Nhiều khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng tại dinh II
(Dinh Toàn quyền) tại Đà Lạt đều quan tâm về một hiện vật cổ quý giá được đặt ở
đây.
Bức
bình phong cổ này được chế tác từ nhiều loại danh mộc quý hiếm, ghép lại với
nhau bởi 10 tấm ván, mỗi tấm rộng 45cm, chiều cao 3m. Đây là loại bình phong
theo dạng hình chữ nhật. Loại này thuộc loại bình phong nhiều tấm rời ghép
thành, thường có hình chữ nhật hoặc vuông, do 6,8 hay 10 tấm gỗ hình chữ nhật
ghép lại với nhau bằng bản lề. Loại này có chân, có thể di chuyển cục bộ từng
phần hoặc có thể tháo rời ra để tiện vận chuyển. Kiểu bình phong này hiện còn
khá phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc.
Bức bình
phong được trang trí khá độc đáo, trên cả hai mặt. Một mặt được trang trí các
hình ảnh lầu, đài, vườn, tạ của chốn cung đình. Một mặt được trang trí bằng các
bài thơ khắc cách điệu các lối chữ hành, thảo, lệ, triện, được khắc theo lối
hình chiếc quạt giấy rất độc đáo. Xen lẫn các bài thơ đó là những bức tranh
hoa, bình hoa, bàn ghế, cuốn thư, các loại diềm hoa…
1. Họa tiết hoa văn và lối trang trí trên bình phong
Bức bình
phong được trang trí hoa văn, họa tiết cầu kỳ và tinh xảo ẩn chứa diện mạo nghệ
thuật cung đình Việt Nam. Đây là bức thư pháp quý hiếm chạm 22 bài thơ khắc bằng
đủ thể loại chữ hán: Chân, hành, thảo, lệ, triện, trong đó có 12 bài thơ ngự chế
của vua Tự Đức được trích từ Tự Đức Ngự chế thi và 2 bài của Tùng Thiện
vương Miên Thẩm trích từ Thương Sơn thi tập. Tùng Thiện vương là con thứ
10 của hoàng đế Minh Mệnh đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như:Thương
Sơn thi tập, Thương Sơn tập từ, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn
Văn di… Có 3 bài của Tuy Lý vương Miên Trinh hay còn gọi là Nguyễn Phúc Miên
Trinh là con thứ 11 của hoàng đế Minh Mệnh. Ông đã để lại toàn bộ những sáng
tác của mình qua Vĩ Dã hợp tập. Bài thơ khắc trên bức bình phong cổ ở Đà Lạt
được trích từ Vĩ Dã hợp tập. Có 1 bài trích từ Hoàng Việt thi, 3 bài
của Bùi Văn Mạc, 1 bài của vua Lê Thánh Tông trích từ Ngự chế thi. Nhiều học
giả cho rằng bức bình phong này được vua Bảo Đại mang từ Đại nội Huế về tặng
cho Toàn quyền Đông Dương nhân dịp khánh thành Dinh II. Theo nhiều người khác,
chính Ngô Đình Nhu lúc đương quyền và lưu trú ở Dinh II đã cho lấy bức bình
phong từ Huế vào để trang trí theo truyền thống văn hóa Đông phương. Nhưng dù
là ai mang vào Đà Lạt đi chăng nữa thì sự hiện diện của cổ vật này tại Dinh II
làm nên giá trị về nhiều mặt trong hệ thống di vật của chốn cung đình có tại Đà
Lạt.
Ông Đinh Bá Quang (nguyên Trưởng phòng quản lý di tích Sở Văn
hóa Thể thao Du lịch Lâm Đồng) khẳng định bức bình phong này là một cổ vật có
giá trị bởi nó là quà tặng của vua Bảo Đại cho Toàn quyền Đông Dương. Bức bình
phong có từ thời vua Tự Đức, được khắc các bài thơ chữ Hán của các văn nhân,
thi nhân nổi tiếng một thời. Vì vậy, ngoài ý nghĩa lịch sử ra nó còn có ý nghĩa
như là một cách để truyền bá văn hóa phương Đông và văn hóa chốn cung đình Việt
Nam với quốc tế.
TS. Nguyễn Văn Hoa là nhà nghiên cứu văn hóa, hội viên Hội
Nhà văn Hà Nội cho biết: Bình phong thường được sử dụng trong việc phong thủy
cho gia trạch cũng như một phần để trang trí trong những ngôi nhà cổ. Việc bố
trí bình phong tại các ngôi nhà của người Việt vốn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc
văn minh Trung Hoa và các học thuyết phong thủy. Từ rất sớm, bình phong đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong ngôi nhà. Người Việt đã phát triển kỹ
thuật chế với nhiều loại bình phong chất liệu, kiểu dáng, phong cách khác nhau.
Nhìn chung bình phong để che ngôi nhà cho ấm cúng và ngăn chặn gió độc, chướng
khí chẳng lành phát ra từ những vật lạ phía trước nhà, nên việc dựng bình phong
không theo quy chuẩn và kích thước cố định. Bức bình phong đặt tại Dinh II Đà Lạt
chắc chắn là bảo vật của cung đình Huế, thời vua Tự Đức, được trang trí cầu kỳ,
tinh xảo. Đây là loại bình phong đặt trong thư phòng, có nhiều giá trị cho việc
nghiên cứu văn hóa cũng như thơ văn của vua Tự Đức và một số văn nhân nổi tiếng
như vua Lê Thánh Tông, Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương…
Giá trị về mặt nội dung của văn chương mang phong cách cung
đình lại được tô điểm qua cách khắc họa rất lạ các bài thơ lên bức bình phong.
Nhiều bài thơ được khắc theo hình chiếc quạt giấy và khắc rất tinh xảo bằng các
thể loại chữ khác nhau. Từ đó tạo nên một sự trang trí độc đáo sang trọng cũng
như là thể hiện nghệ thuật thư họa độc đáo của chốn cung thất hoàng triều.
2. Giải mã một vài bài thơ trong bức bình phong
Theo
thống kê của chúng tôi, trên bức bình phong này khắc 22 bài thơ. Chúng tôi đã cố
gắng giải mã tiêu đề và nội dung cơ bản của một số bài thơ với mong muốn cung cấp
thêm những giá trị văn học nghệ thuật trong sự tồn tại nội thân của nó. Những
mong độc giả cùng khách khi ghé thăm Dinh II sẽ cảm thấy bức bình phong này có
một vẻ đẹp kỳ thú.
Thơ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm có các bài: Họa vịnh
vũ phiến thi (Vịnh về chiếc quạt lông); Ngự Bình sơn (Lên
núi Ngự Bình). Thơ của Tuy Lý vương Miên Trinh gồm các bài: Đăng
Ngự Bình sơn (Lên chơi núi Ngự Bình); Nguyên nhật đại đình sướng yến (Ngày đầu
năm ở sân chầuthưởng tiệc). Một bài thơ trích từ Hoàng Việt thi là
bài Thuận Hóa thành tức sự (Làm thơ ở thành Huế). Còn lại là các bài thơ
Ngự chế của vua Tự Đức gồm: Hoàn phiến (Quạt lụa), Cần Chánh điện
triêu hạ (Chúc mừng vào buổi thiết triều sớm ở điện Cần Chánh), Vũ
phiến (Quạt lông), Chiêm bái Thiên Thụ lăng (Thăm viếng Lăng
Thiên Thọ), Ngự Bình sơn (Núi Ngự Bình), Tịnh Tâm hồ (Hồ Tịnh Tâm) Quá
Thiên Mụ tự (Qua chùa Thiên Mụ)… Các bài thơ do vua Tự Đức ngự chế có
nhiều chủ đề như vịnh cảnh vật, ca ngợi vẻ hùng vĩ của non sông như bài Núi
Ngự Bình hay những bài thơ cảm tác khi thăm lăng tẩm của các bậc tiền nhân
mà ở đây là thăm lăng của vị vua đầu triều Gia Long hoàng đế. Đặc biệt có 1 bài
của vua Lê Thánh Tông được trích từ Ngự chế thi với tiêu đề là Đề
phiến (Đề thơ trên quạt). Còn lại là 3 bài của Bùi Văn Mạc.
Các bài thơ
này được các thợ điêu khắc nổi tiếng Hương Nhan, Tô Giang vâng mệnh cung khắc.
Nhiệm vụ khắc những bài thơ ngự chế cũng như của các tác giả nổi tiếng trên cổ
vật thật sự là một công việc rất vinh hạnh. Các nhà điêu khắc đã khéo léo vận dụng
nghệ thuật thư họa để trang trí cho mỗi bài thơ có một vẻ khác nhau, có thần
thái linh hồn để tạo nên một bức bình phong vừa mang tính độc đáo vừa mang tính
nhân văn.
Chúng tôi
xin được tạm dịch một số bài thơ để làm sáng tỏ thêm giá trị của bức bình phong
này.
1. Đề phiến (Lê Thánh Tông)
Nam huân lâu các nhật trường thì,
Hoàn phiến huy phong ngọ mộng nghi.
Phất phất lương phong nghi ngọ mộng,
Hạ huề lao khổ vị tằng tri.
Dịch nghĩa: Đề quạt
Trên tầng gác cao gió nam ấm áp lúc ngày dài,
Quạt lụa phe phẩy gió lúc buổi trưa yên giấc.
Hiu hiu gió mát giấc ngủ trưa,
Nỗi vất vả dưới ruộng trưa hè ta chưa từng biết đến.
Nguồn gốc của bài thơ theo như chúng tôi đọc được trên bức
bình phong quý tại Dinh II - Đà Lạt. Bài thơ có tựa đề: Đông tình quá Thiệu
Phương viên tùy bút, có nghĩa là: Làm thơ trong lúc qua vườn Thiệu Phương lúc
trời hửng nắng mùa đông. Bài thơ viết bằng chữ Hán theo thể Hành sau đó được khắc
lên gỗ. Bài thơ này có 4 câu theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Cuối bài thơ được ghi
rõ là Tự Đức Ngự chế thi, tức là thơ Ngự chế của vua Tự Đức. Bên cạnh đó là bài Cần
Chánh điện triêu hạ,có nghĩa là Chúc mừng trong lễ thiết triều tại điện Cần
Chánh.
Dĩ quá tùng hiên hựu trúc hiên,
Lưu âm nhiễu các lục xâm môn.
Cơ kinh sương vũ hoàn vô dạng,
Lưu đắc thanh thông hộ ngự viên.
Dịch nghĩa:
Làm thơ trong lúc qua vườn Thiệu Phương lúc trời hửng nắng
mùa đông
Đã đi qua mái hiên tùng lại qua hiên trúc,
Tiếng nước chảy xung quanh màu xanh cây cối chen cả cửa.
Trải qua bao lần mưa gió còn không việc gì,
Vẫn giữ được màu xanh bảo vệ cho vườn ngự.
3. Cần Chánh điện triều hạ (Tự Đức)
Điện nhiễu càn khu liệt túc hoàn,
Thanh thần lãng nhật diệu triều ban.
Thâu thành thổ sản phương phương chuẩn,
Chúc hỗ sơn hu hưởng cảnh nhàn.
Kim nhật tán vân hoàng đế quý,
Cổ nhân tằng vị đại quân nan.
Hà đương hỗn nhất xa thư phấn,
Nhẫm tịch quần lê cánh cộng hoan.
Dịch nghĩa:
Chúc mừng trong lễ thiết triều tại điện Cần Chánh
Sấm sét trên bầu trời đã dứt, các vì sao lại lấp lánh,
Sáng sớm tinh mơ ánh mặt trời rực rỡ chiếu vào cung điện.
Thổ sản vùng Thâu Thành thực sự thơm ngon,
Điệu hu ta ở Chúc Hỗ Sơn mới thể hiện cảnh nhàn.
Ngày nay được khen ngợi là do hoàng đế coi trọng,
Người xưa từng nói để làm được một vị vua lớn quả là rất khó.
Cần phải thống nhất đất nước để cho lòng phấn khởi lên,
Làm sao góp sức dẹp sự hỗn loạn, tạo sự thống nhất non sông
Để cuộc sống của dân lại được cùng nhau vui mừng.
Bức bình
phong này có niên đại thế kỷ XIX thời vua Tự Đức. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn
hóa, bức bình phong này có lẽ được làm để tặng cho vua Tự Đức đặt trong hoàng
cung hoặc thư phòng làm việc của vua. Đây cũng chỉ là giả thuyết. Với những gì
hiện hữu trên bức cổ vật này có thể thấy đây là một vật rất quý mới được đề thơ
của vua Tự Đức nhiều như vậy.
Đà Lạt đã và
đang bảo quản một cổ vật quý giá như vậy thật là một điều may mắn. Đây sẽ là một
hiện vật rất ý nghĩa cho các nhà nghiên cứu và khách tham quan tìm hiểu về nghệ
thuật trang trí điêu khắc, cũng như nội dung của nó.
Thực sự đây
là bức bình phong quý và có ý nghĩa về nhiều mặt cần được các nhà nghiên cứu
quan tâm.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét