Cuống rún chưa lìa 3
Mặc dầu mang một cái tên hào nháng, làng Phú thạnh không phú
và không thạnh chút nào hết.
Không ai còn nhớ làng nầy lập ra đã mấy trăm năm rồi, những người thông minh,
hoặc có óc khoa học có thể suy luận rằng ngày xưa có lẽ nó là một cái ấp của
làng kế cận là một làng trù mật, rồi một họ nào đó trong làng ấy, vì bất mãn với
chính quyền thôn ổ địa phương, chạy chọt để xin tách ra, thà làm đầu gà, hơn là
làm đuôi trâu. Có lẽ họ dẫn theo một số gia đình nghèo khổ của làng chánh để khẩn
hoang nơi đồng khô cỏ cháy nầy. Đất làng là đất gò, mà lại là gò trọc, không
cây cối để giữ phân lại, bao nhiêu lớp đất tốt trên mặt đều trôi xuống làng phì
nhiêu dưới kia. Dân làng vẫn làm ruộng, nhưng năm nào mưa hơi ít một chút là
đói, còn mất mùa là sự kiện thường xuyên xảy ra ở đây từ thuở cố lỉ cổ lai nào ấy.
Làng chỉ có ba nhà ngói mà cả ba đều không phải của dân: công sở, đình và chùa.
Tất cả những nếp nhà khác toàn là nhà tranh nát, lắm nhà không thèm làm vách
làm phên, làm cửa nẻo gì cả bởi họ không có cái gì để mà mất trộm hoặc mất cắp.
Dân làng vẫn làm ruộng, như đã nói trên, nhưng họ chỉ không chết đói nhờ phụ
thu do lâm sản của khu rừng gần đó: họ bứt mây và bán lậu thuế ra những vựa của
những làng trù mật nói trên.
Vị lãnh tụ địa phương của ngày xa xưa đã xui dại họ mở rộng bờ cõi, chắc đã tuyệt
tự rồi, hay còn con cháu mà con cháu hắn cũng mạt rệp như bao nhiêu dân làng vì
hoàn cảnh bất thuận lợi. Thế nghĩa là không còn ai để cầm chân bằng áp lực nào
cả. Vậy mà cái làng nghèo khổ nầy vẫn cứ tồn tại, và dân làng cứ nhẫn nại chịu
đựng nghèo khổ, đói rách, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, mặc dầu thấy mức sống
của làng lân cận, họ không thể không ý thức về cảnh khổ của họ.
Hôm ấy, một chị đàn bà vào rừng bẻ măng hồi tang tảng sáng, hớt hơ hớt hãi chạy
về xóm đầu trong của làng để báo một tin dữ: lúc chị ta đi qua gò Cát, cái
nghĩa địa của làng, thì thấy một nấm mồ đã bị quật đâu hồi nào không rõ, chị ta
sợ quá không dám lại gần, để dòm xuống dưới ấy xem sự thể ra sao.
Những kẻ hiếu kỳ của cái xóm trong ấy, ùn ùn kéo nhau vào gò Cát để xem chuyện
lạ.
Làng nầy không hề thấy chuyện lạ bao giờ. Dân làng nghèo khổ quá, không có tiền
đâu để rượu chè rồi cãi lẫy, sanh đâm chém nhau. Họ bận chạy gạo suốt ngày nên
cũng không ai có thì giờ yêu đương lăng nhăng cho những cuộc đánh ghen có thể xảy
ra. Cho đến đỗi dịch thiên thời thổ tả họ cũng không bao giờ mắc phải, vì họ chỉ
ăn cơm với mắm kho là hai thứ được nấu chín, vi trùng chết hết ráo, và họ uống
ròng nước giếng làng, các giếng nầy sâu quá, nước giếng không làm sao mà nhiễm
độc được cả.
Thật ra bãi tha ma kia không hẳn là một cái gò toàn cát. Đó là một cuộc đất với
cát pha lẫn nhau, không trồng trọt gì được, mà chôn xác thì tốt vì người mình
tin rằng đất xốp ít tác hại tới gỗ hòm và hài cốt.
Đất đen pha với cát trắng mang màu xám tro, được đào từng đống cao xung quanh lỗ
huyệt. Không có gỗ hòm quanh đó, mà cả dưới đáy huyệt cũng trống trơn. Làng khổ,
dân nghèo, họ chôn ông, chôn cha toàn bằng hòm chơn ngang, đóng bằng gỗ dầu là
thứ gỗ tạp, thì làm sao mà còn được sau hằng trăm năm?
Cứ theo trí nhớ của người cao niên nhứt làng, một ông lão bảy mươi, thì trước
khi dân cư tới đây, nơi nầy là hoang địa, nghĩa là không có ngôi mả cũ nào cả.
Đó là trí nhớ theo lời kể của tiền nhơn, chớ làng được lập ra mấy trăm năm rồi.
Cũng cứ theo trí nhớ ấy, thì làng cũng không hề phát quan.
Chín ngôi mộ đá ong và đá xanh là những ngôi mộ đáng kể nhứt trong làng, đều là
mộ của cái họ lãnh tụ đã lập ra làng nầy, họ giàu có duy nhứt ở đây còn thì mộ
đất cả. Mà chín ngôi mộ ấy đều còn nguyên vẹn. Cái giả thuyết kẻ gian manh quật
mồ quan xưa, quật mồ nhà giàu cũ để cướp vàng, không đứng vững được. Đất ở đây
khô cằn cho đến đỗi không có gì để dân làng tranh giành nhau mà sanh thù hận. Họ
đã thương mến nhau từ nhiều đời vì không hề có dịp xung đột quyền lợi với nhau.
Như vậy giả thuyết báo thù cũng không đứng vững nốt.
Hài cốt không thấy đâu. Nhưng nếu xương tàn cốt rụi thành tro và kẻ trả thù muốn
cho đã nư giận, ắt đã hốt tro ấy rải cùng mặt đất, mà tro với cốt dễ phân biệt
với đất, nếu có là thấy ngay, nhưng vẫn không ai tìm được dấu vết nhúm tro, mảnh
xương nào.
Nhà chức trách trong làng đến trưa mới hay sự việc. Họ phái hương quản đến xem
xét để làm phúc bẩm lên quan trên cho lấy lệ, chớ không ai thưa kiện gì ai, bởi
đó là một nấm mồ dường như vô chủ. Có kẻ nhớ rằng mỗi năm, vào ngày hăm ba
tháng chạp, theo tục lệ đia phương, ngôi mả nầy vẫn được dẫy cỏ, thắp nhang,
nhưng không hề thấy tận mắt ai săn sóc nó, họ đoán đó là hành động từ thiện của
một người nhơn đức trong làng, có mộ ông bà ở gần đâu đó, sẵn tay, săn sóc luôn
nấm mồ vô chủ láng giềng của mồ ông cha họ.
Người bình dân ưa bàn tán lâu ngày về những biến cố loại đó. Thế mà làng Phú thạnh
vẫn quên vụ nầy sau ba ngày, vì cái nghèo sát đất đã hủy diệt thói tửu hậu trà
dư. Nhưng năm hôm sau, một vụ y hệt như vậy lại xảy ra nữa, và cũng do một chị
bẻ măng chạy về báo tin. Dân làng Phú thạnh bắt đầu sợ, họ không rõ họ sợ cái
gì, có lẽ sợ chính cái không biết, sợ một hành động nào của kẻ khuất mặt, ma quỉ
hoặc thần thánh gì, để báo trước một tai họa cho cả làng. Nhưng rồi họ cũng
quên được, lâu hơn bận trước thật đó, nghĩa là sau đến năm ngày. Phúc bẩm của hội
tề làng Phú thạnh bị thầy cai tổng dẹp vào một xó, chớ cũng không buồn phúc bẩm
lại với ông chủ quận nữa.
Lần thứ ba, vụ đào mồ khác nổ bùng như một trái bom. Cho đến đỗi thằng Hòn, một
tên cứng đầu và gan lì nhứt làng, không biết sợ ma quỉ, thần thánh gì cả, cũng
phải nổi da gà.
Lần nầy câu chuyện do một chị hái củi phát giác. Gỗ hòm đã mục nát, nhưng còn vết
tích của cái nấp vì nấp hòm ta làm bằng nửa thân cây nguyên, tương đối bền hơn
các tấm ván khác ghép thành chiếc hòm ấy. Nếu nấp hòm còn thì hài cốt cũng phải
còn, ít lắm là xương sọ, xương cốt bàn, các ông già, bà cả bảo thế, nhưng vẫn
không ai tìm được lấy một mảnh xương vụn nào. Cũng cứ là mồ vô chủ, họ tin là
thế, vì không ai thưa kiện gì ai. Lần nầy làng không thèm phúc bẩm lên thầy cai
tổng nữa.
Dân làng đã sợ mất mật. Họ bận chạy gạo nên không ngồi lê đôi mách để bàn tán với
nhau, nhưng không ai quên được. Trong gia đình, họ có dịp nói với nhau, nhưng
ai cũng câm miệng cả vì không dám nói. Người ta có thể rỉ tai nhau để rủa một
chánh thể, chớ không ai bạo gan đá động đến quỉ thần là cái quyền có tai mắt mọi
nơi, cả trong bóng tối, cả trong buồng kín, hàng vạn thám tử của một chế độ độc
tài cũng không bì kịp.
Chớ vụ nầy lại không do kẻ khuất mặt gây ra à? Không có người sống nào trên đời
nầy lại có lý do để hành động vô mục đích như vậy cả. Dân làng họ nín nhưng
không quên. Và vụ quật mả thứ tư lại xảy ra mười ngày sau đó. Vụ nầy giúp họ hết
sợ, nhưng lại khiến họ kinh ngạc vô cùng. Đây là hai nấm mồ bị quật một lượt,
mà có chủ, họ biết rõ điều nầy. Nhưng "chủ mồ" tức là con cháu người
chết lờ đi, đã không thưa kiện ai, cho đến đi vào gò Cát để xem sự tình ra sao,
họ cũng không buồn đi, làm như họ phủ nhận dây liên hệ họ hàng với người dưới mộ.
Hay là chính con cháu của kẻ dưới mộ cũng quá sợ nên làm lơ? Hai ngôi mộ nầy
cũng không cũ quá hai mươi năm và cho đến những cặp vợ chồng mới có một hai con
cũng còn nhớ mang máng gương mặt của ông cụ, bà cụ chôn dưới đó mà thuở còn bé
họ rất mến vì cặp vợ chồng già ấy vui tính lắm. Nếu còn sống thì hai cụ bây giờ
đã chín mươi rồi và đứa cháu đích tôn của hai cụ năm nay đã gần tứ tuần.
Đó là người dân nghèo nhứt của cái làng nghèo nhứt nước nầy. Hắn là con một, và
cha hắn cũng là con một của hai cụ vừa bị quật mồ. Thế nhưng hắn lại đông con
không thể tưởng tượng; những tám đứa, đứa lớn mới mười ba thôi. Gia đình nhà ấy,
buổi sáng nhịn đói, buổi trưa ăn cháo môn, chiều lại mới dám ăn cơm nấu lộn với
khoai, nêm muối.
Người cha làm thợ mộc, nhưng trong làng không ai cất nhà, đóng bàn đóng kệ gì hết
ráo, nên anh ta chỉ còn dùng được có cái cưa để cưa sọ dừa làm gáo múc nước bán
hai xu một cái 1.
Mà sọ dừa cũng không kiếm được, vì đất làng là đất gò, không thể trồng dừa, dân
làng cũng không có tiền để mua dừa làng khác về ăn. Chị vợ theo cái nghề không
vốn, không cần kiến thức chuyên môn, là hốt phân bò trâu ngoài đồng, hoặc trên
con thôn lộ chạy ngang làng, mang về chứa trong hầm, tới mùa lúa mà bán, nhưng
cũng không được bao nhiêu, vì làng không có hơn hai con trâu, bốn con bò. Hai vợ
chồng anh này không có làm gì ác cả, kể cả mấy đời ông cha đều nhơn đúc. Như thế
nếu quỉ thần mà muốn gieo họa cho anh ta thì đó là một sự bất công to lớn mà vô
ích, vì anh ta không thể gặp họa nào nặng hơn cái nghèo của anh ta. Nói xin lỗi
chớ nếu con anh ta mà chúng có cao hứng bỏ nhà đi đâu biệt tích biệt tăm vài đứa
thì là phước lớn cho anh ta vậy, chớ không phải họa đâu. Cái thằng nghèo sát đất
thì không còn trừng phạt nào áp dụng hữu hiệu đối với nó cả, vì cỡ phải lăn ra
mà chết, nó cũng không ngán kia mà !
Làng Phú thạnh nghèo nhưng yên ổn được nhờ chính sự nghèo nàn quá mức của làng.
Nhưng từ đây, làng đã hết yên ổn nữa vì lòng dân xôn xao trước những sự việc kỳ
bí mà họ tin là điềm bất tường hay lời hâm dọa gieo tai nạn của kẻ khuất mặt,
trên số phận của người dân. Hai ngôi mộ nầy bị quật có hai hôm là một ngôi mộ
khác bị quật nữa. Đó là mả của mẹ anh thợ mộc. Cha anh ta ngày xưa đi rừng rồi
mất tích luôn, bị cọp tha hay sa xuống hố không rõ. Anh ta chôn mẹ cách đây
chín năm và nấm mồ nầy thì cho đến lũ con nít cũng biết là mả của ai vì gần cái
mả ấy mọc lên một cây đào lộn hột mà chúng tranh nhau hái trái, qua mùa đào,
chơi giỡn nơi đó và có dịp để nói tới mả của bà nội thằng Kẹo hoài.
Như bao nhiêu lần khác, không ai lượm được mảnh xương nào, và anh thợ làm gáo
cũng không héo lánh đến gò Cát khi cái tin này dội xuống tới làng. Có người tức
mình quá cho anh ta là thằng con bất hiếu, đi tìm anh ta để mắng anh ba tiếng
thì thấy nhà anh đã trống trơn.
Có người bỗng sực nhớ ra rằng hồi khuya, lúc gà gáy chập đầu, họ gặp cả nhà anh
gồng gánh đi đâu đó không rõ, và họ nhớ hình như là nhà anh ấy lớn bé gì cũng
gánh toàn một món là những cái khạp như khạp đường hạ vậy, nghĩa là có nắp bằng
đất nung hẳn hòi nhưng họ gánh đi coi nhẹ hều chớ không nặng như khạp đường.
Lần này thì có kẻ dính líu trực tiếp với vụ quật mồ nên làng phải chạy tờ lên
thầy cai tổng và thầy cai tổng lại phúc bẩm lên ông chủ quận.
Đọc xong tờ phúc bẩm của cai tổng, thầy ký Hội vừa toan để nó vào xấp công văn
trình cho ông chủ quận khán thì bỗng sực nhớ lại điều gì. Thầy mở hộc tủ ra,
bươi giấy tìm một lá đơn, so tên của người đứng đơn và tên của anh thợ mộc bỏ
làng sau khi đào mồ mả ông cha, rồi châu mày.
Đơn như vầy:
"Bầm lạy Quan Lớn đặng rõ.
Nguyên tôi tên là Nguyễn văn Mun, làm nghề thợ mộc, dân đinh của làng Phú thạnh,
tổng Hòa phước, quận... Cúi xin Quan Lớn mở lượng hải hà cho phép tôi lấy cốt
sáu nấm mộ của ông bà và mẹ tô, để tôi mang đi theo xứ khác làm ăn. Bầm lạy
Quan Lớn thương xót, vì tôi nghèo quá nên mới bỏ làng, mà tính từ lâu, không nỡ
bỏ cũng vì mồ ông, mả cha còn đó, đi làm sao cho đành. Nay tôi quyết định chỉ lấy
cốt những ông bà gần gần đây thôi, còn lớp trước xa quá, xin để lại làng, và tổng
số mà tôi xin lấy cốt là sáu cái, cả sáu đều chôn đã lâu rồi không còn độc nữa.
Cúi xin Quan Lớn nhận lời, tôi đội ơn Quan Lớn ngàn năm.\
Kính đơn
Ký tên
NGUYỄN VĂN MUN
Bên lề lá đơn, có viết mấy hàng chữ như sau bằng bút chì, tuồng chữ chính là chữ
của thầy ký Hội:
"Nhớ bắt đương sự phải lo năm đồng mới chuyển đơn lên quan Quận"
Thầy Hội vội nhét lá đơn ấy vào túi áo để phi tang rồi tiếp tục làm việc như
không hề biết bí mật của anh thợ mộc tên Mun.
--------------------------------
|
Giá hồi tiền chiên |
VỀ LÀNG CŨ
Cam giận run lên.
Từ ngày dời nhà ra chợ đến nay, chị Mít đã thay đổi tánh nhiều lắm chớ không
còn là một người vợ chỉ biết phu xướng phụ tùy như hồi họ còn ở trong làng nữa.
Nhưng chị Mít chỉ đâm ra cứng đầu vì bắt chước cái thói nam nữ bình quyền ở đây
vậy thôi chớ chưa hề dám nổi loạn hẳn như hôm nay.
- Sao, mầy nói sao?
Anh Cam xốc tới, mặt hầm hầm, đôi mắt đỏ ngầu như mắt thằng điên, vừa hỏi gặng
vừa cung tay.
Nhưng chi Mít không sợ hãi chút nào. Chị ấy xon xỏn lập lại câu chọc tức của chị
khi nãy:
- Không ai mà cần thèm ai. Con nầy không sợ đói đâu. Chỉ có ai kia mới là bất
tài, không nuôi nổi vợ con thôi.
- Đ m... tao đánh thấy mẹ mầy.
Anh Cam cũng đã nhiễm thói tục ở chợ, thói của mấy anh phu vác gạo, chớ hồi ở
làng anh đâu có chửi thô tục như vậy. Nhưng căn bản hiền lương vẫn còn sót lại
nơi người anh rất nhiều, thế nên vừa xốc tới trước mặt vợ, anh vừa đưa mắt nhìn
quanh để tìm một cái tộ, hoặc một cái chén, tóm lại những thứ đã dòn, dễ bể như
pha lê hay đồ sứ Lái thiêu để mà đập cho hả giận vì anh không thích trút tất cả
cơn thịnh nộ của anh lên người của chị Mít.
Nhưng ở đây là buồng trước, không có món nào khả dĩ làm bia đỡ giận được cả.
Bình hương và bình bông bằng sứ Lái thiêu trên bàn thờ, cỡ ném xuống đất một
cái thì bể dòn lắm, nhưng đó là của thiêng liêng bất khả xâm phạm. Chỉ còn có bốn
bước nữa thì anh Cam tới trước mặt chị Mít. Chị ấy đang nghinh anh một cách
khiêu khích và anh tuyệt vọng vô cùng bởi không vớ được món nào giúp anh xì hơi
giận hết. Cùng thế, anh đá thật mạnh vào... một cây cột nhà.
Cả hai vợ chồng đều rụng rời vì khủng khiếp: cây cột ấy gẫy làm ba, bốn đoạn,
và rơi xuống nền đất kêu lổn cổn.
Cái tiếng kêu ấy đáng lý phải cho họ chợt thấy cái gì khác lạ, nhưng sự việc bất
ngờ quá khiến họ quên mất chi tiết ấy đi.
Chị Mít chỉ khiếp sợ vì thấy chồng mình sao bỗng dưng mạnh gớm. Anh Cam là một
nông dân lực lưỡng, đã có lần dám chụp sừng của một trâu điên để đè đầu nó xuống
và anh đã thắng nó trong mấy phút cho dân làng kịp vây trói, ngăn nó tác hại.
Nhưng dầu sao sức mạnh của anh cũng còn kém sức mạnh của Lý Nguơn Bá một trời một
vực, cớ sao hôm nay thình lình anh ăn gì mà mạnh lên như thần, đá một cái là
gãy một cây cột nhà bằng bê-tông, to bằng bắp vế người lớn?
Vâng, cột nhà này chắc chắn là bằng bê-tông chớ không thể bằng gạch vì nó tròn
chớ không vuông, lại được quét nước vôi lên, trắng toát. Ngày ra chợ làm ăn để
trốn những cơ cực ở thôn quê, thuê nhà này, anh Cam đã ngạc nhiên tự hỏi sao
nhà vách ván, lợp ngói âm dương, nền đất mà họ lại đúc cột bằng bê-tông làm gì
cho tốn tiền?
Chị Mít kinh sợ vì thế, còn anh Cam thì mất hồn vì nghĩ rằng nếu anh đá vợ, có
phải đã gây án mạng hay không? Cột bê-tông to thế kia mà còn chịu không nổi cái
đá của anh thay, huống hồ gì chơn yếu tay mềm của vợ anh! Nếu lãnh cái đá ấy,
chắc chắn chị Mít đã dẹp như một cục đất sét lò chén bị thợ đạp lên để nhồi cho
nó nhuyễn.
Chị Mít đứng chết sững mấy mươi giây rồi vụt bỏ chạy mất, kẻo chồng chị đạp một
cái nữa mà lại nhè đạp lên chị thì bỏ đời.
Anh Cam thì nư giận cũng đã theo cái đá của anh tan rã như cây cột. Anh nhìn kỹ
lại thì kinh ngạc hết sức. Đây là một cây cột rổng lòng, làm bằng những ống dẫn
nước bằng đất nung, do lò gốm địa phương nầy sản xuất. Những ống đó chấp lại,
trét sơ xi-măng ở những mối ráp rồi quét nước vôi lên, thì trông cứ như là bằng
gạch, hay bằng bê-tông gì ấy.
Anh Cam vụt cười khan lên một mình. Nếu biết thì anh đã đá thêm vài đá nữa cho
gẩy thêm vài cây cột, chắc chưa đến đổi sập nhà mà chị Mít đã mất mật và sẽ tởn
tới già không dám ương ngạnh với anh nữa.
Anh ngồi bẹp xuống đất rồi xoa chân, vì mặc dầu bàn chân anh không nát trong cuộc
va chạm mạnh bởi một vật ngỡ cứng như đá, chớ nó cũng không tránh khỏi đau đớn
phần nào.
Anh lại vụt cười khan lên một mình lần nữa: anh nhớ đến những nếp nhà của thợ
đá dưới chân núi Bửu long trên Biên hòa. Nhà họ là nhà tranh vách đất, nhưng cột
làm bằng đá xanh như những cung điện nguy nga Đế thiên Đế thích. Nếu anh chàng
thợ đá nào giận vợ mà đạp vào cột như anh thì bỏ đời.
Cơn vui này bỗng được một buổi nghĩ ngợi lung tung nối tiếp theo.
Thì ra con người sống với hoàn cảnh nhiều quá.
Con cắc kè đổi màu tùy theo chỗ nó nằm. Nếu nơi đó là rong rêu thì nó lấy màu
xanh, còn như nằm trên tảng đá ong, nó lại tự nhuộm màu đỏ. Dân ở chân núi Bửu
long làm cột nhà bằng đá xanh vì đó là vật liệu họ có sẵn bên tay mà cũng chẳng
tốn kém gì. Còn dân xứ Lái thiêu này mà làm cột bằng ống nước nối lại thì cũng
cùng chánh sách "ở đâu theo đó" như con cắc kè hay dân Bửu long, vì
lò gốm ở đây sản xuất ống dẫn nước bằng đất nung rất nhiều.
Anh đã sống với hoàn cảnh của anh gần ba mươi năm rồi. Hoàn cảnh ấy là ruộng,
là rơm, là rạ, là trâu bò, là phân chuồng, là cấy gặt. Có dầm mưa dãi nắng thật
đó, nhưng cứ thong thả mà làm không bị ai hối thúc như ở đây, cực nhọc nhưng lại
nhàn nhã vô cùng, mới nghe thì có lẽ như là mâu thuẫn, nhưng sự thực là thế!
Ở đây, thiên hạ đến gần như là nô lệ của đồng hồ. Không giờ phút nào là không
có ít lắm là một người đưa tay lên nhìn cái mặt tròn tròn nhỏ xíu ấy một cái rồi
hốt hoảng la lên: "Ý chết", đoạn vội vàng xách áo ra đi như chạy giặc
không bằng.
Thêm vào những cái ấy, nhà cửa chật hẹp và không khí nóng bức làm cho trí óc
con người lúc nào cũng như bị đun sôi, dễ bực dọc, dễ đâm cáu kỉnh. Anh Cam làm
ăn không ra làm sao cả lại cứ bị thúc giục, cứ phải bực mình nên đổ quạu một
ngày không biết mấy mươi lần. Chị Mít là con tằm mà trên đầu chị anh đã đổ trút
cả trăm ngàn dâu bực bội, anh chợt ý thức vậy. Sự cứng đầu của vợ anh thật ra
là phản ứng tự nhiên của một kẻ vô tội thường bị "bố" oan, chớ sự
thay tâm đổi tánh của chị cũng không đến nỗi nào, và chính anh cũng thay tâm đổi
tánh kia mà.
"Mình là một người sanh đẻ, lớn lên ở đồng ruộng, anh Cam nghĩ, vợ mình
cũng vậy. Mình phải sống ở đồng ruộng mới xong".
Nghĩ xong, anh đứng dậy chạy u đi một mạch: anh đi mua một ống dẫn nước, mua
xi-măng để xây lại cây cột bê-tông giả hiệu hầu trả nhà lại cho chủ nó.
Cột bê-tông giả hiệu. Danh từ này làm anh mỉm cười lúc anh đang chạy. Vì anh
cũng tự thấy anh cũng là kẻ chợ giả hiệu.
Con cái anh về sau mới thành hẳn kẻ chợ được, chớ vợ chồng anh thì không. Luôn
luôn dân quê ra ở chợ phải bị lạc hướng trọn đời của họ và chỉ có thế hệ sau mới
tự nhuộm được màu chợ, chớ họ không thể đổi màu chớp nhoáng như loài cắc kè vậy
đâu. Dân quê ra chợ là những kẻ tự hy sinh mình, trong cái kiếp của mình, cái
kiếp thương nhớ khôn nguôi chơn trời cũ, cái kiếp chịu đựng hoàn cảnh mới mà họ
theo không được.
Trên chuyến về, chạy ngang qua nhà ông chủ tiệm gạo nơi mà anh Cam làm công,
anh thấy vợ anh đang ngồi bó gối trên một bao gạo chỉ xanh.
Chị Mít vừa thấy mặt chồng thì biến sắc, toan đứng lên để tẩu thoát nữa, nhưng
mà giọng anh Cam sao lại dịu quá như là cam ngọt:
- Má nó ơi, con Quít đâu?
- Nó đi chơi rồi.
- Kêu nó về để mẹ con sửa soạn. Mai sáng, ta về quê.
Chị Mít lại càng hoảng hơn khi nghe sự quyết định bất ngờ của chồng chị. Chị sợ
vì chị tin rằng anh đã hóa điên. Ừ, những người vừa nổi cơn điên thường trở nên
mạnh mẽ vô cùng, năm bảy đàn ông lực lưỡng giữ cũng không được. Anh Cam đã
không vừa đá bể một cây cột bê-tông đó à?
Sợ, nhưng thương chồng, chị không tính chuyện chạy trốn nữa. Chị bước ra đường,
dè dặt để kịp tránh né nếu anh ta lại nổi cơn điên.
- Ba nó nè, chị gọi chồng nho nhỏ, giọng vỗ về.
- Gì?
- Ba nó có sao không ?
- Chỉ trầy sơ bàn chân thôi.
- Không, tôi hỏi ba có nghe trong người bực bội, bứt rứt hay không?
- Có
- Từ bao lâu rồi?
- Từ hai năm nay.
- Vậy hả?
Chị Mít ngơ ngẩn không còn hiểu đâu là đâu nữa. Thì ra không phải anh ta mới bực
bội đây rồi hóa điên.
- Nhưng về làng thiệt hả, ba nó?
- Ừ, về làng.
- Bỏ chỗ làm sao?
- Không tiếc. Ở đây ta cũng chỉ đủ ngày hai bữa. Về làng cũng đến thế thôi.
- Về làng mình?
Chị Mít hỏi mà gương mặt đi vắng, đôi mắt nhìn xa lắm.
Chị lẩm bẩm một mình:
- Về làng, gần ruộng... gần trâu bò... rồi tôi sẽ trồng rau...nuôi heo... nuôi
gà...
- Với lại, gần mồ mả ông bà nữa...
- Ừ, với lại gần xóm giềng, giúp đỡ lẫn nhau, vui không biết bao nhiêu.
- Và ta sẽ lại thấy cây, thấy cỏ, thấy mùa...
- Ừ, ta sẽ thấy mùa... mùa ve kêu... mùa lá rụng... mùa cá hội... mùa đuổi
chim...
NHỮNG ĐỨA CON
THƯƠNG CỦA ĐẤT MẸ
Họ gặp nhau trong mùa nghỉ mát năm ngoái, và hôm trước tết, họ
bàn tính với nhau là hết mùa nghỉ mát năm nay, họ sẽ làm lễ thành hôn với nhau.
Đời bây giờ mà để ra tới những mười hai tháng để tìm hiểu nhau thì quả cặp Tuấn
- Lucie Minh dè dặt có một không hai. Chỉ hơi phiền là hôm lễ Phục sinh hai người
đi hai ngả: Lucie Minh lên Đà lạt, còn Tuấn thì đi Vũng tàu. Tại mỗi người, ai
đều có hứng riêng của nấy, mà không ai có bổn phận phải chiều ý ai trong một việc
không đáng kể như vậy. Vả lại, cả hai, không ai trẻ con cả thì không thể vì thế
mà họ giận nhau. Nói "chỉ phiền" là vì đó là nguồn gốc của sự đoạn
tuyệt của họ về sau nầy.
Hôm ấy Tuấn ra tới Vũng tàu thì đã bốn giờ chiều. Tắm cái đã rồi hẵng hay.
Chàng tắm cho đến năm giờ rưỡi, lên giải khát, xong đâu đó mới đi thuê buồng
khách sạn. Không còn buồng nào cả. Nhưng anh con trai nầy không lo, cứ ăn cơm tối
cái đã "rồi hẵng hay". "Rồi hẵng hay" là câu châm ngôn cửa
miệng của Tuấn, mỗi lần có gì giải quyết không được, chàng dẹp nó lại, làm việc
khác hoặc đi chơi, sau khi nói mấy tiếng ấy, nói to lên, hay nói thầm với mình.
Chàng không lo, không phải chàng có thể ngủ trên bãi cát như bao nhiêu người
khác. Đó là những người ra đây bằng xe nhà, có thể mang theo những tấm bố lớn để
trải ra mà nằm lên đó, chớ chàng thì chàng chỉ có một chiếc va-ly con đựng
mu-xoa, một chiếc sà-roong, bàn chải đánh răng, hai chiếc áo tắm, và cái khăn
bông. Y phục, chàng chỉ có một bộ trên người may bằng vải không nhầu, như vậy
cho nhẹ bưng xách dọc đường. Tuấn không lo vì trong thành phố, ngoài mấy mươi
khách sạn mang bảng hiệu và có đóng thuế môn bài, còn mấy mươi biệt thự của tư
nhơn, của những ông nhà giàu suy sụp, họ biến thành phòng ngủ lậu ngôi biệt thự
của họ, và thế nào chàng cũng sẽ tìm được một buồng, một cách dễ dàng, nhờ bọn
trung gian chuyên môn là mấy anh phu xích-lô.
Quả thật thế, ăn cơm rồi, Tuấn thuê ghế dài mà nằm hóng mát cho tới lúc việc
tiêu hóa gần xong mới thót lên một chiếc xích-lô đạp, nói lên ý muốn của chàng
là anh phu xe "ô-kê" ngay. Mấy anh nầy nhận tiền thưởng phòng ngủ lậu
ở đây, nên họ rất thạo tin tức, biết số buồng trống từng giờ, từng phút. Tuy
nhiên đó là những kẻ nguy hiểm mà mười lăm phút sau Tuấn mới biết. Anh phu xe nầy
đưa chàng tới một nơi rất là bê bối. Đã khuya rồi chàng đành nhận vậy, vả tìm
anh phu xe khác, sợ anh ta còn lưu manh hơn anh nầy thì hóa ra chạy ô mồ mắc ô
mả.
Cái nhà ngủ lậu nầy ắt hẳn cho hoa hồng nhiều lắm và chắc chắn đã có nhiều người
đi nghỉ mát rơi vào cạm bẫy rồi. Đó là một ngôi biệt thự xưa, một trụ cổng
xi-măng đổ nát, rất có vẻ hoang tàn, trụ còn đứng vững mang một tấm bảng nhỏ đề
chữ "Biệt thự Mỹ Phúc". Tuấn chợt nhớ đến cái nhà mát của hội "bảo
vệ luân lý" mà năm xưa chàng leo thang lầu thì cái thang rung rinh mà cả
ngôi nhà cũng rung rinh tuốt. Được cái là "biệt thự Mỹ Phúc" không có
lầu nên chàng an dạ rằng cho tới ngày về Sài gòn, giò và tay, cổ chàng sẽ còn
nguyên vẹn vì khỏi lo nhà sập như cái nhà mát say rượu đằng kia. Ở đây, buồng
người ta lấy trăm rưởi mỗi ngày, kể ra thì rất mắc đối với buồng khách sạn có đủ
mọi tiện nghi mà chỉ phải trả có hai trăm rưởi thôi. Nhưng thôi cũng được. Sự
im lặng hoàn toàn ở đây an ủi Tuấn dữ lắm. Sân rộng có trồng nhãn, các buồng
thì đóng cửa kín mít và không nghe tiếng động, nhà lại chỉ cách bãi biển có hơn
trăm thước thôi. Bồi phòng là một phụ nữ lai căng, cha Phi châu, mẹ Việt nam,
ăn nói văn hoa như tiểu thuyết ba xu, nhưng Tuấn lại nghe hay hay. Không có gì
buồn cười bằng
một người nước da đen huyền, tóc quăn quíu một cách tự nhiên, đôi môi dày như
hai chiếc bánh trôi nước, đôi hàm răng lại trắng như bột, mà nói "Trong
trường hợp có gì làm thầy không được thỏa mãn, xin thầy cứ khiển trách em để em
sửa sai".
Sáng ra, Tuấn dậy rất trưa, sắp sửa đi tắm và ra khỏi buồng chàng thì chàng thấy
rất đông quân nhân Huê kỳ từ nhà nầy đi ra. Sự kiện nầy cắt nghĩa ngay vẻ im
lìm đêm rồi. Tuấn rất biết phong tục của người da trắng, họ rất lịch sự ở những
nhà chung cư, đóng cửa kín mít và nhất là đi đứng, nói năng thật nhẹ, sợ mích
lòng láng giềng.
Thình lình Tuấn nghe xây xẩm mặt mày, rồi chàng choáng váng, lảo đảo muốn ngã.
Chàng vội vã trở vào phòng mình nằm. Tuấn bị chứng áp huyết thấp từ mấy tháng
nay, nên cơn khó nầy không làm chàng hoảng. Chàng sẽ uống thuốc, uống cà phê
đen là khỏi ngay. Tuy nhiên, dầu sao cũng phải nằm cái đã, "rồi hẵng
hay".
Lạ quá, ngôi biệt thự lặng lẽ như chùa Bà Đanh từ hồi đầu hôm tới giờ, bỗng
nhiên hóa thành một cái chợ, và tiếng phụ nữ nói líu lo ngoài hành lang, gọi
nhau, đáp nhau từ buồng này qua buồng khác, khiến Tuấn bực mình quá: đến lúc cần
yên tĩnh để nghỉ ngơi thì thiên hạ họp chợ. Chị bồi phòng da đen bưng vào cho
chàng một bình trà nóng rồi hỏi:
- Thầy uống cà-phê không, em đi mua cho?
- Đáng lý thì không, tôi sắp sửa đi uống ở ngoài, rồi tắm luôn thể, nhưng giờ,
vì một lẽ riêng, tôi lại cần cà-phê đen. Vậy chị mua giùm tôi năm đồng. Đây, lấy
mười đồng đây rồi cất luôn tiền lẻ mà ăn bánh.
Tuấn uống thuốc với nước trà nóng, và nằm nghỉ nên năm phút sau thì nghe đỡ. Chị
bồi phòng cũng vừa về tới nơi, và ly cà phê đậm nầy sẽ làm cho áp huyết của
chàng lên tới mực thường. Chàng khoan khoái ngồi dậy rồi hỏi:
- Ai mà làm ồn như vỡ chợ vậy chị?
- À, mấy cô!
- Mấy cô nào?
- Mấy cô vợ Huê kỳ ấy.
- Có tất cả tới bao nhiêu cô lận?
- Nhà nầy ngăn ra làm mười bốn buồng, mà có tới chín ông Huê kỳ có vợ, mướn
tháng.
- Hèn chi! Họ mướn tháng có cao giá lắm không?
- Hai ngàn rưởi.
- Thôi, cám ơn chị, tôi không còn cần gì nữa cả.
Uống hết ly cà-phê, Tuấn ngồi một hơi thì nghe trong người trở lại bình thường.
Nhưng chàng lại bực mình hơn. Khi nãy, đi qua các phòng đóng cửa, chàng nghe từ
phòng nào cũng vẳng ra tiếng dạy bài học Anh ngữ đọc chậm, của máy thu thanh.
Nhưng giờ thì cả chín cái máy thu thanh ấy đều thi đua hét to lên bài ca Vọng cổ
trào lộng do nghệ sĩ Văn Hường ca. Tuấn vốn không ưa Vọng cổ vì điệu nhạc ấy buồn
thảm quá, mà nhạc buồn lại ca bằng lời giễu cợt thì nó chói tai chàng không biết
bao nhiêu. Nhứt là vì các chủ máy thu thanh lại mở hết cường độ, và có lẽ đã mở
hết cửa buồng ra, nên nó ồn như chợ Cầu ông lãnh.
Để trốn không khí điên loạn nầy,chàng quyết định đi tắm. Khi Tuấn ra tới đầu
hành lang thì một cảnh tượng bắt chàng dừng chơn lại: Chín cô me Huê kỳ đang
xúm xít ăn chả giò với lại ăn bánh xèo điểm tâm mà hai chị hàng rong gánh vào
nhà lúc nào chàng không hay. Các cô ăn chả giò, cô nào cũng ngốn rau xọp và rau
chiết, độn no hai má, y như là loài khỉ, còn các cô ăn bánh xèo thì chảy nước mắt
sống với lại le lưỡi vì nước mắm chanh làm riêng để ăn bánh xèo rất cay, cay
như cà-ry Ấn độ chứ không phải vừa. Tuấn bật cười, đứng nhìn các me ăn rồi hỏi:
- Có ngon không quí cô?
Không có me nào đẹp cả. Nhưng tất cả đều thạo ma-ky-dê, thạo ăn mặc, nên trông
cũng dễ coi. Họ cười đáp:
- Ngon ghê đi. Mời thầy ăn thử.
- Cám ơn quí cô. Nhưng sao quí cô không ăn với các ổng?
- Úy mẹ ơi, ai mà ăn với tụi "nó" cho được. Nó ăn sáng tợn lắm, ăn
nhiều nhứt trong các bữa ăn trong ngày, mà chỉ ăn toàn đồ hộp thôi, tụi tui nuốt
hổng vô.
- Té ra vợ chồng ăn riêng với nhau?
- Chỉ riêng có bữa sáng nầy và bữa trưa thôi.
- Trưa cũng ăn riêng?
- Ừ, trưa tụi "nó" không về, tụi tôi ăn cơm tháng của chị bồi đen.
Từ nãy giờ, nhiều cô thay phiên nhau mà đáp các câu hỏi của Tuấn, nhưng cô nào
cũng gọi chồng bằng "nó" cả.
- Còn buổi tối? Tuấn hỏi.
- Buổi tối thì tụi nầy buộc lòng phải ăn chung với tụi nó, nhưng cũng nuốt
không vô, nên tụi nầy nhõng nhẽo đòi đi ăn tiệm ở ngoài. Đồ tây ở các hiệu ăn
thì tạm nuốt được.
Tuấn mặc áo tắm. Vì nhà gần bãi nên chàng ăn mặc như vậy để khỏi mất công thay,
không đoán trước được rằng phải ghé lại để nói chuyện với phụ nữ. Nếu như ở
ngoài bãi thì không có gì đáng nói, nhưng ở đây, ăn mặc như vậy trước những người
đàn bà áo quần kín đáo thì vô lễ lắm. Thoạt tiên, chàng rất ngượng, nhưng vì
chàng khinh rẻ me Huê kỳ cũng như đã khinh rẻ me Tây trước đây, nên rồi chàng dễ
chịu được như thường. Cả chín cô đều vui vẻ và đều thích nói chuyện với chàng,
nên chàng lại hỏi:
- Cả ngày quí cô làm gì? Có buồn lắm không?
- Buồn bỏ mẹ! Đánh tứ sắc để giết thì giờ, nhưng đánh hoài cũng phát ngấy lên.
- Như vậy, chắc quí cô mong đợi các ổng từng giây, từng phút?
- Đâu có, bồ! Cái cô tương đối đẹp hơn hết trong bọn đáp như vậy. Lũ nó về, tụi
nầy còn khổ hơn.
- Chàng về thì chàng cưng mà lại khổ, bồ nói khó tin quá! Không yêu chàng à?
- Bồ không biết, chớ khổ bỏ mẹ đi. Có lũ nó thì sáng với lại tối phải học
Ăng-lê đọc chậm...
- Thì phải học mới tâm tình với nhau được chớ!
- Đâu có cần. Tụi nầy chỉ biết bốn tiếng là đủ sức làm ăn.
- Bốn tiếng nào?
- Tiếng Yết, tiếng Nô, và hai tiếng Đô-la, Ô-kê.
- Đô-la Ô-kê là gì?
- Là lu bù thứ. Chẳng hạn: anh có tiền không? Và chẳng hạn: anh cho em tiền được
chớ? Bồ dư biết rằng muốn theo các bài đọc Anh ngữ đọc chậm, phải có căn bản tới
mức nào đó, chớ tụi nầy mít đặc, làm sao theo được.
- Hình như là bồ chưa kể hết mọi nỗi khổ?
Họ xưng hô với chàng bằng "bồ", Tuấn không buồn thay đổi, và ăn nói
theo họ để gây tín nhiệm hầu được họ tâm sự nhiều.
- Ừ, chưa hề. Còn cái nạn đóng cửa nữa. Mình quen ở nhà tranh, nhà lá vách vỉ
tre đan, trống trơn rất dễ thở, chúng nó giữ mình trong buồng kín mít, mình sẽ
chín như trái cây mất. Mà bồ đừng tưởng là lũ chúng nó ghen, sợ bồ thấy dung
nhan cá đắm nhạn sa của tụi tui. Không, tại phong tục của lũ nó như vậy. Lũ nó
bảo rằng để cho người ta thấy cảnh sống thân mật của mình là vô lễ mà rủi ro thấy
cảnh sống thân mật của ai cũng vô lễ nữa. Bồ có nhớ hay không rằng hồi hôm, bồ
tới, quên đóng cửa buồng lại, thằng chồng của con Cúc nó phải đi ngang qua buồng
của bồ, nhưng không dám đi, phải đánh một vòng thật lớn để tránh cái cửa mở của
bồ.
Quả Tuấn nhớ có nghe tiếng giầy đi tới gần cửa buồng chàng rồi dừng lại, do dự
vài giây, đoạn thối lui.
- Ừ, tục đó thì tôi biết. Mà đó là nếp tốt của họ, bồ rán mà theo.
- Ai thèm rán mà theo. Cứ mở banh cửa ra có phải dễ chiu hơn không.
- Còn nỗi khổ nào?
- Lu bù, nói sao cho hết. Khổ nhất là nhạc, phải nghe nhạc của lũ đó. Tụi nầy
chỉ mê Vọng cổ của đài Sài gòn thôi, còn lũ nó thì vặn bắt nhạc trời đánh của
đài nào không rõ, điếc tai, nhức óc quá trời. Lũ nó ngu ngốc lắm. Sắm ra-dô thì
sắm thứ lớn, nhưng mở nghe nhạc thì mở thật nhỏ, làm như là sợ láng giềng nghe
trộm hết nhạc của lũ nó.
Tuấn bật cười, rồi cười ha hả rất dài. Thì ra bọn nầy trả thù đây: ăn bánh xèo
với nước mắm chanh ớt để trả thù thịt đóng hộp, mở bét cửa ra để trả thù tục bế
môn,và cho ra-dô hét to bản Vọng cổ để trả thù sự thầm thì của nhạc đài. Một
cô, nãy giờ rất ít nói, không đẹp, nhưng có cái gì đặc biệt vô cùng, rất khó tả
ra, bây giờ mới mở lời:
- Thầy có xem cái phim gì mà câu chuyện xảy ra ở Ấn độ trong có động đất dữ dội,
có nước lụt, có săn cọp hay không?
- Có, đó là phim "Gió Mùa".
- Trong đó, một kép Huê kỳ hỏi một kép Huê kỳ khác, khi họ nghe một giàn nhạc Ấn
độ đại tấu:
- Nhạc gì mà kỳ lạ như vậy?
- Ừ, anh phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc của họ. Ấy, tụi
em cũng vậy, chắc phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc Huê kỳ.
Cơn cười của Tuấn, vốn tiếp tục với một độ thấp hơn, trong câu chuyện của cô nầy,
vụt tắt hẳn. Chàng chợt nhớ tới Lucie Minh rồi giật mình, sợ hãi. Những cô me
Huê kỳ mà chàng khinh rẻ, nghĩ ra, gần gũi với chàng không biết bao nhiêu.
Chàng tìm một tâm hồn bậu bạn, và dĩ nhiên tâm hồn ấy phải là tâm hồn Việt nam.
Những cô me Huê kỳ nầy nguyên trước kia là những cô gái cắt cỏ, những cô thợ cấy,
thợ gặt, những cô gánh nước thuê, nên trí và lòng họ hoàn toàn bưng bít với những
gì ở ngoài vào, và có ăn ở với những ông Huê kỳ hai mươi năm nữa, chắc họ cũng
không chịu được nhạc Jazz. Họ là người Việt nam một trăm phần trăm, trước kia,
bây giờ, và mười năm nữa. Lucie thì khác hẳn. Lucie đã bị Âu hóa đậm quá đi rồi.
Nàng không ngửi được Vọng cổ mà chỉ mê những điệu Blues, điệu Rock mà thôi.
Ngày xưa, ở Hà nội có một nhà trí thức đi tây học từ thuở lên mười. Ông ấy đỗ đạt
rất cao, và thấm nhuần văn hóa Tây phương cho đến đỗi khi nghe ai đọc lên tên
chàng Ulysse, ông ta rung động sâu xa và cả một quá khứ Hy lạp, La mã, vụt sống
dậy trước mắt ông ta, trong khi đó thì ông ta hoàn toàn dửng dưng khi nghe ai
ngâm:
Bến Tầm dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu...
Văn hóa ảnh hưởng đến con người nhiều quá, nhiều hơn là cuộc sống chung lâu năm
chầy tháng nữa. Lucie quả là một con người "Cốt-mô-pô-líc", không ngạc
nhiên trước món ăn ngoại quốc nào, trước loại nhạc Âu Tây nào, trước phép lịch
sự quốc tế nào cả, chỉ nhờ nàng đã học nhiều quá. Học nhiều quá rất lợi cho người
học, mà có thể cho nước nhà của người học nữa, nhưng y khó lòng mà còn nguyên vẹn
là y.
Trước đây Tuấn thích Lucie ghê lấm vì Lucie biết thưởng thức bản "Nhạc buồn"
của Chopin y như chàng, chàng quên mất rằng chính vì chàng bị Âu hóa nên chàng
rất cần một người bạn đời có tâm hồn Việt nam để bù qua, cấn lại, giữ thế quân
bình cho con cái chàng đỡ mất gốc phần nào.
Tuấn nhìn lại cô me Huê kỳ vừa nhắc đến phim "Mousson" với điệu nhạc Ấn
độ phải nghe năm trăm năm mới hiểu. Chắc chắn nàng là một cô thợ gặt ở Cần thơ
hay Sa đéc gì đó; cách đây mười năm, trôi giạt lên Sài gòn, làm sến năm năm rồi
thì giờ làm me Huê kỳ. Mười năm chung đụng với văn minh, nàng chỉ thu nhận được
có hai món: tóc phi-dê và đôi giày cao gót. Chỉ vì, chỉ nhờ nàng thiếu học
chăng? Làm thế nào mà cô me Huê kỳ nầy cảm được văn minh Đia trung hải, cũng
như làm thế nào mà Lucie cảm được tứ đức, tam tòng?
"Một cô giáo làng ở một thôn hẻo lánh tỉnh Vĩnh bình có lẽ hợp với mình
hơn là Lucie. Cô giáo ấy không dốt như cô thợ gặt me Huê kỳ nầy, nhưng, y như
cô nầy, cô ấy là đứa con thương của đất mẹ, giống hệt mẹ cô, mà đó là người bạn
mà mình tìm kiếm". Kể từ cái giây phút nầy đây, Tuấn hết khinh rẻ các cô
me Tây, các cô me Huê kỳ, họ tuy lăng nhăng thế mà họ vẫn cứ còn là người Việt
nam một trăm phần trăm, khác hẳn với các cô nữ sinh thơm phức mà lại thấm nhuần
văn minh Địa trung hải, mà lại rung động sâu xa khi đọc Illyade và Odyssée.
Chàng mỉm cười hỏi:
- Nếu có ông Huê kỳ nào cưới cô nào trong quí cô để đưa về bên ấy, các cô làm
thế nào mà quen được với...
- À không, tụi em chỉ làm vợ tháng các ổng mà thôi rồi về sau thế nào cũng lấy
chồng Việt nam chớ, nếu còn có người Việt nam chịu lấy tụi em làm vợ.
Rồi các cô cười xòa, tỏ vẻ không tin rằng có người Việt nam nào chịu lấy họ,
nhưng họ vẫn hy vọng và phát lộ lòng hy vọng của họ ra bằng trận cười yêu đời ấy.
Trong giây phút Tuấn nghe mình rất muốn hôn một cô, bất kỳ cô nào trong đám me
đó. Cái hôn ấy, nhứt định không do tình yêu, cũng không do nhục dục, mà là cái
hôn thương mến của một người mẹ hôn con, những đứa con tuy dốt nát mà không
vong gia, vong bổn.
Sau mùa nghỉ hè, Tuấn lại đến với Lucie. Lucie ngỡ Tuấn trẻ con, giận nàng vì
cái việc anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Nhưng nàng rất ngạc nhiên mà thấy
Tuấn vui vẻ với nàng như trước, mỗi lần hai người gặp nhau. Và nàng càng ngạc
nhiên hơn nữa, là thế mà Tuấn lại cứ lờ đi, mỗi lần nàng đá động đến hôn lễ. Thật
là mâu thuẫn. Tuấn vẫn nể nàng, nịnh nàng, chiều chuộng nàng không kém trước
chút nào. Nàng có biết đâu rằng Tuấn xem nàng là một người bạn tâm đầu ý hiệp,
một nhơn tình lý tưởng, nhưng không thể là một người vợ đủ khả năng thực hiện ý
chí ký thác truyền thống dân tộc lại cho con cái của chàng.
HƯƠNG HÀNH KHO
Hồi bốn giờ rưỡi, bà Vĩnh Xương nói lớn lên nỗi lo lắng của
bà:
- Hay là họ tìm nhà mới nầy không được?
Ông Vĩnh Xương đang khuấy xi-rô trong ly rôm nguyên chất, cười ha hả mà rằng:
- Bộ bà tưởng họ khù khờ như người "khuê môn bất xuất" là bà hay sao?
Một thằng ở bên Tây về, còn một thằng từ bên Xiêm qua...
Ông Vĩnh Xương không theo dõi chánh trị, cứ quen miệng gọi Thái lan là Xiêm.
Đến lượt bà Vĩnh Xương bật cười:
- Ừ, thằng ấy từ bên Xiêm qua, nhưng nó về xứ hồi bốn tuổi thì cũng không phải
là tay giang hồ dọc ngang trời biển gì đâu mà thạo đường.
Biệt thự mới của nhà thầu khoán Vĩnh Xương cất ở một nơi hẻo lánh, dựa thôn lộ
số 22 của tỉnh Gia định, dẫn từ ngã năm Cây Quéo vô Gò vấp. Đó là một con đường
vô danh đối với người Sài gòn mà cho đến cả một số tài xế tắc-xi cũng không biết.
Nhưng ông Vĩnh Xương tin chắc rằng họ sẽ tìm được, vì họ là hai kẻ rấp ranh lượm
cầu mà cô Thúy, con gái độc nhứt của ông, đang gieo cầu. Ông giàu, còn Thúy là
hoa hậu, thì ông mà có xây cất nhà cửa ở trên Cheo reo, họ cũng tìm được.
Họ đã đến chơi nhà ông trên mười lăm lần rồi, lần nào họ cũng được mời tới cùng
một lúc với nhau. Ông bà Vĩnh Xương tiếp đãi niềm nở cả hai người, cho con gái
ra đàm thoại với họ, nhưng ông cứ làm như quên rằng họ đã cầu hôn, không hề đá
động đến vấn đề đó, chớ đừng nói là không chịu trả lời dứt khoát.
Bà thường hỏi nhỏ ông trong phòng the:
- Đến mấy thế kỷ nữa ông mới quyết định?
- Khó liệu quá!
- Quả khó thật! Cả hai đứa đều là kỹ sư điện, đều bảnh trai và có giáo dục,
nhưng tôi nghĩ đó là quyền hạn của con Thúy, nó chọn ai tùy lòng nó, sao ông
không hỏi nó để cho một đứa khỏi mất công đeo đuổi?
- Cả hai đứa đều có khuyết điểm, tôi do dự vì khuyết điểm của chúng nó chớ
không phải bối rối không biết chọn đứa nào đức tính nhiều hơn.
- Thằng Côn học ở đây, chắc phải dở hơn thằng Tập học bên Tây, có phải như vậy
không ông?
- Không, trường nào cũng có thể sản xuất nhơn tài.
- Chớ còn...
- Như thế nầy: thằng Tập là con nhà thợ thuyền lao động.
- Nghe nói ông già nó làm ông gì lớn lắm bên ấy mà!
- Đâu có! Cha nó hồi chiến tranh được mộ làm thợ không chuyên (O.N.S.) cho
Pháp. Tại Ba-lê, ba nó gặp má nó làm bồi cho một ông quan thuộc địa về hưu. Nó
sanh đẻ ở Ba-lê.
- Như vậy thì rất dễ tính vì thằng Côn là con của cai tổng.
- Cũng không phải. Chỉ là con nuôi thôi. Nó là người Xiêm.
- Thật à? Tôi ngỡ ông nói cà rỡn chớ?
- Ba nó là một sĩ quan Xiêm, đảo chánh hụt năm 1941, tị nạn ở đây. Má nó bỏ
mình trong cuộc đảo chánh, ba nó thương nó quá, mang nó theo hồi nó bốn tuổi. Mấy
năm sau ông ấy mới cho nó cho ông cai tổng Lành trên Bình dương nuôi làm dưỡng
tử.
- Thì nó là con quan võ rồi, còn gì hơn!
- Nhưng nó mang máu phiêu lưu, sẽ rắc rối về sau lắm. Cái thứ phiêu lưu, nó sẽ
làm xằng cả đời thì khổ cho con mình.
Rồi ông Vĩnh Xương thở dài mà thêm:
- Ông vua Hùng Vương ổng nhẹ trách nhiệm hơn tôi không biết bao nhiêu! Sơn Tinh
và Thủy Tinh bằng tài nhau, hai anh kỹ sư này cũng vậy. Nhưng đời nay không thể
đưa cái điều kiện nạp sính lễ sớm như đời xưa.
- Hay là không gả cho thằng nào hết. Con mình thiếu gì đám gắm ghé!
- Nó cũng đã tới tuổi rồi, gặp nơi phải chỗ, nên tính cho xong.
Trong khi ấy thì ở buồng cạnh sân thượng, nơi ông bà Vĩnh Xương đang giải khát
và hứng gió, cô Thúy mở cửa sổ trông xuống đường nhìn về Ngã Năm Cây Quéo.
Thúy không ngóng chồng mà chỉ mong đợi người con trai đã làm cho tim dại của cô
bắt đầu rung động.
Cách đây ba tháng, khi nghe cha kể lai lịch của hai thanh niên cử tử, Thúy buồn
cười quá mà hình dung ra một người Thái lan trẻ tuổi, mập và lùn, đi cà nơ như
một con vịt Xiêm. Ừ, loại vịt Xiêm đi như vậy và danh từ xưa "Xiêm"
mà ông cụ đã dùng, khiến cho nàng liên tưởng ngay đến một con vịt Xiêm.
Nhưng lần đầu hai người khách trẻ tuổi ấy được mời đến ăn cơm tối, hồi gia đình
còn ở tại trung tâm thành phố, Thúy đã kinh ngạc mà thấy cả hai đều mảnh khảnh,
người nào cũng trái hẳn hình ảnh mà nàng đã vẽ vời ra trong trí.
Riêng một trong hai người đó, đã làm nàng bối rối, lúc hắn hỏi nàng một câu đầu,
trong buổi gặp mặt đó.
Đến giữa bữa ăn, Thúy mới biết chàng là Côn, mà Côn là người thanh niên Việt gốc
Thái lan mà ông cụ nàng đã nói đến.
Tập tương đối đẹp trai hơn, "mông-đen" hơn - sanh trưởng ở Ba-lê mà lại!
- biết nịnh đầm hơn, nhưng không hiểu sao Thúy lại bị xúc động trước Côn trong
khi đó thì nàng không nghe gì khác lạ khi trò chuyện với Tập, mà nàng chỉ xem
như một người bạn trai thường.
Từ ấy những nay, nàng cứ mong Côn đến chơi. Câu chuyện chồng con là ông cụ bày
vẽ ra thôi chớ riêng Thúy, nàng không nôn nao về vấn đề đó lắm. Nàng chỉ nghe rạo
rực yêu đương mà Côn là ông hoàng đẹp trai của mộng gái thơ, đến rất đúng lúc,
cái lúc mà mộng đang lớn mạnh.
Năm giờ kém năm. Thúy xem đồng hồ tay rồi bứt rứt, và như mẹ, nàng thầm lo họ
tìm không được ngôi nhà mới nầy.
Nhưng mà kia, họ đến: chiếc Simca l.000 của Tập chạy trước, chiếc 203 cũ mèm của
Côn theo sau.
Hai anh chàng nầy thật là dị kỳ. Không hẹn nhau, hơn thế, còn muốn lẩn tránh
nhau là khác, họ lại cứ bị đụng đầu với nhau mãi, ngay từ lúc sơ giao giữa họ với
gia đình nàng đến giờ. Ban đầu họ ganh tị nhau, có vẻ thù nghịch nhau, nhưng thấy
ông cụ cầm cân đúng mực, họ đành phải hòa với nhau cho đúng tinh thần thể thao.
Hai người cùng làm điện cả và Thúy tự hỏi về sau, anh chàng hỏng giò sẽ tấn
công trả thù anh chàng tốt phúc bằng thứ khí giới nào? Chớ kỹ sư điện khó lòng
mà gây thủy tai như con tinh ở biển ngày xưa.
Cả hai xe đều vào sân, và hai người khách được quản gia mời lên lầu ngay.
Thúy hồi hộp lắng nghe tiếng bước của bốn chiếc giày, cố truy tầm căn cước của
nhịp bước bạn, nhưng chịu là không phân biệt được vì họ bước mạnh y như nhau.
Nàng còn phải đợi hơn nửa tiếng đồng hồ nữa mới được ra mặt. Ông cụ bà cụ nàng
muốn dung hòa Âu Á, cho phép nàng tiếp họ, nhưng hạn chế thời gian gặp mặt. Lần
nào cũng thế cả, và sau bữa ăn là nàng phải xin phép rút vào phòng liền.
Cô con gái của ông Vĩnh Xương lấy truyện trinh thám ra đọc, mong một đoạn hấp dẫn
nào lôi cuốn cô vào câu chuyện để quên những phút giây chờ đợi dài như hàng thế
kỷ. Nhưng không thể được. Nàng cứ muốn gặp mặt ngay người con trai ít nói, có
gương mặt thật thà nhưng giọng đượm một âm sắc chân thành, mắt mãnh liệt sống tất
cả những tình cảm đang sôi nổi một cách lặng lẽ nơi lòng chàng như canh hầm
trong một cái nồi đậy vung thật kín.
Thúy đợi đến muốn rã cả lòng mới nghe mẹ gọi:
- Thúy a! Ra đây, con.
Đây là giây phút khổ sở nhứt của người thừa tự độc nhứt của nhà Vĩnh Xương.
Mối cảm kích, nỗi cuồng hỷ của nàng khi thấy mặt Côn, nàng phải cố mà che giấu,
không phải sợ mẹ cha mắng khi khách về rồi, mà vì không thể ban cho cả hai, cảm
tình bồng bột của nàng, mà chỉ một người được ân huệ thì người kia sẽ buồn, mất
lịch sự quá.
Thúy phải chia đều ân cần, thành thử không nồng nhiệt với người lý tưởng của
nàng được.
- À, hai anh!
- Cô Thúy!
Cả hai đều đứng dậy và Thúy hỏi:
- Hai anh tìm nhà có khó lắm không?
Mỗi người trả lời bằng một lối văn khác, nhưng đại ý là như vầy: "Tôi phải
đến sở đạc điền tìm địa đồ làng Bình hòa xã đấy. Nhưng được cái là đến đây, gặp
hai cụ với cô thì bao nhiêu mất công đều được đền bù xứng đáng".
- Hai anh thấy nhà mới như thế nào?
- Kiến trúc hết sức tân thời, Tập đáp.
- Khung cảnh quanh đây nên thơ lắm, đó là câu trả lời hơi lạc đề của Côn.
Bà Vĩnh Xương hơi phật ý. Người ta hỏi nhà mới thế nào? Cái anh lù khù lại đưa
ý kiến về phong cảnh chung quanh, làm như ngôi nhà bảy triệu của bà không đáng
kể.
Không bảo nhau mà cả bốn người, trừ bà Vĩnh Xương, đều đưa mắt một vòng ra
ngoài.
Bên kia đường, một kiểng chùa cổ với mấy cây phù đồ rêu phủ, vây quanh vị lãnh
tụ tinh thần ấy là mấy mươi nếp nhà lá cất giữa những miếng vườn con con. Sau
lưng xóm, đồng trống trải ra xanh nõn, cho tới một con rạch nhỏ uốn khúc quanh
co, rồi một bức tường cây cối hình bán nguyệt, đóng khung tất cả lại, nơi chân
trời.
Khói thổi cơm chiều, một buổi chiều gió nín, mọc lên từ các mái lá xám xịt, giống
như khói của những nén hương khổng lồ, mà Phật tử trong vùng thắp lên để tỏ
lòng sùng bái đấng Từ Bi.
Bỗng ông Vĩnh Xương và người thanh niên tên là Côn, cả hai đều hỉnh mũi, ngước
lên đó đón gió, một ngọn gió vắng mặt, cố tìm thêm trong không khí một cái mùi
vừa thoang thoảng bay lên tận sân thượng nầy.
Đó là mùi đặc biệt của hương hành lá pha với mùi nước mắm của một trách cá kho
nào vừa sôi.
Ông Vĩnh Xương xoay lại nhìn Côn rồi mỉm cười như để phân trần: "Ấy, thuở
bé tôi ở nhà quê nên mùi của món ăn thôn dã nầy rất quen thuộc với tôi... anh
khó chịu lắm hả?"
Côn không đáp mà giựt mình dáo dác nghe ngóng! Tiếng chuông chùa vừa nổi lên,
ngân nga trong gió chiều mới thổi. Nhưng hình như là hắn không phải lắng nghe
tiếng chuông chùa, gần quá, rõ quá, mà trông về đằng xa, nghe một thứ tiếng bí
mật thì thầm nào.
Trong khi đó thì Tập chỉ một ngôi chùa bằng sứ cất cheo leo trên sườn đồi núi ở
bộ giả sơn mà ông Vĩnh Xương đã cho xây giữa sân thượng, rồi hỏi Thúy:
- Mái nhà sao lại cong quớt lên như vậy, cô Thúy?
- Đó là mái nhà của người Tàu họ kiến trúc như vậy. Chớ anh không thấy nhà chùa
vẽ trên các bao nhang sao?
- Không, tôi mới thấy lần đầu trong đời tôi loại mái nhà kỳ dị nầy.
- Mái chùa dưới kia cũng cong cong.
- À, tôi không có nhìn xuống dưới ấy.
Chỉ có bốn người mà họ chia thành hai nhóm một cách vô tình, nói chuyện riêng rẽ
với nhau. Bà Vĩnh Xương hơi bực mình trước cảnh bị bỏ rơi của bà.
- Anh khó chịu lắm à? Ông Vĩnh Xương hỏi lên câu hỏi thầm lặng của ông.
- Không, thưa bác. Trái lại nữa. Những sợi khói trắng mỏng, tiếng chuông chùa
và nhứt là mùi hành kho, ba thứ ấy xuất hiện cùng một lúc gợi cho cháu nhớ thời
thơ ấu của cháu quá Thời ấy, sau nhà dưỡng phụ của cháu cũng là một xóm nghèo, ở
dưới trũng, với ngôi chùa cổ danh tiếng là chùa Hội Khanh.
Thưa bác, năm ngoái, đi tu nghiệp bên Tây Đức, cháu vào làng Leonberg Eltingen
để thăm một người đàn bà Việt lấy chồng Đức và theo chồng sống ở đó. Bà ấy để
dành được một ve nước mắm, và hôm ấy bà ta đã đãi cháu món cá kho, kho bằng thứ
nước xốt của quê nhà giấu kín gần mười năm rồi,với một thứ rau có mùi tương tự
như hương hành ta. Đó rồi bà ấy với cháu, cả hai cùng ngồi trong nhà bếp để nhớ
nhà và thương mến quê hương (bên Âu châu các gia đình khiêm tốn tiếp khách tại
nhà bếp, vì nhà bếp của họ là nơi sạch sẽ nhứt trong nhà).
Mắt ông Vĩnh Xương bỗng sáng lên rồi ông đâm ra bối rối, vì phấn khởi hơn là vì
một bài toán bể đầu nào. Ông hối người nhà đưa đồ nhắm lên để khách uống khai vị
cho ngon, và săn sóc hai thanh niên nầy như là thượng khách.
Bà Vĩnh Xương và Thúy quan sát người gia trưởng thì thấy ông ấy hôm nay vô cớ bộc
lộ tất cả vui sướng y hệt như là ông vừa đại thắng trong một cuộc doanh thương
nào.
Nhưng lạ lùng hết sức, vào đầu bữa ăn, ông tuyên bố với khách rằng cả gia đình
ông đều có hẹn gặp mặt một gia đình bạn, ngoài Sài gòn, hồi bảy giở rưỡi. Bà
Vĩnh Xương và Thúy không hề được báo tin nầy, trước đó. Bữa cơm thật vui, nhưng
không kéo dài. Khách biết điều, quyết trả tự do cho ông vào giờ ông cần ra đi,
nên họ xin phép rút lui ngay sau bữa ăn gần như là tốc hành nầy. Thúy không phải
lánh mặt sớm nữa, nên đưa khách xuống dưới nhà rồi tiển họ ra tận cổng.
Khi nàng trở lên lầu, toan vào buồng mình thì nghe được câu đối thoại sau đây của
cha:
- Tôi đã quyết định được rồi đó! Tôi gả Thúy cho thằng Việt nam!
Thúy rụng rời, nghe choáng váng cả người, rồi lảo đảo, nàng té quị xuống.
Nghe tiếng động, ông bà Vĩnh Xương day lại và hoảng hốt, bà kêu rú lên:
- Con tôi, trời ơi, con tôi chết rồi ?
Hai vợ chồng khiêng con vào buồng của cô ấy. Thúy toát mồ hôi dầm dề.
- Con ơi, sao con thế này, con?
- Con chóng mặt quá à! Con mệt lắm.
- Con tôi đau tim, ông ơi, gọi đốc-tơ mau lên!
Ông Vĩnh Xương không gọi ai cả mà chỉ chạy tìm nước lạnh thôi.
Thúy ôm mẹ khóc oà.
- Làm sao con? lát nữa có thầy thuốc, con ráng sống thêm để đợi ông ấy.
- Chắc con chết, má ơi!
Bà Vĩnh Xương khóc hu hu, vừa khóc vừa réo chồng.
- Má ơi, con không thể lấy ông kỹ sư Tập được, con không chịu đâu, ba gả con
cho ông ấy, chắc con phải chết.
- Trời, té ra như vậy? Mầy làm tao hết cả hồn vía. Được, để tao nói với ba mầy
liệu lại.
Bấy giờ ông Vĩnh Xương bưng ly nước, thần tốc phóng vào buồng. Ông ngạc nhiên
mà thấy hai mẹ con Thúy tỉnh ru, hơn thế, bà Vĩnh Xương sẵn sàng khiêu khích để
gây sự:
- Tôi nhứt đinh không nhận thằng Việt nam, bà Vĩnh Xương nói bằng một giọng
cương quyết, không tha thứ cuộc thảo luận nào hết.
Thấy con đã hồng hào da mặt trở lại, ông Vĩnh Xương hết lo, đặt ly nước lên đầu
tủ đầu giường của Thúy, cười ha hả rồi nói:
- Bà có biết thằng Việt nam là thằng nào hay không mà bà làm dữ như vậy?
- Thằng Việt nam là cái thằng..., cái thằng không phải là Xiêm đó, chớ ai?
- Ấy, bà không biết mà! Chính cái thằng Xiêm ấy mới là Việt nam.
- Sao lạ vậy? Ông điều tra lộn hử?
- Không. Nhưng nó có một quê hương nhỏ để mà thương, mà nhớ. Quê hương nhỏ của
nó lại nằm trong quê hương lớn là nước Việt nam. Vậy nó sẽ thương quê hương lớn
bao bọc quê hương nhỏ thân mến của nó.
Còn quê hương nhỏ, với chơn trời quen thuộc, thân yêu, của thằng Tập là một xóm
ở Ba-lê. Thằng Tập sẽ yêu nước Việt nam đúng y theo sách vở nói, chớ không yêu
bằng tấm lòng như thằng Xiêm đâu.
Thúy ôm mẹ rồi cũng khóc òa như khi nãy, nhưng đấy là những giọt lệ sung sướng.
Nàng vừa khóc vừa nói:
- Ba nghĩ đúng, cái thằng Việt nam Tập, thật ra một người Pháp-lăng-sa.
- Ừ, xa lắc! Bà Vĩnh Xương tiếp theo ý nghĩ của con, bất chấp ý thiệt của danh
từ.
BÁN NGÔI NHÀ CỔ
La Gi là một làng xa của tỉnh Bình thuận. Tuy ở nơi đèo heo
hút gió, nhưng làng trù mật vô cùng và có thể bảo đó là một làng to trong những
làng to nhứt miền Trung và miền Nam, to về mặt kinh tế chớ không phải về mặt đất
ruộng đâu. Làng gồm nhiều nhà ngói lâu đời khá đồ sộ, kiến trúc với tất cả tỉ mỉ
và tinh xảo của kỹ thuật Việt nam. Nhà bà Hai Ngọt là một trong những ngôi nhà
loại đó. Tuy nhiên, ngôi nhà ấy trông như là nhà vô chủ vì nó mang vẻ hoang phế
nhiều năm rồi. Nhà to, sân rộng, vậy mà bà Hai chỉ có một mình với sáu mươi lăm
tuổi trên đầu, nên mỗi ngày lo hai bận bếp núc, bà đã mệt ngất ngư, không buồn
săn sóc vườn tược nữa.
Nhà đóng cửa kín mít suốt ngày, từ tháng nầy tới năm khác, cây vườn chết đi
không được trồng cây khác thay thế mà cây đã lão hết rồi hồi ông Hai Ngọt qua đời,
cách đây mười năm, nên mỗi năm lại có một vài cây tàn rụi, mãi cho tới bây giờ
thì vườn đã trống trơn.
Vườn trống phía trên, nhưng ở dưới đất lại rậm ri những cỏ dại, nhiều khoản đất
cỏ chổi mọc lên cao tới đầu người lớn và vài cây da, vài cây sao, tức loại đại
thọ, mà mầm do đâu đưa tới không rõ, đã được ba, bốn tuổi rồi.
Cái đà nầy mà cứ tiến mãi theo cái nhịp ấy thì vài năm nữa vườn sẽ "lại"
rừng.
Bà Hai Ngọt chỉ có một đứa con gái thôi, lấy chồng hai năm trước khi ông Hai
qua đời, bà bắt rể nhưng hai vợ chồng anh Dụi ấy bỏ nhà đi tìm sanh kế ở Sài
gòn nên sự suy sụp của gia đình nầy kể như là một tang thương đột ngột sau khi
họ ra đi.
Bà Hai không đủ sức lực cũng không tiền thuê, mướn, người sửa sang vườn tược,
bà lại hiu quạnh quá nên buồn chán rồi bỏ liều. Người ta đồn nhà đó có ma, và
trẻ con đi ngang qua nhà giữa ban ngày, cũng nắm tay lại rồi đâm đầu chạy như bị
ai rượt.
Cả năm, vợ chồng chị Dụi mới về quê một lần vào dịp Tết, nhưng họ không thành
công ở thủ đô, nghèo vẫn nghèo hoài, nên không giúp bà mẹ suy sụp của họ được đồng
nào để bà thuê người chăm nom nhà cửa, vườn trước, sân sau.
Thình lình trưa thứ Bảy tuần đó, vợ chồng chị Dụi dẫn hết con cái về thăm Ngoại,
y như là về quê ăn Tết vậy.
Bà Hai Ngọt nựng cháu một hơi rồi chạy lo cơm nước, mối lo lắng lớn và độc nhứt
của các bà cụ khi có con cháu về.
Chị Dụi theo mẹ xuống bếp, vừa giúp mẹ, vừa hỏi:
- Má có biết rằng nhà nước đã lập ra một tỉnh mới ở đây hay không?
- Vậy hả? Không, tao không biết. Nhưng lập ở đâu?
- Đất nầy thuộc tỉnh Bình thuận, nhưng từ nay sẽ cắt ra, biệt lập, đặt tên là tỉnh
Bình tuy.
- Vậy à?
- Làng mình sẽ được lấy làm tỉnh lỵ.
- Vậy hả?
- Má có thấy gì hay không?
- Không!
- Người ta sẽ cất tỉnh đường ở đây, cất trường học lớn, nhà thương to và nhiều
nhà, nhiều sở khác nữa.
- Ừ, chắc là như vậy.
- Công chức sẽ đổi về đây đông đảo, và mọi cuộc làm ăn, buôn bán sẽ thạnh vượng.
- Ừ.
- Má cũng chưa thấy gì hả?
- Thì mầy đã nói rồi.
- Con nói chưa hết. Đất, nhà ở đây sẽ lên giá.
- Ừ, phải.
- Chẳng những lên giá mà còn dễ bán nữa, chớ từ trước tới giờ, có muốn bán cũng
không ma nào mua.
- À há!
- Con tính như vầy: Chúng con làm công hoài và cứ tay làm hàm nhai, không hề dư
được đồng xu dính túi. Chỉ có buôn bán mới mong khá lên được. Ba nó đã thạo nghề
sửa xe gắn máy lắm rồi, giờ mà lập một tiệm sơn và sửa xe gắn máy và bán đồ phụ
tùng lặt vặt ở chợ Hòa hưng thì sự làm giàu nắm chắc trong tay.
- Tao cũng vái trời cho vợ chồng bây khá lên!
- Mà muốn được như vậy phải có vốn.
- Ừ.
- Má ở đây một mình hiu quạnh lắm, rủi đau ốm, ai nuôi dưỡng má. Má lên trển, ở
với vợ chồng con tốt hơn.
- Ý ! tao không đi đâu!
- Không đi thì làm sao bán cái nhà nầy?
Bà Hai Ngọt há miệng, trố mắt nhìn con:
- Bán nhà. Mầy nói chơi sao chớ? Nhà của Ông Bà để lại, giữ đã mấy đời rồi, bán
để họ cười cho mà thúi cái đầu.
Chi Dụi cười ngất rồì nói:
- Tại ở đây nhà quê, còn nghĩ theo xưa, chớ ở thành phố thì người ta bán nhà
như là bán một con gà vậy.
- Không, tao thương mến căn nhà nầy lắm, thương mến luôn xã nầy. Tao chỉ muốn ở
đây và sống gởi nạc, thác gởi xương ở đây thôi.
- Sài gòn vui lắm, má à! Còn ngày sau, má trăm tuổi già rồi, con chở về đây dễ
dàng. Giàu có rồi thì muốn gì lại không được!
- Tao không ham vui. Tao chỉ thương mến quê hương thôi. Đi, tao nhớ gốc cây đa
đằng miếu, tao nhớ con rạch sau nhà, tao nhớ... tao nhớ đến cái mùi đất ở
đây... Không, tao không đi đâu hết. Tao cũng không bán nhà được. Tao có thể bán
để cho tụi bây tiền, rồi cất chòi tranh mà ở nhưng tao thương nhà nầy lắm. Quen
mắt quá đi rồi, cái thềm rêu phủ cũng quen, tấm vách bổ kho mọt gậm cũng quen,
tao nghe như là cha mầy còn vô ra đâu đây. Không...
- Má tính vậy thì làm sao vợ chồng con làm ăn được?
- Tụi bây rán mà tiện tặn.
- Má cứ tưởng! Làm công thì suốt đời chỉ đủ ăn.
Chị Dụi khóc rấm rứt nhưng bà Hai Ngọt vẫn không nao núng.
Cái tin mà con bà cho bà hay quả đúng y như vậy. Con bà đi độ một tháng thì
thiên hạ kéo đến xây cất lăng xăng. Làng xóm trở nên náo nhiệt, rộn rịp lạ kỳ,
khác hẳn với cảnh ủ rũ của một làng hẻo lánh từ mấy trăm năm nay. Và người lạ
đâu từ xứ xa tới mua đất, mua nhà một cách khủng khiếp.
Khủng khiếp là như thế nầy: ông X với bà X đang ở một ngôi nhà tổ phụ xưa hằng
trăm năm mà ông bà thương mến nó y như bà Hai Ngọt đã thương mến nhà bà. Thế mà
mới đầu hôm sớm mai, ông X bỗng bán ngôi nhà thân yêu đó y như là bán một con
gà. Nhà đất giá đáng chừng năm chục ngàn, thế mà họ trả một tiếng hai trăm
ngàn, thì còn lòng tham nào mà không bị lung lay chớ?
Khủng khiếp là ở chỗ đó. Không khéo rồi cái dịch bán nhà như bán gà, dịch của
dân thủ đô truyền lây tới đây, sẽ đuổi các cụ ra chòi mà ở hết. Và khủng khiếp
hơn nữa là bọn mua nhà, mua xong phá bỏ ngay, cất nhà gạch lên liền. Cái chơn
trời quen thuộc, như thế, bị hủy diệt lần lần. Nếu nhà chỉ đổi chủ thì còn đỡ
khổ phần nào, và chỉ có kẻ bán nhà mới buồn, đàng nầy đến cả toàn dân làng đều
phải lạc hướng bởi gương mặt của làng họ biến đổi kỳ dị, họ hết nhận ra quê
hương thân yêu cổ kính nữa, họ đau xót không biết bao nhiêu.
Thế rồi vợ chồng chị Dụi lại về. Lần nầy chị khóc lóc nhiều hơn và sốt ruột. Chị
bảo đây là dịp may ngàn năm một thuở, không bán thì ngày kia, ai nấy đều có
nhà, có đất đủ rồi, không ai thèm mua nữa, nhà đất nầy sẽ mất giá ngay. Chị
khoe cảnh Sài gòn, khoe hát cải lương, khoe vườn thảo cầm, khoe đèn màu, khoe
cao lâu, mì cháo, trái cây ngoại quốc, ôi thôi đủ thứ của ngon vật lạ! Bà Hai
Ngọt cứ bịt tai lại không thèm nghe.
Tuần nào chị Dụi cũng về, vì cuộc xê dịch dễ dàng bởi xe đò Sài gòn - La gi chạy
trực tiếp.
Phản ứng của bà Hai Ngọt khiến chị Dụi ngao ngán vô cùng. Bà ráng sức già, làm
cỏ miếng vườn sạch trơn rồ trồng bông trồng kiểng, trồng rau trồngcải, và trồng
cả những cây ăn trái mà chỉ có cháu ngoại bà mới mong hưởng được thôi, như mít,
như xoài chẳng hạn.
Không tuần nào mà chị Dụi không chứng kiến cảnh biến đổi nơi ngôi nhà tổ phụ của
chị và sanh khí đã trở lại như hồi cha chị còn sanh tiền. Bà Hai Ngọt ngầm nói
rõ to lên: "Tao quyết bám níu vào đất nầy, nhứt định bỏ xương ở đây, không
ai xô đẩy tao đi đâu được hết".
Người ta bảo chị Dụi đã chuộc bùa ngải để mê hoặc mẹ chị. Có lẽ đúng như thế
chăng? Vì bà cụ đã cả quyết như vậy, nhưng ngày kia, người ta lại thấy nơi cửa
ngõ nhà ấy có treo một tấm bảng trên viết mấy hàng chữ như vầy:
NHÀ BÁN
luôn đất
Mua xong giao liền
Bọn đầu cơ xa lạ cứ còn mua đất, còn phá nhà cũ, còn xây cất nhà mới. Tuy nhiên
ngôi nhà của bà Hai Ngọt cứ trơ trơ cùng tuế nguyệt, bởi ai hỏi bà cũng đòi tới
sáu trăm ngàn, khiến họ le lưỡi rồi bỏ đi.
Bà bị con gái mè nheo mãi đến nhức tai, nhức óc, treo bảng để bịt cho nó câm mồm
lại để bà được yên thân, nhưng quyết tâm âm thầm thọc gậy vào bánh xe.
Việc kiến thiết tỉnh lỵ Bình tuy cứ rầm rộ tiến hành và chị Dụi cứ sốt ruột vì
ngôi nhà tổ phụ của chị sao mà giống như một cô gái vô duyên không ma nào thèm
đi hỏi hết.
Thình lình, đùng một cái, vì lý do quân sự, hay chính trị, hay kinh tế hay gì
không rõ, chánh quyền quyết định bỏ chương trình cũ, dời tỉnh lỵ lên rừng, cách
làng độ năm sáu cây số, khoét rừng để xây cất dinh thự khác. Bao nhiêu người đầu
cơ đều bị việt vị hết ráo và đây đó, người ta thấy những tấm bảng rao nhà cho
thuê, cảnh không bao giờ xảy ra ở thôn quê cả.
Vợ chồng chị Dụi về làng để thăm chừng tin tức, hay tin nầy thì dậm chơn, kêu
trời rồi than khóc cho mộng làm giàu của anh chị bỗng dưng tiêu tan thành mây
khói.
- Trời bất dung gian đảng, bà Hai cười bằng cái miệng móm xọm và nói như thế, hồn
ông bà, ông vải nhà nầy linh thiêng lắm nên xui khiến nhà nước đổi ý, mà cứu
vãn cái nhà nầy.
BÁN NGÔI NHÀ CỔ
Sáng hôm ấy, dân trong xóm Sỏi đang không làm gì cả, vì mùa
lúa đã mãn từ hơn một tháng rồi, thì rất ngạc nhiên mà thấy ba người đàn ông mặc
Âu phục đi vòng quanh xóm.
Xóm cất trên một cái gò thấp nhưng vẫn nằm cao hơn ruộng chung quanh. Gò rộng độ
bốn mẫu, hình tròn không đều nhưng những kẻ đi vòng quanh đó cũng có vẻ đánh
nhiều vòng tròn như các ông thầy chùa chạy Kim Đàng.
Đây là một xóm đèo heo hút gió, nhưng người dân ở đây vẫn thường thấy người ở
thành thị, những người đi săn, thỉnh thoảng ghé qua đó để xin vài tô nước, đi
mua một con gà, hoặc để thuê một chiếc xe bò, loại xe chà rẹc đi vào rừng kéo một
con thịt lớn mà họ săn được, cọp hoặc nai to chẳng hạn.
Nhưng hôm nay họ lấy làm lạ lắm là ba kẻ lạ mặt cứ đi vòng quanh xóm mãi chớ
không vào xóm. Ba kẻ ấy lại không có mang súng, nghĩa là không có vẻ gì là thợ
săn cả.
Cả ba đi trên ruộng khô - ruộng nầy cũng là ruộng gò, tức ruộng cao ở ven rừng
- nằm sát bờ gò xóm Sỏi.
Cả ba người đều cúi gầm mặt xuống đất như để tìm kiếm tiền bạc gì mà họ đánh
rơi dưới ấy lúc nào không rõ. Thỉnh thoảng một người cúi xuống lượm cái gì lên
xem, có lẽ là một hòn sỏi, rồi họ trao tay nhau món ấy, rồi họ bàn tán với nhau
rất lâu.
Dân trong xóm hơi sợ, dĩ nhiên là họ sợ cái gì mà họ không thể đoán được, con
người vẫn thế. Vào rừng, họ biết có thể gặp cọp, nhưng họ không lo bằng khi họ
vào thành phố Sài gòn chẳng hạn, mà họ không biết cái gì đang đợi họ ở đó.
Cái trò đi vòng quanh xóm kéo dài hơn một tiếng đồng hồ thì có chuyện lạ xảy
ra: ba kẻ lạ mặt quả quyết bước lên gò để vô xóm.
Xóm Sỏi chỉ đông có năm cái nhà thôi. Nói nhà để nghe cho sang trọng chơi vậy
chớ đó chỉ là năm cái chòi. Chòi cất bằng tre, không cửa, không vách, lợp bằng
tranh, tức làm toàn bằng vật liệu tìm được tại chỗ dễ dàng, không tốn của mà
cũng chẳng tốn công là bao nhiêu. Nhưng dân ở đây nghèo khổ quá nên họ không buồn
nghĩ tới tiện nghi. Họ là tá điền, chủ ruộng ở xa lắm, mà là thứ tá điền hạng
bét vì ruộng gò rất thất lúa, cho nên chủ ruộng mà còn không đong được bao
nhiêu giạ thóc sau mùa gặt hai mươi mẫu ruộng khô ở đây thì nói chi tá điền họ
thường không đủ lúa ăn tới sáu tháng.
Ruộng rừng bị nai và heo rừng phá lúa dữ quá, canh gác không xuể, chỉ đành đánh
bẫy chúng để ăn thịt trừ cơm, nhưng ăn bao nhiêu cũng không hết thú rừng nên họ
nhẫn nại chịu số phận vậy.
Dân số trong xóm, đếm đầu được hai mươi mạng, vừa già, vừa trẻ, vừa nữ, vừa
nam. Người mình rất đông con, nhứt là trong giới nghèo. Nhưng nghèo vừa kìa, chớ
nghèo sát đất như dân xóm Sỏi thì lại hiếm con.
Đáng lý gì năm gia đình nầy gồm ít lắm là bốn mươi người, vậy mà số nhân khẩu ở
đây không bao giờ vượt lên khỏi hai mươi. Khí hậu bất bao dong ở đây, nhứt là bịnh
sốt rét rừng, cọng với nghèo đói, tàn phá sức khỏe của người dân nên đường tử tức
của đàn bà bị giảm, mà họ có đẻ đi nữa, con cái của họ cũng yểu tử vì hoàn cảnh,
vì thọ khí bẩm không tốt của cha mẹ chúng. Vậy mà xóm nầy là một xóm rất lâu đời,
bằng vào những nấm mộ sau xóm, đông đúc bằng mười lần dân số hiện tại, mà nấm mộ
nào cũng có chủ cả, nghĩa là người ngày nay là con cháu của những kẻ đã sanh cư
ở đây từ thuở nào rồi.
Chó trong xóm từ nãy tới giờ chỉ đứng ở các sân nhà mà sủa cầm chừng kẻ lạ mặt
ngoài xa. Giờ thấy họ vào xóm, chúng đổ xô ra mà sủa dữ dội. Trẻ con sợ hãi,
níu áo mẹ, còn người lớn thì hồi hộp mong đợi coi việc gì xảy ra. Ở đây buồn
quá, một bác thợ săn ghé lại xin một tô nước cũng đủ làm huyên náo cả xóm rồi,
và đó là một "biến cố" hay ho, giúp họ dùng làm đầu đề câu chuyện cả
tuần, phương chi ba người nầy có vẻ bí mật, lạ lùng, thì "biến cố" có
thể đáng kể hơn nhiều lắm.
Ba kẻ lạ mặt vào ngay nhà Tư Hoặc là cái nhà ngói ở đầu xóm. Sân không có rào,
nên họ khỏi gọi cổng, cứ bước thẳng vô nhà.
Tư Hoặc không hề giao thiệp với ai, trừ với người trong xóm, mà họ đã quá thân
với anh, thành thử anh không bao giờ biết xã giao là gì. Anh lại quen làm thinh
cả ngày trong một thế giới gần như không người nên anh chỉ nhìn khách chớ không
chào hỏi bằng lời hay bằng cử chỉ nào hết.
Người trẻ tuổi nhứt trong bọn ba người lạ mặt, hất hàm ra hỏi một cách bửa củi:
- Nhà nầy anh bán bao nhiêu?
Xóm nhà nầy xơ rơ quá, mà đất gò lổm chồm đá sỏi, đến cỏ mọc cũng không được,
làm cho nó càng xơ rơ hơn. Người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm ở đời, ngỡ đề nghị
giá cao, là họ bán ngay. Hoặc há miệng trố mắt mà nhìn khách rất lâu không nói
không rằng gì cả.
- Mười ngàn, anh bán hay không?
Tư Hoặc vẫn trố mắt há miệng mà nhìn những con người kỳ dị nầy. Phong tục Việt
nam ta, hỏi mua nhà ai mà không có lời rao bán của người ta, không những là một
sự xúc phạm danh dự của người ta không thể dung tha được, mà lại còn là một lời
trù rủa cho người ta sạt nghiệp, có thể làm cho người ta điên tiết lên mà giết
mình nữa là khác.
Nhưng Tư Hoặc không giận. Nhà anh không đáng giá một ngàn bạc mà kẻ nầy trả đến
mười ngàn nên anh tưởng đó là một lũ điên. Anh chỉ cười lặng lẽ rồi lắc đầu.
Người cao niên hơn hết trong bọn, nói với người trẻ tuổi bằng một thứ ngoại ngữ,
Tư Hoặc không hiểu nhưng anh cứ cho đó là tiếng Tây.
Người lớn tuổi ấy nói với người trẻ tuổi:
- Thưa ông chủ, ông chủ hành động như ở Sài gòn không được đâu. Dân Sài gòn bị
Âu hóa với lại bị tình trạng khan nhà hai mươi năm nay tập cho họ quen với việc
bán nhà, mua nhà dễ dàng và cấp tốc như mua một hộp diêm, nhà họ đang ở ấm êm,
ta nhào vô xáng xả đòi mua, họ bán ngay tức khắc nếu ta đề nghị giá cao, mặc dầu
họ không có ý định bán nhà bao giờ. Người nhà quê thì khác.
- Chớ biết làm sao bây giờ?
- Ông chủ cho phép tôi dàn xếp có được không?
- Anh cứ tự tiện đi, tôi cho anh trọn quyền hành động
Xin được phép của chủ hắn xong, người lớn tuổi đi ra ngay. Hai người kia nối
gót theo hắn. Hắn rảo khắp xóm, dòm vào từng nhà, đoạn dừng lại trước một cái
thum mà trong đó hắn thấy một ông lão râu tóc bạc phơ.
Hắn đứng ngoài sân, xá ông ta một cái, ông ta gật đầu, mời hắn vào nhà. Y như
Tư Hoặc, ông lão nầy cũng không hỏi han gì khách cả, đợi khách nói mà thôi.
Người cao niên lễ phép thưa:
- Thưa bác, gò nầy có phải thuộc quyền sở hữu của chủ dãy ruộng nầy hay không?
- Ơ...không. Đây là đất công thổ.
- Nghĩa là đất của làng, bà con mướn năm mà ở.
- Ừ.
- Vậy thì hay quá! Thưa bác, anh em cháu là người Sài gòn, chán đời nên muốn
tìm chỗ hẻo lánh mà ẩn dật. Thấy cuộc đất nầy thuận tiện để anh em cháu cất một
cái am, anh em cháu xin thử hỏi bác coi bà con ở đây có bán nhà, hoặc nhường đất,
dọn đi nơi khác hay không. Anh em cháu sẵn sàng đền bù cho mỗi nhà bán hoặc dọn
đi một số tiền là mười ngàn đồng.
Ông lão choáng váng mấy giây rồi nổi giận nói:
- Trời ơi, chú thật là vô phép, lại không biết cữ kiêng cho người ta; nhà người
ta đang ở yên lành, khi khổng khi không dám cả gan xáng xả đòi mua, đòi đuổi.
Xui cho bà con tui quá, tui nói cho chú đặng biết, bà con tui ở chung quanh đây
không nghe cho chú đâu.
- Xin bác tha thứ cho. Anh em cháu bằng lòng đền bù thiệt hại cho bà con mỗi
người mười ngàn tức mười lần nhiều hơn giá cái nhà của bà con. Có phải bà con
được lợi hay không?
Khác hẳn Tư Hoặc, ông lão nầy tuy biết bị mích lòng, mà lão lại cũng biết tham
lợi nữa. Vì thế mà lão dịu cơn thịnh nộ ngay rồi suy nghĩ rất lâu.
Nhưng rốt cuộc, lão vẫn lắc đầu từ chối.
- Không thể được, lão nói.
- Anh em tôi thấy cách đây độ hai cây số, nghĩa là ở bên kia dãy ruộng nầy, có
đất trống, mà lại là đất tốt nữa, trồng trọt được, chớ không phải đất cỏ cháy
như ở đây. Bà con có thể...
- Không, nhứt định không, chú đừng có nài nỉ mất công.
Người thương thuyết lắc đầu, đoạn xin phép chủ nhà ra đi, cả ba đều rời khỏi
xóm.
Ra tới ruộng, ông chủ trẻ tuổi cười nói:
- Anh có tài Trương Nghi, Tô Tần, nhưng cũng không thành công hơn tôi.
Bây giờ người trung niên mới mở lời lần thứ nhứt. Hắn trạc ba mươi lăm tuổi,
gương mặt lanh lợi và một vẻ gì ác hiểm ẩn trong đó. Hắn hỏi:
- Nhưng các anh có chắc ăn lắm hay không mà dám dùng đến phương tiện lớn như vậy?
Người cao niên cười ha hả mà rằng:
- Tôi năm nay đã bốn mươi hai rồi, và đã lặn lội trong nghề nầy hồi tôi mới mười
chín tuổi, thì các anh biết cái vốn kinh nghiệm của tôi có kém hiểu biết của một
ông kỷ sư mỏ chút nào không.
Chẳng những xem mặt đất tôi không thể lầm về cái chứa của gò nầy, mà tôi còn ước
lượng được sức chứa của nó nữa. Hết lớp đá sỏi trên mặt thì tới đất sét, và qua
khỏi độ một thước đất sét ta sẽ gặp hai ngàn thước sạn trắng đang ngủ yên dưới ấy
từ mấy ngàn đời rồi không rõ. Mỗi thước sạn trắng, trừ đi mọi tổn phí như là vận
động, khai thác, chuyên chở, thuế má, là còn kiếm được lối một trăm đồng, nghĩa
là ta sẽ bỏ túi hai trăm ngàn như chơi.
Nhưng đó là không kể khối sạn nằm dưới hằng trăm nấm mộ sau xóm mà ta không làm
sao khai thác được cả trừ khi hành động theo cách nầy là đào hầm ăn thông dưới
mộ rồi dùng trụ hầm mà chống đỡ cho đất đừng sụp, nhưng họ sẽ dòm ngó ta mà
ngăn cản, và về sau nầy trụ mục thì mồ mả ấy sụp hết, mang tội lắm.
Hai người kia rất tín nhiệm bác chuyên viên nầy. Họ phấn khởi lắm vì họ biết rằng
các hầm sạn trắng ở miền Nam nầy đã cạn hết rồi, không dễ dầu gì mà phát kiến
được một mỏ vàng to như thế nầy đâu.
Sạn trắng ngày nay quí như vàng. Các nhà thầu, xây cất bằng bê-tông, đã phải
xay nhỏ đá xanh để tạm dùng đỡ, còn sạn trắng thì chỉ để dành làm gra-ni-tô,
làm vách tô rửa, hoặc để cho các bực triệu phú trải sân biệt thự thôi.
Người trung niên suy nghĩ giây lát rồi nói:
- Nếu quả đúng như vậy thì tôi sẽ có cách, miễn ông chủ chịu tốn thêm vài ngàn.
- Ừ, bao nhiêu cũng được, nói nghe thử coi.
- Nhưng phải chắc bác nầy không lầm kìa, vì cách đó tàn nhẫn lắm, có đáng việc
mới nên dùng tới.
- Tôi bảo đảm bằng cả hăm ba năm lành nghề của tôi.
Người trung niên bèn hạ giọng xuống rồi thì thầm rất lâu với bạn đồng hành của
hắn, mặc dầu ở đây xa xóm, không thể nào ai nghe được lời của họ. Đấy, có những
điều mà người ta chỉ dám nói thầm với nhau thôi, vì người ta sợ chính cả người
ta nữa.
Người chủ trẻ nghe xong, hoan nghinh liền.
Nhưng người cao niên thì châu mày tỏ vẻ bần dùng lắm.
Hắn hỏi:
- Liệu sẽ gây kết quả tai hại nào không?
- Nhứt định là không. Ở đây xa xóm. Nhà họ lại không có vách, không có cửa gì hết
thì đâu có lo họ bị kẹt trong đó.
Rồi cả ba kéo nhau ra làng, ở ngoài bờ sông, cách đó độ năm cây số, nơi nhà họ
tạm trú. Trước khi rời xóm, người cao niên gọi với người trong xóm mà hô rất
to:
- Xin bà con nghĩ kỹ lại, vài bữa chúng tôi sẽ trở vô đây.
Đêm đó, ba người làm nghề khai thác hầm sạn nầy tổ chức nhậu nhẹt để đãi cả xóm
ngoài, xóm lớn nhứt của làng nầy. Họ nhậu với kỳ nhông xé phai, rượu lậu nấu
trong làng, thứ nước nhứt. Cả xóm say mèm.
Liền tiếp ba đêm liền, đêm nào cũng tiệc tùng như vậy cả, đêm thứ nhì họ nhậu với
một con trúc xào lăn, đêm thứ ba thì tuyệt, bởi món nhậu là hai cái vú nai đang
nuôi con, bùi và thơm không tả được. Khi cả xóm cúp bình thiếc cả rồi thì người
trung niên ra đi một mình. Hắn chỉ uống rượu cầm chừng thôi, nên hắn không say
như chủ hắn và người đồng nghiệp cao niên của hắn. Hắn ra khỏi làng rồi băng rừng
mà tiến mau vào xóm Sỏi, tay xách một cây ná lảy. Hai tiếng đồng hồ sau, hắn mới
tới nơi, vì đường rừng rất khó đi. Trời đã trở bấc, khí lạnh làm cho chó trong
xóm rất lười, chúng trốn mà ngủ hết, nên gã cầm ná đi tới bờ gò rồi mà không
gây động.
Hắn rút ra một cây tên kỳ lạ lắm. Tên rất dài, nhưng tà đầu. Đầu tên buộc bó
nhang và giữa một chục cây nhang ấy, cách đầu nhang độ hai phân tây, mười cây
diêm quẹt được chôn thật chặt. Hắn núp sau một bụi cây cơm rượu, đoạn bật cái bật
lửa lên mà châm nhang cho cháy. Xong đâu đấy, hắn đặt tên lên ná, nhắm nhía rồi
lảy cò ná liền.
Trong bóng đêm mũi tên lửa than nầy xẹt đi, trông như một ngôi sao băng. Nếu có
ai còn thức và rủi ro trông thấy, có lẽ họ sợ sệt cho rằng "Bà" giáng
hạ, vì ở thôn quê, người ta tin "Bà" giáng như thế.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét