẹ, anh em, họ hàng gì
cả, chúng tôi trôi nổi lên Saigon thì làm sao dọ hỏi về nhau như thời xưa cho
được.
Âu là yêu nhau thì nhắm mắt lấy nhau vậy. Xã hội ta, dầu không muốn, cũng phải
chịu giống các xã hội Âu Mỹ về khía cạnh đó. Bên ấy, trong các thành phố lớn, họ
cũng nhắm mắt lấy nhau như thế chớ một cá nhân bị chìm trong một đô thị tám triệu
người thì còn biết cá nhân ấy thật rõ làm sao cho được.
Tôi có thể đã ba con rồi, giấu đút mướn vú nuôi trong một xóm nhà lá nào, chàng
cũng có thể đã hai ba vợ, một cô ở Bàn Cờ, một cô ở Gia Định, cô thứ ba ở Bàu
Sen, làm sao tôi biết được.
Cái câu :"Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu" cứ ngỡ chỉ
đúng trong thời xửa thời xưa nào, thế mà lại cứ đúng mãi mới kỳ.
Nhưng tôi đã gặp bến trong đấy, các bạn gái ơi ! Mừng giùm tôi nhé.
Tuy không còn bà con họ hàng, nhưng tôi có nhiều bạn, rất đông bạn gái và vài bạn
trai. Tất cả đều đồng thinh bảo là tôi có phước. Mà quả đúng như vậy.
Chàng đẹp trai, lương to, địa vị vững, không rượu chè, cờ bạc gì cả, cho đến đổi
thuốc điếu thơm mà chàng cũng không hút được thì quả là một ông thánh sống, một
con người "lành mạnh xây dựng" nhứt thế gian.
Tôi lại có cảm giác rằng chàng chưa biết đến đàn bà trước khi cưới tôi.
Là trinh nữ, tôi vẫn có xem chiếu bóng, vẫn có đọc tiểu thuyết tình mê ly.
Chàng rất vụng về trong đêm tân hôn, chớ không phải bảnh như mấy vai chánh
trong phim, hoặc trong tiểu thuyết.
Tôi đã thẹn quá, mà chàng lại không biết làm sao, không biết nói gì, không biết
gạt gẫm tôi, thành thử chúng tôi sống "lành mạnh" suốt tuần lễ đầu.
Có buồn cười chưa !
Nhưng chính vì thế mà tôi sung sướng không biết bao nhiêu vì tôi chắc chắn rằng
tôi đã rơi vào một tay trinh nam mà tấm lòng còn trong vắt như tấm lòng của
chính tôi.
Chàng rất nhát gái, bạn của tôi đến chơi chàng không dám tiếp, có bị tôi bắt ép
ra ngồi cầm khách, chàng chỉ ngồi làm cảnh mà thôi, các chị ấy có hỏi gì, chàng
ửng đỏ hai tai lên và trả lời ú ớ những gì không ai nghe rõ gì cả.
Nhưng không vì thế mà lũ bạn gái của tôi chê chàng. Trái lại, chúng nó mê chàng
như điếu đổ, vì chúng nó là một lũ quỉ dịch, một số có kinh nghiệm, một số còn
trong trắng nhưng rất tinh nghịch, mà con gái kinh nghiệm và rắn mắc nào cũng đều
mê con trai thật thà.
Tôi hãnh diện lắm, và sung sướng ghê đi chớ không phải mặc cảm có chồng khờ
đâu. Và tôi ghen quá sá, mệt lắm. Nhưng chính sự ghen tương cũng làm cho tôi
sung sướng hơn lên.
Tôi yêu, tôi quí chàng như ông lão quí vợ bé mươì tám tuổi vậy lận. Sao mà
chàng hiền lành như ông Phật, và chân thật như hòn đất.
Môi chàng chưa hôn cô nào cả nên nó ngọt và thơm như môi trẻ con, và mỗi lần
chàng hôn tôi, tôi nghe rõ ràng tình yêu của chàng như một thứ nước cam lộ nó
chảy vào tôi. Trời ơi sao mà tôi sung sướng đến thế nầy !
Ngoài giờ đi làm, ngoài những chuyến đi công tác ở Hậu Giang và ở miền Trung,
chàng không hề rời tôi nửa bước.
Chiều chiều, chàng đi làm về, tôi đang thổi nấu dưới bếp, mặt lọ lem và má với
lại tóc hôi nước mắm, tanh cá ghê lắm, thế mà chàng chạy a xuống, ẵm tôi lên
hôn trơ hôn trất, bất kể chiếc sơ-mi trắng nõn như áo của chú học trò ngoan, bất
kể nó bị tay bẩn của tôi làm hoen ố.
Có mặt con nhỏ ở, chàng cũng thây kệ, cứ nựng nịu tôi cho thỏa lòng nhớ vợ của
chàng suốt mấy tiếng đồng hồ vắng mặt.
Chàng đi thay đồ trong buồng thì con nhỏ ở cười với tôi :
- Thầy cưng cô quá sá. Không bằng thầy năm mà em ở hồi trước, thẩy chửi vợ tưới
hột sen.
Chàng không có thề non hẹn biển với tôi như những anh chồng đời xưa, vì đời
nay, các cô vợ tinh khôn hơn, có kinh nghiệm hơn, giỏi tâm lý đàn ông hơn, nên
họ không thèm nghe lời thề thốt nào nữa cả mà chỉ quan sát để rồi kết luận về mức
độ của tình cảm của chồng họ đối với họ thôi.
Tôi đã quan sát chàng và tin chắc rằng chàng yêu tôi với tất cả tấm lòng chàng,
một tình yêu không bợn bởi giấc mơ phiêu lưu tình ái ngoại hôn nào cả.
Hạnh phúc của tôi hoàn toàn và đầy đủ quá khiến tôi đâm sợ. Tôi tin dị đoan, vì
người ta thường bảo trong tình vợ chồng phải có cái gì đó không được tròn trịa
lắm chớ nó quá trơn tru thì đó là điểm chẳng lành cho sự bền vững của cuộc sống
chung.
Đôi lần, tôi thỏ thẻ nỗi lo lắng của tôi cho chàng nghe thì chàng phá lên cười
mà rằng :
- Nếu thế thì rất dễ đề phòng. Em hãy để cho anh có mèo, tức là tạo ra gai góc
cho nó hết trơn tru, thế là vợ chồng ta sẽ sống trăm tuổi, bách niên giai lão.
Tôi véo chàng một cái mỗi lần chàng pha trò như vậy rồi chúng tôi cười xòa với
nhau, tôi quên tất cả mọi băn khoăn lo sợ.
Ở với nhau đúng một năm rưởi thì tôi thọ thai.
Trời, phải các bạn mà thấy được cái mức cưng vợ của chàng.
Chàng đã đích thân chà gạch sàn nước mỗi hôm bằng bàn chải sắt, không dám giao
công việc quan trọng ấy cho con nhỏ ở. Chàng sợ gạch trơn tôi trợt chơn mà té
thì nguy.
Tôi nhõng nhẽo ghê lắm và chàng hay nói rằng :
- Ừ, ráng mà nhõng nhẽo đi cưng, để vài tháng nữa, chú bé ấy chú ra, chú dành
nhõng nhẽo hết đa.
Mấy tháng đầu tôi ốm nghén, ăn không được thì chàng cũng bỏ cơm. Thành thử
chính chàng cũng ốm nghén nữa.
Đó là mùa mà chàng phải đi công tác ở miền Trung rất thường và mỗi lần xách va
ly là chàng âu sầu và hôn tôi hằng trăm cái, rồi mỗi bước là mỗi ngập ngừng.
Bé Thành ra đời rồi thì ôi thôi là thích. Hạnh phúc của tôi đã lên cao tột đỉnh
vì bản năng làm mẹ của người đàn bà đã được thỏa mãn mà chồng tôi lại cưng tôi
hơn trước kia nữa, bởi tôi hóa ra là người có công trận lớn, công mang nặng đẻ
đau, cho chàng một đứa con nối dõi.
Nhưng nỗi lo sợ của tôi trước kia lại hóa thành sự thật. Chúng tôi hưởng chung
được ba năm hạnh phúc thần tiên thì một hôm, chàng bị tai nạn xe cộ. Một chiếc
tắc-xi ép xe sì cút tơ của chàng vào lề. Xe ngã, chàng té, đầu bị đập vào đá ba
bê.
Ba hôm hấp hối trên giường bịnh, chàng mê man không trăn trối gì cả. Vả lại, chắc
chàng cũng chẳng có gì dặn dò. Đôi vợ chồng trẻ, chưa sự nghiệp. Bất quá khóc với
nhau mà nói rằng :"Anh sẽ yêu em cả đến khi xuống tới tuyền đài".
Tôi chắc chắn chàng sẽ nói như vậy, chỉ như vậy thôi.
Thế rồi chàng tắt nghỉ, lúc tôi được hăm bốn xuân xanh.
Mồ chàng đã xanh cỏ từ lâu, thế mà tôi vẫn ôm ấp kỷ niệm mến yêu của người chồng
lý tưởng.
Tôi không có thề với tôi rằng sẽ thủ tiết cùng chàng cho đến lúc đầu bạc răng
long, nhưng tôi nghe rằng khó lòng mà yêu người khác được. Tái giá, riêng đối với
tôi là một sự phản bội trắng trợn linh hồn của một người đã yêu tôi tột bực,
không hề phạm một lỗi nhỏ nào trong đạo vợ chồng.
Thỉnh thoảng tôi hay soát đồ đạc của chàng, để tìm lại hình ảnh người quá cố
qua bao kỷ vật ấy, nhứt là tôi hay ngửi y phục của chàng, mớ y phục không dùng
trong cuộc tẩn liệm, để tìm lại mùi riêng biệt rất thân yêu của chàng.
Một hôm, dỡ chồng quần tây để đuổi những con hai đuôi, một bức thư màu lam nhạt,
bỗng lưu ý tôi. Cầm thư lên xem, tôi suýt ngất vì dòng chữ đầu do chính tay
chàng viết :
Em Thúy cưng của anh.
Tôi chết lặng đến mấy phút, nhưng cố trấn tỉnh, cố suy luận thuận lợi cho linh
hồn chàng, vì tôi vẫn chưa tin được rằng đây là bức thơ tình của chính chàng.
Biết đâu, chàng lại chẳng có người bạn có tuồng chữ giống tuồng chữ của chàng.
Thế nên rồi tôi tiếp tục đọc, và mỗi chữ mỗi vận xé lòng tôi.
Em Thúy cưng của anh.
Sai hẹn với em vì chị sửa soạn về quê để bán ruộng thì tới phút chót lại hủy chương
trình, dời lại hai tháng sau.
Dạo nầy, anh chỉ có thể trốn vào giờ làm việc để đến với em thôi, nhưng lại quá
bận nên cũng đành để cho em cô đơn.
Vuốt giận em và xin sẽ tạ tội với em bằng cái món quà mà em cứ ao ước mãi đó.
Nay mai, anh sẽ bịa rằng đi công tác miền Trung trong mười hôm và anh sẽ sống với
em suốt tuần trăng.
Thân yêu
Đức
Thư đề ngày 20 tháng chạp năm 1962 tức vào ngày mà chàng bị tai nạn xe cộ. Đây
là một bức thư chưa kịp gởi, có lẽ viết tại sở, nhưng bận việc, cất vào túi
mang về nhà, hoảng hốt, cố giấu thật kín rồi quên luôn, hoặc tìm chưa ra.
Trời ơi ! Sao lại rủi ro cho chàng và cho tôi đến thế ? Nếu thư đã gởi đi, tôi
nào hay biết rằng trong thành phố nầy đã có một cô gái chia sớt tình yêu của chồng
tôi !
Chàng ơi ! Em không trách chàng đâu ! Em rất hiểu luật sinh lý, và mấy tháng em
thọ thai bé Thành, chàng đã phải nhịn lâu quá.
Có lẽ chàng không hề muốn phản bội em, nhưng chàng đâu có phải là ông già hoặc
thánh nhơn !
Chỉ là sự rủi ro thôi. Không, sự rủi ro mà em nói đây, không phải là mối tình vụn
trộm của chàng mà là sự không gởi thư kịp.
Cái lỗi của chàng, trên thực tế là có thật, nhưng nếu en không bắt gặp thư nầy
thì như là không có. Thành thử, cái gì cũng là ảo ảnh cả, thực là hư, hư là thực.
Chàng ơi ! Ba năm thần tiên ! Nhưng giờ biết ra thì chỉ là hư ảo ! Em đau xót
vô ngần mà không còn tin tưởng vào cái gì nữa cả, kể cả sự thành thực nhứt trần
đời của một người chồng gương mẫu.
Không trách chàng, em tha thứ cho chàng vì ít ra, chàng cũng đã lịch sự mà giấu
khéo quá, giấu nhẹm quá !
Em cũng tha thứ người kia có lẽ vì buổi đầu nàng cũng không biết sự thật, và
khi đã trót yêu anh, nàng đành phải liệu luôn vậy.
Và nhứt là em tha thứ em. Vâng, em là kẻ có lỗi phần nào, chính em đã lên án
gái buồn hương, khiến anh mặc cảm tội lỗi, tránh họ, nên lại phạm tội nặng hơn
là bẻ gãy cuộc đời của một cô gái có thể là ngây thơ trong trắng. Em là nhà đạo
đức tầm ruồng.
Nhưng em tha thứ em vì em đã đền tội rồi, đền tội vì niềm đau nầy đây.
(Nhựt báo Tia Sáng, 1964)
BỨC THƯ ĐẾN TRỄ
Còn độ mười mấy cây số nữa thì tới nơi !
Nhân nghĩ thầm câu đó, rồi thở ra khoan khoái. Chàng nghe như bao nhiêu mệt nhọc
bỗng biến đi đâu cả. Ngước nhìn lên, Nhân thấy những ống khói cao vút của vùng
Bình Đông, Bình Tây nổi bật trên nền trời trong xanh. Vài ống nhả khói dày mịt
và đen thui. Báo trước sự hoạt động của châu thành mà non mười năm nay chàng vắng
mặt.
Nhân sung sướng không phải như người nhà quê lên tỉnh mà vì chàng sắp gặp lại
người vợ mới cưới chưa đầy hai tháng thì đã phải xa nhau.
Thỉnh thoảng chàng được tin nhà. Cả nhà chàng, bên chàng và bên vợ đều về ở
Saigon. Lẽ tự nhiên hôm nay chàng cũng về đó, và sẽ tìm địa chỉ mà chàng biết,
185 phố đại tá G.
Qua khỏi Phú Lâm, Nhân đón tắc-xi và độ nửa giờ sau là đến nơi.
Khỏi tả nỗi vui mừng trong gia đình, vã lại có muốn tả cũng không tài nào tả nổi.
Nhưng Nhân không trọn vui mà lại còn hơi tức : vợ chàng vắng mặt, để lại một bức
nhỏ :
Mình,
Em hay tin mình về hôm nay, nhưng má bịnh nên em phải về trển mấy bữa (Má đã về
Thủ Dầu Một từ hôm nghe lệnh ngưng bắn đến nay).
THÂN YÊU
Mai
Mẹ vợ chàng bịnh vợ chàng về thăm là phải lắm rồi. Nhưng Nhân cứ nghe là mình bị
vợ ít yêu. Chàng có cảm giác là vợ chàng yêu mẹ hơn chồng, nên mới bỏ được cuộc
tái ngộ sau mười năm xa cách.
Nhưng rốt cuộc rồi Nhân cũng tha thứ vợ được, và sốt ruột gặp mặt nàng. Nhân
dông lên Thủ sau ba ngày ở nhà với cha mẹ.
Mai đã khóc khi thấy mặt chồng. Nhân sung sướng quá, và mắt chàng cũng rơm rớm
lệ, chàng sung sướng vì thấy vợ mừng chàng đến chảy nước mắt. Cầm tay vợ chàng
nói :
- Anh vẫn mong có ngày hôm nay, nhưng không hy vọng lắm. Mặc dầu thế, anh vẫn
yêu em và, nếu anh đã chết, anh chết với niềm thương nhớ em.
Mai khóc sướt mướt, úp mặt vào tay chồng mà rằng :
- Nhưng bây giờ cớ sự như vậy, mình sẵn lòng tha thứ em thật chớ ?
- Em nói chi cái tiếng lớn lối đó. Thì má bịnh, em về đây là phải. Còn vợ chồng
ta, sớm muộn gì cũng gặp nhau. Mười năm mà còn đợi nhau được kia mà.
Mai ngồi thẳng lên, trố mắt nhìn chồng, ngạc nhiên đến cực điểm.
Nàng không hiểu gì cả, không thể nào nàng hiểu được.
Nhưng dầu sao, chồng nàng cũng đã đến với nàng theo lời giao ước trong thơ. Thế
nghĩa là chồng nàng đã tha thứ.
Muốn chắc ý, nàng hỏi thêm cho kỹ :
- Còn bức thơ ?
- À, anh đã đọc thơ em nên anh mới đến đây.
Mai nghe nhẹ cả người.
Rồi hai vợ chồng lại hoàn thành thời kỳ trăng mật bỏ dở chừng hồi mười lăm năm
về trước. Mai tỏ ra một người đờn bà yêu chồng và phụng sự chồng một cách châu
đáo.
Nhân thấy mình hoàn toàn hạnh phúc về vấn đề vợ con, và bạn hữu chàng ai cũng
thấy thế.
Rồi vợ chàng lại sanh con và tình thương yêu giữa hai người lại càng đậm đà
thêm.
Lâu lâu, gặp lúc vui, Mai thỏ thẻ với chồng :
- Nhờ anh rộng lượng tha thứ mới có ngày nay.
Nhân bật cười thấy vợ tự ti quá lẽ :
- Vắng nhà để đi thăm mẹ mà cứ sợ có tội với chồng.
Hai vợ chồng cứ hưởng hạnh phúc gia đình như thế được hai năm.
Hôm ấy, Nhân ngồi buồn, dở một quyền sách cũ ra đọc, sách mua hồi tiền chiến, hồi
mới cưới vợ, và vợ chàng đã giữ được đến ngày nay.
Có vật gì cồm cộm dưới trang sách. Nhân lật trang qua thì lạ nầy, một bức thư !
Mà bì thư chưa bốc, trên đó đề tên chàng.
Thư đến hồi nào, và ai để nó trong sách nầy ?
Chàng xem kỹ lại con dấu bưu điện thì ngạc nhiên hết sức. Con dấu Saigon, tháng
chín năm 1954 cách đây già hai năm.
Chàng xé bì thư ra xem :
Bức thư gởi cho chàng viết :
Thủdầumột, ngày...tháng chín năm 1954
Anh,
Hôm qua em hay tin anh hôm nay về tới Saigon. Như thế là em phải ra đi rồi.
Anh còn nhớ chăng, lời giao hẹn khi ta chia tay nhau, nếu em có lỡ điều gì thì
em nên lánh mặt khi anh về, vì đó là giải pháp êm thấm hơn cả.
Anh ơi, một thiếu nữ còn trẻ giữa Saigon, vắng chồng những mười năm ! Em đã lỡ
dại, em đã phạm tội với anh. Vì trung thành với lời giao kết và vì nghĩ mình
không xứng đáng được anh yêu, em mới ra đi.
Em chỉ ra đi mới hôm nay thôi vì từ bấy lâu nay em phải phụng dưỡng cha mẹ anh
mà em thương như cha mẹ của em và cũng vì em muốn ở lại để anh an lòng làm phận
sự.
Anh ôi ! Cái lỡ dại ấy chỉ thoáng qua mấy ngày và do một phút điên cuồng của tuổi
trẻ, nhưng nó đã làm hoen ố cả một đời em. Âu cũng là cái không may của số kiếp
và em ôm hận mà xa anh từ đây.
NGƯỜI VỢ DẠI CỦA ANH
Mai
T.B. : - Em còn thương anh nhiều lắm, thương còn hơn hồi ta mới gặp nhau. Vì thế
em còn chút ít hy vọng được anh tha thứ. Nếu được thế, anh cứ lên đây. Thấy mặt
anh là em hiểu ngay. Và em sẽ về với anh, sẽ cố gắng đền bù tội lỗi.
Tay Nhân run lẩy bẩy, mồ hôi chàng thoát ra dầm dề.
Thì ra vợ chàng đã... và đã thú tội trong một bức thư đến trễ lúc chàng đi Thủ
Dầu Một mà người nhà chàng bỏ trong sách rồi quên luôn.
- Trời ơi ! Nó đã...
Nhân ngồi thừ ra đó, nghe như tất cả vũ trụ đều sụp đổ quanh chàng.
Nhưng người đờn ông đó đã có một quả tim được trui rèn từ lâu, và lý trí chàng
đã lấn áp được tất cả mọi tình cảm lăng nhăng.
Chàng buồn và đau khổ không quá một giờ đồng hồ rồi bắt đầu suy luận :
- Dầu sao, hạnh phúc của mình từ hai năm nay vẫn thật. Và tình yêu của vợ mình
thật hơn cái gì hết.
Nó đã phản bội mình trong giây phút điên cuồng ! Ừ, nhưng mà ai lại không có những
phút yếu đuối, nhứt là khi xác thịt của tuổi hai mươi cứ kêu gào lên ?
Nó đã quên, đã ngỡ mình tha thứ, do một sự hiểu lầm, thì mình còn chọc tỉnh thức
làm chi một câu chuyện không hay cho ai cả ?


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét