Cuống rún chưa lìa 2
Sau khi tường trình xong về công việc của Ban Trị Sự vừa mãn
nhiệm kỳ hôm nay, ngày cuối năm dương lịch 1964, ngày nhóm Đại Hội thường niên,
và trước khi bầu Ban Tri Sự mới, với lại trước khi ngồi vào bàn tiệc, cũng thường
niên, tổ chức ở sân nhà ông Hội Trưởng của "Hội Tương Tế tỉnh B" ông
Hội Trưởng cao niên, hiền lành, dễ thương của cái "đồng hương hội" ấy
than:
- Bà con cô bác ơi, mấy năm nay Ban Trị Sự khổ sở nhứt, không phải vì vấn đề
tài chánh, thường là bài toán bể đầu đối với các hội nho nhỏ như ta, không có
cơ sở kinh tài, chỉ đứng vững tương đối và tạm bợ dựa vào tiền niên liễm của
anh chị em hội viên, mà khổ sở vì một chuyên lặt vặt mới kỳ cho chớ!
Ông Hội Trướng nầy và Ban Tri Sự của hội cứ được bầu đi bầu lại mãi, nên ông biết
rõ mọi vấn đề như bất kỳ những người có trách nhiệm nào mà giữ chức vụ một cách
trường kỳ.
- Về chuyên gì đó a... ông Hội Trưởng?
Một vị hội viên cũng rất cao niên, người ủng hộ tài chánh cho đồng hương hội tỉnh
B hỏi như vậy. Ông nầy rất giàu có và nhứt là rất tốt bụng, lần nào hội túng tiền,
ông cũng giúp đỡ cho, nếu đó là một số tiền lớn thì ông cho mượn, bằng như hội
cần năm ba ngàn, ông luôn luôn tặng không.
- Về cái nghĩa trang é mà! ông Hội Trưởng đáp.
- Sao, nghĩa trang làm sao?
Vị ủng hộ viên nầy cũng gần tới tuổi quay đầu về núi rồi nên ông rất chú tâm đến
cái nơi an nghỉ cuối cùng của ông trong một tương lai có lẽ rất gần đây. Ông
đoán rằng đây là vấn đề hàng rào dây kẽm gai, chớ không có gì lạ, nhưng vẫn tò
mò và nóng lòng biết đích xác ngay sự việc. Ban Trị Sự thấy cái hàng rào ấy rất
cần thiết để ngăn ngựa, bò, heo, chó xâm phạm nghĩa địa, nhưng nghe đâu như Ban
Trị Sự chưa gom đủ tiền để đúc trụ bê-tông và mua kẽm.
Phía trong chợ ông Tạ có một khu nghĩa trang cho gần hai mươi tỉnh của miền
Nam. Non hai mươi nghĩa trang ấy nằm khít ranh với nhau. Tỉnh B quá gần Sài gòn
nên chi từ ngày thành phố nầy được thành lập cho tới năm ấy, người gốc tỉnh đó
không tậu nghĩa trang riêng, ai có kha khá tiền thì đưa xác người thân về quê,
không tốn kém bao nhiêu, ai nghèo lắm thì nằm đất ở nhà chùa ngoại ô nào đó.
Nhưng từ những năm có biến cố, việc đưa xác về quê rất bất tiện nên nghĩa trang
nầy mới được thành lập, sanh sau đẻ muộn hơn các nghĩa trang khác, nó nằm ở
biên khu, không được các nghĩa trang lân cận che chở cho ở tới ba mặt, thường bị
thú vật nhà của ngoại ô xa nầy phá quấy.
- Thưa hiền hữu, ông Hội Trưởng đáp, nói cho đích xác ra, thì đó là vấn đề người
coi sóc nghĩa trang...
- Vậy à? Tôi cứ tưởng... Còn hàng rào?
- Hàng rào thì đã làm xong rồi. Người coi sóc nghĩa trang mới là bài toán bể đầu.
Năm rồi, Ban Trị Sự đã phải thay ba người, mà người cuối cùng cũng lại xin thôi
việc, vào dịp Tết ta tới đây, tức là sau hai tháng nữa là phải tìm cho được người
mới để thay cho y.
Không ai ngạc nhiên hết. Đời bây giờ, công ăn việc làm quá nhiều, dân tộc ta có
đông đúc hơn xưa bao nhiêu, cái yếu tố người cũng cứ tương đối ít, ngoại nhân lại
trả lương cao lại rất khó lòng mà giữ công nhân, ngành hoạt động nào cũng mắc
phải nạn thiếu người hết. Phương chi khoản thù lao cho một người săn sóc các
nghĩa trang nho nhỏ, thật là ít oi thì đó là một chỗ làm không được hoan nghinh
bao giờ.
Ông Phán Ty hỏi:
- Tôi nghe nói hội nhà cho y độc quyền đào huyệt để y kiếm thêm chút đỉnh nuôi
vợ con, nghĩa là tương đối cũng đã đủ sống ra. Như vậy sao y còn...
Ông Tham sự trẻ tuổi tên là Cần, không đợi ông Hội Trưởng trả lời, cãi lại với
người vừa có ý kiến:
- Đủ sống nghĩa là chỉ đủ ăn cơm mà thôi. Y rất chánh đáng mà tham vọng được uống
cà-phê, được nhậu la-de như bao nhiêu công nhân khác. Vả lại người công nhân nào
thấy phu xích lô đạp kiếm mỗi tháng mười ngàn đồng 1 lại không ham kiếm được tiền nhiều hơn với
một nghề khác.
- Thưa quí vi hội viên với lại bà con cô bác, không phải như vậy đâu, ông Hội
Trưởng đính chánh. Tất cả đều đòi thôi việc để về xứ.
- À, cái đó thì hơi khó hiểu. Ông kỹ sư Minh nhận xét. Ngỡ họ thôi việc để đi
làm phu cho các hãng thầu Huê kỳ thì còn có lý do, chớ còn bỏ chỗ làm để trở về
những làng xa kém an ninh mà họ đã phải rời thì thật là kỳ. À, hình như ông Hội
Trưởng có cho biết là phải nông dân mới làm nghề đó được hả?
Ông Hội Trưởng xác nhận:
- Ừ, mà nhứt là phải là nông dân chơn ướt chơn ráo mới tới ở thành phố. Thứ nhứt,
chỉ có hạng người đó mới nhận một chỗ làm ít lương như vậy, trong khi chờ đợi
tìm được chỗ tốt hơn. Kế đó, họ là người không sợ ma. Quanh nghĩa địa là bụi rậm,
là chồi cây, là tre gai, là đồng trống, là bóng tối dày đặc về đêm, dân thợ ở
thành phố quen sống chen chút với nhau từ lâu ở những nơi sáng trưng đèn điện,
đâm ra nhát như trẻ con, sợ ma lắm, phương chi họ lại cất chòi gần ma thật sự,
chớ không phải là ma tưởng tượng. Khu nghĩa địa ấy còn có các nghĩa địa khác nữa,
như là nghĩa trang của người Ăng lê chẳng hạn, nếu có ma thì ma ở đó đông hằng
vạn chớ có phải là một hai con đâu.
Cử tọa cười ồ lên, giây lát sau trận cười dứt, ông ủng hộ viên tài chánh hỏi:
- Nhưng các nghĩa trang khác thì họ giải quyết vấn đề ấy cách nào?
- Dạ thưa ông anh, họ không có vấn đề ấy như ta. Các nghĩa trang khác có đã lâu
đời rồi, khiến nghĩa trang đã được bốn thế hệ người chôn trong đó, ở lắm nghĩa
trang như nghĩa trang của tỉnh Sa đéc, người coi sóc nghĩa trang cha truyền con
nối, họ đâu có xin thôi, còn các nghĩa trang tương đối ít lâu đời hơn, thì cũng
đã cao niên lối bốn năm mươi tuổi, người coi sóc lại đã quá già, không tính
chuyện đổi nghề vào lúc họ bảy mươi nữa.
- Họ có nói họ về xứ để làm gì hay không?
- Ai cũng nói họ nhớ nhà.
- Khung cảnh ở đó y hệt như ở nhà quê, cũng có tiếng gà gáy khuya, tiếng cu gù
trưa, tiếng chim hát sớm và chiều, thì tôi tưởng họ tạm quên được nỗi nhớ nhà sầu
xứ chớ?
Người nói ra các ý nghĩ trên đây là một ông giáo sư về hưu, và câu nói của ông
có vẻ văn nghệ, tâm lý, triết lý lắm nên cả đại hội đồng đều đồng ý với ông, và
vì vậy mà họ càng ngạc nhiên hơn trước, cái nước liều không cần thiết lắm của mấy
anh coi sóc nghĩa trang tỉnh nhà trong mấy năm nay. Vâng, đã bỏ làng vì lý do bất
an ninh, lại quyết trở về làng trong khi tìm được một nơi không làm cho họ lạc
hướng lắm, và sự liều không cần phải liều.
Chỉ có một vi bác sĩ trẻ tuổi là mỉm cười một cách bình thản. Người hội viên nầy
hẳn còn sống rất lâu, ông ta vào hội, chắc chỉ đã có đất mà chôn ông, chôn cha
gì đó thôi, chớ không phải vì ông ta chút nào.
Cử tọa làm thinh hơi lâu nên người hội viên trẻ tuổi nầy mới dám có ý kiến. Ông
ta biết kính lão mà đây là một hội mà đa số hội viên là những ông cụ thất tuần.
- Thưa ông Hội Trưởng, ông bác sĩ Xuân ấy nói, nếu ông Hội Trưởng cho phép, tôi
hy vọng sẽ thuyết phục người đó được.
Ông Hội Trưởng cười hiền lành mà rằng:
- Sao lại cho phép? Chính tôi phải yêu cầu bác sĩ giúp cho Ban Trị Sự thoát khỏi
cái nước bí nầy ấy chớ.
- Với lại, bác sĩ Xuân thêm, dầu sao rồi tôi cũng cần được phép của ông Hội Trưởng
để thực hiện vài điều lặt vặt trong nghĩa đia.
- Bác sĩ trọn quyền hành động.
Vấn đề xem như đã được thông qua, người ta bầu Ban Trị Sự mới và vì Ban Trị Sự
cũ làm việc đắc lực trong nhiều nhiệm kỳ liên tiếp nên cuộc bỏ phiếu chỉ là một
thủ tục lấy lệ mà thôi.
Thế rồi bao nhiêu người đồng hương ấy, thuộc đủ giai cấp, đủ nghề nghiệp, ngồi
lại bàn tiệc tất niên và từ đó cho đến khuya, chỉ còn tiếng cười nói, chớ không
ai nêu ra vấn đề rắc rối nào nữa hết.
Không biết sau đó cái ông bác sĩ Xuân ấy đã gạt gẫm anh nông dân chất phác kia
thế nào mà rồi anh ta bằng lòng ở lại, không những không xin thôi nữa, mà là
năm ấy anh ta cũng không về quê ăn Tết như năm trước đó.
Thường thì những chuyện làm điên đầu, không ai buồn xía vào làm gì, nếu có kẻ
đưa lưng ra gánh vác. Trong trường hợp nầy, kẻ ấy là Ban Trị Sự, mà Ban Trị Sự
đã không kêu than nữa thì họ an lòng rồi, hơn thế có nhớ tới vấn đề, họ cũng lờ
đi, sợ khui chuyện ra, mỗi người lại phải nghe than nữa thì mệt lắm, lại còn có
thể được yêu cầu đưa vai ra đỡ phụ thì càng mệt hơn.
Mãi cho tới năm 1966, cũng trong một bữa tiệc thường niên vào dịp cuối năm, ông
ủng hộ viên vụt hỏi ông Hội Trưởng giữa hai ly rượu:
- À, tôi chợt nhớ lại vụ người coi sóc nghĩa trang cho hội nhà. Bây giờ người ấy
là ai? Có đòi thôi việc vì nhớ nhà như bao nhiêu người trước hay không? Tôi cứ
bị cái chết của chính tôi ám ảnh tôi hoài nên tôi quên tất cả mọi chuyện khác.
Ông Hội Trưởng bật cười:
- Nhưng ông anh vẫn sống hoài để uống rượu với người đồng hương mỗi năm một lần.
Chúc ông anh sống thêm mười năm nữa.
- Cám ơn ông Hội Trưởng. Dầu sao rồi tôi cũng theo ông theo bà ngày nào đây,
nên chi tôi lại ích kỷ, lo trong ấy bị bỏ bê.
- Dạ, không những nghĩa trang không bị bỏ bê, lại còn đẹp hơn bao giờ hệt, đẹp
hơn tất cả nghĩa trang của mười mấy tỉnh khác.
Ông kỹ sư Biện xác nhận sự kiện, phụ họa với ông Hội Trưởng, lại trách cứ người
trong hội:
- Đúng là đẹp hơn các nghĩa trang khác nhiều lắm. Các nghĩa trang khác, cái nào
cũng u buồn, còn nghĩa trang nhà thì rực rỡ màu sắc, nhìn vô đó, ta cứ tưởng đó
là một vườn hoa. Bà con tệ lắm, ít có ai vô thăm nghĩa địa, trừ vài người hội
viên hiếm hoi nhà có tang ma.
Ông ủng hộ viên tài chánh cười ha hả mà rằng:
- Ai cũng sợ nghĩa địa nhắc nhở cái chuyến đi du lịch không được vui trong đời
con người nên nghĩa trang không bao giờ là chỗ ngoạn cảnh của ai được hết.
Ông Hội Trưởng nói lên một sự kiện không hãnh diện cho lắm về các hội viên nói
riêng, về loài người nói chung.
Sợ chết hình như là ơ... hơ... tuy rất tự nhiên, nhưng đồng thời cũng rất là
kém triết lý! Sao lại sợ một việc tự nhiên, không tránh được?
Một ông thư ký về hưu nói nữa:
- Có, các hội viên có vô trong ấy chớ sao không! Đó là những hội viên có mồ mả
người thân trong ấy. Chỉ phiền là họ đã hết hội viên rồi. Hễ họ hưởng xong cái
quyền lớn nhứt của một hội viên, nghĩa là lấy xong một chỗ nằm cho cha, mẹ, vợ,
con, rồi thì họ rút lui êm thắm, không đóng tiền nguyệt liễm nữa.
Ông ủng hộ viên trở lại vấn đề người coi sóc nghĩa trang:
- Nhưng tôi vẫn chưa biết vấn đề nhân công ấy đã được giải quyết một cách vĩnh
viễn chưa.
- Thưa ông anh, đã giải quyết ổn thỏa xong từ năm ấy. Cũng vẫn cứ là người cũ.
- Hay lắm, y hết nhớ nhà rồi hả?
- Dạ!
- Ông bác sĩ trẻ tuổi tên gì đó, ông ấy thuyết phục giỏi như Trương Nghi, Tô Tần.
Ông ấy đâu rồi? Bà con ta phải thưởng ông ấy mỗi người một ly rượu mới được.
Mọi người đưa mắt sang khắp các bàn tiệc đó tìm kiếm con người có công ấy;
nhưng không ai tìm được người đó hết.
Một người tư chức trẻ tuổi lên tiếng:
- Ông Xuân ổng đã đi quân dịch từ hai năm nay rồi.
- Vậy à? Chắc ông ấy ở tiền tuyến xa nên từ hai năm nay, nhớ ra thì ông ấy
không có mặt trong hai bữa tiệc cuối năm. Nhưng ông ấy đã nói làm sao mà rồi
người coi sóc nghĩa địa bằng lòng ở lại vậy a ông Hội Trưởng?
- Thật ra. thì ông ấy không có nói gì hết với người đó, hay không có nói hơn một
câu ngắn.
- Lạ! Chắc cái câu ấy là câu thần chú sao mà!
- Cũng không phải vậy. Ông ấy can thiệp để tôi cho phép người đó trồng bông thọ
ngay trong nghĩa trang để bán ở các chợ Tết, qua trung gian các hàng bông hoa.
Đó là chuyện tết năm ấy. Sang Giêng lại, thì ông ấy lại can thiệp để tôi cho y
trồng đủ thứ bông hoa, nhứt là bông huệ, cần trồng trụ khá lớn cho cây huệ dựa.
Bây giờ thì y đã giàu ra, vì bông huệ bán rất được tiền, và nhờ vậy mà nghĩa
trang nhà cứ thơm tho, tươi tốt quanh năm.
- Nhưng mà y làm nghề đó, choán chỗ lắm!
- Thưa ông anh với lại bà con, không choán chỗ đâu. Nghĩa trang nhà còn mới, đất
trống còn nhiều. Vả lại, bông hoa mềm yếu, rất dễ nhổ bỏ đi mà không gây thiệt
hại nặng cho người trồng. Nói thí dụ mà nghe chớ bỗng dưng ta cần chỗ cho một
vài trăm huyệt mả, một cách thình lình, thì y cũng sẽ thỏa mãn ta được, vì bứng
bỏ bao nhiêu cây bông hoa trong cái diện tích cần ấy, không làm tốn hơn hai tiếng
đồng hồ, còn về thiệt hại vật chất và tài chánh thì y chỉ mất lời chớ đâu có bỏ
ra bao nhiêu vốn mà phải lỗ. Vả lại, theo tôi thì y cũng sẽ khỏi phải bứng cây
cho nhọc xác, cứ để vậy, phu đào huyệt giậm lên đó như giậm lên cỏ, có thể còn
sướng chơn hơn là giậm lên cỏ nữa.
- Y khá lên như vậy hèn gì mà y vui lòng ở lại. Dầu sao ông bác sĩ ấy cũng giỏi,
chỉ giản dị có thế thôi, mà ta không nghĩ ra được.
- Thưa bà con cô bác, sự thật thì không phải chỉ giản dị như vậy đâu. Đây là một
vấn đề triết lý về con người chớ không phải chuyện tiền bạc đâu.
- To chuyện dữ vậy lận sao?
- Dạ. Đó là chuyện lớn thật sự. Ban đầu tôi cũng ngỡ chỉ có như vậy, nhưng sau,
một hôm vui miệng, tôi hỏi ông bác sĩ Xuân, ổng nói ra sự thật, tôi mới biết
đâu là đâu.
- Vậy sự thật có gì bí ẩn?
- Quả thật, bây giờ kiếm được nhiều tiền rồi thì người coi sóc nghĩa trang đâm
ra mê tiền, ta mà có đuổi y đi, y cũng sẽ van nài để ở lại... vì tiền. Nhưng
năm ấy thì y không hề ham tiền, không hề xin thôi vì lương thấp. Y chỉ cần thứ
khác mà thôi.
- Thứ gì?
- Chính triết lý là ở đó và bí quyết của bác sĩ Xuân ở đó, chớ thật ra ông ấy
ăn nói rất dở, không thuyết phục được ai hết đâu.
- Bây giờ thì bà con tôi rất nóng lòng biết cái chuyện ngộ nghĩnh và mới lạ đó.
- Ông bác sĩ Xuân ấy cho tôi biết rằng có một ông bác sĩ ở đâu bên Tây bên Mỹ
gì đó tôi cũng không nhớ nữa, hình như tên là bác sĩ Soubiran. Ông bác sĩ
Soubiran ấy đã khám phá ra những điều sau đây là dân thợ ở các thành phố, mức sống
cao hơn nông dân nhiều, nhưng lại cứ yêu sách đòi tăng lương hoài, và có tăng tới
đâu họ vẫn không nghe được thỏa mãn. Lương đủ sống như ở Bắc Âu, họ vẫn đình
công đòi tăng lương. Không phải là họ thiếu thiện chí hoặc tham lam hơn thợ
nông nghiệp ở thôn quê đâu, mà thật sự họ nghe không có hạnh phúc, lương cao tới
đâu cũng không giúp họ có hạnh phúc được, nếu ta không tìm được lối ra thật
đúng.
Cái lối ra thật đúng đó là tình yêu nghề của họ. Thợ thuyền, trước khi thành thợ,
là nông dân. Họ tới thành phố, không cơ quan nào hướng nghiệp cho họ hết, theo
khả năng và sở thích của họ, và họ thành thợ điện hay thợ sơn một cách rất là
tình cờ, rất là may rủi.
Người thợ nông nghiệp thì không bao giờ mắc phải cái nạn "ép duyên"
đó. Họ yêu đất, yêu mùi đất và họ được yêu cho tới mãn kiếp.
Đất có mùi thật sự, nhứt là đất mới xới, một mùi rất đặc biệt mà mũi họ quen ngửi
cho đến ghiền, thiếu thì họ nghe thèm. Họ thấy rằng họ hạnh phúc vì họ được thỏa
mãn tình cảm. Tình nhớ xứ, nhớ nhà gồm nhiều yếu tố, mà nỗi thèm mùi đất là một
yếu tố quan trọng. Nỗi thèm nầy có khi mãnh liệt như nỗi thèm mùi khói thuốc
phiện của những con thằn lằn, những con chuột lắt sống trong buồng của những kẻ
hút thuốc phiện, họ thèm và nhớ mùi đất y như là đào hát thèm và nhớ sân khấu,
vũ nữ thèm và nhớ đèn màu, và y như là cá thèm và nhớ nước. Cá nhớ nước không
phải là một hình ảnh đâu và đừng tưởng là cá không ở được ngoài nước.
Ở các chợ, các hàng cá, luôn luôn để cá lóc trong các rổ thường, loại cá nầy sống
được ngoài nước nhiều tiếng đồng hồ liền, nhưng chúng cứ ngáp mãi, y như là ta
thèm một điếu thuốc, một tách cà phê.
Vậy họ nhớ nhà, nhớ xứ là nhớ mùi đất ở phần lớn. Tạo điều kiện cho họ trồng trọt
được là họ tạm nguôi sầu,và lần lần quen được với môi trường mới.
Và quả đúng y như vậy. Khi tôi gợi ý cho y gieo bông thọ để trồng bán Tết, thì
mắt y sáng lên và y tức tốc đi tìm bông giống liền. Hôm sau đó, y dang nắng mà
cuốc dở đất một cách sung sướng, chẳng khác nào ếch và ễnh ương mừng mưa mới.
Ông Hội Trưởng kể xong, bao nhiêu thực khách chung bàn với ông, nhìn nhau, lặng
lẽ hỏi nhau điều ấy có đúng hay là không. Một hồi lâu, ông giáo Quyền cũng ngứa
miệng kể chuyện, nên ông bắt đầu thuật tích cũ trong gia đạo ông:
- Tôi nhớ năm ấy, tôi đang dạy học ở Bến tre. Tôi cưới bà nhà tôi ở tỉnh ấy. Được
hai năm thì một cuộc thuyên chuyển đưa tôi lên Sài gòn. Bà nhà tôi chưa có con,
và ít công việc nên tối ngày bà ấy cứ ngồi bó gối mà buồn. Bà ấy cứ nài nỉ tôi
xin thuyên chuyển trở về tỉnh nhà của bà ấy.
Chợt một bữa kia không biết nhờ gì gợi ý bà nhà tôi đi mua chậu, đi tìm đất, ra
đặt mấy cái chậu đất ấy ở sân trong, giữa nhà trên và nhà bếp. Bà nhà tôi trồng
rau răm, rau tần dài, hành hương, ớt, không mấy tháng mà sân trong không còn chỗ
để chơn nữa vì chậu cứ được sắm thêm hoài, thật là bất tiện. Thuở ấy rau cỏ có
bao nhiêu tiền đâu, đi chợ mua hai xu, cả nhà ăn cả ngày không hết mà hai xu chỉ
bằng hai đồng bạc ngày nay. Bà ấy lại không còn thì giờ nghỉ ngơi nữa, hễ sáng,
vừa bét mắt thì lo săn sóc ba chậu rau không đáng giá đó, trưa cũng vậy, chiều
cũng vậy. Vậy, mà kể từ ngày ấy, bà nhà tôi vui vẻ trở lại như hồi vợ chồng tôi
mới cưới nhau và không bao giờ tính chuyện đi đâu nữa hết, mãi cho tới bây giờ
mà tôi đã có cháu ngoại rồi.
Sở dĩ tôi phải lùi ra ngoại ô xa mà ở, chỉ vì sau đó bà nhà tôi thèm trồng cây
lớn để được xới đất nhiều hơn là đất trong các chậu. Ngày nay thì sân nhà tôi
không thiếu gì hết, từ cây
chanh, cây khế, cho đến cây mít, cây me, nhứt là tôi có được hai cây dừa mà bà
nhà tôi nhứt quyết phải trồng, vì quê bà ấy là xứ dừa, trồng dừa cho đỡ thèm
hình bóng cây dừa.
Ông ủng hộ viên tài chánh hỏi:
- Nhưng ngày kia, nghĩa trang khá đầy rồi, không còn đất để trồng trọt nữa, ta
làm sao giữ được người ấy?
- Ông anh chớ có lo. Nghĩa trang còn nhiều năm nữa mới đầy, bởi hội viên thất
tuần như ông anh mà cứ còn khỏe mạnh hoài thì làm sao nó đầy được. Như vậy, y đủ
thì giờ già để bằng lòng an phận với công việc của y là gìn giữ nghĩa địa.
--------------------------------
|
Con số của năm 1964. |
CÂU DẦM
Viết theo một chuyện cổ tích của làng Tân uyên để tặng những
đứa con yêu mến của Tân Uyên đã xiêu bạt khắp mọi nơi sau mùa tiêu thổ 1945.
Tôi ưa đi câu, không phải để được cá bởi vì tôi nặng bóng vía lắm:
Cá không ăn câu, mồ cha con cá dại
Cần câu anh cầm, nghĩ lại con cá khôn.
Cũng không phải theo dấu của ông già sông Vị đợi chờ chúa Thánh rước về làm tướng
Tây kỳ.
Đi câu, đối với tôi là những giờ mà lòng được nhẹ bổng không buồn, không vui,
lâng lâng như đã thoát trần. Đi câu là những giờ rình một tăm cá hay lơ đãng
ngó theo bóng chim thằng chài xẹt mau như sao băng, hoặc xem "từng mây lơ
lửng trời xanh ngắt". Đó là những phút hồi hộp nhìn cái phao chìm lần...
chìm lần, nghe đầu cần câu nặng nặng. Rồi... roạch một cái, con cá gì đó đã sứt
mép còn lưỡi câu thì góa mồi, mồ hôi ngư ông nhỏ giọt... Đi câu là xem những
con sông, ngọn rạch, tựa hồ như những con đường biết đi, mang theo hình ảnh của
cả một sự sống, một cuộc đời hiếu động. Đi câu là vớt những trái tràm, những bụi
cây rù rì trôi từ trên nguồn về để nghe nó kể lể chuyện rừng xanh.
Tôi lại thích đi câu dầm. Vì vậy mỗi lần về quê, tôi về vào mùa mưa để đi câu dầm,
tìm lại những cảm giác đã sống qua ngày nào.
Phải nói cho các bạn nghe câu dầm là làm sao chớ. Có gì đâu: vài chục cần câu
tre ngắn, đâu cần uốn cong như cây cung, đuôi cần vạt nhọn, nhợ câu ngắn hơn cần
một chút, lưỡi thép hơi to.
Ở làng tôi người ta gọi đó là câu cắm, là vì cần câu được cắm dài theo bờ ruộng,
có người lại kêu là câu bủa, vì cần nhiều, bủa khắp đồng ruộng. Còn câu dầm của
họ thì lại là một cách khác nữa.
Nhưng tôi có cần gì nói trúng một tiếng nhà nghề của địa phương đâu. Câu dầm của
tôi là một cuộc đi câu ban đêm, những đêm mưa dầm, phải dầm mưa mà câu.
Ở đây, câu, đối với tôi cũng không phải là bắt cá bằng cần. Đi câu dầm là hứng
lấy những hột mưa nhọn hoắt, đón những ngọn gió lạnh quíu tay để được tận hưởng
trong tưởng tượng cái cảnh ấm êm, chăn gối nệm bông.
Bơ vơ trong bóng tối, thèm thuồng một ngọn đèn xa... Lắng nghe sự sống bí mật,
âm thầm của côn trùng trong cỏ, trong lau... Rùng rợn vì tiếng vạc não nùng như
tiếng một cô hồn đau khổ, và tiếng thì thầm của đêm tối, tiếng gió vi vu...
Đó là những thú lạ thường mà người kỳ khôi hay tìm kiếm. Nhưng điều nầy thích
hơn hết, là đi câu dầm thế nào cũng gặp ông Ba Sa.
° ° °
Ông Ba Sa là một người thuộc về âm. Ban ngày không ai thấy
ông đâu hết, trừ khi ông giúp đám ma, nhà héo, đi cúng chùa, cúng đình. Những
lúc hội họp xóm làng như vậy, ông ít nói chuyện với ai, không hiểu vì thói quen
sống cô độc, hay vì lẽ gì khác.
Như một con cú ăn đêm, bạn bè với bóng tối, ông Ba chỉ ra khỏi nhà lúc đỏ đèn để
đi câu dầm, về mùa mưa. Còn trong những tháng nắng ruộng khô không biết ông làm
gì.
Đêm nào tôi cũng thấy ngọn đèn ông Ba leo lét đằng xa. Một khi kia nghe mình
hiu quạnh cô đơn quá, cần phải nói với ai một điều gì, hay ít ra cũng cần sự có
mặt một "hơi" người bên cạnh, tôi mò lần lại cái đóm đỏ, ẩn hiện như
đèn ma đằng kia.
Ông Ba cũng không tìm cách trốn tránh gì tôi, song cái miệng làm thinh của ông
thì không ai cạy nổi.
Nhưng tôi đã có những chiếc đũa phép, một điếu thuốc mời, rồi hai điếu, rồi ba,
rồi không còn biết là mấy điếu nữa. Trong những lúc như vậy mới biết hút thuốc
điếu là sướng.
Cái sức nóng nhỏ mọn của điếu thuốc như thấm nhuần khắp châu thân, nghe như đỡ
lạnh mình và lạnh lòng.
Khói thuốc xui người khép nép nhứt cũng phải cởi mở lòng. Lời qua, tiếng lại,
ban đầu còn cụt ngủn, xẳng lè lần lần thân mật, có bao nhiêu trút rót ra không
tiếc.
Một tiếng sét đằng xa vọng lại, tức thì ông Ba có chuyện Thiên Lôi, chuyện lưỡi
tầm sét để nói cho tôi nghe liền.
Ông Ba biết rất nhiều chuyện yêu ma, và ở đây, hoàn cảnh rất thích hợp để gợi sự
hãi hùng, rùng rợn.
Nào là chuyện thằng cha đi câu dầm, đêm kia gặp một bà già lạnh quíu, run rẩy
bên đường. Động lòng thương, anh ta cõng bà ấy về làng. Nhưng dọc đường nghe
càng lâu, càng nặng, nặng quá, đi không nổi. Anh ta ngó ngoái lại thì trời ơi,
đó là một cỗ hòm lâu đời, mục nát, hôi tanh...
Lại chuyện anh chàng đi soi ếch, nửa đường có thằng nhỏ xin theo xách giỏ.
Tới khuya, anh ta xem lại giỏ coi được nhiều hay ít... thấy máu chảy ròng ròng,
ếch thì con nào con nấy cũng mất đầu, anh ta hỏi lẩy thằng nhỏ:
- Bộ mầy ăn ếch sao mậy?
- Ừ, tôi ăn.
- Bộ mầy là ma sao mà...
Anh chưa dứt tiếng thì trời bỗng chớp lòe, thấy miệng thằng nhỏ dính máu tèm
lem, túa lụa, còn lưỡi nó thì le ra dài tới rún...
° ° °
Áo tơi và nón trũm của chúng tôi không đủ che mưa, đỡ gió.
Chúng tôi lại hút thuốc cho ấm. Một điếu, rồi hai điếu... rồi ba, bốn, năm, sáu
điếu.
° ° °
- Cái thở 1 mà
tui 2 còn trai như cậu - một đêm kia ông Ba kể -
tôi có thèm câu cắm như vầy đâu. Cá ruộng, một năm có mấy tháng mà bán cũng
không bao nhiêu tiền. Hồi đó con sông Đồng nai của mình còn nhiều cá, mà cá lớn,
tôi chỉ đi câu xuồng. Một ngày, một đêm, kiếm mạt lắm cũng được năm quan tiền 3.
Tôi cũng biết sát phạt quá, bắt vật trời sanh lắm thì mang tội, song nghèo thì
biết tính sao. Thôi thì tới đâu hay đó, nữa chết xuống dưới phải tội nào hay tội
nấy. Nhưng tôi "đã xuống dưới" trưởc khi chết, nên từ ấy những nay,
tôi dẹp cái nghề câu sông đi.
Ông Ba rút một hơi thuốc dài, rồi cho khói ra lỗ mũi chầm chậm... Đoạn ông thuật
tiếp:
- Cậu cũng biết chớ... chợ Tân uyên mình địa thế tốt lắm. Mấy thầy địa lý cắc
chú đi du phương, qua đó, thầy nào cũng khen. Nên cái chùa
"Ông" 4 sau chợ bị nhà nước bắt dời đi mấy lần, mà
"cắc chú" họ cứ rủ nhau xin để lại cho được mới nghe. Trước chợ, con
sông, bờ cao ngất.
Nước sông trước chợ lại vận thành xoáy khu ốc, như cố ý dừng lại trước một địa
thế linh thiêng. Bên kia sông, ngay chợ, khu rừng cấm Bình hưng trên hòn cù lao
Tân chánh, ngó giống tấm bình phong, hay cái tam quan trước chùa chiền. Rừng sầm
uất, cây cao, bóng mát đứng trên mé vực cao, nghiêm nghị rọi mình xuống sông
sâu. Nếu không có chợ, nhà, người đi ghe thương hồ qua đó không khỏi sởn tóc
gáy, vì cái vẻ linh thiêng, tịch minh của nó.
Mấy ông hồi trước thuật rằng: ngay dưới miếng đất cất chợ có một cái hang ăn luồn
vô riết tới chùa Ông, tới chỗ cái hồ trên miệng có xây con cá hóa long, cậu biết
chớ ?
Một đêm kia, cái nhà sàn của chú Sang, cất dựa mé sông, bỗng đổ sụp. Bao nhiêu
của cải, vàng bạc đều đi tuốt hết, còn chủ nhà và vợ con thì, may quá, lội vào
bờ được. Chú Sang mướn thợ lặn, định mò vớt của lại. Nhưng cái anh thợ lặn ấy
tìm hoài không thấy dấu vết cái nhà, không lượm được lấy một mảnh ngói, một tấm
ván nhỏ. Anh ta gặp một miệng hang, ngó vô tối đen như mực. Hang thần được dân
làng biết từ đó.
Đó, mấy ông thuật rằng trong hang đó có một cặp cá bóng tu lâu đời thành thần.
Hai vị thần nầy đã linh, lại hiền từ, nhơn đức hay phù hộ dân làng.
Cậu thấy không, người trong làng mình phần nhiều có chữ, đất địa có "Mão
quan" rõ ràng.
Trong khu rừng cấm trước chợ lại có cặp "cù" cũng tu lâu đời thành thần.
Nhưng đó là hai vị thần nhỏ, tướng của thần cá bóng.
Thần Cù rất hung ác, tham lam...
À! Quên cái nầy, mấy ông nói nhỏ cho nghe rằng Thần Cù là cặp rắn, lớn mà ngắn,
mồng đỏ, mỏ nhọn... Hễ năm nào dân làng không cúng hối lộ thì năm đó thế nào
cũng bị tai họa. Cái chợ hồi trước còn lợp tranh, cứ vài năm lại cháy một lần.
Đêm trước khi cháy chợ, dân làng nghe bên rừng tiếng gầm thét vang trời. Bởi vậy,
hằng năm làng có lập đàn làm chay trước chợ, để tế Thần Cù và luôn tiện bổ thí
cô hồn, các đảng 5.
Mấy ông lại thuật rằng có lần kia, một người câu xuồng, bỏ neo tại bến Trâu,
núp dưới bóng một cây nhông. Chỗ ấy rậm rạp, đi thuyền trên sông không thấy được.
Khi đương câu, anh ta thấy giữa dòng sông nổi lên một con rùa lớn bằng cái nia.
Rùa ngó quanh quất rồi lặn xuống liền, nửa giờ sau, người đi câu được mục kích
một cảnh tượng hết sức lạ lùng. Nơi mà con rùa hiện lên hồi nãy, thấy có khói từ
dưới nước bay lên. Đó là khói hương trầm thơm ngây ngất, bay tản ra khắp mặt
sông. Rồi từ từ nổi lên hai vị thần, một vị nam, một vị nữ, ngồi đối diện trước
một bàn thạch. Hai vi thần nầy, đen hắc, đầu đội mão hình đuôi cá, xiêm y rực rỡ
những vảy cá ngũ sắc, những vỏ ốc xa cừ. Xem kỹ lại thì thấy thần đương đánh cờ.
Chừng đâu được tàn một điếu thuốc bỗng nghe vị nữ thần nói: "Ông nè, ở đây
nghe như có hơi phàm". Vị nam thần bèn ngước lên, nhìn quanh, dừng mắt lại
phía xuồng câu, nhìn chăm chỉ rồi châu mày, tỏ vẻ khó chịu. Người đi câu còn hoảng
sợ thì cả thần và bàn thạch đều chìm một cách mau lẹ.
Một lát sau, nơi khúc sông ấy, máu trào lèn nhuộm đỏ khối nước và thây con rùa
ban nãy nổi lình bình. Các ông nói đó là một vụ trừng phạt tên lính dọ đường
không kỹ, để mắt tục dòm thấy cảnh thân mật của thần.
Tôi chận ông Ba lại nói: "Tích nầy tới đây tôi đã biết, người nào ở Tân
uyên lại không rõ chuyện "Cặp Cá Bóng tu dưới chùa Ông" và chuyện
"Cặp Cù gáy cháy chợ". Nhưng rồi làm sao nữa?
Ông Ba kể tiếp:
- Có một khi đó, đương câu, tôi nghe nó rị cần mạnh quá, tôi biết là cá lớn ăn.
Cái thứ cá lớn thì không nên kéo lên liền: như vậy chỉ thêm đứt nhợ, gãy cần mà
thôi. Tôi cho xuồng chạy theo sức lôi kéo của nó.
Nhưng nó mạnh quá, sợi nhợ căng thẳng muốn đứt ra, tôi phải vừa bơi phụ thêm, vừa
hớp nước sông phun cho cá nó mệt. Chạy theo doi Hàn, thì con cá đó đuối sức, thả
ngửa trên mặt nước. Con cá nó lớn gần bằng thằng nhỏ năm tuổi lận. Mà điều nầy
kỳ quá cậu, nó cứ nhìn tôi, hai mắt nhấp nhái như người ta ra hiệu. Tôi phát sợ
lên, bứt dây, rồi thả cho nó trôi đi. Nó mừng quýnh, ngó tôi lần chót rồi lặn mất.
Lúc về ngang xoáy nước, xuồng tôi khi không vùng lật úp. Tôi tưởng phen đó chết
trôi rồi, vì chỗ nước vận, tài giỏi như rái cũng không lội nổi.
Nhưng lạ quá, tôi bi nước rút xuống, chìm mà không ngộp, và lại chìm đứng, chớ
không đâm đầu xuống như người chết đuối.
Đáy sông không có bùn, không có cát, mà lót toàn bằng đá ong. Tôi chưa hết sảng
sốt thì bỗng đâu một con cá he lớn như một con heo nái lội tới trước mặt, rồi...
lạ chưa, nói bằng tiếng người rằng: "Chúa tôi sai mời tráng sĩ vào
dinh". Dinh nào cà, tôi hỏi trong bụng như vậy, và càng hoảng sợ hơn nữa.
Nhưng tôi cũng cứ đi theo cá he...
Làm sao mà tôi đi dưới nước không ngộp, cũng không bị nước cản, nhẹ nhàng,
thong thả như đi trên đất liền? Tôi theo cá he vào một cái hang lớn, rộng cỡ mười
người chun vô cũng lọt. Thôi tôi biết rồi, hang Thần Cá Bóng đây chớ gì.
Bốn bề hang đều cẩn đá xanh. Hang sáng lờ mờ, xanh xanh như đêm có trăng, sâu
vô ước chừng khỏi chợ - quả thật lời truyền khẩu không sai, hang ăn sâu tới
chùa Ông - trong ấy tôi thấy một khoảng rộng sáng gần như ban ngày.
Rõ ràng là một vương phủ. Dinh cất bằng đá cẩm thạch, cột chạm rồng cẩn ốc xà cừ,
ngói bằng vảy đồi mồi, lâu năm lên nước đẹp chưa từng thấy.
Ngai của Thần Cá Bóng đặt ngay trước thềm bằng san hô và huyền ráp mối lại rất
khéo léo.
Thần Cá Bóng ngự trên ngai, bên hữu có Thần Bà, bên tả một vi thần còn trẻ, đứng
chớ không ngồi. Vị thần trẻ nầy trên môi mang một vết thương còn mới ràng ràng.
Trước sân, binh tôm, tướng cá hầu hạ đông không biết bao nhiêu mà kể. Còn hương
trầm thì phưởng phất thơm, nhạc thần vẳng nghe đâu đó.
Tôi run sợ quỳ trước ngai thần, bỗng nghe thần phán: "Nầy! Người kia,
ngươi có biết rằng tội lỗi ngươi chồng chất đầy dẫy không ? Kẻ hầu hạ của ta đã
hao hớt nhiều, bao nhiêu binh tôm, tướng cá bị nhà ngươi câu gần hết. Ta đã tâu
với Long Vương và đã được phép xử ngươi. Ta định bắt ngươi xuống đây mà trị tội,
nhưng chưa kịp thì, may cho ngươi, hồi sớm đây con ta hóa cá đi du hồ, vướng phải
lưỡi câu của ngươi, và được ngươi tha cho. Vậy, ơn nầy đền tội ấy, nhưng ta khiến
ngươi từ bỏ cái nghề bất nhơn ấy đi".
Nếu ngày mai ngươi còn léo hánh trên sông nữa thì đừng có mong được về với vợ
con.
Tôi vưng vưng dạ dạ không ngớt thì Thần tiếp: "Muốn nhà ngươi khỏi thiệt hại
điều gì, ta ban cho ngươi một viên ngọc chan chan. Con chan chan sống không bao
lâu, nên không mấy con có ngọc, mà hễ có thì quí lắm. Nhà ngươi không được bán,
cũng không được khoe với ai. Để nó trong nhà làm của, tự nhiên làm ăn khá. Thôi
cho nhà ngươi về.
Tôi lãnh lấy ngọc, cúi lạy tạ ơn Thần rồi theo cá ra khỏi động. Khi lên tới mặt
nước thì xuồng tôi đã đậu sẵn tại bến Trâu, khô queo như mới đẩy xuống sông vậy.
Từ ngày ấy tôi bỏ nghề câu, xoay ra buôn bán. Mà quả thật như lời Thần đã dạy,
bán món nào lời món nấy, không bao lâu mà tôi cất được một cái nhà ngói khá lớn.
Còn con thì đứa nào đứa nấy cũng mập cùi cụi.
Một ngày kia, buồn quá, tôi xách cần ra bờ sông giựt lòng tong chơi. Chiều về,
nghe trong mình bần thần rồi đau một trận đau vật tôi gần trót năm. Vợ con tôi
nối tiếp nhau mà chết.
Cửa nhà, tôi bán sạch để chạy thuốc và lo việc tang ma. Còn hòn ngọc thì biến mất
đi lúc nào không biết.
Nên chi bây giờ tôi chỉ đi câu cắm thôi. Bị một lần tởn tới già. Thứ cá rô, cá
lóc nầy là cá ruộng, có phải của thần đâu mà sợ.
Tôi rợn người lên vì lạnh hay vì sợ? Bất giác tôi xách đèn rọi vào mặt ông Ba.
Qua những giọt mưa chảy rười rượi theo vành nón trũm, tôi thấy miếng ông già gặp
Thần Cá Bóng lẩm bẩm như nói thêm điều gì với ai.
--------------------------------
|
Thuở |
|
|
Tôi |
|
|
Tiền kẽm hồi Tiền Pháp thuộc |
|
|
Ông đây là ông Bổn Đâu Công, tức Mã Viện. |
|
|
Tục làm chay chợ vẫn còn, cho tới năm 1945 (lời tác giả) |
PHÂN NỬA CON NGƯỜI
Tụi bây nhớ nghen, năm nay đúng ngọ tao mới cúng, mà phải
cúng cho thật lớn.
- Dạ, con nhớ.
Chị Nhánh không bối rối trước cái lịnh trái đời mà cha chồng chị lập đi lập lại
đã ba hôm rồi. Trái lại, chị còn sung sướng mà khỏi phải thức đêm, nhờ cái lịnh
nầy. Mấy năm trước, gia đình nầy cúng cơm theo tục lệ làng anh Nhánh, đúng vào
sáu giờ sáng. Nhiều làng nông nghiệp ở miền Đồng nai có lệ cúng giỗ như vậy để
khách khứa ăn giỗ xong rồi còn ra đồng làm lụng.
Anh Nhánh đã khá lên rồi, không sợ tốn tiền, nhưng anh vẫn thắc mắc và cứ bàn
lén với vợ:
- Lạ quá, ông già đã tới tuổi sanh tật rồi hay sao é! Sao lại cúng trưa? Mà
cúng lớn làm chi vậy hổng biết nữa? Mình là ghe thương hồ, có mời khách khứa,
làng xóm gì được như hồi ở trên đất liền vậy đâu?
- Ối thì già sanh tật, đất sanh cỏ chớ sao!
Chị Nhánh lo cho heo gà ăn để rồi đi chợ. Tuy nhà họ chỉ là một chiếc thuyền mà
thôi, chị cũng nuôi mấy thứ gia súc đó, y như hồi còn ở làng. Heo thì sáng và
chiều, chị cho nó đứng trên sạp ghe để hóng gió trong sự ngơ ngác nhìn cảnh
sóng nước mênh mông, còn trời nắng gắt, hay trời mưa nó bị hạ ngục dưới khoan hầm.
Gà thì chị cầm tù chung thân chúng nó trong những chiếc ống tre. Chúng ló đầu ra
khỏi miệng ống để ăn và thở, cũng lớn lên được vậy, nhưng mang hình cổ quái,
tròn và dài y như ống tre, để ăn thịt chớ bán không được. Được cái là thịt gà ống
tre rất mềm.
Đang gặp "con nước", anh Nhánh cũng phải đậu ghe lại trước chợ ông
Năm để chị Nhánh mua sắm các thứ cần dùng cho một đám giỗ. Anh căn dặn:
- Má nó mua cho lẹ, kẻo trễ con nước, chèo nước ngược khổ lắm.
° ° °
Cái chợ quê ấy, hôm nay dân họ vui như có đám hát về làng.
Chiếc nhà thuyền của anh Nhánh là một cảnh ngoạn mục đã rủ rê dân chúng ra bờ
sông khá đông.
Trước kia, dòng họ anh Nhánh khá giả mấy đời liền. Anh thừa tự dòng máu ăn chơi
của tổ tiên anh, nên sau họ suy sụp phải bán nhà, trôi nổi bình bồng trên sóng
nước rồi thì giờ khá lên, anh o bế chiếc nhà thuyền thương hồ của anh như các cụ
săn sóc một chậu cây cảnh. Thuyền có một từng lầu, từng lầu này là buồng của
ông cụ. Mũi ghe biến thành một cái huê viên tí hon mà nhiều thứ bông hoa trồng
trong những cái chậu nhỏ, khoe màu rực rỡ giữa đám ghe thương hồ xám xịt và buồn
hiu khác. Vách và cửa đều được sơn xanh đỏ như ghe hầu của những ông quan địa
phương thời Pháp thuộc, hay của các đại điền chủ Hậu giang cũng của thời ấy.
Hôm nay, mấy anh bạn ghe phải nhọc sức chèo ngược nước vì chị Nhánh có vội vàng
bao nhiêu cũng không kịp. Nhưng họ được bù công bằng viễn ảnh bữa giỗ to trưa
nay, to tương đối theo cảnh chật hẹp dưới thuyền, đủ cỗ cho lối ba mươi thực
khách nhưng lại thật là khổng lồ vì trên ghe chỉ có bảy miệng ăn thôi: ông già
của anh Nhánh, vợ chồng anh, hai trạo phu và hai đứa con của anh.
Anh Nhánh cầm lái, công việc này, mấy năm trưởc vốn do ông cụ làm. Hồi đó anh
Nhánh còn nghèo chỉ dám mượn có một anh bạn chèo thôi, chính anh phải chèo mũi,
vả anh cũng chưa đủ kinh nghiệm để lái ghe.
Cầm lái tương đối nhàn, nên anh Nhánh ngồi nghĩ vơ vẩn về cuộc đời kỳ di của
anh. Năm ấy anh cưới vợ rồi ra riêng. Nhà đang khá giả bỗng suy sụp lần lần vì
mấy trận thất mùa liên tiếp.
Ông cụ vốn là tay phong lưu, quen ăn xài lớn nên phải bán ngôi nhà thờ bằng cây
danh mộc, rồi cất nhà tranh mà ở. Rồi nhà tranh lại cháy. Anh rước ông già về
nhà riêng của anh. Nhưng anh cứ làm ăn lụi đụi mãi, bí quá lại phải bán nhà để
lấy tiền sắm ghe đi buôn.
Nhờ trời ngó lại, anh trúng mối liền liền và anh công tử vườn này quyết chí làm
lái thương hồ luôn cho đến trọn kiếp.
Thuyền tới Vàm Cui hồi đúng ngọ, và cô dâu đảm đang, dọn cỗ lên cho ông cha chồng
cúng cũng đúng vào lúc đó.
Trong những giờ đợi con nước, Vàm Cui vui như một chợ quận, huyện nào, vì ghe
thương hồ nghỉ "chơn" nơi đây đông hằng trăm chiếc. Cảnh buôn bán bằng
xuồng tấp nập như ở làng vào những ngày đình đám. Không có thức ăn nào, hàng
hóa nào mà thiếu cả: chè, cháo, nem, chả, món nhậu, bánh trái, thuốc, giấy, hộp
diêm, dầu lửa gì cũng đủ cả.
Ông già của anh Nhánh cúng vái vội vàng rồi nhảy qua các thuyền lân cận lạ hoắt,
để mời ăn giỗ: ông cụ hối hả như vậy thật trái hẳn thói quen của ông và gia lễ
lắm, khiến cả thuyền đều kinh ngạc. Họ ngạc nhiên mà thấy ông mời khách trong cảnh
sống chật hẹp nầy, họ lấy làm kỳ cho việc bỏ gia phong của ông. Họ đâu có dè rằng
năm nay ông cụ rất có lý do mời khách và sợ thiên hạ ăn quà no rồi ăn giỗ không
ngon miệng nên mới cúng tốc hành như vậy.
Ghe của sáu Nhánh đậu dựa bờ dưới bóng cây râm mát và cỗ bàn dọn trên ba chiếc
chậu trải trên sạp ghe. Ba mươi thực khách kể cả người nhà, ngồi thành hai
hàng, hai bên mâm cỗ dài ấy và không khí bỗng nhiên giống hệt không khí trong
làng với những cuộc bàn hươu tán vượn trong mùi rượu đế, mùi vịt tiềm, mùi mì
xào, mùi thịt hầm, mùi gỏi sứa.
Ông già của sáu Nhánh chỉ ngồi chấm mút để cầm khách mà thôi. Ông đã no tới cổ,
no hạnh phúc được ngửi lại mùi đất liền qua cái bữa cỗ gợi nhớ làng mạc này.
Bấy giờ vợ chồng sáu Nhánh mới biết tại sao ông cụ đòi cúng vào giờ ngọ. Ông cụ
rất giỏi lộ trình đường nước, biết rằng đúng ngọ là thuyền nào cũng bi kẹt tại
vàm nầy và như thế mới có khách. Nhưng vợ chồng anh còn chưa biết nhiều điều
khác nữa.
° ° °
Nửa tiếng đồng hồ sau bữa giỗ, hằng trăm chiếc thuyền buôn
chui chút nhau để qua con kinh vốn cạn từ sớm đến giờ và bấy giờ nước lên mới sử
dụng được. Ông cụ ngồi cú rủ trong mui thuyền, mãi cho tới tối, mãn con nước,
thuyền phải đậu lại, chị sáu Nhánh mời ông ăn cơm, ông mới giựt mình. Giữa bữa
ăn, ông cụ thình lình long trọng tuyên bố:
- Tao không muốn theo ghe nữa. Vợ chồng bây có tiền cho tao chút ít để tao về
làng cất chòi tao ở.
Sáu Nhánh chưng hửng rồi sanh nghi, nhìn vợ anh trừng trừng, ngỡ chị ấy thất lễ
với ông già nên ổng hờn. Chị Sáu cũng tưởng mình đã sơ sót điều gì nên sợ hãi,
lấm la, lấm lét.
Ông cụ ngầm hiểu được ngộ nhận của con và dâu nên giải thích:
- Tao nhớ làng, nhớ đất quá!
Sáu Nhánh muốn phụng dưỡng cha để báo hiếu nhưng anh kiếm cớ khác:
- Nhưng con còn cần tía, cần kinh nghiệm của tía.
- Mầy đã thạo đường nước lắm rồi. Từ đây xuống tới kinh Tà bang dưới miệt vườn,
mầy thuộc cả hình dáng của mỗi lùm cây ở hai bên bờ các sông rạch, thì mầy đã đủ
lông đủ cánh rồi đó.
- Nói thiệt với tía, con đã khá, nhưng chưa đủ tiền cất nhà ngói tía ở. Tía ở lều
tranh một mình sao cho sung sướng bằng sống dưới ghe nầy mà con đã sắm đủ thứ đồ
cần dùng.
- Tao không cần gì hết, miễn được về đất. Cho phải ăn chợ ngủ đình tao cũng
vui.
- Đất...
- Ừ, đất, đất bạn mà tao chạy nhảy trên đó hồi còn thơ ấu, tao thương nó lắm.
Tao ghiền hửi mùi đất xông lên sau mấy trận mưa đầu mùa, tao ghiền hửi mùi lúa
chín, tao ghiền mùi phân chuồng. Tao muốn hưởng mùi đất vài năm trước khi theo
về với ông bà.
- Tía sống một mình, con e...
- Tao sẽ bắt hai đứa con của bây về ở với tao. Sống trôi nổi như vầy hại cho
chúng nó lắm. Chúng nó không có lấy một mái tranh để mà nhớ, không có một khóm
rau để mà thương, chúng nó sẽ giống như những cọng rác trôi theo dòng.
- Nhưng mà...
- Nhưng vợ chồng bây còn làm ăn được thì cứ mà bay nhảy đi, nhưng rồi cũng phải
về làng khi nào đủ tiền mua một mảnh vườn. Đất nước chỉ còn tồn tại được nhờ những
kẻ nhớ thương nó, bám níu vào nó thôi.
- Nhưng mình sống bằng tiền, chớ có phải là bằng mùi phân chuồng đâu.
- Rồi mầy sẽ nghĩ khác, một khi mầy làm ăn thất bại, cần cái an ủi mầy. Cái đó
là bụi tre làng, là vuông ruộng sau nhà, là tiếng ru con của một bà mẹ bên hàng
xóm.
- Tía nói lạ, kỳ cục!
- Không có gì là kỳ cục. Rồi ngày kia mầy sẽ nghe rằng đất có hồn và hồn mầy rất
gần gũi với hồn đất. Tao nhớ đất muốn chết đi lận, nhớ còn hơn là nhớ má mầy
trong mấy năm đầu tang khó của bà ấy, bởi vì vợ chồng không thân thiết với nhau
hơn là mình với đất. Vợ chồng chỉ ăn ở với nhau ba bốn mươi năm là cùng, đất
thì nó thấy mình sanh ra, lớn lên già yếu, rồi nó lại ôm mình khi mình chết.
Mình cũng thấy nó từ lúc lững chững bước đi cho tới lúc chống gậy mà lê bước. Nếu
vợ chồng bây không có tiền cho tao, thì tao cũng về làng, tao ngủ đình.
Thằng Lá, con trai lớn của sáu Nhánh hỏi:
- Ông nội ơi, ở đình có bắt dế được hay không ông nội?
Ông nội cười khà, day qua xoa đầu cháu và nói một mình, mắt nhìn ở đâu xa lắm:
- Bắt dế ! Ừ, nếu không bao giờ được hưởng cái thú bắt dế thì con người như...
như mất đi hết phân nửa con người.
Đoạn day lại nhìn sáu Nhánh, ông khuyên:
- Mầy không nên bắt lũ con mầy trở thành những con người phân nửa.
CHIẾC KHĂN KỶ NIỆM
Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng
(Thu dạ lữ hoài ngâm)
Không biết đi đâu nữa, Bích dừng chân lại nơi bến xe buýt để "xem chiếu
bóng". Vâng, chàng thấy rằng cảnh bến xe dễ mê như một cuốn phim nhiều động
tác.
Ở Sài gòn mà không có đi xe buýt vào giờ tan sở chiều thì quả thật không đáng mặt
là dân Sài gòn. Giờ tan sở trưa, nhiều công nhân nhà xa nên ở lại trung tâm
thành phố, còn chiều thì chim phải bay về tổ ấm vậy. Thế nên ở đó xảy ra những
trận xung kích những chiếc xe cuối ngày đi về các ngoại ô xa, ngay từ lúc các
xe nầy chưa đỗ bến lận. Lúc xe rà thắng, chạy rề rề thì thiên hạ đã nhào lên
hãm thành, xáp lá cà với các hành khách sắp sửa xuống xe. Cửa xe hẹp quá, người
lên không trôi mà người xuống cũng không lọt, thành thử chiếc xe giống như một
con rắn nhỏ mà trợn trạo nuốt một con mồi quá to, bị nghẹn cứng nơi cổ họng.
Các con mồi la hét inh tai, thật là vui đối với những kẻ không dùng lối xê dịch
nầy, chỉ đứng đó mà ngắm với đôi mắt bàng quan như Bích.
Không gì vui mắt bằng cảnh một cô đã bước tới đất rồi mà đi không được, y như bị
đá nam châm hút lại: vạt áo sau của cô ta trải lên bàn đạp và bị đến vài mươi
bàn chơn đè lên đó, cô ta vùng vẫy như một con ruồi mắc lưới nhện và như con ruồi,
vẫn không thoát được. Những chiếc nón lá vô phước cũng làm vui trò, hễ nó mà rủi
ro rơi khỏi đầu người đội là bị ép kêu rôm rốp như bánh tráng nướng và dẹp lại,
mỏng như cây quạt xòe. Cảnh trên xe còn vui hơn. Áo rằn ri lập thể đứng gần áo
bà ba đứt nút, săn-đan há miếng đạp lên giày da tây bóng lộn; thanh niên ngồi,
những cụ già thì phải đứng, trai cao bồi luôn luôn tìm cách chen vào giữa các
thiếu nữ hiền lành, và những chiếc nón lá bề bộn và choán chỗ cứ bị người ta rủa
mãi.
Bích muốn nhảy lên đi một đoạn đường để được vui thêm, vì chàng biết trên xe
còn "lắm điều hay". Chàng lại rắn mắc nên hễ đi xe vào giờ đó là
chàng thích lắm. Những lúc xe ngừng lại các trạm, nhả hành khách xuống không kịp,
các hành khách ấy hay la lên: "Khoan, khoan, khoan chạy!" Chàng cũng
la lên rằng: "Đừng có khoan, lủng xe của người ta bây giờ". Cứ đùa giỡn
như vậy mãi cho tới ngoại ô, trạm chót, thì trở về, bằng phương tiện nào cũng
được, là qua được một buổi chiều buồn.
Bỗng chàng thấy Tấn ở đâu chạy đến, hớt hơ, hớt hãi, tay ôm kè kè một bọc bằng
giấy nhựt trình.
- Đi đâu mà vội mà vàng Chàng hỏi giỡn.
- Trễ rồi, trễ rồi, họ sắp đóng cửa.
Vừa nói, Tấn vừa nhảy vội lên chiếc xe Bình tây đang giựt chạy. Gói giấy nhựt
trình rơi xuống đường nhựa, bánh ngọt trong ấy văng ra tứ tung. Bích ngạc nhiên
hết sức, vội chụp lấy cái gói rách, và lượm mớ bánh rơi bỏ vào đó, đoạn cũng nhảy
lên xe theo bạn chàng.
Cửa xe tự động đóng lại trên người chàng, Tấn phải đưa lưng ra mà đỡ như Hùng
Hượt Hải đỡ tấm bửng đá mà Tùy Văn Đế cho hạ xuống để giết anh hùng sau cuộc
thí võ, Bích mới khỏi bi kẹt.
Bích thở hổn hển và có vẻ tư lự lắm. "Lạ, chàng nghĩ, thằng Tấn nầy xưa
nay ăn uống sang lắm, nay nó mắc chứng gì mà lại mua toàn bánh cắc chú thứ hạng
bét như vầy cà?" Giây lát bớt mệt, chàng hỏi bạn:
- Đi đâu vậy?
- Còn mầy đi đâu?
- Đi theo mầy.
Tấn tỏ vẻ không bằng lòng, khiến Bích sanh nghi. Chàng đoán rằng nó có nhơn
tình mà cô nhơn tình ấy là một ma-ri-sến nên nó biếu toàn bánh cắc chú và mới
giấu giếm bạn bè. Tấn nói, sau mấy phút im lặng:
- Theo làm chi, mầy nên xuống tại trạm ngả sáu Quẹt-Đon.
- Không.
- Ai cho phép mầy đi theo tao?
- Ngộ chưa, tôi có tiền, tôi lấy vé, tôi đi đâu tùy thích tôi chớ.
- Mà đừng có theo tao.
- Bằng cớ nào chỉ rằng tao theo mầy?
Biết bạn là đứa nói liều và làm bướng, Tấn đành làm thinh, nhưng hắn tức lắm!
Bích càng sanh nghi hơn, nên càng muốn theo sát hơn.
Ngã Bảy, Máy Đá, Nhà thương Chợ Rẫy. Tấn xuống nơi đây.
"À, Bích nghĩ, thì ra nó đi thăm người bịnh. Có lẽ đó là một người bà con
nghèo, nên nó xấu hổ, không muốn cho ai biết cả".
Bích bỗng nghe bạn chàng đáng khinh quá. Chàng không dè mà Tấn có mặc cảm như vậy.
Tấn đi riết xuống trại 7 là trại bố thí. Trước khi bước vào trại, hắn day lại
nhìn bạn rồi thở dài.
Bích đoán rằng Tấn mới vào đây lần đầu, vì hắn đi dài theo giữa hai dãy giường
để tìm kiếm.
- Đây rồi, hắn nói to lên, sau một hồi lục lạo.
Cả hai đều dừng bước lại trước một cái giường kia. Con bịnh là một người đàn
ông trạc năm mươi, để búi tóc, có vẻ là nông dân. Y đang nằm thiêm thiếp mà rên
nho nhỏ. Nước da y vàng khè nhưng mũi y thì đỏ như trái hồng tươi chín. Tấn rờ
trán người bịnh. Y mở mắt ra rồi nói:
- À, cậu ba ! Sao cậu hay tôi bịnh mà tới thăm?
- Nghe xóm nói. Tôi tìm ông để nhờ ông vét mương. Xóm họ cho biết rằng ông bịnh
và vào đây. Ông đau làm sao?
- Quan Thầy nói tôi lớn tim, lớn gan, lớn đủ thứ hết.
- Có lớn lá mía không ?
- À, có.
Không hiểu sao mà cái gì cũng lớn hết.
Hai người thanh niên thì hiểu. Những dấu hiệu đó là dấu hiệu bịnh... rượu và bịnh
sốt rét rừng.
- Nầy có bánh, có táo, có xí mụi, ăn đi, Tấn trao gói cho con bịnh và nói như vậy.
- Cám ơn cậu. Quan Thầy cấm ăn cơm, đói lắm !
- Có đỡ không ?
- Có. Nhưng tôi nghe trong người tôi, tôi biết rằng thế nào tôi cũng chết.
Y nói điều đó bằng giọng bình thản, không hoảng hốt, cũng chẳng tủi thân.
- Thôi, rán nằm đây rồi sẽ khỏi chớ gì, Tấn an ủi.
- Không, tôi chắc tôi chết cậu à!
Tấn thở dài mà làm thinh. Hắn đứng nán một lát rồi ra về, hứa sẽ trở lại. Ra tới
sân, Bích hỏi Tấn:
- Bà con làm sao?
Tấn làm thinh giây lâu rồi đáp, đáp không ăn thua gì với câu hỏi cả:
- Hắn tên là bảy Rựa.
Chỉ có thế thôi. Luôn nửa tháng, không ai thấy bóng Tấn nơi nào cả. Bích có tìm
Tấn mấy lần, nhưng tìm không gặp.
Nhưng một hôm, Tấn lại đích thân đến rủ Bích cùng đi. Một nhiếp ảnh viên theo
sau anh con trai kỳ khôi nầy. Bích ngỡ họ đi chụp ảnh lạ nào. Nhưng lên tắc-xi,
chàng mới hay là Tấn vào nhà thương.
Người bịnh hôm ấy hư lắm rồi. Hai chơn y thũng, sưng to lên gần bằng hai chiếc
gối. Y nằm đó, hả mang ra mà thở. Thấy khách, y chỉ nhìn mà không nói được, mắt
rơm rớm lệ. Người thợ nhiếp ảnh bấm nút, đèn cháy lên trong nửa giây đồng hồ,
soi sáng gương mặt hấp hối kia một cách bi thảm, ghê rợn như lửa địa ngục rọi
vào một hồn ma mới tới xuống Diêm đài.
Hôm sau, Tấn lại rủ Bích đi đưa đám ma người chết. Hòm chưn ngang, bôi đất sét
vàng. Từ nhà xác vô tới đất chùa Phước Hiền, vỏn vẹn chỉ có hai thanh niên nầy
theo sau tám anh phu đòn, họ khiêng hòm mà chạy như bay. Thế là hết chuyện. Người
bà con nghèo của Tấn đã được vùi nong một nấm, rồi Tấn sẽ quên y đi, sau hai
mươi bốn tiếng đồng hồ.
Nhưng sau đó, một tháng qua rồi mà Tấn vẫn biệt dạng, khiến Bích lấy làm kỳ lắm.
Coi bộ thì hắn không thương người bà con nghèo ấy bao nhiêu, chỉ trông cái đám
ma lạnh lẽo ấy thì biết, thì sao hắn lại không nguôi, và như là trốn bởi đang
buồn vì tang khó?
Bích tìm thăm bạn. Tấn tiếp khách, lặng lẽ như một ông cụ, lại mở đầu bằng câu
chuyện triết lý:
- Bận bịu lắm với tình cảm, với dĩ vãng cũng khổ. Nhưng nếu dĩ vãng tan biến,
thì cũng buồn.
Tấn vừa nói vừa kéo hộc tủ lấy ra một bức ảnh, ảnh ông bảy Rựa hấp hối trên giường
bịnh.
- Hắn tên là bảy Rựa...
- Biết rồi.
- Tao lớn lên là thấy hắn có mặt trong làng rồi. Không vợ con, không họ hàng
thân thích, hắn ăn ở chợ, ngủ ở đình. Ai thuê gì cũng làm, chôn ăn mày, đào giếng,
đốn củi, tối ngày chiếc rựa trên vai nên mới mang cái tục danh ấy!
- Té ra không có bà con với mầy?
- Không. Tóm lại, con người ấy không có gì hay ho đối với tao cả.
- Vậy, sao mầy lại...
- Hắn thuộc vào chân trời quen thuộc của tao thuở tao còn bé. Tao thuộc gương mặt
hắn như thuộc lòng các gốc cây trong làng. Tao phải nói rõ cho mầy nghe là làng
tao tiêu thổ trong thời kháng chiến, cháy không còn một gốc cây. Khi thái bình
được vãn hồi, năm 1954, tao về làng thì thấy nó minh mông, trống trải như một
sa mạc. Làng tao đã bị xóa, cả trong ký ức của con người nữa. Kể từ ngày ấy tao
bỗng thấy những người đồng hương sống sót và trôi giạt xuống đây, quí báu không
biết bao nhiêu. Họ gợi được hình ảnh của quê tao, một vùng đất mà tao rất
thương yêu. Rồi họ kế tiếp nhau mà chết hết, chỉ còn lão bảy Rựa nầy thôi; lão
ta giống một lọ sứ cổ Giang tây, quí chỉ vì bao nhiêu lọ khác đều bể hết, chớ
cái đẹp của chiếc lọ ấy không hơn hồi nó mới được chế tạo ra đâu. Nhưng hồi đó,
còn hằng vạn chiếc, nó có giá trị gì?
- Té ra...
- Ừ, hắn là chiếc khăn mu-xoa của một giai nữ mà tao cất để làm kỷ niệm một mối
tình. Nay khăn rách...
Bích thấy mũi Tấn và mắt Tấn đỏ cả lên.
BÁM NÍU
Trời hết mưa đã hơn nửa tháng rồi và nắng tháng chín gay gắt
như là nắng hè. Thế mà trưa hôm ấy lão Nghiệm đi khắp xóm và hô: "Sửa soạn
để đi hứng, bà con ơi".
"Hứng" đây là hứng cá, một động từ địa phương, đặc biệt của miền đông
Nam Việt. Ở miền đông Nam Việt, nhứt là trong tỉnh Biên hòa, qua mùa nước lũ,
con sông Đồng nai ứa nước nguồn, bờ sông bành trướng ra, xâm lấn đồng ruộng
trong xa, cá sông thích lên để đẻ vào mùa ấy, có lẽ trên đó yên ổn hơn ở dưới
lòng sông là nước lụt chảy mạnh ghê hồn.
Đẻ xong, chúng bỏ con, bỏ trứng lại, hồi cư để sống đời dọc ngang trong dòng
sông rộng. Cá con tự túc trên bờ và khi mùa mưa dứt thì chúng đã lớn bằng đầu
đũa rồi. Không biết do năng khiếu nào dìu dắt mà hễ những đám mưa cuối mùa đổ
xuống là chúng áp nhau mà "chạy". Chạy tức là đổ xô nhau theo những
con đường nước từ đồng ruộng cao chảy xuống các rạch, các sông, để tìm về những
khoảng sinh tồn phong phú thực phẩm hơn, y như cha mẹ của chúng.
Dân miền đông, vào những đám mưa cuối mùa ấy, rủ nhau đặt những giỏ mây hoặc giỏ
tre đan thật khít mặt, tại các "hiểm đạo" như Quan Công phục Huê dung
đạo, và hứng bắt tất cả cá con đi tìm sanh lộ ấy. Họ đặt tên chung cho cá ấy
(thuộc đủ loại cá sông ngọt) là cá lạc mạ. Mạ, có lẽ là tiếng "mẹ"
nói trại bẹ ra, chớ bấy giờ lúa đã lớn cây rồi, còn đâu mạ nữa để mà lạc. Cá lạc
mạ hỗn tạp và nhỏ quá, không có giá trị thương mãi nhưng lại là món ăn rất
thích khẩu đối với nông dân nghèo. Mỗi mùa, một nông dân trong một làng quê hứng
có cả thúng giạ cá lạc mạ, tức là hằng mấy trăm ngàn con. Họ kho với muối và mỡ,
để dành ăn hơn chín mười ngày.
Lão Nghiêm cởi trần tư niên và người ta có cảm giác rằng da lão dày lắm vì lão
chịu đựng phong sương đã hơn bảy mươi năm rồi, chỉ bằng loại y phục thiên nhiên
ấy thôi. Lão có vó một tộc trưởng của thời xa xưa, rất nhiều kinh nghiệm sống
và nhiều khả năng chỉ đạo như một con thú đầu đàn. Nên chi cả xóm, cả làng đều
nghe theo lão, mặc dầu không có dấu hiệu trời sắp đổ trận mưa cuối cùng trong
mùa, trận mưa cá chạy, trận mưa rơi xuống sau một thời gian khô hạn gạt gẫm vài
tuần.
Họ rút từ trên giàn bếp xuống, những chiếc giỏ rất ít dùng ấy rồi ra đi ngay để
giành đường nước. Vâng, những đường nước, trong một vùng, chỉ có hạn thôi, mà
người hứng cá thì đông, phải tranh nhau mới được một đường, vì theo tục lệ cổ
truyền, không ai được phép "đặt trên dòng", khi có người khác đã đặt
giỏ họ rồi trên một đường nước nào đó. Nếu không có lệ nầy thì mạnh ai nấy
tranh giành, đặt trên người khác, ở một đường nước chảy sẽ có cả ba bốn người
giành hứng, làm sao tránh khỏi cãi vã, xô xát, đến xảy ra lưu huyết như chơi.
° ° °
Nếu cá con mới nở có năng khiếu đoán biết đám mưa nào là đám
cuối mùa để mà chạy xuống sông, kẻo tháng tới, ruộng khô, chết cháy cả lũ, thì
lão Nghiệm, y như cá, cũng đoán được đúng như vậy đó mà rủ thiên hạ đi hứng.
Quả thật xế lại trời mưa như cầm chĩn mà đổ thì tới tối giỏ ai cũng đầy nhóc cá
lạc mạ.
Đêm nay, nhà nhà đều vui. Nhà nào cũng kho với mỡ một mớ cá con ấy để cuốn bánh
tráng rau sống, chấm nước mắm ớt nhậu chơi, còn dư lại bao nhiêu họ mới kho mặn.
Cá lạc mạ non mềm nên ngon khôn tả và dân nhậu đều thỏa thích đêm đó. Dân quê
miền đông họ nghèo, không có tiền mua thịt, mà cá dưới sông bị họ hủy diệt bừa
bãi như thế, hằng trăm triệu con mỗi năm, hủy diệt hồi chúng còn là mầm non
thôi nên chi rồi họ lại phải nhịn thèm, vì đâu còn cá để mà câu? Nhịn thèm đến
cuối mùa mưa khác, chỉ ăn mắm muối qua loa vậy thôi, sau cái đêm linh đình nhậu
nhẹt đó.
Tuy nói thế chớ thỉnh thoảng họ cũng kiếm được cá. Đó là vào tiết tháng giêng,
tháng hai. Cũng lại lão Nghiệm nữa. Vì sáng hôm ấy, lão ta lại kêu gọi người
trong xóm đi tát. "Tát" là danh từ địa phương thứ nhì của miền đông về
nghề cá. Tát là tát các vũng trong rừng sâu, bấy giờ đã cạn gần hết nước, sau
năm tháng nắng chan chan.
Xóm Gò Rái của lão Nghiệm là một trong năm bảy xóm hẻo lánh của làng Tân định.
Đó là một làng khô cằn, một mặt nằm ven sông Đồng nai, nhưng phần lớn đất đai lại
ăn sâu vào phía trong rừng, từ đầu thôn ở bờ sông vô đến cuối thôn trong rừng,
xa đến mười mấy cây số. Xóm chỉ đông có mười sáu nóc gia, cỡ chiến tranh đi qua
đó, hủy diệt hết xóm, cũng không phải là một tấn thảm kịch lớn. Nhưng xóm ấy lại
rất cần thiết cho sự tồn tại của làng nầy, nó gồm tất cả các xóm nhỏ mới thành
làng được - cũng y như làng Tân định nầy cũng rất cần thiết để thành nước Việt
nam, mặc dầu nó nghèo khổ, không làm lợi trông thấy cho nước nhà và cỡ tang
thương có lướt qua đó, cả làng sụp đổ hết, có vẻ cũng không sao.
Tát vũng là công việc tập thể cần ít lắm là ba người mới làm cạn thật sự một
cái vũng khá lớn và khá sâu trong khu rừng nào đó, sau làng. Nhóm của lão Nghiệm
gồm lão, một góa phụ bốn mươi và chú bé Ất, mười bốn tuổi. Chú bé nầy là con của
một gia đình sắp sửa bỏ làng, di cư đi nơi khác, vì ở đây sanh sống khó khăn
không thể tưởng tượng được. Cha mẹ nó chỉ đợi cúng giỗ ông cố nội nó, vào cuối
tháng hai, là bỏ cái chòi tranh gia truyền độc nhứt để di cư.
Lão Nghiệm biết ý cá, biết ý trời mà cũng thuộc nằm lòng các ao vũng trong rừng
và thuộc nằm lòng mấy con đường mòn đưa vào các ao vũng ấy. Lão lại biết cả thú
rừng thích ao nào mà tránh và khuyên dân làng tránh, vì ao nào thú ưa đến uống
nước là ao đó có cọp rình. Họ lên đường hồi cỏ còn ướt sương, thế mà vào tới
trong ấy, mặt trời đã lên cao được bốn năm sào rồi.
Vũng mà lão Nghiệm chọn, có tên hẵn hòi. Đó là vũng Mẹ con. Ai đặt tên cho cái
nơi mà một năm chưa dễ có người làng đến chơi tới hơn một lần? Có lẽ đó là bọn
thợ rừng, họ đặt để làm những cái mốc không gian trên bước đường xuyên lâm của
họ. Vũng Mẹ con, như tên nó đã chỉ, gồm hai vũng nằm cách nhau độ ba thước, một
vũng lớn và một vũng nhỏ. Lão Nghiệm khôn quỉ, chọn vũng này để có chỗ mà chứa
nước của vũng có cá. Các vũng khác, nước tát ra, lại chảy vào, vì đất chung
quanh luôn luôn cao hơn, việc tát vũng thành ra một khổ sai tốn sức lao động
không thể tưởng tượng được.
Họ làm việc theo lối dây chuyền: ông tộc trưởng xuống tận rún vũng, múc vũng nước
bằng gàu rồi mang trao chị góa phụ đứng cách đó độ hai mươi thước, chị nầy lại
chuyền gàu cho thằng bé để nó đem nước đổ xuống ao con. Vũng Mẹ, lúc còn trinh,
đẹp vô cùng. Nước rừng, nằm yên hằng năm, lắng trong như mắt mèo. Dòm xuống đáy
vũng thấy rõ cá lượn quanh những thủy thảo hình dung cổ quái, có cây trông giống
như cội tùng già, có cây giống như cây bông cúc, có cây lại mường tượng như một
con rít khổng lồ.
Lão Nghiệm đứng nơi triền vũng do dự rất lâu, không nỡ để chân xuống đó mà phá
đám sự yên ổn của loài thủy tộc ẩn dật nầy, mà làm vẩn đục khối nước trong leo
lẻo, mà đạp gãy bao nhiêu thủy thảo đẹp như cây cảnh non bộ của nhà giàu. Nhưng
mà cái ăn tồi tàn cứ nói lên tiếng nói ưu tiên của nó và ra lịnh cho lão phá hoại
cảnh thần tiên thu hẹp này.
Xa xa, nghe có tiếng người hú nhau, có lẽ nhóm nào đó đi lạc đường, tìm nhau giữa
rừng sâu. Ở đây, chỉ nghe tiếng nước của vũng Mẹ ùa vào gàu và giây lát sau, tiếng
nước từ gàu trút xuống vũng Con. Họ lặng lẽ làm việc, dân của cái xóm thưa người
nầy gần như là hóa câm hết thảy vì họ không có nhiều dịp lắm để sử dụng cái
năng khiếu tốt đẹp nhứt của loài người là ngôn ngữ. Cho đến thằng Ất mà cũng ngậm
miệng, một sự lạ ít thấy vì trẻ con ham nói như ham ăn.
Đây là chuyến đi tát đầu tay của Ất, năm kia nó còn bé quá, năm ngoái nó đau ốm
trong mùa tát và chỉ mới được tham dự lần thứ nhứt đây thôi, vào một công việc
kiếm ăn của dân làng.
Thình lình nó la lên:
- Cá mè! Trời ơi sao lạ kỳ như vầy?
Không ai buồn đáp câu hỏi của nó mà người xa lạ thoạt nghe không thể nào hiểu
được.
Chị đàn bà góa bận khiển trách lão Nghiệm:
- Ông múc nước phải coi chừng chớ, để cá chun vô gàu, thì lát nữa phải tát cái
vũng Con trở lại để mót cá sao?
Lão Nghiệm giận mình sơ sót một cách không xứng đáng với tài năng của kẻ đầu
đàn, nên làm thinh để nuốt hận.
Thẳng Ất lặp lại câu hỏi, không hỏi thẳng người nào, nói to lên như chỉ nói với
nó thôi:
- Sao lại cá mè?
Chị đàn bà góa hỏi lại:
- Chớ mầy tưởng cá gì?
- Tui cứ tưởng ta tát cá đồng, nghĩa là cá trê, cá rô, cá lóc. Những cá sông dường
như đã bị hứng hết lúc còn là cá lạc mạ kia mà, thím Bảy?
- Không. Không phải con cá nào cũng "chạy" hết trong đám mưa cuối mùa
đâu. Có một mớ cố lội ngược dòng để ở lại, thím Bảy giải thích.
- Trời, sao nó ngu quá vậy? Lội ngược dòng đã khổ thân không biết bao nhiêu, lại
không được hưởng cái vui chung hội mà chạy với người ta. Tệ hơn nữa, ở lại
trong ao tù, chắc phải thiếu ăn và rốt cuộc có thể chết cháy khi ao vũng cạn hết.
Lão Nghiệm đã mỏi tay, mỏi lưng, đứng thẳng lên để nghỉ. Lão nhìn vào rừng trước
mặt lão, như không thèm nghe hai người đồng đội nói chuyện với nhau. Chị đàn bà
góa bí lối không biết đáp thế nào với thằng bé, mà có lẽ chị ta cũng nghĩ như
nó nên cũng đang thắc mắc thầm. Nhưng chị ta không hỏi, vì thằng Ất đã hỏi rồi.
Không có người đáp nghĩa là không ai biết đáp làm sao, còn hỏi nữa làm gì! Vả lại
dân quê bận sinh kế vất vả quá, không dám thắc mắc nhiều và lâu về bài toán vô
ích nào khác hơn là bài toán "ăn".
Lão Nghiệm nhìn rừng lâu lắm, rồi vụt thình lình trả lời câu hỏi của thằng Ất,
trong khi thằng bé ngỡ nó đành phải bỏ trôi băn khoăn nầy như bao nhiêu băn
khoăn khác của tuổi thơ mà không ai buồn giải đáp dùm nó, trong cái thế giới rừng
rú chỉ gồm mười sáu nóc gia mà ai cũng lo chạy gạo trối chết.
- Chắc mớ cá lạc mạ ngu nầy không ngu lắm đâu. Sở dĩ chúng nó không "chạy"
vì chúng nó thương yêu cái nơi chôn nhao cắt rún của chúng, cố lội ngược dòng,
bám níu để ở lại nơi mà chúng nó chào đời.
- Ở lại để làm gì?
- Không biết để làm gì! Chỉ thương là ở lại thôi!
- Đói chết.
- Đói cũng được, miễn toại lòng thương.
Không ai nói gì nữa và cả ba đều nhìn vào rừng, sau khi nói chuyện cá với nước.
Một hồi lâu, lão Nghiệm toan khom lưng múc nước trở lại, nhưng lão lại thôi,
nói tiếp:
- Thuở tui còn nhỏ bằng thằng Ất, ông bà tui cũng định bỏ làng đi kiếm ăn nơi
khác. Nhưng rồi họ không nỡ đi. Nhiều người khác cũng tính như vậy mà rồi rốt
cuộc ai ở đâu cứ ở đó. Họ bám níu vào mảnh đất cằn cỗi nầy mà họ rất cực khổ,
không biết để làm gì. Chắc họ thương làng quá, đi không đành. Mà quả có như vậy,
bà con ơi! Cái ngày mà ông nội tui quyết định ở lại, tui mừng không biết bao
nhiêu, tui chạy đi báo tin lành với các bụi tre ở đầu xóm, với con suối cạnh cuối
thôn, và cả ngày ấy, không có gì ăn, tui cũng nghe no tới cổ vì sung sướng
- Tui sắp đi, tui cũng buồn quá! thằng Ất than, nhưng không biết làm sao!
Chị đàn bà góa nãy giờ chưa có ý kiến nào hay, xui dại thằng bé:
- Sao mầy không trốn ở lại?
- Biết có được hay không?
- Dễ ợt. Trốn đi thì ngại đường xa nước lạ chớ trốn ở lại với người cũ, ai bỏ
đói mầy mà mầy lo.
- Tui thương đất nầy quá!
- Bám níu, ông bà ta đã bám níu, tao đã bám níu mới còn xóm nầy, làng nầy. Còn
làng mới còn nước mình, lão Nghiệm nói.
- Làng nầy nghèo quá, ông ơi! chị đàn bà góa than.
- Ừ, nghèo lắm và ta khổ lắm. Nhưng làng nầy không có không được. Một nước phải
gồm rất nhiều làng, làng nghèo, làng giàu, làng nghèo cũng cần lắm chớ bà con!
MA NÉM ĐÁ
Cô Hén không may mắn chút nào. Ba ngày tết, chủ cô đi tắm biển,
cho cô về quê ăn Tết như mọi năm. Nhưng hôm chiều hăm bảy, cô vừa "đổ bộ"
thì tối hăm chín, nhà cậu của cô bị ma ném đá.
Mồ côi cha mẹ, và chịu không nổi mợ dâu, cô Hén trôi nổi lên Sài gòn, đi ở mướn.
Bốn năm sau, nhớ xứ quá, và hận cũ đã nguôi, cô mò về làng. Thấy cháu chồng đã
khá, đeo vàng đỏ tay, quần là áo lụa, người mợ dâu cũng nể nên quên cái tội nó
đã cuốn gói ra đi, tiếp đãi nó như là một đứa cháu thân yêu. Vả mỗi lần về nó
không quên mua quà Sài gòn về biếu cậu mợ bộn bàng, nào là cam Tàu, hồng khô,
hàng ny-lông màu sắc sặc sỡ cho con của mợ, nên mợ phải xem nó là thượng khách
vậy. Cô Hén khỏi làm gì động tới móng tay sơn đỏ của cô, ăn no rồi đi dạo xóm,
tới bữa ăn lại về ních một bụng rồi lại đi nữa, đôi bữa không về vì cô ta rất
được hoan nghênh ở mọi nơi, ai cũng cầm cô lại ăn cơm hết.
Đi xa về tha hồ nói khoác. Mà cô Hén không nói khoác họ cũng mê tít đi. Nội cái
vụ đèn xanh, đèn đỏ, nội cái vụ vòi nước phun lên trời, nội cái vụ thang lầu rạp
chiếu bóng mình đứng trên ấy, tự nhiên nó bò lên, mình khỏi phải leo bước nào cả,
toàn là chuyện thật, thật đúng trăm phần dầu, nội những thứ huyền hoặc ấy cũng
đủ làm cho người làng say sưa như nghe chuyện cổ tích, chuyện thần tiên.
Tối hăm chín, Hén ở nhà để phụ giúp với mợ Tư nấu bánh tét, chớ không lẽ năm
cùn tháng tận rồi, nhà ai cũng bận rộn mà cứ ngồi lê mãi.
Hồi bảy giờ rưỡi, thình lình một tiếng đá rơi lên ngói kêu lên chát chúa. Mợ của
Hén rủa: "Quân dịch vật, ban đêm mà cũng bắn giàn thun cho bể ngói của người
ta hết".
Cậu của Hén cũng có mặt ở dưới nhà bếp, chỉ làm thinh thôi, nhưng châu mày suy
nghĩ. Trẻ con bắn giàn thun bằng sỏi nhỏ cỡ bằng ngón tay cái. Sỏi ấy rơi xuống
ngói rồi thì lăn đi, kêu rổn rổn, nghe như cả mái ngói đều bể hết, nhưng không
sao cả. Trong trường hợp nầy, tiếng chạm rất ngắn, nghe thì đoán biết ngói bể
nhưng chỉ bể một vài tấm thôi rồi cái vật rơi ấy nằm yên nơi chớ không lăn xuống
dốc mái nhà, chứng tỏ rằng nó nặng lắm.
Không biết bao lâu sau - vì không ai chờ đợi một tiếng đá rớt thứ nhì nữa nên
không ai phỏng độ thời gian - bỗng cái tiếng đá thứ nhì ấy lại kêu lên, chát
chúa. Mợ của Hén đã thả xong mười lăm đòn bánh tét vào nồi. Lúc bấy giờ đang có
mặt hai bà hàng xóm, tới đó để gởi bánh tét vào nồi nhà nầy, theo tục lệ ở thôn
quê, người nghèo chỉ gói một, hai đòn, nấu tốn công, tốn củi nên đem gởi vào nồi
của các gia đình khá giả. Mợ Tư vội bước ra cửa sau chưởi: "Mẹ tiên nhơn
cha, dòng họ cha nó! Đẻ con hổng biết dạy thì đóng trang mà thờ, chớ sao lại để
đêm hôm lại còn bắn giàn thun lên nhà người ta!" Mợ Tư chưởi thật to, vì mợ
đoán thằng bé bắn giàn thun có thể ở xa, cách năm bảy nhà gì lận, chớ không chưởi
đủ cho người khít rào nghe như những lần mợ mất gà.
"... tiên tằng cố tổ bà nội cha bây, ăn no rồi ở không phá làng phá xóm!
Mai nầy bây rước ông bà bây về, tao còn chưởi nữa, tao chưởi cho ông bà bây ngồi
không yên trên bàn thờ..."
- Thôi!
Cậu Tư nạt vợ rồi nói tiếp để giải thích:
- Không phải con nít bắn giàn thun đâu. Tiếng kêu của ngói bể, là tiếng đặc biệt
của đá chọi vô nhà.
Cậu Tư nói như vậy và nghĩ rằng có kẻ chọi nhà cậu, vì lý do gì chưa biết.
Nhưng cả nhà đều nghĩ ngay đến ma và ai cũng kinh sợ đến cực độ.
Hai bà gởi bánh tét, không nói không rằng gì, vụt chạy bay đi. Mợ Tư, Hén và bốn
đứa con nhỏ của cậu mợ, không ai bảo ai, lật đật đóng các cửa lại rầm rầm, làm
như ma sẽ bị cửa đóng vào nhà không được, như loài người vậy, rồi họ xúm xít
nhau quanh bếp lửa nấu bánh tét là nơi sáng sủa nhứt nhà bếp. Cô Hén đã rời
thôn xóm từ lâu, quen sống trong ánh sáng nên sợ hãi hơn hết, sợ còn hơn mấy đứa
bé nhứt, con của cậu mợ cô. Cậu Tư làm thinh, đoạn mở cửa nhè nhẹ, rồi thoát ra
ngoài. Mợ Tư gọi cậu một tiếng, không nghe cậu đáp, mợ càng sợ thêm, chạy vội
đi đóng cửa, phó mặc cho ma quỉ nó ăn tươi nuốt sống cậu mặc cậu. Ai bảo cậu bướng!
Thình lình đá lại rơi trên ngói. Cả nhà ôm nhau rồi ngã lăn cù. Bấy giờ nghe tiếng
xôn xao quanh nhà, khiến mấy đứa bé khủng khiếp khóc ré lên. Nhưng mợ Tư thì
yên dạ. Đó là tiếng của người trong xóm, có lẽ do hai mụ gởi bánh tét báo động,
họ tụ lại để xem cho rõ thật hư. Đá lại rơi trên ngói, lần nầy đến hai viên một
lượt.
- Đó, nó đó!
- Chắc chắn là ma!
- Ừ, chú Tư hiền khô, ai mà oán thù chú!
- Giỏi chọi nữa thử coi!
Tức thì một cục đá rơi xuống ngói.
Bấy giờ cả làng đều có mặt, đèn đuốc sáng trưng. Đàn bà họ sợ ma lắm, nhưng
cũng rất ham coi ma. Nhưng để cho chắc khỏi bị ma ăn thịt, họ đốt đuốc lên và
đi coi ma đông từng đoàn năm bảy người.
Cậu Tư không thể rình được nữa vì cậu đứng nơi sân, ai cũng thấy cậu hết. Tức
mình, cậu vô nhà lấy áo để đi mời ủy viên cảnh sát. Nhưng cậu vừa ra tới cửa
ngõ thì gặp ủy viên cảnh sát cũng vừa tới nơi.
- Gì đó chú Tư?
- Có ai chọi đá.
Cậu Tư vừa nói vừa mở cổng và thiên hạ nối gót ủy viên cảnh sát, tràn vào sân.
Mợ Tư đã mở cửa nhà trên, thắp đèn sáng lên, ông ủy viên cảnh sát chưa kịp ngồi
thì một viên đá lại rơi xuống ngói và ngoài kia thiên hạ lại la rần rần.
- Nó chọi đã bao lâu rồi?
- Độ trên nửa tiếng đồng hồ, non một tiếng.
- Mấy cục hết thảy?
- Gần mười lăm cục.
- Chú có nghi cho ai không?
- Không!
Ông ủy viên cảnh sát bóp trán rồi vụt hỏi:
- Còn con Hén đâu? Nghe nói nó mới về phải không?
Mợ Tư đáp hớt:
- Dạ, nó mới về, đang ở ngoài sau. Dạ, ông cảnh sát, tôi nhớ ra rồi.
- Nhớ gì? Ông ủy viên cảnh sát mừng rỡ hỏi.
- Nó tuổi dần. Hồi nó còn nhỏ, thầy coi nó có số quến ma.
Ông ủy viên cảnh sát và cậu Tư bật cười, trong khi đó thì mợ Tư gọi Hén giựt giọng,
giọng hằn học lắm. Ngày tư ngày Tết mà con nhỏ mắc dịch nầy về đây báo hại mợ
ăn Tết không yên! Mợ hận nó lắm, quên mất mớ quà nó biếu, mớ quà đã giúp mợ tử
tế với nó. Hén lấp ló nơi cửa buồng, ông ủy viên cảnh sát hét:
- Hén, ra đây tao biểu.
Hén ríu ríu vâng lời, mặt cắt không lấy được giọt máu.
- Dạ!
- Hai bữa rày có thằng nào chọc ghẹo mầy và mầy cự hay không?
- Dạ không!
- Nói thật tao nghe, hễ nói láo là tao bắt giam liền. Có hay không?
- Dạ, chắc chắn là không!
Cậu Tư có một người con gái thứ ba đã đi lấy chồng. Thằng con trưởng nam của cậu
đã chết lúc sắp cưới vợ. Còn lại ở nhà chỉ có mấy đứa bé xấu như ma.
Ông ủy viên cảnh sát lại hỏi cậu Tư:
- Không ai oán thù vợ chồng chú chớ?
- Quả thật không, ông à.
- Có bao giờ có ai hỏi mua cái nhà nầy hay không?
- Dạ cũng không.
- Kỳ lạ, kỳ lạ !
Hai người đàn ông, không ai tin rằng có ma cả. Nhưng một cậu con trai xồng xộc
chạy vào nhà, tay cầm viên đá. Hắn xin bà chủ nhà một miếng vôi ăn trầu. Đó là
trò chơi cổ điển mà ai cũng biết cả nên không ai ngạc nhiên và hắn được thỏa
mãn.
Hắn bôi vôi trên cục đá rồi trở ra sân, hắn quát lên thật to:
- Nè, ma có giỏi thì vụt trở vào sân cục đá bôi vôi này thử coi!
Nói đoạn hắn tung đá ra thật mạnh. Bao nhiêu người trong sân đều hoảng, chạy đi
tìm chỗ núp, mái hiên, tàng cây, v.v... Ai quen thân với chủ nhà thì chạy vô
nhà, lúc ấy đã đông nghẹt. Không đầy hai phút đồng hồ thì một hòn đá rơi đánh
phịch trên sân đất. Thiên hạ lại đổ ra sân, đèn đuốc sáng trưng trở lại nơi đó.
Và kinh dị thay! Người ta lượm được một cục đá bôi vôi mới, vôi còn ướt mèm.
Ông ủy viên cảnh sát có học tới lớp nhứt hồi Pháp thuộc, có đọc báo, đọc sách,
và từ đầu chí cuối câu chuyện, không bao giờ nghĩ đến ma, thế mà ông cũng bắt đầu
nao núng. Bận nầy ma vụt đá vào vách bổ kho, chớ không ném lên mái nhà nữa.
Tung đá chạm vào vách kêu ầm dễ sợ hơn nhiều lắm.
Ông ủy viên cảnh sát gục gặt đầu rồi lặng lẽ mỉm cười. Ông suy luận như thế
này: muốn vụt đá vào vách, phải vụt ngang. Mà đá nặng, vụt ngang phải đứng gần.
Kẻ ném đá thừa dịp thiên hạ vào hết bên trong sân, mới xáp lại gần hàng rào mà
làm như vậy được. Trước hắn còn nhát nên đứng xa, và chỉ có thể tung lên cao
cho đá rơi xuống ngói thôi.
Ông ta bước ra sân và hô lớn như công khai tuyên bố:
- Rõ ràng là ma! Như vậy vụ nầy không thuộc quyền hạn của tôi nữa. Thôi, tôi đi
về đây!
Lời công bố của đại diện chính quyền địa phương nặng cân lắm, nên thiên hạ càng
tin rằng đó là ma. Ma cứ tiếp tục vụt đá vào vách bổ kho rầm rầm, hết vách bên
tả đến vách bên hữu. Mỗi lần một cục đá bay vào nhà là người hiếu kỳ bu lại
giành nhau để đem về làm kỷ niệm, đợi vài hôm coi đá còn hay không, hay cũng là
đá ma nữa ? Nếu ma ném đá thâu đêm thì bọn tò mò nầy cũng dám thức suốt một đêm
lắm để coi chơi và bàn tán, mặc dầu họ đã mệt mỏi lắm rồi vì bấy giờ cũng gần
sang canh hai, tức là trên mười giờ đêm. Từ lúc ông ủy viên cảnh sát ra đi tới
giờ, đã non một tiếng đồng hồ và ma làm xôm tụ hơn nhiều, đá bay vào vách tới tấp
khiến khách hiếu kỳ đông là thế mà người nào cũng giữ được một cục, không còn
giành giựt nhau nữa.
Thình lình nghe ai la lớn ngoài hàng rào:
- Nó đây rồi. Mầy chạy đàng trời không khỏi tao.
Tức thì hàng chục tia đèn bin ngoài kia chỉa thẳng vào nơi phát lên tiếng la ấy.
Người ta nhận ra đó là giọng của một anh dân vệ trong làng. Thiên hạ lại đổ xô
nhau ra khỏi sân, giành nhau để đi qua cửa ngõ hẹp té. Cậu Tư nhảy rào đi tới
nơi trước thiên hạ, vì cậu tức ấm ách, muốn biết mặt mũi "con ma" ấy
ra sao và nhứt là muốn biết lý do đã xui khiến nó phá nhà cậu.
Dân vệ do ông ủy viên cảnh sát bí mật điều động và cho đi rình, đã tóm được thằng
Ngọt với một cục đá trong tay. Đó là đá xanh trải đường, đường quê lâu đời, nước
mưa chảy xiết, gặm mòn đất, để lòi ra hàng trăm, hàng ngàn cục, muốn bao nhiêu,
có bấy nhiêu. Cả làng đều kinh ngạc: Thằng Ngọt vẫn được tiếng là một công dân
tốt trong đám công dân tốt trong làng, nó siêng năng, giỏi giắn, con nhà tử tế
và tương đối khá giả. Nhà nó với nhà cậu Tư lại rất thân nhau. Nó cũng sắp đi hỏi
vợ và rất mê con Họn xinh đẹp mà nó sắp hỏi thì không thể bảo rằng nó "muốn"
con Hén không được rồi làm xằng. Vả con Hén năm nay đã hăm ba tuổi, lớn hơn nó
đến bốn tuổi lận?
Ông ủy viên cảnh sát truyền lịnh giải tán bọn hiếu kỳ, kể cả dân vệ nữa, vì ông
muốn điều tra mật, chỉ cho cậu Tư theo ông về công sở thôi.
Thằng Ngọt không sợ hãi, không hối hận, tỉnh khô như thường, có vẻ lương tâm an
ổn lắm. Vả ông ủy viên cảnh sát không có hành hung nó mà, trái lại, khi nãy còn
ngăn dân vệ toan làm dữ với nó là khác.
Lời lẽ ôn tồn, ông hỏi:
- Cháu nè, muốn nhẹ tội, cháu nên khai thật, tất cả sự thật. Nếu thấy rõ thiện
chí của cháu, bác có thế làm êm, tha luôn cháu nữa. Bằng như mà cháu còn dối
trá thì bác giải tòa vụ nầy.
Ngọt do dự lâu lắm trong sự im lặng, đoạn trịch thượng hỏi lại:
- Thưa bác ủy viên cảnh sát, cháu không biết bác chú ý tới điều nầy hay không,
là từ mấy năm nay, mỗi lần chị Hén về làng, là làng ta mất đi ít lắm là một cô
gái?


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét