1. Thơ là gì?
Theo định nghĩa và những khái niệm có tính hàn lâm thì “Thi
ca và văn xuôi là hai dạng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ, khác nhau bởi cách thức
cấu tạo ngôn ngữ văn học và trước hết bởi sự thiết lập nhịp điệu. Nhịp điệu của
ngôn ngữ thi ca được tạo ra bằng cách phân chia âm điệu rõ ràng trong lời thơ,
câu thơ, khổ thơ mà về nguyên tắc có thể không trùng với cách phân chia cú
pháp. Trong thi ca hiện đại, sự tương tác giữa hình thức thơ và ngôn từ (mối
tương quan của các từ trong điều kiện nhịp điệu và vần điệu, sự thể hiện khúc
chiết mặt âm thanh của ngôn ngữ, quan hệ qua lại của những cấu trúc nhịp điệu
và cú pháp) đang tạo ra những sắc thái phức tạp và tinh tế, tạo ra sự dịch chuyển
ý tưởng nghệ thuật khó có được bằng phương pháp khác…” (Từ điển Bách khoa toàn
thư Xô viết, bản tiếng Nga, tái bản lần thứ 3, 1985).
Không ít các nhà triết học, nhà phê bình nghiên cứu, đặc biệt
là các nhà thơ lớn ở các thời đại và ở khắp nơi trên thế giới đã đi tìm và nói
ra định nghĩa về thơ theo nhận thức của mình. Sau đây là một số dẫn chứng ít ỏi:
“Thơ là tiếng nói của tâm hồn, của tình cảm chứ không phải của
lý trí” (Langston Hughes, nhà thơ da đen Mỹ).
“Thơ là hành động, thơ là lòng say mê nồng nhiệt, thơ là sức
mạnh…Thơ không bao giờ chịu vắng mặt hay từ nan…” (St.John Perse, nhà thơ Pháp,
1960).
“Thơ là con đẻ của lòng thành thật, vì thiếu cái đó thì thi
phẩm không còn đủ sức sống. Là tiếng gọi của trái tim và lương tâm, thơ bao giờ
cũng thẳng thắn…” (Caitxin Kuliep, nhà văn Tuốcmêni, 1972).
“Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu của những con người lao động, phấn đấu, suy nghĩ, yêu thương trong
cái phần cao nhất, sâu nhất của họ tức là tâm trí” (Xuân Diệu, 1961).
Bản chất thơ là như vậy. Thơ hay, chưa hay hoặc không hay
cũng từ đó mà ra. Thơ tồn tại và phát triển theo phong cách đặc điểm riêng của
nó.
Thơ là hợp phần của văn học - nghệ thuật tức là một hợp phần
của cái bao trùm hơn là văn hóa, mà văn hóa lại là một trong những cột trụ nền
tảng của xã hội. Vậy là chức năng quan trọng nhất của thơ, của thi ca là phục vụ
xã hội. Vì thế tính cách xã hội phải là một trong những tính cách đặc trưng của
thơ.
2. Làm thơ, hay sáng tác thơ
Thơ là một loại hình lao động sáng tạo nghệ thuật, là hoạt động
tư duy của con người (một hình thức tư duy mang đậm dấu ấn của cảm xúc). Có thể
coi việc làm thơ là thực hiện một công việc có sử dụng các công cụ ngôn ngữ,
phương pháp văn chương, phương pháp tư duy (lôgic hoặc không lôgic, trừu tượng,
cảm tính…) kết hợp theo một cách nào đó với sự diễn biến của trạng thái tâm lý,
tình cảm, sự rung động cộng hưởng của các giác quan, của cảm thụ tâm hồn vô thức
hoặc hữu thức.
Trong các nhà thơ lớn của nước ta từ Cách mạng tháng Tám
thành công đến nay có lẽ Xuân Diệu là một trong những người suy nghĩ nhiều nhất,
bàn luận nhiều nhất và cũng nói lên được khá nhiều điều tâm huyết về việc làm
thơ (xem “Công việc làm thơ”, tác phẩm phê bình và tiểu luận của Xuân Diệu, Nxb
Vănhọc, Hà Nội 1984). Xin được trích dẫn một vài ý của nhà thơ Xuân Diệu:
… “Thứ thơ lớn là thứ thơ có đầy đủ kỹ thuật, nhưng tác giả
không coi kỹ thuật là chính, mà trọng chất hơn là hình… là thứ thơ rất có chất…
“Thứ thơ lớn là thứ thơ có những tình cảm lớn và suy nghĩ rộng… Cách nói (trong
thơ) cũng phải là một phong cách lớn… biết đặt chiến thuật nằm trong sự bao
trùm của chiến lược, biết bắt chi tiết phục tùng đại cục. Mà cục diện lớn là ở
một đề tài, một chủ đề, một vấn đề nào đó thì tìm được những gì sâu sắc nhất
trong thực tại của sự vật, của lòng người mà nói… tức là đẹp tất cả cái đã, rồi
mới đẹp chi tiết, mà chi tiết không được tỉa tót phình lên lấn cả đại cục…”
… “Thường trong việc làm thơ cần đề ra một mục tiêu phấn đấu:
Cả bài hay; trong bài, mỗi đoạn cũng hay; trong câu, mỗi chữ cũng hay. Tuy
nhiên đừng nên áp dụng cái mục tiêu phấn đấu ấy thành một phương pháp thẩm mỹ cứng
nhắc và nói cho cùng, như thế là không hiểu phép biện chứng của sự vật…”
… “Muốn cho thơ hay, thơ lớn trước hết là phải luyện đức, luyện
chủ nghĩa nhân đạo. Chứ đâu có phải một bề ngồi đó mà xếp chữ, thử chữ, thử
cách nói,… vày vò đến quằn quại cả ngôn ngữ…”
… “Xét cho thật sâu thì có nhiều khi sáng tạo ngôn ngữ quá
nhiều lại là một cách gỡ bí, một cách che dấu sự ít ỏi của chất thơ, tức là chất
xúc cảm, tức là lấy chỗ thừa của trí thay vào chỗ thiếu của tâm…” (Sách đã dẫn,
các trang 45, 47, 48, 58, 61).
3. Người làm thơ
Người làm thơ, làm văn là chủ thể của lao động sáng tạo văn
chương, là người sáng tạo ra sản phẩm văn học - đứa con tinh thần, đứa con tâm
trí, tình cảm rứt ruột đẻ đau của mình - với những dấu ấn cá nhân rất đặc thù.
Sản phẩm ấy, dấu ấn ấy phản chiếu những khía cạnh, yếu tố phong cách, phong
thái, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, trình độ nhận thức, vốn sống, kinh nghiệm sống,
thói quen v.v… của chủ thể.
Người làm thơ vừa có trách nhiệm đối với tác phẩm của mình vừa
chịu trách nhiệm trước nhân dân, đất nước và thời đại.
“Các nhà thơ đặt ngón tay của họ lên mạch xúc cảm của nhân
dân, của đất nước họ” (Langston Hughes).
“Dù muốn hay không muốn, nhà thơ cũng tự thấy mình gắn liền với
sự kiện lịch sử. Trong tấn bi kịch của thời đại, không có gì xa lạ với nhà thơ
cả”(St. John Perse).
Văn Cao, nhà thơ, nhạc sĩ lớn của đất nước và nhân dân ta
cũng đã từng nhắn nhủ:
… “Người làm thơ biết thành lập cho mình một cá tính trong
suy nghĩ, trong tình cảm, trong cảm giác những điều mới lạ bao nhiêu là làm
phong phú thêm cho người đọc về mặt tư tưởng, cảm xúc hay cảm giác (bấy
nhiêu)…”
… “Người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng, cảm xúc và cảm
giác trên kia trong thực tế ở những con người đang túi bụi xây dựng. Càng tới gần
cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ.Có
người dao động và sợ hãi quay lưng lại. Có người vụng về mà làm nổ. Nhưng cũng
có người can đảm biết làm nổ để mở đường…”
… “Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ phải là những dòng sông
lớn, càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng…” (Văn Cao, “Mấy ý nghĩ về
thơ”, tháng 7-1957).
4. Công chúng của thơ
Có thể coi công chúng của thơ là toàn bộ khách thể của thơ,
là đối tượng mà người làm thơ muốn giới thiệu, trao đổi, gửi gắm những đứa con
tinh thần của mình,. Muốn chia sẻ quyền sở hữu, quyền sử dụng sản phẩm sáng tạo
của mình, muốn nhận trở lại những tín hiệu về sự tiếp nhận, đánh giá cho những
sản phẩm đó.
Cái khách thể này của thơ quá rộng lớn, quá phức tạp, đa chiều
nên không thể miêu tả trong một vài ý kiến sơ lược được và đành tạm gác lại cho
những tọa đàm sau.
Để kết luận xin lại được sử dụng những lời sau đây của nhà
thơ Xuân Diệu (sách đã dẫn, trang 281):
“Khi bàn đến chất lượng của thơ ta
phải thấy có một nhu cầu khách quan trong xã hội; những người lao động yêu cầu
các tác phẩm văn nghệ phải đúng, tức là không sai, thuộc phạm trù chân lý;
phải tốt, tức là không xấu, thuộc phạm trù đạo đức; phải hay, tức là
không dở, thuộc phạm trù thẩm mỹ, phạm trù “hay” bao gồm đẹp đẽ, hấp dẫn, thỏa
mãn cái nhu cầu về tình cảm, xúc cảm, những khát khao và những mộng mơ…”.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét