Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Hình tượng quê hương đất nước trong văn học giai đoạn 1945 - 1975

Hình tượng quê hương đất nước 
trong văn học giai đoạn 1945 - 1975 
Quê hương đất nước là nguồn thơ không bao giờ vơi cạn trong văn học nước ta. Nó xuyên suốt và là nguồn cảm hứng chủ đạo trong mạch nguồn thơ dân tộc. Đất nước, đó là nơi mỗi chúng ta oa…oa cất tiếng khóc chào đời,nơi những kỷ niệm ngọt ngào nhất in vào chúng ta qua những lời ru: Con cò bay lả bay la…Là mảnh đất ông cha ta đã nằm xuống cùng đồng đội mình, là Tháp Rùa rêu phong cổ kính, là Trường Sơn mây mù che phủ. Để rồi mỗi chúng ta không khỏi bồi hồi khi đọc những câu thơ mà hình ảnh, vóc dáng Tổ quốc hiện ra đến nao lòng:
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi
Chân thực và sinh động, Đất nước đã được tái hiện cụ thể qua mỗi trang thơ dân tộc. Đó là hình ảnh đất nước trong
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Là khí thế hào hùng khi Lý Thường Kiệt sang sảng đọc Nam quốc sơn hà nam đế cư, là Nguyễn Trãi viết Cáo Bình Ngô mà lòng tự hào Đại Việt lan tới từng con chữ, là lúc Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn…Tất cả đã tạo nên hình tượng rộng lớn và sâu bền nhất của Văn học Việt Nam qua mọi thời kỳ lịch sử: hình tượng đất nước!
Như một mảng màu làm phong phú thêm hình tượng đất nước trong văn học Việt Nam , đất nước trong thơ ca giai đoạn 1945-1975 là sự kế thừa và phát triển có tính biện chứng của thơ ca truyền thống với những phẩm chất cao đẹp và mới mẻ, giản dị và đằm sâu. Thơ ca là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. Quả thật như vậy chúng ta có cả chiều rộng của thời đại mới, của mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mỹ:
Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn
Có cả chiều sâu yêu nước cùng với thơ ca dân tộc, cả chiều cao của một đất nước từ trong vũng bùn nô lệ đã hiên ngang đứng dậy đánh thắng quân thù, làm nên ngọn hải đăng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới
Ôi, Tổ quốc tôi giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi
Chính vì thế mà văn học trong giai đoạn này đã tạc nên tượng đài đất nước với tất cả những phẩm chất cao đẹp, anh dũng vô song trong chiến đấu và sản xuất, dũng cảm tuyệt vời mà nhân ái thiết tha, trải bao lửa đan mà vẫn tươi xanh, đứng ở đỉnh cao đất nước mà vẫn khiêm tốn, giản dị, chan hòa.
Giống như E-ren-bua đã nói: chiến tranh khiến cho mỗi công dân Xô Viết nhận ra vẻ đẹp thanh tú của chốn quê hương, thì cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc cũng đã khiến cho mỗi người Việt Nam càng thêm yêu mến quê hương đất nước mình. Và những công dân nhạy cảm nhhất đã phản ánh tình yêu quê hương đất nước qua những bài thơ tiêu biểu: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Ở đó, Đất nước hiện lên trong niềm tự hào về một Tổ quốc giàu đẹp, về dân tộc anh hùng tình nghĩa, hiện lên trong sự căm giận khi đất nước đau thương trong chiến tranh và cả niềm hân hoan về một đất nước kiên cường, bất khuất trong chiến đấu .Tất cả tạo nên hình tượng đất nước vừa độc đáo, mới lạ, vừa bình dị, sâu sắc trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975.
Nghệ sĩ thật sự vĩ đại trước hết phải là nghệ sĩ của một dân tộc, một quê hương cụ thể (M.Gorki) bởi lẽ chỉ khi được sống, được gắn bó, nếm trải mọi niềm vui nỗi buồn với dân tộc ấy, với địa phương ấy người ta mới khám phá ra hết những vẻ đẹp tiềm ẩn của nơi đó. Với Tố Hữu, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm cũng như thế, nơi mà họ đã đánh đổi bằng cả cuộc đời với biết bao thăng trầm, bao kỷ niệm thì những điều tưởng chừng nhỏ bé đơn sơ trong cuộc sống thường ngày đã khắc sâu vào tâm trí và cũng không biết tự bao giờ lòng họ đã gắn chặt quê hương như thân sơ máu thịt. Để rồi khi cảm xúc đã dâng đầy thì những hình ảnh ấy hiện hữu trong thơ hết sức sống động, chân thực mà trước hết đó là niềm tự hào về quê hương giàu đẹp.
Với Việt Bắc, đất nước thật giàu đẹp, Tố Hữu đem đến cho ta những bức tranh tuyệt diệu về quê hương cách mạng Việt Bắc. Có những bức tranh chan hòa màu sắc, đường nét, ánh sáng, âm thanh, thật bình dị và thơ mộng:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Bức tranh núi rừng Việt Bắc hiện lên đặc trưng cho cả bốn mùa. Câu thơ rừng xanh hoa chuối đỏ tươi mang đến cảm giác lạ: hình ảnh bông hoa chuối đỏ tươi bất ngờ chen giữa màu xanh trong của cây lá gợi màu cảm giác ấm áp lạ thường. Phải chăng thiên nhiên Việt Nam đẹp là thế hay chính tình cảm yêu mến thiết tha đã khiến cảnh sắc thêm lung linh thi vị hơn? Giữa bạt ngàn hoa ban nở trắng rừng ta như nhìn thấy niềm vui giữa cảnh núi rừng khi xuân đến. Rồi từ cảnh xuân, ta tiếp tục tìm về mùa hạ rộn ràng sắc ve kêu rừng phách đổ vàng, tiếng ve làm bừng dậy một không gian rộn rã. Cảnh vật tươi vui chợt đọng lại trong ánh trăng lung linh giữa rừng thu mịt mờ hơi sương. Để rồi hòa lẫn trong khung cảnh ấy, một tiếng hát trong trẻo, ngân nga, ám ảnh như tiếng vọng về một miền ký ức đầy ân tình ân nghĩa. Thiên nhiên Việt Bắc với những chuyển biến suốt bốn mùa, mỗi mùa đều mang một nét đặc trưng riêng: mùa xuân có màu trắng của hoa mơ bung nở khắp rừng, rồi lại tràn ngập một màu vàng của rừng phách khi hè về và cuối cùng đọng lại trong hình ảnh trong trẻo, dịu mát của rừng đêm dưới ảnh trung thu hòa bình. Vẻ đẹp ấy chỉ ai gắn bó tha thiết mới cảm nhận hết được cái đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Vẫn là Việt Bắc nhưng Nguyễn Đình Thi lại cảm nhận vùng đất này ở phát hiện rất riêng, Đất nước của ông bắt đầu từ Hà Nội:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cảm xúc về Hà Nội đã dẫn dắt vào cảm xúc đất nước. Từ hôm nay mà nhớ về hôm qua. Chỗ đứng của tác giả là giữa chiến khu Việt Bắc còn hoài niệm trở về là một phố phường Hà Nội xa xăm. Hai bờ thời gian ấy nối liền với nhau bằng cơn gió mùa thu, một tín hiệu mùa thu ngàn đời không đổi: cái mát trong và một chút hương trầm (hương cốm mới). Cơn gió hôm nay gợi về cơn gió ngày nào gần gũi đó mà rất xa xôi trong cái chớm lạnh đầu mùa, trong cái xao xác không gian:những phố dài xao xác hơi may. Phải có một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế mới cảm nhận được cái mơ hồ phảng phất ấy.
Lặng lẽ mà dồn dập, tự nó thành nhạc, mùa thu nay khác rồi là ở đây chăng? Hà Nội xưa đẹp, buồn. Giờ Việt Bắc đẹp, vui. Cảnh chỉ vui khi lòng người đang vui, cảnh buồn người có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du). Tâm trạng của Nguyễn Đình Thi lúc này phải chăng cũng là tâm trạng của Chế Lan Viên: con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ - cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa dù đó là hai hoàn cảnh khác nhau. Niềm vui ấy càng lúc càng mở rộng, bao trùm cả trời xanh, núi rừng:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Hình tượng Đất nước được Nguyễn Đình Thi xây dựng bằng những vẻ đẹp của thiên nhiên xanh tươi, dạt dào sức sống. Cảm nhận đất nước từ chỗ đứng, tấm lòng của chúng ta, nên đất nước hiện lên vừa bình dị, vừa rất đỗi thân thương. Âm điệu các câu thơ ở đây quấn quýt cộng với nhịp dài ngắn, tất cả tạo nên dáng hình một đất nước trường chinh trên vạn dặm dài lịch sử, một đất nước mang vẻ đẹp tầm vóc của một thời đại mới. Và đó cũng là nỗi lòng yêu quý tha thiết non sông, đất nước của chính tác giả Nguyễn Đình Thi.
Với Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm đã biến những dòng thơ truyền cảm của mình thành đường dẫn lối ta về với quá khứ của vùng Kinh Bắc tươi đẹp- một vùng quê tươi đẹp, trù phú, ngọt lành, thơm thảo tình đất tình người, đậm đà bản sắc văn hóa vật chất và tinh thần với biết bao di tích lịch sử, đền đài, biết bao hội hè gắn với những sinh hoạt văn hóa nổi tiếng như Hội Gióng, Hội Lim, Hội Chùa Dâu,... Có thể nói âm hưởng và nhịp điệu thơ đọng lại trong lòng mỗi người đọc là âm hưởng trầm bổng của những làn điệu dân ca đất Kinh Bắc rất đỗi quen thuộc với tâm hồn Việt Nam.
Bài thơ Bên Kia Sông Đuống là một kết tinh nghệ thuật tiêu biểu của nhà thơ Hoàng Cầm. Nếu như phần đầu tiên, Hoàng Cầm hay nhắc đến những hình ảnh bình yên thơ mộng của làng quê trù phú vùng quan họ thì đến phần sau, tác giả hoài nhớ về những nét văn hóa của quê hương Kinh Bắc, những nét truyền thống đặc sắc, bắt rễ sâu kín trong tâm hồn ông:
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta, câu thơ đọc lên nghe mới ấm áp làm sao, không phải là quê hương tôi mà là quê hương ta, nghĩa là chẳng phải quê hương của riêng tác giả đâu mà là một phần của đất nước, của lãnh thổ Việt Nam đấy, vì thế tuy chỉ viết về quê hương Kinh Bắc nhưng dường như tác giả đã nói lên được hoàn cảnh của đất nước ta lúc bấy giờ và khiến cho mỗi ai khi đọc bài thơ đều cảm thấy xúc động và tự hào một cách sâu sắc trước vẻ đẹp của miền quê Việt Nam. Nghĩ về Đất nước là nhớ tới hương vị quê hương Việt Nam : đó là lúa nếp thơm nồng, là tranh Đông Hồ nét bút tươi trong, là hội hè đình đám, là bến chợ người giăng tơ nghẽn lối,... tất cả mang màu sắc dân tộc rõ nét, rất đỗi tự hào. Hình ảnh đầu tiên để mở ra cánh cửa vào dòng ký ức của Hoàng Cầm là một hình ảnh trừu tượng, không hình, không dạng : mùi hương ! Mùi hương đặc biệt của mảnh đất có lẽ đã từ lâu tồn tại trong con người tác giả nhưng mãi đến hôm nay cái ngày bọn giặc dã man tràn về tàn phá thì mùi hương ấy thoảng qua và Hoàng Cầm đã cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bao giờ hết : quê hương ta lúa nếp thơm nồng. Mùi thơm nồng của lúa nếp là một mùi hương riêng biệt, là nét đặc trưng của quê hương. Hình ảnh gợi nhiều sự liên tưởng độc đáo. Hình ảnh những cây lúa nặng trĩu bông đang bình yên nằm ngủ dưới ánh trăng vàng, khung cảnh thanh bình, yên ả của một làng quê ngàn đời làm nông nghiệp, những xóm làng trù phú.. tất cả, tất cả dường như đã hiện tại rất cụ thể rõ ràng trong tâm tư của tác giả.
Những bức tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong lại là một phương diện khác, độc đáo kết tinh vẻ dẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh làng Đông Hồ do người nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm thư khát vọng trong sáng, lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người dân lao động: Đánh ghen, hứng dừa, xem vật, đám cưới chuột,... không chỉ tươi trong bởi được vẽ bằng màu sắc chắt lọc từ nguyên liệu thảo mộc của quê hương, mà còn bởi tâm hồn bình dị trong sáng luôn mang khát vọng lạc quan của người lao động. Nếu nói trong thơ có nhãn tự thì những chữ thơm nồng, sáng bừng trong những dòng thơ này là sự biểu hiện như vậy. Nhà thơ đã dùng những hình thức biểu đạt giản dị và hàm súc nhất để diễn tả vẻ đẹp đặc trưng và thiêng liêng nhất về quê hương của mình. Quê hương cao cả thiêng liêng, thân thuộc và bình dị chúng ta có thể gặp ở bất cứ nơi đâu. Đất nước còn hiện lên qua thơ Hoàng Cầm những vần thơ dễ làm ta chảy nước mắt. Đó là hình ảnh một làng quê Kinh Bắc trù phú hữu tình, còn với đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước là:
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Ngày xửa ngày xưa là ngày nào? Miếng trầu bây giờ bà ăn- một miếng trầu giản dị, đơn sơ đã vắt ngang bao nhiêu thế kỷ để còn lại đến bây giờ? Miếng trầu mở ra cả một đời sống tinh thần của người dân miếng trầu là đầu câu chuyện. Và cứ thế cái định nghĩa Đất nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống mỗi gia đình, mỗi con người, gắn liền với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những tập quán bới tóc sau đầu chẳng phải tự nhiên mà có. Trong quan niệm của nhân dân, cái đẹp phải gắn liền với cuộc sống thường ngày, với công cuộc mưu sinh vất vả, cái đẹp phải gọn gàng. Trong hòa bình, để có được miếng cơm manh áo thì phải đổ mồ hôi nước mắt, phải xay, giã, giần, sàng,... làm nên đất nước muôn đời. Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm còn là Đất nước của ca dao thần thoại, Đất nước của nguồn cội. Đó là dòng giống con Lạc, cháu Rồng:
Hằng năm ăn đâu làm đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ
Không chỉ là sự thành kính với tổ tiên. Mỗi người Việt với nhau còn có cái nghĩa đồng bào vì Lạc Long Quân và Âu Cơ- Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trăm trứng. Đó là chiều dài lịch sử của đất nước. Về không gian địa lý, đất nước là núi sông, rừng và bể Con chim phượng hoàng bay về hòn núi Bạc, Con cá ngư ông móng nước biển khơi. Đất nước còn là cái không gian sinh tồn gần gũi với cuộc sống con người: đất là nơi anh đến trường- nước là nơi em tắm- Đất nước là nơi ta hò hẹn. Đây chính là cái nhìn toàn vẹn của nhà thơ về Đất nước.
Ở nhiều góc độ khác nhau, từ một bờ bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm đến một vùng núi rừng Việt Bắc của Tố Hữu, một Đất nước của Nguyễn Đình Thi rồi Nguyễn Khoa Điềm...quê hương Việt Nam lần lượt hiện lên với vẻ đẹp riêng có đặc sắc của nó. Có lúc quê hương hùng vĩ, tráng lệ, có lúc thì thơ mộng, hiền hòa.
Không chỉ khám phá vẻ đẹp ở thiên nhiên, các nhà thơ trong thời kỳ văn học hiện đại còn đi sâu khám phá những nét đẹp trong tâm hồn con người. Nếu như thơ ca cổ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp, thì ở đây các nhà thơ hiện đại lại lấy chuẩn mực từ con người, con người trong thơ hiện đại hiện ra rất rõ nét, chân thật, không bị che lấp bởi cảnh vật thiên nhiên như thơ xưa. Rất tự nhiên, Hoàng Cầm lồng hình ảnh quê hương vào trong hình ảnh những truyền thống văn học. Những hình ảnh con người xứ Kinh Bắc duyên dáng, dễ thương, những cô hàng xén răng đen môi cắn chỉ quết trầu, những cụ già tóc trắng, những khuôn mặt búp sen cười như mùa thu tỏa nắng. Hình ảnh con người dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Cầm hiện lên duyên dáng, kỳ ảo đến lạ thường. Xứ sở Kinh Bắc đẹp đến thế, say đắm lòng người đến thế. Đúng là nét họa màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.
Con người là chủ thể của thiên nhiên, chính thiên nhiên làm nền nổi bật hình ảnh con người. Như đã nói ở trên mỗi khung trời, mỗi cảnh vật Tây Bắc là một bức tranh nên thơ thì trên nền tranh ấy là hình ảnh con người hòa điệu vào nhau trong lao động, trong cuộc sống thanh bình, dung dị. Ở đó là dáng vẻ con người khỏe khoắn đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng, có chút tỉ mỉ, cần cù, chịu khó của người đan nón chuốt từng sợi giang, và không khỏi xốn xang trước vẻ đẹp hồn nhiên, hiền hòa trong hình ảnh hùng vĩ của núi đồi Phong Châu. Điều đặc sắc ở đây là cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân, về những con người bình thường đã làm nên Đất nước: những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của Đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà trước hết nhắc đến vô vàn những lớp người vô danh bình dị:
Trong bốn  nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước
Những con người vô danh và bình dị đã giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của dân tộc: từ hạt lúa, ngọn lửa đến tiếng nói, ngôn ngữ. Họ cũng là những người khi có ngoại xâm thì chống ngoại xâm- có nội thù thì vùng lên đánh bại.
Bằng những giác quan nhạy cảm, những nhà thơ hiện đại đã khám phá, phát hiện những vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp trong tâm hồn con người. Và mỗi chúng ta khi đọc Đất nước sẽ phần nào hiểu hơn về Đất nước, con người Việt Nam, giúp ta thêm yêu cuộc sống và quê hương mình.
Càng tự hào về hình tượng đất nước giàu đẹp, trù phú của ngày xưa bao nhiêu, ta càng đau đớn, xót xa bấy nhiêu khi chứng kiến cảnh quê hương bị giày xéo dưới gót giày quân xâm lược tàn bạo. Bốn bài thơ, mỗi bài có một cách thể hiện riêng nhưng tất cả đều dựng nên hình tượng một đất nước đau thương trong cuộc kháng chiến ác liệt chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc Pháp - Mỹ.
Với Bên kia sông Đuống hình tượng đất nước đau thương ấy bắt đầu với một hình ảnh giàu sức gợi rụng bàn tay. Con sông Đuống như một sinh thể có hồn, có vía nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ nay bờ bên kia đã bị giặc chiếm đóng, đứng bên này vùng tự do kháng chiến tác giả như chết đi nửa người: Sao xót xa như rụng bàn tay. Hình ảnh đó là nỗi đau đã cụ thể hóa, nỗi đau của chết chóc, chia lìa. Những câu thơ như nhói vào tim ta và tan ra giữa một biển tình cảm mênh mông. Những dòng hồi tưởng, hoài niệm xen lẫn cảm xúc đau xót hiện tại dựng nên trước mắt ta một thế giới Kinh Bắc với những nét đẹp văn hóa truyền thống, sự cổ kính ngàn đời, thế giới ấy bị tàn phá càng nhân lên trong lòng nhà thơ những tình cảm gắn bó yêu thương mặn mà, sâu sắc. Cũng bởi vì tình cảm yêu thương ấy mà nhà thơ đau đớn đến tột cùng và Bên kia sông Đuống ra đời sau một đêm thức trắng viết theo dòng cảm xúc. Nỗi căm hờn xót xa khi quê hương xiết bao yêu dấu chìm ngập trong khói lửa chiến tranh được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh thật ấn tượng:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
Vừa nhớ về những ngày tháng yên bình, hạnh phúc thuở xưa, vừa đau xót trước thực tại phũ phàng, nhà thơ đưa ta vào trong nhịp thơ dồn dập, hối hả, ngắt quãng thể hiện một nỗi căm hận tột cùng. Có sống trong làng quê thanh tịnh với: Xanh xanh bãi mía bờ dâu- Ngô khoai biêng biếc ta mới thấu hết nỗi đau của nhà thơ khi phải nhìn những giá trị bị hủy diệt mà không có cách nào cứu vãn. Hình ảnh đặc rưng của xứ Kinh Bắc: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong-  Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp nay đã không còn, thay vào đó là sự chia lìa, ngăn cách: Mẹ con đàn lợn âm dương-  Chia lìa đôi ngả- Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã- Bây giờ tan tác về đâu. Đâu còn nữa: Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên- Những hội hè đình đám- Trên núi Thiên Thai- Trong chùa Bút Tháp- Giữa huyện Lang Tài; để rồi gửi về may áo cho ai- Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu. Đại từ phiếm chỉ ai làm câu hỏi tu từ của nhà thơ như rơi tõm vào khoảng trống mênh mông, vào hố sâu của tuyệt vọng, hụt hẫng. Điệp khúc: Tan tác về đâu; nay người ở đâu hiện diện như một nỗi khắc khoải mong chờ day dứt đầy nhức nhối thương đau.
Nếu ở bài thơ Núi đôi Vũ Tao diễn tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị tàn phái bằng hình ảnh thật đáng nhớ:
Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc đến
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Thân cau nơi ngõ chùa bình yên cũng phải cháy đổ, sự đau thương mất mát lên đến cực điểm; thì ở Bên kia sông Đuống nỗi đau cực tả bởi kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang, ruộng khô nhà cháy, dòng nước mắt của những người dân vô tội lăn dài. Đã không còn nữa cuộc sống yên bình ngày xưa với những nàng môi thắm má đào cười như mùa thu tỏa nắng, những cụ già tóc bạc phơ, em nhỏ ngây thơ trong sáng… Bao vùng đất yêu thương, địa danh quen thuộc chợ Sủi, bãi Trầm Chỉ, núi Thiên Thai, chùa Bút Tháp… nay chôn vùi theo lửa đạn chiến tranh khốc liệt để lại trong lòng người điệp khúc ngân nga khắc khỏi: Bây giờ đi đâu về đâu…
Nỗi đau ấy còn được đãy lên cao độ bở hình ảnh mẹ già nua và bầy con thơ vô tội. Mẹ ở đây không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mẹ của một ai, mà đó là biểu tượng của hàng trăm bà mẹ tảo tần ở Bên kia sông Đuống hay bất cứ vùng lãnh thổ nào của Việt Nam thân yêu đang bị quân xâm lược đày đọa. Mẹ chỉ có gánh hàng rong còm cõi với dăm miếng cau khô- Mấy lọ phẩm hồng- Vào thếp giấy đầm hoen sương sớm có đáng là bao vậy mà quân giặc cũng xì xồ cướp bóc- Tan phiên chợ nghèo. Từ còm cõi và hoen gợi nhiều liên tưởng cảm nhận, thấm thía hơn nỗi đau nay đến mức cực cùng. Bức tranh đẹp là làng quê yên bình nay bỗng vấy máu: Lá đa lác đác trước lều- Vài ba vết máu loang chiều mùa đông để mẹ phải một mình quẩy gánh hàng rong- Bước cao thấp bên bờ tre hun hút- Có con cò trắng bay vùn vụt- Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu. Hình ảnh con cò hơn một lần trong ca dao quen thuộc: Cái cò lặn lội bờ ao- Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non hay trong thơ Tú Xương: 
Lặn lội thân cò khi quãng vắng- Eo xèo mặt nước buổi đò đông gợi tả nỗi cơ cực, đắng cay của người phụ nữ nặng tình với chồng con; thì nay ở Bên kia sông Đuống hình ảnh người mẹ già bước cao thấp bên bờ tre hun hút lại khiến ta liên tưởng đến người bà với: Quán cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn trong Đò lèn của Nguyễn Duy; ghép với hình ảnh con cò trắng càng mang sức gợi hơn bao giờ hết. Trên con đường trơn mưa lạnh não nề ấy, mẹ lầm lũi bước cao thấp khi bụng đói dạ sầu.Câu thơ lục bát diễn tả thấm thía nỗi cơ cực mà mẹ phải gánh chịu. Gánh hàng rong của mẹ như nặng thêm, oằn trĩu xuống hay cái gánh giang sơn nhà chồng, cái gánh nước non của muôn đời còn đè nặng lên đôi vai của mẹ? Và hình ảnh con cò trắng lướt ngang vô tình hay là bạn, là hóa thân của người mẹ Việt Nam anh hùng muôn thuở.
Nỗi đau ấy càng nhân lê gấp bội khi ta bắt gặp hình ảnh:
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quay tròn
Tưởng làm tổ ẩm
Trong giấc thơ ngây, tiếng súng dồn tự sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc giày vò trên những nét môi xinh.
Đâu đó thấp thoáng bóng hình con trẻ mà ta từng gặp trong Chạy Tây của cụ Nguyễn Đình Chiểu: Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy- Mất ổ bầy chim dáo dác bay. Con trẻ vô tội, thơ ngây lẽ ra phải được bảo vệ, nâng niu như những mầm non của Đất nước, là trụ cột mai sau của nước nhà. Vậy mà ở Bên kia sông Đuống nỗi đói khổ cùng bom đạn ác liệt của chiến tranh đã giày vò những nét môi xinh, ám ảnh khiến cả trong giấc mơ cũng phải thon thót giật mình. Nỗi căm hận tuôn trào từ đầu ngọn bút nhà thơ viết thẳng một mạch, một hơi những lời từ trái tim anh rót thẳng vào lòng bạn đọc không sắp xếp, không điểm trang như nước suối từ khe đá tuôn ra, như hoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội (Hoàng Như Mai). Nỗi đau xót như những đợt sóng dâng trào không thể nào kìm nén nỗi khi phải chứng kiến đàn con nhỏ thơ ngây, nhỏ xinh như bầy chim non ríu rít ngày xưa giờ đây bị chiến tranh giày vỏ ám ảnh chằng thể ngủ yên. Mỗi câu Ai về Bên kia sông Đuống hay Bên kia sông Đuống kết hợp với điệp khúc về đâu? ở cuối mỗi đoạn thơ như những nốt nhấn trầm tạo điệp khúc dư ba cho bản nhạc tâm tình đầy đau thương căm uất của nhà thơ trước cảnh quê hương bị tàn phá, bị hủy diệt tàn bạo.
Còn với Đất nước của Nguyễn Đình Thi nỗi đau thương ấy được đúc kết lại trong gương mặt đất nước bị hủy diệt tàn bạo trong số phận cực nhục của người dâ nô lệ
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Thủ pháp ngược sáng quen thuộc trong nhiếp ảnh được tác giả khéo léo lồng vào thơ cho ta một hình ảnh giàu sức gợi. Nó hao hao giống vài ba vết máu loang chiều mùa đông ở Bên kia sông Đuống. Khung trời chiều ở làng quê yên bình nay đã thấm máu và dâ thép gai đâm nát như một biểu chứng hùng hồn cho tội ác của quân xâm lược:
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bây còn dằng khỏi miệng ta
Thằng giặc tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ đứa lột da
Qủa thật, không có gì đê hèn hơn lũ giặc giữ cướp phá và giết hại người vô tội để thỏa mãn lòng tham muốn, mục đích bất chính của mình. Chẳng những bóc lột dân ta tàn bạo, chúng còn ra sức vơ vét và giết hại những người dân vô tội quanh năm một nắng hai sương, cần cù chất phát. Tội ác của chúng khiến: Từng gốc lúa bờ tre hồn hậu- Cũng bật lên thành tiếng căm hờn. Để rồi tất cả thốt lên: Đã có đất này chép tội- Chúng ta không biết nguôi hờn (Bên kia sông Đuống).
Việt Bắc không nói đến những nỗi đau như thế bởi bài thơ vừa là một khúc ca ân tình ân nghĩa cách mạng, lại vừa là một bài ca chiến thắng của một thời kì lịch sử. Do đó, đau thương của đất nước chỉ được bộc lộ giá tiếp qua nỗi gian khổ, khó khăn trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Niềm đau thương ẩn hiện trong nỗi gian khó khi phải chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt của Bản sương giăng, đèo mây phủ. Quê hương Cách mạng từ thuở còn trong trứng nước, nỗi khó khăn, vất vả hiện lên qua: Miếng cơm chấm muối, qua nhừng hắt hiu lau xám nhưng đậm đà lòng son, qua Bát cơm sẻ nữa, chăn sui đắp cùng với những đắng cay ngọt bùi trong củ sắn lùi đơn sơ trong tình quân dân giản dị mà ấm áp. Ở đây Tố Hữu không hề nói đến đau thương mất mát, tất cả đều mang âm hưởng vui tươi, tự hào nhưng đâu đó ta cảm nhận được một cuộc kháng chiến vô cùng gian nan vất vả trước bọn giặc dữ được trang bị hiện đại và cực kì tàn bạo, Phải sống trong điều kiện vật chất hết sức khó khăn, thiếu thốn và hậu phương của ta cũng gian khổ không kém để thể hiện nỗi bật trong hình ảnh: Người mẹ nắng cháy lưng- Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô. Nỗi cơ cực thể hiện vừa mơ hồ lại vừa rõ nét trong thể thơ lục bát dung dị, gần gũi, trong giọng điệu tâm tình ngọt ngào - giọng của tình thương mến trong bài thơ. Đánh giặc giữa chốn Rừng cây núi đá - rừng thiêng nước độc và chịu nhiều thiếu thốn gian khổ về cả vật chất và tinh thần, qua đó ta thêm khâm phục tinh thần quật cường của dân tộc và cảm nhận rõ nét về những đau thương, khốn khó mà cuộc chiến tranh phi nghĩa của bọn giặc tàn bạo gây nên…
Qua trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, hình tượng đất nước đau thương tuy không thể hiện rõ nét nhưng ta vẫn cảm nhận được điều đó qua lịch sử đau thương mà hào hùng. Dù giọng văn không đau đớn xót xa như Bên kia sông Đuống, không căm phẫn như Đất nước của Nguyễn Đình Thi cũng không nhiều minh chứng rõ ràng về khó khăn, gian khổ trong chiến đấu như Việt Bắc nhưng đâu đó vẫn ẩn chứa trong từng lời văn đầy tự hào ta vẫn thấy hiện hữu nỗi đau qua bốn nghìn năm thăng trầm lịch sử:
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Đó đâu chỉ đơn thuần là nỗi gian khổ khi chống giặc bảo vệ Tổ quốc mà còn là đức hi sinh và những mất mát to lớn chưa gọi thành lời.
Bốn nhà thơ, bốn phong cách, bốn cá tính sáng tạo với bốn vùng quê khác nhau và nỗi đau thương được khắc họa ở nhiều cung bậc nhưng đọng lại trong tất cả vẫn là nỗi đau xót khắc khỏi trước cảnh quê hương bị tàn phá tan hoang dưới gót giày quân xâm lược. Qua đó bộc lộ niềm căm phẫn tột đỉnh với bọn giặc dữ đồng thời thể hiện tấm lòng yêu nước thiết tha của các tác giả.
Có thể nói, bốn bài thơ đã tạc nên bức tượng đài sừng sững về đất nước. Tuy phải chịu bao mất mát đau thương trong chiến tranh nhưng không vì thế mà ta tuyệt vọng buông xuôi; ngược lại lòng căm thù đã hóa thành sức mạnh, niềm tin chống lại lũ cướp nước đê hèn thể hiện qua những vần thơ hùng tráng, bi mà không lụy. Và những tháng ngày chiến đấu gian khổ đầy vất vả hi sinh ấy đã làm sáng ngời hình tượng một đất nước bất khuất - quật khởi - kiên cường.
Tinh thần anh dũng ấy trước hết thể hiện ở lòng căm thù giặc sục sôi và sự tự nguyện đứng lên chống lại kẻ thù hung bạo để giành lại từng tấc đất của quê hương. Với Bên kia sông Đuống từ mảnh đất quê hương mình tác giả đã khái quát cả một xã hội Việt Nam đang phải sống trong bom đạn ác liệt của chiến tranh. Bên kia sông Đuống là mảng thu nhỏ của dân tộc Việt Nam đang bị bọn giặc phá họa những vẻ đẹp cổ truyền, nếp sống bình yên và cả những con người thân yêu trên mảnh đất hình chữ S. Câu thơ thốt lên: Đã có đất này chép tôi- Chúng ta không biết nguôi hờn khắc sâu lòng căm thù quân xâm lược, mối thù không đội trời chung sâu sắc mãnh liệt thể hiện đậm nét tính cách người Việt Nam ta: hiền lành, chất phác nhưng cũng không kém phần mạnh mẽ quyết đoán. Con giun xéo lắm cũng quằn, dưới ách thống trị thực dân, họ ý thức được trách nhiệm, bổn phận của một công dân mà vùng lên như đợt sóng cồn trào dâng không một thế lực nào cản bước:
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ buồn đứng dậy sáng lòa
Và lẽ tất nhiên:
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Bởi vì nhân dân ta sớm ý thức được rằng: Chúng ta càng nhân nhượng chúng nó càng lấn tới như Bác đã từng nói trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm nào. Bọn giặc dữ mất hết nhân tính giày xéo lên cuộc sống của người dân vô tội. Chúng là lũ quỷ mắt xanh trừng trợn-Khua giày đinh đạp đỗ quán gầy teo ở Bên kia sông Đuống là thằng giặc Tây thằng chúa đất- Đứa đè cổ đứa lột da trong Đất nước - Nguyễn Đình Thi. Đâu đó ta cảm nhận được những uất hân căm hờn của nhân dân ta: Mày sẽ chết thằng giặc Pháp hung tàn- Băm xương thịt mày ra tao mới hả (Dọn về làng - Nông Quốc Chấn) và cả trong lời bà ru cũng thấm đẫm hận thù: Cha con chết trận từ lâu- Con càng khôn lớn càng sâu mối thù. Từ đó nhân dân ta ý thức về trách nhiệm của mình hơn biết gắn bó và san sẻ để trên khắp ruộng đồng bãi cỏ của đất nước thân yêu này không còn phải chịu cảnh tượng kinh hoàng: Ôi những cánh đồng quê chảy máu- Dây thép gai đâm nát trời chiều hay Lá đa lác đác trước lều- Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.
Một khi cái tôi công dân đã sống dậy trong mỗi con người lao động, họ chiến đấu và hi sinh vì vận mệnh dân tộc - như một minh chứng hùng hồn về hình tượng đất nước kiên cường quật khởi từ bao đời. Đó là mười lăm năm thiết tha mặn nồng gắn bó cùng núi rừng Việt Bắc, phải chịu bao thiếu thốn khổ ải mà nghĩa quân Lam Sơn đã từng trải qua:
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
(Bình ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Đó là chiến khu với: Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai. Là những Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son. Là Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng; tất cả là khốn khó cả về vật chất lẫn tinh thần mà dân ta phải gánh chịu nếm mật nằm gai để trả nợ nước, báo thù nhà.
Nếu Việt Bắc là một khúc ca tâm tình ngọt ngào gợi nhắc những khó khăn gian khổ ở chiến khu thì Nguyễn Đình Thi lại thể hiện tinh thần hi sinh ấy trong Đất nước theo một khía cạnh mang tính khái quát cao mà không hề mất đi sức lay động gợi cảm:
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước, thương nhà
Bất chấp hi sinh mất mát những người dân Việt dùng sức lực, vật chất tinh thần và cả mạng sống của mình để gìn giữ Tổ quốc mà Nguyễn Khoa Điềm đã từng khái quát:
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước
Dẫu biết rằng: Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh và Đời Cách mạng là khi tôi đã hiểu- Dấn thân vô là phải chịu tù đày - Là gươm kề tận cổ súng kề tay - Là thân sống chỉ coi còn một nửa (Tố Hữu) nhưng họ chiến đấu và hi sinh trước kẻ thù hung bạo, đê hèn; thế hệ sau tiếp bước cha anh, tầng tầng lớp lớp người Việt Nam anh dũng đứng lên bảo vệ Tổ Quốc dù không ai nhớ mặt đặt tên, dù phải trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa (Nguyễn Trãi) thì ta vẫn chiến đấu để giành toàn vẹn lãnh thổ cho nước nhà. Những người dân chất phác chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ (Nguyễn Đình Chiểu) nay đã trưởng thành và chỉ với hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia (Nguyễn Đình Chiểu). Một lần nữa trước cảnh đất nước đau thương, hoang tàn dưới ách thống trị thực dân, nhân dân ta đã chịu mất mát hi sinh để rồi: Ôm đất nước những người áo vải- Đã đứng lên thành những anh hùng (Nguyễn Đình Thi).
Và không chỉ dừng lại ở đó, hình tượng đất nước kiên cường bất khuất còn thể hiện ở tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm, là niềm lạc quan yêu đời, không nao núng trước bao khó khăn gian khổ. Đó là những ngày tháng cơ quan: Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo hay dòng cảm xúc dạt dào khi: Những đêm dài hành quân nung nấu- Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu mà ta từng gặp trong thơ Quang Dũng: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới- Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Nếu chỉ có cái tôi công dân đầy trách nhiệm, lòng căm thù giặc sục sôi mà không có tinh thần đoàn kết thì có lẽ cuộc kháng chiến giữ nước của dân tộc ta không thể nào thành công. Bằng giọng thơ tâm tình đầy trìu mến, Tố Hữu đã dẫn ta về một thời oanh liệt, được cùng sát cánh bên nhau bảo vệ nước nhà:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
Những động từ mạnh, nghệ thuật điệp từ tạo nên khuynh hướng sử thi đậm nét trong những dòng miêu tả về cuộc chiến không cân sức giữa ta với địch. Nhân dân ta đã tự giác đứng lên, đoàn kết cùng nhau chống lại kẻ thù hung bạo và chiến đấu oanh liệt. Hẳn ta vẫn còn nhớ rõ giọng điệu hào hùng phấn khởi của Tố Hữu:
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
Ai về ai có nhớ không?
Ngọn cờ đỏ thăm gió lồng cửa hang
Càng tự hào hơn khi sau bao khốn khó, gian khổ, bao mất mát hi sinh; nhân dân ta đã giành lại được độc lập nước nhà. Lời thơ âm vang đầy hứng khởi:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gío thổi rừng tre bay phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là cua chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
Điệp khúc của chúng ta ngân vang khẳng định chủ quyền dân tộc xiết bao tự hào. Một lần nữa chúng ta được sống trong những năm tháng hào hùng của dân tộc. Sau bao hy sinh, đau thương chúng ta đã chứng minh được rằng:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đất nước của ca dao thần thoại, đất nước của nhân dân sẽ không bao giờ tàn lụi bởi những người Việt Nam ta bất khuất anh hùng.
Mỗi bài thơ mang một âm hưởng một giọng điệu riêng nhưng tất cả cùng thống nhất trong hình tượng một đất nước Việt Nam kiên cường bất khuất. Ở đó ta ta được sống trong lòng sục sôi căm hận, thấu hiểu được những mất mát hy sinh mà quân thù đã gây ra, đồng thời biểu tượng về tinh thần đoàn kết, lạc quan của nhân dân ta rạng ngời tỏa sáng. 
Nhìn chung trong giai đoạn 1945-1975, đặt trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt thì diện mạo Đất nước ta cũng ít nhiều có sự thay đổi. Và  dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì văn học vẫn hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của nó là phản ánh hiện thực mà cụ thể ở đây văn học chính là để phục vụ cho cách mạng, vì thế Đất nước trong giai đoạn này  hiện lên thật chân thực: Đất nước giàu đẹp, đậm đà bản sắc nhưng lại  bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược tàn bạo, và từ trong đau thương ấy, Đất nước hồi sinh mạnh mẽ qua tinh thần quật khởi, kiên cường chống lại ngoại xâm. Song bên cạnh xu thế chung là ngợi ca quê hương, bày tỏ tình yêu với non sông gấm vóc, mỗi nhà thơ lại khám phá quê hương ở những điểm nhìn khác nhau với cá tính sáng tạo riêng biệt  nên hình ảnh quê hương hiện ra với những nét đẹp riêng rất đa dạng, góp phần làm cho diện mạo quê hương ở giai đoạn này càng thêm rõ nét.
Đối với Hoàng Cầm, sinh ra và lớn lên ở miền quê Kinh Bắc, sớm được tắm trong không gian nghệ thuật những làn điệu quan họ, những hội hè đình đám, những bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc, vì thế không phải ngẫu nhiên mà khi đọc Bên kia sông Đuống, ta thấy hiện lên bức tranh về một miền Kinh Bắc cổ kính và thơ mộng trong tâm tưởng của nhà thơ. Không những thế, Bên kia sông Đuống còn là bài thơ của nỗi đau quê hương: Một đêm giữa tháng tư năm 1948, khi nghe xong những thông tin về tình hình giặc đánh phá quê hương ông bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm cực kỳ xao xuyến, tâm tư chồng chất những nhớ thương, tiếc nuối, xót xa, với cảnh và người nơi quê bị tàn phá, giết hại với một niềm căm giận sâu lắng. Nhà thơ từng tâm sự: Quá 12 giờ đêm, tôi thắp đèn dầu sở ngồi viết. Viết một mạch, nhưng cũng đôi ba lúc như ngừng hơi, nín thở để nghe ngóng một điều gì, tuy châm điếu thuốc lào rít nhẹ, nhưng toàn tâm trí vẫn đang cuồn cuộn trong cái mạch từ đầu chảy ra, mỗi giờ một lớn ra và mạnh lên. Đến khi thấy hình như trong người, các nỗi niềm đau đớn, nhớ tiếc, xót xa ấy đã được giải tỏa, tức là đến hết 4 câu thơ cuối cùng:
Bao giờ về bên kia sông Đuống...cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh, tôi thở dài nhẹ nhõng, nước mắt rưng rưng suốt mấy tiếng đồng hồ cũng như không còn ướt tròng nữa, tôi đặt bút chì thì đã nghe tiếng gà gáy sắp sáng (Để dạy tốt Văn 12 CCGD, ĐHSPHN I, 1992). Qua bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm gửi gắm một tình yêu tha thiết, nồng cháy, và không thể khác được, tình yêu ấy được biểu lộ thông qua hình ảnh một miền quê cụ thể - quê hương của nhà thơ, xứ Kinh Bắc, bên kia sông Đuống:
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Trong sáng tạo nghệ thuật, có lúc tác giả bị hút theo một yếu tố kỳ lại mà họ không thể giải thích được. Nghe có vẻ vô lý, nhưng ba câu thơ đầu của Hoàng Cầm đã được sáng tác trong sự hội tụ may mắn ấy: Đột nhiên, từ thôn xóm nào vang vọng ngay bên tai tôi một giọng hát, như than thở, như ru em, giọng phụ nữ nghe rõ mồn một, nhưng lại như nghe từ lúc tôi còn thơ dại. Bởi thế, câu thơ như gợi lên một nỗi buồn xa xăm, một nỗi xót xa tiếc nhớ thật âm thầm. Đọc lên câu thơ, ta có cảm giác hơi quen quen, như đã nghe thấy ở đâu đó, dường như nó có cấu tứ gần giống như: Sao anh không về chơi thôn Vỹ?, Hàn Mặc Tử dùng câu hỏi tu từ như mượn lời người thôn Vỹ để trách yêu, cũng có thể là chính bản thân ông tự nhắc mình về việc về thăm thôn Vỹ, một lý do hợp lý để ông bắt đầu bày tỏ dòng suy nghĩ của mình. Còn Bên kia sông Đuống: Em ơi buồn làm chi, vậy em ở đây là ai? Tại sao bày tỏ tình yêu quê hương nhưng lại bắt đầu bằng những trăn trở về em? Rất có thể là do nghe câu hát từ đâu đó vọng lại, trong Hoàng Cầm, hình ảnh người phụ nữ chợt hiện lên, nên em ở đây có thể là một em nào đó xa xăm, không xác định mà nhà thơ muốn chia sẻ nỗi niềm, cũng có thể là chính tác giả tự phân thân để mà tự đối diện với bản thân, tự trải lòng mình bởi không ai hiểu mình hơn chính bản thân mình; tuy nhiên đó chỉ là những suy luận chưa có căn cứ rõ ràng, và em ở đây có thể cũng chẳng là ai cả bởi như Hàn Mặc Tử, dù em có là ai đi chăng nữa thì em cũng là một cái cớ hợp lý để Hoàng Cầm giãi bày, thổ lộ những dòng cảm xúc miên man bất tận, trở thành một điểm tựa để ý thơ tuôn trào, và nhờ em, Hoàng Cầm đã đưa người đọc đến với đối tượng chính mà ông muốn bày tỏ tình cảm: Bên kia sông Đuống. Cũng phải nhắc lại rằng, Hoàng Cầm sáng tác bài thơ khi đang ở chiến khu Việt Bắc, nên điểm nhìn của ông là từ bờ bên này nhìn sang bên kia, từ bờ tự do nhìn sang bờ bị giặc chiếm đóng. Chính vì thế mà bài thơ mang tên Bên kia sông Đuống chứ không phải Quê hương bên bờ sông Đuống, và thế nằm của con sông mới kỳ lạ làm sao : nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ, cái thế in nghiêng ấy như một dải phân cách, nó vắt mình giữa hai bờ quá khứ và hiện thực, giữa tả ngạn và hữu ngạn sông Đuống, giữa hai miền nay đã chia cách của vùng quê Kinh Bắc. Để khắc họa rõ nét hơn, động từ nằm như càng cho ta thấy rõ hơn, nó hiện lên như một sinh thể có nhận thức, vì thế cái dáng nằm nghiêng nghiêng ấy lại càng như một nỗi trăn trở về hiện thực quê hương cũng như sự gắn bó số phận mình với số phận quê hương. Cũng từ đó, bức tranh bên kia sông Đuống dần dần hiện ra:
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Chính bởi tồn tại bên bờ sông, được bồi đắp phù sa màu mỡ mà tại đây đất đai trù phú với một nền văn minh lúa nước đã phát triển đến trình độ cao, hứa hẹn một mùa màng bội thu với sản phẩm không chỉ còn phục vụ cho bữa  được tôn thêm vị thơm ngon ẩn trong từng hạt gạo và mùi thơm lựng, đậm đà chưa cần thưởng thức cũng đã vấn vương, xao xuyến. Và có lẽ mùi hương ấy chỉ có thể có được khi cây lúa nước được trồng tại đây, bên bờ sông Đuống, được con người Kinh Bắc chăm sóc để rồi trở thành một mùi hương đặc trưng khiến người đi xa mãi nhớ khôn nguôi.
Quê hương ta còn có tranh Đông Hồ, một sản phẩm dân gian nổi tiếng của Kinh Bắc, loại tranh có nét vẽ và màu sắc tươi vui, ngộ nghĩnh với những hình họa gà, lợn, đám cưới chuột được vẽ trên nền giấy điệp trắng tinh và óng ánh như quét ngân nhũ, vì thế mà Hoàng Cầm không nén được tự hào khi nhắc đến sản vật của quê hương mà phải thốt lên: màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp, tranh Đông Hồ không chỉ là màu sắc của xứ Kinh Bắc mà đã trở thành sắc màu bản sắc riêng của dân tộc, là gia tài chung của đất nước mà ở đó sáng bừng lên tất cả những hoài bão, ước mơ của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam về một cuộc sống no đủ, thịnh vượng.
Nói đến quê hương Kinh Bắc thì càng không thể thiếu những đền chùa cổ kính, những hội hè đình đám dân gian tấp nập, đông vui:
Ai về bên kia sông Đuống cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Hội hè là nơi người dân Kinh Bắc chung vui, vui mùa màng tốt tươi năm trước, cầu chúc cho năm nay càng tươi tốt hơn. Đã từ bao lâu nay hội là niềm vui, niềm vui trở thành mơ ước của mọi lứa tuổi mỗi độ xuân về, điều đó đã thành nếp trong đầu, trong tim của mọi người như là mộng bình yên hay là nỗi khao khát hòa bình thăm thẳm tự ngàn đời. Bởi thế, nhà thơ muốn gởi về quê hương tấm áo the đen cho mẹ, cho người thương may áo tứ thân để đi dự hội, cho vơi bớt những nỗi lo toan, nhọc nhằn cả một năm, một đời, mà cũng là một sự gợi nhớ về một nét đẹp văn hóa của những người phụ nữ quê hương Kinh Bắc từng làm xiêu lòng biết bao người:
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
(Chân quê - Nguyễn Bính)
Và nói đến quê hương Kinh Bắc, không thể không nhắc đến những con người nơi đây vì chung quy những giá trị cả về vật chất và tinh thần kia đều là do con người tạọ ra, duy trì và phát triển:
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Họ là những con người thật bình dị, từ em bé quần nâu, những cụ già đáng kính đến những nàng má hồng môi đỏ những nàng môi cắn chỉ quết trầu. Trước kia, họ xuất hiện trước nhà thơ hàng ngày nhưng nay đi vào thơ họ lại thân thương và đẹp đẽ biết mấy, đặc biệt là hình ảnh những nàng, những em, những cô thiếu nữ nơi miền quê Kinh Bắc:
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Cũng là điều dễ hiểu khi đối tượng mà nhà thơ nhớ nhiều nhất chính là những nàng bởi họ là những liền chị hát rất ngọt, đôi mắt rất đa tình trong quan họ, họ xúng xính trong những bộ áo tứ thân truyền thống, kín đáo, e ấp đi dự hội xuân hay họ ấp ủ điều gì đó mà nhà thơ còn chưa thổ lộ. Và vì lòng thương nhớ đó mà hình ảnh của họ hiện lên thật đẹp, khuôn mặt phải là búp sen, một vẻ đẹp thanh thoát ánh lên nét hồng hào và còn như thoang thoảng mùi hương tao nhã ủ trong những búp sen mới nở, và răng đen thì mới đúng là vẻ đẹp cô gái Kinh Bắc xưa đủ hắt lên một ánh sáng kỳ diệu: cười như mùa thu tỏa nắng, mà nắng là sức sống, mùa thu là dịu dàng. Vì thế từ nét cười ấy mà Hoàng Cầm bâng khuâng nhận ra cái hồn riêng của Kinh Bắc. Và họ đâu chỉ đẹp một cách bình thường, mà vẻ đẹp của họ càng quý hơn khi nó hiện lên trong lao động: những nàng dệt sợi, đi bán lụa màu, những người thợ nhuộm, Đồng Tỉnh, Huê Cầu, những phiên chợ Hồ, chợ Sủi, những bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối... Không chỉ là cái nghề được truyền từ đời này sang đời khác mà còn là cái khéo léo trong hành nghề. Cái tục mắc cửi giăng tơ ngang đường, ai đi qua phải đáp cho được câu đố hay hoặc hát mới được qua, không thì chỉ tơ cứ buộc mà vương. Truyền kỹ cái nghề pha màu, chọn nắng, chiều áo, chiều người mà nhuộm cho vừa mắt, vừa lòng các anh, các chị của những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh- Huê Cầu đi đâu cũng để lại những tấm áo, những tấm thắt lưng, những chiếc yếm bền màu, và luôn để lại những nỗi nhớ niềm thương trở thành ca dao: Ai về Đồng Tĩnh, Huê Cầu- Để thương để nhớ để sầu lại đây. Vậy đó, những người dân xứ Kinh Bắc hiện lên với vẻ đẹp thuần phát, nhân hậu, chân chất rất đặc trưng cho phẩm chất của những người lao động thuần nông. Tóm lại, qua miêu tả của Hoàng Cầm, quê hương Kinh Bắc là một miền đất trù phú, tươi đẹp, ngọt lành, thơm thảo tình đất tình người và đậm đà bản sắc cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tuy nhiên, đâu chỉ có vậy, sông Đuống còn hiện ra như một đại diện tiêu biểu về những nỗi đau, thương tích chiến tranh:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
Kể từ ngày lũ giặc tàn bạo kéo lên giày xéo, quê hương đã phải chịu đựng biết bao đau thương. Giữa vùng quê trù phú với những con người hồn hậu và kẻ thù hung ác, khát máu đến cực độ thì làm sao tránh khỏi được sự phá hủy. Dưới con mắt của Hoàng Cầm, kẻ thù là những kẻ vô cùng xấu xa, được ví như chó ngộ, nghĩa là con ác thú có thể bất chấp tất cả vì cơn thèm khát bạo lực, nhưng đâu phải chỉ có một con, mà là một đàn, nên tính hung ác của bọn chúng càng được tăng lên theo cấp số nhân, mà còn nào con nấy lưỡi dài lê sắc máu. Bởi thế mà ruộng ta khô, nhà ta cháy, còn đâu cuộc sống yên bình khi xưa khi nơi trú thân bị mất, cái nuôi sống cả một miền quê bị thiêu rụi. Thêm vào đó, tội ác của chúng không chừa ai, không tha cho bất cứ cái gì khiến miền quê giàu đẹp nay chỉ còn kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang, những giá trị văn hóa tinh thần đặc trưng như tranh Đông Hồ nay cũng ly tán, chết chóc, phải chăng tác giả đã mượn tranh để diễn tả cảnh tượng thật ngoài đời, thực ảo, ảo thực, dù là thế giới nào thì cũng là một sự thật phũ phàng, chua chát. Chỉ còn lại đâu đây một tiếng chuông chùa văng vẳng từ thuở bình yên xa xưa càng làm tăng thêm sự hoang vắng của quê hương như tiếng thở than nuối tiếc một thời yên ấm Bởi thế, khi chứng kiến cảnh tượng này, tác giả không thể có một cảm giác nào khác là đau đớn, đau đớn tột độ : sao xót như rụng bàn tay, những cảm giác được diễn tả thật cụ thể thông qua nỗi đau của thể xác, đau đớn như bị chém đứt lìa từng ngón tay trên bàn tay đủ để thấy rằng nỗi đau ấy thật quá sức chịu đựng của con người. Có lẽ vì thế, nhà thơ như hụt hẫng, như thảng thốt, như tiếc nuối nên sau những dòng thơ tả về cuộc sống trong quá khứ lại xen kẽ những câu hỏi tu từ: đi đâu? về đâu? ở đâu?... Nhà thơ như muốn hét vào sự im lặng một nỗi bức xúc, uất ức, một câu hỏi không thể tìm ra lời đáp và cũng không có giải pháp cứu vãn để rồi đọng lại trong tác giả và mỗi chúng ta một nỗi đau khôn cùng trước thực trạng tăm tối. Bởi thế, điệp khúc bên kia sông Đuống lặp đi lặp lại gợi sự gần gũi, nhưng cũng là một khoảng cách xa xăm diệu vợi vì bao giờ cho đến ngày xưa, xứ Kinh Bắc giàu đẹp nay chỉ còn là trong tiềm thức, còn xứ Kinh Bắc hiện tại thì bị phá hủy đến chẳng còn gì. Giọng thơ như nấc nghẹn lên trong niềm chua xót nghẹn ngào.
Quê hương đã bị tàn phá đến vậy rồi, ấy vậy mà con người còn không được buông tha:
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm
Nạn nhân ở đây là ai vậy? Một mẹ già ư! Bà mẹ già tội nghiệp với gánh hàng rong gầy còm: dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy, cái gánh hàng nuôi sống cả cuộc đời mẹ chỉ có dăm, mấy, vài chứng tỏ là giá trị của nó vốn chẳng đáng tốn công cướp bóc. Thế mà:
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Bọn nó không tha cho mẹ, gánh hàng đã nghèo, chúng còn phá tan tành. Hình ảnh lũ quỷ mắt xanh trừng trợn, khua giày đinh càng cho ta thấy sự ác độc vô nhân đạo của bọn chúng, cả với những người không có khả năng chống cự mà bọn chúng còn dùng hết sức lực để mà đập phá, đúng là xảo quyệt, tàn ác không khác nào lũ quỷ mất hết nhân tính. Cho nên hậu quả tất yếu là tan phiên chợ nghèo, máu loang chiều mùa đông, chẳng còn gì có thể tồn tại yên bình dưới ách thống trị của chúng, chỉ với cuộc cướp bóc thôi mà bọn chúng đã đang tay sát hại dân lành không thương tiếc, vì cái gì? Chỉ vì thú tiêu khiển đẫm máu, thỏa mãn thú tính man rợ của bọn chúng. Thế nên:
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Tội nghiệp cho bà mẹ già ốm yếu, nghèo nàn, cái gánh hàng đã bị phá hoại, rồi đây mẹ sẽ sống bằng gì, hay chết đói nằm còng queo bên đường như trong tác phẩm Vợ nhặt. Hai hình ảnh con cò trắng trên trời và bà mẹ già dưới đất như bổ sung cho nhau, không phải là cánh cò bay lả bay la trong câu ca mẹ hát mà là cánh cò hốt hoảng chạy trốn đạn bom. Giữa một không gian mênh mông đến rợn ngợp có cánh cò trắng bay vùn vụt lướt ngang dòng sông Đuống, hình ảnh bà mẹ già nua quẩy gánh hàng rong còm cõi trên vai, bước thấp, bước cao trên đường trơn mưa lạnh đã nói lên thật thấm thía thân phận bơ vơ, tội nghiệp, vô định của những bà mẹ trong chiến tranh mà câu hỏi về đâu? trôi vào hư không như càng cho thấy rõ điều đó.
Một nạn nhân nữa, một hoàn cảnh đáng thương không kém:
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Đó là trẻ em, những em bé nhỏ nhắn, mỏng manh, ngây thơ, vô tội, cái độ tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, lẽ ra các em phải được lớn lên trong vòng tay yên ấm của cha mẹ, được ưu tiên, bao bọc, bảo vệ, vậy mà thực tế thì:
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây, tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Một bát cháo-một đàn, một sự mâu thuẫn đến buồn cười nhưng lại hiện thực đau xót.  Còn tổ ấm của em không phải là gia đình, người thân mà chỉ là một cái mẹt quây tròn để mà mường tượng, nhung nhớ. Chính vì hiện thực nghiệt ngã đó mà các em chỉ còn biết gởi gắm những ước mơ nhỏ nhoi trong giấc mơ đêm về. Thế mà lũ quỷ mắt xanh đó còn dồn các em đến bước đường cùng, những ước mơ đẹp đẽ bị bọn chúng phá tan tành bằng vũ lực, bằng tiếng súng dồn tựa sấm. Chính vì đột ngột phải trở lại với hiện thực trần trụi, đối lập hoàn toàn với giấc mơ hạnh phúc mà các em hoảng hốt, giật mình, để rồi ú ớ cơn mê, thon thót giật mình, từ thon thót đã cực tả nỗi sợ hãi của những tâm hồn non nớt, nghĩa là không lúc nào được an tâm, không lúc nào thôi sợ hãi. Và hình ảnh những em thơ trở thành nạn nhân đó cũng đã có lần xuất hiện trong thơ ca:
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ đàn chim dao dác bay
(Chạy Tây - Nguyễn Đình Chiểu)
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Nỗi sợ hãi luôn thường trực bóng giặc dày vò những nét môi xinh, sự ngây thơ trong trắng của con trẻ đã bị lấn át bởi nỗi ám ảnh về tội ác của quân thù. Với những miêu tả chân thực, Hoàng Cầm đã cực tả hoàn cảnh khốn cùng của những con người lận đận, đau khổ, những nạn nhân xấu số vô tội của của cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Khác với Bên kia sông Đuống, cảm hứng về đất nước của Nguyễn Đình Thi mang tính sử thi- tổng hợp- khái quát, bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, gắn bó với vận mệnh đất nước và phát triển theo diễn tiến của lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp. Cảm hứng này đã chín sau tám năm trời ấp ủ, nghiền ngẫm trải nghiệm trong cuộc kháng chiến của nhân dân để trào ra mãnh liệt trong những ngày chiến thắng giặc Pháp thành một tượng đài đất nước bằng thơ: một đất nước hiền hòa mà bất khuất, tình nghĩa mà anh hùng - một đất nước trưởng thành, tỏa sáng!
Không giống như dung lượng sáng tác của các tác phẩm khác: chỉ trong một ngày, một buổi, thậm chí chỉ trong dăm ba tiếng đồng hồ (Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng), Đất nước của Nguyễn Đình Thi là sự kết hợp của ba mảng thơ khác nhau, mảng nọ cách mảng kia tới bảy năm (1945-1975). Mảng đầu tiên trong bài Sáng mát trong như sáng năm xưa mở đầu như ở bài thơ Đất nước sau này:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Mảng thứ hai được lấy trong bài Đêm mít-tinh với những cảnh thực của đêm mít-tinh ở rừng Phan Lương xen kẽ cảnh trong tâm tưởng nhớ về Hà Nội. Mảng thứ ba được tác giả viết cuối cùng vào năm 1955, là kết quả ghi nhận của ấn tượng trong một chiều Bắc Giang kháng chiến. Chính vì trải qua cuộc trường chinh vạn dặm của kháng chiến chống Pháp nên đất nước từ vất vả đau thương lại càng tươi thắm vô ngần.
Bài thơ mở đầu là nỗi nhớ về một mùa thu đã xa - mùa thu Hà Nội. Cái mùa thu ấy với hương cốm, với sáng mát trong, với không khí chớm lạnh và những phố dài xao xác hơi mây đã len lỏi vào trong niềm nhớ của tác giả. Để rồi tác giả nêu lên Mùa thu nay khác rồi. Khác ở chỗ đứng, khác ở vị thế, không còn là mùa thu ra đi Hà Nội, mà bây giờ là mùa thu chiến khu, mùa thu hào hùng trong lịch sử dân tộc. Nhà thơ đã ngắm nhìn, cảm nhận đất nước từ chỗ đứng, bằng tấm lòng của chúng ta - những con người vừa được Cách mạng giải phóng khỏi thân phận nô lệ khổ nhục đang đứng lên làm chủ non sông, đất nước mình. Bởi thế, đất nước đó là núi đồi, rừng tre phấp phới. Đất nước, đó là những cánh đồng thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa, là gốc lúa bờ tre hồn hậu. Đất nước, đó là trời đầy chim và đất đầy hoa, là lòng dân ta yêu nước thương nhà… Bình dị, thân thương là thế, nhưng đất nước ấy đã phải trải qua cả một quá trình đấu tranh anh dũng những năm đau thương chiến đấu, những cánh đồng quê chảy máu - dây thép gai đâm nát trời chiều… để giờ đây đất nước mang một tầm vóc mới, đất nước của thời đại dân chủ nhân dân. Đại từ chúng ta được lặp lại nhiều lần như khẳng định cái tư thế và tầm vóc lịch sử ấy.
Trong khó khăn gian khổ, đất nước càng trưởng thành tỏa sáng, chính vì thế càng về cuối bài thơ cảm hứng lạc quan càng nồng đượm.
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Chính những con người chân đất đã đứng lên gánh vác sứ mệnh lịch sử, làm nên thành những anh hùng. Để rồi khi đứng ở hiện tại chiến thắng vinh quang nhìn lại con đường lịch sử vừa qua của dân tộc Nguyễn Đình Thi tự hào khẳng định:
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới    
Lòng ta bát ngát ánh bình minh
Gian khổ trong chiến đấu, hy sinh và rạng ngời trong chiến thắng, khổ thơ kết hợp hài hòa mặt cụ thể, gợi cảm với tính khái quát, biểu tượng (ngày nắng đốt theo đêm mưa dội, trán, lòng, trời đất mới, ánh bình minh) là sự tổng kết lịch sử sâu sắc của Nguyễn Đình Thi theo cách một nhà thơ trữ tình.
Từ niềm tự hào đất nước, Nguyễn Đình Thi hướng đến ngợi ca tầm vóc sử thi của đất nước
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Khổ thơ vừa là hình ảnh tả thực về trận đánh cuối cùng khi chiếm đồi A1 của trận Điện Biên Phủ rung chuyển năm châu - chấn động địa cầu, lạị vừa là hình ảnh biểu tượng cho đất nước từ máu lửa đứng lên chiến đấu và chiến thắng. Câu thơ ở đây gọn, chắc, cô đọng, cân đối, trang trọng, khỏe mà đĩnh đạc trong những câu sáu chữ. Đây chính là sự đột phá nghệ thuật, vần điệu bị tước bỏ, các chữ gói gọn, không thừa, không thiếu, hình ảnh rất mạnh (Rung trời giận dữ, nước vỡ bờ) mọi ánh sáng tập trung làm sáng lòa cuộc đấu tranh hùng tráng của dân tộc Việt Nam. Tất cả tạo nên hình tượng đất nước từ trong máu lửa đau thương của chiến tranh, từ trong bùn lầy của lam lũ, đói nghèo, mà vươn mình đứng dậy. Hình tượng ấy khiến ta nhớ lại cái vươn vai kỳ diệu của chú bé Làng Gióng thuở nào, hay nhớ đến cái tư thế hiên ngang của người chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trên đường bay Tân Sơn Nhất
Từ dáng đứng của anh trên đường bay Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
 Đúng là trong vất vả đau thương đất nước càng tươi thắm vô ngần như Nguyễn Đình Thi từng viết
Anh yêu em như yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Thực vậy, trải qua một cuộc trường chinh vạn dặm của lịch sử dân tộc, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện những chiêm nghiệm của mình suốt dặm dài đất nước. Để rồi giống như Tố Hữu đã nói
Việt Nam ôi Tổ quốc thương yêu
Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều
Nguyễn Đình Thi đã dựng nên hình tượng đất nước như bông sen vươn dậy từ bùn lầy, tăm tối, đói nghèo, mất mát, đứng lên chiến đấu và chiến thắng, từ trong vất vả đau thương càng tươi sáng rạng ngời. Cũng chính vì thế đã tạo nên nét riêng của: Đất nước.
Đối với Tố Hữu, Việt Bắc lại mang một nét đẹp riêng. Bài thơ sáng tác vào tháng mười năm 1945, lại viết về 15 năm Cách mạng và kháng chiến vừa qua như một hoài niệm hào hùng, đó là một bản tổng kết bằng thơ những chặng đường lịch sử ấy. Ở đây nét lạ của thơ Tố Hữu là ở chỗ nhà thơ đã làm mới những gì đã cũ. Cuộc sống, thiên nhiên và con người Việt Bắc khi có ánh sáng Cách mạng soi vào, tất cả đã trở nên khác lạ hẳn. Thiên nhiên thì như một kho tàng chưa bao giờ khám phá hết. Còn con người giản dị, mộc mạc, nồng hậu và son sắt thủy chung. Ngay ở cách thể hiện nghệ thuật cũng vậy.
Lục bát vốn bắt nguồn từ ca dao. Nhưng đến Việt Bắc hình thức ca dao ấy nâng lên một trình độ mới. Đó là thơ. Thơ lục bát được Tố Hữu vận dụng trong một bài thơ dài tạo ra âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng, linh hoạt. Xuân Diệu nhận xét: Không phải một cây bút trong tay Tố Hữu nữa mà nhiều ngọn bút nở cùng một lúc, bút tả tình, bút tả cảnh, bút tả người. Người ta ta thấy văn chương Cách Mạng, văn chương viết về chiến đấu gian khổ mà quật khởi cũng chính và văn chương chí tình, chí nghĩa, văn chương nên thơ nên nhạc. Câu thơ lúc thì dung dị, dân dã gần với ca dao lúc thì cân xứng nhịp nhàng trau chuốt mà trong sáng nhuần nhị đến cổ điển. Có thể nói đến với Việt Bắc, ca dao đã đạt đến một điệu thức mới mà ca dao cổ truyền chưa có. Song tính dân tộc của bài thơ - không thể không kể đến - chính là ở chỗ nó đã bắt trúng hai cội nguồn: đạo lý dân tộc và mạch văn dân tộc. Về đạo lý dân tộc thì rõ nhất là truyền thống dân tộc uống nước nhớ nguồn. Từ giã Việt Bắc mà lưu luyến, nhớ thương chính là truyền thống đó, ta với mình- mình với ta - lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh. Đạo lý dân tộc không chỉ là tình nghĩa mà còn là ân nghĩa - nghĩa nặng ơn sâu thủy chung son sắt.
Mạch văn dân tộc ở bài thơ trước hết là mạch văn của tình thương. Lòng thương người trong văn học Việt Nam đã xuất hiện từ lâu, từ văn học dân gian đến văn học bát học, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.. và đến cả Tố Hữu nữa: Thương nhau, chia củ sắn lùi- Bát cơm se nữa chăn sui đắp cùng. Người cán bộ Cách mạng được đồng bào Việt Bắc đùm bọc, chở che, gọi là Người thương - biểu hiện cao quí nhất của sự gắn bó keo sơn, tình nghĩa. Một chữ nhớ dìu dặt, thiết tha cũng vì tình thương mà biến hóa. Nhớ ở đây có khi thuộc về trí nhớ như: nhớ từng bản khói cùng sương, nhớ khi giặc đến giặc lùng nghĩa là nó gắn với chiều không gian, thời gian cụ thể. Còn nhớ gì, nhớ sao lại nằm trong một phạm trù khác, phạm trù của xúc cảm tâm hồn: nhớ sao ngày tháng cơ quan, nhớ sao tiếng mõ rừng chiều. Tần số xuất hiện của chữ nhớ khi chậm rãi làm tiền đề cho người, cho cảnh hiện ra. Bức tranh tứ bình khơi nguồn từ chữ nhớ ấy: Ta về mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người. Hai đại từ mình và ta được sử dụng sáng tạo. Trong tiếng Việt, mình dùng để chỉ bản thân tức ngôi thứ nhất, nhưng cũng còn để chỉ đối tượng giao tiếp thân thiết, gần gũi - chỉ những người bạn đời, tức ngôi thứ hai. Điều đó tạo nên quan hệ gắn bó của hai nhân vật đối đáp. Cách biến hóa, chuyển biến linh hoạt, đa nghĩa vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, hòa nhập làm một mình đi mình có nhớ mình, mình đi mình lại nhớ mình tạo nét uyển chuyển cho câu thơ.
Nói đến mạch văn dân tộc còn phải nói đến chất liệu văn học và văn hóa dân gian vận dụng phong phú, cùng với những hình ảnh so sánh, ấn dụ, tượng trưng được sử dụng thích hợp tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển cho bài thơ. Cũng cần phải kể đến những liên tưởng đa chiều, những sức gợi từ nhịp điệu. Riêng về nhịp điệu nhà thơ thường sử dụng nhịp 4/4 trong câu bát và nhịp 2/4 trong câu lục. Nhịp 4/4 trong câu bát thường là những tiểu đối cân xứng khoan hòa. Còn nhịp 2/4 trong câu lục phù hợp với phương thức đối đáp và giọng kể.
Như vậy tính dân tộc của Việt Bắc không phải chỉ ở hình thức nghệ thuật mà còn ở chiều sâu tư tưởng - cảm xúc thống nhất hài hòa với nghệ thuật biểu hiện. Bài thơ là khúc ca vừa hào hùng bất khuất và cũng là khúc ca thắm thiết ân tình. Với đặc điểm hài hòa thống nhất chặt chẽ của hai yếu tố, hai nguồn mạch Cách mạng và dân tộc Việt Bắc xứng đáng là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và của nền thơ Cách mạng Việt Nam.         
Tiếp nối khúc tráng ca về Đất nước đau thương mà quật khởi thời kỳ chống Pháp: Đất nước - Nguyễn Đình Thi, là khúc tráng ca về đất nước thời kì chống Mỹ: Đất nước - (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm với những khám phá mới mẻ, độc đáo.
Trong chương V - Đất nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm lại muốn dành tâm huyết và bút lực để khám phá, khẳng định vai trò lớn lao cùng sức mạnh kì diệu của nhân dân trong sự nghiệp kiến quốc cũng như vệ quốc suốt bốn ngàn năm lịch sử dân tộc như một cách cắt nghĩa bằng con đường nghệ thuật cho câu hỏi lớn: Đất nước có tự bao giờ? Đất nước là gì? Đất nước do ai tạo dựng? Từ đó nhà thơ đã đi đến khái quát, khẳng định, tự hào, xúc động và làm nổi bật lên tư tưởng: Đất nước của Nhân dân.
Nhìn chung, toàn bộ chương V của Trường ca mặt đường khát vọng được triển khai từ tư tưởng Đất nước của nhân dân… Đất nước của nhân dân đã thực sự vang lên bằng tiếng nói của nghệ thuật, của thơ, và đó chính là thành công lớn của chương Đất nước
Hình tượng Đất nước Nhân dân với Nguyễn Khoa Điềm là một hoài thai, ấp ủ, là cách nói khái quát, cô đọng thể hiện sự khám phá mới mẻ và đầy trân trọng, tự hào của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò vĩ đại cũng như sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Nếu ta đã tiếp xúc với Đất nước của Nguyễn Đình Thi ta sẽ bất ngờ với lời định nghĩa đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Khái niệm đất nước là gì được tác giả khái quát từ những điều quen thuộc nhưng không theo lối mòn xưa cũ nào mà ngược lại thật lạ, thật hấp dẫn. Đất nước không phải là cái gì cao siêu, xa lạ mà gần gũi, thân thuộc biết bao nhiêu:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Những cái ngày xửa ngày xưa có riêng gì của ai, ai chẳng lớn lên từ ca dao, từ huyền thoại, cổ tích ngàn đời. Người mẹ ấy là đại diện là hiện thân cho Đất nước chứ đâu chỉ những tên tuổi đã in dấu son chiến công trong sử sách. Miếng trầu bây giờ bà ăn cũng giản dị lớn lao như thế. Sự tích trầu cau có người Việt nào chưa biết? Nó thoang thoảng một thứ hương vị đồng quê, nương dâu, bãi mía. Tục ăn trầu song hành với lịch sử từ thị thành đến nơi thôn cùng xóm vắng. Nó quy tụ bao trìu mến, thương yêu. Cây tre đánh giặc, miếng trầu bà ăn, những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể tạo dựng một không gian đặc biệt chỉ nông thôn người Việt mới có. Hơi ấm từ không gian bình dị ấy lan tỏa khắp nơi, sưởi ấm hồn người…
Tiếp đó là những cảm nhận về đất nước trong sự thống nhất của các phương diện địa lí và lịch sử, không gian và thời gian. Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chia thành hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Đất nước trường tồn trong không gian và thời gian Thời gian đằng đẵng - không gian mênh mông. Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ, đó là chiều dài lịch sử của đất nước. Về không gian địa lí, đất nước là không gian sinh tồn gần gũi, máu thịt với cuộc sống mỗi con người: Đất là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm - Đất nước là nơi ta hò hẹn- Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm. Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức. Nước gột rửa cho tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Đất và Nước- hai từ đó gộp lại thành Đất nước tròn trịa thống nhất, không thể tách rời. Không chỉ gần gũi thân quen là vậy mà đất nước còn hiện lên thiêng liêng cao cả. Đất nước là núi sông, rừng và bể con chim phượng hoàng móng nước biển khơi hay những phát hiện độc đáo về những thắng cảnh thiên nhiên của đất nước. Những cảnh quan kì thú của non sông gấm vóc (Đá Vọng Phu, núi Con Cóc, Con gà ở vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái, núi Bút non Nghiêng…) không chỉ là những tặng vật của tạo hóa, thiên nhiên mà đã gắn liền với cuộc sống con người; trở thành thắng cảnh mang những giá trị văn hóa lịch sử lâu đời. Nếu không có những người vợ suốt tháng năm mòn mỏi ngóng trông chồng thì cũng không thể có sự tích về đá Vọng Phu ở nhiều nơi trên đất nước ta; nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì cũng không thể có cảm nhận độc đáo vẻ hùng vĩ của vùng đồi núi Phong Châu (chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương) hay những thắng cảnh ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm ở khắp nơi trên đất nước ta đều có sự góp phần tạo dựng của người dân bình thường. Trên chiều rộng của không gian địa lí và chiều dài của thời gian lịch sử, đất nước được thể hiện tập trung trong các bình diện văn hóa – phong tục, truyền thống tinh thần của dân tộc, trong đời sống hằng ngày và trong những biến cố lịch sử, trong đời sống mỗi cá nhân và trong cuộc sống cả cộng đồng. Đây chính là cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp nhiều chiều của nhà thơ về đất nước. Và tác giả đã dẫn tới một khái quát sâu sắc:
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Cái bề thế của bốn một nền văn hiến bốn nghìn năm mà nhà thơ tiếp nhận được đã biến thành một dòng chảy tâm hồn. Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh hùng nỗi tiếng mà trước hết nhắc đến vô vàn những lớp người không biết mặt đặt tên:
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Gian dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước
Những con người vô danh và bình dị đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của dân tộc từ hạt lúa, ngọn lửa đến tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, cho đến cả tên làng, tên xã… Họ cũng là người khi có ngoại xâm thì chống ngoại xâm- có nội thù thì vùng lên đánh bại.
Trong thời gian, trong không gian, sức sống của Đất nước, nhân dân suốt bốn nghìn năm trải rộng khắp vùng miền lãnh thổ. Dài rộng thì đến vô cùng nhưng có một điểm mấu chốt thiêng liêng đoàn tụ:
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cuối đầu nhớ ngày giỗ tổ
Đó là nếp nghĩ, là truyền thống tinh thần của dân tộc. Còn dân tộc Việt, tình cảm ấy, ý chỉ ấy vẫn còn. Và hơn hữa, còn là một lời nhắc nhủ thế hệ trẻ về trách nhiệm với đất nước, lời nhắn gởi chân thành, giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, dốc ra từ tận đáy lòng:
Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời
Mỗi cuộc đời đều thừa hưởng được biết bao giá trị cả về vật chất và tinh thần của dân tộc. Chúng ta lớn lên là nhờ đất nước, cả máu xương đều do đất nước tạo ra, mỗi người đều mang trong mình dấu ấn của một đất nước nhất định, trở thành bộ phận thống nhất khắng khít của đất nước; vì vậy, chúng ta phải có trách nhiệm gắn bó san sẻ gìn giữ xây đắp Làm nên Đất nước muôn đời.
Hình tượng Đất nước Nhân dân đã thấm vào máu thịt của thơ, của cảm hứng thơ. Ngay từ những đại từ nói về người mẹ, người bà, người yêu, đứa con tưởng là chỉ những con người cụ thể, nhưng thử hỏi có ai không thấy mình trong đó? Người con trai ra trận, người con gái trở về nuôi cái cùng con là những ai nếu không phải là khuôn mặt chung của tất cả mọi người, những con người không ai nhớ mặt đặt tên. Nhưng họ đã góp phần làm ra đất nước. Góp nên hòn Trống Mái, những núi Vọng Phu đâu chỉ là tình yêu, là nỗi nhớ của một con người, một cá nhân. Nó thao thức một nỗi niềm dân tộc. Chính những câu thơ với đại từ chung chỉ người như thế đã tạo nên những xúc động vì một lẽ giản đơn: Làm ra đất nước nhưng không cần lưu giữ tuổi tên, giản dị và bình tâm trong cái sống, cái chết đời thường, cách nghĩ ấy, cách sống ấy thật cô cùng vĩ đại. Họ là nhân dân, không một cách gọi nào cao quí hơn. Chủ nghĩa nhân văn từ cội nguồn dân tộc qua trường kì lịch sử đã bồi đắp một tâm hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm, ấy là do đất nước từ nhân dân mà có.
Ở chiều rộng của không gian địa lý và chiều dài của thời gian lịch sử, đất nước được cảm nhận dưới sự thống nhất của các phương diện văn hóa, truyền thống, phong tục, cái hằng ngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống mỗi cá nhân và cộng đồng. Kết hợp với một không gian nghệ thuật riêng, mở ra một thế giới nghệ thuật quen thuộc gần gũi mà mỹ lệ, bay bổng văn hóa dân gian, kết tinh tâm hồn, trí tuệ của nhân dân. Việc vận dụng văn hóa dân gian ở đây không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật, mà là sự thấm sâu qua niệm đất nước nhân dân vào trong tư duy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.
Với mỗi bài thơ hình tượng đất nước lại mang những nét đẹp riêng. Nếu với Hoàng Cầm đất nước gắn liền với vùng Kinh Bắc cổ kính, Tố Hữu với Việt Bắc ân tình - ân nghĩa thì Nguyễn Đình Thi lại khắc họa hình tượng đất nước từ đau thương hiện lên tươi thắm vô ngần và Nguyễn Khoa Điềm với tư tưởng Đất nước của nhân dân. Nhưng dù thế nào thì tựu chung lại vẫn là những tình cảm yêu mến, tự hào về một đất nước giàu đẹp, một dân tộc anh hùng- tình nghĩa, và càng tự hào bao nhiêu lại càng đau xót, căm phẫn khi đất nước rơi vào tình cảnh đau thương, mất mát. Để rồi từ đó cất cao tiếng hát ngợi ca về một đất nước anh dũng trong chiến đấu, tỏa sáng, rạng ngời và vẹn tròn to lớn: từ mái tóc xanh đầu nguồn Pắc Bó, tới gót chân hồng mũi Cà Mau.
Bốn bài thơ là bốn gương mặt đẹp về đất nước: giàu đẹp, đau thương trong chiến tranh và kiên cường , bất khuất trong chiến đấu, thông qua hình ảnh một vùng đất Kinh Bắc dân gian - cổ kính, một quê hương cách mạng Việt Bắc tình nghĩa - anh hùng, một đất nước trưởng thành tỏa sáng theo chiều dài lịch sử dân tộc và một đất nước của nhân dân với những giá trị lâu bền trong. Hình tượng đất nước ấy bắt nguồn từ truyền thống yêu nước cao đẹp được hun đúc suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc và còn được khơi nguồn từ những thử thách ác liệt của lịch sử 30 năm đấu tranh 1945-1975. Thế nên chính những trang thơ đó đã bộc lộ thấm thía, cảm động tấm lòng yêu nước của con người Việt Nam, khơi dậy trong lòng mỗi công dân Việt niềm tự hào dân tộc, tình yêu, sự gắn bó cũng như trách nhiệm đối với đất nước trong hiện tại và tương lai.
Nguyễn Thị Thúy Lan 
Theo https://123doc.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, ...