Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

Con Rồng Việt Nam - Phần 3

Con Rồng Việt Nam - Phần 3

PHẦN THỨ BA
Hồ Chí Minh và phe nhóm
Tôi rời Huế bằng đường bộ ngày 4 tháng 9. Tôi ra đi, rất thản nhiên, không quan ngại nỗi gì. Có thể là do tính tò mò thúc đẩy, vì tôi muốn gặp những người đã tôi đã trao quyền, nhất là lãnh tụ của họ, nhân vật Hồ Chí Minh bí mật kia.
Trong suốt dọc đường, tin tôi đi qua lan rộng rất nhanh. Khi tôi qua các đám đông, đàn ông đàn bà đến gần xe, trố mắt nhìn. Đây là lần đầu tiên, họ có thể được tự do nhìn kỹ vị Hoàng đế của họ. Đến ngày ấy, trước kia, nghi lễ đã ấn định rằng khi quỳ trước nhà vua mà ngửng đầu lên nhìn là phạm tội nặng, Bây giờ, các đồng bào chất phác đó quả đã không ngờ. Hoàng đế vận âu phục đang ở giữa họ, cũng y như mọi người thường dân khác… Chắc chắn đã có một sự gì thay đổi.
Khi qua Quảng Trị, dân chúng đông nghẹt y như đang có biểu tình, ai cũng có thiện cảm. Theo như hình thức, quả nhiên chưa bao giờ tôi lại được thân dân như vậy. Nhưng tại Đông Hà, phải nghỉ lại ban chiều, tôi mới thấy rõ một sự xáo trộn do sự thoái vị của tôi, đồng thời uy tín của Hoàng đế vẫn còn dâng cao. Tại đây, dân chúng muốn được nhìn tôi càng đông đặc. Các nhân viên trong Uy ban Nhân dân muốn tỏ ra có quyền hành khi đón tiếp công dân Vĩnh Thụy, một cách rất dân chủ. Thế nhưng, bị truyền nhiễm bởi đại chúng, họ trở về với thói quen và nghi thức cổ xưa. Họ ý thức được, và cố gắng để sửa chữa lại cho đúng phong cách của họ hiện tại, nhưng cuối cùng không biết phải làm thế nào, nên rất lúng túng. Tự thâm tâm, tôi thú vị nhìn thái độ của họ, và tìm cách giúp đỡ họ khỏi bỡ ngỡ, nên đã tới gần họ rất niềm nở, nhưng càng niềm nỡ bao nhiêu, họ càng kính cẩn bấy nhiêu. Quả nhiên, cách mạng cũng không phải là điều dễ đạt…
Suốt ngày hôm sau, cũng y như vậy. Tôi đến Thanh Hóa vào buổi chiều, ở đó đã có những cuộc tập họp đông đảo để hoan hô nồng nhiệt.
Đến lúc gần vào bàn ăn, thì được tin Hoàng thân Lào Souphanouvong, anh em họ của nhà vua ở Luang Prabang vừa tới, vì ông cũng là thượng khách của Uỷ ban Nhân dân tỉnh. Cho tới nay, chúng tôi chưa từng gặp nhau, nay mới được quen nhau.
Cùng tuổi với tôi, ông đã ở lâu bên Pháp từng là học sinh xuất sắc của trường trung học Saint Louis ở Paris, và sau là sinh viên trường quốc gia Kỹ thuật Cầu cống.
Về nước năm 1937, ông không được dự vào triều chính, do lý lịch giòng dõi của mẫu thân ông. Chính phủ Pháp bổ nhiệm ông làm kỹ sư công chính bản xứ, và bổ vào Tourane, tại đây ông lấy một bà vợ Việt Nam, gốc Bắc kỳ, Là người hoạt động, ông ta rất bất mãn với địa vị tầm thường đó, nên nuôi hờn với người Pháp, mà ông muốn tống ra khỏi nước Lào. Trong thời tạm chiếm của Nhật, ông đã tổ chức được ở tỉnh Khamouane, một phong trào kháng chiến, với một quân đội du kích y như của Giáp, để dần dà tạo cho ông một thế chính trị cho công cụ giải phóng. Vì vậy, khi người anh cùng cha khác mẹ là Hoàng thân Phatsarath lập chính phủ lâm thời đấu tranh cho độc lập và thống nhất của nước Lào, ông được trao cho làm Tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang Lào Issara (Lào Tự do).
Với vị trí ấy, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội.
Lời mời này chứng tỏ phía Việt Minh, muốn nắm quyền chỉ huy tối thượng đối với tất cả phong trào giải phóng Đông Dương, và tôi không lấy gì làm ngạc nhiên nữa.
Chúng tôi liền quyết định cùng đi với nhau, và ngày 6 tháng 9, chúng tôi đến Hà Nội vào lúc ban trưa.
Tôi được đưa đến ngụ ở phố Gambetta, tại nhà viên cưu Đốc Lý Hà Nội. Sau khi tắm rửa xong, tôi đến trụ sở của Uy ban Nhân dân đóng ở dinh Thông sứ Bắc kỳ để dự tiệc tiếp tân chào mừng tôi.
Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ tiếp đón tôi, và lúc vào bàn tiệc, đã giới thiệu tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tới. Ông này niềm nở bắt tay tôi, ngỏ ý cám ơn là đã thoái vị, và nói tiếp:
- Chúng ta sẽ làm việc chung với nhau, cho nền độc lập quốc gia.
Bữa ăn rất giản dị. Thoạt tiên, Võ Nguyên Giáp nói mấy câu chúc tụng, rồi câu chuyện chỉ loanh quanh trong vấn đề xã giao. Tiệc khá ngắn ngủi, và ai nấy rút lui.
Hôm sau, lúc 11 giờ, tôi gặp Hồ Chí Minh, diện đối diện tay đôi. Thái độ của ông khác hẳn lần trước. Ông tỏ ra hết sức lễ độ, dùng tiếng Ngài để gọi tôi. Tiếng này coi như tương đương với tiếng xưng hô Hoàng thượng. Chỉ còn có nước là xin lỗi bất đắc dĩ lắm, mới phải cầm quyền.
- Thưa Ngài, tôi không liên quan gì đến bức điện mà Ngài nhận được ở Huế, yêu cầu thoái vị. Riêng cá nhân tôi, như đã từng nói hôm 22 tháng 8, tôi vẫn nghĩ vẫn để Ngài lãnh đạo quốc gia, và đặt tôi vào địa vị Thủ tướng, lãnh đạo chính phủ mà thôi. Tôi không đồng ý với những người đã ép Ngài đến chỗ thoái ngôi.
Tôi cũng trả lời bằng một giọng trang trọng, và gọi ông ta bằng Cụ, và trấn an ông rằng tôi chỉ muốn được là một công dân thường, để xây dựng nước Việt Nam mới, thống nhất và độc lập.
Ông ta thoải mái ra mặt, và vẽ ra một hình ảnh rất lạc quan về tình thế hiện tại, hầu như quên mất thái độ đè dặt vừa qua:
- Tất cả mộng ước của chúng ta sẽ đạt được hết. Chẳng những thống nhất và độc lập mà tất cả các nước Đồng minh sẽ công khai chấp nhận, mà nhờ sự chấm dứt chiến tranh lẫn sự thất trận của Nhật, hoàn cảnh sẽ giúp ta mở đầu một thể chế đồng nhất, ai cũng như ai để có một tương lai rực rỡ. Toàn dân sẽ hăng say hưởng ứng, đồng lao cộng tác giữ nền độc lập này. Độc lập là hai tiếng thiêng liêng ở đầu óc toàn dân, sẽ là nguồn thiêng tác động. Nay thì cái gì cũng có thể đạt được.
Mặc chiếc vareuse hở cổ, đi dép Bình Trị Thiên, râu cằm lơ thơ, Hồ Chí Minh giống như một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ vịnh phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa.
Trong câu chuyện dài hơn một giờ ấy, ông kết luận:
- Thưa Ngài, xin Ngài đừng quên rằng Ngài là bậc quốc phu, vì vậy tôi xin Ngài vui lòng tham dự buổi hội họp của Hội đồng Bộ trưởng, và nhận chức Tối cao Cố vấn cho chính phủ.
Lời mời ấy thật bất ngờ đối với tôi. Thật sự, tôi không nghĩ đến hình thức này mà tôi sẽ tham dự để kiến tạo nước Việt Nam mới, nhưng quả thật, ông cụ này đã thành thực hăng say với nền độc lập và thống nhất của đất nước. Tôi nhận lời.
Hội đồng Bộ trưởng họp mỗi tuần một lần. Kể từ ngày 8 tháng 9, tôi dự là lần đầu tiên.
Chúng tôi cùng ngồi xung quanh một chiếc bàn, từng là bàn ăn thết tôi hôm trước. Giáp giới thiệu với tôi từng người. Ông ta là người độc nhất mà tôi biết cùng với Trần Huy Liệu là người tôi đã trao cho ấn tín ở Huế, nay là bộ trưởng bộ Thông tin. Còn những người khác, tôi chưa quen biết: Chu Văn Tấn, bộ trưởng bộ Quốc phòng; Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Tài chánh; Nguyễn Mạnh Hà, bộ trưởng bộ Kinh tế; Vũ Trọng Khanh, bộ trưông bộ Tư pháp; Dương Đức Hiền, bộ trưởng bộ Thanh niên; Đào Trọng Kim, bộ trưởng bộ Công chính; Nguyễn Văn Tố, bộ trưởng bộ Xã hội; Phạm Ngọc Thạch, bộ trưởng bộ Y tế; Lê Văn Hiến, bộ trưởng bộ Lao động; Vũ Đình Hòe, bộ trưởng bộ Giáo dục; Cù Huy Cận, và Nguyễn Văn Xuân, bộ trưởng không bộ nào.
Ngoại trừ Phạm Văn Đồng tuổi hơi cao ít nhiều, tất cả đều ở cùng một thế hệ. Giữa họ với nhau, tỏa ra một bầu thân ái, trẻ trung y như một nhóm bạn hữu đã từng quen thân với nhau.
Thực tế, Hội đồng này gồm ba loại.
Loại “tiền phong” bạn chiến đấu kỳ cựu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Trần Huy Liệu. Họ đã sống lâu năm ở Nga và Trung Hoa, thường là lén lút và không lạ các nhà tù. Rất ác cảm với Pháp.
Loại thứ hai gồm những người trước gọi là Giáo sư trường Thăng Long, một trường trung học tư thục, mà ban giáo sư tạo thành lớp trí thức cấp tiến về chính trị. Trong số này có Võ Nguyên Giáp. Bọn này có cả đảng viên đảng Cộng sản, được hoạt động công khai dưới thời Chính phủ Bình dân ở Pháp, như Phạm Văn Đồng. Đa số đều xuất thân từ nền văn hóa Pháp, nên không mấy xuất ngoại. Kém hăng say hơn bọn trên, họ đều là ngừời thông minh, có tinh thần cởi mở. Rất chống đối chế độ thức dân, họ hăng say với nền độc lập, nhưng không muốn đoạn tuyệt với Pháp.
Cuối cùng, coi như bọn “liên kết” như Dương Đức Hiền, cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Hà Nội, hay Nguyễn Mạnh Hà, từng chỉ huy Đoàn Thanh niên Thiện chí Công giáo. Đa số đều là những kỹ thuật gia, tốt nghiệp từ các đại học đường của Pháp. Họ thường bất mãn vì không có nhiệm sứ xứng đáng với văn bằng và khả năng của họ.

Hồ Chí Minh chủ tọa, ngồi ở đầu một phía bàn, và mời tôi ngồi đối diện với ông ta ở đầu phía kia.
Buổi họp ban đầu có tôi dự ấy, dành để bàn về thiết lập một Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này sẽ được phổ thông đầu phiếu do tất cả công dân Việt Nam, nam cũng như nữ, tuổi từ 18 trở lên. Sẽ có đại biểu của các sắc dân ít người, để bình đẳng với người Kinh.
Trong buổi họp này cũng đề cập đến vấn dề chống nạn mù chữ; mở một phong trào Bình dân Học vụ, dạy về ban tối, để bắt buộc mọi người chưa biết đọc biết viết, phải đi học chữ quốc ngữ.
Về mặt xã hội, đặt ra định lệ, làm ngày tám giờ, định lương tối thiểu, và đặt trách nhiệm đối với giới chủ nhân và tư bản.
Cuối cùng, Hội đồng biểu quyết bãi bỏ thuế thân, gọi là “thuế nô lệ” vì trong lãnh vực kinh tế, có liên can đến một quyết định quan trọng đã được biểu quyết về đầu tháng, tuyên bố cho phép tự do vận chuyển lúa gạo.
Từ đó, trong thời gian tôi ở Hà Nội, từ 9 đến 1 giờ, tôi vẫn dự các Hội đồng Bộ trưởng hàng tuần.
Rất nhanh chóng, tôi nhận xét được như sau:
Dù họ là cựu tù nhân, giáo sư hay kỹ thuật gia, các người cầm đầu chính phủ này chẳng phải là nhân vật chính trị. Đã đành rằng, họ không đến nỗi chân chẳng đến đất, cật chẳng đến trời, để bị mê lú với quyền binh, họ cũng chẳng biết làm cách nào để đặt một kế hoạch cho tương lai đất nước. Họ đành gặp đâu hay đấy. Các cuộc hội họp của chính phủ, giống y như các cuộc hội họp của các sự bàn cãi của tòa thị chính nhiều hơn là sự nghiên cứu đường hướng dự trù về quốc gia đại sự, hay đối phó với những biến chuyển quốc tế. Những người đó cũng biết rằng ảnh hưởng của họ chưa thể vượt khỏi vòng đai các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, v.v… Tại chỗ, họ tìm cách để giữ thể điện, để giữ trị an, hầu tỏ quyền năng của họ cho phái đoàn quốc tế đang bắt đầu sang Hà Nội. Than ôi, ở vùng thôn dã, đây quả là một cuộc cách mạng đổ máu và tàn bạo, một sự nhiễu loạn, rối bời.
Những biện pháp đầu tiên đã đưa đến những kết quả tai hại. Mở cửa cấp tốc các nhà tù, các trại giam, hầu nhặt vài cán bộ chính trị, đã thả ra khắp phố phường và hầu như khắp nước, cả một đông cặn bã sẵn sàng làm bậy. Việc thủ tiêu toàn bộ Hội đồng Kỳ mục để thay vào bằng Uy ban Nhân dân, đã đưa đến sự tan rã nền cai trị tự nhiên sẵn có của xã hội. Việc bãi bỏ ngành quan lại, văn và võ, cũng để thay vào bằng một hệ thống cán bộ tương tự, làm tan nát các cơ cấu quốc gia.
Trong hoàn cảnh bất lực thực hiện một nền cách mạng xã hội chân chính, mà toàn dân đều mong muốn, chính phủ đã bở hơi tai để đi tìm một sự đáp ứng tạm thời. Họ chỉ tìm thấy một sự mị dân rẻ tiền và sự động viên cuồng tín, hầu cứu vãn nền độc lập. Vội vàng, họ cố gắng đặt cơ cấu mới. Thế là đưa ra bao nhiêu hội, như hội Phụ lão Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc hay đặt ra các đội Tự vệ thành, Dân quân Tự vệ xã, Thanh niên Quyết tử…
Hơn nữa, tôi lại nhận thấy các Bộ trưởng thân cận với Hồ Chí Minh, bọn người thuộc lớp đồng chí lâu năm của ông ta, giữ độc quyền về tất cả guồng máy điều khiển nhân dân. Thí dụ như Trần Huy Liệu, đã nắm trong tay toàn bộ phương tiện tuyên truyền, còn cấu tạo ra một lợi khí nặng nề để củng cố tân chính quyền. Đầu tháng chín, Việt Minh chiếm đài phát thanh Bạch Mai, và trưng thu tất cả các phương tiện về báo chí, ấn loát; từng kho giấy, các nhà in. Nhờ cuộc tảo thanh này, Việt Minh đã có phương tiện để tung ra ở Hà Nội, hai tờ nhật báo, là tờ Cứu Quốc và tờ Độc Lập, và ở Huế, tờ Quyết Chiến.
Dần dà tôi khám phá ra được bộ mặt thật của Hồ Chí Minh.
Một hôm, trong một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, do sự sôi nổi tranh luận giữa vị Chủ tịch và một bộ trưởng. Vũ Trọng Khanh, bộ trưởng bộ Tư pháp, ngồi ở bên phải tôi, đã chìa ra cho tôi xem một cuốn sách nhỏ, và nói:
- Thưa Ngài, hẳn Ngài đang ngạc nhiên về những phản ứng của Chủ tịch của chúng ta. Xin Ngài đọc đây thì hiểu.
Tôi liền đọc đầu đề cuốn sách Đời của Nguyễn Ái Quốc, do tác giả là A. Marty, chánh mật thám của phủ Toàn quyền Pháp cũ.
- Trong ấy nói gì, tôi hỏi.
Khanh nhìn tôi, và ra dấu bằng đầu để chỉ cho biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đi ra, vấ sát chỗ chúng tôi ngồi. Hồ Chí Minh nhìn cuốn sách tôi đang cầm, hơi nhún vai, và mỉm cười một cách tinh quái, không nói một lời.
Về đến nơi ở, tôi liền đọc tiểu sử của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc (người yêu nước) là một trong hàng chục tên, mà ông ta mang trong suốt cuộc đời sôi nổi, trước khi trở thành Hồ Chí Minh (Hồ lãnh tụ sáng suốt). Sanh năm 1890 ở làng Kim Liên, trong vùng thuộc phía Bắc Trung kỳ, gọi là Thanh Nghệ Tĩnh, vốn là ổ của cách mạng, sự học của ông ta khá sơ sài: bốn năm học Quốc Học Huế, ông ta đã thâu nhận được một nền học vấn hỗn hợp Pháp và Nho học. Sau đó học thêm ba năm trường Kỹ nghệ Thực hành ở Sài Gòn. Với hành trang yếu ớt ấy, năm 1911 ông ta lăn mình vào cuộc chinh phục thế giới. Làm phụ bếp cho một chiếe tàu biển của hãng Chargeurs Réunis, tàu này thường đỗ ở các bến thuộc Á châu, Phi châu, Âu châu và Mỹ châu. Sau thế chiến thứ nhất, ông sống ở Luân Đôn, rồi sang Paris. Tại đây, người ta bắt đầu nhắc đến tên ông. Năm 1919, ông đệ trình một luận án theo tinh thần 14 điểm, trong hội nghị ở Versailles, được Tổng thống Wilson chấp nhận, đòi hỏi cho nước Việt Nam được mọi quyền tự do cần thiết.
Thế rồi, trong thời gian ấy, xuất hiện trong tờ báo Le Paria (Kẻ cùng khổ) những bài tố cáo tội ác của chính sách thực dân, ở Phi châu cũng như ở Á châu. Ông ta là tác giả tờ truyền đơn nẩy lửa, nhan đề “Bản án chính sách thuộc địa Pháp”.
Năm 1920, ông gia nhập đảng Cộng sản, đảng này có đề cập đến vấn đề dân tộc thuộc địa. Thế là ông được cử sang Moscou. Sau một thời gian huấn luyện ngắn, ông trở thành cán bộ của đảng Cộng sản Quốc tế (Komintem), cơ quan được Lenin trao phó gieo rắc chủ nghĩa cộng sản, và tạo nhân cách mạng ở mọi nơi trên khắp thế giới do Moscou điều khiển. Được cử sang Viễn Đông, và vùng Đông Nam Á châu, từ năm 1924, ông hoạt động ở Quảng Châu (Canton), làm phụ tá cho Borodine, như là Cố vấn trong tòa Đại sứ Sô viết cạnh Quốc dân đảng Trung Hoa, và là iãnh tụ, sáng lập viên trường Võ bị Hoàng Phố (Whampoa).
Năm 1930, ông lập ra đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó được gọi là đảng Lao động, của giới thợ thuyền. Cuốn sách của A. Marty đến đây là hết. về sau Giáp lại kể cho tôi biết tiếp những hoạt động của Hồ Chí Minh. Về nước vào năm 1941, ông ta ẩn náu ở tỉnh Cao Bằng. Tại đây, ngày 19 tháng 5, ông lập ra Mặt trận Việt Minh, tức là Mặt trận Cách mạng Đồng minh, chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam, và tạo nên căn cứ du kích sau này. Sau đó, ông lại sang Trung Hoa, và bị bắt giam, vừa do người Trung Hoa, vừa do người Anh. Vì ốm nặng nên được tha, đúng vào lúc mà quân đội Nhật đang bị thua, và nhờ cơ quan đặc biệt của Mỹ, để trở về Việt Nam và nhận được quyền hành.
Trong thời gian ở Moscou, Hồ Chí Minh đã ăn ở với một phụ nữ người Nga, và có một đứa con gái, nhưng không bao giờ ông ta nhắc đến thời gian này của đời ông. Rất hiểm khí các đồng chí của ông nhắc đến quá khứ của họ.
Bởi vậy, tôi chưa bao giờ nghe thấy ông Giáp nói đến người vợ ông bị giết, trong một cuộc biểu tình của các sinh viên. Sở dĩ tôi biết được, là do Tạ Quang Bửu, một cộng sự viên cũ của tôi nói. Ông này cũng tiết lộ rằng, Giáp rất đau đớn về cái tang này, và để tâm thù hận người Pháp sâu đậm. Tuy nhiên, để tỏ ra có tâm hồn cao thượng, Giáp làm ra bộ không nuôi một tí hận thu nào đối với Pháp cả.
Sự giao dịch của tôi đối với các “đồng nghiệp” rất là tốt đẹp. Họ cho tôi thuộc cánh của họ. Nếu tôi có gọi họ là “anh,” họ vẫn kêu tôi bằng “Ngài”. Đó là do Hồ Chí Minh đã đòi hỏi họ như vậy. Tôi thường có thân tình giao hảo với Vũ Trọng Khanh, vốn không thuộc đảng Cộng sản, và như vậy hơi lẻ loi riêng biệt. Chúng tôi thường gặp nhau vào ban chiều, và thường nói chuyện với nhau khá lâu. Là người có nhiều thiện chí, ông ta chỉ quan tâm đến hạnh phúc của nhân dân. Những tin từ các tỉnh gửi về làm cho ông buồn rầu không ít. Có thể là tình thế rất đáng lo ngại. Các tỉnh ở miền Bắc Việt Nam bị cô lập gần như hoàn toàn, làm cho mọi sự tiếp tế khó khăn, nên nạn đói hoành hành mạnh mẽ. Bởi vậy, không có gì phải ngạc nhiên, nếu dân chúng có phản ứng ghê gớm. Nhiều cuộc bắt bớ, nhiều chuyện mất tích, và ám sát gần như ở khắp nơi.
Tôi được tin Phạm Quỳnh, cựu thủ tướng của tôi đã bị bắt, rồi đến Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm cùng bị bắt với người con trai cả là Ngô Đình Huấn vốn là bí thư của Đại sứ Yokoyama. Tôi đến gặp Hồ Chí Minh để xin can thiệp. Tôi bảo ông ta:
- Tất cả mọi người tìm cách để phụ giúp Cụ, trong đó có tôi là người đầu tiên. Xin Cụ hãy chứng tỏ sự khoan dung đại độ. Khi mới bắt đầu lên nắm chính quyền, Cụ đã thả hết các tù phạm, tất cả các người bị giam cầm. Xin Cụ hãy ra lệnh tha hết các tù nhân bị bắt kể từ ngày ấy đến nay.
- Thưa Ngài, thật khó có thể làm được, vì dân chúng sẽ không thể hiểu nổi.
- Nếu vậy, ít nhất xin Cụ cho thả các cựu cộng sự viên của tôi. Họ không có trách nhiệm gì.
- Vâng, tôi sẽ cố gắng lo việc ấy…
Thật sự, hai người đầu tiên (Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi) đều đã bị giết, mà ông Hồ vẫn không biết một tí gì.
Ít lâu sau, Phan Anh, cựu thượng thư của tôi đến gặp tôi. Ông ta đã tiếp xúc với Léon Pignon. Ông này yêu cầu tôi can thiệp để thả Pierre Messmer. Vị thứ hai này được cử làm thượng sứ Pháp ở Bắc kỳ, nhảy dù xuống bị rơi vào một chiến khu Việt Minh, nên bị bắt cùng với hai đồng hành của ông ta.
Ngay chiều hôm ấy, tôi có nói với Hồ Chí Minh, nhưng không đạt kết quả nào. Sau tôi mới rõ Messmer may mắn đã vượt thoát được, rất khó khăn.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng chinh phục tín nhiệm của tôi. Trong những cuộc gặp gỡ thường xuyên, chỉ có tôi với ông ta, ông vẫn giữ thái độ chỉnh tề, vừa niềm nở vừa lễ độ, gần như nhiễm tình phụ tử. Phải chăng ông ta đã đóng trò, hay là một tác phong quan cách cổ xưa còn tiềm tàng nơi huyết quản? Dù sao nữa, tinh thần hữu nghị của chúng tôi rất hoàn hảo, và trong bất cứ cuộc nói chuyện nào, cũng không bao giờ đá động đến những lý thuyết chính trị này nọ. Ông ta thường mời tôi đi cùng với ông trong mọi cuộc thương thuyết, hay vận động. Chúng tôi đến thăm Jean Sainteny được cử thay Pierre Messmer, ở địa vị thượng sứ Pháp ở Bắc kỳ. Đây là lần độc nhất mà tôi gặp ông này. Sainteny đã viết rằng, sau đó ông ta có yêu cầu được gặp tôi nhiều lần, mà không có trả lời. Các sự yêu cầu này chẳng bao giờ đến tay tôi cả.
Chúng tôi cũng từng đi với nhau đến thăm người Mỹ, và chúng tôi đã gặp một đại diện của họ: Nhân vật đặc biệt Lansdale và Thiếu tá Patti, và về sau cả Tướng Gallagher nữa. Trong những dịp này, tôi mới biết là Hồ Chí Minh nói được tiếng Anh một cách khá sõi.
Trong những dịp tiếp xúc này, tôi thường nhường bước ông trước mặt quan khách. Mỗi lần như thế, tôi đều nói: “Thưa Cụ Chủ tịch, tôi xin mời Cụ, tôi xin theo sau Cụ, vì tôi chỉ là một viên cố vấn mà thôi...”
Ngược lại, nếu chúng tôi cùng đến một cuộc hội họp hay trước đám đông nào, nếu có ai đưa chúng tôi đi, thì bao giờ ông cũng để tôi đi về bên tay phải của ông ta. Tôi liền hiểu được ý nghĩa của sự sắp đặt này. Chính phủ dù có hiện hành, nhưng chưa được Đồng minh công nhận. Sự có mặt của tôi, giúp cho ông ta một hình thức chính thức dùng làm chiếc bình phong gánh đỡ mà thôi.

Đầu tiên, cuộc sống có vẻ bình thản ở Hà Nội. Các nhà báo đặt tiệc ca ngời tôi đã hy sinh ngai vàng vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng tình hình kinh tế bị suy thoái thê thảm. Hàng nghìn người, đàn ông, đàn bà và trẻ con, chết như rạ vì đói, trong khi hàng nghìn tấn gạo mốc thối ra ở Sài Gòn. Vụ lúa tháng mười mất mùa, vì hạn hán, sạu vụ lụt ghê gớm.

Bãi bỏ thuế má, xáo trộn hành chánh làm trống rỗng ngân khố quốc gia. Chính phủ dùng biện pháp lắt léo để cứu vãn tình thế, kêu gọi nhân dân tự động đóng góp, và thi đua ái quốc. Các bộ trưởng và nhân viên cao cấp phải làm gương trước để làm việc không lương. Tôi cũng phải góp phần như họ. Chúng tôi chỉ được ở, còn ăn thì nhờ vào thiện chí của những nhà giàu.

Tuần lễ Vàng được mở ra để mua súng đạn cho binh sĩ của quân đội nhân dân anh hùng. Lần khác, thì là miếng cơm cứu đói, mọi người nhịn ăn một bữa trong tuần lễ để cứu trợ người nghèo. Mặc dù chiến dịch ấy được phổ biến rầm rộ, kết quả cũng không lấy gì làm dồi dào.
Trong một cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng, Phạm Văn Đồng báo cáo, trong ngân quỹ chỉ còn đúng có 3 đồng 25 xu. Trong sự hỗn độn tột cùng, người ta quyết định đánh thuế gián thâu về các hàng ăn. Đó là các hàng hóa cuối cùng còn được đem ra để bán. Thế là mỗi người kể ra, hỗn độn, các sản phẩm có thể đánh thuế:
- Con gà đi…
-. Con vịt đi…
- Con trâu đi…
Không thể nhịn được sự kê khai điên rồ, lố bịch đó, tôi nói tiếp:
- Các anh còn quên con chó…
Người cười đầu tiên là Hồ Chí Minh. Sự riễu cợt của tôi xẹp xuống, vì đa số bộ trưởng đều người miền Trung, nên không ai hiểu nổi câu “miếng dồi chó” của miền Bắc.
Vài hôm sau, Hồ Chí Minh nói tất cả sự khó khăn hiện tại với tôi, và phàn nàn là không được bộ trưởng nào giúp đỡ đắc lực trong công cuộc điều khiển quốc gia. Tôi bảo:
- Sao Cụ không kêu gọi những đồng bào đã từng du học ở Pháp? Họ đã có kinh nghiệm điều khiển quốc gia rất quí báu.
- Tôi không thể tin họ được Ông Hồ đáp. Họ thân Pháp quá độ, và cũng không thành thạo mấy về nội tình ở nước ta, do đã xa cách lâu ngày.
- Cụ nhầm đấy, tôi phản đối. Trong bọn chúng ta đây, chúng ta chống Pháp hơn ai hết. Như Cụ chẳng hạn, Cụ đã sống lâu năm ở ngoại quốc. Vậy mà Cụ rất thấu triệt tâm hồn Việt Nam.
Sự tham gia vào các cuộc bàn cãi quốc gia này, làm tôi nhớ lại các kinh nghiệm cũ của tôi. Tôi lại thấy trở lại cùng một vấn đề, đã từng thảo luận với Ngô Đình Diệm, với Phạm Quỳnh, với Trần Trọng Kim. Thật là những người cao khiết, đầy tinh thần trách nhiệm, rất tài ba, sung mãn, nhiều ý kiến, nhưng chỉ khổ nỗi không có phương tiện để thực hiện quyền hành. Thế mà, các đồng nghiệp của tôi bây giờ, lại chỉ là những nhà lý thuyết suông. Họ ngây thơ đối với tâm lý con người, đến độ không tưởng. Tuy sấp sỉ tuổi của đa số trong bọn họ, kinh nghiệm của tôi về lãnh vực này còn cao lớn gấp bội. Mười lăm năm cầm quyền, đứng đầu chính phủ, tôi đã hiểu thấu bao mưu vọng, ý đồ, bao thủ đoạn khốn nạn đến độ rằng, tôi đi guốc được vào ruột gan của con người, đã hành động vì mục đích gì, chẳng mấy khi sai.
Sự xâm nhập của quân đội Trung Hoa
Tất cả đều suy thoái, khi quân Trung Hoa, theo nghị quyết của hội nghị Potsdam vào tiếp thu quân đội Nhật và giữ an ninh, ở bắc vĩ tuyến 16.
Toán quân đầu tiên đến Hà Nội ngày 9 tháng 9 năm 1945. Rất nhanh chóng, đây là một sự tràn ngập rõ rệt. Tổng số có ba quân đoàn, khoảng 80.000 người, không kể bọn tùy viên phụ thuộc, và gia đình họ, đổ xô cả đến Bắc kỳ, như từng đoàn châu chấu. Họ đến để che chở nền độc lập của Việt Nam, nên với tư cách là kẻ chiến thắng. Đối với đoàn quân gồm hầu hết là người Quảng Đông và Vân Nam, Bắc kỳ là một xứ thần tiên. Họ cảm thấy như trở lại thời chinh phạt cổ xưa đến từ phương Bắc, nên có những tác phong khốn kiếp của bọn quí khách loại ấy.
Mới đến ngày 18 tháng 9, Tướng Lư Hán, Tổng tư lệnh, chiếm ngay ngôi dinh thự đường Puginier, và đuổi phái đoàn Sainteny không một hai gì hết. Họ yêu cầu tôi tiếp họ. Hình thức ấy có nghĩa rằng, họ không cần biết đến Hồ Chí Minh là ai. Tôi trả lời rằng, để tôi xin sang gặp họ để chào mừng, còn sự thăm hỏi chính thức thì thuộc phần của Cụ Chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh, mà tôi báo cho biết ngay. Thế là đặt ra một thỏa thuận này: Hồ Chí Minh tiếp Lư Hán trước mặt tôi, trong một tòa biệt thự mới trưng dụng. Như vậy, sự thăm hỏi không còn mang tính chất chính thức nữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng lòng vì ông ta muốn xoa vuốt người Trung Hoa. Báo chí loan đi một thông báo như sau:
“Quân đội Trung Hoa sang đây chỉ để giải giới quân đội Nhật, không có ý đồ xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta nên tiếp đón họ nồng hậu để tỏ cảm tình giữa hai dân tộc Việt và Hoa”.
Chẳng ai lạ gì nhau cả. Một mặt, người Trung Hoa thừa biết thành tích chính trị cũ của ông Hồ, nên không muốn ở phía sau lưng họ có một chính thể cộng sản. Họ vừa phải đương đầu sinh tử ở phía Bắc đối với Mao Trạch Đông. Mặt khác, việc tước khí giới quân đội Nhật chỉ là mối quan tâm phụ, họ chú trọng đầu tiên vào vấn đề kinh tế. Và nếu ai đã biết cái tài vơ vét của các tướng Tàu, thì mới hiểu dễ dàng những tai hại ở Việt Nam trong sự tạm bợ chiếm đóng này. Có dụng ý muốn bám chặt, các ông bạn quí Trung Hoa muốn dùng hình thức gây rối loạn ở Hà Nội và trên khắp đất nước. Đầu tiên, họ không đếm xỉa đến những nhân vật dân sự. Vì vậy, ta thường thấy những tù binh quân sự Nhật, giả làm thường dân, đi khơi khơi ngoài đường phố. Nhiều chuyên gia Nhật, lấy ra từ các trại giam, để sung vào các đội ngũ Tàu, vì thiếu kỹ thuật gia.
Quan trọng hơn nữa, họ can thiệp vào nội tình chính trị Việt Nam. Kéo theo quân đội Tàu, từng đoàn đảng viên quốc gia, bị cách mạng ruồng bỏ, chạy theo quân Quốc dân đảng Tàu. Đây là các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đồng minh hội muốn lợi dựng thời cơ để chiếm thế thượng phong. Được bọn tướng lãnh và cơ quan tình báo Tàu do Tiêu Văn lãnh đạo nâng đỡ các nhà cách mạng quốc gia vội vàng tước khí giới và thay thế các Uy ban Nhân dân thôn xã, do Hồ Chí Minh đặt ra. Tại các thành phố, hai phe Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng thường đụng độ nhau. Được Tiêu Văn nâng đỡ, một nhóm biểu tình đã đến nơi ở của tôi để yêu cầu tôi ra chấp chính. Nhiều đám tàn quân Nhật, không chịu khuất phục là đã bị thua trận, tự nguyện đặt dưới quyền tôi, để lập đường hướng khác đấu tranh cho nền độc lập quốc gia.
Trước tất cả những đề nghị đó, tôi giữ thản nhiên, để từ chối.
Nhưng hoàn cảnh mỗi ngày một khó khăn cho Hồ Chí Minh. Tự cảm thấy bất an, ông ta thay đổi chỗ ở hàng đêm, để ngủ ở những ngôi nhà trưng dụng rải rác khắp trong thành phố. Ông ta vẫn đặt tín nhiệm hoàn toàn nơi tôi, và chỉ riêng một mình tôi biết được chỗ ngủ của ông ta. Ông tỏ ra lo ngại rất nhiều vào sự an ninh của tôi, hơn chính cả tôi nữa.
Một buổi tối, trong khi chúng tôi đang trò chuyện đến một giờ khuya, có sự lộn xộn ở cạnh ngôi nhà này. Đặc biệt, tôi cho người tài xế và chiếc xe của tôi đi trước, rồi tôi bảo ông Hồ:
- Khuya rồi, xin lỗi Cụ, tôi xin về nhà. Tôi sẽ tìm một chiếc xe tay để đi.
- Ấy chớ, rất nguy hiểm cho Ngài. Để tôi báo cho quân đội Tàu đem xe đến đây đón Ngài, them xe hộ tống nữa cho chắc.
Đối với sức khỏe cũng như sự giao du của tôi cũng vậy. Một lần tôi bị cảm không đến được, chính ông đã đến thăm và xem cách thức chữa trị cho tôi ra sao. Biết rằng tôi thường hay đến ăn cơm tối ở nhà một số bạn hữu, ông khuyên tôi một cách rất ưu ái, nên cẩn thận về vấn đề nam nữ, mà tôi có thể bị vướng mắc.
Thấy dân chúng kính yêu tôi, ông cảm thấy rằng săn sóc chiều đãi tôi có lợi cho ông nhiều lắm. Ông cho rằng ở Việt Nám, sự cầm quyền bao giờ cũng cần phải được tấn phong. Cách mạng Việt Minh cũng không dám phá bỏ khái niệm này, vì nó đã ăn sâu sát rễ vào đầu óc dân chúng từ lâu. Sự có mặt của tôi bên cạnh Chủ tịch là một hình thức tấn phong vĩnh viễn trước mắt nhân dân Việt Nam. Người Tàu, người Mỹ cũng không dám coi thường mối tương quan này được.
Tôi cũng không lạ gì thái độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôi. Hơn nữa, tôi cũng nhận thấy rằng, khi người ta càng săn sóc mình, càng thân cận với mình bao nhiêu, người ta càng ngờ vực bấy nhiêu. Nhưng tôi cũng không thấy ló ra sự cứng rắn, tàn bạo nào của ông, rồi sẽ được thực hiện sau này. Bởi vậy, tôi vẫn yên chí đóng vai trò của mình.
Đây, người ông đây. Người ấy rất lo lắng cho nền độc lập của quốc gia. Những quan điểm của ông ta giống của tôi như hệt. Vậy thì cần gì biết đến quá khứ, đến phương tiện, bởi thế tôi rất thành thực phù trợ ông ta.
Hơn nữa, tôi củng nhận xét tất cả. Tôi thích thái độ của ông hơn thái độ của các lãnh tụ quốc gia, thật sự là, bù nhìn trong tay bọn Tàu. Giữa sự xáo trộn ấy, Hồ Chí Minh vẫn giữ được bình tĩnh.
Một buổi chiều, ông ta bảo tôi:
- Thưa Ngài, tôi rất thất vọng về thái độ của Đồng Minh. Tôi nghĩ rằng mình được ưu đãi hơn, nếu gặp người Nga. Thế nhưng, họ lại chẳng làm gì được cho mình. Họ cũng chẳng phái đến đây một quan sát viên nào cả. Họ dửng dưng hoàn toàn trước vấn đề Đông Dương. Còn đối với người Anh, thái độ thật đáng ngờ. Họ thiên về Pháp rõ rệt, và đang giúp bọn này loại trừ tất cả các chiến hữu đang chiến đấu giành độc lập cho chúng ta. Người Mỹ thì Ngài đã nhận thấy như tôi rồi. Khi tôi từ Tàu trở về, đại diện của họ đã hứa hẹn, dặn tôi bao điều đảm bảo. Để chiều lòng họ, tôi đã đặt vào câu đầu của bản tuyên ngôn độc lập, nguyên văn lời tuyên ngôn độc lập của họ, do Jefferson viết năm 1776. Nhưng chúng ta đã gặt hái được gì? Chẳng được tí gì. Điều quan tâm duy nhất của họ là được thay thế người Pháp, vì thế họ đâm găng nhau với người Tàu. Gallagher chấp nhận làm trung gian giữa ta với Bộ Ngoại giao của họ, và sẵn sàng đưa giúp chúng ta những điều yêu sách. Nhưng ông ta lại cần kinh tế ta phải lệ thuộc vào kinh tế Mỹ. Đó là bọn tư bản, tư bản từ trong máu mà ra. Đối với họ, chỉ có đầu tư, đô-la là đáng kể… Một bữa, chúng tôi nhận thấy có một phái đoàn điều tra tội ác chiến tranh của họ, sang đây để thăm tù binh Nhật, lại chú trọng vào các trang bị cửa bể Hải Phòng nhiều hơn là tội ác của bọn An bộ đội. Còn bọn Tàu thì… Nước Tàu là cái bụng kinh niên. Bọn Quốc Dân Đảng là bọn lưu manh, bọn ăn cắp. Các ông tướng Tàu phù là lũ cú vọ, kền kền… Chẳng bao giờ thỏa mãn lòng tham không đáy. Chẳng có gì làm cho chúng ta tin tưởng được. Chỉ có một tên trong bọn chúng là có thể dùng được. Đó là Tiêu Văn, nó làm tiền mình khiếp quá. Nhưng tôi tin rằng nó cũng hiểu mình đang khao khát cái gì, và sự toa rập của nó có thể giúp ích cho mình được. Thế nhưng tôi vẫn chưa tin hẳn, bởi biết đâu nó không trở mặt lúc nào. Khi mới sang đây, nó đóng vai ủng hộ Việt Nam Quốc Dân Đảng hết mình, bây giờ thì nó lại mỉm cười cầu tài với mình. Vậy ngày mai, thì nó đi với ai đây?
Vậy thì suy đi tính lại, chỉ còn Pháp…
Tôi không khỏi ngạc nhiên về luận lý này, nhưng quả đã hợp lý. Trong lập trường thực tế, Hồ Chí Minh còn tỏ ra có khả năng biết dung hòa.
Ở Việt Nam, người Công giáo dù ở vị trí thiểu số, vẫn tạo nên một lực lượng đáng kể. Hai triệu tín đồ đã quây quần chắc nịch bên các linh mục của họ. Họ tạo nên một yếu tố quan trọng, có trật tự và đoàn kết vững chãi. Tuy ông Hồ có lập trường vô thần nhiều khi đến độ bài giáo, ông ta cũng không dám lơ là với khôi này, để hãm bớt sự hăng say quá đà của cách mạng. Đầu tiên, Hồ Chí Minh tìm sự hỗ trợ nơi họ. Không phải là không có dụng ý mà ông ta ẩn định ngày lễ Độc lập vào ngày 2 tháng 9 là ngày kỷ niệm các Thánh tử vì đạo của bên Công giáo Việt Nam. Cũng do sự quan tâm ấy, ông ta đã bổ nhiệm một người có ảnh hưởng lớn lao của phe này là Nguyễn Mạnh Hà làm bộ trưởng. Ông này từng du học ở Pháp về, hoạt động về mặt xã hội ở Pháp, và lấy con gái của Georges Maranne, một nghị sĩ Cộng sản ở hạt Seine. Nguyễn Mạnh Hà về nước, vẫn hoạt động trong khối Công giáo và trở thành một lãnh tụ của đoàn thanh niên Công giáo. Ông ta kính trọng và khâm phục Hồ Chí Minh thật sự. Ông ta tin rằng Hồ Chí Minh là người duy nhất có thể dẫn dắt thanh niên Việt Nam. Rất trung kiên, ông ta đi theo phò ông Hồ, và kéo theo sau cả đoàn thanh niên đầy nhiệt huyết.
Ngày 23 tháng 9, ông ta đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tập trung hàng ngàn thanh niên Công giáo để biểu dương tinh thần ái quốc, và lòng tin tưởng đối với ông Hồ. Trong buổi lễ, Hồ Chí Minh tuyên bố:

- Người Công giáo Việt Nam phải chứng tỏ lòng ái quốc nhiệt thành của họ. Chẳng những đó là quyền yêu nước của họ, mà còn là bổn phận, họ phải đứng hàng đầu trong cuộc chiến, giữ trung thành với Đức Thiên Chúa và Tổ quốc của mình.

Sau cuộc biểụ tình này, Giám mục Nguyễn Bá Tòng đã gửỉ một kiên nghị lên Giáo hoàng Pie XII, để xin Ngài làm phép thánh của Công giáo và sự ấn tứ của Tòa Thánh cho nền độc lập của Việt Nam.

Vài hôm sau, chính phủ ra nghị quyết trừng phạt nặng nề tất cả kẻ nào xâm phạm đến các nơi thờ phượng, nhà thờ và chùa chiền.
Chính trong bầu không khí ấy, Giáo hội sửa soạn lễ tấn phong cử Đức Cha Lê Hữu Từ, vừa được làm Giám mục địa phận Phát Diệm. Ông Hồ Chí Minh đã yêu cầu tôi thay mặt ông ta đến dự lễ này. Đúng vậy, vì ngày 28 tháng 9, ông ta bận tiếp Tướng Lư Hán, để chính thức nhận lễ đầu hàng của quân đội Nhật.
Nhưng tối hôm trước tôi đi Phát Diệm, Hồ Chí Minh căn dặn:
- Thưa Ngài, người Pháp đang tiêu hao lực lượng kháng chiến ở Nam bộ. Họ sẽ không chậm trễ dời bỏ nơi đây. Cần nhất phải cố tránh chớ nên để họ nắm được. Ngài là người độc nhất tượng trưng cho nước Việt Nam độc lập. Xin Ngài lợi dụng cơ hội này thay dổi ở Phát Diệm để đi xa khỏi Hà Nội. Xin Ngài nên đứng ngoài bất cứ hoạt động công khai nào ở đây. Ngài nên tạm ngụ ở nơi nào biệt lập một thời gian, mà sự an ninh cho Ngài được bảo đảm dễ dàng. Khi nào mà sự trở về của Ngài có thể được vững chắc và không còn bị đe dọa nữa, tôi sẽ báo sau. Trong khi chờ đợi, tôi xin báo tin thường xuyên để Ngài biết.
- Thế nhưng còn Cụ?
- Ồ, đối với tôi ư, đường lối đã được vạch rồi, ông ta chỉ nói có vậy.
Ngày hôm sau, tôi đi Phát Diệm, cùng với Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ. Giám mục Lê Hữu Từ, thuộc dòng tu khổ hạnh, là một nhân vật lạ lùng. Người nhỏ bé, rất khẳng khiu, bận chiếc áo nhà tu mầu trắng, ông có đôi mắt rất sắc, trên đôi gò má cao. Trong tu viện, ông được tiếng là một nhà trị an có tài, và đầy thủ đoạn trong mọi sự hòa giải hay điều đình. Buổi lễ do Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám mục Hà Nội, chủ tọa, có Giám mục Bùi Chu, đã được tổ chức trước công chúng, họ tỏ ra rất tôn kính đối với tôi. Giáp đi với tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên hết sức. Nhưng chúng tôi quả đã sống những giờ phút lạ lùng… Ông ta chả được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ, yêu cầu vị tân Giám mục này, làm Cố vấn tôn giáo của chính phủ đấy ư? Nhiệm vụ mà Cha Lê Hữu Từ sốt sắng nhận lời…
Khi buổi lễ chấm dứt, Giáp trở về Hà Nội, còn tôi thì ra Sầm Sơn, là nơi nghỉ mát của tỉnh Thanh Hóa. Đường đi ra bể, tôi đến một làng tôi đã từng đến, trong cuộc đu lịch lần trước tiếc thay chiếc cầu bị gẫy, tôi không thể đi tiếp được. Tôi cho vời viên chủ tịch xã. Ông ta tới, và cúi gập mình xuống để chào mừng tôi, không dám ngửng đầu lên. Đó là sự tôn kính tuyệt vời. Đối với ông ta, tôi vẫn là Thiện Tử. “Ông hãy bảo tu sửa lại chiếc cầu này ngay, để tôi có thể đi qua”. Tôi bảo ông ta thế. Chỉ một giờ sau, cái vũng nước này được lấp ngay. Tất cả làng đã ở đây, tụ tập để xem công tác lấp đất này. Đến lúc tôi chuẩn bị bước lên xe, viên chủ tịch đến gần tôi, cúi xuống thưa:
- Thưa Ngài, xin Ngài cho biết chúng tôi có được phép hoan hô “Hồ Chí Minh muôn năm” không ạ?
Hơi ngạc nhiên, tôi mỉm cười đồng ý cho phép. Thế là cả làng, tụ tập quanh viên xã ủy đã chào từ biệt tôi bằng tiếng hô vang dậy: “Hồ Chí Minh muôn năm”.
Đến chiều, tôi đến Sầm Sơn. Tôi được Uỷ ban Nhân dân đã nhận được chỉ thị tiếp đón.
Một bãi bể rất đẹp, có cát mịn, nằm bên một rừng phi lao, với những nhà lầu, biệt thự, ở một làng đánh cá, tạo nên một nơi nghỉ mát thật hữu tình, trước kia rất đông du khách về mùa hè, nay thì vắng tanh vắng ngắt.
Khi tôi đến, viên chủ tịch địa phương hỏi tôi thích ngụ ở nhà nào. Tôi đã nghe nói đến chiếc biệt thự của ông Beau, chủ cửa hàng trang sức nổi tiếng ở Hà Nội. Tôi đến đây cư ngụ. Căn biệt thự gần như bỏ hoang. Chỉ có vài người đánh cá ở trong đó, họ trở thành bạn thiết với tôi.
Người tài xế cũng ở chung nhà, và Uỷ ban sở tại đã đặt nửa tiểu đội dân quân luân phiên bảo vệ. Uỷ ban phụ trách cung cấp gạo, còn đồ ăn, thì tôi phải lo liệu lấy. Công việc hàng đầu của tôi là đi câu cá hàng ngày.
Ngược với điều hứa của Hồ Chí Minh, chẳng có tin nào từ Hà Nội đến với tôi cả. Tôi có cảm tưởng ngay rằng, không phải mình bị giam tù, bởi còn được tự do đi lại, và sử dụng thời gian muốn gì tùy ý, nhưng là kẻ bị đi đầy. Trừ mấy người đánh cá mà tôi quen biết, bọn dân quân gác tôi thì chẳng biết gì, và viên bí thư của Uỷ ban Nhân dân thường đến thăm tôi, tôi chẳng còn biết đến ai nữa.
Đến cuối tháng 11, tôi bị sốt rét, mất nhiều ngày. Đây là lần bị bệnh nặng nhất mà tôi mắc phải. Tôi chưa khỏi hẳn, thì viên Chủ tịch Uỷ ban đến báo cho tôi biết chỉ thị mới mà ông ta nhận được về tôi:
- Thưa Ngài, chính phủ vừa báo cho biết là sợ rằng quân Pháp sắp đổ bộ, nên xin Ngài tạm lánh vào phía trong, sâu hơn nữa.
Ngay ngày hôm ấy, tôi vào huyện Thọ Xuân ở sâu vào phía trong, trên con đường từ Thanh Hóa đi Hòa Bình. Tôi được đưa đến ở trong ngôi công đường đổ nát của huyện cũ. Viên chủ tịch địa phương săn sóc tôi từng ly từng tí. Và ở đây, tôi cũng nhận thấy, mặc dù ảnh hưởng của cách mạng, dĩ vãng của hoàng triều vẫn còn sâu đậm. Uỷ ban sở tại này do úy ban tỉnh Thanh Hóa chỉ định. Những con người mộc mạc này đã cổ gắng chứng tỏ cho vị cố vẩn tối cao của chính phủ, sự triệt để tuân theo lệnh của tân chính quyền; vì vậy, họ thi đua đi họp, dự mít tinh, hay biểu dương lực lượng mỗi khi có dịp, để tha hồ mà kêu gào đả đảo bọn “thực dân, phong kiến”. Đồng thời, họ cũng không nén đi lòng tôn quân của họ đối với Cựu hoàng, và lấy làm hãnh diện được tiếp rước tôi, và được tôi cư ngụ trong địa hạt của họ… Chắc chắn họ đã được lệnh của Hà Nội, để vừa giữ được niềm tin vào cách mạng, vừa giữ được phong tục cố hữu ngàn xưa.
Bởi thế, sáng nào họ cũng mang thức ăn sáng đến cho tôi với một niềm trịnh trọng vô biên. Đám rước mang thức ăn được một người vác hương dẫn đầu, y như trong một buổi tế ở triều đình. Thật cũng khá khôi hài.
Tôi được biết cách Thọ Xuân vài quãng, có ngôi đền thờ nhà Lê. Tôi ngỏ ý muốn đến thăm. Viên chủ tịch xin tự đi trước dẫn đường, và khi tôi đến gần ngôi đền, ông ta đứng ngoài xa, để tôi vào một mình, theo đúng như lễ nghi của triều đình vậy.
Sau đó ba tuần lễ, có lẽ sự đe dọa đổ bộ của quân Pháp đã hết, nên người ta lại đưa tôi về Sầm Sơn.
Trong thời gian tôi vắng mặt ít lâu này, một đội dân quân tự vệ khác được thành lập trong huyện. Theo truyền thống quí hóa, họ đã vơ vét sạch cả. Tôi thấy căn nhà của ông Beau bị lục soát hoàn toàn trống rỗng. Thấy tin tôi về, họ vội bỏ chạy thật nhanh. Bọn tự vệ là bọn thiếu niên, tưởng rằng vào tự vệ là được tự do thỏa mãn mọi thú tính của chúng. Chúng thường tránh thoát mọi sự kiểm soát của chính phủ, trong thực tế. Việc tuyển mộ chúng quá sơ sài, vì vậy, chúng thường chơi những trò tinh nghịch ngu xuẩn, ngông cuồng của tuổi trẻ khi chúng không được ai coi sóc.
Một sự làm tôi ngạe nhiên không ít. Giữ an ninh cho tôi bây giờ là bốn chị nữ dân quân do Uỷ ban cử đến. Hôm đầu tiên, họ vận đồng phục, nhưng kể từ hôm sau, họ vận quần áo phụ nữ bó sát vào người. Trong suốt thời gian tôi ở Sầm Sơn, họ thay nhau làm việc nội trợ và nấu bếp. Nhưng tôi vẫn phải lo phần đồ ăn, nên phải đi câu cá hàng ngày.
Tôi không có tin tức gì từ Hà Nội, nên cảm thấy thời gian quá lâu. Tôi phàn nàn với viên trưởng ty Công an tỉnh Thanh Hóa, khi đến thăm. Nhân dịp này, tôi cũng báo cho ông ta biết những sự thiệt hại do bọn tự vệ gây nên. Ông ta liền trao cho tôi một khẩu tiểu liên để tự vệ nếu cần.
Vài hôm sau, vào giữa tháng chạp tây, tôi được một viên đại biểu của Uỷ ban tỉnh Thanh Hóa tới thăm. Nhân danh chính phủ, ông ta hỏi tôi có chấp nhận ứng cử dân biểu tỉnh Thanh Hóa. Tôi đồng ý về nguyên tắc, nhưng nhắc lại sự mong muốn của tôi là được trở về Hà Nội. Ông ta mới đặt câu hỏi cho tôi như sau:
- Thưa Ngài, nếu Ngài ứng cử thì Ngài sẽ đứng dưới đoàn thể nào ạ?
- Đảng Cộng sản, tôi đáp có nhiễm chút khôi hài trước câu nói ấy.
- Thưa Ngài, không thể được ạ, ông ta trả lời tôi một cách rất trang nghiêm. Đảng Cộng sản đã tự giải tán do quyết định của Uỷ ban Trung ương ngày 11 tháng 11 rồi.
Tôi chẳng biết gì, cũng như mù mịt tất cả mọi vấn đề ở Hà Nội từ ngày tôi lánh đi.
- Nếu thế, thì hãy đề tên tôi là ứng cử viên cộng hòa hạng nặng.
Trong ba tuần lễ liên tiếp, tôi không nghe thấy ai nói gì cả. Đùng một cái, ngày 7 tháng giêng, một phái đoàn đến báo cho tôi biết, cuộc bầu cử vào Quốc hội đã hoàn tất hôm trước, và tôi trúng cử đại biểu tình Thanh Hóa với 92% số thăm. Họ mừng tôi đã đắc cử. Nên nhớ rằng, tôi cũng chẳng biết ngày giờ bầu, và tôi cũng chẳng đi bầu…
Nhưng nay thì tôi đã đắc cử rồi. Tôi yêu cầu họ báo cho Uỷ ban tỉnh Thanh Hóa là tôi muốn chóng được về Hà Nội, và dặn họ đổ xăng đầy đủ cho chiếc xe của tôi.
Tám hôm sau, tất cả đều được thuận buồm xuôi gió, và tôi rời bỏ Sầm Sơn, với sự thơ thới hân hoan.
Đại biểu Quốc hội
Chiều hôm ấy, tôi trở về căn nhà cũ, ở đường Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo) ở Hà Nội.
Từ ngày tôi ra đi, đã ba tháng qua, tình thế đã sáng sủa hơn trước nhiều. Dưới áp lực của hoàn cảnh - trong tháng 11, có nhiều sự kiện rắc rối, làm chết nhiều người - và dưới sự thỏa thuận của hai bên, do Tiêu Văn giật giây, ngày 19 tháng 11 Hồ Chí Minh bắt buộc phải nhượng bộ. Trước hết, là sự giải tán đảng Cộng sản, để chứng tỏ rằng các đảng viên đảng Cộng sản, vẫn tự coi là đảng tiền phong của dân tộc, đã sẵn sàng hy sinh tất cả cho nền độc lập quốc gia.
Mỗi ngày một lo ngại trước những hành động chính trị của người Tàu, Hồ Chí Minh chỉ còn muốn làm sao rũ được sự có mặt của họ ở miền Bắc Việt Nam. Như vậy, ông ta như sẵn sàng gần người Pháp, như đã từng bóng gió nói cho tôi biết trước kia. Ông ta được biết, có bọn đặc vụ Pháp đã đến Trùng Khánh vào đầu tháng giêng, để điều đình thẳng với Tưởng Giới Thạch, sự thay thế quân Tàu bằng quân Pháp. Bởi vậy, đúng vào ngày bầu cử Quốc hội hôm 6 tháng giêng, ông ta đã ra một bản tuyên ngôn do báo chí Pháp nhắc lại đại để như sau:
“Chúng tôi không có hận thù gì nước Pháp và nhân dân Pháp. Chúng tôi rất khâm phục họ, và chúng tôi không muốn cắt đứt sợi giây từng nối chặt hai dân tộc chúng ta…
Cũng phải nói thêm rằng, thành phố đầy nhóc người Tàu. Không thể đếm xuể số tướng Tàu, vì nhiều quá. Chiều nào cũng tổ chức tiệc tùng để thết đãi chúng. Nhân viên chính phủ đều đi dự. Và nhiều lần tôi nhận thấy, Chủ tịch đáng kính Hồ Chí Minh không phải rất thanh đạm như người ta thường nói. Ông ta sẵn sàng dự các trò gọi là kempe (thú uống rượu?) và đốt thuốc lá Hồng Kông hết điếu này sang điếu khác.
Mặc dù sự cùng khổ của dân chúng, và có lẽ một phần vì sự khốn khổ ấy, nên thành phố đầy những chợ đen và buôn lậu. Một trong số này là việc đổi tiền Rồng xanh, Rồng vàng. 1
Một nghị định của viên Cao ủy Pháp ở Sài Gòn, ký vào tháng 11, ấn định sự thâu hồi tất cả giấy bạc 500 đồng, phát hành vào thời kỳ chiếm đóng của quân đội Nhật. Những người Tàu vớ được cả đống giấy này trong thời gian sang miền Bắc, được ưu đãi là nghị định của Sài Gòn không áp dụng cho miền Bắc kể từ vĩ tuyến 16 trở đi. Giấy vứt đi ở miền Nam, đem ra Bắc vẫn đổi y nguyên cùng giá, không thay đổi. Khi ở Sầm Sơn trở về, tôi hoàn toàn hết sạch. Đồng ý là tôi được nuôi ăn và ở, nhưng tôi chẳng có một đồng lương nào. Tôi liền viết thư cho mẫu thân tôi, và khi hồi âm tôi nhận được hai tờ giấy 500 đồng kỳ diệu ấy.
Thế là tôi lúng túng với số 1.000 đồng này, chẳng biết dùng để làm gì. Tôi liền đưa cả cho Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Tài chánh, và bảo ông ta đổi cho. Hôm sau, người ta mang đến cho tôi một phong bì do Đồng trao lại. Phong bì này đựng 2.000 đồng bằng giấy nhỏ. Tôi nghĩ rằng có thể đã có sự nhầm lẫn. Tôi liền đến bộ Tài chánh để báo, và trả lại chỗ thừa cho Phạm Văn Đồng.
Ông ta đáp:
- Không có lầm đâu, thưa Ngài.
- Sao thế. Tôi đưa cho ông 1.000 đồng mà ông lại đổi cho tôi thành 2000. Nếu như vậy mà ông điều khiển tài chính quốc gia, thì nước Việt Nam làm sao mà giữ quân bình kinh tế được?
- Thưa Ngài, tôi biết rõ tình hình tài chính của Ngài. Ông ta vẫn khăng khăng đáp lại, nhưng đây là một ngoại lệ mà tôi muốn biếu Ngài.

Tôi không rõ cái ngoại lệ này có xảy ra luôn luôn hay không?

Ít lâu sau ngày tôi từ Thanh Hóa trở về, vào dịp Tết, ở Nhà Hát Lớn có cuộc hội họp quan trọng, gần như là một đại nghị. Hồ Chí Minh mời tôi tham dự bên cạnh ông ta. Tôi mới hiểu rằng, trong thời gian tôi vắng mặt, khá lâu, dân chúng đã thắc mắc lo ngại về số mạng của tôi, mà chính phủ thì không thể nói rõ ra được. Vậy tôi nên tham dự buổi biểu dương này. Chung quanh Nhà Hát Lớn, dân chúng đã chen chúc nhau đông đặc. Sau vài bài diễn văn, nhân viên chính phủ giải tán. Tôi bảo người em họ Tường, đi theo tôi:

- Hãy để dân chúng tận bớt đi đã, rồi hãy tìm xe đón.
Nhưng khi tất cả nhân viên chính phủ đã đi hết, dân chúng vẫn đợi, không chịu giải tán. Thì ra họ đợi tôi, họ muốn được nhìn thấy tôi. Khi tôi bước ra, thì đó là cả một sự vỡ bờ. Họ xô nhau tràn đến chỗ tôi, chìa con bé ra để tôi sờ mó, xoa đầu chúng. Mặc dầu đã thoái ngôi, mặc dầu xa vắng, mặc dầu cách mạng, bao giờ cũng vẫn là sự tôn kính của thần dân đối với bản thân của vị Thiên tử của họ.
Trong những ngày kế tiếp, tôi được biết rằng, sự biểu dương kia không được chính phủ hoan nghênh, và họ tự hỏi, sao lại để tôi ở Sầm Sơn lâu như vậy.
Một buổi chiều Hồ Chí Minh bảo tôi:
- Thưa Ngài, trong thời gian Ngài vắng mặt, chúng tôi đã nhân danh Ngài để gửi một thông điệp cho nước Pháp. Đây thưa Ngài bản thông điệp ấy.
Ông ta chìa ra một tờ giấy trên đó, tôi đọc:
“Thông điệp của Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế nước Việt Nam, gởi cho nước Pháp,
“Đầu tiên, tôi xin tỏ bày cùng chính phả Cộng hòa Pháp Quốc, và tôi trân trọng thông báo rằng, tại Việt Nam, đã thiết lập một nước dân chủ cộng hòa. Năm 1940, chính phủ thuộc địa Đông Dương đã trao hết nước tôi cho phát xít Nhật. Nhưng sau năm năm chiến đẩu dũng cảm với người Nhật, chúng tôi đã giành lại được nền độc lập của chúng tôi, kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1945.
“Để quyền lợi của tổ quốc lên trên ngai vàng của tổ tiên tôi, và muốn được làm công dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô lệ, tôi tự nguyện bằng quyền lực của mình, thoái vị ngày 25 tháng 8 vừa qua. Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đã tuyên bố sự hình thành và chấp chính vào ngày 26 tháng 8.
“Trước thực tế đó, nước Pháp lẽ ra cử đến nước cộng hòa trẻ tuổi của chúng tôi, những nhà ngoại giao bạn, lại sai những sĩ quan tình báo, có dụng ý rõ rệt là tái đặt trong nước tôi, nền bảo hộ áp bức cũ. Nhiều binh sĩ nhảy dù được thả xuống nhiều nơi trên đất nước tôi, và được lệnh tái chiếm lấy các cơ sở hành chính và các căn cứ quân sự.
“Chính phủ chúng tôi cực lực phản đổi sự khiêu khích đó. Ở vị trí cố vấn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi kêu gọi chính phủ Pháp nên ý thức trách nhiệm về sự có thể xảy ra chiến tranh giữa hai nước chúng ta.
“Tôi xin các nhà di dân cứ muốn bám lấy chủ nghĩa đế quốc lỗi thời, với tất cả thành thật, tôi muốn nói hết sự thật liên hệ đến dân tộc chúng tôi. Nền độc lập này và nền tự do này mà dân tộc này đã thu hồi lại được, nền độc lập mà họ đã phải trả với giá xương máu của họ, nền tự do mà họ đã đoạt lại được sau hai mươi năm tranh đấu không ngừng, dưới nền đô hộ của Pháp; Dân tộc tôi cương quyết bảo vệ nền độc lập và tự do ấy, bảo tồn nó, dù cho phải hy sinh đến đứa con cuối cùng của họ.
“Nhưng tin tưởng trở lại với tôi, khi tôi nghĩ đến dân chúng nước Pháp. Tôi biết dân tộc ấy, dân tộc vốn yêu chuộng tự do, luôn mong mỏi một nền hòa binh cho tất cả thế giới. Tôi đã sống trong suốt thời niên thiếu ở giữa lòng dân tộc cần cù, yêu chuộng độc lập và lẽ công bình ấy. Tôi tin rằng, lời kêu gọi của tôi đối với các người bạn của công bằng, hầu tiết kiệm cho hai nước chúng ta, những điều không may, không phải là vô ích, và lời kêu gọi ấy chẳng phải rơi vào chỗ vắng trong sa mạc.
“Tôi biết rằng, trong suốt tám mươi năm đặt nền đô hộ lên khắp nước tôi, rất nhiều nhà trí thức Pháp, theo tinh thần cao cả của nước Pháp, đã lên tiếng phản đối sự đàn áp vô nhân đạo mà chúng tôi là kẻ nạn nhân.
“Hỡi dân tộc Pháp, con dân của xứ sở tự do, giòng giõi của các bậc anh hùng liệt sĩ, của nền Cách mạng 1789, chúng tôi tin cậy nơi các bạn. Liệu các bạn có tha thứ cho bọn phát xít tà gian bôi đen lên trang sử oai hùng của nước bạn? Hãy đứng cả dậy, và hãy ngăn cản mộng tranh, bá đồ vương của họ. Nếu bạn có bè bạn, anh em, chồng ở trong hàng ngũ thực dân Pháp ở Viễn Đông, chỉ biết mơ tưởng đến chinh phục và đô hộ, hãy kêu gọi họ trở về.
“Hỡi dân chúng Pháp, quý bạn đã hiểu được ý nghĩa của mục đích mà Đồng minh theo đuổi. Quý bạn đã, trong một phần nào, góp phần thực hiện mục đích ấy. Xin quý bạn hãy làm sao để có một ngày nhớ lại trận chiến này, quý bạn có thể coi như là trận chiến để giải phóng cho khắp nhân loại.
“Dù xa cách nhau hàng nghìn cây số, tôi xin mời các bạn cùng tôi, chúng ta tay nắm tay, nhảy hòa bình với nhau để mừng cho nền hòa bình và tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta.
“Vĩnh Thụy.
“Ký tên: Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Bảo Đại, cố vấn tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. 
Tôi không hiểu được ai là người nhận bức thông điệp này, và bằng cách nào để thông điệp được gửi đi. Tôi mong rằng người nhận được bức thông điệp ấy đã hiểu được không khó khăn, đây chỉ là một văn thư ngụy tạo với tên tôi mà thôi. Dù sao nữa, họ sẽ không nhận được cách hành văn của tôi. Tất nhiên là loại thông điệp này thường thường vẫn được gởi tới các tổ chức “dân chủ” của các nước khác… Và tôi tin chắc rằng, tôi không phải là người thứ nhất và độc nhất bị đem ra để lợi dụng.
Vậy thì chính phủ Pháp quyết định cử ông Giáp đi thanh tra các tỉnh, với tư cách là bộ trưởng bộ Nội vụ. Ông ta phải đi đến tận biên giới miền Nam. Tôi đề nghị cùng đi vớì ông ta, nhưng có lẽ họ lo ngại sự hoan hô tôi ở mọi nơi, nên đề nghị trên không được chấp thuận. Giáp liền thưa với tôi rằng:
- Thưa Ngài, khi tôi về, tôi sẽ báo cáo với Ngài sau cũng được.
Một tuần sau, trong khi tôi đang ăn sáng, thì có người gọi cửa. Đó là Giáp, ông ta bảo tôi rằng: Tôi vừa mới đi các tỉnh về…
- Hãy ngồi xuống, ăn đi đã…
Ông ta có vẻ bực bội, cúi xuống ăn và không nhìn tôi. Tất nhiên, xưa nay ông Giáp vốn là người kín đáo, nhưng ngày hôm nay, mặt lại càng xịu xuống. Tôi để yên cho ông ta ăn, và không hỏi gì thêm. Khi ông ăn xong, tỏi hỏi:
- Thế nào?
- Cần phải thực tế, thưa Ngài. Ông ta trả lời nhưng đầu vẫn cúi xuống.
- Anh định nói gì?
- Tôi muốn nói là, cần phải chịu thằng Pháp vậy.
- Dù sao, thì cũng không đến nỗi lại trở lại thời đô hộ cũ, chắc thế?
- Có khi vẫn phải trở lại, nếu cần.
Trước câu trả lời lạ lùng đó, tôi kêu lên:
- Thật tôi không thể hiểu nổi các anh. Tôi nhận độc lập từ tay Nhật. Tôi thoái vị. Tôi rời khỏi quyền hành cho các anh, thế mà bây giờ, các anh lại đi thụt lùi…
- Làm cách nào bây giờ thưa Ngài? Ở miền Nam, bọn Tây đã phá guồng máy mà bọn tôi mất bao công quả để đặt ra. Nay chúng lại nắm lấy lại được hết. Chẳng bao lâu, chúng sẽ đổ bộ ra Bắc. Chúng ta làm cách nào để chống lại đây? Chúng ta có quân đội, nhưng không có đạn.
Được nhẹ nhõm vì lời thú thật đó, Giáp mới kể cho tôi nghe cuộc thanh tra của ông. Khi đến Vinh, có một sự kiện làm ông ta chú ý. Khi ông ta tới đây, nhân viên Ủy ban có hỏi thăm về tôi. Sau khi trấn an họ là tôi vẫn khỏe, và nói thêm rằng, ông ta là đại diện chẳng những của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là đại diện cả cho tối cao cố vấn chính phủ nữa. Thế là hôm sau, trong một cuộc lễ lạc, ông ta không khỏi ngạc nhiên thấy một người vác một chiếc lọng chạy theo sau để che đầu cho ông ta, Lọng che đầu vốn là một nghi trượng của quyền hành.
Tôi bảo:
- Chẳng có gì là lạ lùng cả. Vì anh nói anh là đại diện cả cho tôi, thì họ phải dùng nghi biểu của Thiên tử để đối với anh, thế thôi.
Mấy ngày sau, tôi thấy sự bối rối của Hồ Chí Minh và phe nhóm của họ. Tôi biết rằng, ông ta cùng với Giáp thường xuyên đến gặp Sainteny, để bàn về việc trở lại của quân Pháp, và đang điều đình để chia xẻ quyền hành giữa hai bên Pháp và Việt. Thật khác xa lúc ban đầu. Thế thì hai chữ “độc lập” sẽ đi đến đâu? Đối với một số người, hành động mới này có thể bị coi là phản quốc, và mặc dù còn chút quyền hành Hồ Chí Minh sẽ gặp phải sự chống đối nặng nề. Sự chống đối này được người Tàu nâng đỡ, và do các đảng đối lập mà ra, là Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cách Mạng Đồng Minh Hội. Tất cả đều đồng thanh đòi “tống cổ bọn Việt gian, đã bán rẻ nền độc lập” này. Tôi biết rằng tên tôi thường được nhắc đến nhiều lần trong các cuộc điều đình. Một cuộc biểu tình đã được dự trù để mời tôi ra chấp chính, cầm đầu quốc gia.
Ngày 27 tháng 2, mới 7 giờ sáng, tiếng chuông điện thoại reo vang. Đó là Hồ Chí Minh gọi tôi:
- Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ?
Thấy tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ hẳn lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
- Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ? Tình thế rất khó khăn. Tôi biết chắc rằng bọn Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài, làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
- Tôi đã nhận thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn Cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào, và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ dân chủ cộng hòa…
Ông ta nài nỉ:
- Ngài thay chỗ cho tôi, và tôi lại trở thành cố vấn thay Ngài…
- Thế nhưng ai trao quyền cho tôi bây giờ?
- Ngài sẽ được Quốc hội tấn phong, y như kiểu tất cả bên chính phủ dân chủ thường làm.
- Thế nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
- Ngài được tự do hoàn toàn để lấy ai, tùy Ngài. Ông ta trấn an tôi như vậy.
- Nếu Cụ cho rằng, quyền lợi và nền độc lập của quốc gia đòi hỏi, thì tôi nhận. Nhưng tôi xin Cụ để cho tôi một chút suy nghĩ và thăm dò các bạn hữu của tôi đã.
Từ biệt ông ta, tôi dùng điện thoại gọi ông Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim và bảo họ rằng:
- Tôi có một đề nghị quan trọng muốn bàn với các ông. Hãy tập họp ngay với các bạn bè, tôi sẽ đến sau.
Đến tám giờ rưỡi, tôi đến nhà họ. Tôi cho họ biết sự nói chuyện giữa Hồ Chí Minh với tôi, đề nghị của họ Hồ. Tôi bảo họ:
- Các ông có cho rằng, đây là một cái bẫy sập?
Không ai nghĩ là thế, và Trần Trọng Kim bảo tôi:
- Ai cũng biết rằng Việt Minh đang thường xuyên gặp gỡ Sainteny, và sự chuẩn bị ký kết với Pháp đang được bàn cãi. Đề nghị của Hồ Chí Minh là thành thực, nếu ông ta không ký được các khoản ẩy. Theo ý tôi, thì thưa Ngài, Ngài nên nhận lời.
Đến 10 giờ sáng, Hồ Chí Minh lại gọi tội, và thúc giục tôi nhận lời.
- Ngài đã gặp các bạn chưa? Xin Ngài đừng để mất thời gian, và xin cho biết danh sách để trình trước Quốc hội.
Đến trưa, tôi gọi cho ông ta và bảo là tôi đồng ý. Trong thời gian chờ đợi này, tôi hiểu là một trong bọn người của họ vừa thảo luận với tôi, đã liên lạc được với Thiếu tá Buckley, của cơ quan OSS. Viên này không tỏ ý ngạc nhiên gì về thái độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã hứa là người Mỹ sẽ trung lập về vấn đề này, vì đó là thuộc hoàn toàn nội bộ của Việt Nam.
Đến 13 giờ, thì chuông điện thoại lại reo. Hồ Chí Minh mời tôi đến gặp ông ta.
Khi tôi đến, tôi nhận thấy thái độ khác hẳn của ông ta. Ông có vẻ như bị bất mãn, mà nay đã lấy lại được thăng bằng.
- Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm, vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng, và đã nghĩ trong trường hợp này, trả lại trách nhiệm cho Ngài, tôi đã nghĩ đến từ nhiệm, nhất là do sự đối lập của các đảng phái quốc gia, đối với các điều khoản mà tôi sẽ ký với Pháp.
Như vậy thì cái gì đã xảy ra lúc 10 giờ đến 13 giờ?
Tôi nghĩ rằng, sự thay đổi thái độ của họ Hồ, là do được sự bảo đảm của Moscou, qua phái đoàn Ba Lan, thay mặt họ, hiện đóng ở Hà Nội.
Có lý hơn, chắc do Tướng Tiêu Văn đã gây nên trò Lục Sở này. Hẳn là Tiêu Văn được thuyết phục bởi cái chất liệu loảng xoảng mà bọn Việt Minh đã đấm mõm, nên anh ta đã dùng Lư Hán làm áp lực với phe quốc gia - nhất là với Việt Nam Quốc Dân Đảng - để buộc họ phải tham gia vào chính phủ. Như vậy, họ sẽ phải chịu chung trách nhiệm về chữ ký trong bản hiệp định giữa người Pháp và Việt Minh, làm cho Việt Minh khỏi mang một mình trách nhiệm trước công luận.
Kể từ phút ấy, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi cùng làm việc với ông ta trong các dự thảo các bản hiệp định quí hóa này. Chiều nào trong một tuần lễ liền, chúng tôi cũng gặp nhau. Ý thức được sự yếu ớt của mình và của Việt Minh, Hồ Chí Minh rất băn khoăn muốn tiến tới một kết quả. Đối với ông ta, nhờ hiệp ước ký với Pháp, ông ta sẽ rũ được bọn Tàu. Đó là mục đích chính và duy nhất mà ông ta theo đuổi: Đuổi Tàu ra, rước Pháp vào. Nhưng trong cùng thời gian, ông lại muốn Tàu hãy cầm chân Pháp, hãy ra chầm chậm, để được bảo đảm nhiều hơn nữa.
Trong những ngày ấy, tình hình khá sôi nổi ở Hà Nội, và đã có nhiều đụng chạm xảy ra. Những sự gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh, với người Tàu, người Pháp tăng mãi lên. Trái với tất cả những điều đã xảy ra tự khi tôi đến Hà Nội, tôi hoàn toàn mù tịt, không tiếp xúc với ai, kể cả Tàu và Pháp.
Hồ Chí Minh vừa được sự đồng tình của các đảng phái, không muốn để mặc sự việc tự ý xảy ra, liền quyết định cử một phái đoàn đến gặp Thống chế Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Ông ta mời tôi tới, và yêu cầu tôi nhân danh cố vấn tới cao chính phủ, để cầm đầu phái đoàn, vốn đại diện cho mọi xu hướng chính trị khác nhau. Ông ta sợ bị các tướng quân phiệt Tàu phản bội, và mong rằng sự có mặt của tôi và thành phần của phái đoàn sẽ làm cho Thống chế có thiện cảm với chính phủ lâm thời. Thế mà Trùng Khánh vừa thỏa hiệp cho phép quân đội Pháp được đổ bộ ra Hà Nội. Sainteny đã báo cho Hồ Chí Minh biết. Hơn nữa, Trùng Khánh không bao giờ công nhận chính phủ của chúng tôi. Trong trường hợp ấy, tôi không thể nào nhận được công tác và giải thích với chủ tịch:
- Cụ không nên mạo hiểm thế được. Với hiệp ước vừa mới ký giữa Trùng Khánh và Pháp, Tưởng Giới Thạch sẽ không tiếp tôi. Như vậy, thì cả Cụ lẫn tôi, đều mất mặt.
Hồ Chí Minh cho là đúng, và chúng tôi đến chỗ ấy, nhưng ông ta vẫn cử một phái đoàn không có tôi trong đó.
Ngày hôm sau, khi tôi vừa ra cửa, tôi gặp một viên tướng Tàu, vốn là hàng xóm của tôi ở đường Gambetta. Hình như ông ta đã biết đề nghị của ông Hồ về việc này, ông ta nói, nhanh nhẩu:
- Thế nào, sao Hoàng thượng lại không muốn sang Trung Hoa? Thật đáng tiếc. Hoàng thượng nên lợi dụng cơ hội này, dù chỉ là một chuyến đi chơi.
Thế rồi ông ta nói nửa đùa nửa thật:
- Với tất cả bọn điên này, người ta không hiểu rồi sẽ đi đến đâu?
Điều nhận xét cuối cùng này làm tôi suy nghĩ. Biết đâu cuộc gặp gỡ này, chẳng phải tại lòng trời. Sự can thiệp của ông ta có thể là một lời mời trá hình, của Thống chế Tưởng Giới Thạch.
Cũng ngày hôm ấy, quân đội Pháp đổ bộ Hải Phòng và đã có chạm súng nặng nề; có nhiều người chết. Tôi cần phải giữ mình cho tương lai. Người Pháp đã quyết định điều đình với Hồ Chí Minh, sự có mặt của tôi không nên làm cản trở tình thế. Vì nước Pháp đã tỏ ra tin cẩn bọn cựu tù nhân, rồi người ta sẽ hiểu, còn tôi thì chẳng nên dính líu vào việc này. Tôi liền tự liệu. Ngày hôm sau, tôi đến trụ sỡ của chính phủ, để gặp Hồ Chí Minh và bảo ông ta:
- Cụ chẳng cần đến tôi ở đây. Giáp và Đồng sẽ giúp đỡ cụ. Tôi đi chơi một chuyến sang Tàu.
- Thưa Hoàng thượng, được lắm. Ông ta trả lời tôi với sự hài lòng. Ngài có thể đi chơi, rất bình thản. Đừng ngại gì, vì chúng ta đang làm việc cho hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Các chuyến bay với nước Tàu, lúc ấy không nhiều. Cuối cùng, tôi đi cùng với phái đoàn chính phủ. Phái đoàn này gồm sáu người: bốn đại diện cho Việt Minh và hai là người của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tạm nghỉ ở Trung Hoa
Ngày 16 tháng 3 năm 1946, tôi rời Hà Nội. Chiếc DC-3 chở chúng tôi, đầy nhóc hòm xiểng, có lẽ chứa toàn đồ đã thổ phỉ được, do khoảng mười hai sĩ quan Tàu áp tải kèm. Bọn này chiếm những chỗ tốt trong máy bay, còn phái đoàn của chúng tôi thì bị nhét xuống dưới, gần nơi chứa đồ ở cuối tàu. Sáu người trong phái đoàn này, đều lạ hoắc đối với tôi, trừ có một người, hình như đã gặp được ở đâu rồi. Đây là lần đầu tiên trong đời họ đi máy bay, nên không che dấu được sự e ngại, lo âu.
Máy bay lượn trên những đồng ruộng vuông như bàn cờ, cắt ngang bởi giải sông Hồng, rồi men theo châu thổ sông Lô của vùng thượng du Bắc kỳ. Sau đó, qua dãy núi trọc nhấp nhô, thì đến vùng đồng bằng của tỉnh Vân Nam. Mất ba giờ bay, kể từ lúc ra đi, chúng tôi đáp xuống phi trường Côn Minh, ở trên độ cao 2000 thước.
Trời mát mẻ và khô ráo, khác hẳn khí hậu ẩm ướt của Bắc kỳ.
Chiếc DC-3 này chỉ đi tới đây mà thôi. Chúng tôi phải sang máy bay khác, để đi Trùng Khánh, nhưng phải chờ cả tuần mới có máy bay khác.
Cuối cùng, ngày 23, chúng tôi tới Trùng Khánh nơi có chính phủ trung ương. Cuộc đáp xuống khá vất vả. Phi trường được cất trên một giải đất hẹp giữa sông Dương Tử, và một nhánh của nó là sông Gia Linh (Kialing) để gặp đổ vào nhau ở đầu kia.
Để tránh cho khỏi bị ngập lụt, trong những vụ nước lớn, phi đạo được lát bằng những phiến đá lớn, nên rất sóc khi bánh máy bay chạm đất.
Từ sân phi trường một bệ cao tới 300 bực đưa đến thành phố. Khi vừa đặt chân lên hết bệ đá, thật là một ổ kiến người đông nghẹt chen chúc nhau. Thành phố đông tới ba triệu dân. Qua nhiều phố hẹp, có những cổng xây ngang, chúng tôi được đưa đến khách sạn Tứ Thời là khách sạn sang trọng nhất của thủ đô. Tôi ở một phòng khá rộng, còn sáu vị đồng hành thì chia nhau ba buồng khác vẻ tiều tụy. Danh từ Tứ Thời thường gặp rất nhiều ờ Trùng Khánh vì thời tiết của lục địa để hiển hiện rõ ràng: Mùa xuân về ban sáng, mùa hạ về ban trưa, mùa thu về ban chiều, và mùa đông về ban tối.
Đến ngày hôm sau nữa, viên bí thư Quốc dân đảng đã cho lời mời của Thống chế Tưởng Giới Thạch, đến mời tội dự tiệc ban chiều. Giấy mời được đề là gửi cho Hoàng đế Bảo Đại, và không có nhắc gì đến phái đoàn cả.
Thống chế ngự ở trong Cấm thành, có nhiều tường bao quanh, làm tôi nhớ đến hoàng cung ở Huế. Một chiếe xe ô tô, có tài xế, đến đón tôi ở khách sạn. Bí thư Quốc Dân Đảng là ông Chan tiếp đón tôi. Ông này là cựu sinh viên trường thày dòng ở Đại học đường Bình Minh (Aurore) ở Thượng Hải nói tiếng Pháp rất thạo.
- Kính tâu Hoàng thượng, sự chiếu cố của Hoàng thượng đến ngôi nhà này thật là một điều vinh hạnh lớn, chủ nhân nói nếu được Hoàng thượng ngụ luôn ở đây. Thật là một điều vô cùng quý báu mà tôi nhận được bức điện tín của Tướng Tiêu Văn, và nếu được Hoàng thượng cho phép tôi là kẻ dẫn đường, tôi xin kính đưa Hoàng thượng đến tận nơi dự tiệc.
Trong phòng đại khánh tiết, đã túc trực sẵn một số tướng lãnh và nhân vật cao cấp của chính phủ, ai nấy đều vận lễ phục. Y như một vở kịch được tập dượt rất khéo, đúng lúc tôi vừa đến cửa, thì Thống chế Tưởng Giới Thạch cũng từ phía cửa kia bước ra. Thống chế tiến tới phía tôi, tỏ vẻ vô cùng kính trọng, và rất lịch sự quí phái, trong chiếc áo thêu dài tới gót chân. Người rất là trịnh trọng và lễ độ tuyệt vời. Trong suốt bữa tiệc, ông đã tỏ ra rất thành thạo về tình hình ở Việt Nam. Ông Chan làm thông ngôn.
Trong suốt thời gian ấy, phái đoàn cứ dậm chân tại chỗ, và không ai buồn chủ ý tới. Người trưởng phái đoàn đến yêu cầu tôi can thiệp để được tiếp kiến, vì đợi đã lâu ngày. Tôi đã cố gắng thuyết phục viên bí thư của Quốc dân đảng Tàu xin giúp cho phái đoàn, và tôi giải thích cho ông ta:
- Sự đoàn kết quốc gia hiện nay đã được hình thành ở Việt Nam, và phái đoàn đi chung với tôi, gồm đại diện của tất cả hai đảng lớn đang cầm quyền ở Việt Nam. Ai cũng là những người bạn trung thành của chính phủ Trung Hoa cả.
Ông Chan đáp:
- Thưa Hoàng thượng, phái đoàn này có nhiều người cộng sản, và người cộng sản thì không thể nào bạn với nước Trung Hoa Dân Quốc được…
Cuối cùng, sau nhiều ngày chờ đợi, phái đoàn chỉ được tiếp trong một ngôi chùa ở giữa thành phố.
Nhân viên phái đoàn đã trở về, vô cùng thất vọng, Thống chế Tưởng Giới Thạch chỉ đến đủ để nghe đọc bức thông điệp của Hồ Chí Minh, rồi sau mấy câu cám ơn khô khan, thống chế chỉ nói vắn tắt rằng nước Trung Hoa đã tham chiến cạnh Đồng Minh và đang đứng trong hàng ngũ “Tứ cường” chỉ muốn trông thấy ở giáp biên thùy mình những nước láng giềng thân hữu mà thôi…
Vài hôm sau, Tướng Marshall vừa thay thế Tướng Hurlet được hai tháng, tỏ ý muốn gặp tôi. Tôi liền đến thăm ông ở văn phòng.
Ông rất quan tâm đến vấn đề Việt Nam, và muốn tự tôi nói ra, đầu đuôi cuộc cách mạng đã đưa Việt Minh lên nắm chính quyền. Tôi kể cho ông nghe các tình tiết từ tháng tám và tháng chín vừa qua, và nhấn mạnh rằng cuộc trao quyền không gặp vướng vấp khó khăn nào ở Hà Nội. Tôi cũng nhắc lại cho ông rõ rằng, tôi tự ý lẩn đi mà thoái vị, cho Việt Minh hưởng lợi, chính là để tránh mọi đổ máu mà thôi. Tôi cũng có ý tỏ cho ông biết, tính chất quốc gia, toàn dân tự đặt dưới quyền điều khiển của Hồ Chí Minh, vì tất cả người Việt Nam nào cũng đều mong muốn cho nước nhà được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của họ.
Viên tướng này từng đóng vai trò hòa giải giữa hai lãnh tụ Trung Hoa là cộng sản Mao Trạch Đông với quốc gia Tưởng Giới Thạch, để đem lại hòa bình cho Trung Hoa, mới đặt câu hỏi cho tôi rằng:
- Thưa Hoàng thượng, Hoàng thượng có thể cho tôi biết ý kiến về Quốc dân đảng Tàu?
- Thưa Đại tướng, tôi biết rất ít, và cũng không thành thạo lắm, để có thể đưa ra một ý kiến giá trị được. Nhưng tôi đã trông thấy những hành động của các ông tướng Tàu và binh sĩ của họ khi sang Bắc kỳ, thì tôi thấy cũng không mấy sáng sủa. Tôi e rằng nếu toàn quốc cũng đều như vậy.
Chúng tôi từ giã nhau, sau câu nói đó.
Tôi cảm thấy trước rằng, nước Việt Nam với tân chế độ này, không được cảm tình của cả Tàu và Mỹ. Riêng đối với Trung Hoa, giữa lúc mà Tưởng Giới Thạch phải đương đầu với cuộc nội chiến vừa mở ra đối với phe cộng sản của Mao Trạch Đông, thì lẽ dĩ nhiên ông ta không bao giờ lại mong muốn ở biên giới phía Nam của mình, có một nước cũng theo cùng chủ nghĩa với kẻ thù nội địa của ông. Trước thất bại ấy, phái đoàn chuẩn bị trở về Hà Nội. Tôi cũng quyết định đi cùng một chuyến máy bay ấy. Đã một tháng qua, kể từ khi chúng tôi rời Hà Nội. Ngày 15 tháng 4, chúng tôi lại trở lại Côn Minh. May mắn hơn kỳ đến, lần này đã có một chiếc máy bay sẵn sàng cất cánh đi Hà Nội ngay.
Trong khi chúng tôi sửa soạn để lên máy bay, thì một mảnh điện tín được mang đến cho tôi. Đây là bức điện của Hồ Chí Minh:
“Thưa Ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Hơn nữa, Ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi, nếu vẫn ở lại bên Tàu. Đừng lo ngại gì ca. Khi nào sự trở về của Ngài là cần thiết, tôi sẽ báo sau. Xin Ngài cứ tịnh dưỡng để sẵn sàng cho công tác mới.
Ôm hôn thắm thiết.
Ký tên: Hồ Chí Minh”.
Ông chủ tịch không muốn tôi trở về. Tôi chào từ biệt phái đoàn, họ vội lên máy bay ngay.
Máy bay đã chỉ còn là một cái chấm ở chân trời. Trên căn cứ quân sự cũ của Mỹ này, tôi thật cô đơn. Tôi liền ngồi xuống bực lên xuống của phi trường, để định vị trí. Chẳng những tôi cô đơn, thui thủi một mình, mà còn hoàn toàn trơ trụi. Không một xu dính túi. Trong thời gian tôi nghỉ tại đây, chính phủ Trung Hoa lo liệu mọi mặt cho tôi. Nay chiếc va ly đựng hành lý cũng bay theo phái đoàn đi mất. Tôi không còn quần áo để thay nữa. Kể cả giấy tờ tùy thân. Trước hoàn cảnh ấy, tôi bỗng bật cười. Tôi mở tờ điện tín của Hồ Chí Minh ra đọc: “… Ôm hôn thắm thiết”.
Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm, hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa, hay đã bị lầm. Người Mỹ, rồi Sainteny, thêm tôi nữa, ngay lúc ban đầu cái bản kia nữa. Khi tôi biết được quá khứ của ông ta, sự giao dịch đã rất trơn tru. Tôi biết ở trước mặt tôi, là ai rồi, sau cái mặt nạ này. Một chiến binh mác-xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, bị đảng chi phôi, trói buộc chặt chẽ rồi, một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám tất cả mọi sự lừa lọc, biết người, biết nhược điểm của họ, để khinh bỉ họ, kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình. Sẳn sàng giả trá mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị, và thông minh, và bất nhân đến độ bạo tàn. Lúc nào cũng như sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ.
Theo đảng cộng sản Mác-xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn, bởi chủ nghĩa này trong chiến lược toàn cầu, nhận thấy sự nổi dậy của tất cả các sắc dân bị trị, nên ông ta nhắm mắt tuân theo, không biết đến lý luận hay bàn cãi gì nữa. Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ thuyết này qua lăng kính một chiều của nó.
Bây giờ, ông ta cho rằng, sự trở về Hà Nội của tôi sẽ đem đến cho tôi nhiều bất trắc nguy hiểm. Người Pháp trở lại - chính ông ta đã ký kết với bọn này - đưa đến cho tôi những bất trắc ấy. Thật sự, sự có mặt của tôi chỉ làm cho ông ta khó chịu. Những cuộc hoan hô tôi, sự kính trọng của nhân dân vẫn tôn phò tôi như vị thiên tử, chính là trở ngại làm cho ông ta muốn rũ tôi đi cho rảnh mắt. Chính là lý do duy nhất mà ông ta muốn tôi ra Sầm Sơn trước kia, mà nay thì ở nơi đây. Có người đã nghĩ rằng, ông ta muốn thủ tiêu tôi nữa. Có thể thật dễ để tôi sống, tôi còn có thể phục vụ cho quyền lợi và ý đồ của ông ta. Như vậy, thì còn có sự tôn phò nào quí giá hơn…
Tôi đang nghĩ tới đó, thì thấy một người đến đứng phía sau lưng. Ngoảnh đầu trông lại thì đây là một người Trung Hoa, vận âu phục, hơi có vẻ lớn hơn tôi ít tuổi. Ông ta cười và hỏi:
- Ông nói tiếng Pháp ạ?
- Dạ vâng. Tôi đáp, vì sung sướng được nói chuyện với bất cứ ai lúc ấy.
Ông này tự giới thiệu:
- Tôi là Yu, trước luật sư ở Paris.
- Tôi cũng đã theo học ở Pháp. Tên tôi là Vĩnh, sanh ở Việt Nam. Tôi đi du lịch và vừa lỡ chuyến bay…
- Thế ông ở đâu?…
Thấy tôi ngập ngừng, ông hiểu ngay hoàn cảnh của tôi, và nói nhanh:
- Xin mời ông đến nhà tôi ạ. Tôi là con của vị Thị trưởng ở đây. Ông cụ tôi mất được ít lâu nay, chính vì thế mà tôi trở về nước. Rồi ông sẽ thấy nhà tôi khá rộng, và ông sẽ được hài lòng.
Tôi đã đến và được cả gia đình quý trọng. Nhà rộng, xây kiểu xưa, có bà Yu, và cụ nội ông ta, các anh chị em và nhiều gia nhân. Từ khi ông cụ chết đi thì gia chủ ngôi nhà là ông bạn này. Tất cả mọi người đã tỏ ra kín đáo và không ai dám thắc mắc gì.
Trong thời gian tôi đi với phái đoàn ở Côn Minh, tôi không có dịp đi thăm thành phố. Nay thì tôi có thể đi thăm, và Yu tỏ ra là người dẫn đường thành thuộc.
Côn Minh trước kia gọi là Vân Nam phủ, là một tiểu thủ đô về thời trung cổ. Thành phố rất đẹp, đường phố hẹp, nhà cửa mái ngói đỏ tươi, thời kháng chiến chống Nhật đã đóng vai trò quan trọng. Thật vậy, vì nằm ở cuối con đường xe lửa Vân Nam do người Pháp thiết lập, để thông xuyên đến vịnh Bắc kỳ qua cửa bể Hải Phòng, đồng thời cũng là cửa ngõ quan trọng để thông với Miến Điện, mà người Anh lập nên, tốn kém không biết bao nhiêu tiền của. Người Mỹ đã thiết lập ở đây một căn cứ không quân, để tiếp viện cho Trung Hoa Dân quốc rất nhiều dụng cụ viện trợ. Cũng từ căn cứ này, xuất phát các tuyến bay cho mọi phi vụ cho khắp cả vùng Đông Nam Á châu.
Vì vậy, khi các binh sĩ Mỹ vừa bỏ đi, dân chúng cả triệu người vẫn còn sống trong sự phồn vinh, mặc dù giả tạo. Đường xá của tân thành phố còn đầy những xe nhà binh đủ loại: xe GMC, xe Jeeps, cả các xe dân sự nữa. Các cửa hàng cũng tràn ngập hàng hóa.
Nhờ sự hảo tâm của chủ nhân, tôi có thể mua sắm được mấy bộ quần áo để thay đổi. Trong một cửa hàng bán quần áo cũ, tôi đã mua đầy đủ một bộ cánh nhà binh: áo lót, áo sơ mi, quần, áo choàng, và thêm vào đó… sao lại không, chiếc mũ ca-lô đầy huy hiệu sặc sỡ. Thay bộ đồ ngay tại chỗ, tôi lấy làm ngạc nhiên khi ra đường gặp các binh sĩ Trung Hoa nghiêm chào. Khi kể chuyện với ông Yu lúc về nhà, ông này cho biết, tôi đã vô tình vận bộ binh phục của viên Đại tá Không quân Mỹ. Thế là cả nhà reo mừng đùa là tôi mới được thăng chức nhanh chóng.
Ở nhà ông Yu, chúng tôi như sống lại cuộc đời du học sinh khi xưa ở Paris: đi chơi, đi câu và ban tối, xoa mạt chược liên miên. Nhưng sự nghỉ ngơi đó rồi cũng hết. Một hôm, chúng tôi vào một quán giải khát. Trong khi đang tìm chỗ, một thanh niên chạy đến bên tôi, chắp hai tay vái lạy, rồi lắp bắp:

- Tâu Hoàng thượng, Ngài vẫn còn được bình an…

Trước sự hoảng hồn của ông Yu, tôi vội vàng đỡ người này dậy. Đây là một thanh niên xứ Huế, trước kia thuộc phong trào thanh niên của Phan Anh, mà tôi đã có lần gặp gỡ.

Tôi phải giải thích cho ông Yu lý do sự ẩn danh của tôi. Chẳng những ông ta không đổi thái độ, mà còn mời luôn cả Bùi Minh cùng về theo. Người thanh niên này trước đây là đảng viên đảng Đại Việt, đã phải bỏ chạy khỏi Hà Nội, sang Côn Minh, sống đời lưu vong nghèo khổ, nay là bạn đồng hành của chúng tôi. Khi về nhà, Yu đã kể lại cho cả nhà nghe về tông tích của tôi. Ai cũng sung sướng, và lấy làm vinh hạnh được tiếp đón và chiêu đãi tôi, trong khi tôi đang bị thất thế ba đào.
Yu liền mua một chiếc Jeep, và từ đó chúng tôi đi chơi xa hơn, để khám phá ra những vẻ đẹp của vùng ven đô Côn Minh. Rất nhiều hồ rộng, đường đèo, và nhiều kiến trúc cổ xưa. Như vậy, chúng tôi đã thăm nhiều ngôi chùa cổ rất đẹp. Trong một ngôi chùa mà chúng tôi thường đến thăm, tôi làm quen với một vị đại lão hòa thượng, chủ ngôi chùa. Đây là một vị sư già rất đạo mạo, đoán được vị lai. Tôi liền tự giới thiệu là một kẻ giang hồ lãng tử, lưu vong bốn bể không nhà. Phải đâu tôi nói dối? Dù thế nào sư cụ cũng tỏ vẻ hiền từ đối với tôi, và một hôm, sư cụ bảo tôi vào phía trong phương trượng, để đoán số cho tôi. Sư cụ là nhà xem tướng trứ danh, và bảo tôi rằng, tướng của tôi có rất nhiều nét cô đơn rất thích hợp cho cuộc sống tu hành. Rất băn khoăn trước lời đoán đó, tôi tự hỏi. Trước kia mẫu thân tôi chẳng từng bảo, tôi là một vị Phật giáng sanh xuống trần đó sao? Tất cả những biến cố vừa qua há chẳng là những lý do đưa tôi đến chỗ phải thế phát qui y ở ngôi chùa hẻo lánh trong thâm sơn cùng cốc này đó sao? Trong nhiều ngày, tôi đã suy nghĩ đến lời mời của nhà sư, và sắp đến chỗ nhận lời. Khiếu ưa tĩnh, thích suy tư, rất thích hợp cho tôi cuộc sống này. Nhưng, mới ba mươi ba tuổi, tôi e rằng chưa thể khắc phục nổi sự ép xác của nếp sống tu hành, vì tôi nhớ lại thời thơ ấu, đã từng sống trong cô đơn như vậy. Từ thâm tâm, hiện nay tôi rất thoải mái trong tự do, bởi đã thoát được bao điều hệ lụy. Phải chăng, chính là nhờ sự vô danh, tôi không còn phải đeo những nhãn hiệu nặng nề của lễ nghi và những điều phiền toái đầy tràch nhiệm của một vị Quốc trưởng lãnh đạo quốc gia, trong hoàn cảnh đầy chua chát.
Có hai người con trai của Đại tướng Long Vân, tỉnh trưởng Vân Nam cũng thường đến chơi. Hai ông này đều là cựu sinh viên trường Võ bị Saint-Cyr ở Pháp, tôi cũng nói thật cả. Họ đã hứa là giữ bí mật việc này, và chúng tôi thường đi chơi với nhau, họp thành một nhóm thân hữu đáng quí,
Tuy tôi có báo tin cho ông Hồ Chí Minh về chỗ ở hiện tại của tôi, cũng vẫn không có tin tức gì từ Hà Nội gởi đến cho tôi. Bấy giờ, tôi mới chắc chắn rằng, ông ta không mong gì sự trở về của tôi cả.
Cuộc nghỉ ngơi kỳ thú này kéo dài được hơn một tháng, thì tôi nhận được giấy mời của ông Chan, bí thư Quốc dân đảng, mời tôi lên Trùng Khánh. Thật lạ lùng, ông Yu cũng nhận được giấy mời tương tự. Ông ta không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, và giải thích rằng, cũng như Chan, ông là sinh viên của Đại học đường Bình Minh ở Thượng Hải, nên thường được mời lên thủ đô như vậy.
Yu đề nghị đi cùng với tôi, tôi rất thích, nên hôm sau cùng lên máy bay. Như đã từng hứa hẹn trước kia, ở lần gặp gỡ đầu tiên, ông Chan mời tôi đến ở nhà ông ta ở giữa thành phố. Tôi cám ơn, nhưng xin được ra ở riêng ở khách sạn Tứ Thời mà tôi đã từng cư ngụ. Lợi dụng sự bình thản, tôi đọc các sách nói về nước Tàu, và đánh quần vợt, mà tôi đã tạm bỏ chơi, kể từ ngày xa Huế.
Chan dành cho tôi một chiếc ô tô, và tôi không bỏ lỡ dịp đi tắm ở các suối nóng, rải rác xung quanh Trùng Khánh. Những cuộc du ngoạn ấy thường đưa tôi qua vùng đất Tứ Châu (Seu-Tchouen), rất đẹp với những đồi thông mát mẻ, làm tôi xa lánh được sự ồn ào của thành phố, tạm lập làm thủ đô kháng chiến, với đầy đủ cơ sở chính phủ trung ương và người tản cư lánh nạn trong thời chiến tranh, nên không khí thật vô cùng tấp nập. Ngày tạm cư ở Trùng Khánh của tôi, chỉ có ba lần về Côn Minh ngắn ngủi, để thăm ông Yu và hai con Đại tướng Long Vân, trong ngôi nhà nghỉ mát ở vùng quê của họ.
Đầu tháng tám, Quốc dân đảng báo cho tôi biết có người đồng hương tới thăm. Lấy làm ngạc nhiên, tôi ra tận phi trường đón xem ai. Đây là một người khá lạ lùng, tuổi trạc ba mươi nhưng chắc chắn không phải là dân Việt Nam chính cống.
Vừa ngồi vào xe ông ta tiết lộ:
- Thưa Hoàng thượng, tôi là đại tá trong cơ quan tình báo hoàng gia của Thiên hoàng, và tôi có nhiệm vụ tìm hiểu mọi hoạt động của Quốc dân đảng Trung Hoa. Tôi sanh đẻ ở Nhật, cha là người Nhật, mẹ là Việt Nam. Tôi được cử đến đây để làm bí thư cho Hoàng thượng.
Câu chuyện có vẻ hài hước, và tôi không nhịn được để bảo ông ta:
- Tôi tưởng rằng các sĩ quan cao cấp Nhật thường mổ bụng tự sát, theo truyền thống của hiệp sĩ đạo. Tại sao lại không phải là ông?
- Thưa Hoàng thượng, các sĩ quan ngành tình báo thì không, vì bị nghiêm cấm, họ phải sống để làm việc cho tương lai của đế quốc Nhật Bản. Khi sứ mạng của tôi đã xong, tôi sẽ trở về Sài Gòn, qua ngả Manille, lúc ấy sẽ đầu hàng quân đội Anh.
Kể từ ngày ấy, ông ta không rời khỏi tôi nửa gót. Đóng vai bí thư cho tôi, ông ta không để lỡ một dịp nào mà không thu thập tài liệu và tin tức cần thiết. Chan mà tôi thường gặp, báo cho tôi biết Thống chế Tưởng Giới Thạch sắp trở về Nam Kinh và cả chính phủ cũng dời đô luôn. Ông cũng cho biết là Thống chế rất lấy làm hân hạnh, nếu tôi sẵn lòng đi theo về Nam Kinh, ở đó tôi sẽ là thượng khách của Ngài.
Quả nhiên, đến cuối tháng tám, Thống chế rời Trùng Khánh.
Vị “bí thư” trung thành của tôi, cũng từ giã tôi luôn, vì “nhiệm vụ” đã xong. Yu báo cho tôi biết rằng ông ta cũng sẽ theo chính phủ về Nam Kinh, và nài nỉ tôi cùng đi. Tôi còn ngập ngừng, chưa dám nhận lời. Tôi không có một thích thú nào để đi Nam Kinh cả.
Thật sự, tôi đã chán ngấy cái chất mỡ Tàu rồi, và cả sự cô đơn kẹt cứng này nữa. Tôi muốn tìm một chỗ ẩn thân, tạm lánh, nhưng ở một nơi hoạt động, có gió tứ phương đưa tới. Tại sao không là Hong Kong? Tôi tin chắc rằng, tôi sẽ tìm thấy một môi trường thuận lợi hơn, và chắc chắn có màu sắc của Tây phương hơn nhiều. Yu đề nghị theo tôi ít ngày.
Tám ngày sau, này 15 tháng 9, chúng tôi bay đi Hong Kong.
Tạm trú ở Hong Kong
Không ai đợi chúng tôi ở phi trường Kai-tac. Cả Yu và tôi đều không ai biết gì về thành phố ấy. Chúng tôi lên xe bus để lên chiếc tàu thủy chở khách từ Kow Loon sang đảo Victoria. Tại đây, chúng tôi thuê hai buồng, trong một khách sạn hạng xoàng ở khu phố Tàu Happy Valley. Hôm sau, chúng tôi đi thăm thành phố. Quả là một sự huy hoàng.
Bên kia sông, nhà băng Trung Hoa đồ sộ, và các nhà chọc trời của Kow Loon làm thành một khối đen sậm, đứng lù lù như hư như thực. Thuyền bè rộn rịp: thuyền mủng, sà lan, thuyền máy đưà khách, thuyền buồm với những cánh buồm tre đan, đi lại trong cảng Victoria Harbour vô cùng rộn rịp.
Sau hai tuần lễ du ngoạn ở Hong Kong, Yu từ biệt tôi để đi Nam Kinh. Ông ta rất thất vọng đã không kéo được tôi đi theo, nhưng trước khi từ biệt, ông đoan với tôi rằng tôi sẽ là thượng khách bên cạnh Tưởng Thống chế, nếu tôi quyết định tìm đến Thống chế.
Nay tôi hoàn toàn đơn độc, chỉ còn trong túi một vài đô la Hong Kong, mà Yu đã để lại. Nhưng với tiền ít ỏi đó, sẽ hết mau ngay nếu tôi không tìm cách nào để tự giải quyết. Trong khi chờ đợi, tôi thường đi chơi vơ vẩn, khi thì đi bộ, khi đi bằng xe bus. Tôi thấy hoàn toàn tự do. Đây là lần đầu tiên mà tôi cảm thấy như vậy. Tì
nh cờ tôi đến một ngôi nhà lớn, mà bảng hiệu làm tôi chú ý: “Nhà Băng Đông Dương”.
Ngập ngừng một phút, tôi cũng chẳng hiểu vì sao, tôi bước vào. Quả nhiên, đúng là ngày may mắn của tôi. Vừa bước vào trong, tôi trông thấy ông Ganay, chủ nhà băng của vùng Đông Nam Á. Bốn mắt gặp nhau, ông ta nhận ra tôi ngay và tiến tới gần, với hét ngạc nhiên tột bực. Ông bảo cho tôi biết là đang đi thanh tra ở Hong Kong, và hỏi hiện tình của tôi nay thế nào?
Nói vắn tắt mấy lời, tôi cho ông biết sự đến Hong Kong, và hoàn cảnh rỗng tuếch của tôi hiện tại. Tôi cũng hỏi ông xem có thể ứng trước cho tôi mượn ít tiền. Lập tức, ông đưa cho tôi khoảng 2.000 đô la Hong Kong. Vài hôm sau nữa, cũng bất ngờ, tôi lại gặp Cơ quan Truyền giáo Pháp ở ngoại quốc, họ sẵn sàng cho tôi mượn tiền, lấy bảo đảm ở tài sản của hoàng gia. Thế là tôi thoát những lo âu về tiền bạc, được một thời gian kha khá. Tôi liền đến ngụ ở khách sạn Gloucester Hotel ở đường Queen’s Road. Cạnh đó, có một chiếc building, mà tầng cuối cùng là nhà hàng Le Paramount là nhà hàng có máy lạnh duy nhất ở Hong Kong. Trong bầu không khí ngột ngạt của thành phố, đây là chỗ nghỉ ngơi đặc biệt dành cho du khách, và phải nói thực rằng, gồm đủ loại người, bọn anh chị giang hồ, buôn lậu, gián điệp, thường thấy ở những thành phố quốc tế trên thế giới. Có cái lợi, là không ai biết tôi là ai. Cũng không phải là điều thích thú gì khi tự cảm thấy lúc nào cũng như bị theo dõi, bị kiểm soát, ở ngoài đường, trong khách sạn, ở trên sân golf hay sân tennis. Từ nhỏ, tôi không quen bị như thế bao giờ.
Ít lâu sau đó, tôi gặp ở khách sạn Hong Kong một người Pháp muốn gặp tôi. Đó là ông Yole, thám tử riêng của tòa Lãnh sự chịu trách nhiệm kiểm soát các người Việt qua lại Hong Kong. Sau khi giới thiệu, ông ta tự nguyện đặt dưới sự điều khiển của tôi, và cho biết tháng nào ông cũng qua Sài Gòn, nên có thể làm liên lạc dễ dàng được. Chúng tôi thường gặp nhau, và lần nào, ông ta cũng cho tôi biết các tin tức thật quí báu cho tôi.
Nhờ vậy, trong tháng mười, ông ta đưa cho tôi toàn văn bức thư ngỏ gửi Hồ Chí Minh, trong khi ông này đang sửa soạn sang Paris. Dù là thực hay giả, bức thư này cũng được các báo ở Pháp phổ biến trong thời gian ấy. Nó chứng tỏ những khó khăn của ông Hồ, ngay từ nội bộ đảng của ông ta, thêm những khó khăn ông phải đương đầu, với tư cách lãnh đạo quốc gia:
“Được biết cụ và một phái đoàn sắp sang Pans, để ký kết một hiệp ước nhất định về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, chúng tôi gửi cụ bức thư ngỏ này:
“Chúng tôi là những kẻ sống sót của một nhóm nhỏ những người do cụ lập nên năm 1925, tức là kể từ ngày mà cụ rời bỏ nước Pháp để đi ra ngoại quốc, chúng tôi đã chiến đấu theo chủ trương của cụ là chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam, để giải phóng những người vô sản, khỏi sự bóc lột và đè nén của bọn tư bản thực dân, bọn quan liêu phong kiến, bọn ác bá cường hào, chiến đấu để dẫn dắt người vô sản Việt Nam vào con đường cách mạng dân tộc xóa bỏ giai cấp. Trung thành với chủ thuyết đó, chúng tôi đã lập ra phong trào đun đúc Việt Nam liền mà chính cụ tạo nên động lực chính, trước khi rời bỏ nước Pháp, phong trào được tất cả các chiến hữu bạn ở nước thuộc địa Phi châu ủng hộ, do tờ báo Le Paria (Kẻ cùng khổ) ở Paris, đăng tải, mà cụ đã trao lại cho chúng tôi. Chúng tôi cũng cho phổ biến cuốn sách “Bản án đối với chính sách thuộc địa Pháp” (Procès de la colonisation française) mà cụ đã soạn thảo chung với cụ Nguyễn Thế Truyền. Chúng tôi củng tổ chức và tìm đồng chí, để gửi họ vào trường cao đẳng chính trị đào tạo cán bộ cộng sản ở Moscou.
“Trong số một dúm đảng viên ấy, nhiều đồng chí đã trở về nước để chiến đẩu. Rất nhiều người đã hy sinh mạng sống, người bị tù đầy ra Côn Đảo, người bị đưa sang Guyane. Còn những anh em khác vẫn còn đang chiến đấu.
“Tình hình sự việc buộc chúng tôi phải nhắc lại những chi tiết nhỏ nhoi này, chỉ với mục đích tường trình với cụ, là tư tưởng của cụ đã được chúng tôi thâm nhập dứt khoát, đã nuôi dưỡng trong đầu óc chúng tôi sự tin tưởng không gì lay chuyển nổi. Sự tin tưởng được cụ gieo rắc càng cao bao nhiêu, chúng tôi càng tin tưởng vào cụ bấy nhiêu, vì chúng tôi đã coi cụ là hiện thân của tư tưởng đó của toàn thể giới thanh niên lao động cần cù của nước Việt Nam.
“Thêm vào đấy, một số đồng chí trong đảng ta đã từng gặp cụ ở Moscou hay ở Hội nghị chống thực dân ở Bruxelles. Trong khi bàn cãi về vấn đề Việt Nam, họ đã thấy tư tưởng cách mạng quá khích của cụ: quốc gia độc lập hoàn toàn; giải phóng dân thợ và dân cầy.
“Năm ngoái, khi toàn thể nhân dân đứng lên để chống lại đế quốc Pháp, chúng tôi được biết là chính cụ đã lãnh đạo phong trào ấy, chúng tôi vô cùng sung sướng và tin tưởng rằng phong trào phải đưa đến sự giải phóng vô sản ở Việt Nam. Khi đọc lời tuyên ngôn của cụ cũng như đọc các báo chí ngoại quốc, hồi tháng hai vừa qua, tin tưởng của chúng tôi càng gia tăng: tin tưởng vào chính phủ lâm thời đã quyết chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh đến hai triệu người, toàn thể nhân dân Việt Nam củng rất sẵn sàng, cốt thu hồi được liến độc lập của mình.
“Trong hơn hai mươi năm, cụ đã nuôi dưỡng tình thần cách mạng, cụ truyền bá chủ thuyết cách mạng, cụ tổ chức và đào tạo cán bộ cách mạng, và ngày nay, khi bắt tay vào thực tế, cụ lại thoái lui, cụ phản bội lại chính tư tưởng của cụ. Khi phản bội lại tư tưởng của cụ, cụ phản bội luôn số phận lớn lao của toàn thể nhân dân Việt Nam…
“Tóm lại, chúng tôi tạm khuất tín rằng nhân dân Việt Nam chỉ tạm thời mất niềm tin nơi cụ, có thể, họ sẽ tạm thời thua một keo đầu. Nhưng, mục đích mà họ theo đuổi, vẫn chưa đạt, thì nhanh hay chậm họ vẫn phải tiếp tục con đường mà cụ chưa đưa tới đích cuối cùng mà họ đợi chờ. Họ sẽ theo đuổi cho đến ngày được độc lập hoàn toàn, được giãi phóng hoàn toàn. Paris, ngày 4 tháng 4 năm 1946.
Ký tên:
Hoàng Quang Giụ, Vũ Văn Tân, Nguyễn Văn Tư. 
Thời gian cứ qua đi, ngày nào cũng giống ngày nào. Vài cuộc gặp gỡ ở khách sạn Gloucester. Chính tại đây, vào trung tuần tháng 11, tôi thấy Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đến tìm. Ông này trước là giám đốc Phong trào Thanh niên Nam bộ, dưới thời Trần Trọng Kim, rồi làm bộ trưởng không bộ của chính phủ lâm thời năm 1945, nay là chánh văn phòng của Hồ Chí Minh.
- Hoàng thượng, tôi đến từ Quảng Châu (Canton) và tôi được Hồ chủ tịch trao cho sứ mạng tìm gặp Ngài. Chủ tịch gửi lời kính thăm Ngài, và yêu cầu tôi đệ trình Ngài cái này.

Nói xong ông ta lấy từ trong cặp ra, một gói giấy mà ông đưa cho tôi. Đây là mấy lạng vàng lá. Với số này, tôi có thể sống được vài tháng.
- Xin ông gửi lời tôi đa tạ chủ tịch về những lời thăm hỏi và cho quà. Nay xin ông cho tôi biết tình hình sang Pháp của chủ tịch ra sao.
- Chủ tịch đã về nước hôm 21 tháng 10. Cụ đi tàu Dumont d’Urville…
Tên chiếc tàu này, gợi cho tôi kỷ niệm đã đi tàu đó từ Sài Gòn ra Tourane cách đây mười lăm năm, khi tôi từ Pháp trở về.
- Tại Hải Phòng và Hà Nội - Phạm Ngọc Thạch nói tiếp - dân chúng hoan hô nhiệt liệt, và Quốc hội đã tặng cụ danh hiệu là “Đệ nhất Công dân Việt Nam”. Sau đó, cụ lập tân chính phủ, theo “đường lối quốc gia,” trong đó cụ vừa làm chủ tịch vừa giữ Bộ Ngoại giao. Giáp là bộ trưởng Quốc phòng, Phạm Văn Đồng vẫn giữ bộ Tài chánh. Và chủ tịch vẫn muốn giữ Hoàng thượng là cố vấn tôi cao chính phủ.
- Xin ông nói với Cụ chủ tịch là tôi rất lấy làm vinh hạnh về sự tín nhiệm của cụ. Nay ông hãy cho tôi biết tình hình, kể từ ngày tôi sang Tàu.
- Thưa Hoàng thượng, hẳn Ngài đã biết, theo thỏa thuận của hiệp định mùng 6 tháng 3 2 , người Pháp đã trở lại. Đã tổ chức nhiều lễ tiếp đón, đối với Tướng Leclerc khi tới Hà Nội. Chủ tịch đã rất hợp ý với Tướng Leclerc, là để phái đoàn ta sang Pháp để cụ thể về nền độc lập và thống nhất của nước ta. Đã mở ra ở Hà Nội, một hội nghị kể từ ngày 17 tháng 4 để chuẩn bị cho cuộc viếng Pháp này. Chính Nguyễn Tường Tam cầm đầu phái đoàn, có Giáp, Vũ Trọng Khanh, Hoàng Xuân Hãn, Cù Huy Cận… Cũng có thêm cả đại diện Nam bộ nữa. Ngay lúc đầu, đại diện của mình đã biết Pháp không thành thật. Bởi vì, cái gì đúng ở Hà Nội, lại không đúng ở Sài Gòn, và nguyên tắc về sự sát nhập của Nam kỳ được để ra xét lại. Cuộc bàn cãi kéo dài đến ngày 11 tháng 5.
Chỉ đến ngày mùng 6 tháng 7 hội nghị mới bắt đầu họp, mà lại ở Fontainebleau, chứ không phải ở Paris, như họ đã từng hứa hẹn. Phạm Văn Đồng phụ tá cho chủ tịch của chúng ta. Nhưng đến cuối tháng 7, thì ai cũng biết rằng không thể đạt được kết quả gì ở hội nghị này. Người Pháp đã từ chổi tất cả mọi sự bàn cãi về vấn đề Nam bộ, trước khi tổ chức trưng cầu dân ý, theo như thỏa ước mùng 6 tháng 3. Nhưng sự trưng cầu dân ý không thể thực hiện được trước sự xáo trộn chưa yên hẳn ở miền Nam và người Pháp lại không chấp nhận bất cứ tổ chức ngưng bắn nào để thể hiện lệnh đình chiến. Thật là cái vòng luẩn quẩn đốn mạt. Vì thế, chúng ta giữ vững lập trường: Nước Pháp phải công nhận thống nhất ba kỳ lên trên hết. Ngày mùng 2 tháng 8, không báo trước, người Pháp đề nghị mở một hội nghị thứ hai ở Đà Lạt, chúng ta không được mời dự. Thật không còn hy vọng gì nữa. Sau một tháng rưỡi chờ đợi, Hồ chủ tịch quyết định trở về.
Tuy nhiên, để tỏ sự thành thực và thiện chí của dân tộc Việt Nam, cụ đã chấp nhận ký với viên bộ trưởng Pháp Marius Moutet, một bản thông cáo chung, cam kết giữa Việt Nam và Pháp cái gọi là Medus Vivendi “Bản tạm dung sống còn”.
Tôi đã đọc trên các báo Hong Kong những bài nói về sự thất bại của hội nghị Fontainebleau, và tôi có thể đến tòa lãnh sự Pháp để lấy bản sao của Medus Vivendi kia. Thật sự, nếu Hồ Chí Minh nhận bản tạm dung này vào phút chót, chính là bởi ông ta không muốn trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng, vì sợ mất mặt. Tôi cám ơn Bác sĩ Thạch và bảo ông ta:
- Tôi nghĩ rằng sự thỏa thuận này, sẽ dự trù vào khoảng tháng giêng 1947, sự tiếp tục hội nghị Fontainebleau, vì vậy, xin ông nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh là tôi muốn đợi đến ngày ấy sẽ trở về Hà Nội.
- Thưa Hoàng thượng, tôi nghĩ rằng Hồ chủ tịch vẫn mong muốn Hoàng thượng cứ lưu trú tại Hong Kong trong thời gian ấy, vì Hong Kong là nơi quan sát tốt. Tuy nhiên, chủ tịch cũng muốn Hoàng thượng nên cảnh giác người Pháp, và đề phòng tất cả bọn Việt gian làm tay sai cho Pháp.
Đối với tôi, sự việc đã rõ rệt. Hồ Chí Minh chẳng ưa gì tôi. Trước đây, ông ta muốn đẩy tôi đi khi người Pháp quay trở lại, và giữ tôi ở thật xa khi có hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, thì bây giờ ông cũng không mong tôi trở về khi các cuộc bàn cãi với Pháp đang thực hiện.
Vài hôm sau nữa, thật là cả một phái đoàn mà tôi tiếp nhận ở khách sạn Gloucester. Những người từ Quảng Châu lại có ba lãnh tụ quốc gia là: Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam của Việt Nam Quốc Dân Đảng, và Nguyễn Hải Thần thuộc Đồng Minh Hội. Họ đã bỏ chạy từ Hà Nội kể từ tháng bảy, do bọn đặc công của Giáp tung ra đối với cánh quốc gia, trong thời gian Hồ Chí Minh đi vắng. Họ kể cho tôi nghe sự tàn sát của Việt Minh đối với phe quốc gia.
Lấy cớ là phe quốc gia đã dựa vào quân đội Tàu để khủng bố Việt Minh và Pháp, nay Võ Nguyên Giáp, khi quân Tàu vừa rút đi, liền tung ra một mẻ lưới, với sự phối hợp của công an, nhân dân tự vệ thành, và dân quân để tiêu diệt hết phe quốc gia. Khám nhà, bắt người, bắt cóc, tịch thu báo chí, làm không khí thật khó thở, rất sôi động ở Hà Nội. Tại các tỉnh, còn ghê gớm hơn. Hai bên đã dàn quân, đánh nhau thành trận chiến hẳn hoi.
Trong thời gian đó, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh tìm cách bôi nhọ họ trước mắt nhân dân. Đó chính là Giáp và thủ hạ của hắn đã hại nước. Họ tái đặt các thứ thuế khóa, và đem bán tất cả nguồn nguyên liệu của Việt Nam: quặng mỏ, thuốc phiện, kể cả gạo, trong khi dân chúng đang chết đói. Do mất mùa, ít nhất một triệu rưỡi nhân dân đã chết vì đói. Và trong thời gian đó, Việt Minh tịch thu hết cái gì có thể sử dụng được. Công tác độc nhất của họ chỉ là tìm tiền, để mua võ khí, thế thôi.
Vũ Hồng Khanh trình tôi:
- Thưa Hoàng thượng, Giáp đang sửa soạn chiến tranh. Phạm Ngọc Thạch gần đây đến Quảng Châu, chính là do mục đích đó.
Cả ba người đều thề trung thành với tôi:
- Dân tộc Việt Nam đa số đang chờ đợi Hoàng thượng ra lệnh. Kể từ hôm nay, Hoàng thượng có thể tin cậy ở nơi chúng tôi.
Vài hôm sau nữa, thì đến Trần Trọng Kim cũng đến tìm tôi, có thêm nhiều lãnh tụ quốc gia tiếp theo sau nữa. Ông ta cũng đến từ Quảng Châu, và họ đã gặp nhau ở đấy. Ông ta nhấn mạnh cho tôi biết, chằng có cái gì hơn trước, với người Pháp, mặc dù có Medus Vivendi. Nhiều cuộc đụng độ nặng nề trong các thành phố, và ở vùng thượng du Bắc kỳ, quân Pháp từ Tàu trở về, sau một thời gian lánh mặt, sau vụ mùng 9 tháng 3 năm 1945. Họ theo đường mòn mà trở lại. Ở Hà Nội, người Pháp đã tái chiếm phủ Toàn quyền cũ, mà chính phủ Việt Nam đã tuyên bố là cộng sản quốc gia.
Chính Giáp đã cầm đầu chiến dịch này. Ông ta ra lệnh cho tất cả mọi công dân Việt Nam, bất kể tuổi tác, phải tập thể dục hàng ngày vào buổi sáng ở ngay trên các đường phố. Thế mà, dân chúng bắt đầu chán nản về những cuộc tụ họp, biểu dương, bất cứ dưới lý do nào. Người ta có cảm tưởng rằng, viên bộ trưởng Quốc phòng này đang tìm cách khiêu chiến Pháp, đến độ cho đào các hố ở trên đường, và dựng các chướng ngại vật ngay trên đường lộ, giữa thành phố Hà Nội, và ngay trước mũi của các đồn binh Pháp. Trong những trường hợp ấy, chẳng ai lấy làm lạ là các vụ đụng chạm gia tăng mãi lên. Nhiều vụ tỏ ra rất lớn như ở Bắc Ninh, vào tháng tám, làm chết 15 binh sĩ Pháp, và bị thương đến trên 30 người khác.
Trần Trọng Kim hỏi tôi:
- Tâu Hoàng thượng, Ngài định sao bây giờ?
- Tôi đợi ông Hồ mời tôi về Hà Nội.
- Dạ không nên. Hoàng thượng mà trở về bây giờ, thì nguy hiểm lắm. Tại sao Ngài không đi Nam Kinh, cạnh Quốc dân đảng Trung Hoa, họ vẫn mời Ngài?
- Không, tôi không bao giờ đi Nam Kinh cả. Quốc dân đảng Tàu mất hết tín nhiệm rồi. Tưởng Giới Thạch đã không chống đỡ nổi áp lực của cộng sản, và chỉ trong một thời gian ngắn hay dài, họ Mao sẽ thắng. Trong thời gian tôi ở Trùng Khánh, tôi đã nhận thấy sự xuống dốc của phe quốc gia Trung Hoa, nhất là trong quân đội. Không còn có kỷ cương nào nữa. Tìm vào với họ, hay nhờ họ giúp đỡ, giữa lúc họ đang tan rã này, quả là một nhầm lẫn lớn…
Ngày 30 tháng chạp, các báo ở Hong Kong loan tin súng đã nổ ở Hà Nội, và trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Bắt chước cuộc hành quân chớp nhoáng của Nhật ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp chiến tranh. Sau sự bất ngờ ban đầu, quân Pháp đã trấn tĩnh lại được. Đây là chiến tranh rồi. Cuộc chiến mà tôi vẫn muốn tránh cho dân tộc tôi… Vậy thì cái gì sẽ xảy ra đây?
Đành rằng, Việt Minh sau sự thất vọng ở Fontainebleau, chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào trong biển máu. Như vậy, Hồ Chí Minh đã trung thành với nguyên tắc của cách mạng. Không ai làm cách mạng mà không đổ máu bao giờ. Các nhà cách mạng rất cần sự đổ máu khai lộ này, để làm lệch hẳn cán cân trật tự trong những xã hội, mà họ muốn thay quyền, nên cần phải tạo ra điều kiện cần thiết bạo tàn này.
Vụ nổ súng ngày 19 tháng chạp gây một mối xúc động lớn lao trong phe quốc gia, vì họ đang tìm cách tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Minh, nên họ đã không thể theo sau cộng sản để đi vào con đường bạo động này. Vì vậy, rất nhiều người Việt Nam đã đổ xô cả đến Hong Kong mỗi ngày một nhiều.
Thế là, qua Yole báo, tôi được biết có Phan Văn Giáo tới. Ông ta xin gặp tôi. Tôi tiếp ở khách sạn nơi tôi trú ngụ. Người này tôi biết từ Huế, đó là một dược sĩ, vốn là tay quần vợt có hạng ở Huế, ông ta thuộc về nhóm của Ngô Đình Diệm, khi ông này giữ chức thượng thư bộ Lại trước năm 1933.
Tôi tiếp ông ta một cách lạnh nhạt:
- Anh sang đây làm gì? Anh muốn gì? Anh muốn giữ chức gì? Có phải định làm mật thám cho người Pháp không?
- Thưa Hoàng thượng, không - ông ta đáp - Tôi đến đây để phục vụ Ngài. Tôi xin hoàn toàn tự đặt dưới sự sai khiến của Ngài, làm kẻ hầu hạ cũng được, nếu Ngài bằng lòng.
- Được, tôi đáp. Anh có thể ở luôn đây ngay tự bây giờ.
Ông ta kể cho tôi nghe, những điều mà ông ta biết về ngày 19 tháng chạp, và những ngày kế tiếp. Tất cả các tỉnh miền Bắc đều bị những tổ chức tự vệ lao vào các người Pháp, thật kinh khủng. Nhưng không phải chỉ có người Pháp là nạn nhân, mà còn cả đông người Việt cũng bị tàn sát, vì họ đã tỏ ra không mấy hoan nghênh Việt Minh. Vụ khủng bố này đã xảy ra cả tháng trước, ở Hải Phòng. Do một sự bất đồng ý kiến về kiểm soát thương chính, súng đã nổ. Cuộc đụng chạm đã lan tràn mau chóng, gây chết chóc cho cả ngàn tự vệ quân và binh sĩ Pháp. Để trả thù, bọn Pháp dùng trọng pháo, và nhờ ưu thế về võ khí, quân Pháp chiếm hết thành phố, làm dân chúng bỏ đi hết.
Chính phủ Việt Nam phản đối. Người Pháp càng cứng rắn và ra những điều kiện không thể chấp nhận được. Cuối cùng, ngày 19 tháng chạp đã nổ tung. Các trại quân Pháp rõ ràng đã được báo trước, phản ứng rất mau lẹ, và kiểm soát dần dần toàn thể thú đô. Nhưng đối với các tỉnh lớn khác ở Bắc kỳ, nửa tháng sau, vẫn còn đánh chiếm từng khu phố.
Tôi thật khó mà tin được sự nổ súng lại mãnh liệt đến độ ấy, thế nhưng nghe lời kêu gọi của Hồ Chí Minh vẫn tung ra hằng ngày, thì quả không còn phải ngờ gì cả.
Sự chuẩn bị trước đã rõ rệt. Nguyễn Đệ, cố vấn kinh tế của chính phủ, đến Hong Kong sau Giáo vài ngày cũng kể cho tôi nghe là ông ta được chủ tịch gọi đến vào trước ngày 19 tháng chạp, và cấp cho một chiếu khán, hầu có thể nhờ dân quân và tự vệ che chở hay giúp đỡ. Như vậy thì trách nhiệm của chủ tịch không còn phải ngờ. Trước đây, tôi đã tưởng Giáp phải chịu trách nhiệm ấy, nhưng tất cả các yếu tố đều phù hợp, chính Hồ Chí Minh đã chọn chiến tranh. Vì biết trước tôi cương quyết chống bạo động với bất cứ giá nào, ông ta đã tìm cách đẩy tôi ra xa.
Giáo đã sống ở Sài Gòn trong nhiều tháng trước đây, cho biết các tiến trình hoạt động ở Nam kỳ. Tại đây, sự tuyệt vọng còn lớn lao hơn nữa. Quy chế dành cho xứ này, thật sự cũng chẳng đem đến độc lập gì. Ý thức được rằng mình đã bị lừa, viên bác sĩ đau khổ Thinh, chẳng có một tí quyền gì, cũng chẳng một mảy may uy tín nào, đã tự tử ngày 10 tháng chạp.
Sau vài ngày sống ở Hong Kong, Giáo bảo cho tôi biết phải trở về Sài Gòn, để thu xếp việc nhà, và sẽ nhân dịp này để tìm kiếm tin tức về gia đình tôi nữa.
Trong khi ông ta đi vắng, tôi được cơ quan công an Hong Kong mời tới trụ sở. Được viên chánh mật vụ tiếp, tôi hỏi ông ta lý đo về sự mời này. Ông ta đáp:
- Kể từ ngày mà Ngài tới Hong Kong về tháng mười vừa qua, Ngài đã trú ngụ ở nhiều khách sạn. Chúng tôi đã biết rõ tông tích của Ngài ngay tự hôm đầu rồi…
Hơi ngạc nhiên, tôi hỏi ông ta định đưa đến đâu. Ông ta lễ độ giải thích:
- Chúng tôi nhận được lệnh phải giữ an ninh cho Ngài. Ngài không có thể thay đổi nay khách sạn này, mai khách sạn khác. Vì vậy, chúng tôi sẽ dành cho Ngài một ngôi biệt thự, việc đó giúp chúng tôi những biện pháp bảo vệ dễ dàng, và chúng tôi xin Ngài nên báo cho chúng tôi biết, những khi di chuyển. Hai thám tử vận thường phục được đặt dưới quyền sai khiến của Ngài.
Đó là sự nhã nhặn của người Anh. Tôi nhận lời, và ngụ tại một ngôi biệt thự xinh xắn ở mũi Republic Bay, trong đảo Victoria.
Từ khi tôi đến ngụ ở Republic Bay, căn biệt thự này trở thành cục nam châm thu hút mọi người. Khách khứa dập dìu, thật đông như hội. Tôi không để bị che mắt bởi cái ảo ảnh của thanh thế bất ngờ này. Như trước đây, Thierry D’Argenlieu đã nói là giải pháp Hồ Chí Minh đã thất bại. Nay gió đã đổi chiều. Trong số khách thăm viếng này, người thì đến để theo phò, người thì đến để thăm dò đường lối cho Pháp hay cho nước khác. Bác sĩ Phan Huy Đán, Luật sư Đinh Xuân Quảng, cả hai đều thuộc phe xã hội, thêm Việt Nam Quốc Dân Đảng Trần Văn Tuyên, đều từ Quảng Châu sang. Người em họ trung thành với tôi, Vĩnh Cẩn cùng người em khác trẻ hơn, là tay đá banh nổi tiếng Vĩnh Tường, và Phan Văn Giáo tạo thành cái nhân vĩnh viễn thân cận. Rồi đến quí vị khác khá danh tiếng như Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thuộc nhóm Cao Đài, cựu phó phủ tưứng Nam bộ, Phạm Văn Bính, Ngô Đình Diệm trước tôi tưởng là tai mắt của Mỹ, Phạm Công Tắc, giáo chủ Tây Ninh, Lê Văn Soái, tướng Hòa Hảo, v,v… Tất cả các nhân vật đó đều đưa ra ý kiến và đồng nhất về chính trị, nhấn mạnh là tôi phải trở về, để đem lại hòa bình cho đất nước.
Phan Văn Giáo nói:
- Nếu Hoàng thượng trở về là đáp ứng đúng với nguyện vọng của toàn dân, vì ai cũng mong có hòa bình. Dân chúng cũng lại biết rằng, chính Hoàng thượng cũng muốn có hòa bình. Còn người Pháp, thì họ sẽ rất sung sướng đã gặp được người có thể tiếp tục cuộc đàm phán.
- Đồng ý là dân chúng muốn hòa bình rồi, nhưng dân chúng còn muốn hơn hết, là phải có độc lập nữa. Dân chúng có thừa khả năng để hy sinh vô độ cho nền độc lập ấy. Người Pháp phải ý thức cái nguyện vọng ấy, mà nay chưa có, và thái độ của họ trong thời gian gần đây, làm cho ta ngờ thiện chí của họ…
Bây giờ, số lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Quảng Châu ngày càng nhiều. Hoàn cảnh vật chất của họ trở thành khó khăn, họ chạy đến tôi. Tôi báo với Yole, ông này đưa tôi gặp lãnh tụ Pháp là ông Joubert. Joubert bảo để xét vấn đề. Thật vậy, ít lâu sau, Yole từ Sài Gòn sang vì vẫn đem tin tức hằng tháng đến cho tôi, đã đưa cho tôi 5.000 đô la Hong Kong. Tôi không hỏi nguyên do tiền ở đâu, nhưng tôi biết chắc do quỹ này của Đô đốc phát ra. Tôi liền cho phân phát cho các anh em quốc gia này, họ cũng chẳng biết là ai đã viện trợ cho họ nữa. Tôi thấy khá lý thú là chính phủ Pháp lại cứu trợ cho các nhà ái quốc Việt Nam. Từ đó, thường thường Yole bổ sung ngân khoản cho tôi. Tất nhiên, các vị hưởng thụ đều cho rằng tôi là ân nhân của họ. Thỉnh thoảng, Yole chậm đem tiền đến, và trước sự kiệt quệ của tôi, các huynh đệ quốc gia này liền đá hậu tôi một phát, bằng cách đăng vài bài báo trên mấy tờ báo địa phương. Tới khi tôi đã thỏa mãn được họ rồi, thì mọi sự lại trở lại trật tự tốt đẹp. Nhờ có tiền ngoại tệ ấy, thêm một vài sự rỉ tai khéo léo, tôi có được khả năng biết giá cả đồng bạc lên xuống ở Hong Kong.
Thêm vào đấy là sự ra đi của Đô đốc Thierry D’Argenlieu 3. Là một nhân vật chống cộng triệt để, thế mà ông ta phải làm đại diện cho một chính phủ thiên tả, do chính phủ này có nhiều đảng viên cộng sản tham dự và nâng đỡ. Chắc chắn, vì thế ông mất đường hướng chính trị, kể từ ngày mà Đại tướng De Gaulle rời bỏ chính quyền.
Tất nhiên, đường hướng mà nước Pháp theo đuổi, hay đúng hơn, những hành động do các cơ quan phát ra hàng ngày, phần lớn đều do ảnh hưởng của nội bộ chính trị nước Pháp nhiều hơn là do thực tế của vấn đề Việt Nam. Khổ một nỗi, hoàn cảnh này lại kéo dài rất lầu, quá lâu…
Trung tuần tháng giêng năm 1947, một nhân viên thuộc cơ quan cai trị Đông Dương tên gọi Cousseau được bổ đến tòa Tổng lãnh sự Pháp ở Hong Kong. Ông này thuộc nhóm của Sainteny và nói tiếng Việt Nam rất sõi. Ông ta rất thông thạo văn hóa Việt Nam, đến độ có thể thấu triệt được tinh thần của các nhà nho ở nước tôi. Không lâu lắm, tôi hiểu ngay, ông ta đổi đến Hong Kong chẳng phải là do một sự thuyên chuyên nhân sự tầm thường nào…

Cuộc nổ súng ngày 19 tháng chạp đã đẩy Việt Minh vào cuộc chiến du kích. Đây là một lỗi lầm rất lớn lao. Nhưng trách nhiệm về ai đây?

Giáp chắc chắn đã dự vào sự chuẩn bị, nhưng có lẽ đến phút cuối cùng, ông ta đã hủy bỏ lệnh tấn công, vì quân đội chính quy không tham dự. Phải chăng chính là Hồ Chí Minh để thỏa mãn tự ái bị thương sau hội nghị Fontainebleau, nên đã đẩy cả nước vào con đường đẫm máu này? Thế nhưng tại sao lại có những sự lạm dụng như đã xảy ra ở Huế, là tàn phá tất cả các cầu cống, và các công trình kiến thiết của hoàng cung? Và sau rốt, tại sao các cơ quan dân sự ở Sài Gòn lại không phải san sẻ trách nhiệm này, khi tự đặt lên thành một chính phủ lâm thời Nam bộ, nó vốn là một hình thức khiêu khích?

Dù sao nữa, khiêu khích hay không, sự cố ý gây chiến tranh đã không thể chối cãi.
Giờ đây, sự thất bại đã đem lại một hậu quả nặng nề cho Việt Minh, và uy tín của họ đã bị sứt mẻ, và đường lối sai lầm của họ, đã được chính nhân dân nhận thức lấy. Tại sao, họ lại gây ra hành động tai hại này, làm đổ máu bao cố gắng chính trị lèo lái khó khăn, để đưa cả nước vào mệt cuộc chiến dài, rất dài này?
Cái gì sẽ xảy ra cho Việt Nam nếu không có vụ nổ súng ngày 19 tháng chạp năm 1946?
Kêu gọi và giáo đầu 1947
Kể từ đầu năm 1947, nhiều nhân vật liên tiếp kéo đến Đông Dương. Những nhận xét của họ nhiều khi trái ngược hẳn nhau. Như Tướng Leclerc được cử đến quan sát, đã tuyên bố khi đi qua Sài Gòn: “Vấn đề chống cộng là một chiếc đòn bẩy rất mạnh, nhưng chưa có chỗ tựa, còn kéo dài chờ đợi đến khi nào có thực lực quốc gia”. Ngược lại, Marius Moutet, bộ trưởng Bộ Thuộc địa, vốn thuộc đảng xã hội, cũng được cử đến quan sát, khi trở về đã xác nhận rằng, chỉ có điều đình trở lại với Việt Minh được mà thôi.
Nhờ một số tả hữu bên cạnh, nay tôi đã biết tất cả mọi diễn biến xảy ra ở Việt Nam cũng như ở Paris, thêm một số nơi khác, mà họ đem đến cho tôi hàng ngày, từ phía này hay phía kia, các lời tuyên bố lúc nào cũng nẩy lửa và mâu thuẫn.
Tôi cũng biết rằng Đô đốc Thierry D’Argenlieu, sau nhiều lần tiếp xúc với các nhân vật quốc gia như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Mạnh Hà và Hoàng Xuân Hân, đã viết một tờ trình gửi lên chính phủ Pháp ngày 14 tháng giêng, trong đó ông ta không ngần ngừ gì mà đưa ra giải pháp “trở lại nền quân chủ cố hữu...” Nhận định ấy được hai nhân vật phụ tá ông ta là ông Pignon và Torel nhiệt liệt tán thành.
Tại Pháp, lúc ấy chính phủ Ramadier vừa thay thế chính phủ của Léon Blum, và ra lời tuyên bố được đọc trước Quốc hội ngày 21 tháng giêng, có câu như sau: “Nước Pháp sẵn sàng thực hiện sự thống nhất ba kỳ ở Việt Nam, nếu đó là ý kiến chung của tất cả nhân dân Việt Nam, và công nhận nền độc lập của Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương”.
Tôi đã sưu tầm được bản Hiến pháp mới của nước Pháp, được Quốc hội bỏ phiếu ngày 27 tháng 10 năm 1946, đặt nền tảng về Liên hiệp Pháp mà sau đó người ta bàn tán rất nhiều. Theo bản này, đã có sự thu hẹp đối với điều mong muốn cửa tôi. Bản tuyên bố của tân chính phủ có một câu chứng tỏ sự bất nhất, mập mờ và mâu thuẫn ngay với câu đầu: “Chúng tôi sẵn sàng điều đình với nhà đại diện chính thức và có tư cách của quốc gia”. Không có gì rõ ràng hơn.
Có lẽ để tỏ thiện chí, viên Cao ủy Pháp đã công bố ngày 1 tháng 2, một sắc lệnh trao trả quyền hành cho chính phủ Nam kỳ, do Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thay thế Bác sĩ Thinh, cầm đầu. Nhưng những biện pháp ấy, chỉ có trên nguyên tắc.
Đầu tháng hai, Giáo trở lại Hong Kong. Ông ta báo cho tôi biết về tin tức gia đình tôi, đang trú ẩn tại tu viện của các Cha người Canada ở Huế. Kinh đô Huế cũng trải qua những ngày ghê gớm. Trong một tháng rưỡi, trại binh Pháp bị bọn tự vệ vây chặt kể từ chiều ngàỵ 19 tháng chạp. Hoàng hậu và các con chúng tôi phải rời biệt thự để tránh khỏi bị bắt cóc.
Còn về hoàng cung, thì bị cướp sạch. Nhiều cung điện bị tàn phá. Hai cầu trên sông Hương, và chiếc cầu trên đường quan lộ, và đường xe lửa bị phá hủy. Tôi không hiểu lý do sự tàn phá này, ngờ rằng đây là do những người làm cách mạng muốn trở về thời cổ lỗ tiêu sơ cũ.
Ở Sài Gòn, Giáo đến gặp Thierry D’Argenlieu, khi ông này biết là đang ở với tôi, nên cho vời Đô đốc hỏi về hoàn cảnh của tôi cũng như về ý định. Trong dịp nói chuyện, viên Cao ủy Pháp đã tỏ ra thất vọng về giải pháp của Hồ Chí Minh. Giáo cũng đoan với tôi rằng, cuộc nói chuyện chỉ có vậy.
Tuy nhiên, nhiều lần, ông ta luôn nhắc tôi:
- Trong bản tuyên ngôn ngày 21 tháng giêng, chính phủ Pháp đã lưu ý là sẵn sàng thực hiện thống nhất ba kỳ, và không phản đối nền độc lập của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương…
Qua câu nói đó, tôi cảm thấy người Pháp đã rỉ tai Giáo, khi ông này ở Sài Gòn. Ông nay chỉ học thuộc lòng câu ấy mà thôi. Vì vậy tôi đáp:
- Đừng tin như vậy, Giáo. Chính phủ ba thành phần của Pháp hiện nay còn lâu mới thực hiện được mọi chuyện dễ dàng. Phe thì trung thành ủng hộ Hồ Chí Minh, phe thì chống lại do vụ 19 tháng chạp. Còn phe cuối cùng, thì sẵn sàng điều đình với cả mọi người không bỏ ai, trong ván bài chính trị ở nước ta. Như thế là giải pháp không thể thực hiện được.
Đô đốc D’Argenlieu được gọi về Paris. Ngày 5 tháng 3, ông Emile Bollaert được cử làm Cao uy Pháp ở Đông Dương. Một cuộc bàn cãi sôi nổi đã xảy ra ở Quốc hội ngày 11, ngày 14, ngày 18 và ngày 20 tháng 3. Ông Ramadier nhắc lại những điều khoản của bản tuyên ngôn ngày 21 tháng giêng:
- Độc lập trong Liên hiệp Pháp có nghĩa là có quyền tự cai trị lấy, có quyền điềũ khiển nội bộ một cách dân chủ, có quỵền thành lập và lựa chọn chính phủ, có quyền đặt thể chế mà nhân dân Việt Nam mong muốn như ý nguyện ấy. Tôi cũng nói rằng thống nhất ba kỳ, nếu tất cả các dân tộc Việt Nam đều mong muốn, và tôi cần nhắc lại là: Theo hình thức mà họ mong muốn…
Và thủ tướng nhấn mạnh đến những khoản được ghi nhận trong bản hiến pháp được tu chính lại ngày tháng 10 năm 1946:
- Ngoại giao và quốc phòng chung cho tất cả các quốc gia trong khối Liên hiệp Pháp, và Cộng hòa Pháp quốc, vì quyền lợi chung, chịu trách nhiệm điều khiển…
Ông ta giải thích thêm nữa rằng:
- Ngày nay không còn phải bận tâm đến thoả ước ngày mùng 6 tháng 3. Sự đó chỉ nằm trong khuôn khổ của bản Hiến pháp nội bộ của chúng tôi, và chỉ dùng để có thể tạo dựng được một cơ cấu hữu hiệu… Với ai đây? Chúng tôi xin miễn nêu danh, ông bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cũng như tôi, chúng tôi không đọc đến tên ai, và chúng tôi cũng không thể đọc được tên ai, vì đang có một tẩm màn che khuất các diễn biến ở Việt Nam… Chắc chắn đã có những kẻ tội phạm. Họ là ai? Đó là câu hỏi đầu tiên vậy. Dù sao nữa, chúng tôi không thể bảo rằng dân chúng Việt Nam là kẻ tội phạm. Chúng tôi giơ tay ra đón họ, và sẵn sàng hiến cho họ nền tự do. Vậy thì chỉ có dân tộc Việt Nam chứ không phải chúng tôi, chỉ có dân chúng Việt Nam tự tìm lấy lãnh tụ của mình, họ được tự do tìm kiếm, không bị chúng tôi hay bất cứ ai dùng khủng bố mà bắt buộc họ được. Chúng tôi sẽ nghiêng mình trước sự lựa chọn của họ, vi chúng tôi tin rằng như vậy chúng tôi sẽ được bảo đảm hơn trong sự điều đình, hơn là điều đình kiểu tạp nham, để không thể thỏa mãn được nguyện vọng đích thực của dân chúng.
Câu cuối cùng này, phải chăng là câu chống đối với định kiến của Đô đốc D’Argenlieu đối với tôi? Tôi có quyền nghĩ như vậy. Và cũng chẳng phải chỉ có mình tôi nghĩ như vậy… Ngày 21 tháng 3, Hồ Chí Minh tự chiến khu bí mật, cũng lên tiếng phản đối:
- Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng dân tộc Việt Nam chỉ có một điều… mong ước là nền thống nhất và độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp và chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp ở Việt Nam. Nước Pháp chỉ cần tuyên bố một chữ là lập tức sẽ ngưng ngay các hận thù, hầu cứu vãn rất nhiều sinh mạng và nối lại tình hữu nghị và lòng tín nhiệm. Nếu bỏ mặc sự thành thực và tha thiết mong muốn hòa bình của chúng tôi, người Pháp vẫn cứ muốn tiếp tục chiến tranh, thì họ sẽ mất hết, không được tí gì, bởi chiến tranh sẽ chỉ đưa đến sự căm hờn, thù hận giữa hai dân tộc…
Một thông tín viên hãng United Press hỏi tôi về lời tuyên bố này:
- Thưa Ngài, với địa vị là cố vấn tối cao chính phủ Hồ Chí Minh, Ngài có nhận lãnh đạo phái đoàn điều đình hay không?
- Không, tôi không nhận điều đình với tư cách cố vấn tối cao…
Câu trả lời ấy có vẻ mập mờ, nên đã được người ta bàn tán xôn xao. Trước mắt quần chúng, quả nhiên tôi vẫn là cố vấn tối cao. Đó là một lá bài mà tôi chưa muốn từ bỏ, nhưng tôi đã quyết định dứt khoát cắt đứt với bọn người đã làm đổ máu, và muốn thắng ở chỗ mà họ đã thất bại.
Nhất là có nhiều xu hướng đang thành lập. Như đại hội Mặt trận Quốc gia Liên hiệp họp ở Quảng Châu, dưới sự bảo trợ của các tướng quân phiệt Trung Hoa, miền Nam, những nhà ái quốc quốc gia Việt Nam lưu vong sang Tàu: Cao Đài, Hòa Hảo, dân chủ xã hội, thanh niên quốc gia, đã họp và đi đến quyết định thành lập “Mặt trận Quốc gia Dân tộc chống Cộng sản” và các lãnh tụ của mặt trận này tuyên bố sẽ đặt dưới quyền điều khiển của tôi.
Ngày 1 tháng 4, vị tân Cao ủy Bollaert tới Sài Gòn. Đối với ai không từng biết vấn đề Á Đông, thì đó là sự đã chọn lầm nghề.
Mới đến nơi, ông này như muốn thanh toán hết những tàn tích của vị cao ủy tiền nhiệm. Léon Pignon, cố vấn chính trị của Đô đốc D’Argenlieu được bổ làm đại diện ở Cộng hòa Cam Bốt và Albert Torel được cho nghỉ về Pháp. Bộ tham mưu của Bollaert gồm toàn người thông thạo các vấn đề Việt Nam: Pierre Messmer trở thành Chánh văn phòng của Cao ủy, và Paul Mus là Cố vấn chính trị. Sự thiên tả của họ ai cũng biết. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho Hoàng Minh Giám, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, tung một thông điệp ngày 19 tháng 4 gửi chính phủ Pháp:
“… Chính phủ Pháp do sự bổ nhiệm vị tân Cao ủy Pháp ở Đông Dương, như có thiện chí đưa nền chính trị đối với Việt Nam vào đường hướng mới, xứng đáng với nước Pháp mới… Để chứng tỏ sự tha thiết của Việt Nam đối với hòa bình, và tình cảm nồng nhiệt đối với dân tộc Pháp, chính phủ Việt Nam đề nghị chính phủ Pháp nên chấm dứt ngay mọi hận thù, để mở những cuộc đàm phán hầu giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình”.
Tôi đã hiểu Hồ Chí Minh tạm đủ, để biết được rằng, khi đẩy chính phủ của ông Ramadier đến chân tường, ông ta đã dự trù tất cả mọi điều có thể xảy ra. Trong tất cả mọi trường hợp, dù là người Pháp tin vào lực lượng quân sự của mình, để đặt ra những điều kiện không thể chấp nhận, hay dù cho họ giả trá điều đình, để rồi lật lọng cầm võ khí trở lại, hoặc họ chấp nhận nền tự trị và độc lập bằng cách đưa ra một chính phủ bù nhìn, mà rồi sự dàn xếp chẳng đi đến đâu, Hồ Chí Minh vẫn có cái lợi là đã đi bước trước. Nhưng Hồ Chí Minh đã phạm một lỗi lầm: ông ta không muốn chú trọng đến nhận định của tôi đã báo động vào tháng giêng năm 1946 là nước Pháp không có một tí nào muốn vào đường hướng cộng sản cả.
Quả nhiên, một biến cố bất ngờ đã làm đảo lộn những dự tưởng của ông. Ngày 5 tháng 5, sau cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm ông Ramadier của các dân biểu cộng sản, ông này liền ra một sắc lệnh chấm dứt nhiệm kỳ của tất cả bộ trưởng cộng sản. Hồ Chí Minh mất tất cả các sự hỗ trợ trung thành của mình ở ngay giữa chính phủ Pháp.
Ngày 15 tháng 5, Bollaert đến Hà Nội. Tại đây, ông ta đọc một bài diễn văn chứng tỏ một sự thay đổi quật ngược:
- Nước Pháp vẫn ở lại Đông Dương, và Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp. Đó là nguyên lý bất di bất dịch đầu tiên của nền chính trị của chúng tôi, và thật là sai lầm khi cho rằng, vì quyền lợi của hòa bình, mà để sự hoài nghi còn lởn vởn trong óc về vấn đề này. Sự có mặt của nước Pháp vẫn tồn tại ở nước này, từ trước đến nay vẫn là một thực tế, mà những nhà lãnh đạo đã nhầm lẫn lớn, nếu không đếm xỉa đến trong sự tính toán của họ…
Sau khi trình bày bằng những lời lẽ mập mờ, những lợi ích cho các quốc gia nằm trong Liên hiệp Pháp, ông ta nhắc lại lời kêu gọi cho tất cả các đảng phái:
- Tôi nói, tất cả các đảng phái, vì chúng tôi không công nhận bất cứ nhóm nào, được độc quyền đại diện cho dân chúng Việt Nam… Thiện chí của tôi không muốn bị lợi dụng. Không ai có thể dùng hình thức khôn khéo, để qua mặt thiện chí đó.
Để chào mừng viên Cao ủy tới Hà Nội, một tờ báo quốc gia, tờ Thời Sự, đăng một lời kêu gọi, đứng tên ba nhân vật, từng là cựu dân biểu đối lập trong Quốc hội Hà Nội như sau:
- Theo ý của chúng tôi, nước Pháp chỉ có thể, và chỉ nên điều đình với cựu Hoàng đế Bảo Đại. Ngài có thể trở về dưới danh nghĩa Hoàng đế, như trước kia, hay dưới danh hiệu Quốc trưởng, nhưng điều quan trọng nhất là nước Pháp điều đình với Ngài và ủy nhiệm Ngài lập một chính phủ quốc gia, đứng với danh hiệu ấy, gồm các nhân vật có khả năng và đầy đủ uy tín trước mắt nhân dân. Một khi mà nền độc lập của Việt Nam được công nhận và chính phủ quốc gia được thành lập, thì chúng tôi tin rằng tất cả dân chúng sẽ đứng bên cạnh chính phủ và nếu Việt Minh còn ngoan cố không chịu tuân theo, nếu họ cứ tiếp tục phá rối trị an, lúc ấy chính phủ sẽ đảm trách nhiệm vụ dẹp họ như dẹp bọn phản loạn…
Ngày 20 tháng 5, Nguyễn Văn Sâm, đại diện miền Nam cho Mặt trận Liên hiệp Quốc gia tuyên bố:
- Chính phủ Hồ Chí Minh chỉ là một chính phủ cộng sản, theo đuổi chính sách đảng trị và độc tài…
Lời tuyên bố kết thúc bằng sự tán dương “công dân Vĩnh Thụy, một nhà ái quốc, và là người đứng trên hết mọi đảng phái”.
Khi trở vào Sài Gòn, ông Bollaert ngày 24 tháng 5, đã ngưng lại ở Huế. Hội đồng An dân Lâm thời và Phong trào Tập hợp Quốc gia Việt Nam đã nhân dịp tổ chức một buổi biểu dương tinh thần quốc gia và quân chủ của nhân dân thành phố.
Tôi quan sát tất cả những hoạt động đó và chờ đợi.
Tôi không phải đợi lâu. Chỉ vài ngày sau, Cousseau nhân viên cai trị cũ, đang làm việc tại Lãnh sự quán ở Hong Kong đến thăm tôi. Tôi tiếp ông ta ở Hong Kong khách sạn. Đối với nhân vật đáng mến, biết rõ nước tôi này, sự đàm thoại theo kiểu Á Đông.
Ông ta bắt đầu vào đề:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến đây với tính cách cá nhân thôi…
- Tôi biết lắm. Tôi đáp, và không nuôi một ngờ vực nào về nhiệm vụ mà ông ta đảm trách.
Sau một hồi lôi thôi kể lể những thảm cảnh ở Việt Nam do khủng bố và chiến tranh du kích làm hại kinh tế, ông ta nhấn mạnh đến sự cần phải tái lập hòa bình cho đất nước.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài đang muốn có hòa bình. Nước Pháp cũng muốn như vậy. Và Ngài có thể đem đến sự hợp tác quí báu…
Tôi bắt đầu hiểu lý do sự kể lể:
- Tôi có thể đem đến được gì bây giờ? Đồng ý, tôi mong muốn hòa bình, và càng nhanh chừng nào càng tốt, nhưng chẳng có gì trao đổi, khi mà nước Pháp đã không cho lại chúng tôi nền độc lập và thống nhất đã đạt được từ 1945.
- Thưa Hoàng thượng, Việt Minh đòi ít hơn Ngài.
- Trường hợp ấy, thì nước Pháp cứ điều đình với Việt Minh. Người Pháp vốn hay quên. Ông vừa chẳng bảo tôi rằng trong tất cả các sự liên lạc chính thức, người Pháp không muốn điều đình với Hồ Chí Minh. Hay là ông coi tôi là một người điên.
Ông ta thú thật với tôi:
- Trước khi đọc diễn văn ở Hà Nội, ông Bollaert đã cử vào đầu tháng năm, viên Cố vấn Chính trị Paul Mus lên Việt Bắc để bí mật gặp Hoàng Minh Giám rồi sau đó Hồ Chí Minh. Ông này đã đưa ra những điều kiện của chính phủ Pháp, để ngưng mọi hận thù: Ngưng ngay tức khắc các hoạt động chiến tranh, khủng bố, và tuyên truyền trao trả lại hầu hết các quân cụ, binh sĩ Pháp đi lại tự do trên toàn lãnh thổ, trao trả tất cả các con tin, các tù binh, hay binh sĩ đào ngũ. Những điều khoản ấy đều do bộ Tham mưu Pháp đòi hỏi. Tất nhiên, Hồ Chí Minh đã coi là không thể chấp nhận được, nếu không muốn nói là ô nhục. Việc mới tới đây. Sau khi các nhân viên cộng sản bị giải nhiệm ở chính phủ, tất cả đang thay đổi. Nay Hoàng thượng là nhân vật đáng giá. Sau lưng Ngài, toàn thể nhân dân Việt Nam đều tập trung thành một khối duy nhất. Chỉ có riêng Ngài mới tạo được sự tín nhiệm của Pháp.
- Vậy thì nước Phảp hãy thỏa mãn nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, nước Pháp hãy trả lại nền thống nhất và độc lập cho họ.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài đang giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Tất cả dân chúng đều kêu gọi Ngài, chắc Ngài thừa biết.
- Thế còn các tay tự trị Nam bộ, họ nghĩ sao?
- Đành rằng tính tình họ có khác, nhưng họ vẫn là người Việt Nam, họ sẽ tìm đến Ngài. Hơn nữa, đại diện của họ rồi đây sẽ xác nhận với Ngài.
- Xin nước Pháp hãy bỏ hết lý do đưa đến chiến tranh, nước Pháp hãy trả lại thống nhất và độc lập cho chúng tôi, không còn cách nào khác.
Có lẽ thất vọng về những đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui. Thái độ ấy, vì lý do không muốn đoạn tuyệt với Pháp, buộc tôi phải ẩn nhẫn, để vớt lại tương lai, và để chuẩn bị những đường hướng khác. Vấn đề chính là không nên hấp tấp, có thể cháy tiêu quá sớm.
Viên Cao ủy đi Paris và tới vào ngày 14 tháng 6, để tường trình về sứ mạng của ông ta. Phải chăng ông ta đã đợi câu trả lời của tôi, để ra đi?
Ở Hong Kong, các chính khách vẫn tới lui tấp nập. Các tả hữu của tôi rất lo ngại sự chấp nhất của tôi. Họ nài nỉ tôi lên lãnh đạo phe quốc gia, vì ngại rằng trong trường hợp đối nghịch, tôi đã bỏ lỡ thời cơ, và bị kẻ khác vượt qua. Nhưng tôi biết, khi đạt kết quả hơn Hồ Chí Minh, mà không cần gây hấn với Pháp, tôi mới lãnh đạo được dân chúng của tôi.
Ngày 19 tháng 6, trong một thông điệp bằng vô tuyến, Hồ Chí Minh lại tái xác nhận sự mong muốn hợp tác của dân tộc Việt Nam với dân chúng Pháp, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, và ấn định những mối bang giao mà ông ta kỳ vọng đạt kết quả với Pháp.
Để cụ thể hóa sự trả lời của tôi đối với Cousseau, và đánh dấu thời gian này, ngày 5 tháng 7: năm 1947, tôi cho phép tờ báo Union Française (Liên hiệp Pháp) ở Sài Gòn được đăng lời tuyên bố của tôi sau đây:
“Nếu tất cả dân chúng Việt Nam đều đặt tín nhiệm nơi tôi, nếu mặt khác, sự hiện diện của tôi có thể góp phần đem lại sự giao hảo của dân tộc tôi với người Pháp, tôi sẽ sung sướng để trở về nước. Tôi không ủng hộ Việt Minh và cũng không chống Việt Mihh. Tôi không theo đảng phái nào. Hòa bình sẽ tới nhanh chóng, nếu người Pháp hiểu rằng tinh thần dân tộc tôi bây giờ không giống như trước cách đây mười năm. Tôi không muốn nói dài hơn nữa, vì chính phủ Pháp đã hiểu lập trường của tôi rồi. Đề nghị của tôi là muốn đóng vai trò hòa giải giữa nước Pháp với các phe phái ở Việt Nam”.
Không để mất thì giờ và sự hấp tấp của ông ta chứng tỏ ông ta không đồng quan điểm này - Hồ Chí Minh vội vã trả đũa ngay. Ngày 19 tháng 7, ông ta cải tổ lại chính phủ. Những bộ trưởng quá lộ liễu do hình thức, đều bị hy sinh. Như vậy, Giáp không còn ở trong chính phủ nữa, nhưng lại giữ chức Tổng tư lệnh quân đội. Sau cuộc cải tổ, thành phần chính phủ gồm ba cộng sản, bốn dân chủ, bốn xã hội, hai quốc gia, ba Công giáo, một Phật giáo, tám trung lập, hai quan lại. Tuy nhiên, cộng sản, xã hội, và dân chủ giữ những chức vụ then chốt. Ván cờ đã bắt đầu gay cấn.
Ngày 22 tháng 7, Bollaert từ Pháp về, mở một cuộc họp báo:
- Chúng tôi chờ đợi ở sự xung đột này, không có kẻ thắng, người thua. Chúng tôi chỉ loại trừ ra khỏi cuộc đàm phán này, những kẻ địch không thể điều đình được bởi mất trí, và những kẻ làm chính trị điên khùng. Như vậy, với tất cả các đảng phái, đoàn thể, phe nhóm, trong một tinh thần yêu nước, chúng tôi muốn mở cuộc đàm phán cho một nền hòa bình vĩnh cửu…
Vài ngày sau, Hồ Chí Minh phản pháo bằng cách tiết lộ công khai sự mặc cả của Paul Mus vào tháng năm, và tuyên bố:
- Ông ta đã bảo rằng chính phủ Pháp sẽ gửi cho chúng tôi một trả lời chính thức. Cho đến nay, chẳng có trả lời nào gửi cho chúng tôi… Ông Cao ủy lại tiếp tục nói rằng muốn đặt nền tảng cho một nền hòa bình vĩnh cửu với tất cả mọi đảng phái. Thế nhưng chính phủ Việt Nam chẳng những biết các đại diện của các đảng phái, mà còn biết cả những nhà ái quốc không thuộc đảng phái nào. Nếu ông Cao ủy thành thực muốn gặp các đảng phái chính trị xứng đáng với danh gọi, ông Cao ủy chằng cần phải tìm đâu xa…

Và rất khôn ngoan, dưới hình thức một câu trả lời cho một nhà báo phỏng vấn, ông này tiếp tục:

- Nhiều nhân viên chính phủ và cả tôi nữa, đều là bạn thân của Cố vấn Vĩnh Thụy, ai cũng khao khát được gặp mặt lại Cố vấn, và mong muốn người trở về, để cùng chúng tôi chăm lo việc nước. Nhưng hiện nay Cố vấn Vĩnh Thụy, chưa thể dời bỏ Hong Kong về được. Chúng tôi dù cách mặt, nhưng chẳng xa lòng. Chính phủ và dân chúng Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào lòng trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy, dù ở ngoại quốc, vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn còn là một thành viên.
Lời phản pháo quả thực là đầy thủ đoạn, và cũng làm hoang mang nhiều người, bởi họ tin rằng cặp bài Bảo Đại - Hồ Chí Minh vẫn còn ăn ý bên nhau. Chính phủ Pháp cảm thấy nguy hiểm, vội vã phản ứng ngay, bằng cách cử Thiếu tá Raynaud từ Paris sang gặp tôi. Ông này từng là sĩ quan tùy viên của tôi vào năm 1935-36, và thường là tay bồi tiếp các cuộc tập dượt về thể thao của tôi ở Huế. Đây là một thanh niên đáng mến, tôi tiếp ông ta rất nồng hậu. Sự đó làm ông ta hy vọng đạt được kết quả mong muốn, nhưng khi ông ta nhắc lại những luận điệu y như của Cousseau, thì ông ta cũng nhận được những trả lời y như vậy: Thống nhất và độc lập trước đã. Ông ta cố gắng làm cho tôi nghe thấy tiếng nói của chính phủ Pháp để phải mềm lòng. Vô ích. Buồn thay cho Raynaud, khi trở về tiu nghỉu. Ông ta không nhận được ra tôi, ngày nay, lại cứng rắn đến thế. Đấy là tại mười năm đã trôi qua, sau những ngày từng đánh tennis, và đánh golf, và bởi tôi đã học được nhiều.
Ngày 7 tháng 8, Bollaert lên Hà Nội, và chuẩn bị mở một cuộc tấn công mới lớn lao. Quả vậy, ngày 15 tháng 8, Ấn Độ và Pakistan, sau Phi Luật Tân, Nam Dương và Miến Điện, đều được độc lập hết. Vị Cao ủy muốn lợi dụng sự trùng hợp ấy, để nhắc lại lời tuyên bố ngày 22 tháng 7, là đặt nền móng cho tổ chức độc lập “trong khối Liên hiệp Pháp” và đề nghị ngưng bắn tức khắc.
Nhưng ngày 15 tháng 8 qua đi, không có gì xảy ra. Sau tôi mới biết là ông Bollaert bất ngờ đi Paris ngày 12, nên hủy bỏ dự định kia. Cousseau đến giải thích cho tôi lý do sự thay đổi đột ngột chương trình này. Thật sự, ông Bollaert là người cẩn thận, nên trước khi định tiến hành, đã e ngại rằng không rõ chính phủ có đồng ý với dự định của ỏng ta không. Một bài báo của Léon Blum vừa viết trên tờ Le Populaire (Bình Dân) là nguyên nhân cho sự ngập ngừng này. Nhà lãnh tụ thuộc đảng Xã hội này đã viết:
“Vâng, Hồ Chí Minh… mà tôi vừa nhận được vài hôm nay một giác thư riêng, qua đường lối hết sức chính thức 4, vẫn là người đại diện chính thức và đủ tư cách của dân, tộc Việt Nam...”
Ông Cao ủy bỗng nhiên thấy rằng chính phủ đã không cho ông biết tất cả, và đã “chơi” ông ta. Ván cờ mỗi lúc càng thêm gay cấn. Hồ Chí Minh bắt buộc phải hoạt động. Bị thúc đẩy bởi các nhân vật quốc gia, ông ta buộc lòng phải đi với họ, và không còn được tự do làm theo định kiến của mình. Còn Cao ủy Pháp Bollaert cũng không tin vào phía hậu thuẫn, và luôn sự bị Paris phủ nhận. Thành ra tôi trở thành chủ động, để cầm cân nẩy mực cho ván bài này. Tiếc thay, tôi lại không có một ưu thế gì. Tôi quyết định cử Trần Văn Tuyên đi dò tại chỗ dư luận quần chúng. Ông ta thuộc Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng nhận lãnh sứ mạng mà tôi ủy nhiệm. Sau khi về Hà Nội và Huế, ông ta đến Sài Gòn vào cuối tháng tám. Sau đó, tôi được biết, ông ta đã đi quá nhiệm vụ mà tôi trao phó, và đã tuyên bố nhiều lời sóng gió, coi như lời của tôi. Ông ta thường nhắc rằng:
- Hoàng đế Bảo Đại không còn tự coi là Cố vấn tối cao của chính phủ Hồ Chí Minh nữa. Ngài không phản đối sự liên kết với cụ Hồ, để điều đình với chính phủ Pháp, với điều kiện là sự hợp tác phải bình đẳng, và Việt Minh không được tự coi hơn các đảng phái khác…
Cũng không sao, các đề nghị tới tấp được gửi đến tôi, do nhiều nguồn gốc, để yêu cầu can thiệp.
Trong số quan khách tiếp tục đổ đến Hong Kong, tôi thường gặp nhiều lần Thiếu tá Buckley của cơ quan chiến lược Hoa Kỳ (OSS) mà tôi đã từng gặp ở Hà Nội. Không đi sâu lắm, ông ta để cho tôi hiểu là Hoa Kỳ không thích Hồ Chí Minh và sẵn sàng yểm trợ cho bất cứ ai, có thể đưa lại độc lập cho Việt Nam, với điều kiện là không phải cộng sản là được…
Ngày 4 tháng 9, khi ông Bollaert trở lại Sài Gòn, tôi liền tung lời kêu gọi là “mời tất cả các lãnh tụ, bất cứ thuộc quan điểm chính trị nào, hãy đến Hong Kong ngày 9 tháng 9 để báo cho tôi biết hiện tình, hầu giúp tôi có thể đạt được kế hoạch thực hiện nền hòa bình trong danh dự và vĩnh cửu”.
Ngày 9 tháng 9, có tất cả 24 vị đã đến Hong Kong. Trong số này, có các vị người miền Nam là Nguyễn Văn Tâm, thuộc Mặt trận Nam bộ; Nguyễn Văn Sâm, thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất: Trần Quang Vinh, lãnh tụ lực lượng Cao Đài. Miền Trung có Chủ tịch Hội đồng An dân thành phố Huế Trần Văn Lý, Cao Văn Chiêu, đại diện trí thức… Tại chỗ, có các lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Tàu, và khi vừa đến, họ đã in bản tuyên ngôn chung, là “toàn thể yêu cầu Cựu hoàng Bảo Đại, người đại diện độc nhất, đủ tư cách của dân tộc Việt Nam ra chấp chính và mở cuộc đàm phán với nước Pháp, hầu tái lập hòa bình ở Việt Nam và thực hiện hòa bình và độc lập”.
Một sự thuần nhất như thế cho cảm tưởng có bàn tay của công quyền xếp đặt, nhưng các cơ quan này rất ngạc nhiên, thấy sự hăng say đã đáp ứng lời kêu gọi của tôi.
Vì vậy, ngày hôm sau 10 tháng 9, Cao ủy Bollaert đọc một bài diễn văn tại Hà Đông, Hà Nội trước mặt các đại diện ngoại giao đoàn cũng như trước số đông dân chúng, định rõ vị trí của nước Pháp. Thật sự thì bài diễn văn này cũng chẳng có dữ kiện mới mẻ gì. Hai chữ “Độc lập” vẫn được tránh né rất kỹ: Thống nhất nước Việt Nam, nếu người Việt Nam muốn, tự trị nội bộ trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp. Nước Pháp vẫn chịu trách nhiệm về ngoại giao và quổc phòng của nước tôi… Viên Cao ủy nhắc lại lời kêu gọi cho tất cả các gia đình trí thức và mọi giai tầng xã hội ở Việt Nam, yêu cầu họ tự lựa chọn - không nói dưới hình thức nào - “để đại diện cho mình, trong trường hợp này, những người có khả năng đạt đích”. Nhưng ông ta không quên nói rõ rằng, quả nhiên chẳng có gì đáng ngờ hơn là “sự thất sủng, mà một số lãnh tụ đã gây ra cuộc chiến tranh du kích phải chịu hy sinh, cũng chằng có thể thay đổi được lợi lộc gì cho dân chúng Việt Nam trong việc tìm kết quả của các hiệp định riêng biệt, mà người ta có thể dùng hình thức điều đình được. Như vậy, hòa bình không thể thực hiện được, nếu nó là tác phẩm của một phe phái...”
Chúng tôi quả đã thụt lùi, so với bài diễn văn dự định đọc ngày 15 tháng 8. Ai cũng thất vọng, và các vị do tôi triệu tập ở Hong Kong ngày 9 tháng 9 đã xác nhận sự tín nhiệm tôi và nói rằng, những đề nghị của Pháp không thỏa mãn được nguyện vọng chính đáng của dân chúng Việt Nam và cũng không phải là loại có thể đem lại sự hòa dịu hầu kiến tạo hòa bình lâu dài.
Cousseau đến gặp tôi:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài cần phải trả lời bài diễn văn của ông Bollaert. Tôi cam đoan với Ngài rằng, ông Cao ủy sẽ hoan nghênh bài trả lời của Ngài.
- Thế ông ấy có đọc đến hai chữ “Độc lập” hay không?
- Dạ có, nhưng ông ta đọc bằng tiếng Việt Nam.
- Tôi thấy quả là lạ lùng, và có thể nói là chướng nữa.
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng thông cảm về hoàn cảnh của nước Pháp. Nếu hôm nay đọc ở đây hai chữ “Độc lập” thì đó là châm ngòi lửa cho cả Phi châu.
- Không, tất cả sự đó là vô nghĩa và không thể chấp nhận được.
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng hãy đề phòng Hồ Chí Minh, ông ta có thể vượt Hoàng thượng lắm.
- Không, tôi không muốn trả lời… Tôi đi câu đây.
Kiên trì với chiến thuật ấy, tôi đợi phản ứng. Phản ứng của Việt Minh do bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám tung ra ngày 15, tuyên bố rằng: “Tự trị không quân đội, và không ngoại giao thì chẳng có nghĩa lý gì,” nhưng ông ta tiếp: “Nước Pháp hãy công nhận một cách rõ ràng và minh bạch nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, thì máu của người Pháp và người Việt sẽ ngưng chảy lập tức”.
Thật sự, tôi bắt đầu làm việc với Giáo và với Bác sĩ Quế. Ở Pháp, sau khi giải nhiệm số bộ trưởng cộng sản trong chính phủ, thì phe hữu tăng cường vị trí của họ. Mỗi ngày càng rõ ràng, họ sẽ không bao giờ điều đình với Hồ Chí Minh. Đảng Việt Minh không còn đất để chạy nữa. Như vậy thời gian đã điểm để tôi điều đình. Có hai dữ kiện thuận lợi cho tôi về vấn đề này.
Một mặt dù tôi không còn tin tưởng và số phận sau cùng của Quốc dân đảng Trung Hoa, họ vừa đạt được một lợi điểm trong cuộc chiến đấu chống Mao Trạch Đông, khi tải chiếm lại Diên An. Mặt khác, tình hình căng thẳng giữa Nga Sô và Mỹ, và Hoa Kỳ không bỏ dịp nâng đỡ nền độc lập của Việt Nam, nếu nền độc lập này được thực hiện, không có cộng sản trong chính phủ. Cuối cùng, các hành động ủng hộ tôi đã liên tiếp nổi lên ở Huế, ở Hà Nội và Sài Gòn, trong suốt thời gian tháng chín.
Đúng vậy, thời gian đã đến rồi. Nay đến lượt tôi, lần đầu tiên, kể từ khi thoái vị, ngày 18 tháng 9, tôi gửi lời kêu gọi dân chúng:
“Đồng bào Việt Nam thân mến,
“Để khỏi làm đổ máu đồng bào, tôi đã từ bỏ ngai vua của tổ tiên tôi,
“Đồng bào đã muốn trao vào tay những nhà lãnh đạo mới, trách nhiệm, hướng dẫn số phận của mình, tôi đã sẵn sàng rút lui. Tôi đã thoái vị và chọn con đường lưu vong để khỏi là một trở ngại cho cuộc thí nghiệm này, mà đồng bào đã nghĩ rằng có thể đem hạnh phúc đến cho mình.
“Từ nơi đất lạ mà hiện nay tôi trú ngụ, tôi vẫn theo dõi khi vời hy vọng, khi vôi niềm chua xót, sự phát triển của những trang đời khốc liệt mới, đày bi thảm của lịch sử nước ta. Tôi không lạ gì niềm hy vọng, cũng như nỗi lo âu, sự băn khoăn về điều bất hạnh của đồng bào.
“Mặc dù nền độc tài vẫn tìm cách bịt miệng đồng bào, ngày nay tôi đã nghe thấy tiếng gọi và tiếng kêu thương tuyệt vọng của đồng bào, đồng bào đã vẽ nên một bức tranh thống khổ, và kê khai bao điều bất hạnh mà dân tộc Việt Nam ta phải gánh chịu, sau hai năm kinh nghiệm, mà các chủ nhân của đồng bào đã nắm quỳễn cai trị tuyệt đối gây nên.
“Như vậy, dần đà niềm hy vọng và hạnh phủc của đồng bào cũng bị mất đi, dù đã được sự tuyên truyền khôn khéo, và một lý tưởng ngoại lai cám dỗ ban đầu. Trong niềm tuyệt vọng, đồng bào đã chạy đến tôi. Đồng bào kêu gọi đến uy tín và quyền hành của tôi để đem về cho đất nước bị chiến tranh tàn phá, một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một nền hòa hình như ở các nước tự do và bình đẳng, một nền hòa bình căn bản của an ninh và trật tự.
“Đồng bào mong mỏi rằng tôi sẽ là người đứng điều đình với nước Pháp, do tiếng nói của vị đại diện ở Việt Nam, Ngài Cao ủy Bollaert, đã rõ rệt kêu gội đồng bào, trong bài diễn văn đọc ở Hà Đông, yêu cầu đồng bào chọn các người mà đồng bào tín nhiệm.
“Đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào, tôi nhận sứ mạng mà đồng bào trao phó, và sẵn sàng để bắt liên lạc với nhà cầm quyền Pháp. Với họ, tôi sẽ nghiên cứu tất cả mọi khía cạnh của những lời đê nghị đối với chúng ta.
“Trước hết, tôi muốn đạt được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của đồng bào, đạt tới những thỏa hiệp do sự bảo đảm hỗ tương, và có thể xác nhận với đồng bào là lý tưởng mà chúng ta từng dũng cảm chiến đấu trong cuộc kháng chiến gian lao, sẽ đạt được toàn diện.
“Như vậy, nhờ vào quyền lực và uy tín của tôi, để có thể đóng vai trọng tài cho mọi tranh chấp nội bộ giữa anh em trong nhà với nhau, bởi vì mục đich, đã đạt thì không còn gi phải chống lại nhau nữa, khi hòa bình đã được lập lại. Nền hòa bình căn bản của phồn thịnh, và an ninh mà tôi sẽ đem lại cho đồng bào, tôi muốn giữ mãi. Thời gian sẽ xoa dịu mọi tham vọng, ganh đua. Trong hợp tác, tất cả người Việt Nam chúng ta sẽ xây dựng một nước Việt Nam tốt đẹp, huy hoàng, theo căn bản mới, tạo nguồn sinh khí trẻ trung, đồi dào trong nền văn hóa cổ truyền uy nghi và mãnh liệt của tổ tiên xưa”.
Thật đã khá rõ ràng. Như Việt Minh, tôi từ chối đề nghị của ông Bollaert, vá xác nhận lập trường của tôi: Độc lập và Thống nhất, nhưng trái với Hồ Chí Minh, tôi đi bước trước. Ngày hôm sau có lời tuyên bố ấy, Mặt trận Quốc gia Thống nhất chấp nhận nội dung, tái xác nhận sự tín nhiệm của họ đối với tôi, đồng thời kêu gọi dân chúng Việt Nam siết chặt hàng ngũ bên tôi.
Quyết định của tôi có ảnh hưởng gần như tức khắc. Tôi gửi một bức điện cho Bác sĩ Lê Văn Hoạch; đường lối thống nhất bắt buộc phải đưa đến sự giải tán chính phủ của Cộng hòa Tự trị Nam kỳ. Theo sự gợi ý của tôi, vì không thể giải quyết theo kiểu ấy, Lê Văn Hoạch vốn cầm đầu chính phủ gần một năm, liền từ chức ngày 29 tháng 9. Vị thầy thuốc Cao Đài này, nguyên quán người Bến Tre, là một người lương thiện. Từ nguyên thủy, theo qui chế của phe nhóm, ông hoàn toàn thuộc nhóm ly khai địa phương, sau trở thành Nam kỳ Tự trị, trước khi chấp nhận một thái độ có hảo ý với vấn đề thống nhất. Sự tiến triển này của ông ta làm cho ông bị chống đối bởi xã hội thuộc địa, và những người đại diện của nhóm ấy được đưa vào trong hội đồng của ông. Tướng Xuân vừa từ Pháp về, vốn có nhiều liên lạc ở Pháp, nhất là các người thuộc phe tả ôn hòa, liền được bầu làm Thủ tướng chính phủ Nam kỳ Tự trị ngày 1 tháng 10, và bắt đầu lập chính phủ.
Là cựu sinh viên trường Võ bị Bách khoa, thiếu tướng trong quân đội Pháp, tướng Xuân sống ở Pháp nhiều hơn ở Việt Nam. Tôi biết rõ ông ta. Ông ta vào một đoàn thể có xu hướng dung hòa đang sáng giá tại Pháp. Giữa một giải pháp Mác-xít và giải pháp quân chủ, sao lại không thể có một giải pháp thứ ba, một “đường hướng trung dung” na ná như tư tưởng của Khổng Phu tử? Trong óc Xuân, giai đoạn một, chấp nhận một thứ liên hiệp của ba kỳ. Miền Bắc với Hồ Chí Minh, miền Trung với Bảo Đại, miền Nam với Xuân. Đến giai đoạn hai, sẽ loại Hồ Chí Minh cộng sản ra ngoài, và Bảo Đại sẽ là sự phục hưng của nền quân chủ, để tạo rạ một thứ cộng hòa dân chủ, xã hội và tiến bộ. Ý tưởng ấy phù hợp gần hoàn toàn với chủ trương dung hòa, mà các đảng phái chính trị ở Pháp đang muốn cân bằng giữa các đảng ấy.
Theo tôi, giải pháp ấy thật đáng nghi ngờ, bởi vì ngay giai đoạn đầu, nó có thể trở lại nền tự trị Nam kỳ quốc, làm hại cho sự kiến tạo nền thống nhất. Để vắn tắt, ngày 5 tháng 10, tôi gửi một điện văn cho viên Cao ủy yêu cầu bãi bỏ ngay chính phủ Nam kỳ, và thay vào đấy bằng một Hội đồng An dân như đã có ở Huế, và ở Hà Nội.
Nhiều sự kiện gián tiếp có lợi cho giải pháp của tôi. Một mặt, Tướng Xuân gặp rất nhiều khó khăn để lập chính phủ. Mặt khác, ngày 7 tháng 10, quân đội Pháp mở cuộc hành quân rộng lớn, đánh lên Việt Bắc ở cả hai miền thượng du và trung du nơi có căn cứ quân sự và chính phủ trung ương của Hồ Chí Minh. Cuộc hành quân kéo dài tới cuối tháng 10, đánh một trận quyết liệt đối với kháng chiến Việt Minh, làm cho bộ Tư lệnh và Tổng tham mưu bị tan rã hoàn toàn.
Sự kiện cuối cùng là tình hình chính trị ở Pháp cũng tiến triển mau lẹ, theo chiều hướng mà tôi cảm thấy trước, và ngày 21 tháng 11, sau vụ khủng hoảng về nhân sự, lãnh tụ đảng Xã hội Ramadier phải nhường chỗ cho Schuman thuộc đảng (MRP) Cộng hòa thân hữu của Tướng De Gaulle. Ở bộ Pháp quốc Hải ngoại, cũng vẫn là MRP, Paul Coste Floret thay thế viên bộ trưởng Xã hội Marius Moutet. Vị tân bộ trưởng này không giấu sự ác cảm đối với Việt Minh ra mặt.
Tuy nhiên, tôi không nhận được bản trả lời chính thức của vị Cao ủy đối với bức điện văn của tôi, nhưng Tướng Xuân, sau khi tham khảo với nhân viên chính phủ của ông, đã có sáng kiến là thay thế tên gọi của “Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam kỳ” bằng danh xưng “Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam”.
Cuối cùng, trong những ngày cuối tháng 11, tôi lại nhận được sự thăm viếng của Cousseau.
- Thưa Hoàng thượng, nay nhân vật Hồ Chí Minh đã bị gạt ra ngoài rồi, tôi được ủy nhiệm đến thưa với Ngài rằng, Cao ủy Bollaert ước mong sớm được gặp Ngài.
- Hẳn ông biết lập trường của tôi rồi chứ, ông Cousseau. Thế mà bài diễn văn ở Hà Đông không đáp ứng được bất cứ điều kiện nào.
- Thưa Hoàng thượng, tôi được phép thưa với Ngài rằng, viên tân bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại đã bảo đảm cho ông cao ủy rồi. Ông bộ trưởng đã hiểu thấu nguyện vọng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất.
Nếu nguyện vọng này đã được thể hiện bởi một chính phủ thật sự quốc gia, quan tâm đến những giao ước này, thì không còn vấn đề nữa. Thời gian đã đến để bắt tay vào việc đàm phán trực tiếp. Dù sao nữa, những đề nghị đọc ở Hà Đông, không phải nằm trong một chương trình vĩnh cửu.
Xảo quyệt ngoại giao 1947-1948
Tôi đã quyết định. Những dữ kiện đã đủ, để tiến thêm một bước. Tôi báo cho các nhân viên thân tín của tôi, và đề cử hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn sửa soạn để theo tôi đi gặp Cao ủy Pháp. Ngày 6 tháng 12, chúng tôi đi chiếc thủy phi cơ Catalina thuê của hãng hàng không dân dụng Úc, và mấy giờ sau, chúng tôi hạ cánh ở vịnh Hạ Long cạnh chiếc thủy đỉnh Duguay Trouin, dùng làm soái hạm cho ông Bollaert.
Ông này tiếp đón tôi ở đầu mũi tàu, có rất đông tùy viên bao quanh. Tướng Valluy, Đô đốc Battet và nhiều nhân viên cao cấp trong đó có Pierre Messmer đều có mặt. Thời tiết cuối thu thật êm ả, dịu dàng. Chúng tôi vào bàn tiệc trong một bầu không khí thoải mái vá tín nhiệm. Ai cũng có vẻ thân ái với tôi.
Sau bữa ăn sáng, trong buồng chỉ huy, ông Bollaert và tôi đối diện nhau, tay đôi. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Ông cao ủy như đầy nhã nhặn. Ông dùng giọng thành thực nói về Thủ tướng Henriot, là “quan thầy” của ông ta trước kia, mà tôi từng gặp ở Pháp, rồi nói về hoàn cảnh hiện tại, ông rất có cảm tình với dân chúng Việt Nam, và vô cùng cảm động về nguyện vọng của họ đối với ríền độc lập và thống nhất đất nước…
Tôi giữ thái độ yên lặng và dè dặt.
Bất thình lình, ông Bollaert đứng lên, lấy một chiếc sơ-mi bằng da để ở trên bàn, rồi lôi ra hai tờ tài liệu mà ông đưa cho tôi. Tài liệu đầu, được trình bày như bản tuyên ngôn chung, mà tôi nhặt được một cách hài lòng hai chữ “độc lập” đã được nói đến. Và tài liệu thứ hai là một tờ lịch trình ghi chú có hình thức đặt căn bản cho những vấn đề sẽ bàn đến. Nó liên quan đến hình thức ngoại giao, quân sự, văn hóa, tài chánh, chuyên môn… Sau khi xem qua, tôi trả lại cho ông ta.
Ông Bollaert liền để lên bàn. Sau cặp kính trắng, mắt ông bỗng sáng hẳn lên. Với một giọng niềm nở, ông đưa cho tôi chiếc bút máy và nói:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đề nghị cụ thể hóa cuộc gặp gỡ ngày hôm nay của chúng ta, là mời Ngài ký vào hai văn kiện này…
- Thưa ông Cao ủy, Ngài bảo muốn gặp tôi. Vậy đây là cuộc tiếp xúc mà tôi tới với Ngài. Mặc dù những lời kêu gọi mà tôi nhận được, tôi chỉ đại diện cho một mình tôi thôi, và tôi chỉ đến để nghe lập trường của Ngài. Như vậy, không có vấn đề ký kết bất cứ cái gì, bởi tôi không được ai ủy nhiệm làm như vậy cả.
- Thưa Hoàng thượng, tuy nhiên, hai bản này phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Chẳng cần nó bảo đảm gì cho tương lai, chữ ký của chúng ta chỉ có nghĩa là chứng nhận sự gặp gỡ này mà thôi.
- Nhưng, thưa Ngài Cao ủy, nếu chỉ cốt để chứng minh sự gặp gỡ này, cần gì phải ký, chỉ một tấm ảnh cũng đủ.
Tôi nhìn mặt ông ta. Ông ta tái đi. Tôi làm ra bộ muốn rút lui, ông ta nhìn tôi chầm chập, cất bút và đột nhiên đỏ mặt. Tôi cảm thấy ông ta sẵn sàng nổi nóng, liền đứng dậy không nói một lời, và bước ra theo Vĩnh Cẩn đang đứng ở trên boong.
Các tùy viên của Cao ủy đã đi hết. Buổi chiều, chúng tôi ăn cơm với viên hạm trưởng và các sĩ quan trên tàu. Sau bữa ăn, chúng tôi lui vào các buồng tàu dành cho chúng tôi.
Bản dự thảo về lời tuyên bố chung có thể coi như tạm được, nhưng về bản thể chế thực hiện đã mang tính chất hạn chế không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Việt Nam. Thật vậy, những hạn chế này chỉ là sản phẩm lệ thuộc vào cái gọi là Liên hiệp Pháp và một Liên bang Đông Dương, và không có gì để bàn cãi nữa. Mảnh giấy kia chỉ là sự trình bày vị trí của nước Pháp liên can đến nhiệm vụ của nước Pháp trong vấn đề phòng thủ, về ngoại giao, về trọng tài, về các cơ sở chung giữa ba nước Liên hiệp ở Đồng Dươrĩg. Nhưng nó cũng lại có nhiều khoản nói về qui chế cho các sắc dân thiểu số ở Việt Nam, qui chế cho ngoại kiều, vốn nằm trong chủ quyền riêng rẽ của Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận các điều khoản ấy dưới bất cứ hình thức nào, và quyết định giữ vững lập trường của mình.
Sáng ngày hôm sau, tôi không thấy viên Cao ủy tới. Trời rất đẹp. Vịnh Hạ Long êm ả vô cùng. Cạnh chiến hạm, chiếc thủy phi cơ nhẹ nhàng rập rềnh theo sóng lững lờ. Tôi phải trở về vào buổi chiều, vì máy bay chỉ thuê có hai ngày. Bữa ăn sáng rất sớm. Ông Bollaert như đã lấy lại được bình tĩnh. Câu chuyện kéo dài, nhưng tôi cảm thấy ít nhiều gay cấn. Khi ăn xong, Cao ủy kéo tôi sang buồng hạm trưởng.
Khi chỉ còn hai người, ông ta trở lại cuộc tấn công:
- Thưa Hoàng thượng, chúng ta không thể chia tay như thế này được.
Ông ta mở hai bản văn kiện ra bàn, và trước mặt tôi, ông ta ký trước. Tôi nhìn ông ta. Tôi chẳng mất mát gì lớn cả. Khi ký bản tuyên ngôn chung, tôi chỉ đưa đến sự công nhận điều mong muốn của chính phủ Pháp, coi tôi là người duy nhất để đàm phán thế thôi. Không một câu, tôi đặt bút ký hai chữ Vĩnh Thụy bên cạnh chữ ký của ông ta.
Ông Cao ủy không giấu được nụ cười đắc thắng. Ông ta lại định tiếp tục tiến tới, và để vào trước mặt tôi, bản văn kiện thứ hai nói về thể chế. Tôi bỏ but xuống và đứng lên.
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin Ngài ký luôn vào bản nói về thể chế này.
- Dạ không, thưa Ngài Cao ủy. Ngài muốn có một chữ ký, thì tôi đã ký rồi. Sự đó chứng tỏ thiện chí của tôi rồi.
Cuộc thảo luận lại trở lại. Viên Cao ủy nài nỉ. Tôi nhắc lại cho ông ta rằng, với văn kiện này, với lý do hạn chế mà nó bổ túc cho bản tuyên ngôn, thì không thể chấp nhận cho dân chúng Việt Nam được. Mặt ông Bollaert lại đỏ lên. Tôi thấy rõ ràng, với ông ta, hai bản này chỉ là một, và khi tôi chỉ ký một bản đầu, thì tôi đã vô hiệu hóa tác phẩm của ông ta.
Trước sự từ chối cương quyết của tôi, ông ta thay đổi thái độ, và trở thành cầu khẩn. Ông ta kêu lên:
- Nhưng tôi sẽ nói với chính phủ ra sao bây giờ?
Tôi giữ lặng im. Bên ngoài đã nghe tiếng gầm rú của thủy phi cơ, mà viên phi công đang hâm cho máy đứng yên.
- Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là một tài liệu được giữ kín. Chữ ký của Hoàng thượng chỉ có nghĩa là Ngài đã biết nội dung, và một bản sao đã được đệ trình Ngài.
Nghe lý lẽ tầm thường ấy, tôi không khỏi cảm thấy thương hại cho người này, đang bị tàn tạ, hoảng hồn trước ý nghĩ thất bại của minh. Thời giờ thôi thúc. Giờ lên tàu của tôi đã qua rồi. Vì vậy, để cắt ngắn tôi bảo ông ta:
- Nếu cái này có thể giúp cho cá nhân ông, tôi sẵn sàng duyệt được.
Và cũng chẳng cần ngồi, tôi viết tắt ở phía dưới hai chứ: V.T. rồi đi ra.
Vĩnh Cẩn đợi tôi ở đầu tầu, hơi sốt ruột. Viên Cao ủy chạy theo tôi, và đưa cho người em họ tôi mấy tờ giấy và ông này nhét vội vào cặp.
Ít lâu sau, trước lúc mặt trời lặn, chúng tôi đã về đến vùng Hong Kong. Sau lần gặp gỡ ấy, tôi thấy một cảm giác nặng nề, có tư tưởng rằng, người Pháp không thành thực. “Cho tay này, giữ tay kia” hình như là một kế hoạch hơn là một thói quen của họ. Có lẽ họ cần phải nhở câu nguyên tắc về tư hữu cổ xưa này: Cho rồi giữ lại, chỉ đáng…
Hôm sau, tôi thông báo cho các người thân cận, bản văn kiện do Vĩnh Cẩn mang về. Sự hiện hữu của hai tiếng từ “độc lập” trong bản tuyên ngôn chẳng xóa đi sự tức giận về điều hạn chế trong bản nói về thể chế phụ đính.
Ngay sau buổi gặp gỡ kia, ông Bollaert liền đi Paris ngay. Có thể, ông ta lấy làm hãnh diện được trưng bày chữ ký của tôi, cũng có thể ông ta đã phân giải với tình tiết nào, ông ta đã lấy được chữ ký này. Điều đáng chú ý, là chờ xem phản ứng của chính phủ Pháp và tầm quan trọng mà họ dành cho hai bản văn kiện kia. Một mặt, thật khó đoán được phần riêng rẽ mà viên Cao ủy dành cho vụ này, và mặt khác, vị trí thực sự của chính phủ Pháp không phải chỉ bao gồm vào điều ghi trong hai văn kiện ấy. Chính trị của nước Pháp đang bị chi phối bởi tam đầu chế thật quá bấp bênh. Tốt hơn hết là cần phải thăm dò tại chỗ. Nhưng tôi không đi Paris, để gặp nhiều bất trắc, khi diện đối diện với ông Bollaert. Hoạt cảnh gần đây trên tầu Duguay Trouin, nhắc tôi về quá khứ, mỗi ngày càng thấy khả ố đáng tởm. Vậy thì tôi đi Genève chơi vài ngày. Đây là nơi quan sát lý tưởng và có nhiều tin đổ đến dồi dào.
Trước khi đi, tôi muốn thông tin cho các nhà đương quyền ở Việt Nam và muốn biết phản ứng của họ.
Tôi liền mời đến Hong Kong, vị Thủ tướng Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Xuân, và Trần Văn Lý, chủ tịch Hội Đồng An Dân ở Huế. Tôi yêu cầu Ngô Đình Diệm đến cùng với họ. Họ đến vào ngày 19 tháng chạp, và chúng tôi hội với nhau trong ba ngày. Tất cả ba đều nhận bản tuyên bố chung thì được, nhưng khi đọc bản văn kiện nói về thể chế đều tỏ vẻ tức giận. Diệm là người nổi sùng nhất. Đối với ông ta, sự nhượng bộ của Pháp ít ỏi rõ rệt còn về sự hạn chế chủ quyền, khi vào Liên hiệp Pháp, thì lại càng vô lý. Lý cũng đồng quan điểm với ông ta. Tất cả hai, đều bị ảnh hưởng của sự giải phóng thuộc địa đang tiếp diễn ở Ấn Độ và ở Miến Điện, đều trình tôi một dự án tạo cho Việt Nam một thể chế tự trị, chỉ còn liên hệ với chính quốc bằng sợi giây văn hóa. Trước mắt họ, đây là một giải pháp duy nhất mà người quốc gia Việt Nam có thể chấp nhận được. Xuân thì kém cương quyết hơn, quan điểm của ông ta gần với quan điểm của Giáo. Tất cả, chúng tôi đặt ra một hình thức, có thể co dãn, trường hợp mà chính phủ Pháp muốn lợi dụng chữ ký của tôi: như điều mà tôi đã báo ông Bollaert lúc mới bắt đầu nói chuyện: tôi đến vịnh Hạ Long để tìm hiểu với tính cách riêng tư, và không được ai ủy nhiệm để đàm phán với Pháp. Thật vậy, những đề nghị của ông Bollaert ở vịnh Hạ Long, chẳng có gì đáng kể hơn những đề nghị đã từng được ông ta đọc ở Hà Đông.
Ngày 24 tháng chạp, sau khi từ chối Cousseau muốn dành cho tôi một chiếc máy bay Pháp, tôi đi chiếc Sunderland của hãng BOC, thuộc hàng không Anh quốc để sang Âu châu. Cùng đi với Vĩnh Cẩn, chúng tôi bất ngờ được dự Noel trên máy bay, xung quanh cây thông đồ sộ dựng trong máy bay. Qua các chặng nghỉ Bangkok, Calcutta, Karachi, Le Caire, các đại sứ hay lãnh sự Pháp đều nhân danh nước Pháp đến chào mừng tôi. Tôi đã không lầm. Hồ Chí Minh trong thời gian sang Pháp năm 1946, để dự hội nghị Fontainebleau, cũng đã được cái vinh dự ấy.
Sau chặng nghỉ cuối cùng Chypre, ngày 29 tháng chạp, chúng tôi đến phi trường Liverpool, ở đó, đại sứ Pháp, ông Massigli đã cho một chiếc ô tô để đưa tôi đến Luân Đôn, mà đã có một số người chờ đợi tôi ở Claridge. Tôi nghỉ ở đây hai ngày, cùng với Vĩnh Cẩn, và lợi dựng cuộc đi nghỉ ngơi ngắn ngủi này, để dự xem một màn xiếc. Mộng cũ ngày xanh, chúng tôi vui thích xem những trò hề. Ngày 1 tháng giêng năm 1948, lại một chiếc máy bay Anh đưa tôi đi Genève, ở đó có màn “xiếc” khác đang đợi. Chúng tôi nghỉ ở khách sạn Richemond.
Tại đó, tôi được biết các tin tức cuối cùng. Ông Cao ủy biết ý nghĩ của tôi, khi sang du lịch Âu châu, và sự phiền hà của tôi không muốn gặp ông ta. Kể từ ngày 23 tháng chạp, ông ta đã được chính phủ cấp cho một lời chấp nhận, chỉ cho phép một mình ông ta độc nhất được tiếp xúc với tôi mà thôi: “Chính phủ đã quyết định trao trọn quyền cho Cao ủy Pháp ở Đông Dương để tiếp tục cuộc đàm phán, ngoại trừ với chính phủ của Hồ Chí Minh, đem lại hòa bình và tự do trên khắp lãnh thổ Việt Nam”. Và trong một cuộc họp báo, khi ông ta trở về Sài Gòn, ông ta không quên nhán mạnh rằng:
- Chính phủ Pháp đã nhận lời từ chối dứt khoát của Việt Minh đối với những điều khoản dành cho dân tộc Việt Nam, và cương quyết gạt ra ngoài vĩnh viễn mọi sự đàm phán tương lai đối với cái gọi là chính phủ Việt Minh ấy, và với cái đảng đã yểm trợ họ, và tiếp tục đàm phán với nhân vật duy nhất, đã hiểu thấu vị trí của mình, đối với những đề nghị của Pháp.
Và như vậy là nói hơi nhanh một chút. Tại Paris, tuy nhiên, sự việc không tiến triển mau lẹ như vậy. Dù sao nữa, ngay trong lòng chính phủ, việc thống nhất quan điểm về giải pháp kia vẫn chưa thực hiện được. Các đảng viên xã hội đã tức giận sự gạt bỏ chính phủ Hồ Chí Minh ra ngoài và không giấu ác cảm của họ đối với tôi. Nhưng phe hữu ở Pháp cũng không phải là không cay cú. Còn lãnh tụ phe De Gaulle Gaston Palervski, trong một cuộc meeting đã cực lực đả kích chính phủ:
- Người ta đang chuẩn bị loại bỏ một phần đất đai của lãnh thổ Pháp. Một chính phủ của thiểu số không đủ tư cách cho việc này. Chọn từng chữ một, tôi báo quí ông rằng, chúng ta cần phải xét lại trường hợp này, cũng như những trường hợp tương tự, là chữ ký của chính phủ thiểu số không thể là tiếng nói của nước Pháp được.
Đó chính là triệu chứng xấu, đối với sự sát nhập Nam kỳ vào sự thống nhất của cả ba kỳ. Và thêm vào đây, đây là lời viên Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault, chống lại lập trường của Bollaert, mà ông ta coi như là nhũng nhượng bộ quá trớn và ngay hiểm.
Ông ta mãnh liệt chống lại việc sử dụng danh từ “độc lập”, e ngại rằng sẽ đưa đến hậu quả tai hại ở Bắc Phi. Hơn nữa, ông ta cũng không chấp nhận mở rộng cửa cho nền ngoại giao của Việt Nam được tách rời ra khỏi nền ngoại giao của Pháp. Tất nhiên, sự chênh lệch đã quá xa, y như người ta nói ở Việt Nam, mà nghĩ ở Paris. Tôi tự thấy khôn khéo đã đến Thụy Sĩ, vì vừa có chỗ quan sảt tốt vừa đủ ra thoát nanh vuốt của viên Cao ủy, để khỏi bị tù túng nhào nặn. Nhưng ông ta vẫn chưa chịu bỏ cuộc.
Im lặng như tờ, ông ta lấy máy bay đi Paris, nghỉ 48 giờ ở kinh thành hoa lệ và ngày 7 tháng 1 năm 1948, sang Genève và xin gặp tôi.
Chúng tôi hội ở khách sạn Hôtel des Bergues.
Ông ta không cần phải bóng gió gì và cũng không ngừng ngập gì, bảo tôi ngay:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến để mời Ngài trở về Việt Nam để áp dụng những điều khoản đã tuyên bố trong bản thông cáo chung và trong bản thể chế ngày 7 tháng chạp.
- Thưa Ngài Cao ủy, chắc hẳn Ngài cho phép tôi được ngạc nhiên về sự thôi thúc của Ngài. Tôi xin nhắc lại rằng, tôi đến vịnh Hạ Long thể theo lời mời của Ngài, với tư cách tư, và tôi không nhân danh chức vụ gì, ủy nhiệm gì, để hoàn tất bất cứ công tác nào. Sau nữa, Ngài đã có tại chỗ, Tướng Xuân, hiện đang là thủ tướng Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam, rất có khả năng điều đình với Pháp.
- Nhưng thưa Hoàng thượng, chính là Hoàng thượng mà chúng tôi muốn, mà nước Pháp muốn điều đình.
- Như vậy thì thưa Ngài Cao ủy, nước Pháp hãy phục lại cho tôi danh hiệu Hoàng đế. Vua nước Việt Nam độc lập, bao gồm cả ba kỳ thống nhất, bao gồm thêm đầy đủ các dân tộc thiểu số miền Bắc, miền Trung và miền Nam, có như vậy, vấn đề mới có thể giải quyết và mọi việc mới thực hiện được.
Hơi ngạc nhiên và bối rốì trước sự đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui và nói rằng sẽ xin chỉ thị của chính phủ. Rời Genève về Paris ngay, hôm sau lại trở lại Genève.
Trong khi ông về Paris, tôi liền xác nhận lại lập trường của tôi, qua lời tuyên bố đối với phóng thanh đài AFP: Tôi không thể điều đình bất cứ dưới hình thức nào về Việt Nam, và hơn nữa, những đề nghị mà tôi được biết dưới hình thức tư, trong dịp gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long trong những ngày 6 và 7 tháng chạp, không cho phép kết hợp nổi mọi xu hướng quần chúng Việt Nam, và như vậy, sẽ không tạo được ảnh hưởng gì trong việc tái lập hòa bình.
Đến lần gặp gỡ thứ hai - có tất cả năm lần - tôi tiếp ông Bollaert có ba cố vấn cạnh ông ta là Phan Huy Đán, Đinh Xuân Quảng và Nghiêm Vàn Trí. Tất cả ba đều là nhà luật pháp, xuất thân từ nền học vấn Pháp. Viên Cao ủy lần này đến với tư cách mạnh. Mới vào đề, tôi hỏi ông ta ngay:
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi còn là Hoàng đế nữa không?
- Không thể được nữa rồi, thưa Ngài. Ông ta đáp và không giấu nỗi thất vọng, vì thấy cuộc đổi thoại bắt đầu bằng lời lẽ ấy.
Dự đoán của tôi đứng. Thái tử Sihanouk đã được trả về ngôi do chính phủ Pháp khi ông ta có thái độ như tôi vào năm 1945… Người Pháp muốn “xỏ mũi tôi”. Tôi quả đã không bảo được.
- Như vậy, thưa Ngài Cao ủy, thật vô ích khi tiếp tục cuộc đối thoại này.
Thế là ông Bollaert để lộ ngay cái mặt thật của ông ta:
- Nhưng mà thưa Hoàng thượng, ngày 7 tháng 9, Ngài đã ký bản thông cáo chung rồi. Đây là một thực tế đã xong rồi. Không còn ai có thể thay đổi được gì nữa, kể cả đến nét phẩy vào các bản văn kiện, mà Ngài đã chấp nhận rồi.
Tôi thật đã thất vọng, đau buồn hơn là tức giận trước sự bất tín như vậy. Thành ra, vị đại diện của nước Pháp bất chấp cả đến chuyện lọc lừa, ăn nói sai ngoa ngày hôm nay, với một sự trơ tráo lạ lùng đối với những lời hứa hẹn dỗ dành, mà ông ta đã không ngớt nhắc nhở tôi, hầu xin cho bằng được chữ ký của tôi. Tự dưng, ông Cao ủy của nước Pháp bỗng trở thành nhỏ bé, trước mắt tôi.
Thế nhưng, vẫn chưa hết. Ngày hôm sau, vẫn với luận điệu phi liêm trơ tráo ấy, ông Cao ủy lại còn hạ thấp hơn nữa để mà cả thực sự:
- Thưa Hoàng thượng, cần phải xúc tiến mau hơn nữa nền hòa bình, dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá độ rồi. Để giúp Ngài có thể về nước sớm, chúng tôi sẽ mở cuộc đại nghị gồm các nhân sĩ của cả ba kỳ. Các đại diện này sẽ trao cho Hoàng thượng sứ mạng để điều đình với nước Pháp, và thành lập một Chính phủ Quốc gia hầu thực hiện các bản văn kiện mà Ngài đã ký kết. Tôi được ủy quyền để thưa với Ngài rằng về phần liên can đến bản thực hiện thể chế, chính phủ Pháp đã quyết định sẽ áp dụng một cách thật là đân chủ và tự do…
Chính vì hạnh phúc của nhân dân tôi, đã giữ tôi lại, mà không muốn làm cho tan vỡ hẳn. Tôi không còn nghi ngờ gì về giá trị của những điều hứa hẹn của nước Pháp. Tôi nhìn ba đồng bào của tôi (cố vấn của Bollaert). Như tôi, họ cũng giữ yên lặng.
Khi từ giã tôi, như một tên lái trâu đã hả hê bán xong con vật thổ tả, viên Cao ủy nói như giao hẹn:
- Thưa Hoàng thượng, trong một tháng, chúng ta gặp lại nhau ở vịnh Hạ Long, vào ngày rằm tháng hai.
Tôi không đến Hạ Long, chẳng những tháng sau, mà cả về sau nữa. Tôi không trở về nước, khi mà nước Pháp không thỏa mãn các nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Tôi không muốn bị làm trò cười lần thứ hai nữa.
Tám ngày sau, tôi đi Cannes, ở đó Hoàng hậu Nam Phương và các con tôi đã về ở trong tòa nhà của chúng tôi ở Thorene rồi.
Càng ngày tôi càng tin tưởng là mình đã đi đúng đường lối.
Nhiều người Pháp đến van nài, cầu khẩn. Thời gian làm việc cho chúng tôi. Một chứng cớ phụ đã báo cho tôi biết, vào đầu tháng hai, tôi nhận được giấy mời lên Paris của chính phủ Pháp.
Vài hôm trước, đại diện của Việt Minh ở Pháp là Trần Ngọc Danh đã bị bắt ở Paris. Và ông Bollaert khi trở về Sài Gòn ngày 30 tháng giêng đã tuyên bố là chính phủ không bao giờ điều đình với Hồ Chí Minh nữa. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đến Paris. Tôi nhận thấy dân Pháp lẫn các nhá chính trị đã bị chia rẽ đối với vấn đề Việt Nam không ít. Sự phản đối tôi bắt đầu từ đảng Cộng sản, sự đó rất hợp lý, đến đảng Cộng hòa RPF qua đảng Xã hội, và nhiều đoàn thể Cộng hòa tả phái và Cộng hòa thân hữu của De Gaulle MRP. Theo một số tin tức được phổ biến rộng rãi, hiện đang có một sự khủng hoảng Nội các, và đảng Cộng hòa của De Gaulle RRP chắc chắn sẽ thắng.
Thủ tướng Robert Schuman mời tôi dự tiệc ở điện Matignon. Tại đây, tôi thấy có hơn một chục bộ trưởng, trong đó có George Bidault và Paul Coste Floret là hai người đang không mấy thiện cảm với tôi, nhất là ông Coste Floret đã tuyên bố rằng “hiện nay, chỉ có những hiệp ước ký kết từ ngày xưa với triều đình An Nam là có giá trị mà thôi…” lời tuyên bố ấy tự miệng viên bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại tung ra, nên đã đưa dư luận vào một trận hỏa mù hoàn toàn dày đặc.
Bữa ăn diễn ra bầu không khí cởi mở, câu chuyện đưa nhanh chóng đến vấn đề các “điều khoản thỏa hiệp” ở vịnh Hạ Long. Thử tướng Schuman tỏ sự ngạc nhiên về thái độ của tôi đối với những lần gặp gỡ ở Genève với ông Bollaert.
Tôi trả lời ngay:
- Thưa Ngài Thủ tướng, tôi không ký thỏa hiệp nào ở vịnh Hạ Long cả. Theo lời mời của ông Cao ủy, tôi đến Hạ Long để nghe nói về lập trường của chính phủ Pháp. Các Ngài đã quyết định là không điều đình gì với Hồ Chí Minh nữa, nhưng các Ngài cũng không đưa ra một sự đề cử nào mới. Các Ngài có lập trường của các Ngài. Tôi cũng có lập trường của tôi. Tôi đã thưa với Ngài rằng chỉ sự thừa nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam, mới có thể vãn hồi lại được hòa bình. Tôi không muốn đoạn tuyệt với nước Pháp, nhưng tôi vẫn giữ y nguyên lập trường của tôi.
Tất cả mọi người dự tiệc, ai cũng ngạc nhiên về thái độ cương quyết của tôi. Tôi có cảm tưởng rằng điều đó không đúng với tinh thần mà họ tô son điềm phấn vào tôi và vì vậy, họ mới quyết định chọn tôi là người duy nhất để đàm phán. Một người duy nhất ấy nay lại chứng tỏ còn bất trị và nặng ký hơn Hồ Chí Minh nhiều.
Rất nhiều lần, trong bữa ăn, đã có nhắc đến Lời tuyên bố ngày 25 tháng 3 năm 1945. Trước đây, từ ngày tôi sang Paris, tôi đã nghe thấy nói đến, trong nhiều cuộc gặp gỡ. Tôi liền sai Vĩnh Cẩn đi sưu tầm cho tôi bản văn kiện nói về lời tuyên bố này. Trong thời gian có lời tuyên bố ấy, thì nước chúng tôi bị cắt đứt mọi liên lạc với Pháp, và tôi cũng chưa từng nghe thấy nói đến bao giờ. Vì vậy, tôi ngạc nhiên biết bao, khi tôi thấy bản văn có lời tuyên bố này do chính phủ của Thủ tướng De Gaulle tung ra, và vào lúc mà Việt Nam đã độc lập trước đó mười lăm ngày rồi.
Vậy thì bản tuyên bố này nói gì? Thành lập một Liên bang Đông Dương gồm năm xứ rõ rệt: Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, Ai Lao và Cam Bốt, do viên Toàn quyền Pháp đại diện cho nước Pháp đứng đầu, gồm các bộ trưởng người Pháp và người bản xứ, chịu trách nhiệm dưới quyền điều khiển của Toàn quyền. Chính phủ sẽ có một Quốc hội mà dân chúng tất cả các xứ Đông Dương chiếm 50% số phiếu. Quyền hạn của Quốc hội này được hạn chế trong việc thông qua ngân sách và bàn cãi các đạo luật do Hội đồng Quốc gia soạn thảo.
Như vậy, sau hai tuần lễ mà tôi đã tuyên bố độc lập, lời tuyên bố này tưởng là rộng rãi lắm, thật sự lại còn kém xa những quyền hạn mà chúng tôi đạt được dưới thời của Đô đốc Decoux, vì Decoux còn dành một chỗ nhỏ cho các chính phủ bản xứ. Như vậy không phải là 15 ngày chậm chạp của bản tuyên ngôn, mà là 15 năm. Tuy nhiên, nay tôi mới hiểu vì sao đã có sự im lặng của Tướng De Gaulle, khi tôi gửi thông điệp cho ông ta vào tháng 8 năm 1945. Điều làm tôi buồn hơn nữa, là tôi có cảm tưởng là nhiều kẻ nay vẫn còn tin vào lời tuyên bố đó, dù có đã ba năm về trước. Quả nhiên, người Pháp rất mù tịt về các biến chuyển mới đã xảy ra trong mười năm gần đây ở Á châu, và nhất là ở vùng Viễn Đông.
Đến đây, tôi nhận thấy báo chí ở Paris đã phát động một chiến dịch đầy ác cảm đối với tôi. Họ kết tội tôi là kẻ phản bội hiệp ước bảo hộ, phản bội nước Pháp, đã tiếp tay với phát xít Nhật. Nguyên nhân của sự xúi giục đó tôi thừa đoán ra được. Sự đòi hỏi của tôi trở thành khó chịu, và chẳng ai thực tâm mong muốn tôi đáp lời kêu gọi của viên Cao ủy cả. Nhưng như tôi đã nói, tôi nhất định không để ai có thể muốn làm gì thì làm. Tôi liền tổ chức một buổi họp báo ở khách sạn Ritz, và trước các nhà báo Paris, tôi tuyên bố:
- Ngày 6 tháng 6 năm 1884, khi ông bác Kiến Phước tôi còn là ấu quân, quan phụ chính Vương quốc An Nam đã ký với nước Pháp, một hiệp ước bảo hộ. Theo điều 16 của hiệp ước này, để đổi lại những ưu quyền dành cho nước Pháp, nước Pháp long trọng cam kết che chở cho Vương quốc An Nam, bảo đảm an ninh cho Quân vương, Hoàng đế An Nam chống lại bất cứ nội loạn hay ngoại xâm nào. Thế mà năm 1945, trước sự xâm lăng của Nhật Bản, và trước cuộc nổi dậy của cách mạng Việt Minh, thì đâu là những lời cam kết của Pháp?… Vậy thì ai là người đầu tiên đã không làm tròn bổn phận đối với lời cam kết? Ai làm cho nó trở thành lỗi thời, mất hết hiệu lực? Ai đã vi phạm hiệp ước?
Làm sao mà tôi có thể phản bội nước Pháp, khi Pháp đã ruồng bỏ tôi rồi? Tôi có thể từ ngôi, bỏ chạy ra ngoại quốc, bỏ mặc dân chúng để chạy theo đuôi Đồng minh… Nhưng như vậy, nên nhớ rằng quân Nhật có thể dùng bọn tay sai bất lương, khuấy động loạn lạc để chống người Pháp và tàn sát họ.
Giờ đây, tại sao tôi còn sang Paris? Vì tôi mong muốn hòa bình lập lại ở nước tôi, làm ngưng để máu, vừa máu của nhân dân tôi lẫn máu của binh sĩ Pháp. Thế nhưng, điều kiện để tái lập hòa bình phải là sự công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Đó chính là lý do mà tôi đến để xin nước Pháp thực hiện, và cũng để nói với nước Pháp rằng nước tôi, dân tộc tôi, một khi hòa bình được lập lại, vẫn cần đến mọi sự giúp đỡ để kiến thiết đất nước.
Sự giúp đỡ đó, sự tựa nương đó, chính vẫn là ở nước Pháp mà chúng tôi muốn yêu cầu, trong tinh thần bình đẳng giữa hai nước như trước kia tổ tiên tôi là Hoàng đế Gia Long, khai sáng triều đại, anh hùng thực hiện nền độc lập và thống nhất nước Việt Nam, là người sáng lập ra tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Pháp.
Không chờ đợi phản ứng, tôi trở về Cannes ngay. Tôi bỏ qua đi ngày 15 tháng 2 mà ông Bollaert đã hẹn để gặp tôi ở vịnh Hạ Long. Rồi cùng Hoàng hậu và năm con của chúng tôi, sau gần 30 tháng xa cách, chúng tôi làm một cuộc du hành trên khắp đất Pháp thời niên thiếu cũ. Chúng tôi giữ ẩn danh, đi bằng xe lửa, và tôi rất sung sướng chỉ cho con trai cả tôi, Hoàng thái tử Bảo Long, lúc đó gần mười hai tuổi, những phong cảnh mà tôi đã đi qua khi còn thơ ấu. Tất nhiên, chúng tôi đến Paris, để thăm bà Mémé Charles, lúc nào cũng hiền từ và tiếp đón chúng tôi rất ân cần, và chúng tôi đã đến mặc niệm trước mộ cụ Charles, cựu Toàn quyền Đông Pháp, đã mất trong thời gian chiến tranh. Chúng tôi cũng đến Lourdes mà Hoàng hậu muốn, để cầu nguyện cho hòa bình ở Việt Nam, và khấn vái Đức Mẹ Đồng trinh Massabielle che chở cho dân chúng Việt Nam.
Hy vọng và thất vọng 1948
Ông Bollaert hiểu rõ rằng tôi không muốn dây dưa gì với ông ta nữa. Thế là ông ta vội vàng nài nỉ với chính phủ, để được tiếp tục, bằng cách nhắc lại, cách đây hai thảng, ông ta đã được ủy cho toàn quyền điều khiển công việc. Nội các Robert Schuman cuối cùng phải thỏa mãn điều khẩn cầu của ông, và ngày 21 tháng 2, trong một bản tuyên cáo, đã tái xác nhận tín nhiệm đối với viên Cao ủy này.
Trong trường hợp đó, cần phải quay trở lại vấn đề tại chỗ. Để gia đình lại Cannes, tôi đi Hong Kong vào ngày 5 tháng 3 và chỉ đến vào ngày 18… Tôi không muốn chứng tỏ sự hấp tấp, bởi có thể coi như một dấu hiệu lo lắng về thái độ của tôi. Tôi đi từng chặng nhỏ một, lợi dụng cuộc xuất du này, để nghỉ ngơi một tuần ở Le Caire.
Khi trở về, tôi đã có một cuộc hội kiến khá lâu với Ngô Đình Diệm. Ông này cương quyết giữ lập trường xa lánh với viên Cao ủy, khi mà vấn đề thể chế chưa được giải quyết. Ông ta cho rằng thời gian ở Pháp của tôi, không đem lại được dữ kiện nào mới lạ. Tuy nhiên, tôi đã thuyết phục ông ta là, để khỏi bị coi là thủ phạm muốn kéo dài chiến tranh, cần phải dẹp bỏ tự ái cá nhân đối với Cao ủy Bollaert, để tiếp tục trở lại với ông ta. Tôi liền bảo Diệm trở về Sài Gòn, để thăm dò các tay thân cận của Bollaert, nhất là để biết xem có thể thiết lập được một chính phủ trung ương. Ổng ta nhận lời và ngày 22 tháng ba, được chính Cao ủy Bollaert tiếp kiến.
Ngày 24-3-1948, Diệm trở lại Hong Kong, thất vọng ra mặt. Viên Cao ủy Pháp có lẽ tưởng tôi sẵn sàng nhượng bộ, theo lập trường của ông ta, nên tỏ ra cứng rắn hơn trước: Thỏa ước thể chế phải được áp dụng, không cần phải điều đình gì với chính phủ Việt Nam, dù là ai cũng mặc, bởi chỉ có một mình tôi là được coi như người có tư cách điều đình, và chỉ còn tôi là người duy nhất mà ông ta điều đình, còn ý kiến thành lập một qui chế tự trị thì không thể chấp nhận được. Theo Diệm, chúng tôi chỉ còn một cách: Đợi chờ, và để khẳng định thái độ cương quyết của mình, ông ta đề nghị lập một Uỷ ban nghiên cứu, mà người ta đoán được dễ dàng là chẳng đi đến đâu.
Đa số các nhà ái quốc ở Hong Kong lại không đồng quan điểm với Diệm. Nhiều vị khác lại cho rằng, trái lại, cần phải để cho các cơ quan Pháp có dịp hành động. Vì thế, ngày 25 tháng 3, Bác sĩ Lê Văn Hoạch tuyên bố:
- Sự thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại là do áp lực của Việt Minh, và Việt Minh đã không tôn trọng các điều khoản liên hệ đến sự thoái ngôi này. Sự thoái vị đã không phải là một hành động tự ý, thì tất nhiên, nó bị coi như bất khả kháng, và phải được hủy bỏ. Trên công pháp, Bảo Đại vẫn là Hoàng đế. Nền quân chủ được phục hồi lập tức, không cần phải có Hội nghị Quốc gia Việt Nam nào cả.
Thật ra, sự giải thích hiện tình ấy không được đúng lắm. Nếu Việt Minh không thực hiện được những mục tiêu vì đâu mà tôi thoái vị, thì Việt Minh cũng không lợi dụng sự thoái ngôi này. Phần khác, tôi không quan tâm đến vấn đề phục hưng ngôi Vua, và sự trở về cầm quyền của tôi, theo hình thức này lại đặt tôi vào tư thế hạ phong đối với người Pháp, mà họ lại được lợi thế như thời trước. Sau nữa hình thức này không xứng đáng, và hại cho uy tín của tôi, điều làm giảm giá trị tinh thần của tôi, để mất mọi khả năng chỉ huy nhân dân Việt Nam trong những quyết định cần thiết.
Để cắt ngắn những lập trường mâu thuẫn ấy, tôi đề nghị tập họp một Hội nghị 5 vào ngày 26 tháng 3 (1948) ở Hong Kong khách sạn, để ra một thông cáo, thành lập một chính phủ trung ương lâm thời, không phải để điều đình về tương lai đất nước, mà để dùng làm “Tạm ước sống còn” với nước Pháp, có tầm trách nhiệm hạn chế, nhưng thực hiện được tức khắc, hầu giúp cho hai bên cơ hội hiểu biết nhau và thỏa hiệp bằng những sự việc cụ thể. Nó có thể thống nhất được các lực lượng quân sự võ trang hiện đang tản mát, và tổ chức được các cơ quan công quyền từ hành chánh đến chuyên môn trên bình diện quốc gia. Nó cũng có thể đặt ra được các Uỷ ban chuyên môn để sửa soạn đường lối thương thảo cuối cùng, và giúp tôi tìm được một thỏa hiệp nhất định với nước Pháp… Cuộc kháng chiến của Việt Nam nhằm vào mục tiêu áp lực cho cuộc thương thảo, do chính phủ kháng chiến hiện tại lãnh đạo, không có thể đưa đến thỏa hiệp nhất định, vì hoàn cảnh quốc tế không cổ lợi cho họ. Lập một chính phủ trung ương lâm thời, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế là điều vừa hữu lý, vừa cần thiết.
Các vị có mặt, đều chấp nhận bản tuyên ngôn này, và cử Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng tương lai cho chính phủ lâm thời đó.
Bản tuyên ngôn làm sôi nổi dư luận, và có giá trị ở chỗ là tôi vẫn muốn giữ mọi liên lạc với Pháp.
Tôi được biết, ít ngày sau đó, là bản này đã làm cho Cao ủy tức giận. Đứng trước một ngõ cụt mới, ông ta phải dùng đến thủ đoạn vốn là bản chất của ông ta. Ngày 27 tháng 3, ông ta cử sang Hong Kong người đại diện của đảng Xã hội ở Đông Dương là Louis Caput, mà cảm tình với Việt Minh đã rõ rệt, với sứ mạng tìm hiểu hiện tình của chính phủ Hồ Chí Minh, bên cạnh các tay mật vụ từ Tàu trở về, nhưng thực ra là để gieo rắc cạnh các chính khách quốc gia rằng tôi còn khó khăn, và tham lam hơn Việt Minh nhiều… Thủ đoạn gây hoang mang này kéo dài, từ Hong Kong đến Paris, nhưng cũng chẳng được ai hoan nghênh.
Để củng cố lợi điểm vừa đạt được trước hội nghị, tôi giao cho Bác sĩ Phan Huy Đán, ngày 12 tháng 4, đem đến cho Cao ủy một bức thư nhấn mạnh rằng, đề nghị về thể chế áp dụng chưa đủ để thỏa mãn nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, mà cần phải tải rộng căn bản bàn cãi, và tôi chưa thể điều đình được do không được ai trao phó cho sứ mạng ấy và chỉ có một đường lốì duy nhất là qua sự thành lập một chính phủ trung ương lậm thời.
Ngày hôm sau, tôi cho Trần Văn Tuyên giải thích rõ ràng hơn, với các đại diện chính trị và tôn giáo là nếu chính phủ trung ương lâm thời được ủy nhiệm đàm phán về bản thông cáo, về thể chế thực hiện, thì tôi chịu trách nhiệm đàm phán về thỏa ước nhất định, nhưng nhiệm vụ của tôi chỉ đóng vai trò trung gian, hay điều giải viên hạn chế có vậy mà thôi, chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định tự do với đầy đủ ý thức để thiết lập thể chế mà họ bằng lòng chấp nhận, sau khi trật tự và hòa bình được vãn hồi.
Ngày 24 tháng 4, tôi vời đến Hong Kong Thủ tướng Xuân, Phó thủ tướng Trần Văn Hữu, Bộ trưởng bộ Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ, và Bác sĩ Hoạch. Dụng ý của tôi là giải tán vấn đề ly khai. Tôi muốn sát nhập hẳn các đồng bào người Nam bộ, tôi dành cho họ tự chọn lấy vị trí trong chính phủ tương lai. Họ đồng ý và chúng tôi quyết định đặt ra thể thức để thực hiện. Hai vị chủ tịch Hội đồng An dân ở Hà Nội và Huế, và vị Thủ tướng chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam đều từ chức nhất loạt, và lập tức sẽ thành lập chính phủ trung ương, do tôi tấn phong. Ngày 29 tháng 4, các nhà hữu trách ở Hong Kong đều đồng ý thể thức này.
Được báo về dự định trên, ông Bollaert sung sướng được trở lại cuộc đàm phán, cũng chấp nhận dự định thành lập chính phủ trung ương, tuy nhiên với điều kiện là tôi phải công khai tấn phong chính phủ này, đồng thời chấp nhận cùng ký với ông ta vào bản thể chế, mà không có sự thay đổi nhỏ nhoi nào. Dưới điều kiện ấy, ông ta cho tôi biết vào ngày 3 tháng 5 năm 1948, là ông cam đoan sẽ được chính phủ Pháp chấp thuận.
Nay chỉ còn đi đến việc thực hiện. Nhưng ai sẽ là thủ tướng chính phủ trung ương đây? Diệm được mời, lại từ chối không chịu ký vào bản thể chế, nên không nhận. Hoạch thì bị nhiều lãnh tụ quốc gia khác bàn tán, cũng từ chối nốt. Chỉ còn hai người có thể đảm trách được là Xuân và Hữu. Hữu nhường cho thượng cấp của mình. Vậy thì Xuân là thủ tướng đầu tiên của chính phủ này.
Tôi cũng không bất mãn gì về sự lựa chọn này. Tôi biết tham vọng của Xuân, và dụng ý của ông ta là muốn thỏa mộng riêng tư qua lực lượng thứ ba. Thế nhưng, nếu thành công thì quyền năng hạn chế của ông, lại đặt ông ra ngoài việc theo đuổi đàm phán, còn nếu thất bại, thì “lực lượng thứ ba” cũng mất hết ảnh hưởng.
Thật vậy, ngay lúc khởi đầu đã thấy khó khăn rồi. Sự ứng cử của ông không liên kết được toàn thể mọi xu hướng. Việc vận động thành lập chính phủ kéo dài khá lâu. Để giúp ông ta dễ dàng hoạt động, ngày 15 tháng 5, tôi gởi cho ông ta một bức thư, ngỏ ý hoan nghênh đường hướng của ông và chúc đạt được nhiều thắng lợi. Sau khi có bức thư này, mọi sự việc tiến hành nhanh chóng.
Ngày 20 tháng 5, nhân dịp các vị chủ tịch Hội đồng An dân Huế và Hà Nội vào Sài Gòn, Xuân vội vã triệu tập một số đảng viên quốc gia và giáo phái, thêm vào đấy một ít người của Hội đồng Nam bộ, cộng khoảng 40 vị.
Cuộc hội nghị bỏ túi này, chẳng mang tính chất bầu cử, cũng không được ai ủy nhiệm, thảo một bản kiến nghị đặt tín nhiệm vào Thủ tướng Xuân để thành lập chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam, Và ngày 27 tháng 5, vị tân thủ tướng trình diện tôi tất cả nhân viên nội các. Số nhân viên này gồm đủ đại diện của ba kỳ, nhưng miền Nam nhiều người hơn và giữ những nhiệm vụ then chốt. Ngoài Tướng Nguyễn Văn Xuân thủ tướng, có:
- Trần Văn Hữu, phó thủ tướng
- Nghiêm Xuân Thiện, thủ hiến Bắc Việt
- Phan Văn Giáo, thủ hiến Trung Việt
- Lê Văn Hoạch, thủ hiến Nam Việt
- Nguyễn Khắc Vệ, bộ trưởng Tư pháp
- Nguyễn Khoa Toàn, bộ trường Nghi lễ và Quốc gia Giáo dục
- Nguyễn Trung Vinh, bộ trưởng Tài chánh và Kinh tế
- Phan Huy Đán, bộ trưởng Thông tin
- Trần Thiện Vàng, bộ trưởng Canh nông
- Đặng Hữu Chí, bộ trưởng Y tế
- Nguyễn Văn Ty, bộ trưởng Công chánh
- Trần Quang Vinh và Đinh Xuân Quảng, bộ trưởng Phủ Thủ tướng, đặc trách Quốc phòng và bí thư Văn phòng Nội các.
Trong dịp này, Xuân đọc một bản tuyên thệ đầy mỹ ý đối với tôi. Ông ta tuyên bố:
- Nhân danh cá nhân tôi, và nhân danh toàn thể nhân viên nội các trong chính phủ, tôi long trọng cam kết theo đúng đường hướng, và áp dụng trung thành các chỉ thị của Hoàng thượng, hầu phục vụ quốc gia và xứ sở, để kiến tạo, cứu nguy và rạng danh quang vinh của nựớc Việt Nam.
Như vậy, giống như các vị đang có mặt ở Hong Kong, ông ta vẫn coi tôi là Hoàng đế. Trái với nhiều người vẫn tưởng, ngay như đã vào quốc tịch Pháp, nhân dân miền Nam vẫn giữ niềm tôn quân sâu đậm đối với thể chế quân chủ. Theo truyền thống của hoàng triều, tôi xin nhắc lại, là các vị Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn chọn vợ người miền Nam.
Tại Paris, kể từ ngày 27 tháng 5, chính phủ đã công nhận sự thành lập chính phủ Xuân. Câu nói ngắn và gọn này trong bản tường trình của Hội đồng Bộ trưởng vỗn đã nghiên cứụ kỹ lưỡng tình hình Đông Dương, chứng tỏ một sự hài lòng của các giới ở Paris, đối với hoạt động này của tôi. Vì vậy, tôi thấy cần phải giải thích lần nữa, vị trí của tôi. Ngày 31 tháng 5, Trần Văn Tuyên, nhân danh tôi tuyên bố:
- Vua Bảo Đại coi chính phủ hiện nay là một bước tiến cho vấn đề đàm phán Việt - Pháp, nhưng vị trí của nó chỉ được coi là chính thức, khi nước Pháp công nhận chính phủ trung ương Việt Nam, sau khi được nước Pháp cam kết bảo đảm nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam: thật sự thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, Việt Nam được coi là một nước hoàn toàn tự do liên kết trong khối Liên hiệp Pháp, mà dân tộc được đặt ngang hàng, về quyền lợi cũng như về bổn phận. Mặc dù tân chính phủ trung ương không đả động đến hai chữ Hoàng đế, nhưng sự liên lạc vẫn chặt chẽ, và sự đoàn, kết nhất trí vẫn hiện hữu giữa chính phủ và vua Bảo Đại.
Ngày 2 tháng 6, chính phủ Xuân công bố bản quốc ca và quốc kỳ Việt Nam: ba vạch đỏ song song tượng trưng cho ba kỳ, trên màu vàng, là mầu của hoàng gia.
Cuộc họp để ký thỏa ước được Cao ủy định vào ngày 5 tháng 6 ở vịnh Hạ Long. Có lẽ ông ta muốn nhắc nhở đến lần gặp gỡ thứ nhất, giữa tôi và ông cách đây sáu tháng. Nhưng tôi chẳng khứng tới tí nào. Nay là lúc mà chính phủ trung ương hành động.
Thế là, ông Bollaert tin chắc rằng tôi vẫn không muốn gặp ông ta, nhất là sau bản tuyên ngôn ngày 13 tháng 5 từng làm các giới chức ở Paris lo ngại, nên Ông ta cũng rất là nôn nóng. Ông liền phái đến tôi một người để năn nỉ, xin tôi đến để dự khán cuộc ký kết, và chứng nhận vào hai bản văn kiện. Xuân vốn cần đến sự có mặt của tôi, nên ủng hộ mạnh mẽ vận động này. Thật sự thì tôi đã đạt được cụ thể điều tôi mong muốn, nên tôi nhận lời đến vịnh Hạ Long.
Tôi lại thuê lần nữa, chiếc Catalina của hãng hàng không dân dụng Úc, và ngày tháng chạp năm 1947, cùng với người em họ trung thành Vĩnh Cẩn, và vị tân Chánh văn phòng Đinh Xuân Quảng, tôi đến Hạ Long ngày 5 vào ban sáng, và đỗ ở cạnh chiếc thiết giáp hạm Duguay Trouin, ở đó ông Bollaert, Tướng Xuân và các tùy viên đang túc trực sẵn. Thấy tôi đến, các bộ mặt rạng rỡ hẳn lên.
Đến trưa, sau một cuộc nói chuyện ngắn ngủi, bắt đầu làm lễ ký các văn kiện. Một chiếc bàn đã được kê ở trên boong tàu, dưới tấm vải bạt lớn để che nắng. Không khí nặng nề và ẩm ướt. Một tiểu đội lính thủy quân lục chiến dàn chào.
Ông Bollaert và Tướng Xuân ký bản tuyên ngôn chung rồi đến bản thể chế, trở thành lý do cần thiết cho cái gọi là “Tạm ước sống còn” có tầm hoạt động hạn chế. Đến lượt tôi, tôi ký vào bản tuyên bố chung, như một chứng nhân, và tờ này được phép công khai phổ biến, còn đối với bản thể chế, tôi chỉ duyệt bằng hai chữ tắt đầu tên của tôi, như tôi đã làm ngày 7 tháng chạp trước. Lập trường của tôi vẫn không thay đổi.
Bản tuyên bố chung ở Vịnh Hạ Long
BẢN TUYÊN BỐ CHUNG KÝ NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1948 Ở VỊNH HẠ LONG giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và ông Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lảm thời Việt Nam, trước mặt Hoắng đế Bảo Đại.
Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương nhân danh Chính phủ Cộng hòa Phấp quốc, một bên,
và: Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quí ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.
Đã lập bản tuyên bố chung như sau:
1. Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía, Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sự sát nhập vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn, mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.
2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn, cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ và khuếch trương kinh tế của mình.
3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những sự thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế, tài chánh và chuyên môn.
Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long, ngày Năm tháng Sáu năm Một nghìn chín trăm bốn mươi tám.
BOLLAERT
BẢO ĐẠI VÀ NGUYỄN VĂN XUÂN
Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch
Nay là lúc đọc diễn văn. Đối với bài diễn văn của ông Bollaert và của Tướng Xuân tôi nói rất vắn tắt:
“Thưa ông Cao ủy, vào ngày tốt lành này, và ở giữa một khung cảnh huy hoàng của vịnh Hạ Long, từ nay đã đi vào lịch sử của nước tôi, Ngài vừa được chứng kiến, nhân danh nước Pháp, sự tự do thực hiện nền thống nhất của Việt Nam và nền độc lập quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Để cụ thể hóa đường hướng chính trị mới này làm tôn vinh nước Pháp và các vị đại diện cao cấp của quí quốc, Ngài vừa công nhận chính phủ trung ương đầu tiên của Việt Nam, do Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu. Thay mặt toàn thể đồng bào tôi, tôi xin chân thành cảm ơn”.
Người ta chụp hình. Bên cạnh ông Bollaert, có Tướng Blaisot, Đô đốc Battet, các Tướng Le Bris và Boyer de Latour, các ông Messmer, Chevanee-Bertin…
Chúng tôi dự tiệc chung với nhau. Đến chiều, Xuân, Hữu và các bộ trưởng của ông ta từ biệt chúng tôi để trở về Sài Gòn. Còn tôi ở trên tàu và buổi chiều, ăn cơm với ông BolIaert.
Viên Cao ủy có vẻ mặt rạng rỡ, làm cho tôi cũng vui lây. Tôi bảo ông ta:
- Thưa ông Cao ủy, tôi mong rằng nước Pháp sẽ hiểu, và có mỹ ý hủy bỏ bốn Thể chế đi, vì chúng tôi không muốn có bản ấy. Ngài biết chắc rằng, nền hòa bình phải trả bằng giá ấy…
Ông ta nhìn tôi, băn khoăn ra mặt, vì thế tôi nói tiếp:
- Tôi sẽ từ giã hẳn Hong Kong. Đó là một thời đã qua rồi. Tôi không có gì phải lưu lại đây nữa. Tôi sang Pháp và chỉ về nước khi mà tất cả các vấn đề đang ứ đọng được giải quyết, khi mà nền hòa bình được thực sự vãn hồi.
Sau lời đó, tôi để mặc ông ta với sự ngỡ ngàng, mà trở về buồng riêng trên tàu dành cho tôi.
Tôi khá hài lòng. Tất nhiên, không phải là hài lòng hoàn toàn, và thực tế chẳng có cái gì là vĩnh viễn. Nhưng tôi đã đạt được cái mà Việt Minh bị từ chối. Những chữ độc lập và thống nhất đã được chính thức ghi nhận… Hơn nữa, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đang đặt nền móng thực hiện. Tôi đã loại bỏ được một gánh nặng phải kiện toàn, và giữ được sự tự do hành động, để dành cho tương lai.
Ngày hôm sau, Chủ nhật, vào lúc ăn sáng, tôi lại đối diện với ông Bollaert. Ông ta như chưa muốn cho tôi đi, và làm bộ thân thiện, ông ta muốn biết định kiến thực sự của tôi, đồng thời muốn giữ tôi ở cạnh ông ta. Ông hứa hẹn đủ điều. Nhưng đã biết người, tôi cương quyết giữ vững lập trường.
- Không, thưa ông Cao ủy, hẳn Ngài đã hiểu quá rõ ràng những điều tôi nói hôm qua. Tôi đi ngay và về thẳng Pháp, để trở về với gia đình. Tôi có bổn phận đối với gia đình…
Nói xong, tôi lên chiếc Catalina và ngồi cạnh viên phi công. Tôi chỉ thị cho phi công: “Múi về Nam”.
Đến 10 giờ, chúng tôi bay đến Huế. Tôi bảo phi công hạ thấp đến sát mái nhà. Chúng tôi lượn thành vòng rộng. Đây là hoàng cung, bị phá hủy một phần; đây là sông Hương với hai cây cầu đổ: cầu Clémenceau và cầu xe lửa. Đây là cung An Cựu của Đức bà Từ Cung, mẫu thân tôi. Sau khi lượn trên lăng chúng tôi lại bay vòng lại lần thứ hai. Cánh quạt nổ ròn như lời chào biệt, chúng tôi lên cao để vượt rặng Trường Sơn, rồi chiếu về Bangkok.
Tôi tin chắc mẫu thân tôi, nghe tiếng động cơ, đứng trên thềm điện, đã trông thấy máy bay, và Đức bà hiểu đấy là dấu hiệu của tôi…
Đến Bangkok, tôi đi chuyến máy bay thường lệ, và lại là chuỗi đỗ ở từng chặng: Rangoon, Calcutta, New Delhi, Le Caire, Tripoli, Tunis và tới phi trường Bourget.
Tất nhiên thành quả đạt được ở vịnh Hạ Long chỉ trở thành cụ thể trong trường hợp là một mặt chính phủ Nguyễn Văn Xuân phải tỏ ra hữu hiệu và mặt khác, chính phủ Pháp phải thành thực để hoàn tất nhanh chóng sự bàn giao cho Việt Nam.
Thế mà, điều tôi biết khi trở về đến Paris, thật còn xa mới tới được hai điểm mong ước này, và tôi chỉ còn vui mừng được chút ít là tôi đã đứng được ra ngoài.
Tại Sài Gòn, sự trở về của Tướng Xuân được một chiến dịch do một nhóm lạc hậu của xã hội thực dân đàn chào. Bọn này từ chối tất cả các sự nhượng bộ. Họ chống cả lại Bollaert, kết ông ta vào tội chống lại chính lệnh, vì đã bỏ xứ Nam kỳ là một phần của đất đai nước Pháp.
Tại Paris, bản tuyên bố của Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Paul Coste Floret đọc trước Quốc hội ngày 8 thống 6, gây sóng gió hơn cả. Nhắc lại bản thỏa ước ký ngày 5 tháng 6, ông ta nhấn mạnh:
- Để chắc chắn tránh mọi mâu thuẫn, đã nhiều lần, tôi lưu ý ông Cao ủy là lập trường của chính phủ Cộng hòa Pháp quốc muốn giữ thuần nhất nền ngoại giao và vấn đề quốc phòng cho toàn thể Liên hiệp Pháp. Tôi cũng đã bảo cho ông ta biết là lực lượng võ trang của Việt Nam chỉ được đặt trọng tâm váo lực lượng cảnh bị, để giữ an ninh nội bộ.
Sau hết, về quy chế cho Nam kỳ, đã được nói rõ ràng từ đây của cả, những văn kiện sẽ ký ở vịnh Hạ Long không được dính líu gì vào sự thống nhất ba kỳ, mà được nước Pháp công nhận, nhưng nước Pháp còn đợi chính phủ Xuân hành động, trước khi đặt lập trường chính phủ. Pháp không chấp nhận giờ đây, sự thống nhất ba kỳ. Chính phủ không chống lại sự thống nhất của Việt Nam, nếu đó là điều mong ước của dân chúng được thể hiện một cách dân chủ. Chính phủ Pháp xác nhận rằng, không thể có sự thay đổi gì vế quy chế của Nam kỳ được thực hiện, nếu không có quyết định của Quốc hội của mẫu quốc.
Qui chế ba kỳ nói chung một thứ tiếng Việt Nam, như đã được ẩn định bởi các hiệp ước ký với triều đình Huế như vậy không được thay đổi.
Khi lời tuyên bố ấy bay đến Sài Gòn, đó là một tai họa. Chúng tôi không còn vị trí năm 1945, mà trở về hiệp ước năm 1884… Thật vô lý, không ai hiểu nổi nữa. Việt Minh được lợi: “Thấy chưa, chúng ta không thể tin vào Pháp được”. Bọn thực dân ăn mừng. Nhiều bộ trưởng, trong đó có Trần Văn Hữu vừa được bổ làm Thủ hiến Nam bộ, liền co vòi lại: “Ông Cao ủy không được toàn quyền của chính phủ ở vịnh Hạ Long, người ta đã chơi xỏ chúng tôi”
Tội nghiệp cho Tướng Xuân, ngày 14 tháng 6 vừa ra một quyết định đầu tiên bổ nhiệm ba vị thủ hiến cho ba kỳ Bắc, Trung, Nam và chỉ thị cho họ phải áp dụng cho từng kỳ, quyết định của chính phủ trung ương, nay rơi từ trời xuống đất. Các bộ trưởng miền Nam, dưới áp lực của Hội đồng Nam bộ, bỏ rơi ông ta. Việt Minh kết ông ta tội phản quốc, và lên án tử hình vắng mặt.
Tất cả sự đó chứng minh cho tôi rằng các nhà lãnh đạo Pháp đã hoàn toàn mù tịt về vấn đề Việt Nam, và các khía cạnh tâm lý của nó. Thật ra, điều quan tâm này của họ chỉ là phụ đối với chính nội bộ chính trị nước Pháp, và sự cần thiết, tùy theo trường hợp, để thỏa mãn phần dư luận này hay nọ mà họ cần đến, hầu có thể giữ được quyền hành. Đó là hậu quả bi thảm của một nền dân chủ đã bị suy thoái đến chỗ mất hết ý niệm về quyền bính và lợi ích chung trong việc phục vụ. Dù sao thì tôi càng vững chắc tự tin ở mình, là chỉ có hành động mới đáng kể, và tôi chỉ có thể tự hào là đã không chịu nhân nhượng cụ thể nào đối với Pháp.
Điều làm tôi thất vọng trong vấn đề này, đó là cảm tưởng bi thảm của dân chúng Việt Nam. Thỏa hiệp mùng 5 tháng 6 không đem lại cho họ sự hăng say hứng khởi nào. Họ khôn ngoan gạt bỏ ảo tưởng, để đợi chờ. Đối với họ, độc lập chỉ là một thực thể, ngày mà họ không nhìn thấy lính Pháp trên đất nước. Từ nay đến lúc ấy, chắc chắn còn nhiều nỗi thống khổ cần phải chịu đựng. Thế nhưng, họ lại không vô tình đối với những lời tuyên truyền của Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ Thông tin của chính phủ Hồ Chí Minh. Đài địch, và những lời rỉ tai luôn nhắc lại, và rêu rao là chính phủ Xuân chỉ là một chính phủ “bù nhìn” do Pháp giật giây. Tất nhiên, ai tham gia vào chính phủ ấy, hay đã ủng hộ chính phủ ấy mặc dù không hô đích danh ai đều bị liệt vào tội đồng lõa hoặc có thể bị coi là đã bị Pháp mua chuộc và ru ngủ.
Ông Bollaert cũng thất vọng không kém. Ông ta muốn tiếp xúc với tôi để đánh một ván bài sả láng, là muốn mời tôi trở về Việt Nam, nên cuối tháng sáu đã vội vã đến Paris ngay.
Tôi biết là vị trí của viên Cao ủy này rất bấp bênh. Hơn ai hết, ông ta cũng ý thức được sự bấp bênh này, kể cả sự bấp bênh của chính phủ Pháp nữa. Chung qui, tôi nghĩ rằng, điều làm ông ta phải sang Pháp này, chính là do thủ đoạn mà trước đây đã tường nắm được tôi, nên nay phải cố gắng thu xếp, khổ cho ông ấy là như vậy.
Từ thâm tâm, tôi cảm thấy khoan khoái vô cùng.
Về thời ấy, và cả về sau nữa, người ta thường cho rằng tôi rất yếu, chẳng có tí gì để “làm vốn” và sự đại diện của tôi thật đáng ngờ. Nhận định ấy, có lẽ hợp lý đối với bộ óc Tây phương: chính trị gia, nhà báo, sử gia… Nhưng họ đã quên mất một yếu tố quan trọng: đó là vị trí chính thống của ngôi Thiên tử của tôi 6. Vị trí chính thống này, có lẽ chỉ mình tôi cảm thấy. Nó không thể được ghi vào là một yếu tố cụ thể trong một cuộc đàm phán ngoại giao, và nhất là đối với tôi hơn là đối với bất cứ ai, tôi không thể xuất trình ra được. Tuy nhiên, nó có và với một sự thể hiện vô cùng mạnh mẽ, mạnh hơn cả các dữ kiện chống tôi nữa. Có lẽ không bao giờ tôi có thể thuyết phục được sự hiện hữu ấy, với những ai chỉ công nhận qua nhãn giới bề ngoài, những ai không phải là dân tộc của nước tôi. Hơn thế nữa, kể cả trai hay gái thuộc dân tộc tôi, cũng khó có khả năng giải thích được, sao cho vỡ nghĩa, giá dụ như vấn đề được đưa ra trước một cuộc thảo luận công khai như kiểu trưng cầu dân ý. Đối với những phản ứng của tôi, với hành động của tôi, dân chúng đã giải thích tùy theo trình độ hiểu biết của họ, quan niệm của họ… Vì vậy, đã có cả chuỗi dài huyền thoại nói về con người của tôi, nhiều khi ngây ngô, thú vị làm tôi không nhịn được cười. Tôi không rõ vì bí mật gì thúc đẩy, hay là vì ông ta sanh ra trên đất Á Đông này, mà một nhà báo kia, đã viết và dựng nên một huyền thoại, với sự hiếu biết khá sâu sắc. Thế nhưng, thay vì làm cho độc giả hiểu một cách hữu lý, thì ông ta đã đưa đến một kết quả méo mó, bởi không đạt trong sự diễn tả. Ngược lại, Hồ Chí Minh, thì ý thức rõ rệt được sự chính thống ấy.
Dù bằng lời nói hay cử chỉ, lúc nào ông ta cũng cố gắng muốn khoác cho mình, nhưng chẳng bao giờ đạt được…
Vậy thì, viên Cao ủy giờ đây về Paris là muốn được sự duyệt y của Thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Để rồi với cái mẩu thành công tí teo này, ông ta cố gắng làm cho tung ra thành một chiến thắng lẫy lừng. Nhưng ông ta lại vấp phải sự phân hóa của nền chính trị Pháp quốc. Không một đảng nào, một phe nhóm nào, sẵn sàng yểm trợ cho ông ta, điều mà ông ta vẫn đợi chờ. Tôi được biết như vậy ngay sau khi đến Paris, khi tiếp xúc với một số chính khách.
Ngay cả đến những người được coi là có thiện chí nhất với giải pháp phù hợp với đường lối hiện tại của Pháp lúc ấy, như phe De Gaulle của Cộng hòa Dân chủ Pháp RPF, cũng không mấy sốt sắng ngay. Họ muốn dành sự ủng hộ này, đúng vào lúc sát kề, mà họ đạt được đa số để cầm quyền. Tướng Benouville đã bảo thẳng với tôi như vậy.
Còn về các nhóm khác, dù là đa số hay bọn đối lập, họ còn lâu mới tới giải pháp trong đó dành độc lập và thống nhất cho Việt Nam, cả với sự bảo đảm của tôi cũng bị bọn Cộng sản từ chối thẳng thừng khi không đàm phán với Hồ Chí Minh. Nhiều đảng viên Xã hội về phe cộng sản, và tất cả đều ở thế dè dặt. Bọn Cộng hòa tả phái như thường lệ, vẫn từ chối không chịu điều đình. Bọn Cộng hòa dân chủ thì coi việc thực hiện thỏa ước mùng 5 tháng 6 như một sự sa hố, e ngại rằng có thể kéo nước Pháp đến chỗ nhượng bộ bất khả chấp thuận. Còn đối với phe đối lập và cực hữu, họ cho là đã đi quá xa và chỉ chấp nhận dùng binh lực để trở về quy chế cũ.
Tôi để cho các thân cận của tôi giải quyết: Nguyễn Mạnh Đôn, Bửu Lộc, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định tiếp xúc với họ, và ngày 11 tháng 7, tôi gởi cho ông Bollaert một giác thư nhấn mạnh là ngày 5 tháng 6, tôi chỉ đóng vai nhân chứng, và các điều khoản ghi trong bản thể chế, không phải là thứ “có thể đưa đến hòa bình và đặt nền tảng thân hữu lâu dài giữa hai dân tộc của chúng ta được”.
Ngày 19 tháng 7, chính phủ Schuman đổ, chứng tỏ sự thận trọng của tôi là đúng. Một tuần sau, ông André Maris lập tân nội các. Ông Paul Coste Floret vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại và ông Robert Schuman thay ông Georges Bidault giữ Bộ Ngoại giao.
Trong phiên họp ngày 15 tháng 8, ở Sài Gòn, Hội đồng Nam bộ ngỏ ý mong muốn Quốc hội Pháp chuẩn y bản thỏa ước ở vịnh Hạ Long.
Trước Nghị viện, tân nội các Pháp ngày 19 tháng 8 trình bày đường lối chính trị về Đông Dương, và đạt kết quả tối đa về tín nhiệm. Sau khi khâm phục hành động của viên Cao ủy Pháp, và ngợi khen ông ta về những điều khoản ghi trên thỏa ưởc mùng 5 tháng 6:
- Chính phủ chấp nhận toàn thể và long trọng các điều khoản ghi trên thỏa hiệp. Mặt khác, trung thành với nhiệm vụ cố hữu của nước Pháp, vốn đã ghi rõ trên bản Hiến pháp, là dẫn dắt các dân tộc mà nước Pháp có trách nhiệm, đưa đến tự do, để tự cai trị lấy mình, và quản trị lấy công việc của nước họ một cách dân chủ, chính phủ Pháp hiểu rằng tham gia vào Liên hiệp Pháp, trong tinh thần hoàn toàn bình đẳng, và độc lập, các quốc gia Đông Dương từ nay có trách nhiệm chung để phát triển nền thịnh vượng tròng hòa đồng và hòa hợp tốt đẹp. Mặt khác nữa, chính phủ Pháp coi thể chế hiện hữu của xứ Nam kỳ không phù hợp với tình trạng hiện tại, và chỉ có dân chúng xứ ấy mới có quyền quyết định tự do về thể chế nhất định của mình, trong khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ cũng nhắc lại lời kêu gọi của viên Cao ủy, gửi cho tất cả mọi gia đình trí thức và chính trị gia ở Việt Nam để mời họ tham gia vào sự hợp tác này trên căn bản xây dựng độc lập và hòa bình. Chính phủ mong muốn rằng, khi mà hoàn cảnh thuận tiện, để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý và tạo lập một chính phủ nhất định, miễn là những cơ cấu dân chủ phải được thực hiện và có kết quả ở khắp lãnh thổ, của một quốc gia tự do.
Tôi cũng ghi nhận rằng lời tuyên bố này không đá động gì đến tôi, hay đến chính phủ của Tướng Xuân, và như vậy, nó chỉ là lời nhắc lại của các điều khoản ghi trên bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Nó không đá động gì đến những vấn đề thiết yếu đang để lửng lơ ở trong bản thỏa hiệp. Cuối cùng, nó không phải là bản chuẩn y do Quốc hội chấp nhận, nhưng chỉ là sự đồng ý mà thôi.
Thế rồi, viên Cao ủy lợi dụng chỗ được tuyên dương, và sự kêu gọi các nhà trí thức và chính trị gia hợp tác, liền xin gặp tôi.
Cuộc tiếp xúc diễn ra ngày 25 tháng 8 năm 1948, ở lầu Henri IV, tại Saint-Germain-en Laye. Lúc nào cũng ra vẻ tự tin và vững vàng, ông ta làm ra bộ đã quên mọi sự không ưa lẫn nhau của tôi, ông ta nói:
- Thưa Ngài, bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long này đã được xác nhận rồi. Chính phủ Pháp chỉ có thể và chỉ muốn đàm phán với Ngài mà thôi. Nay là lúc mà Ngài nên trở về Việt Nam để điều khiển thực sự công tác. Nếu Hồ Chí Minh chịu hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ Pháp, thì với Ngài mà ông ta phải thảo luận…
- Thưa ông Cao ủy, tôi chưa bao giờ nghe thấy tất cả sự đó. Tôi chưa bao giờ nghe đến cái gì liên can đến tôi, và tôi vẫn chờ nghe những đề nghị của chính phủ quí quốc. Nhưng điều thiện chí chưa đủ để nói hết
Thế là với sự bực mình rõ rệt, ông ta tiếp:
- Thời gian sẽ đến với Ngài. Có lẽ cũng còn lâu lắm thưa Ngài, nhưng mà chính Ngài phải hành động trước. Ngài sẽ nhận thấy…
- Thưa ông Cao ủy, Ngài vừa nói đến thời gian. Nhưng mỗi một chút thời gian qua đi, là máu của nhân dân tôi vẫn chảy, và chính tôi phải chịu trách nhiệm trước họ. Vì thế, tôi không thể trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Tôi mong rằng nước Pháp bỏ hẳn các điều khoản vô lý ghi trên tờ thế chế, nước Pháp tuyên bố chân thật và dứt khoát rằng ba kỳ chỉ hợp lại thành một và cùng trong một nước. Như vậy, thì Ngài có thể tin ở nơi tôi được.
Nhận thấy rằng lần nữa, thủ đoạn của ông ta bị thất bại, ông Bollaert rút lui, và không quên nói một câu để giữ thể diện:
- Thưa Ngài, tôi hy vọng chúng ta sẽ gặp nhau ngày gần đây.
Để chứng tỏ rằng tôi đang phải đương đầu với ai, tôi quyết định không chùn bước. Tôi trở về Cannes với gia đình tôi.
Giữa lúc ấy, chính phủ André Marie bị bắt buộc phải từ chức. Chính phủ này chỉ đứng được hơn một tháng. Làm sao mà tôi có thể điều đình nghiêm chỉnh trước một sự bấp bênh như vậy được? Bây giờ là ông Henri Queuille, ngày 11 tháng 9 lập tân chính phủ. Và ông Coste Floret, chắc chắn là ngồi dai đến chết, vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại.
Sau đó ít lâu, tôi bị bệnh đau gan, nên phải về Paris chữa bệnh. Giữ kín danh tánh tôi kín đáo cư ngụ tại khách sạn California, phố Bercy, rất gần phòng mạch của bác sĩ điều trị.
Tôi còn đang đau, thì ngày 17 tháng 10, vào buổi trưa, có người kêu điện thoại gọi tôi:
- Thưa Hoàng đế, có người muốn xin được gặp Hoàng đế.
- Xin trả lời là tôi đang đau, và không thể tiếp ai được. Tôi đáp, và tắt máy.
Lại chuông reo lần nữa.
- Thưa Hoàng thượng, vị quí khách năn nỉ xin gặp là ông Haussaire. 7
- Không, tôi không muốn gặp ai…
Chưa hết câu, thì có tiếng gõ cửa. Bực tức đến tột độ, tôi sẵn sàng nổi sùng với kẻ vô ý thức đó.
- Vào.
Thì đó chính là ông Bollaert đã lao vào như gió. Mặt ông ta biến sắc. Ông ta tháo mục kính ra rồi lại đeo vào mắt, chỉ đủ thời gian để thở. Tôi hơi buồn cười về sự xâm nhập của ông ta. Thế là ông Cao ủy bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, xin Ngài tha lỗi cho tôi đã bắt buộc phải đột nhập phòng Ngài trái phép, nhưng tôi cần phải gặp ngài ngay.
Tôi im lặng. Ông ta tiếp, gần như cầu khẩn:
- Thưa Hoàng thượng, tại sao Ngài lại không trở về Việt Nam?
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi tưởng đã nói với Ngài Cao ủy rồi, là tôi không thể trở về nước tôi với hai bàn tay trắng được. Chẳng hay lần này, Ngài Cao ủy có đem cho tôi tin tức mới lạ nào không?
- Thưa Hoàng thượng, tôi tin rằng Ngài từ chối không chịu vào đấu trường.
- Vâng, có lẽ lắm. Vậy thì tôi muốn biết ai là con bò mộng, và ai là tên đấu bò đây?
- Thưa Hoàng thượng, hẳn Ngài biết rằng hòa bình sẽ trở lại, với điều kiện là Ngài phải trở về Việt Nam.
- Thưa Ngài Cao ủy, xin đừng ép tôi. Ngài đã có Tướng Xuân, xin hãy đàm phán với ông ta!
Lập tức, mặt ông ta tái nhợt, ông ta nói với tất cả sự tuyệt vọng vô cùng:
- Tôi tin rằng, tôi chỉ còn có cuốn gói là hết.
- Đó chính là điều tốt nhất cho Ngài vậy.
Tôi nhìn ông ta đi ra. Đây là người tuyệt vọng đã đi ra.
Tiến tới một giải pháp
Hai ngày sau, tôi được biết qua tin các báo là ông Bollaert không xin tái nhiệm nữa. Và ngày 21 tháng 10 năm 1948, chính phủ Pháp cử ông Léon Pignon làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Tôi từng biết danh tiếng của ông ta, từng là cố vấn chính trị của Jean Sainteny, rồi của Đô đốc Thierry D’Argenlieu, trước khi làm Thượng sứ Pháp ở Cam Bốt. Vốn là người thuộc ngành cai trị thuộc địa, ông ta được tiếng là rất thành thạo các vấn đề và hoàn cảnh ở Việt Nam.
Hoàn toàn bình phục, tôi trở về Cannes. Tại đây, vị tân Cao ủy Đông Đương đến xin gặp tôi.
Khác xa vài người tiền nhiệm của ông ta, sự nhã nhặn và lịch sự của ông giúp chúng tôi dễ dàng trong cuộc tiếp xúc đầu tiên. Phải chăng đây là bước đầu cho sự thông cảm lớn hơn xưa? Ông Pignon trình bày một cách giản dị và khiêm tốn nhận định của ông về Việt Nam, tình huống mà ông ta phải đảm đương công tác, còn trách nhiệm lớn lao nằm trong tay viên Bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại là ông Coste Floret.
- Thưa Hoàng thượng, tôi mong rằng sự tín nhiệm được văn hồi giữa Hoàng thượng và chính phủ Pháp, đó là một điều kiện cần thiết, nếu chúng ta muốn tiến mãi lên nữa.
- Hơn ai hết, thưa Ngài Cao ủy, tôi là người mong muốn nhiều nhất về sự tín nhiệm hỗ tương đó, nhưng cho đến nay, tôi chưa được đền đáp xứng đáng, điều mà tôi đã dành cho nước Pháp.
- Thưa Hoàng thượng, điều kiện thứ hai cũng vô cùng quan trọng, đó là sự trở về Việt Nam cửa Hoàng thượng. Đây là chiếc chìa khóa mà chỉ có nó mới mở được của Ngài cho sự tái lập hòa bình mà thôi.
Tự dưng tôi đã cảm thấy không có gì thay đổi. Thừa hành nghiêm chính chính sách của chính phủ, ông Pignon cũng dùng chung một luận điệu của vị tiền nhiệm của ông ta. Ông ta cũng nôn nóng như người cũ vậy. Thế là tôi không nén được một phút bực mình:
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi đã nhiều lần xác nhận vị trí của tôi với ông Bollaert rồi. Đó là với chính phủ của Tướng Xuân, mà quí vị có thể theo đuổi cuộc đàm phán…
Thật vậy, vì nước Pháp chẳng chịu thí cho một chút nhượng bộ nào, viên Thủ tướng sẽ không có thực quyền. Thiếu phương tiện tài chánh, không quân đội, không cảnh sát, ông ta sẽ bị lệ thuộc vào nền cai trị của Pháp, lúc ấy vẫn tiếp tục quản trị các công việc của Việt Nam.
Vậy thì chẳng ai còn phải ngạc nhiên, nếu vị trí của Việt Minh có củng cố lại được, dù có bị chúng tôi làm cho lung lay đến tận gốc rễ. Bộ máy tuyên truyền của Việt Minh tha hồ mà rêu rao Xuân là bù nhìn của Pháp. Người ta cũng chẳng còn ngạc nhiên hơn nữa, nếu vì chán nản và tuyệt vọng, mà nhiều đầu óc đã bắt đầu hoài nghi của những ai từng tin vào nước Pháp, dù đã được tôi bảo đảm đến mấy cũng mặc. Sau khi giải thích tất cả những chi tiết ấy cho viên tân Cao ủy, tôi nhấn mạnh:
- Thưa Ngài Cao ủy, hẳn Ngài thừa biết, trước những lý do đó, tôi không thể trở về Việt Nam được. Về cũng chẳng ích gì. Xin hãy ngưng ngay sự bảo hộ trá hình kia, và trả lại cho chúng tôi nền độc lập thực sự. Hãy trả lại cho chúng tôi đất Nam kỳ để cụ thể hóa nền thống nhất của đất nướe Việt Nam chúng tôi. Nước Pháp đã lầm lẫn là giữ tay này lại, mà tưởng là đã cho bằng tay kia. Nước Pháp đã lầm, và, chính là nhân dân nước Việt Nam phải chịu hậu quả của sự lầm lẫn ấy, hay hơn nữa, của sự phạm lỗi ấy.
Ông Pignon không nói gì. Tôi giữ ông ta lại dùng cơm sáng. Sau bữa ăn, tôi cố gắng đặt ông ta vào chỗ chia xẻ nỗi bi thảm của dân tộc tôi và những nguyện vọng của họ. Ông ta chỉ nói về những biến cố mà ông ta đã trải qua từ 1945 đến 1946 ở Hà Nội. Lợi dụng kẽ hở này, tôi bảo ông ta:
- Thưa Ngài Cao ủy, hẳn Ngài chưa quên là tôi vẫn được Việt Minh giả trá, mập mờ, đặt tôi vào vị trí cố vấn tối cao của họ…
Tôi nhắc lại cho ông ta là về thời ấy, tôi đã trao quyền cho Uỷ ban Cách mạng, và đứng vào hàng ngũ của họ, chính là để góp phần kiến tạo nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, và để tránh cho dân tộc tôi nội chiến tương tàn. Việt Minh vì lý do làm tay sai cho cộng sản - mà lúc ấy chúng tôi chưa tường - đã phản bội hy vọng của chúng tôi. Nhưng, khi mà tôi từ bỏ chúng, thì nước Pháp lại đi điều đình với chúng. Vậy thì chính nước Pháp đã củng cố vị trí cho Hồ Chí Minh, cho đến ngày mà quý quốc hiểu thấu được những yêu sách của họ. Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp có đoạn giao với “bác Hồ,” chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn là vì lý do họ là cộng sản quốc tế. Không còn giải pháp nào khác, nước Pháp đành phải quay sang tôi, hy vọng rằng tôi sẽ dễ dàng thỏa hiệp hơn họ, nhưng nước Pháp lại vấp phải sự đội hỏi của tôi y như của họ vậy.
Quả nhiên, người Pháp đã không hiểu biết tí gì về những sự kiện đã xảy ra ở Viễn Đông trong hai năm gần đây. Tất nhiên là chiến tranh rất tai hại và quá tốn kém cho một nước vừa ốm lại sức, nhất là cũng sợ ảnh hưởng của một viễn ảnh thắng trận rất có thể thành tựu của phe cộng sản ở Tàu, một cuộc thắng có thể gần như chắc chắn. Bởi vậy, tôi hiểu nước Pháp rất nôn nóng đạt kết quả, và ý đồ hòa bình của họ. Nhưng chính là ở người Pháp phải thủ tiêu quyền sở hữu của Việt Minh, và như vậy chỉ có một cách: trao cho tôi cái mà họ không muốn trao cho Việt Minh. Vì thế, tôi kết luận:
- Quý ông hãy nhấc cái mặt nạ cộng sản Việt Nam, giả trá là người quốc gia, mà họ đã thành công trong khi lừa bịp dân chúng và để chứng minh công khai trước dư luận quốc tế. Như vậy, thiếu căn bản ấy, Việt Minh sẽ không còn lý do tiếp tục chiến đấu, họ sẽ chỉ là một đảng phái như mọi đảng phái khác. Vì xin Ngài tin rằng thưa Ngài Cao ủy, chính tôi cũng rất mong muốn hòa bình.
Vài ngày sau, ông Pignon đi Sài Gòn. Tôi đi Paris, và gặp ông Coste Floret và Bác sĩ Henri Queuille, tân Thủ tướng Nội các. Ông này tiếp tôi rất niềm nở, và ông ta gần như hoàn toàn không biết gì về Đông Dương. Đó là hình ảnh gần như toàn diện của người Pháp trung lưu, hơi lè phè bệ vệ ít nhiều, có hàng ria mép tiêu muối. Ông nghe tôi nói với đầy thiện cảm. Trước mặt ông, tôi lại nhắc lại những dữ kiện mà tôi đã đàm thoại với ông Cao ủy.
Khi tôi nói đến sự cần phải loại trừ chủ quyền của Việt Minh, ông có vẻ đồng tình, và bảo tôi:
- Hoàng thượng rất có lý, nhưng cần phải chú trọng đến hiện tình chính trị ở Pháp, và chính chỗ đó mới là điều rắc rối. Chúng tôi sắp mở một hội nghị bàn cãi về Đông Đương ở trước Hội đồng. Tôi không dám chắc là đạt được đa số, vì tôi vừa bị phe cộng sản chống đối, khi không chịu nghe gì nếu không nói đến Hồ Chí Minh, lại vừa bị phe De Gaulle kịch liệt bỏ ngoài tai khi đem sát nhập xứ Nam kỳ vào Việt Nam, bởi họ đã coi như bỏ rơi một phần đất đai của Pháp.
Một ý nghĩ bỗng nảy ra trong óc tôi, tôi liền cắt lời ông ta:
- Thưa Ngài Thủ tưởng, nếu tôi lấy được phiếu của đảng Cộng hòa Dân chủ cho Ngài thì Ngài có đền đáp lại cho tôi sự trở về của Nam kỳ cho nước tôi?
Bác sĩ Henri Queuille hơi thoáng một nét cười láu lỉnh:
- Hoàng thượng vẫn có thể thử xem… Tôi không dám hứa hẹn gì với Ngài, vì sự đó không giải quyết riêng được vấn đề của Hiến pháp… Chúng ta sẽ liệu xem sao…
Tôi lại đến gặp Tướng Guillain de Benouville, nghị sĩ thuộc đảng De Gaulle mà tôi đã từng có dịp gặp gỡ, và trình bày ý kiến với ông ta. Ông ta khuyên tôi nên nói với một nghị sĩ khác, cũng ở đảng De Gaulle, là ông Terrenoire, được coi là tai mắt của De Gaulle.
Lập tức tôi đi Cannes và mời ông Terrenoire. Ông ta liền tới ngay. Hình thức thì ông ta cũng chẳng biết gì về Đông Dương y như vị Thủ tướng này vậy. Ông ta không chối điều đó, nhưng khi tôi nhắc lại những lý lẽ mà tôi vừa nói trên lần nữa thì ông ta nghe, ông ta nhìn tôi, với đôi mắt sáng quắc sau chiếc mục kính dầy cộm và đáp rằng:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài nói rất hợp lý, và tôi chịu là đúng, nhưng tôi còn phải gặp Đại tướng, chỉ Đại tướng mới có quyền quyết định.
Và ông đã đi Paris ngay.
Hai hôm sau, tôi cũng lên Paris. Ông Terrenoire về đến Colombey (nơi ở của Tướng De Gaulle). Nhìn vẻ mặt ông ta, tôi biết là sự vận động của ông đã thất bại. Ông ta xác nhận với tôi:
- Đại tướng không chịu. Không thể bỏ một phần đất của lãnh thổ quốc gia Pháp. Xứ Nam kỳ là đất thuộc địa từ 1884, đây là đất Pháp. Đấy chính là điểm quan trọng nhất mà Đại tướng tỏ ra rất cứng rắn, không gì lay chuyển được.
Thật sự, tôi rất băn khoăn mà không muốn tỏ cho người đối thoại biết, nên giả trá làm như câu trả lời này không phải là nhất định, tôi bắt dầu tấn công. Một lần nữa tôi lên án bản Dự thảo về Thể chế, phụ đính vào bản Tuyên bố chung, nhấn mạnh đến chỗ mâu thuẫn giữa hai bản này. Rất bình tĩnh, tôi đặt trách nhiệm vào nước Pháp, trình bày giải pháp của tôi, kêu gọi tái lập hòa bĩnh, và tôi kết luận một cách mạnh mẽ thẳng thừng:
- Bất cứ một nền chính trị nào của Pháp cũng đều là sự điên cuồng, mất hướng. Quí ông tự nhận trước mắt thế giới là một nước Pháp mới, nước Pháp quảng đại của chiến thắng giải phóng. Quí ông không thể nào phạm vào điều điên rồ như thế này được. Quí ông sẽ hốì hận đau khổ, vì rồi đây điều mà quí ông không muốn tặng một cách vui vẻ và thân thiện thì quí ông sẽ bị giật mất trong máu và nước mắt.
Trong một bữa tiệc ở đại lộ Saint Germain, tôi lại gặp lại Tướng Benouville và rất đông đồng chí đảng De Gaulle của ông ta, trong đó có Gaston Palewki, Provost de Lauray…
Nhắc lại cảm tưởng mà tôi từng cảm thấy khi gặp Terrenoire ở Colombey về, họ bảo tôi rằng:
- Xin Hoàng thượng đừng hấp tấp. Hãy kiên nhẫn một chút. Đại tướng De Gaulle lại sắp trở lại chính quyền nay mai. Trong sự hỗn độn hiện nay, đây là cứu tinh độc nhất của nước Pháp. Khi De Gaulle lên, thì tất cả đều thay đổi hết, chúng ta sẽ biết…
Một tuần lễ sau, ông Terrenoire đến gặp tôi. Với giọng nói lạnh lùng, bất cẩn, ông ta bảo tôi:
- Thưa Hoàng thượng, đảng Cộng hòa Nhân dân RPF (của De Gaulle) sẵn sàng bỏ phiếu cho Thủ tướng Queuille. Hoàng thượng có thể xác nhận sự đồng ý của chúng tôi, nhưng chúng tôi ước mong Thủ tướng sẽ tìm được giải pháp tốt đẹp cho Việt Nam…
Tôi kín đáo báo cho ông Queuille biết, rồi không đợi trả lời, tôi đi Cannes ngay. Quốc hội Pháp họp. Nhờ số phiếu của đảng RPF, chính phủ Queuille đạt đa số. Sự kiên trì về chính trị chỉ là một vấn đề thức thời.
Tôi không đợi được lâu hậu quả của các diễn tiến về sau. Và đây một quí khách đến Thorenc tìm tôi. Đó là Bửu Lộc đến đưa cho tôi giấy mời của điện Elysée mời, dự bữa tiệc ở lâu đài Rambouillet. Ông ta đã lợi dụng cơ hội để nghe dư luận ở kinh thành Paris. Đại sứ Mỹ ở Paris, ông Jefferson Caffery, đã báo cho chính phủ Pháp biết là Hoa Thịnh Đốn rất có thiện cảm với chính phủ Pháp, đã tỏ ra cởi mở về chính sách đối với Việt Nam. Tôi chấp nối việc này với điều tôi từng nói chuyện với ông William Bullitt ở khách sạn Richmond ở Genève, hồi tháng chín, lúc ấy tôi đang nghỉ mấy ngày ở Gstaad cùng với Hoàng hậu và các con của chúng tôi. Viên cựu Đại sứ Mỹ này, tôi từng biết ở Hong Kong, đã khuyên tôi nên điều đình với những điều khoản hợp lý, và cam đoan với tôi là Hoa Kỳ sẵn sàng yểm trợ, một khi lên nắm chính quyền. Từng biết ông William Bullitt vốn thuộc đảng Cộng hòa, mà tôi đang ở thế đối nghịch, tôi không mấy chú ý đến sự gợi ý này của ông ta.
Sau khi cùng Hoàng hậu đến thăm xã giao Tổng thống Pháp ở điện Elysée tôi đến điện Rambouillet. Sau bữa ăn, chúng tôi sang phòng khách để gặp Tổng thống Auriol, có Thủ tướng Queuille, các Thủ tướng Andre Marie và Ramadier, ông Coste Floret và chính tôi nữa.
Câu chuyện kéo dài, bỗng bất thần, Tổng thống Auriol quay sang nhìn tôi, và với giọng khô khan, ông nói:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài rất cởi mở. Nhiều người vì tham vọng cá nhân, chỉ làm cho rắc rối mà thôi…
- Thưa Ngài Tổng thống, Ngài định nói ai vậy?
- Thưa Hoàng thượng, chức vụ của Tổng thống không cho tôi mấy sáng kiến độc lập lớn lao, ngược lại, nó đem đến cho tôi rất nhiều tin tức chính xác. Vì vậy, trong một bữa tiệc gần đây, Ngài đã tỏ bày cảm tưởng của Ngài với một số thực khách vốn không mấy cảm tình với các thân hữu chính trị của chúng tôi, và do thế, họ đã viết một bài bảo không mấy có lợi cho chính phủ…
Quả thật, trước khi tôi gặp các nghị sĩ thuộc đảng De Gaulle, ông Gaston Palewki đã viết một bài đả kích mạnh mẽ chính sách của Pháp về Việt Nam, và ông ta kết luận rằng, sự đó chỉ có thể đưa tới sự tan vỡ hoàn toàn giữa Pháp và Việt Nam.
Tôi nhìn vị Tổng thống và cân nhắc từng chữ:
- Thưa Ngài Tông thống, tôi không bao giờ cần phải tỏ bày tâm sự với bất cứ ai. Lập trường của tôi, ai cũng biết cả rồi. Tôi đã từng nhắc lại nhiều lần cho các vị đại diện cao cấp của Pháp ở Đông Dương. Hẳn Tổng thông đã biết. Nó vốn gồm có hai chữ: Độc lập và Thống nhất của Việt Nam.
- Xin Hoàng thượng đừng để bọn đảng viên De Gaulle gây ảnh hưởng. Trái với điều họ tưởng, chính phủ bao giờ cũng đủ quyền lực để giữ lời hứa cho nước Pháp. Và trên cả chính phủ, chính tôi là người giữ điều hứa hẹn đó…
- Thưa Tổng thống, xin Tổng thống yên trí. Nước Việt Nam một khi hòa bình được vãn hồi, cùng với độc lập và thống nhất, chỉ còn có một quan tâm, đó là sự hợp tác và liên kết với nước Pháp.
Từ nãy vẫn giữ yên lặng, Thủ tướng Ramadier, giữa hai khói thuốc, liền mở ra một câu chua chát:
- Và như vậy, thì chỉ còn chờ Hoàng thượng trở về Việt Nam để thi hành nhiệm vụ của mình.
Để chấm dứt không khí lạnh nhạt sau câu nói gần như vô duyên đó, tôi đứng lên và lấy một nụ cười rất tươi, tôi thốt mấy lời cáo biệt:
- Hẳn quí Ngài đã thấy không có sự gì thay đổi, vì Ngài Thủ tướng Ramadier mời tôi trở về nhậm chức như ông đã bảo cho một nhân viên không mấy sốt sắng - vẫn cười tươi hơn, tôi nói tiếp - Tôi sẽ trở về Việt Nam khi nào mà tôi cho là đúng lúc nhất, dù sao nữa không bao giờ trước khi nước Pháp đã trả lại nền thống nhất cho nước tôi.
Sự đối phó gay cẩn này chứng tỏ cho tôi biết chính phủ Pháp đang đi vào ngõ cụt. Vị trí của tôi đã khá vững vàng nữa, nhưng tôi cần phải cảnh giác mọi biến chuyển tại chỗ. Nếu thời gian có lợi cho tôi đối phó được với những tranh luận chính trị ở Pháp, thì lại không phải vậy tại Việt Nam. Vì chính phủ Xuân không thể hoạt động gì được, thì tình thế lợi cho Việt Minh càng lớn. Họ cảm thấy thời gian đang tới để có thể dựa vào Tàu, lúc ấy đã rơi trọn vào tay bọn cộng sản rồi, để có thể đương đầu mạnh mẽ.
Mình cần phải vượt trước họ.
Sau vài tuần lễ, khi nhậm chức ở Đông Dương, ông Pignon đến thăm tôi vào một ngày tháng chạp năm 1948. Ông ta biết là tôi không muốn nghe gì, khi vấn đề cụ thể đối với độc lập và thống nhất chưa được giải quyết, nên bảo tôi ngay:
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin Ngài hãy coi như tất cả mọi điều xảy ra ở vịnh Hạ Long đều bị vượt qua. Nay cần phải đặt lại căn bản mới để đi thẳng đến sự kiến tạo nước Tân Việt Nam.
- Tôi rất đồng ý với Ngài Cao ủy, để trang bị cho nước Việt Nam một qui chế giúp cho nó có thể tự bảo vệ lấy nền độc lập và thống nhất của mình.
Trong thâm tâm, hẳn ông Pignon cũng ý thức được rõ ràng, cần phải xúc tiến nhanh chóng, nên muốn mong dựa được vào tôi để đẩy mạnh lên. Vì ông cảm thấy rõ rằng sự thay đổi này sẽ được hỗ trợ bằng một yếu tố mới. Ổng ta yêu cầu tôi tiếp xúc lại với Thủ tướng Queuille.
Vì vậy, sau khi ăn tết với gia đình ở Thorenc, tôi đến Paris và gặp Thủ tướng chính phủ. Tôi nhã nhặn nhắc lại lời hứa hẹn của ông và sự giúp đỡ mà tôi đã giúp ông trước kia, để cho ông hiểu rằng nước Pháp chỉ cần xác nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, với sự bảo đảm của Tổng thống Pháp là chúng tôi có thể xúc tiến ngay công việc được. Ông Queuille lúc nào cũng nhã nhặn không tỏ gì là phản đối cả. Chắc chắn là ông Pignon đã sửa soạn trước.
Vào trung tuần tháng giêng năm 1949, cuộc đàm phán bắt đầu. Rất nhanh chóng nó thành hai hình rõ rệt. Sự đe dọa của Cộng sản Tàu càng củng cố thêm cho nó, vì quân đội của Mao Trạch Đông đã tiến vào Bắc Kinh ngày 22 tháng giêng. Một hội đồng hỗn hợp được thành lập ngày 12 tháng 2 để nghiên cứu từng điểm một ghi trong bản thể chế ở vịnh Hạ Long.
Phái đoàn Pháp do ông Herzog làm trưởng phái đoàn, gồm có quí ông Marolles, De Pereya, De Raymond, Risterruci, Thiếu tá Ploix, sau đó thêm năm vị chuyên viên nữa là quí ông Gonon, về vấn đề tài chánh, Anziani, về kinh tế, Torre về kế hoạch, Dannaud về văn hóa, và Đại tá Brebisson về quân sự. Phái đoàn Việt Nam do Hoàng thân Bửu Lộc, luật sư ở Paris là nơi ông từng du học, là trưởng phái đoàn, gồm có ông Nguyễn Đắc Khê, luật sư, Bác sĩ Phan Huy Đán, và quí ông Phạm Văn Bính, Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định và Đinh Xuân Quảng, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn. Thủ tướng Trần Văn Hữu đến Paris ngày 13, theo dõi cuộc đàm phán, đại diện cho Thủ tướng Xuân. Các nhà chuyên môn kết thúc các bản tường trình vào ngày 28 tháng 2, và ngày 8 tháng 3, vào buổi trưa, tất cả chúng tôi đều tập trung đủ mặt ở văn phòng Tổng thống Vincent Auriol ở điện Elysée để cùng ký kết. Trước buổi lễ ngắn ngủi này, về phía Pháp có Thủ tướng Queuille, ông Robert Lecourt, chương ẩn, ông Georges Bidault, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Paul Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, Cao ủy Léon Pignon và ông Parodi. Bên cạnh tôi có Hoàng thân Vĩnh Cẩn, Hoàng thân Bửu Lộc, Thủ tướng Trần Văn Hữu và Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn.
Tổng thống Vincent Auriol đọc một bài diễn văn ngắn nhưng rất cảm động để chúc tụng tất cả các nhà trí thức và chính trị Việt Nam đã đứng xung quanh tôi, đoàn kết, nhất trí. Tôi cũng đáp từ ngắn để tỏ lòng tri ân đối với nước Pháp đã trao trả nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam.
- Từ nay, thỏa ước này sẽ thay thế tất cả các hiệp ước do tổ tiên tôi đã ký kết, và tôi nhấn mạnh, Tôi sẽ đặt chân lên đất nước tôi, sống chung với nhân dân nước tôi, đã có một lãnh thổ và biên giới lịch sử. Và tôi cam đoan đặc biệt bảo đảm cho quyền lợi vật chất và văn hóa Pháp”.
Chúng tôi ký các văn kiện và trao đổi lẫn cho nhau. Thỏa ước thật ra gồm ba bản tất cả.
Bản đầu tiên là bức thư của Tổng thống Cộng hoà Pháp quốc, kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp gửi Hoàng đế Bảo Đại. Dựa vào thỏa hiệp mùng 5 tháng 6 năm 1948, bản tài liệu này ấn định những điều khoản về nền thống nhất của Việt Nam, vấn đề ngoại giao, các vấn đề quân sự, chủ quyền nội bộ, vấn đề tư pháp, vấn đề văn hóa và giáo dục, vấn đề kinh tế và tài chính. (Xin xem phụ đính IV.)
Bản tài liệu thứ hai là bản xác nhận đối với những điều khoản của bản thứ nhất cho sự thỏa thuận của tôi, để xác nhận đúng y như bản thứ nhất, mà tôi gửi lại cho Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp.
Bản tài liệu thứ ba, là bức thư của vị này, vẫn gửi cho tôi là Hoàng đế Bảo Đại để bổ túc, theo lờl yêu cầu của tôi, tất cả các điểm liên hệ đến nền thống nhất của Việt Nam, và các vấn đề ngoại giao, nhất là về việe trao đổi sứ thần. Tất nhiên, bản thỏa hiệp cũng chẳng có gì mới lạ. Do thỏa hiệp này, nước Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam, và sẵn sàng công nhận nền thống nhất của nó, nếu tất cả dân chúng đều quyết định. Nhưng nó có cái lợi to lớn là, không phải dựa vào bản tuyên bố chung ký ngày 5 tháng 6 năm 1948, để phải căn cứ vào bản thể chế vốn hạn chế tất cả mọi ảnh hưởng này nọ.
Từ đây, chính phủ Việt Nam được toàn quyền hành động của một nước độc lập. Nó tự đảm trách lấy tiền ngoại giao trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp, nhưng được làm tròn sứ mệnh riêng tư của nước mình, có quân đội quốc gia, thẩm quyền tư pháp đối với toàn thể dân chúng, mà chỉ riêng có người Pháp mới được hưởng qui chế tư pháp hỗn hợp. Nó tự đảm trách về tài chánh. Không còn có vấn đề Liên bang Đông Dương nữa, chỉ có sự hòa đồng trên bình diện tiền tệ với hai nước Cam Bốt và Lào.
Chỉ còn một hạn chế duy nhất đang tồn tại, đó là ảnh hưởng của Liên hiệp Pháp, hay là ảnh hưởng do chiến tranh đang xảy ra trên đất nước.
Sau lễ ký kết đó, phái đoàn chúng tôi trở về khách sạn Plaza, ở đó tôi giữ lại một số tùy viên.
Từ đây trở đi, tôi đã thu hồi được đất Nam kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đình đã chấm dứt. Giai đoạn mới này, là nhiệm vụ của tôi để tái tạo nước Việt Nam. Thỏa hiệp mùng 8 tháng 3, có một cái lợi lớn lao là vẫn giữ được liên hệ với nước Pháp, nhưng các vấn đề chi tiết đối với tôi không cần biết tới. Nếu tôi chấp nhận vào Liên hiệp Pháp, sự đó không có gì là quan hệ nhiều. Đó chỉ là một nguyên lý xa vời… và của Pháp. Tại sao? Bảo rằng ở trong Liên hiệp Pháp, bởi vì các quốc gia này phải ở mức bình đẳng mới xứng đáng? Hơn nữa, giá dụ bét đi, tôi có thể là chư hầu của Quốc vương Pháp, nhưng chắc chắn không phải là chư hầu của Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc. Sau nữa, thỏa hiệp này trước mắt tôi, chỉ là một giai đoạn để tiến tới độc lập hoàn toàn. Sự thành đạt về đôc lập như thế, đã xảy ra cho các nước lân cận ở Đông Nam Á như Phi Luât Tân, Miến Điện, Ấn Độ… làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng. Tôi tin tưởng rằng thỏa ước mùng 8 tháng 3 phải là một yếu tố nhất định đưa đến vãn hồi hòa bình. Hỏi Việt Minh còn có thể đòi hỏi gì nữa khi tôi đã thành công, mà họ thì bị thảm bại ở các hội nghị Fontainebleau và Đà Lạt, vào năm 1946.
Vấn đề duy nhất và tức khắc hiện nay, là cần phải biết bằng cách nào, vấn đề giải quyết sự tái sát nhập của Nam kỳ. Mấy hôm sau, tôi hỏi Thủ tướng Queuille, ông ta đáp:
- Chính chúng tôi cũng chưa rõ. Hiến pháp của Pháp là nhất định: “Không ai có thể phạm vào sự sứt mẻ của lãnh thổ được...”
- Hiến pháp của nước Pháp không phải là vấn đề của nước tôi. Ngài cần phải tìm ngay một giải pháp. Chắc Ngài hiểu rằng, tôi chỉ trở về Việt Nam khi vấn đề này được vĩnh viễn giải quyết.
Để dễ dàng cho mọi sự thảo luận, tôi bổ nhiệm Hoàng thân Bửu Lộc làm Đổng lý Văn phòng. Ông ta thuộc hoàng tộc, trong chi nhánh của người em vua Minh Mạng. Ông ta chọn nhân viên trong số những người đồng quan điểm với tôi ở các chức vụ đổng lý sự vụ, công cán ủy viên… Trong số này, có Luật sư Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định, vốn là thạc sĩ Luật, các Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn, và Đinh Xuân Quảng. Tất cả đều đã dự vào việc thiết lập ra thỏa ước mùng 8 tháng 3.
Ông Pignon cũng không chịu để mất thì giờ. Ông biết chính ông ta cũng cần phải xúc tiến nhanh chóng. Ông ta được Thủ tướng Queuille và ông Coste Floret cho phép toàn quyền dùng mọi thể thức cấp bách để áp dụng bản tài liệu thứ ba của thỏa ước.
Đầu tiên, Quốc hội Pháp bầu một đạo luật đặt ra một Quốc hội địa phương ở Nam Việt Nam. Quốc hội này có nhiệm vụ cho ý kiến về sự thay đểi qui chế cho Nam kỳ, trên nguyên tắc.
Ngày 10 tháng 4, Quốc hội địa phương này được bầu, nhưng vì hoàn cảnh chưa cho phép tổng bầu cử, nên chỉ có khoảng 2000 hào trưởng được gọi ra để bầu lẫn nhau mà thôi.
Quốc hội bầu ra này gồm có 50 đại biểu Pháp và Việt, để chia nhau quyết định thiên Việt trong việc thống nhất, hay thiên Pháp để vẫn giữ y nguyên căn bản Nam kỳ tự trị như trước. Vài hôm sau khi được bầu, Quốc hội này họp và bỏ phiếu đầu tiên. Kết quả vẫn mơ hồ: 25 phiếu sát nhập vào Việt Nam còn 25 phiếu giữ nguyên vị trí tự trị. Tôi đã từng nói rõ nhận định của tôi: Sự bỏ phiếu để tái sát nhập vào Việt Nam phải đủ rõ rệt, để không còn có điểm nghi ngờ nào đối với lòng dân Nam bộ.
Vì vậy, sau khi tôi vừa được tin kết quả của sự bỏ phiếu đầu tiên, tôi liền chỉ thị cho chiếc DC-4 mà chính phủ Pháp đã dành riêng cho tôi để trở về Việt Nam, đang đợi tôi ở phi trường Nice, phải trở lại ngay Paris, đồng thời tôi cũng hủy bỏ tất cả các sự sửa soạn hành trang để trở về.
Hoang mang tột độ, chính phủ cử ông Pignon về gấp Sài Gòn. Ngày 23 tháng 4, Quốc hội địa phường họp lại, thì số phiếu đạt được là 45 phiếu thuận và 5 phiếu chống, đối với việc sát nhập. Hy vọng của tôi tràn trề. Nền thống nhất đất nước đã được phục hồi. Trung thành với lời hứa hẹn của tôi, không cần phải đợi Quốc hội Pháp chuẩn y, vì đang lúc nghỉ hè, ngày 24 tháng 4, tại Cannes, tôi mở một cuộc họp báo. Tôi nhắc lại ba giai đoạn của thủ tục mà chính phủ Pháp đặt ra để thi hành: Lập một Quốc hội địa phương ở miền Nam Việt Nam, bầu cử và hỏi ý kiến Quốc hội ấy, duyệt y ý chí của Quốc hội này, do Quốc hội Pháp quản chế qui chế mới đối với miền Nam Việt Nam, tôi nhấn mạnh đến tính chất hiến định của thủ tục này:
“… Điều thứ nhất đã hoàn toàn thực hiện. Điều đó rất quan hệ, vì nó mở ra một thể thức, và bởi vì nó hiến cho Quốc hội Pháp cơ hội để hiểu rõ hoàn cảnh về vấn đề của Việt Nam.
“Quyết định do Quốc hội Pháp đặt ra một Quốc hội địa phương ở Nam Việt Nam đã được ghi nhận trong nền chính trị của nước Pháp. Ngay vòng thứ nhất, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại, và nhiều diễn giả của khối đa số, vẫn nhấn mạnh một cách hữu lý đến chỗ liên tục của nền chính trị Pháp quốc ở Việt Nam, đến chỗ thống nhất ba kỳ. Sự liên tục về vị trí cửa các chính phủ Pháp vẫn nhất định, không thay đổi.
“Thật vậy, trong bản tuyên ngôn ngày 6 tháng 3 năm 1946, đã ghi rõ: về việc thống nhất ba kỳ, chính phủ Pháp cam đoan công nhận những quyết định của sự trưng cầu dân ý.
“Bài diễn văn của ông Bollaert ở Hà Đông cũng nhắc lại rằng: Chính phủ Pháp không dính líu gì vào việc thống nhất ba kỳ, vốn là nội bộ của nước Việt Nam. Chỉ có dân chúng địa phương mới liên hệ đến, và sự giải quyết là phần của họ.
“Và cuối cùng bản tuyên ngôn ở vịnh Hạ Long đã nhẩn mạnh rằng: Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, và sự thống nhất là thuộc toàn quyền của Việt Nam. Lời tuyên bố này đã được Quốc hội Pháp long trọng duyệt y.
“Giai đoạn thứ hai vừa hoàn tất, như quí ông đã được biết, theo quyết định của Quốc hội địa phương Nam Việt Nam, để thống nhất ba kỳ, nghĩa là sự sát nhập của Nam Việt Nam vào các phần đất khác của nước Việt Nam. Theo ý kiến tôi, quyết định này, đã theo một thể thức đã được định trước, là yếu tố quyết định. Phù hợp với nguyện vọng của chính phủ Pháp, và theo các nguyên tắc hoàn toàn dân chủ, để cho dân chúng liên hệ được tự mình đặt trong Liên hiệp Pháp. Dân chúng Nam Việt Nam đã ngỏ ý rồi, sự trở về Việt Nam của tôi đã có thể thực hiện, và tôi thấy không còn cần thiết để nấn ná gì nữa.
“Thật vậy, giai đoạn ba là giai đoạn, theo đúng hiến pháp của nước Pháp, Quốc hội Pháp phải chấp nhận quyết định của Quốc hội địa phương Nam Việt Nam, và không có gì thay đổi về căn bản của vấn đề: Không phải là tôi dám nói thế này để làm giảm giá trị của Quốc hội Pháp, khi ngờ vực rằng đây chỉ là một hình thức chính trị, bởi vì không có người Việt Nam nào, hay một người bạn của Pháp nào, đã dám cho rằng những lời cam kết rõ rệt và long trọng mà tôi vừa nhắc lại đây, của quốc gia cao thượng của quí ông, lại đi ngược lại với truyền thống cũng như với lý tưởng dân chủ, để hủy bỏ lời tuyên bố đã từng cam kết.
“Một quyết định hảo ý của Quốc hội mà tôi tin chắc sẽ đến, y như các thể thức quan trọng đã được thực hiện, nên tôi thấy không cần phải chần chờ, để trở về. Căn bản của tôi đã đạt được ở Pháp rồi, thì từ nay trở về của tôi cũng rất cần thiết. Nhiệm vụ đang đợi tôi rất rộng lớn và phức tạp, và rõ ràng là chỉ ở ngay trong nước tôi, và giữa các đồng bào của tôi, tôi mới có thể hiểu thấu được những nét chính, mà sự thống nhất đất nước tôi, mới giúp tôi được dễ dàng.
“Lý do chính mà tôi vừa nhận được từ chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam do bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ báo cho tôi biết, thì sự trở về của tôi là rất cần thiết.
“Tôi không muốn làm thất vọng, dù trong ít ngày, những nguyện vọng tha thiết của nhân dân tôi, từng đặt tín nhiệm nơi tôi, đang quằn quại trong đau khổ ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc lại rằng sự mau chóng của quyết định sau cùng của Quốc hội Pháp là điều kiện tiên quyết trong nhiệm vụ của tôi vậy. Nó chứng nhận mạnh mẽ sự tín nhiệm hỗ tương đã mở màn ra cuộc đàm phán. Chúng tôi nghĩ rằng, vào khoảng đầu tháng sáu tất cả đều đã được hoàn tất.
“Chính phủ Pháp đã hiểu thấu sự lo âu của tôi phải đem về cho đất nước, sự sung sướng cho nguyện vọng quốc gia đối với nền thống nhất lãnh thể. Một thái độ hiểu biết ấy đã là một sự giúp đỡ rồi. Sự giúp đỡ quí báu tường tự nữa là nước Pháp sẽ chứng tỏ bằng cách cho lần lượt thực hiện các điều khoản của thỏa ước mùng 8 tháng 3, vốn rất phong phú để thành tựu. Tôi rất sung sướng được ca tụng nhãn giới cao rộng và tinh thần dân chủ rất Pháp và rất nhân ái của Ngài Coste Floret, bộ trưởng bộ Pháp quốc Hải ngoại. Tôi cũng nói lên cảm tình nồng nhiệt đối với Ngài Léon Pignon, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, mà dân chúng Việt Nam vô cùng khâm phục những đức tính cao cả. Tôi tin rằng với những nhà đại diện lỗi lạc ấy của nước Pháp, thỏa ước mùng 8 tháng 3 sẽ được thực thi trong một bầu không khí tín nhiệm và thân hữu.
“Đó chính là sự liên tục của một nền chính trị thân hữu, được đặt vào tay những nhà lãnh đạo siêu việt, để đem lại tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta, và góp phần vào sự củng cố hòa bình và sự thịnh vượng cho toàn thể Liên hiệp Pháp”.

Tôi rời nước Pháp bằng chiếc DC-4 riêng của Tổng thống mà chính phủ Pháp dành cho tôi. Hoàng hậu và các con chúng tôi vẫn ở lại Cannes, để bọn trẻ tiếp tục học hành. Chì có Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn và người em họ Vĩnh Cẩn theo tôi trở về.

Chú thích:

1.

Rồng vàng: Giấy 500$ giữ y nguyên giá trị, Rồng xanh: Giấy 500$ bị hủy bỏ.

2.

Xin xem bản phụ đính. Mặc dù sự vô tín nhiệm của người Pháp, chủ tịch vẫn đi Pháp vào ngày 31 tháng 5. Chủ tịch rất kỳ vọng ở cuộc gặp gỡ với chính phủ Pháp, thế nhưng khi cụ đến nơi, thì Pháp lại không có chính phủ. Điều quan trọng nhất, là ngày hôm sau ngày cụ sang Pháp, tức ngày 1 tháng 6, người Pháp đặt ra một chính phủ lâm thời của xứ Nam kỳ tự trị, do Bác sĩ Thinh cầm đầu. Đây là chứng cớ của sự gian ngoan của Pháp.

3.

Đô đốc Thierry D’Argenlieu được bổ làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương ngày 17 tháng 8 năm 1945. Ông rời bỏ nhiệm sở ngày 24 tháng 2 năm 1947. Như vậy, Hoàng đế Bảo Đại không có dịp gặp ông.

4.

Đây là Bác sĩ Descoeudres, đại diện hội Hồng thập tự quốc tế, được cử đến Việt Minh với một sứ mệnh hoàn toàn nhân đạo, khi trở về, đã đem lại bức giác thư, cho viên Tư lệnh Pháp để gửi cho người nhận (Léon Blum).

5.

Trong cuộc hội nghị bỏ túi này, có những đại diện của các đảng phái quốc gia Việt Nam Quốc dân đảng, v.v… các giáo phái… như quí vị: Đặng Hữu Chí, Trần Quang Vinh, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Hà Xuân Tố, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Ty, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Tuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dần…

6.

Chân mạng đế vương.

7.

Haut Commissaire: Chữ tắt chỉ Cao ủy.

Paris tháng 7-1979
Bảo Đại
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tính nhân văn trong tác phẩm của Taras Shevchenko và Nguyễn Du

Tính nhân văn trong tác phẩm của Taras Shevchenko và Nguyễn Du Taras Shevchenko và Nguyễn Du – hai nhà thơ lớn ở hai đất nước xa nhau về đ...