Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2021

Món nợ thiêng liêng 1

Món nợ thiêng liêng 1

Phần I

Thảo điền tên họ của chàng, số chương mục và số tiền gởi, đoạn đẩy tấm phiếu gởi tiền vào ghi-sê.

Ghi-sê ở ngân hàng nầy là một hàng rào thưa bằng sắt rèn mọc từ mặt quầy gỗ lên cao khỏi đầu người độ một thước tây. Cố nhiên ghi-sê là những cái lỗ vuông trổ ra rải rác dài theo hàng rào ấy. Lỗ nầy cách lỗ kia lối một thước hai, nhưng khách hàng người mình có cái thói xấu là xong công việc rồi, vẫn đứng ì mãi ở đó mà choán ghi-sê nên những người nối đuôi sau họ phải liên lạc với bên trong bằng cái kẽ hẹp, dưới chơn hàng rào sắt, kẽ nầy chỉ cao có bốn phân tây thôi.

Một bàn tay đẹp với lên mặt quầy để lượm phiếu của chàng, mặt quầy được hàng rào phân ra làm hai, mặt ngoài khách hàng dùng để viết lách, mặt trong là nơi mà những tấm phiếu gởi, hoặc những ngân phiếu trình ra để lãnh tiền nằm chờ các cô.

Vâng, nhơn viên liên lạc trực tiếp với khách hàng, ở đây, hầu hết là phụ nữ.

Các cô ngồi bàn, thụp xuống sâu, vì quầy khá cao để khách hàng đứng viết mà khỏi phải khom lưng, vì thế mà nếu các cô không đứng dậy thì không ai thấy mặt các cô cả, cùng lắm là thấy mớ tóc của các cô mà thôi.

Bàn tay với lên để lượm phiếu gởi tiền đẹp đặc biệt, và tự nhiêu Thảo nhìn lần lên, à không, lần xuống, từ bàn tay cho tới vai, và chàng thấy được mặt người nhận phiếu vì cô ấy đã ngước lên và day ra phía khách hàng. Mừng rỡ vô cùng vì đây là một người quen mà chàng cần gặp, nhưng không dè nàng làm ở đây. Thảo reo lên:

- A cô, chào cô ! Té ra cô giúp việc cho ngân hàng nầy. Cái vụ đó đã xong rồi, tôi sẽ gặp cô ở đâu ?

Người thơ ký đẹp nhất của ngân hàng nầy bỗng tái mặt vì sợ hãi, rồi tím mặt vì nổi giận. Cô ta nói lớn giọng thật là xẵng:

- Không, ông lầm, tôi không hề quen biết với ông.

Thảo trố mắt há miệng mà nhìn người đẹp đang giận run, gương mặt kiều mị của cô ta trông xấu xí quá chừng vì sự tức giận đã làm méo mó những thớ thịt khéo tạc nơi đó.

Tất cả khách hàng bên ngoài và nhân viên bên trong đều nhìn trừng trừng vào chàng mà mỉm cười những nụ cười mai mỉa, khiến cho qua mấy mươi giây kinh ngạc, Thảo xấu hổ đến muốn độn thổ mà trốn đi.

Có lẽ họ đang chưởi thầm: "Đáng kiếp cái thằng băm lăm mà vụng về". Chàng không sợ cái tội băm lăm cho lắm, nhưng cái tác phong "ná" mà họ gán thầm cho chàng, chàng mắc cỡ quá sức.

Người "ná" là một người con trai vứt đi, đến cái việc không ra gì đối với tư cách của anh con trai, cái việc tán gái, mà hắn cũng chẳng làm được một cách đàng hoàng cho khỏi bị con gái cự. Người ta bảnh thì người ta gây được cảm tình ngay nơi phái nữ, và có tầm thường đi, thì ít ra cũng phải được họ thờ ơ, chớ để cho họ cự thì thật là "ná".

Nhưng chàng có tán gái đâu ! Làm thế nào để nói cho hàng trăm người hiện đang có mặt và đang nghĩ thầm rằng chàng tán gái vụng về, nói cho họ biết rằng chàng mắc hàm oan, và cô thơ ký ấy là một kẻ không biết điều, mới quen nhau tuần trước đây với chàng, mà không phải quen thường đâu, bởi cô ta đã cậy mượn chàng một công việc quan trọng, chỉ trước sau có bảy ngày thôi mà cô ta đã vội bôi mặt.

Thảo còn phải đợi vài phút nữa cho cô Cúc ấy làm giấy tờ để chàng lại quỹ mà đóng tiền. Không thể đứng đó mà chường mãi cái mặt mo sượng ngắt của chàng ra, người thanh niên vừa bị nỗi oan Thị Kính nầy bước lùi lại ngồi trên một chiếc băng chờ đã có hai người chiếm rồi.

Chàng cúi gầm mặt xuống, nhìn gạch, buồn cười cho tình đời đen bạc, và tủi thân hết sức. Chàng đinh ninh rằng sở dĩ cô Cúc không chịu nhìn nhận chàng là người quen, chỉ vì cái nghèo của chàng, ở đây nó nổi bật lên.

Trong khi bao nhiêu người khác mang hằng bạc triệu tới bỏ băng, có người bao bạc quá to đến phải nhờ hai người nhà khiêng từ ngoài xe vào, còn thì ai cũng túi dết, cũng bị, tệ lắm là một chiếc cạt táp no nóc, còn chàng thì chỉ tay không, bởi chàng đóng vào chương mục tiết kiệm, mỗi tháng bốn năm ngàn là cùng, tiền nầy cất trong bốp chàng, chớ nó ít quá, cũng không làm được một gói bọc nhựt trình như vài người buôn bán nho nhỏ đã làm với vài ba chục ngàn khiêm tốn của bọ.

- Nguyễn văn Thảo !

Thảo giựt nẩy mình khi Cúc gọi tên chàng để trao phiếu riêng hầu chàng trình phiếu ấy ở quỹ để nộp bạc.

Lại một phen chịu cực hình nữa với bao nhiêu tia mắt chĩa thẳng vào chàng, mà bây giờ chàng còn là cái đích nổi hơn hồi nãy nữa, bởi người ta biết thêm được cả tên họ của chàng.

Tuy nhiên Thảo cũng mừng mà chợt nhận ra là tên họ của chàng rất khiêm tốn và không ai mà nhớ cái tên không liên hệ đến một con người tăm tiếng nào. Nếu chàng là Trịnh quốc Oai, chẳng hạn, một cái tên rất kêu, và Trịnh quốc Oai là một cầu thủ quốc tế danh tiếng, hoặc một kép cải lương đặc hạng thì chết một cửa.

Thảo đứng lên, bước tới bảy bước là đến quầy, vội chụp tấm phiếu đoạn lầm lũi đi qua két cũng ở gần đó.

"Chỉ tại mình !" Thảo tự trách như vậy suốt những tiếng đồng hồ còn sót lại của ngày ấy mà chàng không làm việc được.

Chàng không ân hận đã hứa giúp và đã làm giúp cô gái bất nhã ấy công việc mà cô ta cậy mượn. Chàng chỉ tự trách mình đã có hậu ý thôi.

Hôm ấy nhận lời xong, chàng không hỏi thiếu nữ xem sẽ gặp lại nhau ở đâu để chàng giao cho nàng bản đồ án sửa nhà, sợ rằng nàng yêu cầu hẹn nhau ở nhà của ông Hoạch thì không lợi cho chàng.

Thảo đã tình cờ gặp Cúc tại nhà ông Hoạch, và đã chú ý đến con người nàng ngay từ lúc chàng mới bước vào đó và qua câu chuyện, chàng có cảm tình với Cúc nhiều lắm.

Cúc thừa tự của cha mẹ nàng đã qua đời rồi, một ngôi nhà xưa ở đường Huỳnh quang Tiên, và nghe biết Thảo là cán-sự kiến-trúc hiện giúp việc cho một kiến-trúc-sư người Pháp ở đây, nàng hỏi thăm cách thức sửa ngôi nhà của nàng lại cho nó bớt cổ một chút.

Nàng là bạn của thứ nữ của ông Hoạch, còn Thảo là bạn của anh cô này nên chỉ gặp nhau rnười phút là họ đã khá thân với nhau rồi.

- Thưa anh, Cúc hỏi, có thể nào sửa một ngôi nhà xưa ra một ngôi biệt thự tân thời mà không tốn trên ba mươi ngàn bạc hay không ?

Câu nói của Cúc đã làm cho Liên, thứ nữ của chủ nhà, bật cười. Liên nói đùa:

- Chị hỏi sao mà giống má em quá. Má em mua thứ hàng nào cũng đòi vừa thật rẻ vừa thật tốt, hai tánh cách rất khó lòng mà đi đôi với nhau.

Nhưng Thảo nghiêm trang đáp:

- Rất được, nhưng cũng tùy theo ngôi nhà. Xin lỗi, nhà cô xây cất bằng vật liệu thế nào ?

- Dạ, ở trong bằng gỗ danh mộc, lợp ngói âm dương, nhưng toàn là vách tường không mà thôi, chớ không có tấm vách ván nào cả, cho đến đỗi hai vách buồng nhỏ ở trong cùng, theo lối kiến trúc của ta, ba má em, hồi còn sanh tiền, cũng đã bỏ ván để xây tường gạch.

- Nền nhà thế nào ?

- Nền rất cao, lót gạch bông, gạch đã cũ lắm rồi, nhưng cũng còn tốt.

- Tôi đã hình dung ra được trong trí tôi, ngôi nhà của cô rồi. Đó là ngôi nhà lai, rất thạnh hành ở xứ ta cách đây nửa thế kỷ.

- Dạ, hình như là thế. Em thường nghe ba má em nói đến danh từ "nhà lai" ấy.

- Và tôi lại xin lỗi cô để đưa ra nhận xét nầy: là không có gì kỳ dị bằng kiểu nhà lai căng Tây không ra Tây mà ta cũng chẳng ra ta.

- Em cũng thấy như vậy.

- Giờ chỉ có một cách thôi là làm cho nó một cái mặt tiền kim thời, cho thật cao để che bít nóc ngói âm dương đi, chớ không 1àm sao mà sửa lại được hết trừ phi phá bỏ cả chỉ chừa bốn bức tường, bỏ luôn cái bộ cột và cái sườn bằng danh mộc ấy nữa.

- Em chỉ mong có thế thôi.

- Như thế nầy. Tôi sẽ giúp cô một đồ án về cái mặt tiền ấy để cô xin phép đô-thành mà sửa chữa. Nhưng đồ án phải được kiến-trúc-sư ký tên, đô-thành mới nhận. Các ông kiến-trúc-sư ngoại quốc họ khó tánh lắm chớ không dễ dãi như kiến-trúc-sư ta, ta thì ký cái gì cũng đuợc, mà ăn rất rẻ nữa.

Tuy nhiên, tôi sẽ nói với chủ tôi và ông ấy sẽ ký giúp cô mà không lấy tiền. Ông ấy thì hoặc là lấy thật nhiều năm ba ngàn chớ không ít, hoặc là không lấy gì hết. Cô chỉ còn phải tốn tiền cho thầu khoán thôi.

- Được như vậy thì quí hóa quá nhưng em rất ngại anh phải thiệt tới hai lần.

- Đâu mà hai lần.

- Thì vẽ giúp là một lần thiệt. Thọ ơn ông kiến-trúc-sư Tây ấy là hai lần thiệt.

- Có hề gì cái vặt có. Tôi chỉ vẽ bốn đêm là xong, còn thọ ơn chủ tôi thì tôi đã thọ hàng trăm lần rồi, thêm một lần nữa cũng chẳng ăn thua gì. À, nhưng tôi phải biết kích thước với lại hình dáng phía trước cửa nhà cô.

- Kích thước thì em thuộc lòng. Ngang chín thước, sâu tám thước, không kể nhà bếp, trước nhà và hai bên hông có sân, đất nhà, còn hình dáng thì... Liên a, Liên lấy tập ảnh gia đình ra coi, tụi mình có chụp chung một bức ảnh trước nhà lúc năm kia.

Liên "ừ" một tiếng rồi chạy vào buồng, giây lát sau mang ra tập ảnh mà Cúc đòi bỏi. Cúc lật tập ảnh tìm kiếm rồi trao cho Thảo xem. Giây lát sau, viên cán sự kiến trúc nầy nói:

- Cám ơn quí cô, tôi đã có đủ mọi yếu tố để làm việc. Tuần sau là xong cả.

Sau đó, chàng định hỏi khéo Liên địa chỉ của Cúc nhưng cứ ngại miệng mãi. Ba mươi đời kẻ có hậu ý thì họ như vậy đó. Tục ngữ đã chẳng nói: "Có tịch hay nhúc nhích" sao ? Nếu chàng không có ý gì khác thì cứ hỏi ngay lúc nhận việc hoặc cứ thẳng thắn hỏi thăm Liên chớ có gì mà phải sợ.

Trong khi chàng còn đang bươi trí tìm mưu để mà gặp Cúc thì dịp may đưa chàng đến ngân hàng, dịp may cũng là dịp rủi, phải chịu đựng trong mấy phút đồng hồ dài đằng đẵng cái nhục biết rửa mấy sông mới sạch được.

"Lạ quá, Thảo nghĩ, mình mở chương mục ở đó đã hơn hai năm rồi mà sao không bao giờ thấy mặt Cúc ? Có lẽ nàng mới vào làm hay từ thuở giờ ngồi ở đâu trong buồng giấy nào ở phía trong chăng ?"

Buồn ơi là buồn ! Đau ơi là đau ! Nếu chàng chinh-phục Cúc mà Cúc thờ ơ, chàng sẽ cố lòng bền chí đeo đuổi ; nếu chàug tỏ tình với Cúc mà bị Cúc từ chối, chàng sẽ nỗ lực làm cái gì cho động trời để Cúc thấy chàng xứng đáng mà đổi ý. Đàng nầy Cúc không buồn nhìn nhận chàng thì có chua xót hay không chớ !

Thình lình Thảo nhớ ra là khi sáng chàng mặc bộ đồ thợ máy bằng ka-ki xanh. Đó là y phục mà chàng thường mặc để đi làm, cho đỡ tốn tiền giặt ủi. Trong giờ làm, chàng đã xin phép chủ để đi gởi tiền ngân hàng và cũng chẳng buồn ghé nhà thay y phục sạch làm gì.

Thảo vụt cười khan lên một mình rồi lẩm bẩm: "Thì ra người đẹp, cũng như phần đông thiên hạ, đánh giá con người qua cái vỏ ngoài. Quen với một thằng mặc y phục thợ máy, xấu mặt người đẹp quá, nhứt là xấu với các nữ đồng nghiệp của người đẹp, cô nào cũng có bạn trai bảnh số dách. Như thế thì xoàng thật là xoàng, không đáng cho mình yêu chút nào. "

Suy luận thì như vậy nhưng lòng anh con trai nầy lại cảm khác. Chàng vẫn đau, đau một cách vô lý và mâu thuẫn với lý trí của chàng.

Bản đồ án vẽ xong, có chữ ký của ông kiến-trúc-sư chủ văn phòng kiến trúc của chàng, được cuộn tròn trong một lớp giấy kiếng, đặt trên bàn viết của chàng.

Thảo cầm cuộn giấy ấy định xé đi, nhưng chưa hành-động, chàng đã nghe đau, làm như là chàng phải tự xé tim chàng, xé một mảnh lòng của chàng vậy.

Chàng đã đặt vào công việc nầy tất cả say sưa, tất cả tình mến yêu công việc, tất cả mối tình đầu của chàng.

"Nhưng để làm gì ? Làm kỷ niệm à ? Nhưng kỷ niệm nầy chỉ nhắc nhở tủi nhục thì..."

Tay cầm cuộn giấy, Thảo lặng lẽ nhìn vào khoảng không, buồn vô hạn trước một công việc đau thương, trước sự chôn cất mối tình mới nhóm mà rất sâu đậm của chàng. Cái đám ma nầy, chàng muốn lùi nó lại lâu chừng nào hay chừng nấy, bởi một khi lấp đất lên huyệt rồi thì không còn gì nữa cả, và chàng sẽ trở về với nỗi cô đơn cũ của chàng.

Cuộn giấy nhắc nhở con người không đáng yêu nầy vẫn không giúp chàng hết cô đơn, nhưng dầu sao nó cũng nhắc nhở cái gì, ngoài tủi nhục khi sáng nầy ở ngân-hàng, nhắc nhở một tuần lễ yêu đời trong tuổi con trai của chàng.

Khi đất lấp đầy lỗ huyệt rồi, nghĩa là mấy tờ giấy cứng nầy được xé ra thành nhiều mảnh vụn rồi thì không còn gì cả.

Thảo ngồi như thế hàng giờ, thật là ăn cắp lương của chủ sở. Lâu lắm, chàng chợt tỉnh giấc mơ, lấy giấy viết thơ ra rồi khởi sự viết.

Em Liên,

Anh gởi em đồ án sửa nhà mà cô Cúc đã cậy anh làm.

Đáng lý thì anh đã xé bỏ đồ án này hoặc chỉ viết cho em một dòng chữ về chuyện ấy rồi thôi, nhưng anh không thể nín về sự bất nhã của con người ấy.

Số là khi sáng, anh đi gởi tiền ở ngân hàng, gặp cô ta làm ở đó. Anh chào cô ta rồi xin cô ta hẹn thì giờ và nơi chốn để anh trao đồ án này thì cô ta không nhìn nhận anh là người quen, mà sự phủ nhận ấy lại được nói ra bằng một giọng rất là kém lịch sự.

Dầu sao, đã hứa thì anh làm, và đã làm thì anh cũng gởi cho người cậy mượn.

Anh đã tủi nhục không biết bao nhiêu, hồi sáng nầy, tại ngân hàng giữa mắt muôn người, nên anh nói với em là một đứa em nhỏ ra anh thương như em ruột, nói cho nhẹ lòng anh, mà cũng để ngăn đón trước vì biết đâu người ta chẳng cắt nghĩa láo với em thái độ thiếu giáo dục của người ta bằng cách nói xấu rằng chính anh bất lịch sự trước.

Thôi, chỉ xin nhờ em bấy nhiêu đó thôi.

Thương em

Thảo

Thảo viết xong bức thơ nầy thì đã mãn giờ làm buổi chiều. Chàng ra đi, ghé qua nhà ông Hoạch mà không vào, chỉ trao cuộn giấy và bức thơ cho thằng nhỏ, rồi đi ăn cơm ở hiệu chớ cũng chẳng về nhà tắm rửa như mọi ngày.

Chàng sẽ đi suốt đêm nay, uống rượu thật say để mà quên, và có lẽ người tư-chức chuyên-viên hiền lành nầy sẽ bê tha như vậy hằng tháng mới nguôi được.

Tuy nhiên vì đêm nay không tìm được bạn, ăn cơm xong, ngồi ở một quán giải-khát một mình cho tới mười giờ là chàng đâm chán, nên đi về.

Tánh Thảo rất cẩn-thận. Chàng luôn luôn thủ một cây đèn bin thật nhỏ trong túi, đề phòng những chiều bị bạn hữu bất thần rủ đi chơi cho tới khuya.

Cây đèn ấy giúp chàng soi sáng căn nhà của chàng, khi mở cửa trước ra, trước khi để chân vào đó, trước khi kịp mở đèn điện. Biết đâu kẻ gian không thừa lúc chàng đi vắng và vốn biết trong nhà không ai, lại không lẻn vào toan vơ vét. Rất có thể chúng hành-động trễ quá, chưa kịp đi thì bị chàng bắt chợt. Như thế chúng sẽ đánh giải vây để thoát và không rọi đèn vào trước, chàng có thể bị một vố bất thình lình.

Vậy mở cửa xong, Thảo rọi đèn vào trước. Nhà chàng chỉ có một buồng độc nhứt không vách ngăn ở giữa, giường ngủ kê tuốt ở trong cùng.

Thấy cửa sau vẫn đóng, Thảo an lòng, chĩa tia đèn vào các xó kẹt, thấy không gì khả nghi, chàng vừa hạ đèn xuống, vừa bước vào.

Tia đèn rọi thẳng xuống nền gạch, nơi khung cửa và Thảo hơi ngạc nhiên mà thấy dưới chân chàng một tờ giấy màu xanh nhạt xếp lại.

Công tắc đèn điện ở giữa nhà, chàng bước mau vào đó để mở đèn, đoạn đi đóng cửa và để lượm tờ giấy màu mà chàng đoán là một bức thơ cũ mà chàng đánh rơi lúc đi làm khi trưa.

Tuy nhiên, chàng cũng mở thơ ra đọc xem đó là thơ của ai gửi đến từ bao lâu rồi và tại sao chàng lại lấy ra đọc lại làm gì để rồi đánh rơi.

"A, chàng kêu lớn lên, tuồng chữ của con Liên. Thì ra nó đã phóng thơ nầy vào, qua lá sách cửa, lúc mình đi vắng".

Thơ như vầy:

Anh Thảo,

Đọc thưanh xong, em ôm bụng mà cười, rồi trao thưanh cho ba má em với lại anh Tần xem rồi cả nhà cùng cười sặc sụa.

Chắc đọc tới đây, anh tức giận lắm vì cả nhà em lại nhẫn tâm cười đùa trước cái mà anh lại cho là tủi nhục.

Nhưng không có gì là tủi nhục hết anh à ! Chẳng qua đó là một sự ngộ nhận thôi.

Cái cô mà anh gọi là cô Cúc đó, chỉ là cô Hồng, chị ruột hay em ruột gì tùy anh, của cô Cúc, vì hai chị em chị ấy đẻ sanh đôi.

Rất nhiều người, kể cả ba, má em nữa, đều cứ lầm lẫn hai người với nhau. Họ đã quen bị lẫn lộn như vậy nên có ai trông gà hóa quốc là họ hiểu ngay và vội đính chánh giùm một cách vui vẻ.

Sở dĩ chị Hồng đã khiếm nhã với anh là do câu chuyện sau đây làm cho chị ấy bị mặc cảm, một câu chuyện mà cả thành phố đều hay, trừ ra anh.

Số là năm ngoái tại một ngân hàng kia, một ông triệu phú người mình đến gởi tiền.

Cô nữ nhân viên lo công việc ấy hình như là một người không đứng đắn sao đó không rõ, mà nhà triệu phú ấy lại là một anh chàng ná.

Ông ta nói lớn: "Ê X. tối nay đi chơi nha em ! "

Không rõ là cô ấy đã có gì với ông nhà giàu ná ấy hay không, nhưng dầu sao ông ta cũng đã vô lễ một cách không thể tha thứ được, nên cô nọ nói xung thiên, chụp lấy bình mực (bình mực để ở ngoài quầy, cột dính lại với một cây bút, dành cho những khách hàng không có bút máy, nhưng ai cũng có bút máy hết thành ra bình mực cứ đầy ứ), ừ cô ấy thò tay ra ngoài chụp lầy bình mực rồi ném nào ngực ông nhà giàu.

Vụ nầy đã làm cho ông giám đốc ngân hàng đó muốn điên cái đầu vì ông triệu phú ấy là khách hàng quan trọng nhứt của nhà băng đó, nhưng ban giám-đốc không thể hy-sinh một nữ nhân viên đã tự vệ chánh đáng.

Cả thành phố đều hay, anh nhớ cho điều nầy. Vì thế mà nữ nhân viên ngân hàng bị mặc cảm hết ráo và cả quyết nghiêm khắc đến khắc nghiệt đối với những ông khách lạ hỏi vớ vẩn, để cho khỏi mang tiếng ấy mà.

Vậy anh nên hiểu giùm tâm trạng của chị Hồng mà quên vụ đáng tiếc ấy.

Em đoán là anh buồn, chắc anh đi chơi, nên viết sẵn bức thơ nầy ở nhà, hầu nhét qua cửa, để khuya anh về anh đọc cho nguôi giận đặng ngủ cho yên, không thôi anh sẽ thức trắng đêm vì tức.

Ghé anh xong, em lại đằng hai chị Hồng và Cúc với đồ án và bức thơ của anh để tụi nầy cười thêm một mách nữa chơi.

Nè, nói cho anh hay để anh yêu đời. Em lén lén nhìn chị Cúc thì đoán được rằng chị ấy đã cảm anh rồi đó. Liệu mà mua át bi rin để cứu chị.

Anh cưới chị Cúc xong rồi nhớ mua một cây roi mây để quất chị Hồng mà trả thù.

Đêm nay là đêm vui vẻ nhưng chắc chắn là chị Cúc sẽ nhai xương chị Hồng. Ai nhè cục cưng của người ta mà hạ nhục giữa công chúng !

Vậy lạc quan đi anh Thảo nhé, và ngủ cho ngon giấc. Em sẵn sàng ăn đầu heo, nếu anh cậy em.

Em nhỏ của anh

Liên

Thảo đọc xong bưc thơ xanh nầy rồi nhảy lang-ba như người vừa trúng số độc đắc. Rồi chàng cười sặc sụa, cười đến chảy nước mắt trước câu chuyện dị kỳ quá sức tưởng tượng của chành.

Con bé Liên nó chúc chàng ngủ ngon thật vô ích vì làm sao mà ngủ được khi người ta sầu chín ruột gan, hay vui mừng đến đỗi tim phổi đều nở lớn ra ?

Thế là chàng không bị làm nhục, mà chỉ là nạn nhân của một mùa mặc cãm của các cô làm nhà băng thôi. Đó là một rủi ro không đáng kể; vì người trong cuộc không khinh chàng, còn người khác có biết Nguyễn văn Thảo là ai mà chàng sợ họ đồn đãi ra mà mang xấu.

Hơn thế, chắc trong trận cười đêm nay, con bé Liên tinh nghịch nó cũng sẽ nói với Cúc là chàng cảm Cúc, y như nó đã nói với chàng là Cúc cảm chàng. Thế là đám đất đã được con bé rắn mắc ấy phát trống cây cỏ phần nào, cô cậu chưa nói gì với nhau cả mà đã hiểu thấu ruột gan nhau rồi đó.

Sáng ra, Thảo mệt nhừ vì chàng không biết uống rượu mạnh mà đêm rồi đã "mần" hết một cái công-xom-ma-xông, rồi về nhà thao thức mãi cho đến lúc kiểng nhà thờ gần đổ mới chợp mắt được.

Đêm đó và liên tiếp bốn đêm liền chàng nằm nhà vì không biết phải làm gì. Chàng không thích đi tìm bạn nữa như thỉnh thoảng một thanh niên độc thân hay giải trí bằng cách đó, vì lũ bạn trai của chàng, chàng nghe chúng nó không còn hay ho gì nữa cả.

Ấy, khi trong một nhóm bạn trai với nhau mà có một thằng bỗng dưng đào ngũ thì chắc chắn là thằng ấy đã yêu.

Tìm Liên chăng ? Chàng nghe mắc cỡ với Liên và Tấn lắm. Yêu nào có tội tình gì, nhưng không hiểu sao bị họ đoán đúng tim đen, chàng xấu hổ quá !

Vậy chàng nằm nhà để mà rạo rực, để mà bồn chồn và nếu cứ mãi như thế, chàng sẽ giống một kẻ cứ đứng yên một chỗ mà giẫm chơn lên quãng đất cũ, không bước tới đâu được cả.

Nhưng có phần không cần gì lo, bởi qua đêm thứ năm, chàng đang nằm trên chiếc ghế bành cũ để đọc sách thì có khách đến.

Nghe gõ cửa, chàng buông sách nhìn ra ngoài thì cuống lên, lăng xăng như gà mắc đẻ, khiến con bé Liên mắc dịch nó gập người lại mà cười, làm cho chàng càng bối rối thêm. Con bé nầy đã mười tám rồi chớ phải nhỏ nhít gì đâu, thế mà nó cứ trẻ con, thật là đáng ghét, muốn tát tai nó lắm.

Khách là Hồng và Cúc, và không biết ai mượn con bé ấy hướng dẫn mà nó lại có mặt để phá đám người ta. Chắc chắn là hai chị em Hồng, Cúc hỏi địa chỉ của chàng và nó nằng nặc đòi đưa họ đi. Cái con bé khó chịu ấy !

Trông hai thiếu nữ nầy giống nhau như hai giọt nước, Thảo đoán ngay rằng đó là Hồng và Cúc, mặc dầu chưa phân biệt được cô nào đã mượn chàng vẽ đồ án, với cô nào đã làm nhục chàng ở dưới nhà băng.

Cả hai cô đều mặc áo Nylfranc màu xám tro, đều uốn tóc một lối với nhau, đều đi giày phân nửa ta-lông và cùng màu giống nhau, xắc họ cầm nơi tay cũng giống hệt nhau và hai nụ cười cũng như chỉ có một nụ cười.

- À, ơ...hơ... xin... mời quý cô vào !

Liên cười rũ rượi và hỏi:

- Có mời em hay không ? Bởi em cũng là cô nhưng không quí.

- Cũng mời em nữa chớ sao lại không.

Thảo kéo ghế sồn sột, quýnh quáng như ông làng thấy ông quận về thôn, kéo ghế nhưng quên mời họ ngồi, chạy đi rót nước.

Con Liên quỉ dịch nói:

- Chúng tôi mỏi chân hơn là khát nước vì cả ba đứa mới ăn cơm xong.

Thảo đã trở ra với chiếc mâm trà trên ấy, đặt ba tách trà lên bàn và nói:

- À, mời quý cô ngồi chớ.

- Đố anh nội đây ai là Hồng, ai là Cúc, cô Liên tinh nghịch đã bắt đầu phá phách.

Thảo nhìn cả hai thiếu nữ, cười hiền lành mà không đáp. Bỗng cái cười của chàng tắt ngay: Chàng vừa nghe một sự khó chịu kỳ dị lắm.

Chàng yêu một trong hai người đó, nhưng không làm sao mà nhận ra nàng được, hóa ra như nàng không có, bởi cớ tình cảm của chàng không đến được với người nào cả.

Con người đứng đắn của chàng không cho phép chàng tham lam yêu cả hai người, hai mà như là một, còn yêu một, thì người ấy là ai mới được chớ ?

Đây là một tình thế mà người Pháp gọi là "tình thế giả", dịch dốt nát là như thế, còn nói cho đúng nghĩa thì là một tình thế mập mờ.

- Dạ mời cô hai với lại em Liên uống nước.

- Nói cho đúng tên từng người, các chị ấy mới uống. Mời cô Hồng coi nào, Liên ra lịnh.

Thảo nhận trò đùa ấy và nhìn một cô mà rằng:

- Xin mời cô Hồng.

Cả ba đều rộ lên mà cười.

- Thầy bói nầy coi bộ bị tổ-trác rồi đa, Liên chế nhạo. Anh chọn đúng chị Cúc để mời chị Hồng.

- Tôi xin chịu thôi.

Bỗng một cô nói:

- Em đến để xin lỗi anh về cái vụ dưới nhà băng.

À, ra cô nầy là cô Hồng đây, cô ấy ngồi trên ghế mà nệm bọc áo màu xanh. Thảo cố nhớ chi tiết đó. Và chàng đã nghe dễ chịu rồi, vì người mà chàng yêu là cái cô ngồi ghế nệm bọc áo đỏ.

- Đó là mộ sự ngộ nhận đáng tiếc của cả hai chúng ta. Nhưng Liên đã giải thích thì xin cô cho qua vậy.

- Còn em, Cúc nói, em đến để cám ơn anh về đồ-án.

- Có gì mà cô phải cám ơn. À, chừng nào cô cho khởi công ?

- Rắc rối lắm. Anh vẽ thêm một cái hàng rào mà hàng rào ấy nhà thầu họ đòi những mười ngàn.

- Cô nên có gắng, bởi không hàng rào, hoặc để hàng rào cũ xem không được đâu.

- Thấy không, Hồng nói, Hồng đã bảo phải làm. Cúc cứ do dự.

- Thôi thì làm. Em định thứ hai tới thì cho khởi công.

- Tôi sẽ đến mỗi hôm hai lần để trông nom công-việc giúp quý cô. Thầu khoán họ cẩu-thả và tham lợi lắm. Thường thì họ làm không đúng y đồ-án, pha xi-măng, họ lại pha non. Phải có người trong nghề kiểm-soát, họ mời làm kỹ lưỡng phần nào.

- Như vậy mất công anh quá.

- Hề gì. À, quí cô ở số mấy ?

- Dạ số 32

- Được, thứ hai tôi sẽ đến thật sớm. Mời quí cô uống nước.

- Không cho ăn gì, cứ mời uống mãi ; Liên trách.

- Rất tiếc là nhà không có gì ăn hết. Nếu anh biết trước thì...

- ...Thì anh đã trốn đi mất rồi ?

- Em con khỉ lắm ! À, thưa hai cô, làm thế nào để tôi phân biệt ai là cô Cúc ai là cô Hồng ?

- Những chị em sanh đôi khác, thường có dấu riêng, chẳng hạn một cái nốt ruồi, nhưng hai em thì không. Cứ quen nhau lâu thì phân biệt được, vì dầu sao thì cũng có khác.

- Tôi không thấy khác ở chỗ nào.

- Hễ anh oán chị nào thì chị ấy là chị Hồng. Liên nói.

- Anh đâu còn oán chị Hồng nữa.

- Thuở hai em còn bé, hễ đứa nào không ngoan thì đứa khác bị mẹ rầy, vì má em không nhìn kỹ và cũng không phân biệt được nữa.

- Rắc rối quá, tôi tưởng hai cô nên ăn mặc khác là hơn.

- Vô ích, thí dụ anh tới nhà em chơi, em mặc xanh, con Hồng mặc đỏ, anh vẫn không biết xanh là Cúc hay Hồng. Với lại các em thích mặc giống nhau.

- Hai cô có nghĩ hệt nhau hay không ?

- Có, hễ em nghĩ tới cái gì thì con Hồng nghĩ tới cái đó.

- Thật là kỳ lạ.

- Còn em mà sổ mũi thì con Cúc cũng sổ mũi.

- Cái mới lộn xộn dữ đa. Nếu cô Hồng ăn cua đau bụng, không lẽ cô Cúc không ăn cũng đau bụng ?

- Không thế nào mà đứa nầy ăn cua, đứa kia lại nhịn, cả hai đứa đều thèm ăn cùng một món với nhau.

- Hai cô có khi nào giận nhau không ?

- Không, vì đâu có đứa nào làm trái ý đứa nào.

Thảo làm thinh, trầm ngâm suy nghĩ. Thật là phiền. Họ cảm nghĩ y như nhau, nhưng họ phải yêu hai người con trai khác nhau. Khó cho họ lắm thay ?

- Tôi có biết hai chị em sanh đôi kia cả hai đều làm việc ở Ngân-hàng Quốc-gia. Không quen nhiều nên tôi không rõ cảm nghĩ họ có giống nhau không, chớ bề ngoài họ rất ít giống nhau. Có thể nói mỗi trường hợp song thai là mỗi trường hợp riêng biệt.

- Dạ hai em cũng có nghe bác-sĩ nói như vậy.

- À, còn cô Cúc, cô giúp việc ở đâu ?

- Vụ đó thì có khác. Em ở nhà làm nội trợ.

- Thành thử tôi có đến thăm quí cô trong giờ làm việc thì chắc chắn là gặp cô Cúc, không sợ lầm lộn gì hết ?

- Đúng như vậy.

- Nhưng nếu cô Hồng đau ốn, cô Cúc có thể thay thế mà ông chủ ngân hàng ấy không thể biết ?

- Không, thường thì hai đứa em cùng đau ốm một lượt với nhau và cũng một chứng bịnh với nhau, thành thử không đứa nào thay cho đứa nào được hết.

Thảo hơi bất mãn một tí. Trong con mắt kẻ đang yêu, chỉ có một cô gái độc nhất trên đời nầy là đẹp thôi. Nhưng hiện trước mặt chàng đang có bằng cớ hiển nhiên rằng có người khác đẹp bằng Cúc, khiến Thảo không biết có nên oán kẻ đã cả gan dám đẹp bằng Cúc hay trách Cúc sao lại để cho người khác đẹp bằng mình; dầu sao Cúc cũng bỗng dưng bớt quí đi một tí, vì chiếc lọ sứ Giang Tây rất cổ, giờ rõ ra là có đến hai bản, không quí lắm.

Phần II

Ngày xưa, con trai làm rể có công ba năm được vợ. Ngày nay anh cán sự kiến trúc nầy đi coi nhà thầu sửa nhà có công nên ba tuần lễ sau đó, khi ngôi nhà ở đường Huỳnh quang Tiên mang vào xong chiếc mặt nạ biệt thự tân thời thì anh ta cũng được vợ.

Chưa được liền, nhưng ông Hoạch đứng ra làm mai và bên kia đã ưng thuận, chỉ còn hẹn ngày cưới nữa thôi, mọi việc họ sẽ cho đơn-giản tới mức tối đa, không đòi hỏi lễ lộc rình rang, đám tiệc linh đình gì hết, vì cả đôi bên đều không còn cha mẹ, họ hàng gì.

Chú rể tương-lai nầy có đi làm rể một lần để thảo luận lại với bên vợ về vài chi tiết nho nhỏ.

Chàng đến ngôi nhà số 32 ấy vào xế chúa nhựt để có thể gặp cả hai chị em, và nhứt là gặp hai cô chủ nhà trẻ tuổi đang rảnh rang vì thường thì buổi sáng những người nội trợ bận ghê lắm.

Một người đang ngồi đọc báo ở buồng tiếp khách chào chàng bằng một câu mà chàng biết ngay người ấy là ai:

- A, dượng tới chơi, may mắn quá, tôi cũng đang trông dượng đây.

- Hồng lấy quyền gì gọi tôi bằng dượng ? Thảo hỏi đùa.

- Dượng nầy hổn ! Dượng phải kêu tôi bằng chị hai biết chưa ?

- Chưa ! Sao Hồng lại là chị hai của tôi ?

- Vì tôi là chị hai của con Cúc.

- Hồi nào ?

- Hồi mới đẻ ra.

- Chưa chắc đâu nghen cô. Bằng vào cái gì ?

- Má tôi nói tôi ra trước con Cúc đến nửa tiếng đồng hồ.

- Đó là tại Cúc nó chậm bước một tí chớ Hồng có cao hơn nó vì cái việc ra trước ấy đâu. Hồng có hơn nó gờ ram nào hay không lúc sanh ra ?

- Không.

- Nếu vậy đừng có đòi làm chị.

- Nhưng đã quen xem như vậy từ bao lâu nay rồi.

- Mặc kệ. Thảo không nhìn nhận quyền đó.

- Chớ bộ dượng muốn bắt Hồng làm em sao ?

- Không. Hai người ngang hàng với nhau, và ta nên gọi nhau bằng tên là hay hơn cả.

- Dượng là một tên phiến loạn, đem sự rối tôn ti, trật tự vào gia đình chúng tôi.

Bấy giờ Cúc đã ra đến nơi. Nàng nghe biết cả câu chuyện giữa hai người từ nãy đến giờ, và cho rằng Thảo có lý.

- Thế là hai người truất phế tôi đó hả ? Hồng hỏi đùa, vui vẻ nhưng vẫn hơi chua xót trong lời nói.

- Ít ra ta nên tha cho anh Thảo phải làm em, còn em thì cứ gọi chị bằng chị như trước cũng chẳng chết chóc gì.

- Chưa chi ta đã thua trận rồi thì cái vụ bắt rể...

- Bắt rể ? Thảo trố mắt nhìn Hồng mà hỏi thế.

- Thảo cứ hỏi con Cúc. Đó là phát minh của nó đấy.

Cúc cười nói:

- Ừ, đó là sáng kiến của em. Anh nè...

- Hãy khoan. Nếu Hồng mặc áo hồng thì tuyệt. Thảo dễ phân biệt hơn.

- Nhưng tôi không ưa màu hồng thì Dượng, à không, thì Thảo bảo sao ? Vả lại tôi mặc màu hồng thì Cúc tìm đâu ra "màu cúc" để mặc ?

Ba người cười xòa với nhau, đoạn Cúc tiếp tục câu chuyện mà nàng chỉ mới bắt đầu lúc nãy:

- Anh nè, nhà cửa minh mông như thế nầy, mà để chị Hồng ở một mình, chỉ sợ ma quá, làm thế nào chỉ ở được ?

Nhà rộng thật, đối với những người địa vị khiêm tốn, họ chỉ giao thiệp với những người ở những căn nhà hẹp bốn thước thôi. Thật ra thì nhà nầy không to hơn một ngôi biệt thự, nhưng nó đưọc xây cất theo lối kiến trúc của ta xưa. Hai buồng ngủ ở trong cùng quá hẹp, bao nhiêu diện tích dưới hai mái nhà đều dành cho buồng tiếp khách, thành thử buồng nầy minh mông, con gái ở một mình ở đây, ban đêm dễ sợ thật. Hơn thế, vườn tược quanh nhà rất là sầm uất càng làm tăng thêm vẻ âm u của chốn nầy.

Thảo nói:

- Thảo tự hỏi sao Cúc và Hồng không nghĩ đến việc cho thuê hay bán quách nhà nầy đi.

- Anh nói theo quan điểm của người ngoài. Đây là ngôi nhà tổ phụ mấy đời, chị em của em thương mến nó lắm không nỡ rời. Nhá, anh nhá, về đây ở với em anh nhá ? Bỏ chị Hồng tội nghiệp chị ấy quá.

Thấy Thảo cứ làm thinh, Hồng phụ lực với em:

- Tuy mang tiếng là bị bắt rể, Thảo sẽ làm chủ gia đình thật sự, vì Hồng đã bị truất quyền làm chị rồi thì trên đầu Thảo có ai đâu mà lo. Vả lại Thảo là đàn ông thì làm "xếp" tụi nầy là phải vì Thảo đủ khả năng làm chủ gia đình hơn một trong hai đứa nầy.

- Nhưng khi Hồng lấy chồng thì sao ?

- Rất dễ tính. Hoặc Hồng sẽ bắt rể, hoặc sẽ giao nhà nầy cho Thảo và Cúc, hoặc Thảo và Cúc giao nhà nầy cho Hồng. Chừng ấy, không còn một cô gái ở một mình một ngôi nhà lớn nữa, vấn đề nầy sẽ không còn, Hồng trông đợi Thảo để bàn về câu chuyện nầy đó.

Thảo làm thinh, suy nghĩ rất lâu rồi nói:

- Cũng được. Nhưng sau hôn lễ, chú rể lại xách va ly về đây thì buồn cười quá.

- Đừng có thành kiến. Thảo về đây, nhà nầy bớt vẻ quạnh hiu thì người trong xóm họ thích chớ có cười chê gì đâu mà phải sợ.

Thảo và Cúc xách va-ly lên đường đi hưởng tuần trăng mật vào một buổi sáng chúa nhật.

Hồng tiễn họ ra sân, mặt buồn dàu dàu. Không biết Cúc nghĩ sao chớ Thảo thì biết Hồng buồn về gì. Họ chỉ đi Đà-lạt có chín ngày thôi vì Thảo chỉ xin phép nghỉ được có mười ngày chớ nào phải đi Tây đi Tàu gì năm bảy năm đâu mà kẻ ở lại phải buồn.

Nỗi buồn nầy thỉnh thoảng hiện lên mặt của Hồng từ ngày Thảo chánh thức đi hỏi Cúc và Cúc nhận lời sau khi hỏi ý chị.

Từ bé đến giờ, hai chị em thương yêu nhau không hề rời nhau phút nào cả, tối họ ngủ chung với nhau, thường khi họ tắm chung với nhau một lượt trong cái buồng tắm độc nhứt của nhà nầy.

Y phục của họ không cất riêng mà để chung với nhau một tủ, không có áo nào riêng của Hồng, không có quần nào là quần riêng của Cúc.

Giờ thì cái quốc gia thống nhứt ấy đã bị chia đôi, mặc dầu họ vẫn còn ở chung trên một lãnh thổ, họ vẫn chia hai y phục, và đau đớn nhứt là chia hai tình-cảm vì Cúc đã thương yêu hai người.

Hồng buồn là vì đã mất cái phân nửa con người của nàng là Cúc, cái phân nửa ấy nàng thương yêu nó y như phân nửa khác là chính con người của nàng.

Sự mất mát nầy xảy ra ngay đêm tân hôn mà Cúc chia xẻ giường với Thảo chớ không chia xẻ giường với nàng. Tuy nhiên, sáng ra hai chị em vẫn còn thấy mặt nhau, còn gần gũi nhau phần nào.

Hồng đã ôm em, hun nó trên đầu mà nghẹn ngào hỏi:

- Em có được hạnh phúc hay không ?

- Có chị à.

Hồng vừa mừng giùm em mà cũng vừa nghe đau thắt nơi lòng, vì Cúc mà được hạnh phúc thì nàng đã mất Cúc trọn vẹn và vĩnh-viễn rồi vậy.

Hôm nay, ngày thứ ba sau đám cưới, đôi vợ chồng mới ra đi, họ đi rồi họ lại về, biết vậy, nhưng Hồng cứ có cảm giác rằng họ sẽ đi mất luôn.

Không biết Cúc đang nghĩ gì lúc bước lên tắc-xi, day lại nhìn chị lần chót, chớ riêng Thảo thì chàng nghe kỳ kỳ.

Hai chị em nầy đồng sở thích, đồng tình cảm với nhau từ việc lớn đến việc nhỏ, đến đỗi cơm ăn, hai người cũng ăn đúng lượng với nhau, mỗi người hai chén rưỡi.

Mối tình giữa chàng và Cúc chỉ là mối tình thường thôi, chớ không phải là một mối tình lớn như những mối tình trong lịch-sử hay trong tiểu thuyết, và Cúc không hề bị tiếng sét lần nào. Như vậy chắc Hồng đã dửng dưng được với chàng.

Nhưng nếu đây là một mối tình lớn ? Có phải là Hồng đã yêu chàng hay không vì nàng đồng sở-thích, đồng tình-cãm, đồng đam mê với Cúc kia mà !

Và nếu như vậy thì thật là khó chịu, đối với người đạo đức như chàng, vì có cái gì không ổn trong tận đáy lòng của một người thân, sự không ổn nầy gần như là sự loạn luân.

Những người song thai là những người bất thường tuy sự bất thường ấy, thường khi không đến nỗi nào nhưng vẫn không được... ơ... không được... ngay ngắn cho lắm.

Chính chàng là một anh con trai đứng đắn mà cũng không khỏi có những ý nghĩ không sạch sẽ.

Trong đêm tân hôn, hai vợ chồng nói chuyện rù rì gần tới sáng, họ không bỏ sót gì cả trong đời họ, và dĩ nhiên, Cúc đã nói đến Hồng. Nàng cười mà cho Thảo biết chi tiết nầy:

- Em chỉ khác với chị Hồng ở cái chỗ kín nầy là trên lưng chị Hồng có một nút ruồi son, còn lưng em thì không, ngoài ra, cái gì khác cũng giống nhau như đúc.

Cúc cười ngặt nghẹo khi nói đến mấy tiếug "ngoài ra cái gì khác", mấy tiếng rất kín đáo ấy đủ rõ nghĩa cho Thảo hiểu sâu vào trong, và chàng không ngăn được tưởng tượng đến những cái mà một người đạo đức như chàng không được phép tưởng tượng đến.

Tạo hóa đã làm một việc hết sức bậy bạ là cái hiện tượng song thai không nên có ấy. Tạo hóa đã khéo léo vô cùng, tạo ra cái gì cũng hữu-lý, cũng ổn thỏa cả, trừ hiện tượng song thai khó chịu ấy.

Sau đêm đó, và những đêm khác, Cúc cứ vô ý thức và dại dột mà nói mãi về những điều mà nàng cần nín đi.

Chẳng hạn Thảo yêu cầu nàng đừng xức nước hoa, đừng có dùng xà bông thơm trong ít lúc, để chàng được tận hưởng và làm quen thân với cái mùi thật và tự nhiên của con người của nàng, và đó là dịp mà Cúc lại nói bậy:

- Anh nè, mùi của chị Hồng y hệt như mùi của em. Nếu tụi nầy chơi cắc cớ, thì lúc anh ngủ say, em đi, để Hồng vào nằm với anh, khuya anh giựt mình thức dậy, đố anh biết được sự tráo trộn đó. Anh chưa phân biệt được đứa nào là Hồng, đứa nào là Cúc bằng cách nhìn mặt thì đã đành rồi, bằng cách đụng chạm vào các bộ phận của cơ-thể của tụi em thì đã đành rồi, nhưng dấu hiệu tế-nhị là cái mũi riêng biệt của từng mỗi người, anh cũng không sao nghe được bởi đâu có sự khác nhau giữa hai đứa nầy.

Cũng may là chàng là một anh con trai đứng đắn và đạo đức, nếu không, chàng sẽ lợi dụng cái ưu thế kẻ mù của chàng mà người vợ dại dột của chàng đã gợi ý.

Ừ, tại sao chiều đi làm về, chàng lại không ôm Hồng mà hôn một cái thay vì ôm Cúc ? Hồng không thể khiển trách chàng được mà Cúc cũng đành phải nhẫn nại chịu, bởi có ở chung năm bảy tháng rồi, chàng cũng cứ có thể chối rằng mình chưa hết mù. Khi Hồng phản đối thì chuyện đã rồi, và hai chị em chỉ còn có nước cười trừ trong khi chàng xin lỗi một tiếng bậy bạ rồi thôi.

Hồng làm ở khu két trong Ngân hàng, mà khu nầy luôn luôn đóng cửa trước giờ hơn một tiếng đồng hồ để thủ quỹ soát lại coi tiền có ăn khớp với bên khu kế toán hay không.

Thường thì ăn khớp, mà họ chỉ tốn có nửa tiếng đồng hồ thôi, thế mà bên nhân-viên của khu két ngày nào cũng về sớm được, tức là khi Thảo tới nhà là Hồng đã tắm rửa xong rồi, và đã hóa thành Cúc rồi, chớ không còn là một cô thơ-ký đi làm về cùng một lượt với anh rể, và ông anh rể dễ bề lợi dụng tình trạng lộn xộn trong gia đình.

Thảo tự tin, biết rằng mình sẽ không bao giờ làm quấy, nhưng những ý nghĩ không được thánh hiền lắm của chàng cũng đã làm cho chàng hoảng-sợ và khó chịu vô cùng.

Tuần trăng mật ở Đà-lạt có lẽ là những ngày hạnh phúc nhứt trong đời làm chồng của chàng, không phải vì đó là trăng mật, mà vì chàng được xa một người mà chàng cần phải xa, xa được ngày nào hay ngày nấy.

Cúc không được trọn vui, thỉnh thoảng nàng lại ngó mông về hướng Sài-gòn vì đây là lần đầu tiên trong đời nàng mà nàng sống tách riêng hoàn toàn với cái phân nửa của nàng.

Thảo nghĩ rằng hai chị em nhớ nhau ghê lắm nên chưa được một tuần lễ, chàng đã đưa vợ về Sài-gòn chớ không ở đủ chín ngày như đã dự định.

Thấy vợ mừng, Thảo lại đâm ghen. Thật là vô lý, nhưng chàng chỉ là người thôi, không sao mà công bằng cho được. Bất công, lại ý thức về sự bất công của mình, chàng lại phải khó chịu mãi.

Ừ, Cúc nó mừng, nghĩa là nó còn thương yêu một người thứ ba, khác hơn là chàng. Tình thương yêu nơi nó bị chia xẻ, có thể chàng được hưởng phần lớn hơn, nhưng chàng ích kỷ, không muốn chia sớt cho ai chút xíu nào cả ?

Nếu chàng là đứa khốn nạn, yêu hết hai chị em, thì chàng sẽ lời, chúng nó có chia với nhau, chàng cũng còn đủ, còn dư nữa là khác, vì đứa nầy chia cho đứa kia ba mươi phần trăm, chàng chỉ mất có ba mươi phần trăm ấy thôi, trái lại chàng được hưởng hai lần bảy mươi phần trăm.

Nhưng chàng là người tốt nên chàng phải chịu lỗ vậy.

Nhà bây giờ có mượn người làm, một con bé mười ba tuổi, vì Thảo không muốn để vợ cực nhọc lắm, nhứt là từ rày thêm một người, công việc sẽ bề bộn ra.

Con bé Ngô ấy chạy ra cửa để mừng chủ mới về, mà lại nói ngay cái câu không nên nói:

- Trời, cô hai nhớ cô, khóc đến sưng con mắt.

Và hồi mười hai giờ rưỡi, Hồng về tới nhà thì hai chị em ôm nhau mà khóc một trận như mưa tháng tám.

Sau trận mưa ấy, Hồng mới thấy quà của Thảo. Đó là một chùm lan lưỡi rồng, mà Cúc bảo rằng hai chị em thích ghê lắm. Bấy giờ Hồng mới thấy sự có mặt của người thứ ba đã xen vào giữa hai chị em họ.

Hồng dở nắp hộp lên rồi reo:

- Cha, đẹp quá, cám ơn Thảo nhé.

- Không cám ơn chuyện khác à ? Thảo hỏi đùa.

- Còn chuyện gi nữa ?

- Chuyện quan trọng hơn nhiều là chuyện mang về trả Cúc cho Hồng.

- Không trả, Hồng sẽ mần thịt Thảo ấy chớ. Nhưng trả vĩnh viễn, trả trọn vẹn hay trả phân nửa ?

- Tám mươi phần trăm.

- Ít lắm.

Nói xong, Hồng lại ôm chặt lấy em, cắn vào má nó.

- Tối nay ngủ với chị nghen cưng ! Nhớ gần chết hè. Cho thằng đó ra rìa một đêm.

Nói rồi nàng điểm mặt Thảo mà nói:

- Oán mầy lắm nha !

Họ cười xòa với nhau, nhưng Thảo vẫn nghe hơi đau đau nơi tim, vì tuy Hồng nói chơi nhưng vẫn có thứ tình cảm đó thật sự là oán ghét phần nào.

Tối hôm ấy thì vui. Thảo dẫn vợ và chị vợ (hay em vợ gì tùy ý mỗi người) đi ăn ở ngoài, săn sóc hai người y như nhau, hễ gắp cho Cúc một miếng thịt gà thì Hồng cũng được hưởng một miếng liền khi đó.

Những thực khách ở các bàn quanh đó, nhìn họ mà xầm xì. Hồng Cúc bất kể, nhưng Thảo thấy nhột nhạt, không yên.

Hoặc: "Tao đố mầy ai là vợ, ai là chị vợ".

Rồi lại có thằng trả lời: "Chắc nó quất tuốt cả hai chị em".

Những giờ vui vẻ của Thảo thế là kém vui. Họ gợi cho chàng những ý quấy nó làm cho chàng đỏ mặt vì xấu hổ, và làm cho chàng khổ sở quá vì mắc cỡ thầm mà đã nghĩ quấy khi bị gợi ý không hay.

Cái câu mà đêm tân-hôn Cúc đã cười ngặt nghẹo mà nói với chàng, cái câu ấy từ đây cứ văng vẳng vang lên mãi bên tai chàng: "...Ngoài ra cái gì khác cũng giống nhau như đúc.".

Chàng không thể nhìn Hồng bằng cặp mắt lương thiện của một người thường đối với một người quen biết thường nữa mà bằng cặp mắt ma-lai, trông suốt qua y phục để thấy những chi tiết mà chàng đã biết nhờ cái bản sao mà chàng đang nắm trong tay.

Thật ra thì không thể nói bản nào là bản chánh, bản nào là bản sao, chỉ hay rằng hai bản giống nhau như đúc trừ cái nốt ruồi trên lưng của một bản, kẻ nào biết bản nầy thì tức nhiên biết bản kia. Nhưng một điểm kỳ lạ của con người là mặc dầu cầm chắc như đã biết rõ bông rồi, họ vẫn cứ tưởng tượng mãi về cái mà họ biết, vì đó là một sự kiện hết sức ngộ nghĩnh, hai người giống nhau như hai giọt nước, kể cả những tiểu tiết tỉ mỉ nhứt trong người họ, cứ để hai cái đùi của hai người gần nhau để so sánh sự giống hệt của nó, chắc buồn cười lắm.

Cho đến cả vật vô-tri vô-giác là y phục của Cúc, cũng làm cho chàng nghĩ không hay. Cũng cứ do miệng Cúc kể, chàng mới biết rằng trước đây hai chị em không có y phục riêng, kể cả những y phục nhỏ mặc lót lên trong nữa: họ để chung rồi cứ nhắm mắt vớ được cái nào mặc cái nấy vì hai người không ai cao hơn ai li nào, không ai mập hơn ai gờ-ram nào hết.

Thành thử mỗi lần úp mặt vào áo Cúc, Thảo cứ nghe như mình úp mặt vào áo Hồng, và mùi áo Cúc hiện giờ là dư hương của Hồng hôm trước.

Thảo đã tốn rất nhiều tiền để thử nước hoa. Giờ thì lịnh cấm vợ xức nước hoa đã được thu hồi vì chàng đã quen hơi Cúc rồi. Trái lại chàng rất cần hai chị em xức nước hoa, với điều kiện là phải dùng hai thứ nước hoa khác nhau để một là phân-biệt họ qua hương của họ, hai là để gạt gẫm mình rằng họ khác nhau, bằng cớ là mùi họ khác.

Ác lắm là là chị em chỉ thích một mùi như nhau thành thử chàng phải mua lu bù thứ nước hoa để họ dọ dẫm hầu tìm một mùi mà họ thích được mà lại không giống mùi của người kia.

Sự hy sinh tiền của Thảo, không uổng bởi dầu sao, từ ngày mà Hồng xức Salomé và Cúc xức Glamour thì họ đã khác nhau phần nào rồi, tuy khác nhau một cách giả-tạo, nhưng cũng vẫn cứ là khác.

Lấy mộl cô gái đẻ sanh đôi làm vợ là một khổ hình mà trước khi vào vòng, không anh con trai nào thể lường trước được cả.

Nói khổ hình là khổ hình đối với những người đạo đức như Thảo đây thôi, chớ còn bọn con trai không đứng đắn, chúng nó chỉ thấy tình thế ấy là một cái thú vô song và là một cái lợi lớn.

Xong công việc ướp nước hoa hai mùi khác nhau cho hai phụ nữ, Thảo lại phải lo giáo dục nghệ-thuật họ. Chỉ nói lớn lối thế thôi chớ còn chàng chỉ cần nhồi vào óc họ vài điều căn bản sơ đẳng về sự thưởng thức vẻ đẹp thôi.

Trước tiên chàng nỗ lực đánh đổ sở-thích sai của họ về điểm đối xứng. Sự đối xứng (la symétrie) là một yếu tố mỹ thuật thời xưa, nơi mọi dân tộc, nhứt là nơi người Trung-hoa và ta. Quan niệm nghệ thuật của thế kỷ nầy thấy đó là yếu-tố gây xấu, chớ không gây đẹp.

Chính con người của hai cô cũng đã là sự đối xứng rồi. Nhưng điều ấy không hề gì. Chỉ phiền là họ rất thích sự đối xứng nên họ ưa ăn mặc giống hệt nhau, trang điểm giống hệt nhau, chọn màu sắc giống hệt nhau.

Sở thích của họ là một bản năng. Khó lòng mà đánh đổ một bản năng, nhưng Thảo tin rằng khó lòng không có nghĩa là không được. Thành thử chàng mới cố gắng và bền chí trong công việc cải hóa khiếu thẩm mỹ của hai người, không phải để họ thưởng thức mỹ thuật mà để họ thôi ham sự đối xứng nữa, có thế họ mới chịu làm khác nhau, ít lắm là ở bề ngoài.

Trong khi chờ đợi công việc cải hóa của mình đem lại hiệu quả thì Thảo cứ tiếp tục lầm lẫn Hồng với Cúc và tháng rưỡi đã qua rồi mà chàng chưa phân biệt được ai là ai cả.

Chiều chiều chàng đi làm về thì thấy cả hai chị em đều ở dưới bếp. Hồng về sớm, tắm rửa rồi và mặc đồ mát để phụ với Cúc mà lo bữa ăn tối.

Cả hai đều mừng chàng một lượt với nhau và đều gọi chàng là Thảo nầy Thảo nọ. Thảo đâm ra ân hận, phải chàng dè như thế nầy, chàng đã nhận làm em rể quách cho rồi để cái tiếng xưng hô "dượng" ấy giúp chàng biết ai là Hồng.

Có một tối, ăn cơm xong, chàng còn bận đánh răng ở nhà tắm, hai chị em ngồi nói chuyện khào ở buồng khách, một nàng ngồi ở ca-na-bê, một nàng ngồi ở ghế thường.

Chàng thèm ngồi ca na bê lắm, nhưng khi lên đó chàng cứ không dám vì không biết người ngồi trên đó là ai, vì hôm ấy cả hai đều ăn mặc như nhau, mỗi người một bộ bi-da-ma màu cà phê sữa lợt, may giống kiểu như nhau.

- Hồng nè, mai xem giùm Thảo coi tiền của Thảo còn được bao nhiêu trong chương mục, vì Thảo đã làm thất lạc cuốn sổ ghi các số tiền gởi vô lấy ra rồi.

- Ừ, để Hồng xem cho.

Phải dùng cái mẹo ấy chàng mới biết kẻ ngồi ca-na-bê không phải là Hồng, vì kẻ ấy không đối đáp với chàng.

Có một dấu hiệu nữa, cũng giúp được phần nào nếu hai nàng đều gọi chàng bằng tên hết thì hơi rắc rối, nhưng có khi Cúc kêu "anh" và Hồng có khi kêu "thằng", những lúc vui đùa với nhau. Vậy cô nào gọi chàng là thằng nầy thằng nọ thì chắc chắn đó là cái cô đã có tham vọng làm chị vợ của chàng.

Trưa chúa nhựt ấy, Thảo đang ngủ bổng giựt mình thức dậy vì nghe ai gọi tên chàng !

- Thảo ơi ! Thảo ơi, chết rồi Thảo ơi !

Tiếng kêu cứu ấy từ ngoài vườn, ở hông nhà hướng Đông vọng vào. Hoảng hốt, Thảo nhảy xuống ghế bố và chạy chơn không ra ngoài ấy.

Trưa hơi nực nên chàng thích nằm ngoài buồng khách trên một chiếc ghế bố mà ngủ cho mát, trong khi Cúc nằm trong buồng theo thói quen kín-đáo của phụ nữ.

Ra tới nởi, chàng thấy Hồng hay Cúc không biết nữa, đang ngồi trên một nhánh mận cây già cỗi, tay vịn một nhánh nhỏ hơn, còn tay ở không phủi lia, phủi lịa: nàng bị kiến vàng tấn công; kiến đông quá, nàng không tự vệ được mà cũng không xuống được nữa vì bận phủi kiến.

Thảo thót lên hai cái thì đã tới nhánh cây ấy rồi. Chàng giết kiến bằng cả hai tay chàng, kiến đông nghẹt như...kiến, ở đâu cũng có cả, chơn tay, bụng ngực, đầu, cổ, mặt mày của nàng đều bị kiến đậu, con nào cũng vừa cắn vừa nhổng đít lên để xịt nước độc, những con tấn công gò má nàng đã đầu độc đôi mắt nàng khiến nàng cay quá, vừa nhắm nghiền đôi mắt lại, vừa la.

Nhưng kiến không những xâm lăng người nàng mà thôi đâu. Quanh đó, nhánh nào cũng vàng khè những kiến là kiến và chúng kéo nhau tới để tiếp viện bọn bị giết, càng phút càng đông.

Chính chàng cũng bị kiến cắn đau muốn chết, phương chi chàng ngủ trưa hay cổi trần lắm, nên lưng chàng là một mục phiêu lý tưởng cho chúng.

Thảo cắn răng mà chịu, và cũng không phủi kiến trên người của nạn nhân nữa, vì chàng thấy cần phải đưa nàng xuống đất chớ ở đây giết tới tối cũng không hết kiến.

Nạn nhân đau đớn quá và đã bắt đầu khóc la. Thảo ẵm nàng, xót xa không chịu thấu, chàng nghe đau y như là chàng bị đau, tức là chàng đau đến hai lần, đau đớn vì mình bị kiến cắn và cũng đau đớn vì bạn chàng bị cắn. Vâng, nạn nhân cũng có thể là Cúc lắm nhưng chàng không đủ thì giờ để hỏi, vì chàng phải hành động mau lẹ. Vậy chàng kể như đó là Cúc, nên nói:

- Em ráng chịu đau một chút xíu, để anh rảnh tay ẵm em xuống đất chớ ở đây thì nguy.

Thảo xuống rất khó khăn và rất chậm chạp vì không còn tay để vịn, bởi phải ẵm một người đã không thấy đường lại mất cả tinh thần vì hoảng sợ và vì đau đớn. Phụ nữ da họ non quá, chịu đau đớn bên ngoài dở hơn nam phái.

Khi họ xuống tới góc sân rồi thì nạn nhơn không đứng vững được nữa, phải ngã trong người của Thảo, chàng phủi kiến và giết kiến cho. Có thể bảo rằng nàng đã gần ngất xỉu rồi vì phải chịu đau đớn lâu quá.

Lũ kiến quái ác, lại chun cả trong áo, trong quần của nạn nhân nữa, thành thử chàng tảo thanh chúng nó sạch trơn bên ngoài rồi mà nạn nhân vẫn còn kêu la. Thảo xem xét lại mới hay có bọn cán bộ nằm vùng ẩn núp bên trong. Thành thử chàng lại phải lòn tay vào trong để tảo thanh mấy trận nữa.

Bấy giờ mặt, tay, cổ của nạn nhân đã sưng vù lên, nàng đã bất tĩnh thật sự. Thảo ẵm ngữa bạn đi mau vào buồng ngủ của chàng. Khi chàng đá cánh cửa buồng bằng chơn và cánh cửa bị xô đi thật lẹ thì một cảnh kỳ dị xảy ra ở đây: Cúc giựt mình thức dậy và ngơ ngác mà thấy Thảo ẵm Hồng vào buồng. Thảo thì rụng rời vì chợt thấy rằng mình lầm, cái lầm vô tội nhưng dù sao, chàng đã trót có những cử chỉ quá thân mật với người con gái không phải là vợ chàng.

Chàng thở dài, nhẫn nại, xây lưng bước trở ra.

Cúc hoảng hốt hỏi:

- Gì đó ? Chị Hồng sao !

- Leo hái mận, chạm phải mấy ổ kiến vàng trên ấy.

- Có sao không ?

- Không đến đỗi nào.

- Có té hay không ?

- Không.

Mấy câu đối đáp nầy giúp Cúc an lòng, nên nàng đi rửa mặt chớ không chạy theo chồng. Thành thử Thảo lại phải vào buồng Hồng một mình để đặt nàng nằm xuống giường nàng rồi trở ra ngoài, tìm ve rượu chín chục chữ trong tủ thuốc để vào xức ở các vết thương của Hồng, kể cả các vết thương ở bên trong, ở những nơi kín đáo.

Tai nạn không có hậu quả tai hại cho Hồng ấy lại làm cho anh chồng khó xử nầy càng khó chịu hơn trước nhiều lắm.

Giữa tình thương mến và tình yêu, ranh giớì thật là mong manh, lắm khi kẻ không muốn bước mà vô ý một chút xíu là đã lỡ chơn rồi. Phương chi cứ thỉnh thoảng lại xảy ra những cuộc đụng chạm quá thân mật như vậy thì một ngày kia, việc đáng tiếc có thể xảy đến.

Thảo đã thề với chàng rằng chàng sẽ nỗ lực đứng đắn và tin rằng mình giữ vững được tác phong đứng đắn, nhưng những lúc không bị công việc và ai quấy rầy, chẳng hạn như những đêm mà chàng chưa ngủ trong khi Cúc đã tiến sâu vào giấc cô miên, thì chàng nghe lại lòng chàng, rồi giựt mình sợ hãi.

Chàng không đủ can đảm tự thú tội lỗi, nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng chàng đã bắt đầu hơi yêu Hồng.

Không yêu làm sao được bởi chàng yêu Cúc mà Hồng với Cúc chỉ là một thôi. Lắm khi Cúc nói một câu mà chưa hết lời thì Hồng mau tiếng nói tiếp theo thay cho em, mà đoạn nói tiếp ấy ăn khớp với đoạn đầu của Cúc, y như hệt là chính Cúc nói từ đầu đến cuối, vì giọng hai người không khác nhau một âm sắc nhỏ nào cả.

Làm như là cả hai cùng nghĩ một lúc về một việc, và nghĩ y hệt như nhau, rồi cả những lời lẽ dùng để ra ý nghĩ đó cũng giống hệt như nhau nơi hai người.

Hồng cũng lại thương mến chàng lắm, việc đó rất dễ hiểu vì hễ Cúc ưa cái gì thì Hồng ưa cái nấy, duy chỉ có điều là Hồng đã bước cái bước nguy hiểm qua biên giới giữa tình mến thương và tình yêu hay không thì đó là bí mật riêng của lòng nàng không sao đoán được, bởi Hồng không phải là gái lẳng, có bước hay không, ngoài cũng không ai thấy được, vì cô gái đứng đắn ấy dĩ nhiên phải cố chiến đấu với bản thân cô để ngăn tình cảm xổng cương.

Cái hôm mà cả hai chị em đều cúm thì Thảo thấy là mối nguy đã lên tới tột độ cùng.

Thường thì hễ Cúc mỏi lưng thì Hồng cũng mỏi lưng, đó là chứng bệnh do khách quan gây ra, Cúc có thể ngồi nhiều còn Hồng thì không, mà cũng đã như vậy rồi, phương chi bịnh cúm là bịnh nội thương, tuy cũng do điều kiện khách quan ấy, cả hai đều phải chịu y như nhau, không ai kém ai ngọn gió nào, hoặc độ lạnh nào cả thì cơ thể họ phải phản ứng y như nhau.

Ban đầu hai chị em chỉ đua nhau mà nhảy mũi suốt một ngày. Tối lại, họ nóng hâm hâm và kêu nhức đầu ; cả hai đều đi ngủ sớm.

Thảo không băn khoăn bao nhiêu vì sổ mũi nhức đầu chứng bịnh xoàng, không cần uống thuốc rồi vài ngày cũng khỏi.

Nhưng sáng hôm sau cả hai chị em không ai dậy được cả. Thảo sờ trán vợ thì nghe nóng như vừa được hơ gần lò lửa ra. Hoảng hốt chàng chạy qua buồng Hồng sờ thử trán nàng thì cũng nghe nóng y hệt trán Cúc.

- Em !

Thảo vừa gọi khe khẽ vừa lay vợ.

Cúc "dạ" thật nhỏ và thật yếu.

- Em nghe trong người làm sao ?

- Em nóng lắm. Và em muốn mê sảng rồi đây.

Thảo hoảng. Chàng vội thay y phục thật lẹ, chạy ra phòng điện thoại công cộng để gọi ngân hàng xin phép cho Hồng rồi gọi phòng kiến - trúc để xin phép cho chàng rồi đi mời đốc tơ.

Ở xứ ta, chỉ có nhà giàu có bảc sĩ gia đình mới mời họ đến dễ dàng, còn người thường thì khó mong, vì các ông bác sĩ tư của ta không hề chịu đi khám bịnh ở các tư gia.

Thảo phải tốn trên một tiếng đồng hồ, chạy hết phòng mạch nầy đến phòng mạch khác, và rốt cuộc mời được một vị bác sĩ già ế khách trong Chợ lớn nhận lời giúp chàng.

Khi họ về tới nhà thì hai chị em đã mê sảng rồi. Bác-sĩ khám cả hai phụ nữ nầy rồi nói:

- Nếu tôi không lầm thì các cô chỉ bị cúm nặng thôi, chớ không có gì đáng ngại. Nhà có nhiệt kế hay không ?

- Dạ có.

- Tốt lắm, giờ tôi tiêm thuốc cho các cô và biểu lấy toa để ông mua thuốc uống cho các cô. Thỉnh thoảng lấy nhiệt độ, hễ thấy nóng trên bốn mươi độ thì phải cho họ uống thuốc an thần tức khắc để ngừa chứng động kinh.

- Vâng.

- Có thể các cô sẽ mê sảng như thế nầy vài ngày, nhưng nếu không có triệu chứng gì khác hơn thì nên an lòng, uống các thứ thuốc tôi chỉ trong toa mà đừng gọi tôi nữa mất công, vì vài hôm các cô sẽ khỏi.

- Vâng.

- Ông nên coi chừng ! Họ đã nóng bốn mươi độ rồi đó. Nên đi mua các thứ thuốc ngay đi và đừng quên thuốc an thần.

Phần III

Cả ngày hôm đó, Hồng và Cúc chìm đắm trong cõi u minh của vô thức. Việc bài tiết của họ, họ làm máy móc theo phản ứng của cơ thể mà không hay biết gì cả, thành thử Thảo không làm sao được khác hơn được là phải tự tay chàng thay y phục cho hai con bịnh, con bé giúp việc từ chối giúp Hồng vì nó nhờm gớm, chàng không dám bắt ép nó, sợ nó trốn đi thì càng rối rắm hơn nữa.

Tối lại, cả hai cô đều đỡ, nhiệt độ của họ chỉ còn băm tám rưỡi thôi, Thảo chạv hết buồng bên nầy qua buồng bên kia để cho họ uống thuốc, để cho họ uống nước.

- Cúc thế nào ?

- Hồng thế nào ?

Đó là hai câu hỏi mà chàng nghe khi chàng vào buồng người này hay vào buồng người nọ. Với người nào, chàng cũng đáp:

- Đỡ. Cả hai cùng bịnh nặng rồi cùng đỡ như nhau chớ có gì lạ đâu.

Hồng chợt nhìn thấy y phục mình đang mặc khác với y phục hôm qua, hoảng lắm, nhưng chỉ hỏi Thảo bằng mắt thôi.

Thảo rầu rầu nét mặt mà đáp câu hỏi thầm lặng của nàng:

- Xin Hồng biết cho, Thảo không có cách nào khác. Nếu sự mê sảng của Hồng không kéo dài quá và nếu việc bài tiết có thể ngăn được, Thảo không hề đám xúc phạm đến Hồng.

Hồng mắc cỡ lắm nhưng rồi cũng nhẫn nại nói:

- Ừ, quả thật không có cách nào khác !

Nàng nói ra câu đó rồi thì Thảo nghe nhẹ cả người, khác rất xa những giây phút mà nàng hoảng sợ, những giây phút mà nàng hổ ngươi. Đây là một sự mặc nhận một tình thế, một quyền hành, một thứ ân huệ, trước một sự việc đã rồi mà người giải quyết chỉ có thể xử dụng một lối ra độc nhứt thôi.

- Thảo ơi, cho Hồng miếng nuớc, để Hồng uống thuốc.

Hồng cố ngồi dậy, nhưng lại ngã xuống, nàng nghe choáng váng và thấy mọi vật đều quay cuồng nghiêng ngữa quanh nàng.

Nếu Hồng chỉ cần giải khát thì Thảo sẽ đổ nước vào miệng nàng bằng muỗng nhỏ. Ngặt nàng phải uống một thứ thuốc viên mà viên rất to, nên lại... Không có cách nào khác hơn nữa là chàng đỡ nàng dậy, đỡ như ẵm chứ không thể đỡ sơ sơ được.

Uống thuốc xong, Hồng vịn vai Thảo mà rằng:

- Mệt quá Thảo ơi !

- Không sao đâu, tại Hồng sốt nhiều giờ quá.

Chàng lại đặt nàng xuống để chạy qua săn sóc cho vợ.

Hai chị em đỡ được cho tới sáng thì bắt đầu nóng dữ trở lại, y như hôm qua và lại mê sảng suốt ngày hôm đó nữa và cái gì đã diễn ra ngày trước lại diễn y hệt trở lại.

Và tối lại thì nhiệt độ của họ cũng hạ, nhưng đêm nay nó hạ thật thấp, còn có băm bảy độ rưỡi, khiến Thảo rất mừng vì đó là dấu hiệu họ sắp khỏi hẳn.

Cả hai chị em đều tuyên bố nghe khỏe khoắn trong người lắm nhưng nếu phải cử-động thì họ lại nghe mệt nhiều hơn đêm trước nữa, mặc dầu chứng chóng mặt đã hết.

Cúm nặng thì thế, sau mấy ngày sốt nhiều, con bịnh mệt nhừ và nói khỏi là khỏi sốt ấy thôi, chớ họ vẫn nằm liệt giường. Nằm liệt giường nhưng họ lại bắt đầu thèm ăn, Thảo phải đút cháo cho cả hai chị em như mẹ đút cơm em nhỏ.

Ngày mà Hồng đi làm được, Thảo nghĩ rất nhiều về giải pháp ra riêng. Chàng sợ chính chàng chớ không sợ Hồng quyến rủ, bởi Hồng tuy nó thương mến chàng lắm, thân mật với chàng hơn trước nhiều vì sự chung chạ nầy giúp cho họ quen đi rồi, không phải ngại ngùng hay mắc cỡ nửa, nhưug nó vẫn trong sạch trong tâm-trí nó, chàng biết chắc như vậy vì một khi mà đàn ông họ có hậu-ý, họ hay dò dẫm thử để biết phản ứng bên kia.

Hồng nết hạnh, lại rất thương Cúc thì dĩ nhiên là không thể nào nàng phản bội Cúc vi lý-do nào cả, bởi cả lý-trí lẫn tình cảm đều hợp tác để giúp nàng giữ mình một cách toàn vẹn.

Ra riêng là chuyện rất dễ về mặt tài chánh. Lương chàng khá cao, chàng lại dành dụm được nhiều tiền trước khi cưới vợ. Nhưng lần nào chàng đá động tới dự định nầy, chàng cũng đều bị Cúc cự cả.

Hồi chưa cưới thì Cúc nó khẩn cầu chàng về đây ở, giờ cưới rồi, nó muốn làm quyền, ít lắm cũng về phương diện nầy, làm như Thảo có bổn phận phải chôn chặt đời chàng nơi đây vậy.

Khổ ơi là khổ. Cái hôm mà Hồng và Cúc vừa hết sốt, nhưng lại kêu mệt, chàng được một người bà con mách cho hai thứ thuốc để tiêm cho hai con bịnh nầy hầu giúp họ hết mệt.

Tiêm sinh tố C cho hai nàng thì không việc gì, bởi chàng tiêm thuốc ấy vào mạch máu của họ. Nhưng món thuốc thứ nhì, thuồc lạ, tên Hoa-kỳ lại phải tiêm vào thịt.

Như bất kỳ người thường học tiêm thuốc một cách tài tử nào, Thảo chỉ dám tiêm vào mông thôi, nơi đó dễ tìm chỗ thịt nhiều, phòng gây hại, chớ ở đùi, chàng không biết dò dẫm làm sao cho ra chỗ đó.

Đây là một cực hình cho chàng. Nội cái việc nói ra lời để yêu cầu Hồng hạ lưng quần xuống cho chàng tiêm, chàng đã nghẹn ngào trong nhiều phút rồi, phương chi rồi chàng lại phải thấy cái gì chàng không nên thấy.

Nếu chàng là y sĩ thì đã không có vấn-đề bởi y sĩ họ đã tiêm cho hàng ngàn phụ nữ, thì họ không bị xúc động như chàng.

Thảo yêu vợ rất là cổ điển. Chàng không hề thấy thân thể của vợ cho rõ ràng, bởi chính con người đạo đức của chàng cũng mắc cỡ dưới ánh sáng nữa, chớ đừng nói chi là Cúc.

Hôm tiêm thuốc lần đầu ấy, vì lịch sự, chàng tiêm cho Hồng trước, và lần đầu tiên trong đời con trai của chàng mà chàng thấy, trong ánh sáng ban ngày, da thịt của phụ nữ ở một phần thân thể có thể bảo là khiêu gợi số một.

Hình ảnh ấy cứ ám ảnh chàng suốt mấy hôm liền, phương chi trong mấy hôm liền đó, hôm nào chàng cũng có chích thuốc cho hai nàng cả.

Thảo đã muốn điên lên vì tà tâm của chàng, mà cũng muốn điên lên vì sợ cái tà tâm ấy.

Nếu Cúc không đau ốm vừa khỏi, chàng đã mần một trận bể nhà để ra đi. Cúc không theo chàng, chàng cũng mặc kệ.

Nhưng hai chị em khỏi hẳn rồi thì chàng thôi chích thuốc cho họ nữa và nhờ thế mà sự thèm muốn dịu đi.

Hơn thế, một biến cố quan trọng làm cho chàng mừng quýnh lên mà quên mất vấn-đề.

Cúc báo cho chàng hay là nàng mất kinh kỳ trong tháng nầy. Nàng luôn luôn đều đặn thì sự trễ nải khó lòng mà xảy ra lắm. Tuy chưa lấy gì làm chắc, bởi nạn cúm có thể làm xáo trộn sự đều đặn từ mười mấy năm rồi, Thảo vẫn vui sướng.

Họ ăn ở với nhau mới có bốn tháng và hai vợ chồng chưa ai nghĩ đến con cả, không phải vì họ không ham con nhưng họ ngỡ phải hai ba năm mới sanh đứa con đầu lòng.

Phước, trong trường hợp của Thảo thì trùng lai: chàng đã phân biệt được Hồng với Cúc rồi, vì thể mà đỡ khó chịu phần nào.

Sự phân biệt nầy chàng làm được vài tuần trước khi hai nàng mắc bịnh cúm.

Người con gái, khi thành đàn bà và nếu được sống một đời sống sinh lý và thỏa mãn, họ nở nang ra trông thấy. Những đường cong của thân thể họ rõ rệt hơn, nước da họ hồng hào hơn, và họ vui tính hơn.

Thế nên Cúc khác Hồng đi, không khác đột ngột, sự khác biệt nầy diễn ra rất chậm, mỗi ngày một tí thôi, không để ý không thấy được, nhưng thình lình ngày kia, những cái một ít ấy dồn lại nhiều cho đến đỗi sự biến hóa như lình thình xảy đến bất ngờ.

Khỏi bịnh rồi thì hai chị em đều ăn lại sức, nhưng trong khi Hồng chỉ lấy lại phong độ cũ thì Cúc lấy hơn phong độ cũ nữa. Đây là dấu hiệu nàng thọ thai, và bắt đầu thọ thai được tốt lành, thì không có sự "ốm" nghén, mà trái lại cái nở nang trước càng nở nang thêm và Cúc cứ tròn trịa ra.

Họ đợi môt tháng thì đã chắc mười mươi rồi. Sự trễ nải không thể nào kéo dài đến như thế, nơi một người sức khoẻ bình thường, phương chi Cúc khỏe mạnh hơn đàn bà thường nhiều lắm.

Trong bữa ăn tối hôm đó, Thảo nói đùa với Hồng:

- Cúc đã khác Hồng rồi đó.

- Cố nhiên.

Hồng không nói thêm gì rõ hơn nhưng ai cũng hiểu rằng nàng biết là đời sống sinh lý khác nhau nơi hai người đã làm họ khác nhau.

- Không phải như Hồng tưởng đâu, Thảo đính chánh ý nghĩ thầm của Hồng, Hồng sắp có cháu đó.

- Vậy hả ? Trời ơi là sung sướng ! Té ra Hồng sắp lên Dì rồi. Nhưng đã chắc chưa ?

- Chắc một trăm phần trăm.

Cả nhà vui vẻ vô cùng và Thảo rất cảm động mà thấy được sự chơn thật trong nỗi vui mừng của Hồng.

Hai chị em dựng lên rất nhiều dự định: nào là may tã bằng vải gì, may áo thế nào, sắm giường cho bé ra sao.

Rồi họ lại đánh cá với nhau để đoán xem bé sẽ là trai hay là gái. Cúc bị qua rất nhiều trắc nghiệm, và trắc nghiện nầy toàn là trò dị đoan tầm ruồng của đàn bà không thạo khoa học cho lắm.

Chẳng hạn như Hồng gạt Cúc đi ra cửa rồi bỗng gọi em giựt ngược. Cúc day lại thì Hồng rộ lên cười mà rằng:

- Thôi, coi trai rồi, Hồng dám cá một trăm bạc đó.

- Dấu hiệu nào ? Thảo hỏi.

- Cúc nó day lại ở bên trái, mà nam tả, nữ hữu, vậy nó sẽ sanh bé trai.

- Cái thuyết nam tả nữ hữu của Hồng do khoa học của nền văn minh nào dạy đó ?

- Nền văn minh Trung Hoa.

Rồi mỗi ngươi ấy ra trăm bạc giao cho Cúc cất, vui thật là vui.

Qua tháng thứ ba, Thảo nhắc nhở Cúc đi thăm thai ở một nhà hộ sinh đường Cô Bắc.

- Có cần lắm hay không ? Cúc hỏi.

- Sao lại không? Anh đọc sách phổ-thông y học, thấy bác sĩ nào cũng khuyên như vậy cả.

Cúc không thèm đi đâu hết, và tới tháng thứ tư Thảo nài nỉ Cúc lắm, cực chẳng đã nàng phải chìu chồng.

Cũng cứ trong bữa ăn tối Cúc cằn nhằn:

- Anh bày đặt, cô đỡ cổ nói, báo hại em sợ quá.

Thảo hết hồn hỏi mau:

- Sao, cô ấy nói làm sao ?

- Cổ nói gì mà hình như là xương cốt bàn của em hẹp.

- Như thế là sao ?

- Em cũng chẳng biết nữa. Nhưng cô ấy nói rằng như thế thì có thể sanh khó.

Thảo lo lắm, nhưng để an ủi vợ và tự gạt gẫm mình, chàng nói:

- Biết đâu cô ấy lại không dọa cho em sợ.

- Dọa em ích lợi gì cho cô ấy ?

- Sao không ích lợi. Hễ em sợ, sẽ tới cầu cứu cổ và cổ được dịp đập đổ em.

- Em có cảm giác rằng cô ấy lương thiện nên em mới lo.

- Thôi được. Để mai, anh đưa em tới một bà bác sĩ quen để bả xác nhận hoặc phủ nhận lời cô đỡ. Như vậy ta chắc bụng hơn vì biết rõ cái nguy còn hơn là cứ hoang mang, với lại để biết xem cái nguy ấy to đến đâu. Vậy trưa mai em nên sẵn sàng hồi hai giờ rưỡi. Anh xin phép nghỉ làm buổi chiều để đưa em đến đó. Bà đó mở cửa phòng mạch hồi ba giờ, em sẽ được khám trước thiên hạ, vì có hẹn, khỏi đợi lâu, bực mình.

° ° °

Thảo xin phép theo vợ vào phòng khám bịnh của bà bác sĩ Khánh, vì Cúc không có văn hóa nhiều, chàng sợ nàng không hiểu rõ những lời giải thích của nhà chuyên môn nầy.

Thảo đã gọi điện thoại cho bà Khánh để hẹn giờ và để báo trước mục đích của chàng, nên chi khi thấy mặt hai vợ chồng, bà chào hỏi họ rồi khám ngay, chớ không hỏi lôi thôi họ muốn gì.

Mười phút sau, bà nói:

- Rất có thể là cô có xương cốt bàn hẹp.

- Cái đó là thế nào bà, xin bà cho biết rõ hơn ?

- Nói đúng ra thì phải nói là lỗ xương cốt bàn hẹp. Xương cốt bàn là gì thì chắc thầy cô đã biết. Bên trong, xương nầy to bãng mà có khoét lỗ tròn ở giữa, đứa bé ra khỏi dạ con rồi thì phải chun qua cái lỗ ấy mới ra ngoài được. Nơi vài người đàn bà hiếm hoi, cái lỗ xương đó hẹp nên đứa bé không ra được.

- Trời !

Cả hai vợ chồng đều kêu lên tiếng kêu kinh khủng ấy rồi rụng rời. Lâu lắm, Thảo mới tỉnh hồn lại được và hỏi:

- Rồi làm sao mà sanh, bà ?

- Nếu quả thật lỗ xương cốt bàn hẹp thì chỉ có một giải pháp độc nhất thôi, là mổ.

- Trời !

- Không có gì đâu mà lo. Bây giờ khoa mổ xẻ đã tiến bộ nhiều lắm. Gì chớ trường hợp đó thì họ thành công một trăm phần trăm, không hề có ai chết bao giờ đâu.

- Nhưng thưa bà, bà nói là "rất có thể", nghĩa là chính bà cũng không chắc lắm. Vậy có cách nào để biết chắc hay không ?

- Có chớ, rọi kiến là biết ngay. Nhưng vô ích, đã tốn tiền, lại rọi kiến thường không tốt đâu. Nếu tôi nói sai thì càng tốt, bằng như tôi nói đúng thì dầu sao cũng phải mổ, có biết trước cũng chẳng làm gì được để sửa đổi tình trạng.

- Trời ơi, khổ quá bà ơi ! Tôi lo quá ! Cúc kêu cứu. Bà có phương gì…

- Không có phương gì cả. Nhưng nếu hai ông bà không giàu thì tôi khuyên nên đi nhà hộ sinh Từ Dũ, chớ đừng đi các nhà hộ sinh tư, bằng như giàu thì đi Đồn Đất tùy ý ! Chỉ có nhà thương mới đủ dụng cụ mổ xẻ có bảo đảm, mà Từ Dũ thì chuyên môn hơn cả Đồn Đất nữa.

- Bà có thuốc gì...

- Không nên uống thuốc dưỡng thai gì hết ráo đấy nhé. Có thai tốt, người mạnh khỏe thì cứ để vậy, uống thuốc càng hại thêm. Và nhớ, muốn chắc ăn, phải vào Từ Dũ. Tôi bảo đảm là mẹ tròn con vuông, có gì, tôi bắt đền cho.

- Bà bảo Đồn Đất không bằng Từ Dũ à ?

- Theo chỗ tôi biết thì không.

Hai vợ chồng ra về, buồn hiu, và từ đó cho tới nhà, không ai nói với ai gì cả.

Thảo thương vợ và ham con ghê lắm. Chàng đã mua lu bù thuốc dưỡng thai cho vợ uống. Nay bà đốc tơ nầy lại căn dặn trước rằng có thể sanh khó. Cái mới kỳ !

Chiều lại, Hồng đi làm về, thấy bộ mặt đưa ma của hai vợ chồng nên hỏi:

- Bộ bà xác nhận hả ?

- Ừ. Cúc đáp rồi rưng rưng lệ.

- Nhưng bả nói nguy làm sao ?

- Bả biểu phải mổ.

- Trời !

Mặc dầu y học đã tiến rất nhiều, con người cứ nghe đến mổ thì kinh hãi, không riêng gì dân ta đâu, người các nước khác cũng thế, bởi hình ảnh chết chóc còn mới ràng ràng trong trí họ. Hai mươi năm trước, mổ cũng bằng như là vượt bể ra khơi trên một chiếc xuồng, trong cơn bão tố, một trăm người bị mổ, bất kỳ để trị bịnh gì, thì có hơn tám mươi người chết, thì làm sao mà người ta không kinh sợ được.

Hai chị em lặng lẽ phụ nhau để nấu ăn còn Thảo thì nằm dài trong phòng mà buồn.

Giữa bữa ăn tối đó, Hồng thình lình phá tan sự im lặng nặng nề nó đè lên không khí nhà nầy từ lúc vợ chồng chủ nhà đi đốc tơ về.

- Họ nói bà bác sĩ Khánh dở lắm. Hay là Cúc đi bà Ngộ thử coi.

- Bà Ngộ giỏi hơn thật à ?

- Biết đâu, tao chỉ nghe họ nói như vậy thôi. Họ nói bà Ngộ là cựu nội trú, mà y sĩ cựu nội trú giỏi bằng năm bằng bảy y sĩ thường.

- Anh nghĩ sao ? Cúc day qua hỏi chồng.

- Ừ, hay là đi thử bà ấy xem sao. Cho chắc ý. Biết đâu bà Khánh lại không lầm như cô đỡ. Chiều mai anh sẽ đưa em đi.

Họ qua một buổi đầu hôm của một gia đình trong nhà có đám ma, và một đêm nhiều ác mộng.

Cúc chiêm bao thấy mình chết rồi, đứa con nàng bị bỏ bù lăn, bù lóc, trong khi Thảo vui sống với một người vợ kế rất đẹp mà gương mặt mơ hồ không rõ là ai. Giấc chiêm bao kéo dài năm bảy năm, và con nàng sống sót qua sự bỏ bê, bị mẹ ghẻ hành hạ khiến nàng nóng ruột đau lòng khóc mùi mẫn.

Cúc không có văn hóa nhiều, không biết được một mớ khoa học thường thức, và thuở bé cứ nghe mẹ nàng nói chuyện với bạn hữu của bà, thỉnh thoảng xen vào câu chuyện, câu ca dao sau đây:

Đàn ông đi biển có đôi,

Đàn bà đi biển lẻ loi một mình.

Nàng đã quan niệm rằng sự sinh nở là một sự rủi may của số mạng mà con người và y khoa hoàn toàn bất lực. Quan niệm nầy đối với trẻ không ảnh hưởng sâu xa vì đó là chuyện về sau, chuyện về sau, chuyện ở vào một tương lai mà cô gái bé thấy là còn lâu lắm mới tới.

Khi sắp lấy chồng, tình yêu lại xoá cả những điều ghê rợn đó, và cả khi nghe mình cấn thai, Cúc cũng quên luôn nỗi nguy hiểm của sự sinh nở. Nhưng giờ tất cả những thứ ấy lại sống dậy.

Nhưng giờ, những gì nàng đã nghe mẹ và bạn hữu của mẹ nói với nhau thuở nàng còn thơ ấu, lại trồi lên trên mặt khối nước ký ức ngỡ là sâu thẳm lắm và nhận chìm cả mọi việc. Nào là những sản phụ bị sót nhao, cái bụng sình chương to lên như cái trống chầu, vài ngày là tắt thở ; nào là máu sản hậu chận ngang cuống họng người đàn bà đẻ nếu bị xúc động mạnh, và họ phải chết tức tóc vì nghẹt thở, toàn là những cái chết rùng rợn mà không danh y nào, không bà đỡ giỏi nào cứu vớt được cả.

Hôm sau, Cúc nghe khoảng thời gian từ sáu giờ sáng đến ba giờ trưa là cả một thế kỷ. Nàng nóng lòng nghe tiếng nói cuối cùng tiên-tri số mạng của nàng, tiếng nói ấy có uy quyền thật hay không, nàng cũng không rõ. Vì Hồng chỉ nghe bà Bác sĩ Ngộ ấy giỏi lắm, chớ cũng không biết chắc mười bó vô một giạ rằng có đúng như thế hay không, nhưng nếu ba người mà nói y như nhau, thì có thể tin được, bằng như bà Ngộ nầy nói khác thì càng hay, dầu sao, nàng cũng sẽ được chắc ý hơn là mình sẽ chết hay còn hy vọng sống !

Bà bác sĩ Ngộ to lớn như đàn ông, giọng cũng ồ ề như giọng người phái nam, bà ta lại có râu mép nữa, những sợi râu thì nhuyễn và thật ngắn như nơi mấy cậu thiếu niên mới nhổ giò, nhưng vì bà trắng da nên trông nó nổi bật lên, xanh um.

Bà rất lớn tiếng, và luôn miệng nói đùa, nói xong, cười ha hả, nghe yêu đời ghê đi.

Y như là bà Khánh, bà Ngộ cũng bảo là rất có thể Cúc bị lỗ xương cốt bàn hẹp, và chỉ có một giải pháp là phải chịu mổ, lúc lâm bồn. Nhưng bà nói những điều trên đây nửa thản nhiên, nửa cà rỡn nghe như là bà nói chuyện uống một tách nước, ăn một cái bánh nên chi vợ chồng Thảo Cúc không có kêu trời lần nào hết.

Hơn bà Khánh, bà Ngộ khuyên đi ngay vào Từ Dũ trong lúc nầy để thăm thai, chỉ thăm lấy lệ thôi vì đã biết hư thật ra sao rồi, nhưng cốt là ghi tên để làm con bịnh mà người ta theo dõi, như thế đến ngày lâm bồn có lợi lớn là được người ta dành ưu tiên nhận ngay cho lúc chuyển bụng và được nhận xong, người ta biết làm cái gì cho mình, khỏi đợi họ khám lại mất thì giờ cho cả đôi bên

Thảo và Cúc được bà Ngộ nầy truyền lạc quan của bà qua cho họ, lạc quan ấy không ở trong lời bảo đảm nào mà nằm chính trong lối trình bày mọi việc và trong giọng nói của bà ta, nhứt là ở trong trận cười cuối cùng của bà khi Thảo nói:

- Thưa bà, liệu mổ sẽ gặp rủi ro chết người hay không ?

Sau cơn cười bà đáp:

- Dễ như thiến gà vậy, chết làm sao được !

Và cũng giống bà Khánh, bà Ngộ căn dặn cái chuyện kỳ cục là đừng nên uống thuốc gì hết, nhất là các thứ thuốc quảng cáo là dưỡng thai, trừ khi sẽ mắc bệnh nào khác thì không kể.

Lần nầy trên đường về, hai vợ chồng Thảo Cúc có tiến bộ hơn lần trước mà họ nhìn nhau mà cười trên xe tắc-xi ; nhưng họ vẫn lặng thinh vì chưa hết hẳn lo âu.

Tuy nhiên một tuần lễ sau đó thì không khí gia đình trở lại vui như cũ.

Cả ba người đều thảo luận về cái tên mà bé sẽ mang. Mỗi người trong bộ ba nầy đề nghị hai tên, một tên cho bé trai, một tên cho bé gái.

Hồng và Cúc đều đưa ra tên Hiếu cho trai với lại tên Ngọc và tên Trúc cho gáí. Hồng thích tên Ngọc vì "Ngọc" đi liền nghĩa với "Hồng" nhưng dầu sao bé cũng là con của Cúc nên Cúc thắng thế với tên Trúc nó liền nghĩa với tên của nàng.

Thảo chấp thuận tên Trúc, nhưng không bằng lòng tên Hiếu bởi vì lòng hiếu thảo cũng hay, nhưng chàng nghĩ rằng con trai đời nay phải có đức tánh nào khác hơn là hiếu thảo với lại chàng không ưa lắm lối đặt tên con liền nghĩa với tên cha.

Chàng chọn chữ Thụ. Hồng và Cúc không biết Thụ là gì, hơn thế Thụ lại trùng với một tiếng lóng không hay kia: ba Thụ, tức là kẻ ưa nịnh.

- Thụ lại cái cây, Thảo giải thích, cái cây già cứng và mạnh. Ngườì ta nói "Cổ thụ"

- Như vậy thì phải là Thọ chớ, Hồng cãi. Anh nói theo giọng miền Bắc ai mà hiểu cho được, Miền Nam nói "cổ thọ".

- Ừ, thọ thì Thọ. Thảo nhượng bộ.

Đã dự trù hai tên, nghĩa là nghĩ đến việc có thể sinh con gái, nhưng cả hai lại không nghĩ tới con bé Trúc mà cứ kể như là thằng bé Thọ đang nằm trong bụng của Cúc.

Và ngộ nghĩnh nhứt là cả ba đồng tình xem như đứa bé đã có mặt rồi, nói đến nó trong nhiều dịp.

Chẳng hạn, Hồng giành:

- Giao rồi nha ! Thằng Thọ ngày thường trong tuần thuộc về mầy, còn ngày chúa nhựt thì nó thuộc về tao. Tao giữ độc quyền về nó ngày đó.

- Cầu cho chị giành. Nó khóc nhề nhệ, em sẽ ngấy lên, rảnh tay bữa nào là sung sướng ngày nấy.

Thảo thì tính chuyện ghi tên Thọ ngay từ bây giờ vào lớp mẫu giáo niên khóa 5 năm sau của trường Sư phạm Quốc gia khiến Cúc bật cười, nói:

- Ai mà nhận cậu học trò chưa sanh ra !

- Ấy, em không biết chớ cái lệ đã có một năm sau khi lớp ấy của trường ấy được thành lập; trẻ con ở đô-thành đông quá, mà cái lớp kiểu mẫu đó chỉ nhận học trò có hạn thôi, nên thiên hạ tranh giành nhau mà ghi tên, mãi rồi trường phải nhận sự ghi tên trước nhiều năm, y như ở trường Eton bên Anh quốc, hễ các bà cấn thai thì các ông vội đi lo công việc ấy ngay.

- Thảo nè, Hồng hỏi, người ta nói đẻ song thai có nòi. Như vậy Cúc có thể đẻ sanh đôi lắm.

- Ừ, Thảo cũng nghe họ nói như vậy.

- Như trường hợp ấy xảy ra thì Hồng sẽ bắt một đứa.

- Cho chị cả hai đứa. Nhưng phải ở nhà để cho chúng nó bú, em không làm chị vú cho con chị đâu.

Tối tối Thảo hay hôn bụng vợ và nói nựng:

- Xằng Xọ nằm chong nhầy ! (Thằng Thọ nằm trong nầy !)

Chàng cưng vợ ghê lắm, cấm xuống nhà bếp nấu nướng sợ gạch ở dưới đóng rêu trơn trợt, rủi nàng té thì nguy cho thằng Thọ lắm.

Và cả hai vợ chồng cưng bé Thọ quá sức, nhứt là từ ngày nó bắt đầu "máy". Nó máy mạnh ghê hồn, để cắc bạc lên bụng Cúc, nó một cái, cắc bạc rơi xuống giường.

Vui vẻ và sung sướng ghê đi !

Nhưng lắm đêm, Cúc lại khóc thầm, khi Thảo ngủ trước nàng. Nàng nghe cô đơn vô cùng mà nhớ lại phận "đi biển lẻ loi một mình" của nàng.

Vâng, có thương yêu nàng đến đâu Thảo cũng sẽ bất lực khi nàng lâm nguy, khác hẳn với trường hợp các tai nạn thường chẳng hạn như nàng té xuống sông, hoặc bị kẹt trong một ngôi nhà đang cháy, những trường hợp ấy có nguy ngập ghê rợn bao nhiêu, nàng cũng không đến đỗi tuyệt vọng vì chắc chắn là Thảo sẽ liều cả tánh mạng chàng nữa để cứu nàng.

Cảm giác cô đơn nầy sở dĩ mà có là vì cái viễn ảnh chết chóc do cuộc giải phẩu gây ra, chớ không phải sự sợ hãi đau chuyển bụng. Cảnh đi biển lẻ loi nơi Cúc là cái chết đau thương trong buổi đầu một đời hạnh phúc của nàng chớ không phải là những đau đớn thể xác một mình như nơi các bà vợ khác.

Nàng càng khóc dữ khi nghĩ đến cảnh mồ côi của thằng Thọ. Và trong đau khổ vô căn cứ của nàng, nàng cố tìm một giải pháp cho đứa con yêu quí của nàng. Sự tìm tòi nầy dĩ nhiên đưa đến Hồng.

Vâng, Thảo còn trẻ thì không sao mà ở vậy được cho tới già. Mà nếu phải tục huyền, Thảo không lấy ai mà tốt đẹp cho mọi việc bằng lấy Hồng. Thảo sẽ tìm thấy hình ảnh của người vợ thân yêu quá vãng nơi cái bản sao của người vợ ấy, và hạnh phúc của chàng có thể nói là không hề bị đứt đoạn. Chàng sẽ không gặp một hạnh phúc thứ nhì mà chỉ tiếp tục hưởng hạnh phúc đang có.

Hồng cũng có lợi nữa. Hồng sẽ khỏi trơ trọi một thân, nếu Thảo ra khỏi nhà nầy để tục huyền. Không dễ gì lấy chồng lắm đâu, ở vào thời nầy, thì Hồng lấy được một người chồng như Thảo là quí lắm rồi.

Kẻ thứ ba được hưởng lợi là thằng Thọ. Chắc chắn là Hồng sẽ yêu thương nó y như nó là con đẻ của Hồng. Ngày sau, nó sẽ biết rằng nó mất mẹ, nhưng thật ra nó có mất gì đâu. Nó sẽ thương người nuôi dưỡng của nó hơn là người đã cho nó máu mủ. Tình của con người là như vậy, bằng cớ là nhiều đứa bé xấu háy được mẹ chúng nó cho người khác nuôi, rồi khi lớn lên, chúng nó nhứt định không trở về với mẹ ruột của chúng nó, cho dẫu là các bà nầy giàu sang hơn mẹ nuôi chúng nó nhiều lắm.

Nghĩ tới đây, Cúc đâm ghen. Nàng hình dung ra cảnh Thảo ấp yêu Hồng trong lòng rồi máu nàng sôi lên, làm như chuyện ấy đã xảy ra thật sự rồi vậy. Thấy rõ là loài người, tốt bao nhiêu, vẫn ích kỷ về tình yêu. Họ sẵn lòng chia sớt cho người thân yêu họ tất cả những gì quí báu nhứt của họ, trừ cái đó.

Cúc lại nghĩ sâu hơn nữa, nghĩ đến những điều tế nhị hơn, khúc mắc hơn. Là không làm sao mà Thảo không hơi hơi yêu Hồng và Hồng không hơi hơi yêu Thảo, Hồng với nàng chỉ là một thì Thảo yêu nàng, không thể không yêu Hồng. Còn Hồng nó yêu nàng, không thể không yêu người mà nàng yêu.

Suy tưởng nầy càng làm nàng đau đớn, vì đây là chuyện có thể có thật, không, chắc chắn có thật, đã xảy ra rồi, đang xảy ra, và cứ xảy ra mãi mãi, cho đến khi nào Hồng đi lấy chồng thì thôi. Nàng đau hơn là lúc Thảo tính chuyện tục huyền với Hồng, bởi tình yêu thầm lặng giữa hai đứa nó, là một phản bội, trong khi nàng còn sống, chỉ là phản bội trong tinh thần thôi, nhưng vẫn có phản bội, còn sự tục huyền của Thảo là chánh đáng bởi nàng không còn đó nữa.

Tục huyền ! Họ sẽ lấy nhau, yêu nhau và hạnh phúc tới bạc đầu ! Thằng Thọ cũng hạnh phúc nữa ! Trời ơi, ai cũng hạnh phúc cả, chỉ có mình là bạc số. Mình sẽ quạnh hiu dưới một nấm mồ lạnh trong một nghĩa địa đất ẩm của Saigon và người đời sẽ quên mình khi mãn kỳ tang khó !

Bỗng Cúc rống lên mà khóc, khiến Thảo giựt mình day lại, rồi hoảng sợ hỏi:

- Sao, gì đó Cúc ? Cúc đau ốm à ?

Cúc không đáp, và càng tức tửi hơn vì câu hỏi của chồng càng làm cho nàng tủi thân phận hơn.

Thảo ôm đầu vợ, hôn lên trán vợ, lau nước mắt cho nàng, buồn cười quá, bằng tay áo của chàng vì chàng tìm trong túi áo ngủ không thấy mu xoa trong đó.

- Gì đó cưng ?

- Em sợ lắm !

- À, lêu lêu mắc cỡ em nhỏ của anh ! Em nằm chiêm bao thấy gì ?

- Không, em chưa ngủ. Em sợ mổ.

- Ờ… giờ nầy mà còn chưa ngủ để nghĩ bậy rồi sợ. Đã bảo không sao kia mà !

- Họ chỉ nói cho an lòng mình thôi, chớ...

- Không, thầy thuốc họ không gạt mình làm gì. Có gạt là họ dọa mình sắp chết đến nơi để mình hoảng, nhờ họ cứu chữa cho, hầu họ đập đổ mình, chớ đã bảo không sao thì thật không sao.

Cúc đã thôi khóc từ nãy đến giờ, chỉ còn thỉnh thoảng thổn thức thôi. Thình lình, nàng nghe bụng mình bị đạp mạnh từ trong ra ngoài, và chợt ý thức rằng chồng nàng đã để tay trên đó.

- À, bắt được mầy rồi đây !

Thảo nói xong vói cái tay ở không để bóp trái boa trên đầu nằm, trái boa nầy điều khiển hai ngọn đèn, ngọn đèn chong ở sau đầu giường và ngọn đèn đọc sách trên đầu tủ đầu giường. Ngọn đèn chong tắt, ngọn đèn đọc sách cháy lên, soi sáng giường của đôi vợ chồng qua lớp màn tuyn.

Cúc cuối xuống và thấy da bụng nàng căng thẳng ra ở một nơi, chỗ bị đội lên nhọn như là dưới ấy là cái cùi chõ hay cái gót của bào thai. Thào đang nắm lấy chỗ đó và nói:

- Thằng giặc con nầy, nó đạp mẹ nó từ trong bụng đạp ra. Nhưng nữa sanh nó ra rồi nó lại sẽ từ ngoài đạp vô cho mà coi.

Nói xong, chàng buông chỗ đó ra, rồi hôn lên đó một cái khiến Cúc nhột, cười hăng hắc. Đồng thời, cáí cùi chõ hay cái gót ấy cũng biến mất.

- Dạo nầy nó đạp mạnh lắm anh à.

- Bảy tháng rưỡi rồi còn gì.

Rồi Thảo lại hôn bụng vợ và Cúc lại cười lên vì nghe buồn buồn nhồn nhột.

Cảnh thân mật nhỏ nầy giúp nàng quên được mối lo âu và niềm đau của nàng.

Thảo lại tắt đèn, rồi hai vợ chồng rù rì với nhau một hồi thì Thảo ngủ mất, trong câu chuyện.

Bị bỏ rơi lại một mình, Củc lại nghe cô đơn và buồn vô cùng. Nhưng nàng cố nhớ đến lời của hai vị bác sĩ: "Rất có thể là lỗ xương cốt bàn hẹp".

Chỉ là sự có thể thôi, nghĩa là hai nhà chuyên môn ấy có thể lầm, và nàng còn hy vọng thoát khỏi cái nạn mổ xẻ. Điều nầy giúp nàng an dạ lại được. Vả lại, nếu thấy bí lối, nàng cũng sẽ nhẫn nại chịu số phận như loài người đã từng phải chịu, chớ biết sao bây giờ.

° ° °

Đêm nay ngoài vườn trăng sáng quá. Trăng Sàigòn là một người bà con nghèo, không được ai buồn đếm xỉa tới cả, chỉ có những đêm banh điện người ta mới chợt nhớ lại sự có mặt của chị Hằng mà thôi.

Qua tàn thưa của hai cây ngâu già, trăng đẹp vô ngần. Những chùm lá ngâu gợi nhớ cành tòng trong sách Tàu, mặc dầu hai loại lá cành nầy ở trên thật tế, khác nhau rất xa.

Mặt trăng trong mà một sợi mây trắng vắt ngang qua, lấp ló sau những chùm lá ngâu, lá nho nhỏ, tròn tròn, trông giống hệt như một bức tranh thủy mặc Tàu vẻ trăng sau cánh tòng, cạnh mái cong cong của một ngôi nhà thủy tạ bên bờ hồ, dưới chơn núi.

Dạo nầy Cúc nghe mệt nhọc trong người lắm, nên ăn rồi là muốn đi nằm, trăng trong thế nào nàng cũng không ham. Thành thử chỉ có Thảo và Hồng ngồi trên chiếc băng đá cẩm thạch giả màu xanh lợt để hứng mát thôi.

Con đường nhỏ nầy, ban đêm ít xe cộ qua lại, phương chi đoạn trên bị chận lại trước bót ngánh Cầu Kho thì số xe hiếm hoi lại càng bị bạn chế tới mức tối thiểu. Nhờ vậy mà khu nầy yên tịnh như một con phố ngoại ô tỉnh nhỏ.

Thảo vừa cắn hột dưa, vừa hỏi.

- Hồng đã tới đâu rồi về vụ chị xẩm ấy ?

Hồng cũng đang cắn hột dưa đáp:

- Hồng đã đổi ý rồi, có lẽ tại nó đòi mắc quá.

- Bao nhiêu mà mắc ?

- Một ngàn rưỡi.

- Sao họ nói nhơn công Trung Hoa ăn rẻ ? [1]

- Ừ, nhưng trừ bọn vú em. Bọn nầy chỉ làm cho Tây nên quen với giá cao mà Tây trả cho họ. Vả lại Hồng hỏi kỹ thì thấy nó cũng dốt vệ sinh như bất kỳ con sen nào của ta. Nó chỉ mặc quần áo vải trắng nên trông cứ như là biết ở sạch lắm, chớ thật ra nó cũng làm rớt núm vú cao su xuống dưới đất, lượm lên, quẹt vào áo rồi đút vào miệng trẻ con. Người mình, bọn trưởng giả học làm sang, thích mướn xẩm để làm cảnh, để tăng cá vẻ giàu sang của họ lên thôi, để cho người ta thấy họ có cái mực sống như Tây, chớ họ cũng chẳng thiết gì về nỗi băn khoăn của ta là cần một người hiểu biết vệ sinh. Người ấy ít lắm cũng phải tin rằng có con vi trùng, và tin rằng nước phải đun thật sôi mới chết vi trùng, núm vú phải nấu trong nước sôi vân vân …

- Ừ, nhưng biết tính sao giờ.

- Nhưng Hồng đã tìm được một người đúng như ta muốn, mà họ cũng chỉ đòi có một ngàn rưỡi thôi, hơn thế, họ chịu giặt giụa áo quần của con Cúc trong tháng đầu, công việc mà bọn xẩm từ chối làm cả trong những tháng sau đó nữa, còn người mình thì có nhận làm trong tháng đầu cũng đòi tiền thật nhiều. Họ có thành kiến về đàn bà đẻ ấy mà !

Thảo bật cười. Người mình cho rằng đờn bà đẻ là thứ gì "hết xài" rồi, cái gì của họ cũng dễ tởm cả, thậm chí cả cho đến ngày nay mà trong nhiều gia đình khá giả, đàn bà đẻ chỉ được bố thí cho một cái chòi ngoài ranh dựng lên hối hả lúc họ chuyển bụng, chớ không được nằm trong nhà mà đẻ. Sau đó thì chòi được đốt đi với tất cả y phục của họ, y phuc nầy được chọn trong mớ y phục rách nát sắp dùng làm nùi giẻ.

Nhưng tiếng cười của chàng bỗng tắt ngang, vì chàng vừa nhớ đến một điều. Trong vòng hai tháng nay, Cúc chẳng những không còn thơm tho nữa mà lại có mùi hôi, may là nàng biết vệ sinh, đã ăn mặc sạch sẽ, đã xức nước hoa, thì nói chi là người quê mùa, họ bị ghê tởm cũng phải.

Nhưng rồi chàng lại nhớ đến điều khác nữa. Là Cúc đã méo mó nhiều quá rồi. Cái thai tám tháng rưỡi ấy làm cho con người của nàng bề xề, nặng nề quá.

Yêu vợ thì chàng vẫn yêu với tất cả tấm lòng chàng, nhưng không sao mà chàng khỏi nhớ đến một cô Cúc năm ngoái, một cô Cúc son trẻ mà bây giờ đang ngồi chung băng đá với chàng.

Đã sáu tháng rồi chàng không có gần Cúc nữa trong khi sức khỏe của chàng cứ càng ngày càng tăng, nhờ sống điều độ hơn lúc còn độc thân.

Tôn giáo, pháp luật và luân lý đều nín thinh ở chỗ đó, ở nhu cầu có người đàn ông trong gần suốt thời gian mà vợ họ mang thai, làm như là xác thịt của con người có thể bị tinh thần chế ngự được một cách dễ dàng.

Chàng có chế ngự xác thịt chàng thật đó; nhưng nó vẫn cứ muốn nổi loạn.

Lạ quá ! Ngày thường, những ngày mà tối tối trời nóng bức, cả nhà hay ra đây để hóng mát, chàng đã ngồi sát Hồng mà không nghe sao cả, Cúc ngồi bên phải của chàng còn Hồng thì ngồi bên trái.

Nhưng đêm nay hai người ngồi cách xa nhau cả thước, mỗi người ở một đầu băng vì ai cũng muốn giữ gìn cả, thế mà chàng lại nghe rung động khó hiểu lẳm. Làm như là xúc giác của con người có thể cách cảm được vậy.

- Hồng còn hột dưa hết ?

- Hết, Thảo còn không ?

Thảo lặng thinh hốt môt nắm trong túi áo bi-da-ma của chàng rồi với tay qua trao cho Hồng. Hồng bụm ngửa bàn tay mặt lại để hứng lấy nắm hột dưa mà đáng lý gì Thảo rót lên đó là được rồi, nhưng hắn lại hạ bàn tay hắn vào đó rồi xoè ra cho hột dưa rớt xuống.

Vì bàn tay hắn lớn, hắn phải đặt sát vào bàn tay nhỏ xíu của Hồng để cho hột dưa khỏi đổ ra ngoài, hay vì ý gì khác thì không rõ mà hắn hành động như vậy, hóa ra Hồng gần như là nắm lấy bàn tay của hắn.

Hột đưa đã sang tay hết cả rồi, và Hồng hơi ngạc nhiên mà thấy hắn không lấy bàn tay của hắn lên. Nhưng sự nằm lỳ của bàn tay nầy không kéo dài quá, nó chỉ nằm quá thời khắc phải nằm có mấy giây thôi, chỉ vừa đủ cho một người tế nhị như Hồng nhận thức được thôi, nhận thức được nhưng cũng không dám chắc đó là một cử chỉ do hậu ý không tốt chi phối, bởi hắn có thể vì cẩn thận nên đã làm thế cho chắc ý rằng hột dưa không còn dính tay hắn nữa.

Cái bụm tay tràn trề hột dưa của Hồng rút về cùng một lượt với nắm tay của Thảo. Thảo ngượng nghịu hỏi:

- Người ấy thế nào, ngoài cái việc giặt giụa ấy ?

Chàng nghe giọng chàng run run, nghe hơì thở dồn dập, nghe tim chàng đập thình thình nghe mặt chàng nóng ran.

Nhưng Hồng thì nói rất bình thản, như không việc gì xảy ra, và chính sự bình thản nầy đã làm cho Thảo mắc cỡ với chàng quá. Nếu có sự tùng đảng thì việc xấu của ta, ít xấu hơn, hay không xấu gì cả, trước mắt kẻ a tòng. Nhưng chắc chắn là Hồng không có ý gì hết nên mới dửng dưng được đến thế.

Hồng là một cô gái nểt na, và luôn luôn thẳng thắn với chàng, cả trong những lúc bất đắc dĩ phải thân mật với nhau. Vì thế mà cho tới bây giờ chàng không ngã, không ngã vì sợ hơn là nhờ ở đạo đức của chàng, hơn là nhờ đã tranh đấu với bản thân, với xác thịt mình mà sự thèm muốn cứ kêu gào lên ầm ầm.

Hồng nói:

- Chị nầy nguyên là một cô đỡ phụ ở một nhà hộ sanh, cô đỡ phụ các nhà hộ sanh tư lắm khi chỉ có nghĩa là một công nhân hơi chuyên môn một chút, đã được huấn luyện để tiếp tay các cô đỡ trong những công việc không hệ trọng như là nấu kim tiêm thuốc, trụn nước sôi ống bốc ta vơ, đốt dụng cụ để khử độc, thay tã cho em bé, mà như vậy là đủ khả năng săn sóc mẹ con con Cúc lắm rồi.

- Đúng như vậy.

- Mỗi tháng một ngàn rưỡi thì có hơi nhiều thật đó. Nhưng ta chỉ dùng chị ta hai tháng là cùng.

- Ừ. Vậy Hồng cứ xúc tiến việc thương lượng đi.

- Người ta đã nhận lời rồi và tuần sau thì họ đến đây.

- Quí hóa lắm !

Thảo làm thinh sau câu đó. Sự đụng chạm của hai bàn tay khi nãy gợi nhớ cho chàng những kỷ niệm thời thơ ấu mà chàng ở nhà quê. Những đêm trăng, trẻ con trong làng chơi trò ve ve cút bắt. Một đứa trẻ xòe bàn tay ra, thường thì là một đứa con gái ; bao nhiêu đứa khác thọc vào bàn tay ấy một ngón tay của chúng, thường thì là ngón trỏ rồi vừa nói: "Ve… Ve...Ve...Ve" vừa ngoáy ngón tay chúng trong lòng bàn tay xòe. Đứa xòe tay thình lình thổi vào đó một cái thật lẹ rồi khép bàn tay lại cũng thật lẹ. Bao nhiêu ngón tay đều chớp nhoáng rút ra cả, ngón nào bị kẹp lại thì chủ của ngón đó phải bị bịt mắt ngồi đó, mấy đứa kia đi trốn và nó phải tìm bắt cho được, khổ sở không biết bao nhiêu.

Tuy khổ sở thế mà chàng lại thích chậm tay để bị bắt, nếu đứa xoè tay là con Thơ. Trẻ dại biết gì, nhưng không hiểu sao chàng nghe sung sướng vô cùng khi ngón tay trỏ của chàng bị bàn tay con Thơ nắm chặt lại.

Theo lệ, hễ bị nắm trong một giây là đủ rồi, nhưng con Thơ lại cứ giữ ngón tay của chàng trong tay nó, làm như sợ chàng ăn gian, giựt tay ra rồi chối rằng đã bị bắt.

"Trời ơi, chàng than thầm, sao Hồng không thích giữ tay mình như Thơ"

° ° °

Cúc kêu đau bụng hồi mười giờ đêm. May quá, nếu trễ chừng một tiếng đồng hồ nữa, thật không biết tính sao, vì giờ giới nghiêm là 12 giờ đêm thì lối 11giờ xe tắc-xi đã rút lần đi hết.

Họ đã sắp đặt mọi việc rất chu đáo, nhờ chị Nhãn mách cho phương pháp, nên không có sự bối rối, ít lắm là ở bề ngoài. Nói ít lắm là ở bề ngoài, vì Cúc nghe rằng giờ cuối cùng của đời nàng đã điểm, còn Thảo thì thật ra quýnh lắm nhưng sợ chị Nhãn cười, nên cố làm tỉnh.

Chị Nhãn giúp việc trong một nhà hộ sanh tư kia được mười hai năm rồi, hồi chị mới mười tám tuổi. Không có cái gì mà chị không biết, không có thảm kịch gia đình nào mà chị không chứng kiến và không có vụ cuống cuồng nào mà chị không thấy.Trong tuần lễ đến ở trước nơi đây, ngày nào chị cũng kể chuyện những ông chồng nhát gan chạy quanh quẩn như gà mắc đẻ, như chính các ông đẻ chớ không phải các bà, khiến cả nhà cười vỡ bụng.

Câu chuyện hay hơn hết là câu chuyện những anh chồng nhà quê, bị các bà mụ vườn gạt-gẫm bắt các ảnh đi đốn chuối cây, đi nhổ hàng rào, đi lạy cánh cửa, bảo rằng làm thế vợ các anh sẽ sanh mau, nhưng thật ra là để đưa các anh đi xa cho các bà mụ khỏi vướng chơn vướng cẳng, không thế các anh cứ chạy xấn-rấn quanh đó, không ai làm gì được cả.

Sự kiện lỗ xương cốt bàn hẹp của Cúc được phòng khám thai chú ý đến ngay, và được ghi vào sổ sách rồi từ lâu, nên khi người ta nhận nàng thì người ta đã biết phải làm gì, đúng y như bà bác sĩ Ngô đã nói.

Người nhà được báo cho biết rằng Cúc phải mổ, người nhà nầy chỉ là Thảo thôi, chớ Hồng thì bận giữ nhà.

Mặc dầu không cần thiết, Thảo cũng tức tốc dông về cho Hồng hay, có lẽ chàng sợ trách nhiệm chăng vì chàng bị mặc cảm nhiều lắm trong quyền hạn về Cúc.

Chàng cứ nghe rằng Cúc thuộc về Hồng hơn là về chàng.

- Té ra mấy bà bác sĩ ấy nói đúng ! Hồng than. Nhưng đã thế thì phải để cho người ta mổ chớ biết sao giờ, bởi đó là giải pháp duy nhứt.

Còn có mười lăm phút nữa là giới nghiêm, Thảo vội trở lên Từ Dũ bằng xì-cút-tơ của chàng, chiếc xích lô đạp đưa chàng về đây không chịu neo.

Cúc chỉ đau bụng vừa vừa thôi và có bà già công nhân cho Thảo biết riêng rằng trường hợp của Cúc muốn mổ lúc nào cũng được, không cần đợi tới chuyển bụng chín mùi, mà có chuyển bụng chín mùi rồi chưa mổ cũng không sao, thành thử Cúc sẽ được mổ giờ nào là tùy lúc rảnh rang của các y sĩ, chàng đừng có sốt ruột hỏi thăm mãi mất công.

Cúc đã được đưa vào buồng mổ rồi và lời của bà già nầy giúp chàng biết rằng cuộc giải phẩu chưa khởi sự.

Lạ quá, cái mà chàng sợ, chàng muốn nó xảy ra cho xong đi, đến nỗi lo lắng của chàng chỉ bị kéo dài có thời hạn thôi. Giờ, chàng không chỉ đợi cuộc giải phẩu được làm xong để biết kết quả mà còn đợi cho họ chịu giải phẩu Cúc nữa, tức thời gian sốt ruột của chàng tăng lên bằng hai, có thể bằng ba nữa.

Thảo chỉ xin giấy phép ở lại nuôi bịnh cho chị Nhãn nhưng chàng cũng ở lại để chờ kết quả.

Hình như là có nhiều người phảí mổ chớ không phãi chỉ một mình Cúc mà thôi, nên thấy nhân viên nhà thương vô ra phòng mổ, Thảo không thể đoán được gì hết, và đành phải ngồi đó mà chờ trong sự im lặng nặng nề, trước vẻ bình thản đáng giận của người nhà thương. Cái thảm kịch của chàng, họ xem như là không có, bởi thật sự thì không có thảm kịch nào cả, tại chàng không biết gì nên cuống cuồng lên vậy thôi. Nhưng nếu Cúc mà thật tình lâm nguy đi nữa họ cũng cứ thản nhiên. Việc gì đến họ chớ ? Họ chỉ làm hết khả năng của họ là họ an tâm rồi, con bịnh chết là thường, họ không sao làm khác hơn được.

Thảo ngồi đó mà triết lý vụn vặt thầm về khoa mổ xe, mà chàng thấy là ghê tởm. Một người bị thương nặng, một cơn bịnh trầm trọng, phải mổ mà có chết đi, không ghê rợn như một người đang khỏe mạnh như Cúc, năm phút trước thần trí còn minh mẫn, còn nói om lên thế mà năm phút sau đã hóa ra một cái xác chết, y như là con thịt từ lò sát sanh ra, dấu vết giết chóc của các tay đồ tể còn mới ràng ràng.

Cái gì sẽ xảy ra, nếu Cúc chẳng may xấu số ? Thật là không đoán biết được, mặc dầu những gì xảy ra ấy chỉ tùy thuộc ở chàng. Chàng thấy cái tương lai gần ấy mờ mờ ảo ảo như là một chơn trời mờ mịt.

Nhưng mà chàng rơm rớm lệ. Chàng nghe đau quá trước viễn ảnh vĩnh biệt ngàn thu người bạn đời của chàng. Chàng thương Cúc hơn là thương chàng trong cái chết đó. Cúc có lẽ còn đau hơn chàng nữa khi nàng nghĩ đến nỗi bơ vơ của bé Thọ về sau nầy.

Cái lúc mà Cúc bị chụp thuốc mê, có lẽ hình ảnh cuối cùng hiện ra trong tâm nàng là hình ảnh của bé Thọ chớ không phải của chàng, càng không phải của Hồng.

Nhà thương được bọc lưới sắt nơi các cửa. Mặc dầu thế, cũng không ngăn hết muỗi. Thảo bị muỗi đốt và mỏi mệt vô cùng vì chàng nói chuyện với Hồng tới chín giờ rưỡi, rồi vô buồng đọc sách, qua mười giờ là nghe Cúc kêu đau bụng, nghĩa là từ đầu hôm tới giờ là hai giờ đêm chàng chưa chợp mắt lần nào và chỉ được nằm có non nửa tiếng đồng hồ thôi.

Chiếc đồng hồ tay của chàng đêm nay bị chàng xem mặt nhiều lần quá, và nó chạy chậm không thể tưởng tượng được.

Mãi cho đến ba giờ rưỡi khuya, Thảo mới thấy chiếc xe bàn có bánh xe được đẩy ra khỏi phòng mổ, trên xe bàn một bệnh nhân phủ tra trắng nằm ngay đơ.

Tim chàng đập mạnh thình lình và chàng nghe ngộp thở quá. Đứng lên như có lò xo bật, Thảo chạy trong hành lang để đón xe ấy và chàng chết sửng khi thấy gương mặt của Cúc, xanh như tàu lá, mắt nhắm nghiền lại, và hình như không còn thở nữa.

- Trời ơi, vợ tôi mất rồi sao ?

Chàng hỏi trổng như vậy chớ không nói với ai cả, bởi hai người đẩy xe bàn chỉ là công nhân thôi, chàng không chắc họ đủ khả năng trả lời chàng. Nhưng một chị đáp:

- Không đâu thầy, tại thuốc mê chưa tan hết. Rồi cô ấy sẽ tỉnh lại. Đã xong xuôi cả rồi, tai qua nạn khỏi hết.

Thảo chưa hề thấy một con bịnh vừa được mổ xong nên không thể tin những lời trái hẳn với tình trạng của người đang nằm trên xe bàn.

Chàng bước mau theo xe và mới hay là họ đẩy xe vào phòng lạnh, chớ không phải đẩy xuống nhà xác như chàng tưởng.

Khi họ tới cửa phòng lạnh thì Thảo nghe tiếng giép sau lưng chàng, chàng day lại thì thấy một cô đỡ ẵm một đứa bé, nhìn chàng, nhe răng ra cười mà hỏi:

- Đố ông gái hay trai ?

Thảo bất kể đứa bé là gái hay trai, bởi nó mà chết, chàng cũng không nghe sao cả, vì sự liên hệ tình cảm giữa chàng và nó còn mong manh quá. Chàng nghẹn ngào hỏi:

- Thưa cô còn vợ tôi ?

- Bà ấy tốt lắm. Lát nữa sẽ tỉnh lại và mai nầy sẽ như thường.

Thảo thở ra nhẹ nhõm và bây giờ, chàng mới thấy chị Nhãn, chị nầy vẫn có mặt bên cạnh chàng từ đầu hôm đến giờ.

Thảo về tới nhà là đã sáu giờ rưỡi sáng rồi.

Chàng đợi cho Cúc tỉnh lại, hỏi nàng vài câu mới yên lòng rời nhà hộ sanh.

Chàng bắt gặp một cô Hồng đôi mắt trõm lơ và biết ngay rằng đêm nay, Hồng cũng không có ngủ phút nào.

Hồng cũng nghe tim nàng đập mạnh thình thình khi Thảo gõ cửa. Bấy giờ tới phiên Thảo nhe răng ra cười mà hỏi:

- Đố Hồng con trai hay con gái ?

Và Hồng cũng bất kể đứa bé là trai hay là gái y như chàng, lúc cô đỡ hỏi.

- Sao, Cúc thế nào ?

- Mổ xong rồi. Tốt lắm. Nó đã tỉnh lại rồi, nhưng còn mệt.

Hồng bỗng tươi hẳn lên và bây giờ mới nói tới đứa trẻ sơ sinh mà chưa ai thương bao nhiêu.

- Còn thằng Thọ ?

- Ba kí lô rưỡi, giống Hồng ghê lắm.

- Chớ không giống Thảo à ?

- Có chớ, nhưng nó chỉ giống Thảo ở cái trán và mũi thôi, còn miệng và mắt là miệng mắt của Hồng và Cúc. Cho uống cà phê Hồng ơi. Thảo mệt ghê đi.

- Thảo uống cà phê tiệm cắc chú nhé, giờ đợi nấu nước lâu quá.

- Cũng được.

Trưa hôm ấy Thảo và Hồng ra sở sớm hơn thường lệ để đi thăm Cúc vì nhà hộ sinh nhận người vào thăm hồi mười một giờ, họ muốn có mặt ngay sau khi cửa mở.

Cúc vẫn còn mệt, nhưng đã tươi tỉnh phần nào và đã yêu đời trở lại như thường vì nàng đã chắc chắn rằng tai qua nạn khỏi rồi.

Vì phòng lạnh chứa rất nhiều bịnh nặng, họ không được nói chuyện nhiều, không đuợc ở lâu, nên năm phút sau, Thảo và Hồng mỗi người hôn Cúc một cái, nhìn bé Thọ một cái rồi ra về.

Phần IV

Ngôi nhà xưa trá hình làm ngôi biệt thự tân thời ở đường Huynh quang Tiên bây giờ thêm một người ở nữa. Người nầy chưa có khai vào sổ gia đình, nhưng rất là quan trọng.

Giờ mẹ nó đã lành lặn rồi, chỉ may vết mổ đã được rút và đường mổ đã kéo da non, bé Thọ bỗng xuất hiện trong đời sống của gia đình và được hưởng mọi quyền ưu tiên trong nhà nầy.

Thật ra thì chưa biết nó giống ai, bé đỏ lòm lom cái mặt nhăn nheo, bị bó chặt trong tấm tã như đòn bánh tét và ngủ suốt ngày, chỉ thức mấy lần hiếm hoi để bú và để khóc vì làm ướt tã thôi.

Nhưng Thảo thì thấy nó giống Hồng và Cúc y khuôn còn trái lại Hồng và Cúc lại thấy nó giống Thảo như đúc.

Đã quyết định để nó nằm riêng cho hạp vệ sinh, Cúc lại cứ bắt để nó nằm cạnh nàng, để mà nhìn nó suốt ngày không thôi. Cúc ganh với Hồng, nhứt là từ hôm Hồng nói nựng với nó, xưng là má Hồng chớ không chịu xưng dì Hồng nữa, và nàng như sợ để nó nằm riêng thì Hồng sẽ bắt nó mất đi.

Với lại nó trở thành quí báu vô cùng vì một lẽ mà nội nhà chưa ai biết cả. Nghĩ tới điều nầy, Cúc buồn ghê đi. Cô đỡ săn sóc nàng đã cho nàng hay rằng nàng không mong có con nữa, vì bác sĩ đã cột hai chùm trứng của nàng lại rồi, bởi cái dạ con của nàng bây giờ không được bền chắc lắm, có thai nữa không tốt.

Cúc chưa dám tiết lộ điều đó cho Thảo và Hồng biết, một là vì tự ái, bởi nàng đã trở thành người kém cỏi, không làm phận sự được nữa một cách hoàn toàn, nàng chỉ còn là phân nửa con người thôi, hai là vì nỗi lo sợ bí mật nào nàng cũng không rõ nữa.

Ôm giữ bí mật nầy một mình, Cúc càng nghe bé Thọ quí báu hơn, vì nó dễ lâm nguy hơn, bởi khi mà cha nó và dì nó tưởng nó có thể có em khác thì nó sẽ không được bảo vệ đúng mức, mặc dầu họ thương yêu nó tới đâu đi nữa.

Qua nửa tháng thì Cúc trở lại tình trạng bình thường. Nàng chỉ là một con bịnh mổ vừa khỏi thôi, chớ không phải là một sản phụ, bởi nàng không có đẻ.

Tuần trước nàng đã ăn uống trả bữa, nên sự trở sự trở lại bình thường nầy không biến đổi con người của nàng nữa về sau.

Cúc đã khác Hồng trông thấy. Nếu trang điểm và ăn mặc để đi ra ngoài, hơi khó phân biệt hai người. Nhưng ở nhà thì Cúc là một người đàn bà đã qua một thời kỳ sanh nở rồi, dấu vết của sự làm mẹ rõ rệt quá.

Mãi cho tới ngày ăn đầy tháng cho Thọ, Thảo và Hồng mới được Cúc cho biết số phận không may của nàng.

Hồng chỉ đón tin nầy một cách bình thường thôi. Nhưng Thảo thì tuyệt vọng trông thấy. Chàng đã nhiều lần trù liệu với Cúc là họ sẽ có chỉ có ba đứa con thôi rồi áp-dụng các phương-pháp hạn chế sinh đẻ để cho khả năng tài chánh của họ không vì số con đông quá mà bị giảm, rồi việc nuôi dưỡng ba đứa con ấy phải kém sút đi. Nhưng một đứa thì ít quá.

Một đứa con độc nhất là hủ mắm treo đầu giàn, tình cảnh là bực cha mẹ nào cũng rất sợ.

Cúc bị mặc cảm ghê lắm trước nỗi tuyệt vọng của chồng và buồn đau trong cái bữa cơm đáng lý gì phải rất vui vẻ, vui vẻ hơn ngày thường nhiều, vì đó là bữa tiểu yến gia đình, đánh dấu một ngày quan trọng.

Tuy nhiên rồi sau đó không khí trong nhà vui trở lại và vui vẻ hơn trước nhiều lắm. Nỗi sầu nào rồi cũng nguôi được, phương chi Cúc thấy chồng càng thương yêu mình hơn xưa, và nhớ ra rằng có khối đứa con một vẫn sống như thường cho tới lớn để lập gia đình và nối dõi tông đường.

Nỗi vui trong gia đình do Thọ tạo nên. Thọ đã bắt đầu tham gia vào cuộc sống rồi chớ không ngủ suốt ngày như hồi còn "trong tháng", tuy sự tham dự của nó thật là ít oi. Nó chỉ biết ngơ ngác nhìn hết người nầy đến người khác trong bộ ba Thảo, Cúc, Hồng, với lại thỉnh thoảng chị Nhãn và con Mười.

Nó vẫn còn cười, còn khóc trong mơ, nhưng đã biết cười với ba người thân yêu nầy, cả những lúc nó thức nữa.

Người được bé Thọ nhìn nhiều nhất là Cúc. Cúc cho con bú dậm thêm sữa của nàng, lối cho bú mà khoa dưỡng nhi gọi là cho bú hỗn hợp, vừa giúp người mẹ không mất sức mà cũng giúp con không thiếu những chất bổ cần thiết mà sữa bò chưa đủ bằng sữa người.

Những lúc nó ngậm vú mà nút, nó nhìn sửng cái gương mặt của người đàn bà cúi xuống để nhìn nó.

Đó là hình ảnh đầu mùa trong đời người, và hình ảnh nầy được khắc sâu hơn bất kỳ hình ảnh tốt đẹp nào khác về sau, cho đến đỗi nhiều người tìm vợ, có khuynh hướng tìm cho được người phụ nữ có điểm nào đó giống giống mẹ của họ.

Nếu những lúc ấy mà Hồng có mặt, thì bé Thọ rất ngạc nhiên, vì trong ý thức còn mù mờ của nó, sự có mặt của hai người y nhau làm cho nó ngẩn ngơ.

Riêng Thảo, chàng bước qua một giai đoạn mới trong đời chàng, mà không phải vì chàng đã làm cha. Lẽ cố nhiên một thanh niên vừa làm cha thì là bước qua một giai đoạn mới rồi. Nhưng giai đoạn mới ấy, hiện nay bị chàng đẩy lùi ra hàng ghế sau.

Bài toán làm chàng bể đầu là bài toán Hồng.

Tối hôm ấy, Thảo hỏi vợ mà không có hậu ý gì cả.

- Cái chỗ mổ ấy em nghe thế nào ? Thỉnh thoảng có đau nhức gì chăng ?

- Hiện giờ thì như thường rồi, chớ mấy tuần trước còn ngứa ngáy sơ sơ ngoài da.

- Ăn no cũng không nghe gì chớ ?

Cúc cười ngất rồi nói:

- Anh khéo hỏi tầm ruồng. Hai mép da nó liền lặn lại y như là hai cây sắt được hàn hơi dính lại với nhau, chớ bộ ráp sơ hay sao mà anh lo bụng nó nứt ra. Đây anh xem.

Nói rồi Cúc cho chồng xem cái vết mổ mà từ một tháng rưỡi nay, Thảo chưa hề thấy.

Chàng ngạc nhiên hết sức và nói lớn lên ý nghĩ của chàng:

- Lạ quá, anh cứ tưởng đường xẻ da dài lắm, phải mổ banh cả cái bụng ra, không dè mà nó ngắn đến không thể tưởng tượng nổi thế nầy. Mấy nhà chuyên môn giải phẫu họ khéo tay thật.

Rồi chàng nói nựng như nói với Thọ:

- Tội nghiệp em nhỏ tui quá, em nhỏ tui chịu đau đớn nhiều quá.

Rồi chàng hôn lên chỗ mà một tháng rưỡi trước đây sau khi hiệu quả của thuốc mê tan hết, Cúc đã phải chịu đau đớn nhiều hôm.

Cúc buồn buồn, nhột nhột cười rúc rích và hai vợ chồng nô đùa với nhau như vậy một hồi thì tự nhiên họ đi đến cái chỗ phải đến, mặc dầu Thảo thấy còn là hơi sớm.

Xác thịt của Thảo lắng dịu lại sau đêm đó phần nào và một tuần lễ qua là chàng trở lại bình thường.

Bây giờ trí chàng mới tỉnh táo để xét bài toán Hồng dưới một quan điểm khác. Chàng đã nghe là mình đã yêu Hồng nhiều lắm rồi, nhưng sự thèm muốn Hồng, chàng đã dồn ép được, hay nói cho đúng ra, tự nó tiềm tàng đi.

Nhưng không vì thế mà Thảo thấy mối nguy không còn, Cúc có thể đau ốm, hoặc bị thương trong một tai nạn nào, và nếu như sự kiện ấy xảy ra, thì đâu sẽ trở lại đó như cũ. May là nàng không thể thọ thai được nữa đa.

Chàng thấy rằng mình có bổn phận lo việc chồng con cho Hồng. Đây là cuộc gây dựng ngược đời, em mà gây dựng cho chị. Nhưng chàng là người đàn ông độc nhất trong nhà thì không muốn làm gia trưởng, vẫn phải làm gia trưởng.

Thảo nhớ đọc tiểu thuyết Huê Kỳ, chàng thường nghe nói đến những người đờn ông cần thiết trong nhà mà mới có 12 tuổi thôi.

Số là bên Huê Kỳ, nhứt là vào thời mới định cư, đất minh mông mà người rất thưa thớt, lắm khi nhà nầy ở cách nhà kia đến bốn năm cây số mà trộm cướp thì như rươi.

Những ông chủ trại chết thình lình thì luôn luôn các bà chủ trại gọi con trai của họ về ; các cậu nầy là những cậu bé 13, 14 tuổi, đang theo học ở các trường tại các tỉnh thành, vì các bà cần một... người đàn ông trong nhà cho trộm cướp nó ngán.

Cái câu phu tử tùng tử của Khổng Mạnh mà thanh nien, thiếu nữ thường chế giễu, ngay cả bên Huê-kỳ là một nước mà nữ quyền mạnh nhất thế giới vẫn cứ đúng như thường thì ở xứ ta...

Vậy, dầu là em rể (chàng cao niên hơn Hồng đến bốn tuổi, lại là đàn ông), chàng thấy chàng có bổn phận.

Hồng lấy chồng là yên việc, ra riêng hay ở chung gì cũng sẽ hết là hiểm họa đối với chàng.

Thảo nghĩ ngay đến gia đình ông phán Hoạch nhưng vội gạt ngay ý nghĩ một sự giúp đỡ của họ. Gia đình ấy có đến bốn người cố lo cho con bé Liên ; ông Phán, bà Phán và hai vợ chồng Tấn, nhưng bé Liên vẫn chưa có chồng được. Họ không dư thì giờ để giúp chàng, công việc khó hơn, vì Hồng đã lớn tuổi rồi.

Thảo thấy mình phải giao thiệp mới được.

Sở của chàng làm, ít nhân viên quá ! Một họa công, một thầy thơ ký vừa đánh máy, vừa làm kế toán, vừa làm điện thoại viên, vừa chạy ngoài, một anh tùy phái.

Anh họa công thì không có tương lai gì cả. Anh ta có tham vọng làm họa sĩ, nhưng tài anh ta lại non kém quá. Còn nuôi mộng làm nhà thầu như bao nhiêu họa công của kiến trúc sư khác, anh ta không hề nghĩ tới, vả anh ta mà có nghĩ tới việc đó, cũng không có nghĩa là anh ta có tương lai, bởi trong một trăm họa công có tham vọng, không được mười họa công đủ điều kiện nhảy ra làm nhà thầu và không được hai người thành công trong nghề mới đó.

Còn thầy thơ ký kiêm bút toán, kiêm điện thoại viên thì quá xấu trai, chắc Hồng không khứng lấy anh nầy làm chồng đâu.

Cuộc giao thiệp phải diễn ra ngoài sở, ở các công tư sở khác, mới được.

Lạ quá, không chú ý tới thì thôi, nhưng khi Thảo tìm người độc thân thì thấy sao mà họ đông vô số kể. Những thanh niên công tư chức mà chàng quen biết sơ sơ ấy, hết 85 phần trăm chưa vợ.

Thảo lạc quan ghê lắm. Vãi chài xuống hằng ngàn con cá đó, làm thế nào lại không được một con ?

Người con trai đầu tiên mà chàng đưa về nhà là một thơ ký ty Kiến-thiết Đô-Thành.

Qua lại thường với sở nầy hơn hết, Thảo nhắm con cá ấy trước nhứt. Thầy Đức nầy đã giúp đỡ chàng nhiều việc lặt vặt chỉ do lòng tốt của thầy ta cả. Thế nên Thảo rất có lý do để mời anh ăn một bữa cơm trưa chúa nhựt tại nhà, nói là ăn đầy tháng cho con, chớ thật ra bé Thọ đã được sáu mươi lăm ngày rồi. Đức cũng có lý do để nhận lời dễ dàng bởi họ gặp mặt nhau mỗi tuần ít nhứt là một lần, mà như vậy đã bốn năm rồi.

Bữa cơm hôm đó có Tấn mà không có Liên. Cố nhiên là phải giấu cô bé Liên đi. Cô bé ấy giờ đẹp quá, đẹp hơn hai năm trước nhiều lắm, và trẻ hơn Hồng nhiều, và với tánh hay nói và tinh nghịch của cô ta, cô ta sẽ nổi bật lên và nhận chìm Hồng mất.

Tấn tới trước Đức rất lâu và Thảo, Tấn, hai người đang chơi ván cờ tướng thứ bảy thì Đức ngừng xì cút tơ trước cửa ngôi biệt thự trá hình đường Huỳnh quang Tiên.

Thảo chạy ra, nhưng Đức cứ đứng đó mà nhìn ngôi nhà mãi chớ không chịu vào, giây lâu hắn cười nói:

- Nhớ đâu hình như chính anh đã xin phép sửa ngôi nhà nầy. Tôi nhớ dáng dấp của nó trong xấp đồ án kèm theo đơn.

- Đích thị.

- Nhưng sao anh nói là của một người quen.

- Hề hề... thật ra lúc đó tôi chỉ mới đi hỏi vợ tôi đây chớ chưa cưới, mà cũng chưa làm đám hỏi nữa, nên không thể bảo là của vị hôn thê của tôi. Với lại để thử xem anh có sẵn lòng giúp một người không thân của tôi hay không.

- Khéo lắm ! Trông đồ sộ quá !

Bây giờ đã mười hai giờ trưa rồi, nên chủ nhà cho khách uống khai vị ngay để rồi ăn liền.

Cả hai thực khách đều từ chối rượu mạnh, chỉ đòi uống bia thôi. Thảo nói:

- Tôi làm thân mật nên chỉ cỏ hai bạn thôi. Ta không phải đợi ai nữa thì giải khát xong là ăn ngay nhé.

- Chủ nhà trọn quyền hành động. Tấn cười đáp.

Hắn đã biết cả mưu kế của Thảo nên tùng đảng với ông em rể này về mọi mặt.

Thảo đi ra sau ba phút rồi trở lên uống bia với họ, ghé buồng chàng để ẵm bé Thọ ra trình diện với khách.

Đức dĩ nhiên không biết trẻ một tháng khác với trẻ trên hai tháng thế nào nên không ngạc nhiên khi thấy bé Thọ.

- Đã cúng chưa ? Chàng hỏi.

- À, tụi tui không biết cúng vái làm sao hết nên bỏ luôn vụ đó.

- Cháu nó bóc cái gì ?

Tấn cười ngất rồi giải thích cho cả hai người nghe, cả cái ông cha thời đại trẳng-dít-to cũng không biết lễ nghi ngày cũ.

- Cho trẻ chọn đồ vật để đoán nghề nghiệp của chúng nó về sau là ăn thôi nôi kia, chớ ăn đầy tháng chúng nó còn bé quá, đâu có biết bóc gì.

- Vậy à ?

- Hồi chưa có đứa con đầu lòng, tôi cũng dốt như hai anh.

Tới bây, Đức đã biết nhiều việc về Tấn. Tấn là cán sự vô tuyến điện, có vợ và hai con, bạn thân của gia đình bên vợ của Thảo, và chính của Thảo nữa.

Ly bia của họ chưa cạn mà chủ nhà đã mời họ vào trong, bưng cả ly rượu cho hai người khách vào.

Phòng ăn là quãng nhà trống, một căn trọn, nằm giữa hai buồng ngủ, ngay sau vách thờ. Theo lối kiến trúc của ta, nhà ba căn, với buồng khách chiếm trọn cả ba căn phía ngoài trước, thì buồng ăn chỉ có thể đặt ở chỗ nầy, không sao khác hơn được.

Thảo trao con cho chị Nhãn rồi mời hai người bạn trẻ ngồi lại bàn, cơm đã dọn xong cả rồi. Chàng lên tiếng gọi Hồng và Cúc và từ hai cửa buồng ngủ bước ra hai phụ nữ mà Đức chưa kịp thấy vì chàng bận xô ghế đứng dậy để chào họ.

- Cúc vợ tôi, Hồng em vợ tôi - Anh Đức, người đã cho ta giấy phép để sửa chữa nhà nầy.

Bấy giở Đức mới chưng hửng, nhìn sững hai người phụ nữ nầy, cả hai đều mặc áo dài Nylfranc, một màu, màu dà như ni cô, một màu xám tro.

Thảo cười nói.

- Hồng và Cúc sanh đôi.

- À, ra vậy.

Đức cười rồi ngồi xuống, lấy làm thú lắm. Chàng hỏi:

- Như nếu không có màu áo thì làm thế nào để phân biệt chị Thảo với lại cô Hồng ?

- Dễ ợt, anh tới chơi độ ba tuần thì biết ngay.

Thảo nói láo trắng trợn mà không ngượng miệng vì chàng ta đã tập thầm trong bụng vụ nói láo nầy non một tháng rồi.

Thảo giới thiệu thêm:

- Hồng làm ở ngân hàng VNTM còn vợ tôi thì ở nhà lo nội trợ.

Chàng định rằng tư cách đi làm của Hồng sẽ có sức nặng trong quyết định của Đức, vì chàng biết sở dĩ thanh niên ngày nay kéo dài đời sống độc thân quá lâu, gần y như ở các nước Âu châu, khiến cho con gái ta khó lấy chồng quá sức, chỉ vì cuộc sống quá khó khăn.

Ngày xưa một anh thơ ký ăn lương ba chục bạc, có thể có dư. Ngày nay họ ăn bốn ngàn mà cứ thiếu. Đồng lương không vượt theo kịp giá sinh hoạt, dân ta lại đã bị Âu hóa nên có nhu cầu quá sức.

Thảo có một người anh họ, vai anh, nhưng cao niên hơn chàng đến ba mươi tuổi. Anh ấy kể rằng lúc anh ta còn thanh niên, ra làm thầy giáo "tổng", tức là giáo viên có bằng tiểu học Pháp Việt, mà thuở ấy ta gọi là bằng sơ học, anh ấy chỉ lãnh có 20 đồng bạc lương thôi. Thế mà ngày cuối tháng, anh ta lãnh tiền xong, không hiểu làm gì với số tiền đó, đành gởi mẹ để về sau mua ruộng vậy.

Thuở ấy ta không đọc sách báo, không mặc bi-da-ma không sắm ra-dô trẳng-dít-to, không sắm bút máy, ta chỉ mặc âu phục may bằng "toan" trắng 4 đồng một bộ, chỉ đi giày bố 1 đồng rưỡi 1 đôi, không đi Sài gòn mỗi tuần để xem xi nê (anh ấy làm việc ở một tỉnh gần Sài gòn).

Ta đã thế, mà đàn bà ta, vợ các thầy cũng chỉ mỗi cô sắm ba bốn chiếc áo dài là cùng, mặc tới rách mới sắm cái khác, mà áo lâu rách lắm bởi may bằng lụa Trung Hoa, lụa nầy dệt bằng tơ tằm, bốn năm chưa rách một chiếc.

Họ không uốn tóc mỗi tháng, không làm tóc mỗi tuần, không son phấn, nước hoa, tóm lại họ không mắc tiền quá sức như phụ nữ ngày nay.

Hồng đi làm tức là sẽ đỡ cho quỹ gia đình của họ không biết bao nhiêu.

Đức ăn nói hoạt bát, rất giỏi nịnh đầm, chớ không lờ khờ như Thảo mấy năm trước. Thảo nhận xét như vậy nhưng đồng thời, chàng cũng hơi hơi thất vọng mà thấy con cá ấy không hề bị tiếng sét ái tình như chàng, lúc chàng mới thấy mặt Cúc hồi đầu.

Không, giỏi trấn tĩnh tới đâu, con ngươi cũng không giấu được trọn vẹn xúc động của họ.

Tuy nhiên rồi Thảo tự an ủi rằng tình yêu có thể đến lần lần, chớ không phải mối tình nào cũng bắt buộc do một tiếng sét ban đầu mà ra.

Đức hỏi Hồng:

- Cô Hồng biết con Diệp chớ ? Nó cũng làm chung một ngân hàng với cô ?

- Có phải chị Diệp hay mặc đồ đầm ấy không ?

- Chính nó đó.

- Em biết. Chị ấy đánh máy. Vì có tới hai Diệp nên em phải hỏi như vậy.

- Nó là em cô cậu của tôi.

- Vậy à ?

Thảo rất mừng trước chi tiết nầy. Thế là Đức sẽ có đầu dây mối nhợ để mà họ hỏi về hạnh kiểm của Hồng. Đó là một lợi thế rất cần cho con trai tìm vợ, lắm cậu ưng ý một cô nào đó lắm, nhưng không hề bước tới, chỉ vì các cậu bí về đời tư của các cô quá, khó lòng mà dò xét được như ở tỉnh hay ở thôn quê !

Trong một thành phố lớn như Saigon, mỗi gia đình là một cái hộp riêng, lắm khi gái nhà bên nầy có chửa hoang mà nhà bên kia cũng không hề hay biết gì bết. Mỗi người sống với thế giới của họ nhiều hơn là sống với chòm xóm, thành thử muốn biết rõ họ, chỉ cỏ cách là len vào giới của họ thôi.

Bữa ăn không vui lắm vì có một người khách lạ, nhưng cũng không buồn tẻ vì ai cũng biết nói chuyện cả.

Thảo không được phấn khởi nhiều nhưng chàng vẫn cho là tạm được, nhứt là sau bữa ăn, họ ra cả ngoài trước để ăn tráng miệng và uống nước, Cúc phải rút vào buồng săn sóc con, Đức chỉ còn nói chuyện với Hồng thôi, và xem ra hai người không có "đối lập" với nhau lần nào về vấn đề gì cả.

Cốt là làm thế nào cho Đức trở lại, cho hắn có dịp để mà trở lại một cách tự nhiên.

Thế nên Thảo hỏi:

- Anh Đức có thích chơi cờ tướng không ?

- Cũng thích, nhưng tôi thấp lắm.

- Tôi cũng vậy. Tối tối anh giải trí bằng cách nào.

- Cũng tùy.

- Đêm nào buồn lắm thì anh cứ tới chơi, đánh với tôi vài ván. Tôi thì luôn luôn nằm nhà ban đêm.

- Sao vậy, bị chị Thảo bỏ tù à ?

Cả nhà cười rộ lên.

- Không, tôi hết muốn đi. Rồi anh cũng thế. Khi người ta lập gia đình là người ta chán đi rồi.

- Còn như chưa chán ?

- Chưa chán thì người ta ở vậy. Tuy nhiên nếu vì bổn phận bắt buộc phải cưới vợ hoặc vì bị tiếng sét nào, người ta cưới vợ thì người ta cũng chán đi chơi vì niềm vui do đời sống gia đình tạo nên, cũng không kém niềm vui với bạn hữu bên ngoài.

Sau bữa ăn đầy tháng ấy, Thảo đợi non một tháng mà không thấy tâm dạng của Đức đâu cả. Có gặp nhau ở công sở, họ nói chuyện công việc rồi thôi, Thảo không nói gì: sợ nài nỉ quá, Đức nó ngỡ Hồng có chửa hoang nên gia đình cuống lên chăng ?

Đúng hăm bốn ngày, sau bữa cơm không bao giờ được "tái bản", Thảo tới tìm Đức một đêm kia, tại nhà hắn.

Đức sửa soạn ra đi, thấy khách, hơi khó chịu, nhưng vẫn đó tiếp Thảo rất lịch sự.

- Có chuyện gì cần lắm không, chủ nhà hỏi.

- Không, tôi buồn quá, đi thăm anh vậy chớ không có mục đích gì hết.

- Buồn thì đi chơi với tôi.

- Cũng được, nhưng sẽ làm mất vui anh không ?

- Tôi cũng buồn muốn chết, đi bậy vậy thôi chớ không có hẹn với thằng nào cả.

- Vậy thì đi.

Hai người bạn không thân nầy đi bộ, vì kẻ hướng đạo còn chưa biết đi đâu. Họ ra khỏi nhà Đức ở đường Nguyễn thiện Thuật, nói chuyện cà kê dê ngỗng rất lâu, tới chừng Đức sực nhớ lại vị trí thì thấy họ vừa tới một hẻm đường Phan đình Phùng, ngõ hẻm tư, nhưng rộng, hai xe tránh nhau được, có đèn đường và được tráng nhựa.

- À, hay là ta ghé nhà chị Khánh chơi, Đức đề nghị.

- Chị Khánh nào ?

- Một thiếu phụ ly dị chồng. Hay lắm, để rồi anh sẽ biết.

Chị Khánh nầy quả hay thật, đúng như Đức đã khen trước. Chị không đẹp mà cũng không còn trẻ nữa, dễ thường đã trên ba mươi rồi, với lại bốn đứa con trên tay.

Nhưng buồn đến đâu, tới đây nửa tiếng đồng hồ kẻ sầu muộn nhứt đời cũng trở nên lạc quan.

Chị Khánh chỉ thấy toàn những khía cạnh tốt đẹp của cuộc đời và những điểm buồn cười trong mọi tấn thảm kịch.

Có lẽ Đức đã quen thưởng thức duyên khôi hài của chị Khánh quá, rồi đâm ngấy hay sao không rõ mà ngồi mới được bốn mươi phút, Thảo nghe đâu chừng mười lăm phút thôi, hắn đã đòi đi.

Hắn kéo chàng vào một quán giải khát bình dân, sau khi ra khỏi hẻm, kêu hai chai xá xị con nai rồi hỏi:

- Anh thấy thế nào ?

- Chị ấy hay lắm.

- Vậy mà số phận hẩm hiu lắm đó. Chị ấy ly dị với chồng cách đây năm năm, trước luật gia đình của bà cố…

- Chồng chị ấy có vợ bé à ?

- Không. Anh Khươug là một tham sự ở bộ Cải cách điền địa, người rất đứng đắn, một người chồng, một người cha gương mẫu. Mãi đến bây giờ anh ấy cũng chưa lấy vợ khác.

- Nhưng sao lại...Chị ấy không được đứng đắn ?

- Cũng không. Chị ấy là người nết hạnh lắm.

- Thế thì chỉ trời mà hiểu.

- Để tôi kể hết anh nghe. Chị ấy làm thơ ký cho một hãng tư. Hồi mới lấy nhau, anh Khương không cho ý kiến gì cả về việc đi làm của chị Khánh. Chừng có đứa con đầu lòng rồi và khi đứa bé được hai tuổi, anh ấy mới bắt đầu bực.

Số là đôi khi ảnh đi làm về sớm, bắt gặp kẻ ăn người ở bỏ phế công việc nhà và nhứt là họ bỏ bê đứa bé, nó lết xuống nhà bếp nó bóc cứt gà nó ăn mà không đứa nào trông thấy cả.

Anh Khương đặt thẳng vấn đề với chị Khánh là gia đình không thể thiếu một người trong hai người mà sức khỏe và giáo dục của con cái xong xại được.

Chị Khánh cũng nhận là thế, nhưng cứ phớt đi, mỗi lần anh Khánh khuyên chị nên xin thôi. Thế là vợ chồng bắt đầu lục đục từ thuở đó.

Chị Khánh tánh không cương quyết, không quyết định gì được, mà người ta quyết định giùm chị, chị không dám theo. Với lại chị tiếc cái chỗ làm. Đàn bà ta ngày nay cũng như đàn bà Âu Châu, họ thích độc lập về tài chánh.

Thế mà sự sống chung của họ cũng kéo dài được ba lần sanh nở của chị Khánh nữa. Tuy nhiên cái hố chia rẽ vợ chồng mỗi ngày mỗi bị đào sâu thêm, không vì sự bất đồng ý kiến mà vì sự im lặng cố lì của chị Khánh mỗi lần anh Khương đặt vấn đề.

Không có gì chọc tức đối phương hay cho bằng thái độ câm lặng của ta, thế nên ngày kia thì giông tố nổi lên.

- Cũng tội nghiệp.

- Tội nghiệp ai ?

- Thì tội nghiệp chị ấy chớ còn tội nghiệp ai nữa.

- Sao lại tội nghiệp chị ấy ? Anh Khương bị "ốp" lương để chị ấy nuôi bốn đứa con thì chị ấy có mất gì đâu ?

- Mất hạnh phúc gia đình.

- Là tại chị ấy ngoan cố.

- Anh chống lại phụ nữ chức nghiệp à ?

- Đâu có. Đàn bà cứ đi làm, nếu lương họ đủ thuê vú chuyên môn, vừa tận tâm, vừa biết vệ sinh là gì, vi trùng là gì. Bằng không thì thôi. Chắc anh không thấy chớ tôi thì chứng kiến rất thường cảnh người ở săn sóc trẻ con.

Anh biết không, chiều lại, sóng gió đùng đùng mà hễ chúng nó thấy đồng hồ chỉ năm giờ rưỡi là chúng nó bắt trẻ ra đứng cạnh hồ nước rồi lấy gáo múc nước xối ào ào trên đầu trẻ con, mặc trẻ con la khóc vì ngộp thở, chúng nó chỉ xối cho đủ mười gáo để coi cho có vẻ sạch rồi chúng nó mặc quần áo vào cho trẻ con, không buồn lau nữa, thế là khi về chúng nó trình diện "em đã được tắm rửa rồi, cậu mợ à !"

Thế nên tôi cũng quan niệm như anh Khương là trong gia đình phải có một người, người đó là người chồng cũng được, miễn là con cái được săn sóc châu đáo.

- Nhưng nếu một trong hai người mà làm không đủ ăn.

- Thì đừng lập gia đình.

Thảo không còn ngạc nhiên nữa vì Đức không trở lại. Lương hắn bằng lương tham sự, nhưng hắn có nhiều nhu cầu quá, chưa chắc Hồng chịu bỏ sở làm, mà Hồng có bỏ, hắn cũng sợ không đủ xài.

Chàng không thấy Đức nói bậy. Quả hai vợ chồng đi làm cả thì con cái phải chịu cảnh săn sóc lôi thôi. Ta mà còn cha mẹ cũng không hơn gì, bởi các cụ thương cháu lắm, nhưng các cụ lại không tin vệ sinh, thành thử giao trẻ cho các cụ, chúng nó vẫn chết oan như thường.
Đây là một vấn đề mới lạ, không một khía cạnh mới lạ của tình trạng độc thân của nhiều thanh niên mà Thảo mới được nghe trình bày lần đầu. Mấy mươi năm nay người ta say mê tranh đấu cho phụ nữ chức nghiệp mà quên mất vấn đề nuôi, duỡng và nhất là giáo dục con cái.
Lạc hậu coi thế mà cũng có chỗ hay của nó.
Thảo chia tay với Đức hơi buồn buồn, nhưng không đến nỗi tuyệt vọng. Chàng không mát tay, chỉ có thế thôi.
Con cá tuy ngon, không chài được cũng tiếc nhưng vẫn còn nhiều con cá khác, ngon không kém.Vả lại nghĩ đến cái nỗi khó khăn về săn sóc và giáo dục trẻ con, có lẽ chỉ có Đức thôi, các anh con trai khác thì vấn đề sẽ khác, nhưng không vấn đề nào bể đầu như vấn đề của Đức.
Năm 1969
Bình Nguyên Lộc
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...