Chói lọi sao vàng hoa vĩ đại
Ai đem giấu vàng trong gió thu.
Trước năm 1945, ít ai nghĩ rằng thi sỹ Vũ Hoàng Chương lại có
lúc bừng tỉnh dậy sau những cơn say để viết nên một bài thơ hay nhất về cuộc
Cách mạng ngày 19 tháng 8 ở Hà Nội. Một bài thơ dù đôi lúc xưa cũ mà hào sảng,
phóng khoáng, đầy chất kinh kỳ và đặc sắc nhất là những câu thơ về lá cờ Cách mạng
với ngôi sao vàng năm cánh vang hồn nước bay trên phố phường thủ đô nghìn năm
văn hiến. Như một phép lạ. Một tin lành. Một giọng điệu thi ca hào sảng mà bi
tráng không thể nào tìm thấy được trong thơ Vũ Hoàng Chương cũng như thơ của
phong trào Thơ Mới trước đó.
Họ Vũ đến với Thơ Mới có lẽ vào loại muộn mằn nhất. Mãi đến
năm 1940, Vũ Hoàng Chương, theo như tâm sự của chính ông, mới buộc lòng cho in
tập thơ đầu tay - Thơ Say, chỉ vì món nợ mà Lưu Trọng Lư không trả được,
phải xin ông khấu trừ bằng giấy in thơ. Chẳng phải vì ham hố chuyện văn chương
trước hết. Mặc dầu vậy, tháng 09 năm 1941, Hoài Thanh đã viết lời giới thiệu Thơ
Say để đưa vào Thi Nhân Việt Nam, được xuất bản một năm sau đó. Chỉ
nhìn qua một lượt Thơ say có 31 bài với sáu mục. Say – Mùa – Yêu
– Cưới – Lỡ làng – Lại say và tên các bài thơ đầy tâm trạng mong thành
sầu sụp đổ. Say đi em. Hờn dỗi. Đời còn chi. U tình. Lo
sợ. Chậm quá rồi. Bạc tình. Chết nửa vời. Con tàu say. Sai
lạc. Hơi tàn Đông Á…cũng đủ thấy hồn thơ họ Vũ chìm đắm trong say như thế
nào rồi. Bởi thế, Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt Nam đã viết: Người
say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa, say thuốc phiện, say
nhảy đầm…Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng say sưa to hơn mọi say sưa khác: say
thơ…Cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà
chưa hẳn đã trụy lạc, mặc dù từ say sưa đến trụy lạc chẳng dài chi. Giọng thơ họ
Vũ chứa chất một niềm ngao ngán vị chua chát, hằn học và bi đát thật đặc biệt.
Ông Hoài Thanh đã đúng. Cứ xem như Vũ Trọng Phụng viết phóng sự đủ loại từ Làm
đĩ, Kỹ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì…tưởng đâu Phụng là
người trụy lạc. Vậy mà ông là người hiếu thảo và trong sạch trong làng văn thuở
ấy. Vũ có hơi khác đôi chút. Đời sống hàng ngày của ông trước 1945 cũng bi đát
và nhọc nhằn không biết là bao nhiêu. Vào khoảng năm 1944, Vũ lấy vợ là chị gái
của nhà thơ Đinh Hùng. Nhà trọ của họ chật hẹp ở gần phố chợ Hàng Da. Họa sĩ Tạ
Tỵ một lần đến thăm, loay hoay tìm khoảng chiếu để ngồi mà không có. Đã hơn 9
giờ sáng rồi mà Chương vẫn chưa tỉnh. Thi sỹ của chúng ta vẫn nằm trên tấm nệm
cũ. Toàn thân như dán xuống mặt nệm. Da mặt tái mét. Đôi mắt mở hé trễ xuống.
Như còn muốn hút…Vâng, đúng là Vũ Hoàng Chương đấy. Vậy mà chỉ một năm sau.
Ngày 19 tháng 8. Cách mạng đã đến với hàng chục vạn người từ khắp mọi ngõ
ngách đường phố, từ những cuộc đời gió bụi đến tầng lớp trí thức thượng lưu, từ
những mảng quá khứ đau thương và tủi nhục, từ những thân tàn ma dại chết đói rệu
rã các ngả đường, cùng kề vai sát cánh mang theo cờ đỏ sao vàng đổ về quảng trường
nhà hát lớn để làm một cuộc phục sinh. Cuộc hội ngộ vĩ đại ấy đã đưa số phận của
dân tộc Việt Nam bước lên vũ đài lịch sử mới.
Nó đã hóa thân hàng triệu kiếp người. Ngay cả vị vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam đã tự nguyện từ bỏ ngai vàng, trân trọng trao bảo kiếm và ngọc tỉ tượng trưng của vương quyền bao nhiêu thế kỷ qua cho Cách mạng và đã nói một câu hay nhất trong cuộc đời của ông ta: Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ. Đến vua còn thay đổi như thế, huống chi là một thi sỹ tài năng và nhạy cảm như Vũ Hoàng Chương. Họ Vũ đã tham gia vào cuộc Cách mạng ấy theo cách riêng của mình. Ông đã viết nên một bài thơ về ngày 19 tháng 8 ấy như chưa bao giờ được viết. Hào sảng. Dõng dạc. Mang không khí sử thi - Bài Nhớ về Hà Nội vàng son viết năm 1947.
Nó đã hóa thân hàng triệu kiếp người. Ngay cả vị vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam đã tự nguyện từ bỏ ngai vàng, trân trọng trao bảo kiếm và ngọc tỉ tượng trưng của vương quyền bao nhiêu thế kỷ qua cho Cách mạng và đã nói một câu hay nhất trong cuộc đời của ông ta: Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ. Đến vua còn thay đổi như thế, huống chi là một thi sỹ tài năng và nhạy cảm như Vũ Hoàng Chương. Họ Vũ đã tham gia vào cuộc Cách mạng ấy theo cách riêng của mình. Ông đã viết nên một bài thơ về ngày 19 tháng 8 ấy như chưa bao giờ được viết. Hào sảng. Dõng dạc. Mang không khí sử thi - Bài Nhớ về Hà Nội vàng son viết năm 1947.
Trước Vũ Hoàng Chương, đã có hai thi sỹ nổi tiếng làm thơ về
Cách mạng tháng 8. Xuân Diệu công bố trường ca Ngọn quốc kỳ vào ngày
30 tháng 11 năm 1945. Rất kịp thời. Không thể không nói Ngọn quốc kỳ là
không hoành tráng. Nhưng tiếc thay. Có lẽ là do quá xúc động để cảm hứng thơ
trào lên không kìm giữ được, nên mặc dù nhịp điệu thơ thật khẩn trương, không
gian thơ mở rộng và tác giả của nó không kiệm lời trong việc ca ngợi ngọn quốc
kỳ, song thiếu khái quát được những hình tượng thơ đặc sắc mang tính tượng
trưng giàu sắc thái thẩm mỹ. Ngôn ngữ thơ chưa có điều kiện chọn lọc để phát ra
những hiệu ứng lan tỏa của cái đẹp một cách cần thiết. Bởi thế, trường ca ra đời
thật kịp thời và nó được viết ra bởi một nhà thơ mới nhất trong số các nhà thơ
của phong trào Thơ Mới mà lại chưa tương xứng với những điều Xuân Diệu đã có.
Nó chỉ minh chứng một điều: Ông là người ra quân sớm nhất trong cùng đội ngũ của
ông. Và tỏ rõ thi ca có những quy luật riêng của nó.
So với Xuân Diệu, Tố Hữu có lợi thế hơn nhiều. Ông là một
trong những người trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Huế và ông thường nói
mình là nhà Cách mạng làm thơ. Không phải nhà thơ làm Cách mạng. Tố Hữu viết Huế
Tháng Tám theo thể thơ 8 chữ, vốn có thế mạnh và phù hợp với điệu tráng
ca. Tố Hữu nghiêng về dừng lại miêu tả hơn là để tâm tìm ra hình tượng biểu
trưng. Ví như “ngập Huế đỏ cờ sao”, “vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi” mà
chưa gắn được với bức phông toàn cảnh thật bi hùng ngực lép bốn nghìn năm,
trưa nay cơn gió mạnh. Thổi phồng lên, tim bỗng hóa mặt trời. Người ta vẫn
chưa hình dung được cụ thể hình tượng cờ đỏ sao vàng, biểu tượng của Cách mạng
gắn với Huế trong những giờ phút trọng đại không thể mộng mơ theo cách cũ được
nữa.
Hai năm sau. Năm 1947. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có đủ độ lùi cần
thiết cho việc chiêm nghiệm, chọn lọc để viết: Nhớ về Hà Nội vàng son. Bài
thơ kết hợp được việc mô tả không khí hào hùng của cả dân tộc bước vào một thời
điểm lịch sử trọng đại, tư duy thơ đã gắn hiện thực với những tưởng tượng đầy sức
mạnh đến độ trổ ra những câu thơ lộng lẫy và điều quan trọng nhất đã tìm thấy
biểu trưng cho cuộc Cách mạng là ngôi sao vàng năm cánh xòe ra một cách đầy sức
sống và lãng mạn giữa thủ đô Hà Nội 5 Cửa ô của đất Thăng Long nghìn năm cổ
kính; khiến nhịp điệu trở nên trang trọng náo nức trong thể thơ 7 chữ với 8 khổ
32 dòng thơ. Bài thơ mở đầu bằng không khí trang nghiêm mà tự hào về thế đứng của
đất nước trong ngày Cách mạng.
Ôi ngày mười chín ngày oanh liệt
Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương
Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt
Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.
Tiếp theo Vũ Hoàng Chương đã viết 4 câu thơ hay nhất về Cách
mạng Tháng 8 ở Hà Nội. Nó ghi danh tên tuổi họ Vũ trong thi ca hiện đại. Gần một
thế kỷ nay, chưa thi sĩ nào viết được về Hà Nội vào giây phút hào hùng ấy của tổng
khởi nghĩa, rạng rỡ và trang trọng trong sự gắn bó giữa hiện thực và hình tượng
biểu trưng. Hà Nội như được nhìn thấy từ một hành tinh khác bởi sự kết nối của
5 cánh sao vàng lãng mạn với 5 Cửa ô của hiện thực trường tồn. Đó là sự gặp gỡ
giữa thời đại và lịch sử.
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh xoè trên năm Cửa ô.
Vẻ đẹp của ngày Cách mạng được vẽ tiếp trong bức tranh thơ
trùng điệp những đoàn người hành khúc từ tóc bạc, má hồng đến triệu chàng trai
nước Việt cùng hát ra đi bảo toàn sông núi trong sự đồng tâm Một
tấm lòng mang vạn tấm lòng.
Trong văn chương Việt Nam nửa sau thế kỷ 20, hình tượng Hồ
Chí Minh trở nên quen thuộc trong thi ca. Có người gọi Hồ Chí Minh là đức vua,
là thánh nhân, là cha già dân tộc, mà quen thuộc nhất là tên gọi Bác Hồ. Vũ
Hoàng Chương đã mượn hình tượng trong một bài thơ viết 1945 của Tố Hữu để gọi Hồ
Chí Minh là một người lính già tiêu biểu. Vũ Hoàng Chương vẽ chân
dung Hồ Chí Minh trong ngày Cách mạng hào hùng ấy theo một phong cách mà sau
này người ta đã vẽ trên tranh cổ động giản dị rất nổi tiếng thời chống Mỹ. Bài
thơ như muốn nói lên một điều mà lịch sử đã xác định: Không có nhân dân Việt
Nam, không có HCM sẽ không có Cách mạng Tháng 8.
Hai khổ thơ sau cùng của Nhớ về Hà Nội vàng son như
gợi mở và lý giải cờ hoa Hà Nội ngày 19 tháng 8 vốn đã tiềm ẩn và chắt chiu giữa
lòng dân tộc, giữa kinh đô từ bao đời nay lắng hồn sông núi. Bởi vậy, ngày hôm
đó là ngày mãi mãi.
Trả hôm mười chín mùa thu trước
Về cho mười chín thu mai đây.
Dường như sự hoàn hảo có lúc làm người ta tưởng như chau chuốt
của Nhớ về Hà Nội vàng son là một minh chứng cho quan niệm của thi sỹ
Trần Dần về Hiện thực vốn có ba tầng: thực + tưởng tượng + tượng trưng. Nhớ
về Hà Nội vàng son là sự giao kết ba tầng của hiện thực ấy. Và đó cũng là
con đường đi ngắn nhất của thi ca từ hiện thực đến siêu thực và ngược lại - để
soi rọi những khía cạnh thẩm mỹ vốn tiềm ẩn trong đời sống, để xã hội yêu mến
những liên tưởng đầy kỳ ảo của cảm xúc, để chúng ta mãi mãi nhìn thấy cái ánh
chớp của biểu tượng năm cánh xòe trên năm Cửa ô của Hà Nội ngập tràn
cờ sao mùa thu năm ấy. Và như thế chúng ta mới hiểu được rằng làm thi sỹ không
phải bỗng dưng ai cũng làm được. Bởi vì làm thơ là quá trình giấu vàng
trong gió thu.
Những chấn động của lịch sử đã làm rung chuyển mọi nền tảng của
xã hội, mở ra một thời đại mới cho thi ca. Cách mạng Tháng 8 và sau đó là cuộc
kháng chiến 9 năm chống Pháp đã đưa Thơ đến những biên độ phát triển mới. Mỗi một
thời đại lịch sử cần những khúc hát của chính mình. Một nhịp điệu thơ đã cất
lên và lan tỏa. Nhớ máu của Trần Mai Ninh ngày 9 tháng 11 năm
1946. Nhớ về Hà Nội vàng son của Vũ Hoàng Chương - 1947. Nhớ của
Hồng Nguyên - 1948. Tây tiến của Quang Dũng - 1948. Bên kia sông
Đuống của Hoàng Cầm - 1948. Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông - 1948…Lịch sử đã mang lại một nhịp sống hồ hởi, hồn nhiên, phơi phới, tràn ngập
niềm tin cho thi ca Việt Nam giữa lòng thế kỷ 20. Thế kỷ 21 đã đi qua gần 20
năm rồi, nhiều thi sĩ hôm nay nói với tôi rằng: họ thèm được sự hồn nhiên như
thế ở trong thơ.
Tháng 4 năm 1960, Chế Lan Viên có bài nhân đọc Hoa Đăng - tập thơ mới của Vũ Hoàng Chương in ở Sài Gòn 1959. Tôi coi trọng nhất đoạn Chế
Lan Viên cảm nghĩ Nhớ về Hà Nội vàng son. Ông coi đó là lúc đẹp nhất
của đời người thi sĩ. Khẳng định nhà thơ họ Vũ còn nhớ mãi 5 Cửa ô trong
cuộc đời. Năm Cửa Ô trong thơ. Năm cánh hoa trong hồn dân tộc.
Nhưng, lịch sử của một dân tộc còn có những khúc quanh huống
chi là lịch sử của một thân phận con người. Sau 1954, Vũ di cư vào Nam. Ở đây
ông tiếp tục làm nghề dạy học và làm thơ. Nhiều tập thơ đã được ra đời. Rừng
phong - 1954. Hoa Đăng - 1959. Trời một phương - 1962. Ta đợi em từ ba mươi năm - 1970… Từng có lúc ông giữ chức Chủ tịch
Hội văn bút Sài Gòn. Đã 4, 5 lần dự hội nghị quốc tế về thơ ở nước ngoài. Thơ
ông được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức. Nhưng, người ta nói rằng
suốt thời gian cư ngụ ở Sài Gòn từ 1954 đến khi mất vào ngày 6 tháng 9 năm
1976, Vũ trước sau chỉ là kẻ thuê nhà. Từ xóm Hòa Hưng đến chợ Vườn chuối và
sau cùng chui rúc vào một vùng lúc đó còn đìu hiu lau lách gần bến Phạm Thế Hiển.
Cái phần hòn ngọc viễn đông hoa lệ không phải dành cho ông mà chỉ là “cõi tạm”
cho một cuộc di cư suốt đời ở trọ. Nói như thế để trân trọng hơn một người đã từng Đòi
hoa Hà Nội sóng Long Biên không phải cho riêng mình hơn 70 năm về trước.
Nhà văn Thế Phong có viết trên tờ tạp chí Văn Hóa Á Châu xuất
bản ở Sài Gòn năm 1960 rằng: thơ xuân Vũ Hoàng Chương sau năm 1954 vẫn chỉ
hướng về mùa xuân dĩ vãng. Khai bút thơ xuân hôm nay mà chỉ nhắc lại xuân đã
qua rồi. Có lần tôi gặp thơ họ Vũ một lúc bâng khuâng thế sự:
Ta còn để lại gì không
Cảm thán trước một đời thi sĩ, tôi muốn nói với Vũ Hoàng
Chương rằng: Ông để lại cho đời nhiều lắm. Ít nhất cũng là một phong cách thơ kỳ
lạ của phong trào Thơ Mới vào lúc nó đã ở chặng cuối con đường và một bài thơ về
Hà Nội 19/8 như một trong những phút giây đẹp nhất của khuôn mặt Thăng Long
nghìn năm văn hiến. Và như thế mới gọi là lịch sử. Bởi vì lịch sử không chỉ là
những bước đi khổng lồ đôi khi trừu tượng, những cuộc mít tinh tuần hành hàng vạn
con tim cùng nhịp đập. Lịch sử còn mang trong mình nó biết bao nhiêu thân phận
con người. Sống và chết, mưu cầu hạnh phúc, cày cấy, buôn bán tất tả ngược
xuôi. Nhìn xuống chân mình để đọc những câu thơ nhân thế mà đất và trời ban tặng… Chính
họ đã va đập vào bao nhiêu cái ngẫu nhiên để lịch sử tìm ra cái tất nhiên. Để họ
cũng góp phần làm ra nó theo cách riêng của mình. Thi ca đi giữa hai bờ vực của
cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên ấy mà tìm ra kẻ đã giấu vàng trong gió thu làm
con người nhiều khi không ngủ.
Tháng 8 năm 1992, nhân dịp kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ Mới,
NXB Hội nhà văn Việt Nam trân trọng in hai tập thơ Say (1940)
và Mây (1943) với lời giới thiệu: Vũ Hoàng Chương dẫn Thơ Mới
vào cõi sâu xa cá tính. Vũ chẳng giống ai trước mình và những người sau cũng chẳng
ai bắt chước được. Vũ là một ngôi sao ở cuối bầu trời Thơ Mới.
Năm 1993 NXB Hội nhà văn Việt Nam tiếp tục in lại Ta đã
làm chi đời ta, hồi ký của Vũ Hoàng Chương kể về nhiều câu chuyện vui buồn của
anh em văn nghệ thời trước Cách mạng, trong đó có đoạn hoài niệm đám cưới của
Hoàng và Oanh năm 1944. Nguyễn Tuân có tặng một tập giấy khổ vuông. Mỗi bề độ 2
gang tay. Ở bên mép giấy cách chừng độ một đốt ngón tay, in hai chữ Nguyễn Tuân
– thủ bút của đương sự. Nguyễn dặn rằng: Giấy này để viết những trang bản thảo
đắc ý. Tôi hy vọng Vũ Hoàng Chương đã viết Nhớ về Hà Nội vàng son trên
những trang giấy ấy. Sau 30 tháng 4 năm 1975 họ Nguyễn vào Sài Gòn thăm Vũ
Hoàng Chương. Quà tặng của họ Vũ cho ông Nguyễn lại chỉ là thủ bút của tác giả Nhớ
về Hà Nội vàng son. Một nét thủ bút thôi mà biết bao ý nghĩa, sau bao năm chia
cắt mới đoàn tụ trong cái nếp văn hóa nghèo mà sang của người Việt Nam. Tôi đã
được thấy cái thủ bút ấy. Nó khắc khoải, đầy dằn vặt mà cũng ngang tàng lắm.
Nhưng không hiểu sao tôi hơi ngạc nhiên cái ông thi sĩ Vũ Hoàng Chương hào hoa
mà lãng tử trong thơ đến thế lại khác xa người đàn ông xưng danh là Hoàng được
cầm tinh con Rồng (sinh năm 1916) có thời hưởng tuần trăng mật với nhiều buổi tối
buồn tẻ đến hiu hắt ở căn gác hình ống tại Bến Thóc thành Nam Định lại hơi vụn
vặt mà tầm thường trong thiên hồi ký không mấy hấp dẫn Ta đã làm chi đời
ta. Tôi chờ đợi điều lớn hơn thế chiết ra từ cuộc đời dâu bể của ông - cái con
người thời còn trẻ có khuôn mặt rất giống vua Bảo Đại, lúc về già lại giống ông
cố đạo nghèo vùng Sơn Nam Hạ.
Đầu năm 2005 vào đêm nguyên tiêu ngày thơ Việt Nam 3/3, người
ta trân trọng công bố tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội kết quả cuộc bầu chọn
100 bài thơ hay nhất của thế kỷ 20. Trong đó có bài Say đi em của Vũ
Hoàng Chương. Tên tuổi của ông đứng bên cạnh những cái tên danh giá nhất của
thi đàn Việt Nam hiện đại. Hàn Mặc Tử. Tố Hữu. Chế Lan Viên. Nguyễn Bính. Vũ
Hoàng Chương. Huy Cận. Xuân Diệu. Hoàng Cầm. Quang Dũng.v.v... Lịch sử đã không
quên một ai khi ban tặng và vực dậy một người đang say để viết nên một thi phẩm
nổi tiếng về ngày Cách mạng. Nhưng nếu không, nếu không có một tài thơ đã từng
viết Say đi em thì cũng không thể đón nhận cái phút chốc chớp sáng của
tưởng tượng khi 5 cánh sao sáng lòa trên 5 Cửa Ô kinh đô nghìn năm không ngủ.
Cả một thế hệ đã có lúc muốn đưa hồn say về tận cuối trời
quên, có lúc bế tắc lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ, bị quê hương ruồng bỏ
giống nòi khinh, sau 19/8 đã sống một cuộc đời khác. Vũ Hoàng Chương là một người
trong số đó. Nhớ về Hà Nội vàng son không chỉ là nỗi nhớ của một giai
đoạn lịch sử, mà là nỗi nhớ của nhiều thời đại về một ngày rực rỡ như chưa bao
giờ rực rỡ như thế.
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh xòe trên năm Cửa ô.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét