Liêu trai chí dị 1
Đại Nam
Cao Xuân Huy dịch
Hề Thành Liệt là một sĩ nhân ở Thành Ðô. Có một vợ và một thiếp.
Người thiếp họ Hà, tiểu tự là Chiêu Dung. Người vợ chết sớm, bèn lấy vợ kế họ
Thân, tính đố kỵ nhau, ngược đãi người thiếp họ Hà sinh được một con trai đặt
tên là Ðại Nam. Hề lâu nay không trở về, Thân gạt Hà ra, không thổi cơm chung,
cứ ngày ngày đong phần thóc cấp cho. Ðại Nam lớn dần, thóc ăn không đủ nữa. Hà
phải dệt vải để phụ vào phần ăn, không dám xin thêm. Ðại Nam thấy ở trường học,
trẻ con ngâm nga đọc sách, cũng muốn đi học. Mẹ cho là hãy còn bé quá, nhưng
cũng dắt đến trường cho học thử, để con chán phải bỏ. Ðại Nam sáng dạ, sức học
gấp đôi các trẻ khác. Thầy làm lạ, tình nguyện không đòi tiền học. Hà bèn cho
con theo học thầy, biếu lễ chút đỉnh. Ðược hai, ba năm đã học thông kinh sách.
Một hôm, đi học về nói với mẹ rằng:
- Trong trường có năm sáu đứa đeo lấy cha xin tiền mua quà bánh, sao con lại
không có cha?
Mẹ nói:
- Chờ lúc nào con lớn lên, mẹ sẽ cho con biết.
Ðại Nam hỏi:
- Con nay đã bảy, tám tuổi, bao giờ mới là lớn?
Mẹ bảo:
- Con đến trường đi qua miếu đức quan Thánh thì nên vào lạy, ngài sẽ phù hộ cho
chóng lớn.
Ðại Nam tin lắm, ngày hai buổi đi qua đều vào lạy. Mẹ biết thế, hỏi:
- Con khấn điều gì?
Cười đáp:
- Chỉ xin sang năm ngài cho con lớn bằng đứa mười lăm, mười sáu tuổi.
Mẹ cười. Song Ðại Nam sức học và hình vóc đều lớn như nhau, mới mười tuổi mà
như mười ba mười bốn tuổi; những văn bài cậu làm, bài nào văn chương cũng trôi
chảy. Một hôm, nói với mẹ rằng:
- Trước kia mẹ nói, con lớn lên mẹ sẽ cho biết cha ở đâu, bây giờ đã đến lúc rồi
đấy!
Mẹ bảo:
- Chưa đâu, chưa đâu!
Lại hơn một năm nữa, đã như người lớn hẳn hoi, càng gạn hỏi luôn luôn. Mẹ bèn
thuật lại ngành ngọn. Ðại Nam nghe nói, thương cảm khôn xiết, múôn đi tìm cha.
Mẹ nói:
- Con hãy còn non trẻ quá, cha còn hay mất chưa biết, làm sao tìm được ngay?
Ðại Nam không nói gì mà bỏ đi, đến giữa trưa không về, bèn đến hỏi ở trường,
thì thầy nói sau giờ cơm sớm chưa trở lại trường. Mẹ cả kinh cho là Ðại Nam bỏ
học, bỏ tiền ăn ra thuê người đi tìm kiếm khắp nơi mà không có tung tích gì.
Ðại Nam ra khỏi cửa, mù mờ chẳng biết nên đi đâu, cứ thẳng đường mà đi miết. Gặp
một người đang định đi Quỳ Châu, nói mình họ Tiền. Ðại nam ăn xin và đi theo.
Tiền bực đi chậm quá, thuê cho một con lừa, tiền lưng cạn hết. Ðến Quỳ, cùng
nhau ngồi ăn, Tiền lén bỏ thuốc vào thức ăn, Ðại Nam mê man bất tỉnh. Tiền chở
đến một ngôi chùa lớn, giả thác là con mình, không may bị ốm giữa đường, hết tiền
ăn, muốn đem bán cho nhà chùa. Tăng đồ thấy mặt mũi khôi ngô khác thường, tranh
nhau mua. Họ Tiền lấy được vàng rồi ra đi. Tăng chúng đổ thuốc cho Ðại Nam, dần
dần tỉnh, sư cụ trụ trì biết tin đến xem, thấy tướng mạo rất lạ, gạn hỏi ngọn
ngành, lại càng thương, bảo các tăng giúp tiền bạc rồi cho đi.
Có thư sinh họ Tưởng ở Lô Châu, đi thi trượt trở về, trên đường gặp hỏi biết
duyên cớ, khen là hiếu, kết làm bạn đồng hành. Ðến Lô Châu, cho ở trong nhà
mình hơn một tháng, gặp ai cũng hỏi. Có người mách rằng trong đám thương nhân
đi Mân có người họ Hề, bèn từ biệt họ Tường để đi Mân. Tưởng giúp cho áo quần
giày dép, xóm làng cũng góp nhau giúp tiền ăn. Trên đường gặp hai khách buôn vải
đi Phúc Thanh, mời cùng kết bạn đường. Ðược vài ngày, khách dòm được tiền trong
đãy của Ðại Nam, bèn đem đến chỗ vắng, trói tay trói chân, cướp hết mà đi. Vừa
có ông cụ họ Trần người Vĩnh Phúc đi qua đấy, cởi trói, dìu lên xe, chở về nhà
mình. Ông cụ là một nhà cự phú, thương nhân các trấn phần lớn đều từ cửa nhà cụ
mà ra. Cụ dặn các khách buôn Nam Bắc hỏi dùm tin tức của Hề, và giữ Ðại Nam ở lại
làm bạn đọc sách với các con mình. Ðại Nam bèn ở lại, không đi đây đi đó nữa, từ
đó nhà càng xa, tin tức càng nghẽn.
Hà Chiêu Dung sống cô quạnh ba bốn năm, Thân thị xén bớt phần ăn, đè nén đến điều,
bắt phải tái giá. Hà tự làm lấy mà ăn, ý chí không lung lay. Thân ép bán cho một
lái buôn Trùng Khánh. Lái buôn bắt cóc đem đi. Ðến đêm, Hà lấy dao cứa cổ. Lái
buôn không dám bức, chờ cho vết thương lành lặn, đem bán lại cho một khách buôn
ở Diêm Ðình. Ðến Diêm Ðình, Hà tự xẻ lồng ngực, lộ rõ phủ tạng. Người khách
buôn hốt quá, lấy thuốc ra buộc vết thương; khỏi rồi, chỉ muốn làm vãi. Người
khách buôn bảo rằng:
- Tôi có người bạn buôn, không có bộ phận của đàn ông, chỉ muốn tìm người may
vá trong nhà, ở với người ấy cũng không khác gì làm bà vãi, mà lại cũng có thể
bù lại chút vốn tôi bỏ ra.
Hà nghe theo. Người khách buôn cho xe đưa đi. Ðến cửa, chủ nhân chạy ra, thì là
chàng Hề. Số là Hề đã bỏ nghiệp nho mà đi buôn. Người bạn buôn thấy không có vợ
bèn đem Hà thị tặng cho. Gặp nhau kinh ngạc, buồn thương, kể lể những nỗi khổ sở.
Hề mới biết là mình đã có con, đi tìm cha chưa về. Hề bèn dặn các quán trọ, dò
hỏi tin tức Ðại nam, mà Chiêu Dung tự phận thiếp nay trở thành chính thất.
Nhưng trải qua nhiều bước gian truân, yếu đau lắm bệnh, không thể gánh vác được
mọi việc, bèn khuyên chồng lấy vợ lẽ, Hề trông gương tai hoạ lúc trước, không
chịu nghe theo. Hà nói:
- Nếu thiếp là kẻ tranh giành ngôi thứ ở nơi giường chiếu, thì trong mấy năm
nay đã theo người ta mà đẻ con rồi, có còn được đoàn tụ với nhau như ngày nay nữa
đâu! Vả chăng cái ách mà người ta đặt lên cổ mình, còn đau đớn âm ỷ ở trong
lòng, lẽ nào tới phiên mình mình lại đem đặt lên cổ người khác!
Hề bèn dặn bạn khách buôn mua cho một cô người thiếp già, tuổi hơn ba mươi. Qua
nửa năm, khách quả mua được thiếp đem về. Khi vào cửa, thì lại chính là người vợ
họ Thân. Người nào người nấy nhìn nhau lạ lùng, kinh hãi. Trước đó, Thân thị ở
một mình được một năm, người anh tên là Bao khuyên tái giá. Thân nghe theo, duy
ruộng nương thì bị con cháu trong họ ngăn không cho bán. Chỉ bán các vật sở hữu,
tích cóp được mấy trăm đồng vàng, đem về nhà anh. Có người lái buôn ở Bảo Ninh,
nghe nói thị giàu, có cả một hòm tư trang, bèn lót nhiều tiền cho Bao để lừa phỉnh
thị mà cưới làm vợ. Nhưng người lái buôn thì già khụ và tàn phế, chẳng còn sức
làm đàn ông nữa. Thân oán giận anh mình, không yên phận làm vợ, hết doạ thắt cổ
trên giường, lại đe gieo mình xuống giếng, quấy nhiễu không chịu nổi. Lái buôn
giận, lục soát tiền bạc lấy hết, định đem bán làm thiếp, nhưng ai cũng chê đã lỡ
thì rồi. Lái buôn ta đi Quỳ Châu, đem thị đi cùng, gặp người khách buôn cùng một
cửa hiệu với Hề, vừa may lại trúng ý định, bèn mua mà mang đi. Ðến khi gặp Hề
thì vừa thẹn, vừa sợ, nói không ra một tiếng. Hề hỏi lại người khách buôn cùng
cửa hiệu cũng biết đại khái, bèn nói:
- Nếu gặp người đàn ông khoẻ mạnh, thì đã ở lại Bảo Ninh, đâu có gặp nhau ở đây
nữa! Âu cũng là số cả! Nhưng nay ta mua thiếp chứ không phải cứơi vợ, vì thế,
trước hết hãy vào lạy Chiêu Dung để đúng lễ vợ cả vợ bé đã!
Thân lấy làm xấu hổ, Hề nói:
- Xưa kia còn làm vợ cả thì như thế nào?
Hà khuyên nên miễn cho thị, nhưng Hề không chịu, cầm gậy đứng trước mặt cưỡng
ép. Thân bất đắc dĩ cũng phải lạy, nhưng trước sau vẫn không chịu hầu hạ, chỉ
làm lụng ở phòng khác. Hà đều khoan dung cho hết, cũng chẳng nỡ xét nét siêng
năng hay lười biếng. Mỗi khi chuyện trò yến ẩm cùng Chiêu Dung, Hề cứ gọi Thân
thị đến hầu hạ bên cạnh. Hà muốn thay thế bằng một con hầu, Hề không nghe. Gặp
lúc quan huyện lệnh họ Trần tên Tự Tông, đến nhậm chức ở Diêm Ðịnh. Hề có việc
tranh chấp nhỏ với người làng, họ bèn kiện Hề tội cưỡng bức vợ cả làm vợ lẽ. Trần
Công không xét, quát mắng đuổi ra. Hề mừng lắm, nói riêng với Hà, ca ngợi ông
huyện nhân đức.
Một đêm, canh đã khuya, tiểu đồng gõ cửa vào báo quan huyện lệnh đến. Hề hốt
quá, vội vàng mặc áo xỏ giày, thì quan đã vào nhà trong, lại càng hoảng, không
biết làm thế nào. Hà nhìn kỹ, vội vàng đi ra, nói rằng: Con ta đây mà! Rồi khóc lên. Trần Công bèn sụp xuống
đất, nức nở nghẹn ngào. Sô là Ðại Nam từ khi theo họ của cụ Trần đến nay đã nên
quan. Lúc ông mới từ kinh đô chuyển đến, có vòng đường đi qua cố hương, mới biết
hai mẹ đều đã cải giá, gục đầu thương cảm. Người trong họ biết Ðại Nam đã là
quan sang, đem nhà ruộng trả lại cả. Ông cho đầy tớ ở lại để sửa sang, xây cất,
mong có ngày cha lại trở về. Rồi được bổ nhiệm ở Diêm Ðình, lại múôn bỏ quan để
tìm cha. Cụ Trần ra sức khuyên can. Vừa gặp lúc có người thầy bói bèn xin một
quẻ. Thầy bói nói:
- Nhỏ thành lớn, thiếu thành trưởng, tìm trống được mái, tìm một được hai; quẻ này
đi làm quan thì tốt.
Trần Công bèn đi nhậm chức. Vì không tìm được hai thân, nên làm quan mà không
dám ăn mặn, uống rượu. Ngày hôm ấy, nhận được đơn kiện của người làng, thấy nói
đến họ Hề, có ý ngờ, lén sai người tâm phúc đi hỏi han, quả đúng là cha, bèn thừa
lúc đêm tối, đi ra theo kiểu vi hành; gặp lại mẹ chàng tin thầy bói là thần
kỳ. Khi trở về, dặn chớ tiết lộ, đưa hai trăm đồng vàng, bảo bố sửa soạn hành
trang trở về làng cũ. Bố tìm đến nơi thì nhà cửa mới mẻ, nuôi thêm hai người hầu
ngựa cưỡi, nghiễm nhiên là một đại gia.
Thân thị thấy Ðại Nam giàu sang thịnh vượng thì lại càng hổ thẹn. Người anh là
Bao nghe tin, đâm đơn lên quan, muốn giành lại ngôi vợ cả cho em mình. Quan điều
tra được thực tình. Giận nói:
- Ðã tham của, khuyên em tái giá hai lần đổi chồng, còn mặt mũi nào mà tranh
giành cả lẽ như ngày xưa?
Bèn truyền đem Bao ra đánh roi rất nặng.
Từ đó, danh phận rõ ràng, Thân cam phận bé mọn thờ Hà như chị, thì Hà cũng lấy
nghĩa mợ cả đối xử với Thân như em, quần áo, ăn uống không một thức gì tranh phần
dùng riêng. Trước kia, Thân vẫn sợ Hà phục thù, đến đây lại càng thẹn thùng, hối
hận. Hề cũng quên điều ác ngày xưa của thị, cho phép người nhà gọi bằng thái mẫu,
chỉ có phong tặng là không được mà thôi.
Cô Gái Nghĩa Hiệp
Trần Thị Băng Thanh dịch
Thư sinh họ Cố người Kim Lăng, học rộng tài hoa, nhưng nhà rất
nghèo, lại vì có mẹ già không nỡ rời dưới gối, nên hàng ngày chỉ vẽ thuê viết
mướn kiếm ăn. Ðã hai mươi lăm tuổi mà vẫn phòng không lạnh lẽo.
Trước cửa nhà chàng là một ngôi nhà bỏ hoang từ lâu, một hôm có một bà già cùng
một cô gái đến thuê để ở. Vì thấy không có đàn ông, nên chàng cũng chưa tiện
thăm hỏi gốc tích của họ. Một hôm tình cờ từ ngoài về, chàng gặp cô gái trong
phòng mẹ đi ra, tuổi chừng mười tám mười chín, xinh đẹp, thanh tú, trên đời ít
có người sánh kịp. Gặp chàng, cô không tránh mặt nhưng có vẻ nghiêm lạnh. Chàng
vào nhà hỏi mẹ, bà bảo:
- Ðó là cô gái ở nhà trước cửa, sang mượn thước và kéo may. Cô vừa cho biết nhà
cũng chỉ có một con một mẹ. Trông cô có vẻ không phải con nhà nghèo. Hỏi sao
không lấy chồng, đáp vì còn mẹ già. Ðể mai mẹ sang chào bà cụ, nhân tiện dò ý
xem sao. Nếu ước vọng của họ không cao xa quá thì con có thể phụng dưỡng mẹ già
thay nàng.
Hôm sau bà qua nhà cô gái, thấy mẹ nàng là một bà lão điếc. Nhìn trong nhà, tịnh
không còn một bữa gạo cho ngày mai; hỏi cách sinh sống thì chỉ trông nhờ vào
hai bàn tay cô gái. Dần dà mẹ chàng đem chuyện kết thân giữa hai nhà ra ướm hỏi;
bà cụ ý như cũng bằng lòng, nhưng còn quay sang bàn bạc với cô gái; nàng nín lặng,
xem chừng không được vui.
Mẹ về, kể lại cho con nghe và tỏ ý ngờ vực nói:
- Hay là cô ấy ngại nhà mình nghèo chăng? Tính tình nghiêm nghị không nói không
cười, xinh như đào mận mà lại lạnh lùng như sương tuyết, thật là người kỳ lạ!
Mẹ con than tiếc một lúc rồi cũng bỏ qua.
Một hôm chàng ngồi ở phòng, bỗng có một thiếu niên đến nhờ vẽ tranh. Chàng ta
dung nhan đẹp đẽ nhưng ý tứ thì khá buông tuồng. Hỏi ở đâu đến, đáp là ở thôn
quê. Sau đó vài ba ngày lại đến một lần. Lâu dần thành quen, cười đùa cợt nhã.
Chàng suồng sã ôm choàng lấy, cũng không chống cự gì lắm, liền tư thông với
nhau. Từ đấy đi lại rất thân thiết.
Gặp khi cô gái đi ngang, thiếu niên đưa mắt nhìn, hỏi là ai, chàng đáp:
- Cô hàng xóm.
Thiếu niên nói:
- Ðẹp thì đẹp thật, mà sao thần sắc đáng sợ thế!
Lát sau chàng vào nhà trong, mẹ bảo:
- Vừa rồi cô gái sang xin gạo, nói đã hai ngày bếp không đỏ lửa. Cô gái thật có
hiếu nhưng nhà nghèo quá, kể cũng đáng thương, ta cũng nên chu cấp ít nhiều.
Chàng nghe lời, mang đấu gạo sang, gõ cửa nói lại ý mẹ. Cô gái nhận gạo cũng
không cảm tạ.
Hàng ngày nàng sang nhà, thấy mẹ chàng may vá, cũng vá áo xâu kim giúp mẹ. Ra
vào trong nhà, làm lụng mọi việc như con dâu. Chàng càng thêm biết ơn nàng, mỗi
khi có ai biếu xén thức gì đều chia ra biếu lại mẹ nàng. Cô gái vẫn không hé
răng nói một lời cảm tạ. Bỗng nhiên mẹ chàng mọc cái nhọt ở chỗ kín, đêm ngày
kêu khóc. Cô gái thường xuyên đến tận giường chăm sóc, rửa mụn bôi thuốc cho
bà, ngày ba bốn bận. Mẹ rất áy náy nhưng cô không nề hà chuyện bẩn thỉu. Mẹ
nói:
- Ôi, làm sao có một nàng dâu như con trông nom mẹ lúc tuổi già, để chết cho
mát mẻ đây!
Nói xong, buồn bã nghẹn ngào. Cô gái an ủi bà rằng:
- Anh nhà là người con chí hiếu, còn hơn cảnh nhà cháu mẹ goá con côi gấp trăm
lần.
Mẹ nói:
- Tới lui hầu hạ bên giường, nào phải là việc người con trai hiếu làm nổi đâu.
Vả lại, thân này cũng đã xế chiều, hôm trái nắng trở trời chẳng biết thế nào
nên rất khắc khoải về một người nối dõi.
Ðang nói thì chàng vào, mẹ khóc bảo:
- Mẹ mang ơn nương tử nhiều lắm, con chớ quên báo đáp.
Chàng cúi đầu vái tạ. Cô gái nói:
- Chàng kính trọng mẹ tôi, tôi không vái tạ, chàng vái tạ làm gì?
Do đấy chàng càng thêm kính yêu, nhưng cử chỉ nàng rắn rỏi, không đằm thắm, nên
mảy may chẳng sàm sỡ được. Một hôm cô gái ra khỏi cửa, chàng đăm đăm nhìn theo.
Nàng bỗng quay đầu lại cười tươi tắn. Chàng mừng rỡ vì việc xảy ra đến ngoài ý
muốn, bèn chạy theo sang nhà; chọc ghẹo cũng không kháng cự, vui sướng cùng
giao hoan. Xong xuôi, nàng dặn:
- Việc này chỉ một lần, không có lần thứ hai đâu nhé!
Chàng không đáp, ra về. Hôm sau, lại hẹn, thì nàng nghiêm nét mặt, không ngoái
nhìn, đi thẳng. Ngày ngày nhiều lần qua lại, thường gặp nhau luôn, nhưng nàng
không hề làm bộ tươi cười hay dùng lời đưa đẩy; hơi đùa cợt một chút đã nghe những
câu lạnh người. Một hôm, nhân chỗ vắng người, nàng chợt hỏi:
- Chàng thiếu niên hàng ngày vẫn đến là ai thế?
Chàng kể tình đầu; nàng bảo:
- Ðã nhiều lần y có những cử chỉ, thái độ vô lễ với thiếp rồi. Vì là chỗ thân
quen với chàng nên thiếp đành bỏ qua. Nhờ chàng chuyển lời; nếu còn tái phạm tức
là không múôn sống nữa đấy!
Ðến tôi, thiếu niên tới, chàng nói lại, rồi dặn thêm:
- Anh phải cẩn thận, người ấy không đụng đến được đâu!
Thiếu niên nói:
- Không đụng đến được, sao anh lại đụng được?
Chàng chối là không có chuyện ấy, thiếu niên nói:
- Nếu không có gì sao những lời thô lỗ cợt nhả kia lọt vào tai anh được?
Chàng không còn biết nói thế nào. Thiếu niên nói:
- Cũng phiền anh chuyển lời hộ: Cô nàng đừng giả vờ nghiêm nghị nữa. Nếu không
tôi nói toạc ra cho mọi người cùng biết.
Chàng rất giận, đỏ mặt tía tai; Thiếu niên bèn bỏ đi.
Một đêm, chàng đang ngồi một mình, bỗng nhiên cô gái tìm đến, cười bảo:
- Em với chàng tình duyên chưa dứt, lẽ nào không phải là số trời?
Chàng mừng cuống lên, ôm nàng vào lòng. Ðột nhiên, nghe tiếng giày lộp cộp, hai
người giật mình nhổm dậy, thì thiếu niên đã xô cửa bước vào. Chàng kinh hải hỏi:
- Cậu là gì vậy?
Anh ta cười đáp:
- Tôi đến để xem con người trinh trắng đấy thôi.
Rồi ngoái nhìn nàng nói:
- Hôm nay không chê trách người khác nữa ư?
Cô gái đỏ lừng gò má, lông mày dựng đứng lên, không nói một lời. Nàng hất mạnh
vạt áo, để lộ một chiếc bao da, thuận tay rút phắt ra một con dao găm sáng
loáng, dài chừng một thước. Thiếu niên trông thấy, sợ hãi bỏ chạy. Ðủôi theo ra
đến cửa, nhìn quanh, thì đã mất hút. Nàng cầm dao găm ném vào khoảng không, chỉ
nghe một tiếng ỎrạtÕ đã thấy hiện ra một luồng sáng rực rỡ như cầu vồng. Lát
sau nghe tiếng một con hồ trắng, đầu và mình mỗi thứ văng một nơi, nhìn mà thất
kinh. Cô gái nói:
- Anh bạn đẹp trai của chàng đó. Tôi đã dằn lòng tha thứ, nhưng hắn nhất định
không muốn sống thì biết làm thế nào?
Rồi nàng cất dao vào bao. Chàng cố kéo trở vào phòng, nàng bảo:
- Vừa rồi yêu quái làm mất cả hứng, xin để đêm mai.
Nói đoạn ra cửa đi thẳng. Ðêm sau, quả nhiên cô gái lại đến, bèn cùng nhau ân
ái. Hỏi về kiếm thuật, nàng đáp:
- Ðó không phải là điều chàng nên biết. Hãy giữ kín, nếu lộ ra, e tai vạ đến
chàng.
Lại bàn chuyện hôn nhân, cô gái nói:
- Ðã chung chăn gối, lại lo liệu việc nhà, không phải vợ thì còn là gì? Ðã là vợ
chồng hà tất phải nói đến cưới hỏi.
Chàng hỏi:
- Hay là chê tôi nghèo?
Nàng đáp:
- Chàng đã đành là nghèo, nhưng thiếp giàu sao? Sum vầy đêm nay, chính là
thương chàng nghèo đấy thôi.
Khi chia tay lại dặn:
- Việc làm cẩu thả này không thể thường luôn được. Lúc nên đến, thiếp sẽ tự đến,
không nên đến thì ép buộc nhau có ích gì!
Về sau mỗi lần gặp gỡ, hễ chàng nói chuyện riêng tư là cô gái lại tránh đi. Tuy
nhiên, việc vá may nấu nướng vẫn một tay nàng quán xuyến, không khác gì người vợ
chính thức.
Ðược mấy tháng, mẹ nàng chết, chàng dốc sức lo việc ma chay. Từ đó, nàng ở nhà
một mình. Chàng nghĩ phòng không bóng chiếc có thể tính chuyện chung chạ được,
bèn nhảy qua tường mà vào, đến bên cửa sổ gọi mãi, nhưng rốt cuộc chẳng một ai
thưa. Bèn lại cửa chính nhòm vào thì nhà trống không mà cửa vẫn cài. Trộm ngờ
cô gái có nơi hò hẹn nào khác. Ðến đêm, lại tới, vẫn y như vậy, bèn tháo viên
ngọc vẫn đeo bên mình để lại trên cửa sổ rồi đi. Hôm sau gặp nhau ở buồng mẹ.
Khi chàng đi ra, cô gái theo sau,nói:
- Chàng ngờ thiếp ư? Mỗi người đều có tâm sự riêng, không thể nói hết với người
khác. Nay dẫu muốn chàng hết ngờ cũng đâu có được. Nhưng có một việc phiền
chàng lo liệu gấp.
Hỏi việc gì, đáp:
- Thiếp có mang đã tám tháng rồi, e sinh nở nay mai. Nhưng danh phận của thiếp
chưa rõ ràng, chỉ có thể sinh con cho chàng chứ không thể nuôi con cho chàng được.
Chàng hãy thưa riêng với mẹ lo tìm một người vú nuôi, nói dối là con xin được
chứ đừng nói là con do thiếp sinh ra.
Chàng nhận lời, về kể lại với mẹ, bà cười bảo:
- Con bé này kỳ thật! Hỏi cưới thì không chịu, mà lại ăn vụng với con mình.
Bà vui mừng làm theo ý nàng và chờ đợi.
Lại cách hơn một tháng, có đến mấy ngày cô gái không sang. Mẹ lấy làm ngờ, đến
cửa nhòm xem thì cửa đóng mà nhà vắng lặng. Gõ cửa hồi lâu mới thấy cô gái đầu
bù tóc rối, mặt mũi không rửa, từ trong buồng bước ra, mở cửa cho bà vào xong,
đóng lại ngay. Vừa vào trong nhà đã nghe tiếng trẻ khóc oe oe trên giường. Bà
kinh ngạc hỏi:
- Con sinh từ bao giờ vậy?
Nàng thưa:
- Ðã ba ngày.
Giở tã lót ra xem thì là đứa bé trai, má bụ bẫm trán rộng, bà vui mừng nói:
- Con đã vì già mà nuôi cháu; một mình lênh đênh, rồi sẽ nương tựa vào ai?
Cô gái nói:
- Ðiều con canh cánh trong lòng, chẳng dám phơi bày cùng mẹ. Ðợi lúc đêm hôm vắng
vẻ sẽ cho cháu về với bà.
Mẹ về nói chuyện với con trai, cũng thầm cho là lạ. Ðến đêm, bế đứa trẻ về. Lại
mấy đêm sau, vào khoảng nửa đêm, cô gái bỗng gõ cửa, bước vào, tay xách chiếc
túi da cười nói:
- Việc lớn của thiếp đã xong rồi. Từ nay xin vĩnh biệt!
Chàng vội hỏi duyên cớ, nàng nói:
- Công ơn nuôi mẹ thiếp vẫn khắc sâu trong dạ. Trước đây từng nói ỎChỉ một lần
thôi, không có lần thứ haiÕ không phải có ý đem việc chung đụng gối chăn ra để
báo đáp. Chỉ vì chàng nghèo không thể lấy được vợ nên gắng sinh cho chàng một đứa
con để nối dõi. Những mong chỉ một lần là thành, chẳng ngờ lại thấy có kinh nên
phải Ỏphá giớiÕ lần thứ hai. Nay ơn chàng đã đền, chí thiếp đã toại, chẳng còn
gì ân hận nữa!
Hỏi:
- Trong túi có vật gì đấy?
Ðáp:
- Ðầu kẻ thù!
Hé ra cho nhòm, thì râu tóc bết vào nhau mà máu loang nhoè nhoẹt. Chàng sợ muốn
đứt hơi, lại hỏi kỹ thêm. Nàng nói:
- Trước đây không dám nói với chàng, vì sợ nếu chuyện không giữ kín được sẽ lộ
ra. Nay việc đẫ xong, kể chàng nghe cũng chẳng hại gì. Thiếp vốn người Chiết
Giang, cha làm quan Tư mã bị kẻ thù hãm hại, nhà cửa bị tịch biên. Thiếp phải
cõng mẹ già đi trốn, ấn giấu họ tên, chôn vùi tung tích đã ba năm rồi. Sở dĩ
không báo thù ngay chỉ vì mẹ đang còn. Ðến khi mẹ mất, lại vướng Ỏkhối thịÕ
đang mang trong bụng. Vì thế cứ nấn ná mà thành lâu. Ðêm hôm nọ đi vắng, chẳng
có duyên có gì khác, chỉ vì đường sá cổng ngõ chưa thông thuộc, sợ có sự nhầm lẫn
mà thôi.
Nói xong, ra cửa, lại dặn rằng:
- Ðứa con thiếp sinh ra, hãy chăm sóc cẩn thận! Chàng phúc mỏng, chẳng sống lâu
được, con rồi sẽ làm rạng rỡ cửa nhà. Ðêm khuya đừng làm kinh động đến mẹ, thiếp
đi đây!
Chàng đang rầu rĩ, toan hỏi đi đâu thì nàng đã vụt đi nhanh như chớp, chỉ nháy
mắt đã không thấy đâu nữa. Chàng than tiếc, đứng sững như kẻ mất hồn. Sáng hôm
sau kể lại với mẹ, hai mẹ con cứ tấm tắc là chuyện lạ lùng.
Ba năm sau quả nhiên chàng mất. Ðứa con mười tám tuổi đỗ Tiến sĩ, phụng dưỡng
bà nội cho đến hết tuổi già.
Trương Hồng Tiệm
Phạm Tú Châu dịch
Trương Hồng Tiệm người phủ Vĩnh Bình, mười tám tuổi đã là
danh sư trong quận. Bấy giờ quan lệnh hạt Lư Long là ông Triệu nọ tham tàn bạo
ngược, nhân dân đều khổ vì ông. Có chàng họ Phạm bị đánh chết, các bạn học phẫn
nộ trước nỗi oan của bạn, định kêu lên quan Bộ viện, nhờ Trương viết lá đơn, hẹn
chàng cùng tham dự. Trương bằng lòng. Vợ chàng là Phương thị đẹp mà giỏi, nghe
được mưu ấy, can rằng:
- Ðại phàm Tú tài hành sự, có thể cùng chung thắng lợi mà không thể cùng chung
thất baị. Thắng thì ai nấy tham công của trời, một khi thất bại thì tan tác như
ngói vỡ không sao họp lại được. Nay thế giới này là thế giới của thế lực, ngay
hay queo khó xác định được bằng lý. Chàng lại đơn độc, hoặc giả công việc xấu
đi, thì ai là ngược bằng.
Trương phục lời vợ, có ý hối, bèn lựa lời từ tạ các thư sinh, chỉ viết lá đơn rồi
ra về. Qua thẩm vấn lần đầu, chưa biết là được hay không. Triệu đem số vàng lớn
nộp cho các quan to, đám học trò bị bắt hết vì tội kết bè đảng. Lại truy bắt
người viết đơn kiện.
Ðến địa giới phủ Phượng Tường, tiền đi đường cạn hết. Trời xẩm tối còn trù trừ
giữa chốn đồng không, chẳng biết ngủ đổ nơi nào. Bỗng thấy một xóm nhỏ bèn rảo
bước đi tới. Một bà già đang đi ra đóng cổng, thấy Trương, hỏi chàng cần gì.
Trương kể tình thực. Bà già bảo:
- Ăn uống ngủ nghê đều là việc vặt cả. Có điều là không có đàn ông, không tiện
giữ khách lại.
Trương hỏi:
- Tôi cũng không dám mong gì nhiều, chỉ xin ngủ nhờ trong cổng để tránh hùm sói
là đủ.
Bà già bèn cho vào, đóng cổng lại, trao cho lá chiếu cói rồi dặn:
- Tôi thương khách không có chốn về, trộm cho ở lại qua đêm, tờ mờ sáng mai nên
đi cho sớm, kẻo nương tử nhà chúng tôi hay biết ắt sẽ quở mắng.
Bà già đi khỏi, Trương tựa vào tường nhắm mắt nghỉ. Bỗng có ánh đèn lồng lấp
loáng, Trương thấy bà già dẫn đường cho một nữ lang đi ra, vội vàng lánh vào chỗ
tối, ghé mắt nhòm trộm, thì ra một cô gái đẹp chừng đôi mươi. Ra đến cổng, thấy
cái chiếu cói, cô hỏi vặn bà già, bà già phải nói thực. Cô gái giận dữ mắng:
- Cả nhà toàn đàn bà con gái, sao dám chứa chấp trộm cướp?
Lập tức gọi:
- Người kia đi đâu rồi?
Trương sợ hãi, bước ra phục dưới thềm. Cô gái xét hỏi họ hàng xong, sắc mặt dịu
lại bảo:
- May là kẻ sĩ phong, lưu lại không đáng ngại. Nhưng u già không biết trình
lên, sơ sài qua quít như thế này, há phải cách tiếp đãi người quân tử?
Liền sai bà già dẫn khách vào nhà. Lát sau bày rượu ra, phẩm vật tinh khiết, rồi
lại sai trải đệm gấm trên giường. Trương rất lấy làm cảm ơn, nhân đó hỏi riêng
bà già họ tên gia chủ. Bà già đáp:
- Nhà chúng tôi họ Thi, ông bà đều tạ thế, chỉ còn ba con gái. Người cậu gặp mới
rồi là cô cả, tên là Thuấn Hoa đó.
Bà già đi ra, Trương thấy trên ghế có tập Nam Hoa kinh chú, bèn lấy để trên gối
rồi phủ phục trên giường mở ra xem. Bỗng Thuấn Hoa đẩy cửa vào, Trương buông
sách, tìm giày mũ. Cô gái đến bên giường ấn chàng ngồi xuống, bảo:
- Khỏi cần, khỏi cần!
Nhân đó nàng ngồi cạnh giường, thẹn thò bảo:
- Thiếp thấy chàng là bậc tài sĩ phong lưu, toan đem nhà cửa gởi gắm, lại e phạm
phải mối ngờ dưa mận, chẳng hay có tránh khỏi bị vất bỏ không?
Trương hoảng sợ không biết trả lời ra sao, chỉ nói:
- Không dám giấu, tiểu sinh ở nhà đã có vợ rồi.
Cô gái cười:
- Ðiều đó tỏ rằng chàng rất thành thực, nhưng không ngại gì cả. Chàng đã không
ghét bỏ thì đến mai xin phiền mai mối.
Nói xong toan đi ra. Trương nhổm người kéo lại, cô gái cũng ở lại. Trời chưa
sáng đã trở dậy, tặng vàng cho Trương, bảo:
- Chàng giữ lấy dùng để đến thăm em. Về chiều, muồn muộn chàng hãy đến, kẻo người
khác trông thấy.
Trương theo lời, sớm đi tối đến, nữa năm thành lệ thường. Một hôm, Trương đến
khá sớm, tới chỗ ấy chẳng thấy thôn xóm nào, vô cùng kinh ngạc. Ðang loanh
quanh thì nghe bà già lên tiếng:
- Sao cậu đến sớm thắ?
Trong nháy mắt, nhà cửa y như cũ, còn mình đã ở trong phòng. Trương càng lấy
làm lạ. Thuấn Hoa từ nhà trong đi ra, cười bảo:
- Chàng ngờ là thiếp chăng? Nói thực với chàng, thiếp là hồ tiên, cùng chàng vốn
có mối duyên xưa. Nếu chàng lấy làm quái dị, xin từ biệt ngay lập tức.
Trương quyến luyến sắc đẹp của nàng nên cũng yên tâm trở lại. Ðến đêm bảo với
nàng:
- Nàng đã là tiên, hẳn ngàn dặm chỉ bằng một hơi thở. Tiểu sinh xa nhà đã ba
năm, nỗi nhớ vợ canh cánh bên lòng, vậy nàng có thể dắt tôi về thăm một lần được
chăng?
Nàng có vẻ không bằng lòng đáp:
- Thiếp tự thấy tình cầm sắc sâu nặng hơn chàng. Chàng ở với người này lại nhờ
người kia, đem cách ấy mà đối xử với người nhân ái với mình là sai lầm đấy.
Trương tạ lỗi nói:
- Sao nàng lại nói ra những lời như thế? Ngạn ngữ có câu: 'Một ngày vợ chồng,
trăm năm ơn nghĩa'. Sau này tôi trở về, khi nhớ đến nàng cũng như hôm nay tôi
nhớ vợ vậy. Thiết nghĩ có mới quên cũ, nàng cho thế là phải được sao?
Nàng bèn cười:
- Lòng dạ thiếp hẹp hòi, đối với thiếp, chỉ muốn chàng không quên; đối với người,
chỉ mong chàng không nhớ. Nhưng nếu chàng muốn về thăm, việc ấy nào có khó gì?
Nhà chàng chỉ cách gang tấc mà thôi.
Rồi cầm tay nhau ra khỏi nhà. Thấy đường sá tối tăm. Trương ngại ngần không dấn
bước, nàng phải kéo đi. Chẳng bao lâu, nàng bảo:
- Ðến nơi rồi! Chàng về, thiếp hẵng đi đây!
Trương dừng chân nhận kỹ, quả thấy cổng nhà mình. Trèo tường vào thấy trong nhà
đèn còn sáng. Ðến gần lấy hai ngón tay gõ cửa, bên trong hỏi là ai. Trương nói
rõ vì sao về. Người bên trong cầm đèn, mở then, đúng là Phương thị. Ðôi bên mừng
rỡ, dắt tay vào màn. Trương thấy con trai nằm trên giường, cảm khái nói:
- Hồi tôi đi, con mới đứng đến đầu gối, nay người đã dài bằng chừng này rồi!
Vợ chồng dựa kề, ngỡ còn trong mộng. Trương bắt kể hết những gì đã trải. Hỏi đến
việc kiện tụng, bấy giờ mới biết đám thư sinh kẻ chết vì đói rét trong ngục, kẻ
bị đưa đi xa, Trương càng phục tầm nhìn của vợ. Phương thị buông mình ngả vào
lòng chồng nói:
- Chàng có thêm vợ đẹp, hẳn không còn nhớ đến người rơi lệ trong chăn đơn gối
chiếc nữa nhỉ!
Trương đáp:
- Không nhớ, sao còn về đây? Với cô ấy, tuy gọi là gắn bó nhưng rút cục không
phải người đồng loại, chỉ riêng ân nghĩa của cô ấy là khó quên mà thôi!
Phương thị đáp:
- Chàng tưởng thiếp là ai vậy?
Trương nhìn kỹ, thì đâu phải là Phương thị mà là Thuấn Hoa! Ðưa tay sờ con thì
chỉ là một cái gối tre. Trương ngượng quá, không nói sao được. Thuấn Hoa bảo:
- Lòng chàng thế nào đủ biết rồi! Lẽ ra dứt tình từ đây, còn may chàng chưa
quên ơn nghĩa, sẩy chân tự chuộc vậy!
Vài ba ngày sau, nàng chợt nói:
- Thiếp nghĩ si tình quyến luyến chẳng có vị gì. Chàng hàng ngày oán thiếp
không đưa đi, nay vừa hay thiếp định đến đô thành, tiện đường có thể cùng đên
Bèn ngoảnh phía đầu giường lấy cái tối tre rồi cùng cưỡi lên. Thuấn Hoa dặn Trương
nhắm mắt lại, chàng cảm thấy cách đất không xa, gió ù ù thổi. Lát sau đổ xuống.
Nàng nói:
- Giã biệt chàng từ đây!
Trương đang định dặn dò, nàng đã đi mất hút, Trương đứng sững giây lát, nghe
chó sủa trong thôn; giữa khoảng mênh mang thấy cây cối nhà cửa đều là cảnh vật
làng cũ, bàn theo đường mà về. Vượt tường gõ cửa, hệt như hôm trước. Phương thị
giật mình trở dậy, không tin là chồng về, gạn hỏi chứng cớ xác thực, mới khêu
đèn nghẹn ngào bước ra. Lúc thấy nhau, Phương thị không sao ngăn được nước mắt.
Trương vẫn nghi Thuấn Hoa biến hoá nên, lại thấy đầu giường có đứa trẻ nằm như
đêm trước, bèn cười:
- Lại đưa cái gối tre về đây à?
Phương thị không hiểu, mặt biến sắc nói:
- Thiếp mong chàng ngày dài bằng năm, ngấn nước mắt trên gối vẫn còn đó. Vừa gặp
được nhau tuyệt không có luyến thương gì cả, không hiểu lòng dạ chàng ra sao?
Trương quan sát thấy đúng, bấy giờ mới nắm cánh tay vợ sụt sùi, kể lại tường tận.
Hỏi đến kết cục của vụ kiện, quả như lời Thuấn Hoa nói. Vừa mới cùng nhau cảm
khái, đã nghe ngoài cửa có tiắng giày, hỏi không thấy thưa. Thì ra trong làng
có tên Giáp là kẻ vô lại, trộm thấy nhan sắc Phương thị từ lâu. Ðêm ấy từ thôn
khác về, xa xa thấy người trèo tường, hắn chắc mẩm là kẻ hẹn hò gian dâm, bèn
bám theo vào. Giáp vốn không quen biết Trương mấy, chỉ núp mà nghe. Ðến khi
Phương thị hỏi mấy lần, Giáp mới hỏi lại:
- Ai ở trong nhà thế?
Phương thị nói lảng:
- Có ai đâu!
Giáp nói:
- Tôi đứng nghe đã lâu, xin trộm phép bắt kẻ gian vậy.
Phương thị bất đắc dĩ phải nói thực. Giáp bảo:
- Cái án lớn của Trương Hồng Tiệm chưa xoá, hắn về nhà cũng phải trói nộp cho
phủ quan.
Phương thị van nài mãi, Giáp càng nói sấn sổi. Lửa giận bốc lên, Trương vớ dao
xông vào, chém vào đầu Giáp. Giáp ngã xuống vẫn kêu được. Trương đâm liền mấy
nhát nữa hắn mới chết. Phương thị nói:
- Việc đã đến thế này, tội càng thêm nặng. Chàng trốn ngay đi, thiếp xin chịu tội.
Trương nói:
- Kẻ trượng phu chết thì chết, há chịu để nỗi nhục liên luỵ vợ con mà cầu sống
hay sao? Nàng không phải lo nghĩ gì, chỉ cốt giữ sao cho thằng con này khỏi đứt
mạch thư hương thì dù chết nhắm mắt được rồi.
Sáng ra, Trương lên huyện thú tội. Triệu vì là người trong vụ án nên tạm trừng
trị sơ sơ. ít lâu sau từ quân giải lên đô thành, cùm kẹp cấm đoán rất khổ. Trên
đường đi, gặp một cô gái cưỡi ngựa có bà già dắt đi qua, chính là Thuấn Hoa.
Trương gọi bà già lại để nói chuyện, nước mắt theo lời gọi tuôn trào. Cô gái
quay ngựa lại, vén tấm sa che mặt, kinh ngạc hỏi:
- Anh họ tôi đây, sao lại đến nông nỗi này?
Trương kể vắn tắt, Thuấn Hoa bảo:
- Cứ như anh trước đây thì quay đầu không ngó ngàng tới mới phải, nhưng tôi
không nỡ. Tệ xá không xa, xin mời các vị chức dịch cùng hạ cố, lại xin đỡ ít tiền
đi đường.
Cả bọn đi theo vài ba dặm, thấy một xóm núi, lầu gác hẳn hoi. Thuấn Hoa xuống
ngựa đi vào, sai bà già mở cửa mời khách. Rồi đó rượu, chả đầy đặn ngon lành dường
như có chuẩn bị trước. Lại sai bà già ra nói:
- Trong nhà vừa hay không có đàn ông, xin Trương quan nhân mời thêm hai vị công
sai mấy chén, rồi đây trên đường còn nhờ cậy các vị nhiều. Có điều đã sai người
sửa soạn mấy chục lạng vàng để quan nhân làm lộ phí và thù tiếp hai vị, nhưng
nay chưa tới kịp.
Hai viên chức dịch mừng lắm, thả sức uống, không nói đến chuyện lên đường nữa.
Trời gần tối, hai tên nọ say mèm. Thuấn Hoa bước ra, chỉ tay vào gông, lập tức
gông tuột ra. Nàng kéo Trương cưỡi chung một ngựa, ruỗi nhanh như rồng bay. Lát
sau, giục chàng xuống ngựa bảo:
- Chàng xuống đây thôi. Thiếp có hẹn với em gái ở hồ Thanh Hải, lại vì việc
chàng nấn ná mất một buổi, phiền cô ấy trông đợi lâu rồi.
Trương hỏi:
- Khi nào gặp lại nhau được?
Thuấn Hoa không đáp, hỏi lần nữa, nàng đẩy Trương xuống ngựa mà đi. Ðến sáng, hỏi
mới biết nơi ấy là Thái Nguyên. Trương bàn đếắn quận, thuê nhà dạy học trò, lấy
tên khác là Cung Tử Thiên. Ở đấy mười năm, hỏi thăm biết việc truy lùng kẻ trốn
đã lơi lỏng, lại loanh quanh trở về miền Ðông. Gần đến cổng làng, không dám vào
ngay, đợi đến đêm khuya mới vào. Tới cổng nhà, thấy tường cao kiên cố, không
trèo qua được đành lấy roi ngựa đập cổng. Một lúc lâu, vợ mới ra hỏi. Trương
thì thầm cho biết, vợ mừng quá, mở cho vào, rồi giả vờ lớn tiếng mắng:
- Ở đô thành có túng thiếu thì nên quay về cho sớm, ai khiến ngươi nửa đêm đến
đây?
Vào đến nhà, kể cho nhau mọi chuyện, bấy giờ Trương mới biết hai tên công sai bỏ
trốn chưa về. Ðang trò chuyện, ngoài rèm có một thiếu phụ đi qua đi lại, Trương
hỏi là ai, vợ đáp:
- Con dâu mình đấy!
Trương lại hỏi:
- Con bây giờ ở đâu?
Phương thị đáp:
- Con lên quận thi Hương chưa về.
Trương sa nước mắt:
- Lưu lạc chừng ấy năm, con nay đã khôn lớn nên người. Chưa kể việc con nối được
mạch thư hương, chỉ riêng chờ mong, nàng cũng sắp cạn cả tâm huyết rồi.
Trò chuyện chưa dứt, con dâu đã hâm rượu nấu cơm, bày la liệt khắp bàn. Trương
vui mừng quá sức mong đợi. Mấy ngày liền đều náu trong buồng, chỉ sợ người hay
biết.
Một hôm, vừa mới đi nằm, bỗng nghe tiếng người huyên náo, đập cửa rất gấp. Hai
vợ chồng sợ quá, trở dậy. Nghe người nói:
- Có cổng sau không nhỉ?
Lại càng sợ, vơ vội lấy tấm cánh cửa thay thang đưa Trương trèo tường ra ngoài
giữa đêm rồi mới ra cổng hỏi xem, thì ra người đến báo tin con thi đỗ. Phương
thị mừng rỡ, hối hận để chồng bỏ trốn, không thể kéo lại được nữa.
Ðêm ấy Trương vượt bờ chui bụi, vội chẳng kịp chọn đường, đến sáng vô cùng mệt
mỏi. Lúc đầu vốn định đi về hướng Tây, bèn hỏi người qua lại, thì ra cách con
đường lớn lên kinh đô không bao xa nữa. Trương bèn vào trong làng, toan gán áo
để ăn. Thấy một cái cổng cao, có dán tờ báo tin đỗ trên tường, Trương tới gần
xem, biết là nhà họ Hứa, mới đỗ Hiếu Liêm. lát sau, một cụ già từ trong đi ra,
Trương đón chào và kể tình thực. Ông già thấy dung mạo thanh nhã, biết không phải
người kiếm miếng ăn bàn mời vào khoản đãi, nhân đó hỏi đi đâu. Trương nói thác:
- Vãn sinh mở trường dạy học ở đô thành, trên đường về gặp cướp.
Ông già giữ lại để dạy cậu út. Trương hỏi sơ chức tước thì ra là quan Kinh Ðường
đã nghỉ hưu; người đỗ Hiếu Liêm là cháu cụ. Hơn tháng sau, Hiếu Liêm dẫn một
người đỗ cùng bảng đến chơi, nói là họ Trương quê Vĩnh Bình, trẻ tuổi, chừng mười
tám mười chín. Trương thấy họ, quê đều đúng, bụng ngờ là con mình, nhưng trong ấp
có khá nhiều nhà họ Trương nên hẵng im lặng. Ðến tối, khi cởi bỏ tang phục, Hiếu
Liêm họ Trương đưa tờ giấy 'bổ dụng' ra, Trương vội mượn coi, thì đúng là con
trai mình, bất giác sa lệ. Mọi người kinh ngạc hỏi han, Trương chỉ vào tên mình
nói:
- Trương Hồng Tiệm chính là tôi đây.
Rồi kể hết nguyên do. Hiếu Liêm họ Trương ôm lấy cha khóc ầm lên. Hai chú cháu
ông cụ Hứa khuyên giải, an ủi, mới đổi buồn thành vui. Hiếu Liêm cùng họ Hứa lập
tức gửi thư cùng tiền bạc thưa lên quan Ngự sử, rồi cha con họ Trương đưa nhau
về.
Phương thị từ lúc được báo tin con đỗ, hàng ngày buồn vì nỗi chồng bỏ trốn, bỗng
nghe tin Hiếu Liêm đã về, thì càng đau buồn thương cảm hơn. Lát sau, cha con
cùng vào, Phương thị kinh hãi như thấy từ trên trời rơi xuống. Hỏi duyên cớ, mới
cùng nhau mừng mừng tủi tủi.
Cha con của Giáp thấy con trai Trương vinh hiển, không dám manh tâm gieo hoạ nữa.
Trương đãi ngộ rất hậu, lại kể rõ tình trạng đêm hôm ấy, cha Giáp cảm động thêm
cả phần xấu hổ; từ đấy giao hảo với nhau.
Liên Hương
Nguyễn Huệ Chi dịch
Thư sinh họ Tang tên là Hiểu, tự là Tử Minh, người Nghi Châụ
Mồ côi từ nhỏ, thuê nhà ở tại bến nước Hoa Hồng. Tang là người tính ưa trầm
tónh, một mình cũng đủ vui, ngày hai bận ra ngoài, đến nhà hàng xóm phía đông
ăn cơm, kỳ dư ngồi lỳ trong nhà mà thôi
Có anh học trò ở láng giềng phía đông tình cờ đến chơi, nói đùa rằng:
- Anh sống một mình mà không sợ ma hồ ử
Chàng cười đáp:
- Là trượng phu thì sợ gì ma với hồ. Con trống đến ta có kiếm
sắc, con mái đến thì còn phải mở cửa, rước vào ấy chứ!
Anh học trò láng giềng trở về, bày kế với bạn hữu, đêm bắc
thang cho gái điếm trào tường vào, rón tay gõ cửạ
Chàng nhìn ra, hỏi là ai, cô kỹ nữ tự xưng là mạ Chàng khiếp
đảm, răng va vào nhau lập cập.
Cô gái quay gót trở rạ Hôm sau, anh học trò láng giềng đến
phòng học của chàng từ sớm. Chàng kể lại điều mình đã gặp, lại ngỏ sắp bỏ đây
mà về.
Anh học trò lá gặp, giềng ngỏ š
- Thế sao không mở cửa rước người tả
Chàng bỗng hiểu ra mình bi lỡm, bèn cứ ở yên như trước.
được chừng nửa năm, đang đêm một cô gái đến gõ cửa thư phòng.
Chàng nghó đây chắc là trò đùa của bạn, bèn mở cửa mời vào, thì hoá ra một mỹ nữ
đẹp nghiêng thành. Ngạc nhiên, Chàng hỏi từ đâu đến, nàng đáp rằng:
- Thiếp là Liên Hương, kỹ nữ ở khu nhà phía Tâỵ
Trên bến sông vốn có nhiều thanh lâu nên chàng tin ngaỵ Bèn tắt
đàn lên giường, quấn quít bằng thích.
Từ đó cứ cách dăm ba ngày lại một lần nàng đến.
Một đêm, đang ngồi một mình trầm tư mặc tưởng thì một cô gái
thướt tha bước vàọ Chàng cứ nghó là Liên Hương, đón đợi để cùng trò chuyện,
nhìn mặt hoá ra không phải Tuổi chỉ mười lăm, mười sáu, tay áo buông chùng, tóc
thề bỏ xoã, phong vân thanh tú, bước đi uyển chuyển như chao qua lượn lại Thất
kinh, ngờ là hồ. Cô gái bảo:
- Thiếp là con gái nhà lương thiện. Họ Lý , mến chàng cao
nhã, mong được mắt xanh rủ lòng đoái đến.
Chàng mừng rỡ, cầm tay, thấy lạnh như băng, hỏi:
- Sao mà lạnh thế?
đáp:
- Tạng người mảnh dẻ, đêm nay lai phải dầm sương móc, không lạnh
sao được!
Thế rồi giải quần là trút bỏ, lồ lộ là gái trinh. Nàng nói:
- Thiếp vì tình duyên xui khiến mà chỉ một sớm đánh mất tấm
thân son trẻ; nếu không rẻ rúng là quê mùa, thì ngày ngày xin được hầu gối
chăn. Không biết chốn khuê phòng còn có người nào nữa không?
Chàng đáp:
- Không có ai, chỉ có một nàng ca kỹ láng giềng, nhưng thỉnh
thoảng mới đến.
Nàng bảo:
- Nếu thế thì phải cẩn thận đề phòng mới được. Thiếp không thể
sánh vai với đám người trong kỹ viện, chàng hãy giữ kín chớ tiết lộ. Cứ bên kia
đến thì bên này đi, bên kia đi thì bên này đến là được.
Gà vừa gáy, sắp từ biệt, nàng tặng lại một chiếc giày thêu,
nói rằng:
- đây là vật thiếp mang dưới chân, cầm mà chơi cũng gửi vào
đây chút thương nhớ, nhưng lúc có người thì cẩn thận, đừng có đem nghich.
Chàng nhận lấy, ngắm nghía, thấy mũi cong cong như chiếc dùi
cởi nút, trong lòng rất thích thú. đêm hôm sau nhân vắng người, lại mang ra sờ
ngắm, bỗng cô gái từ đâu phơi phới đi đến, bèn lại quấn quít yêu đương. Từ đó mỗi
lần mang giày ra, thế nào nàng cũng đến đúng như mình mong. Lấy lấy làm lạ, bàn
gạn hỏi Nàng cười nói:
- Tình cờ mà phù hợp đấy thôi
Một hôm, Liên Hương đến, kinh ngạc hỏi:
- Chàng sao thần sắc tiều tuỵ thế?
Chàng nói chính mình cũng không rõ vì saọ Liên Hương bèn từ
biệt mà đi, hẹn mười này sau sẽ trở lai Sau khi nàng đi, Lý đến thường xuyên,
không đêm nào vắng. Hỏi chài,
- Người tình của chàng sao đã lâu lắm không thấy tớỉ
Nhân kể lại lời hẹn của Liên, Lý cưn, Lš
- Chàng xem nhan sắc của thiếp so với Liên Hương thế nàỏ
đáp:
- Khá khen cả hai đều tuyệt sắc. Nhưng Liên Hương da dẻ có phần
ấm áp hơn.
Mặt Lý šý biến sắc, bảo
- Chàng nói đẹp cả đôi là nói trước mặt thiếp thế thôi! ả ấy
chắc phải là người tiên trong nguyệt điện, thiếp hẳn không bằng rồi
Nhân thế rầu ró không vui Rồi bấm đốt ngón tay, thì kỳ hẹn mười
ngày đã đến, bèn dặn chớ có tiết lộ, để mình nhìn trộm cô nàng xem saọ
đêm hôm sau, Liên Hương quả đến, cười nói rất đằm thắm. Kip đến
khi đi nằm, bỗng hốt hoảng kêu lên:
- Nguy rồi! Mười ngày không thấy mặt, mà sao đã suy nhược
nhanh thế? Có đảm bảo là không gặp gỡ ai khác nữa đấy chứ?
Chàng hỏi duyên có vì saọ Nàng đáp:
- Thiếp cứ xét thần sắc thì biết. Mạch đập tán loạn, như tơ rối,
chứng này là ma ám rồi
đêm sau nữạ Lý trở lại Chàm sau
- Ngắm Liên Hương thấy thế nàỏ
- đẹp thật! Thiếp vẫn cho rằng trên đời không có người đẹp
như vậy được, đích thi là hồ. Lúc đi rồi, mình bám theo đằng sau, thì ra ở núi
Nam Ly, mà lại sống trong hang.
Chàng nghó cô ta ghen, nên cũng gật đầu cho quạ Sau đấy một
đêm, lại đùa bỡn Liên Hương rằng:
- Tôi chẳng tin đâu, nhưng có người nói nàng là hồ đấỵ
Liên vội hỏi ngay người ấy là ai Cười đáp:
- Tôi nói đùa nàng đấy thôi!
Liên hỏi lại:
- Hồ thì khác gì ngườỉ
đáp:
- Kẻ nào bi nó mê hoặc thì bi ốm, nặng quá là chết, vì thế mới
đáng sợ.
Liên đáp:
- Không đúng đâu, như cỡ tuổi chàng, ba ngày sau khi chung chạ,
tinh khí có thể phục hồi, dù là hồ đi nữa cũng có hại gì! Còn như đêm đêm đánh
riết thì dẫu là người còn tệ hơn hồ nữa kia! Trong thiên hạ, những xác bệnh
lao, nhưng ma sài mòn, dễ thường đều là do hồ ám chết cả đấy! Tuy nhiên, hẳn là
có kẻ nào thì thầm gì về tôi đâỵ
Chàng cố biện bạch là không có ai Liên càng ra sức căn vặn.
Núng thế chàng đành phải nói lộ rạ Liên bảo:
- Tôi vẫn thấy làm lạ sao chàng suy kiệt, nhưng có ngờ đâu lại
chóng đến như vậỵ Có lẽ đây không phải là người chăng? Chàng đừng nói gì, đêm
mai sẽ làm đúng như cách hắn ta đã nhim thiếp.
đêm sau, Lý đến, vừa mới nói dăm ba cây lại nghe ngoài song
có tiếng đằng hắng, lật đật bỏ đi, Liên bước vào nóm sau,
- Chàng nguy thật rồi! đấy đúng là mạ Mê sắc đẹp của nó mà
không dứt sớm đi, đường về âm phủ xem chừng gần đấy!
Chàng bụng vẫn cho là nàng ghen, trầm ngâm không nói Liên bảo
tiếp:
- Vẫn biết chàng không phải là kẻ vong tình. Nhưng thiếp
không nỡ ngồi nhìn chàng chết. Ngày mai sẽ xin đem thuốc tễ đến để trừ âm độc
cho chàng. Cũng may cuốn bệnh còn nông, chỉ mươi ngày thì các chứng sẽ dứt. Xin
nằm cùng giường để chăm nom cho đến lúc thuyên giảm.
đêm hôm sau, nàng quả đến đem theo ít thuốc tán bón cho
chàng. Chỉ một lúc, nuốt được hai ba lượt cảm thấy tạng phủ thư thái, tinh thần
nhẹ nhõm hẳn. Bụng rất biết ơn, nhưng trước sau vãn không tin là bệnh do ma
làm. Liên đêm đêm nằm chung chăn, ôm lấy chàng. Chàng muốn cùng nàng giao hợp,
song nàng ngăn lại Sau mấy ngày, da dẻ đã đầy đặn. Toan từ giả, khẩn khoản dặn
phải dứt hẳn Lý. Chàng làm bộ nhận lời Nhưng vừa đóng cửa, khêu đàn, đã cầm lấy
chiếc giày mà tơ tưởng. Lý chợt đến ngaỵ Mới cách biệt mấy hôm, đã hơi có vẻ hờn
dỗi Chàng nón
- Luôn mấy đêm cô ta phải lo thuốc thang giúp tôi, xin đừng
vì thế mà đem lòng oán trách. Tình nồng mặn cốt ở nơi tôi
Lý đã hơi nguôi nguôi Trong khi đầu gối tay ấp, chàL đã hơi
nguôLš
- Tôi yêu nàng lắm cơ, vậy mà có kẻ bảo nàng là ma đấy!
Lý cứng lưỡi hồi lâL cứng lưLš cứng
- Hẳn là con chồn dâm đãng đã ton hót với chàng rồi Nếu không
dứt nó đi, thiếp không đến nữa đâu!
đoạn nghẹn ngào nuốt nước mắt. Chàng phải hết lời khuyên giải
mới nín.
Cách một đêm, Liên Hương đến, biết Lý lại trở lại, giận giữ
nóắn,
- Chàng hẳn muốn chết chăng?
Chàng cười đáp:
- Nàng ghen gì mà khiếp thế?
Liên càng giận nói:
- Chàng trồng cái mầm chết, thiếp đã vì chàng nhổ nó đi,
không ghen thì biết làm thế nào được!
Chàng bày lời đùa cợt nói:
- Thế mà cô ta nói bệnh trước là do hồ ám đấỵ
Liên than rằng:
- Nếu quả như lời chàng nói thì chàng đã lú lẫn, không còn tỉnh
nữạ Vạn nhất có bề nào, thiếp dù trăm miệng cũng làm sao tự mình có thể phân tỏ
được? Từ hôm nay xin giã biệt. Sau trăm ngày nữa sẽ đến thăm chàng ở tận đầu
giường.
Giữ mấy cũng không được, cứ hậm hực đi thẳng.
Từ đấy Lý sớm tối cập kề bên cạnh chàng. được hai tháng, cảm
thấy người mệt rũ. Mới đầu còn tự trấn an mình, nhưng rồi ngày càng gầy rộc đi,
chỉ húp được một tô cháo loãng. Muốn về nhà để được chăm sóc, mà cứ quyến luyến
không nỡ rứt đi ngaỵ Lần lữa đến mấy ngày, trở bệnh mê mệt, không dậy được nữạ
Anh học trò láng giềng thấy chàng ốm nặng, ngày ngày sai thằng nhỏ trong quán
ăn mang cơm cháo đến nhà. Chàng bấy giờ mới đâm ngờ Lý, nhâấy L sớmý ấy
- Ta hối hận đã không nghe lời Liên Hương nên mới ra nông nỗi
nàỵ
Nói xong, mắt tối sầm. Lúc sau tỉnh lại, mở to mắt nhìn quanh
thì Lý đã đi mất; Từ đó hai bên mới đoạn tuyệt. Chàng nằm cim cõi giữa thư
phòng trống vắng, nghó đến Liên Hương như người ta mong đến ngày mù Lš
Một hôm, đang giữa lúc mơ mơ màng màng, bỗng một người cuốn
rèm bước vào, thì đúng là Liên Hương. đến sát bên giường, cất giọng mát mẻ:
- Anh chàng nhà quê! Nào tôi có nói điêu đâu!
Chàng nghẹn ngào hồi lâu, nói rằng mình đã biết tội, chỉ mong
được cứu vớt. Liên bảo:
- Bệnh đã vào đến cao hoang, thật hết phương cứu chữa, tôi chỉ
đến đây cốt để nói với nhau một lời vónh biệt, để tỏ rõ không có gì ghen tuông.
Chàng buồn thảm quá, nói rằng:
- Một vật dưới gối, phiền nàng đập nát dùm tôi
Liên tìm được chiếc giày, đưa cầm ra trước đèn xoay trở ngắm
nhìn. Cô gái họ Lý ở đâu vụt bước vào, thoạt trông thấy Liên Hương, quay ngoắt
lại đònh chạỵ Liên vội lấy thân chắn ngang cửạ Lý quẫn bách không còn biết chạy
đi đâụ Chàng trách móc đay nghiến. Lý không sao đáp lại được. Liên cư họ Lš
- Hôm nay tôi mới được cùng dì dàn mặt để hỏi nhau đôi câụ Hồi
trước bảo rằng bệnh cũ của lang quân vi tất đã không phải do tôi gây ra, nay rốt
cuộc thế nàỏ
Lý cúi đầu tạ lỗi LiêL cúLš
- Mỹ miều như thế mà nỡ đem tình yêu để kết oán thù ử
Lý vật mình xuống đất khóc ròng, xin rủ lòng thương xót mà cứu
giúp. Liên đỡ dậy, hỏi kỹ về thuở sinh thời đáLš vật
_ Thiếp là con gái ông Thông phán họ Lý, chết non, chôn ở
phía ngoài bức tường nàỵ Như con tằm xuân, chết rồi mà mối tơ thừa vẫn còn vấn
vương chưa dứt. Cùng chàng gắn bó là nguyện của thiếp, đẩy chàng đến chỗ chết
thật không phải bản tân
Liên hỏi:
- Nghe nói loài ma, hễ người khác chết thì lợi cho mình, vì
chết rồi sẽ đoàn tụ mãi bên nhau, có thực thế không?
đáp:
- Không đúng đâu, hai con ma gần gũi nhau, tònh không có chút
lạc thú. Như quả thích thú thì những chàng trai trẻ dưới suối vàng có thiếu
đâu!
Liên bảo:
- Thực đến là ngốc! đêm nào đêm ấy làm miết, đến người cũng
không kham nổi, huống hồ là ma!
Lý šý
- Hồ cũng có thể làm chết được người, chi có pháp gì riêng mình
lại không?
Liên đáp:
- đó là hạng chuyên rút tinh bổ khí. Tôi không phải là hạng ấỵ
Mới hay, trên đời vẫn có giống hồ không hại người, chứ quyết không có giống ma
nào không hại người cả, là vì âm khí thònh quá.
Chàng nghe hai bên trao đổi, mới biết hồ và ma đều là chuyện
thực. Cũng may tiếp xúc lâu ngày đã quen, nên không còn thấy rợn mấy nữạ Song
nghó mình chỉ còn chút hơi tàn như sợi tơ, bất giác rống lên khóc thất thanh.
Liên quay lại hỏi Lý:
- Giờ xử trí thế nào cho chàng đâỷ
Lý đỏ mặt, nhún nhường từ tạ, Liên cưL đLš
- Chỉ sợ chàng khoẻ mạnh rồi, nương tử lại thói chanh chua vẫn
đâu vào đấỵ
Lý khép vạt áo vái mà nóLš
- Nếu gặp được tay đại danh y để thiếp khỏi phải phụ lòng
chàng, thì cũng đáng vùi đầu mãi dưới đất đen, còn dám đâu ngẩng mặt lên với đời
nữạ
Liên bèn cởi đẫy, lấy thuốc ra, nói:
- Tôi sớm biết có ngày hôm nay nên sau khi cùng chàng bái biệt
đã trèo lên ba ngọn núi hái thuốc; trải ba tháng trời, mới đủ mọi vị Dẫu bệnh đến
sài mòn lim chết, cho uống vào cũng ít ai không tỉnh lại Chỉ có điều, chứng bệnh
do đâu thì phải lấy đấy làm vi dẫn thuốc. Cho nên không thể không cậy mình giúp
sức.
Hỏi cần gì, đáp:
- Một chút nước dãi thơm trong khoé miệng anh đào đấy thôi
Tôi đặt viên thuốc vào, nhờ mình áp miệng vào nhổ cho trôi xuống.
Lý đỏ bừng cả mặt, cúi gầm đầu xuống đưa mắt ngó chiếc giàỵ
Liên đùa nóLš tiếp:
- Sở thích của em chỉ là chiếc giày đó thôi à?
Lý càng hổ thẹn, cúi hay ngửa, không còn biết giấu mặt đi
đâLš
Liên nói:
- Ngón ngạo lúc bình thường, nay còn tiếc gì nữa chứ?
Rồi lấy một viên thuốc để vào môi chàng, quay sang thúc ép
Lý.
Lý không đừng được, phải áp vào miệng mà mớm. Liêc ủp
- Nữa đi
Lại mớm nữạ
Mớm đến ba bốn lần, thuốc mới trôi xuống họng. Chỉ một lát, bụng
nghe ùng ục như tiếng sấm. Liên lại đặt một viên thuốc khác, rồi tự mình áp môi
hà hơi vàọ Chàng cảm thấy vùng rốn như có lửa đốt, tinh thần sảng khoái bừng dậỵ
Liên bảo:
- Khỏi rồi
Lý nghe gà đã gáy, bàng hoàng giã biệt ra đi Liên nghó chàng
mới khỏi, cần phải điều dưỡng, ra quán cơm ăn cơm cũng chưa nên, bèn khoá trái
cửa ở bên ngoài, vờ làm như chàng đã về quê, để dứt hẳn bạn bè lai vãng, ngày
đêm giữ gìn, săn sóc chàng. Lý tối nào cũng đến, hầu hạ rất ân cần, coi Liên
như chi, Liên cũng thương yêu hết liLš
ở được ba tháng, chàng mạnh khoẻ như xưạ Lý bèn baüng đi dần,
cách hai ngày đêm mới một lần trở lại Tình cờ có tới cũng ngó qua một chút rồi
đi ngaỵ Lúc gặp mặt nhau chỉ rầu rầu không vui Liên thường giữ nàng ở lại ngủ
chung, cũng không nghẹ Chàng phải chạy theo ra, kéo lại, bế thóc về, người cứ nhẹ
như hình nhân bằng cỏ. Nàng không còn trốn vào được, bàn để nguyên áo xống mà nằm,
cuộn tròn mình lại, không đầy hai thước. Liên càng thương, ngầm bảo chàng ôm ấp,
như lay mấy cũng không tỉnh. Chàng ngủ thiếp đi, lúc tỉnh dậy tìm, thì đã biến
mất. Luôn mười ngày sau cũng không thấy trở lại Chàng tưởng nhớ da diết, thường
mang chiếc giày ra cùng đùa nghich. Liêạ L bàạ
- Yểu điệu như thế, thiếp thấy cũng còn thương, huống gì là
nam giới
Chàng nói:
- Ngày trước cứ mỗi lần nghich đến giầy thì lại xuất hiện,
trong lòng đã lấy làm ngờ, nhưng chung quy vẫn chẳng nghó được là mạ Nay nhìn
giầy lại tưởng đến dung nhan, thật đáng mủi lòng.
Nói rồi chảy nước mắt.
Nguyên trước đấy có nhà phú ông họ Trương, có người con gái
tiểu tự là Yến Nhi, tuổi vừa mười lăm, bi bệnh không thoát được mồ hôi mà chết.
Qua một đêm bổng tỉnh lại, ngồi dậy ngó quanh rồi đònh chạỵ Trương khoá cửa lại,
không ra được, cô gái bèn tự nói rằng:
- Tôi là hồn cô gái ông Thông phán, cảm mối tình quyến luyến
của chàng Tang, có chiếc giày còn để lại ở nhà chàng. Tôi thực là ma, giữ lại
có ích gì?
Nghe lời nói có vẻ ngọn ngành, bèn hỏi duyên cớ vì sao lại đến
đâỵ Cô gái bồi hồi nhìn lui nhìn tới, mơ màng không hiểu ra sao cả. Có người
nói thư sinh họ Tang vì ốm đau đã về quê rồi thì cô một hai bảo là nói dối
Người nhà đâm hoang mang. Anh học trò phía đông nghe chuyện,
trèo tường vào nhim thử xem, thấy chàng cùng một người đẹp đang đối mặt chuyện
trò. Bất ngờ chạy sấn vào tận nơi; nhưng giữa lúc đang nhớn nhác, người đẹp đã
biến mất. Anh học trò láng giềng thất kinh, gặng hỏi Chàng cười đáp:
- độ trước chẳng đã nói với bác 'con mái thì rước vàó đấy
thôi
Anh học trò láng giềng thuật lại lời Yến Nhi Chàng liền mở cổng,
đònh đi sang để di xét thực hư, khổ nỗi không tìm ra cớ gì để đến nhà họ cả.
Bà Trương nghe chàng quả chưa về quê, lại càng lấy lạ, bàn
sai một mụ ở tới hỏi chiếc giàỵ Chàng lấy trao ngaỵ Yến Nhi nhận được, mừng rỡ,
thử xỏ chân vào thử thì giày nhỏ hơn chân đến một tấc. Sợ quá, cầm gương tự
soi, bất chợt hiểu ra mình đã mượn thây người khác để sống lại Bàn thuật lại đầu
đuôi, mẹ mới tin là thực.
Cô gái soi mặt vào gương, khóc oà lên rằng:
- Mặt mũi hồi trước còn hơi tự tin một chút, thế mà mỗi lần gặp
chi Liên vẫn xấu hổ vì thua kém, nay lại như thế này, thì làm người chẳng bằng
làm ma cho xong.
Bèn cầm chiếc giày gào khóc, khuyên mấy cũng không được. Rồi
trùm chăn nằm không nhúc nhích, bảo ăn cũng chẳng ăn, mình mẩy sưng phù lên. Suốt
bảy ngày không ăn, rốt cuộc vẫn không chết, mà bệnh phù rạp xuống dần. Cảm thấy
đói không nhòn được nữa, bèn ăn trở lại Vài ngày sau, khắp mình ngứa ngáy, da
giẻ bong ra hết. Một buổi sáng ngủ dậy, đôi giày ngủ tuột ra từ lúc nào, vội nhặt
lấy mang vào thì rộng tuênh, không vừa chân nữạ Nhân đấy bèn thử lại chiếc giày
cũ, thì cỡ chân gầy béo nay thật vừa vặn. đã thấy mừng, lại lấy gương soi lại,
thì lông my, con mắt, gi má, khoé miệng, giống hệt như thuở bình sinh. Càng bội
phần mừng rỡ. Rửa mặt chải đầu rồi lên thăm mẹ. Ai nấy cũng nhìn chăm chăm.
Liên Hương nghe câu chuyện lạ, khuyên chàng nên nhờ người mối
đánh tiếng, nhưng chàng nghó giàu nghèo cách trở, không dám đường đột đến ngaỵ
Gặp ngày sinh nhật bà Trương, bèn theo đám con rể nhà ấy đến mừng thọ. Bà
Trương nhìn thấy tên chàng, bèn bảo Yến Nhi đứng trong ràm nhim ra để nhận mặt
khách. Chàng đến sau cùng. Cô gái chạy thốc ra, túm lấy vạt áo, đònh theo chàng
cùng về. Mẹ phải nạt cho, mới xấu hổ quay lại Chàng nhìn kỹ, rõ ràng là đúng, bất
giác trào nước mắt, bèn phục xuống lại không chiu đứng dậy nữạ Bà mẹ đến đỡ,
cũng không cho là sàm sỡ.
Chàng trở về, cậy ông cậu của cô gái đến làm mối Bà mẹ đònh
chọn ngày lành cho chàng đến ở gửi rể. Chàng trở về nói với Liên Hương và đem
chuyện đi hay ở ra bàn. Liên buồn bã hồi lâu, rồi toan từ biệt mà đi Chàng cả
kinh, bật khóc lên. Liên nói:
- Chàng làm lễ động phòng hoa chúc ở nhà người ta, thiếp theo
chàng đến đấy, thì còn gì là mặt mũi nữả
Chàng tính kế trước hãy cùng nàng trở về làng cũ, rồi sau sẽ
đón Yến Nhi Liên mới chiu theo lời Chàng đem tình thực thưa lại với họ Trương.
Trương nghe chàng đã có vợ rồi, nổi giận buông lời trách móc. Yến Nhi phải hết
sức phân trần, mới cho được như lời xin.
Ðến ngày cưới, chàng đi đón dâu, nhà cửa bài trí có phần qua
quít; đến lúc về thì từ ngoài cổng vào đến nhà lớn, thảm lông chim trải kín mặt
đất, trăm nghìn đèn lồng, rực rỡ như gấm. Liên Hương đỡ cô dâu vào phòng cưới,
làm lễ giao bái xong, lại cùng nhau hoan hỉ như ngày nàọ Liên ngồi bên hai người
tiếp chén rượu hợp cẩn, nhân hỏi cặn kẽ câu chuyên lạ hoàn hồn. Yến nói:
- Hôm ấy, em cứ ưu uất không nguôi, chỉ vì nỗi mình với người
lại là di loài Tự thấy hình hìa của mình thật là nhơ bẩn. Sau khi chia tay, phẫn
chí không trở vẳ mộ, đành theo gió trôi dạt khắp nơi Hễ thấy người sống thì lại
thèm. Ban ngày nương vào cây cỏ, đêm thì nổi chìm phó mặc bước chân. Tình cờ đến
nhà họ Trương, thấy một cô thiếu nữ nằm trên giường, bèn lại gần nhập vào, có
hay đâu lại được sống lại
Liên nghe chuyện, trầm ngâm, có dáng nghó ngợi
Qua hai tháng. Liên sinh một con trai Sinh xong, bi bạo bệnh,
suốt ngày nằm ly bì. Bèn cầm tay Yến dặn di:
- Phiền em vất vả nuôi dùm cái giống oan nghiệt nàỵ Con ta
cũng là con mình.
Yến chảy nước mắt, lựa lời khuyên giải Muốn mời thầy lang,
nhưng nàng khước từ. Bệnh ngày thêm nguy kich, hơi thở mỏng manh như sợi tợ
Chàng và Yến Nhi đẳu khóc. Bỗng nàng mở bừng mắt ra nói:
- đừng thế! Các người lấy sống làm vui, riêng ta lấy chết làm
thích. Nếu quả có duyên, sau mười năm nữa lại được họp mặt.
Nói xong thì chết. Mở chăn ra đònh liệm, thấy đã hoá thành
con hổ. Chàng không nỡ coi là khác loài, lo tang gia hậu hỹ.
Con trai tên là Hồ Nhi, Yến nuôi nấng như con đẻ. Mỗi lần gặp
tiết thanh minh, thế nào cũng bế con đến khóc trước mộ mẹ.
Về sau, chàng đậu kỳ thi Hương, nhà dần dần sung túc, mà Yến
vẫn khổ sở vì không sinh đẻ. Hồ Nhi cũng khá thông tuệ, nhưng tạng người yếu đuối,
lại lắm bệnh. Yến vẫn muốn tìm người vợ lẽ cho chồng. Một hôm, con hầu bỗng vào
thưa:
- Ngoài cửa có một bà cụ, dắt theo người con gái muốn tìm chỗ
bán.
Yến cho gọi vàọ Thoạt nhìn thấy giật nẩy mình nói:
- Chi Liên lại ra đời đấy chăng?
Chàng nhìn cô ta thì giống hệt, nên cũng hoảng. Hỏi:
- Bao nhiêu tuổi rồỉ
đáp rằng:
- Mười bốn.
- Tiền cưới đònh lấy bao nhiêụ
đáp:
- Thân già chỉ được có mụn con này, chỉ cốt nó được chốn yên
thân, mà tôi cũng có nơi để kiếm miếng cơm, ngày sau nắm xương tàn không đến nỗi
bỏ nơi ngii rãnh, thế là đủ.
Chàng bàn trả giá cao, rồi giữ luôn bà cụ lại Yến cầm tay cô
gái, dắt vào buồng kín, nâng cằm, cười mà bảo:
- Mày có biết tao không?
Thưa rằng:
- Không biết.
Hỏi họ là gì, đáp:
- Thiếp họ Vi Bố làm nghề bán nước ở trong thành Từ Châu, chết
đã ba năm rồi
Yến bấm ngón tay tính lại thì Liên vừa chết đúng mười bốn
năm. Lại ngắm nhìn cô gái, dung nhan, cử chỉ, chỗ nào cũng giống Liên Hương đến
thần tình. Bèn vỗ vỗ vào trán mà gọi to lên rằng:
- Chi Liên, chi Liên! Cái hạn 'mười năm lại gặp' đúng là
không lừa tôi
Cô gái bỗng như trong mộng bừng tỉnh, thình lình mắt sáng
lên, nói:
- A!
Rồi nhìn kỹ Yến Nhi Chàng cười bảo:
- đó là 'Dường như quen nhau én lại về' đấỵ
Cô gái ràn rụa nước mắt, nói:
- Phải rồi Nghe mẹ bảo, lúc thiếp mới sinh ra đã biết nói,
nghó là điềm không lành, lấy máu chố cho uống,nên mới lú ấp cả nhân duyên kiếp
trước. Hôm nay thực như trong mơ chợt tỉnh. Nương tử đây có phải là em Lý vẫn hổ
thẹn vì phải làm ma khôem
Bèn cùng nhau trò chuyện về quãng đời thuở trước, buồn vui
xen lẫn tuôn tràọ
Một hôm, gặp tiết hàn thực, Yến bảo:
- đây là ngày hàng năm em và chàng vẫn khóc chi đấỵ
Nói đoạn cùng nhau thân hành đi thăm mộ. Cỏ hoang đã xanh rờn,
cây đã vừa ôm, nàng cũng động lòng than thở.
Yến bảo chàng rằng:
- Thiếp và chi Liên đã hai đời tình nghóa, không nỡ lìa nhau,
nên cho nắm xương trắng được cùng huyệt.
Chàng làm theo lời, đào mộ Lý, lấy xương mang về hợp tán ở mộ
Liên. Họ hàng, bè bạn nghe câu chuyện lạ, mặc lễ phục kéo đến tận huyệt, không
hẹn mà tụ họp đến vài trăm ngưo
Năm Canh tuất, ta đi chơi miền Nam đến đất Nghi, vì mưa ngăn
trở, phải nghỉ lại ở quán trọ. Có thư sinh Lưu Tử Kính là thân thích bên ngoại
của chàng Tang, đưa cho xem chuyện chàng Tang do người trong cùng văn xã là
Vương Tử Chương soạn, khoảng hơn một vạn chữ, được đọc hết. Trên đây chỉ là tóm
lược mà thôi.
Thôi Mãnh
Cao Xuân Huy dịch
Thôi Mãnh, tên tự là Vật Mãnh, con nhà thế gia ở Kiến Xương.
Tính cương nghị. Thuở nhỏ đi học, bọn trẻ hơi có gì xúc phạm đến thì lập tức
vung tay đánh liền.
Thầy học nhiều lần răn đe nhưng vẫn không chừa. Tên và tự đều do thầy đặt cho.
Ðến mười sáu mười bảy tuổi thì võ nghệ cao cường tuyệt luân. Lại có thể chống
sào dài nhảy lên nóc nhà. Rất thích giúp người khác và rửa sạch bất bình. Vì vậy,
người làng đều cảm phục. Trong nhà ngoài cửa thường đứng đầy những người đến bẩm
bạch, tố cáo.
Thôi ưa chế ngự kẻ mạnh, nâng đỡ người yếu, không sợ oán thù. Ai ho he dám chống
lại thì gạch, đá, gậy gộc choảng luôn, kỳ cho đến tay chân thân thể phải tàn tật.
Mỗi lần thịnh nộ bốc lên, không ai còn dám khuyên can.
Duy chàng thờ mẹ rất có hiếu, hễ mẹ đến là nguôi giận ngay. Mẹ trách quở đũ điều,
Thôi dạ dạ vâng lời, nhưng ra khỏi cửa lại quên mất.
Liền bên nhà, có một người đàn bà rất hung hãn, ngày ngày ngược đãi mẹ chồng. Mẹ
chồng đói lả gần chết, con trai lén cho ăn, chị ta biết được, thét mắng trăm điều,
vang động khắp bốn bên hàng xóm.
Thôi giận lắm, vượt tường sang xẻo luôn tai, mắt, mũi, môi, lưỡi. Mụ chết ngay.
Mẹ hay tin kinh hoàng, gọi anh hàng xóm qua, hết lòng xót thương an ủi, gả cho
anh ta một con hầu trẻ, việc mới yên.
Mẹ phẫn chí khóc lóc không chịu ăn. Thôi sợ, quỳ xuống xin chịu đòn, lại thưa rằng
đã biết hối. Mẹ cứ khóc, không thèm nhìn. Vợ Thôi họ Chu, cùng quỳ xuống với chồng;
mẹ bèn cầm gậy đánh con, rồi lại lấy kim thích vào cánh tay, thành hình chữ thập,
dùng sơn bôi vào cho khỏi mất dấu. Thôi đều xin chịu hết, mẹ mới ăn trở lại.
Bà mẹ thích đãi cơm các nhà sư và đạo sĩ, thường mời họ dùng bữa no nê. Xảy có
một đạo sĩ ở trước cửa thì Thôi đi qua. Ðạo sĩ nhìn Thôi mà nói:
- Tôi xem lang quân có nhiều khí hung hoạnh, sợ khó giữ được cho tròn tuổi thọ.
Nhà tích thiện đáng ra không có người như vậy.
Thôi vừa mới nhận lời răn của mẹ, nay nghe được điều đó thì tỏ cung kính mà
nói:
- Chính tôi cũng tự biết thế, nhưng hễ thấy bất bình, thì khó mà kìm được. Gắng
hết sức sửa đổi, hoặc giả có tránh được không?
Ðạo sĩ cười nói:
- Hẵng đừng hỏi tránh được hay không tránh được, mà trước xin tự hỏi có thể sửa
đổi hay không sửa đổi thôi. Chỉ nên tự mình ức chế thật riết; nếu muôn phần được
một thì tôi sẽ mách anh một phép giả tử.
Bình sinh Thôi không tin bùa phép, nên chỉ cười mà không nói gì. Ðạo sĩ nói tiếp:
- Tôi biết lang quân không tin, nhưng lời tôi nói chả phải như lời bọn đồng cốt.
Cứ làm được cũng đã là thịnh đức, dẫu không công hiệu cũng chẳng hại gì.
Thôi xin được nghe lời dạy bảo. Ðạo sĩ bèn nói:
- Vừa có một kẻ hậu sinh đi qua trước cửa kia, anh nên kết giao thật hậu tình với
hắn; sau này có phạm tội chết, thì người ấy có thể cứu sống anh được.
Nói rồi gọi Thôi ra chỉ cho biết người đó. Thì ra đó là thằng bé con nhà họ Triệu,
tên là Tăng Kha.
Triệu là người đất Nam Xương, gặp năm đói kém phải đến ngụ cư ở Kiến Xương. Từ
đấy Thôi bèn cùng Triệu giao kết thân tình, mời dọn sang ở nhà mình, cung cấp
cho rất hậu. Tăng Kha tuổi mới mười hai, lên nhà lạy mẹ, nhận nhau làm anh em.
Năm sau, đến vụ canh tác mùa xuân. Triệu đem gia quyến đi, từ đó không có tin tức
gì.
Bà cụ họ Thôi, từ khi người đàn bà hàng xóm chết, răn con càng cẩn mật; có người
nào đến kêu nài, cầu cứu gì, bà đều xua gạt đi. Một hôm, cậu ruột Thôi mất,
chàng theo mẹ sang viếng, giữa đường gặp mấy người đang trói giải một người đàn
ông, vừa mắng chửi vừa thúc đi cho nhanh, lại còn đánh đập. Người xem nghẽn cả
đường, xe không tiến lên được. Thôi hỏi duyên do, thì những người biết Thôi đều
xúm đến mách bảo.
Nguyên trước đây cậu con trai một vị chức sắc lớn, là tên Giáp nọ, ngang ngược
nhất làng, dòm thấy vợ chàng Lý Thân có nhan sắc, muốn chiếm đoạt, nhưng không
có cớ gì, bèn bảo người nhà dụ anh ta đánh bạc, đưa tiền cho vay, lấy lãi rất nặng,
bắt đem cả người vợ ghi vào khế văn, thua hết lại cho vay, một đêm nợ đến vài
nghìn. Ðược nửa năm thì nợ mẹ đạ nợ con đã hơn ba mươi nghìn. Thân không sao trả
được, cậy thế đông người chúng đến cướp lấy người vợ. Thân đến cửa mà khóc lóc,
Giáp giận, bắt trói, treo lên cây, đánh bằng roi, cứa bằng dao, và bức phải làm
tờ 'giấy không kêu nài'.
Thôi nghe nói, nộ khí bốc lên ngùn ngụt, gia roi cho ngựa tiến lên, ý muốn dụng
võ.
Mẹ Thôi vén rèm xe, gọi lại bảo:
- Chà, lại thế đấy hả?
Thôi đành phải làm nhịn.
Viếng tang xong trở về, không nói cũng không ăn, chỉ ngồi sững, mắt nhìn thẳng,
như đang giận dữ người nào. Vợ căn vặn cũng không buồn đáp. Ðến đêm, mặc cả áo
ngoài, nằm trên giường, trằn trọc mãi đến sáng. Ðêm sau cũng vậy, chợt mở cửa
đi ra rồi lại trở vào nằm, cứ như thế đến ba bốn lần. Vợ không dám hỏi, chỉ lo
lắng nín im để xem sao. Thế rồi lại ra đi, rất lâu mới về, khép cửa lên giường
ngủ say. Cùng đêm ấy, có người đã giết tên Giáp trên giường nằm, phanh bụng rút
ruột ra ngoài; thây của vợ Thân cũng loã lồ nằm ở dưới giường.
Quan nghi cho Thân, bắt về tra xét, cùm kẹp tàn khốc, lòi cả xương mắt cá chân
nhưng vẫn không cung xưng; hơn một năm không chịu nổi cực hình, phải nhận liều,
bị ghép vào tội tử hình.
Vừa gặp lúc mẹ Thôi mất. Chôn cất xong, chàng bảo vợ rằng:
- Kẻ giết tên Giáp, chính là ta. Chỉ vì còn mẹ già, không dám tiết lộ. Nay việc
lớn đã xong, cớ sao một người làm lại để kẻ khác vạ lây? Ta sắp ra nhận tội chết
trước nhà chức trách.
Vợ kinh hãi, túm áo kéo lại, chàng dứt chéo mà đi, tự ra thú nhận ở pháp đình.
Quan ngạc nhiên, cùm lại, tống vào ngục, mà tha cho Thân.
Thân không chịu, chứ một mực nhận tội. Quan không thể quyết, giam cả hai. Họ
hàng thân thuộc chê trách Thân.
Thân nói:
- Cái việc mà công tử làm, là việc ta muốn làm mà không làm được. Công tử đã
làm thay cho ta, mà ta lại nở lòng ngồi nhìn công tử chết hay sao? Nay ta cứ
coi như công tử chưa ra đầu thú là được rồi.
Rồi cứ giữ nguyên, không đổi lời khai, lại cố tranh tội với Thôi. Lâu về sau
nha môn cũng biết duyên cớ, bắt Thân phải ra khỏi ngục, để Thôi chịu tội.
Ngày xử quyết đã gần đến, xảy có quan Tuất Hình Triệu Bộ Lang tới duyệt các án
tù. Ðọc đến tên Thôi Mãnh, ông gạt hết mọi người ra rồi cho gọi vào.
Thôi vào, ngẩng nhìn lên công đường, thì là Tăng Kha. Vừa buồn vừa mừng, nói hết
tình thực.
Triệu bồi hồi một lúc lâu, rồi vẫn truyền tống giam, dặn lính ngục phải đối đãi
tử tế. Dần dần lấy cớ là đã biết tự thú được giảm đẳng, sung làm lính thú Vân
Nam.
Thân cũng được đi theo để phục dịch. Chưa đầy một năm, được viện lệ ân xá mà về,
đều là nhờ sức của Triệu cả.
Sau khi đã về, Thân vẫn theo không rời, nhận làm quản gia cho chàng, nhưng trả
tiền không lấy, chỉ những thuật leo trèo đánh đá là chú tâm tập luyện.
Thôi đãi ngộ rất hậu, cưới vợ cho và cấp cho ruộng đất. Riêng Thôi, từ đó cố gắng
sửa đổi tính nết cũ, mỗi khi sờ đến vết kim châm trên cánh tay, thì ràn rụa nước
mắt.
Trong làng xóm có xảy ra việc gì, thì Thân tự thác mệnh Thôi lo liệu dàn xếp mà
không bẩm cho Thôi hay.
Có viên giám sinh họ Vương, là nhà hào phú, bọn vô lại bất nhân bốn phương thường
hay thậm thụt ra vào cửa hắn. Những nhà khá giả trong ấp phần lớn đều bị chúng
cướp bóc, nếu có ai dám trái ý, hắn sai bọn cướp giết ngay ngoài đường. Con hắn
cũng dâm bạo. Vương có một bà thím goá chồng. Cả hai cha con cùng gian dâm với
bà. Vợ là Cừu thị mấy lần can ngăn Vương, Vương liền thắt cổ nàng cho chết.
Anh em họ Cừu kiện lên quan thì Vương đút lót để người cáo giác mình phải mang
tội vu khống. Hai anh em chịu oan uất không có cách gì phân giải được, bèn tìm
đến Thôi để kêu cầu, tố cáo.
Song bị Thân cự tuyệt đuổi đi. Vài ngày sau có khách đến, gặp lúc không có người
hầu ở nhà. Thôi bảo Thân pha trà, Thân làm thinh đi ra nói với người khách rằng:
- Tôi với Thôi Mãnh chẳng qua cũng là bạn bè thôi. Theo nhau đi đày ở ngoài
muôn dặm, không thể nói là không tận tình. Thế mà đã không trả công cho đồng
nào lại sai khiến như đầy tớ, thì chịu sao cho nổi.
Nói xong, hằm hằm sắc mặt bỏ đi. Có người nói lại với Thôi. Thôi lấy làm lạ sao
Thân đổi tính thay nết như vậy, nhưng cũng chưa coi là kỳ cho lắm. Bỗng Thân
lên quan kiện Thôi ba năm không trả tiền công cho mình.
Thôi kinh dị quá, phải thân đứng ra đối chất . Thân phẫn uất tranh cãi.
Quan cho là lý không ngay thẳng, trách mắng, đuổi đi.
Lại mấy ngày sau, bỗng đang đêm Thân vào nhà họ Vương bắt cả hai cha con, người
thím, người dâu giết tất rồi dán giấy vào vách, tự viết tên họ mình. Khi cho
truy bắt thì đã đào vong mất tích.
Nhà họ Vương nghi cho Thôi Mãnh là chủ mưu. Quan không tin.
Thôi mới hiểu, câu chuyện kiện tụng Thân bày ra trước đây là vì sợ giết người sẽ
liên luỵ đến mình. Các địa đầu châu ấp phụ cận truy nã rất gắt. Vừa lúc giặc Sấm
nổi loạn, việc ấy mới xếp lại.
Chẳng bao lâu nhà Minh mất ngôi. Thân đem gia quyến về, lại nối tình thân với
Thôi như xưa. Lúc bấy giờ, giặc cỏ tụ tập như ong. Vương có đứa cháu họ tên là
Ðắc Nhân, tập họp bọn vô lại do chú chiêu mộ ngày trước, chiếm cứ núi non làm
giặc kéo đi đốt cướp xóm làng.
Một đêm, chúng dốc hết cả sào huyệt kéo đến, rêu rao là để phục thù. Lúc đó
Thôi không có nhà. Khi giặc phá cửa, Thân mới tỉnh dậy vượt qua tường nấp trong
bóng tối.
Giặc sục sạo tìm Thôi, không thấy, bắt vợ Thôi, vơ vét của cải rồi đi.
Thân trở vào, chỉ có một người đầy tớ, phẫn chí đến cực điểm, bèn cắt một sợi
dây thừng thành mấy chục khúc, đem những khúc ngắn trao cho người đầy tớ, còn
mình giữ lấy những khúc dài. Dặn người đầy tớ phải vượt qua sào huyệt giặc,
trèo lên lưng chừng núi, châm lửa vào dây thừng rồi treo lên các bụi gai, xong
thì cứ bỏ đấy về ngay, đừng ngoái lại.
Người đầy tớ vâng lời ra đi.
Thân nhìn thấy bọn giặc đứa nào cũng thắt dây lưng đỏ, và buộc miếng the đỏ
trên mũ, bèn cũng bắt chước nguỵ trang như vậy. Có một con ngựa cái đã già, mới
đẻ con, giặc bỏ lại ngoài cửa. Thân buộc con ngựa con lại, cưỡi ngựa mẹ, ngậm
tăm ra đi, thẳng đến ổ giặc.
Giặc đóng ở một thôn lớn.
Thân buộc ngựa ngoài thôn, trèo tường vào, thấy bọn giặc còn lăng xăng, rối
rít, giáo mác cầm trên tay chưa kịp buông. Thân vồ hỏi mấy đứa, biết vợ Thôi
còn ở chỗ tên Vương.
Một lát, nghe truyền lệnh cho quân nghỉ, tiếng dạ như sấm ran. Bỗng có người báo
núi phía Ðông có lửa. Bọn giặc cùng nhau đứng trông. Lúc đầu mới chỉ có một hai
chấm, rồi thì nhiều như sao sa.
Thân dồn hơi kêu lên rất gấp rằng mé núi phía Ðông có động! Tên Vương cả kinh,
nai nịt lại, dẫn quân ra.
Thân thừa dịp tụt lại phía sau bọn chúng rồi quay mình đi luôn vào trong trại.
Thấy hai tên giặc đứng canh ở dưới trướng. Chàng phỉnh chúng, nói:
- Vương tướng quân bỏ quên thanh bội đao ở đây!
Hai tên thay nhau tìm kiếm. Thân đứng đằng sau chém tới, một tên ngã nhào, đứa
kia ngoảnh lại nhìn, Thân liền chém nốt. Rồi cõng vợ Thôi vượt tường mà ra, mở
ngựa trao dây cương dặn:
- Nương tử không biết đường, cứ để mặc cho ngựa đi.
Ngựa nhớ con bon bon chạy. Thân theo sau, đến một hẻm núi, chàng châm lửa vào sợi
dây thừng, treo khắp nơi rồi mới chạy về.
Ngày hôm sau Thôi trở về nhà, cho là điều đại sỉ nhục, bồn chồn, tức tối ra mặt,
muốn đơn phương độc mã đi dẹp giặc. Thân phải can ngăn mới thôi. Bèn triệu tập
người làng cùng bàn tính mưu kế.
Chúng đều khiếp sợ, không ai dám hưởng ứng. Giảng giải khuyên dụ đến vài bốn lần
mới được hơn hai mươi người dám đi. Nhưng khổ nỗi lại không có khí giới. Vừa
khi ấy lại trói hai tên gian tế trong một nhà bà con của Ðắc Nhân. Thôi muốn giết
ngay, Thân không cho, hạ lệnh cho hai mươi người cầm gậy, dàn ra trước mặt, rồi
cắt tai cả hai đứa mà thả cho về. Mọi người đều oán, nói rằng:
- Một đám quân gia thế này, đang sợ giặc nó biết được, thế mà lại cho hai thằng
kia nhìn thấy hết. Nếu bất chợt chúng dốc toàn đội kéo xuống đây thì đóng cổng
làng, cũng không sao giữ được!
Thân đáp:
- Chính tôi muốn cho chúng nó xuống!
Bèn cho bắt kẻ giấu giặc trong nhà đem giết đi. Rồi sai người đi mọi nơi mượn
cung nỏ, súng kíp, lại lên ấp mượn hai cỗ pháo lớn.
Trời vừa tối, chàng dẫn tráng sĩ đến chỗ hẻm núi, đặt pháo vào nơi xung yếu,
cho hai người cầm lửa nấp ở đấy, dặn hễ thấy giặc mới phát hoả.
Lại đi đến phía Ðông cửa hang, chặt cây đặt lên dốc núi.
Thế rồi Thân và Thôi mỗi người lĩnh một suất hơn mười người chia ra mai phục
hai bên bờ. Gần hết canh một, xa xa nghe tiếng ngựa hí, ngầm xem xét, giặc quả ồ
ạt kéo đến từng xâu dài, liên miên không dứt.
Chờ chúng đã đi vào cả trong lũng rồi, bèn đẩy cây lăn xuống để chặn đường về.
Một lát, tiếng pháo nổ ran, tiếng hò reo chuyển động cả khe núi. Giặc rút mau,
dẫm đạp lên nhau, đến chỗ hẻm phía Ðông, không thoát ra được, dồn cục một đống.
Hai bên bờ, tên đạn giáp công, khí thế như mưa bay gió cuốn. Quân giặc, đứa đứt
đầu, đứa gãy chân, nằm gối lên nhau, ngổn ngang trong rãnh, chỉ sót lại hai mười
đứa, quỳ gối xin chuộc mệnh; bèn sai người trói cả lại giải đi. Thừa thắng tiến
thẳng lên sào huyệt giặc. Bọn giặc giữ trại nghe hơi chạy trốn sạch; bao nhiêu
đồ đạc đều lục tìm kỳ hết đem về.
Thôi cả mừng, hỏi Thân về mưu kế đốt lửa. Thân nói:
- Ðốt lửa ở phía Ðông, vì sợ chúng đuổi ở bên Tây; dùng thừng ngắn là để cho
mau cháy hết, vì sợ chúng dò biết là không có người; lại đốt ở cửa hang, vì sợ
cửa hang rất hẹp, một người cũng đủ chặn giữ. Bọn chúng đuổi tới, thấy lửa, tất
phải sợ. Ðó đều là hạ sách, mạo hiểm mà dùng trong lúc nhất thời thôi.
Bắt mấy tên giặc lên hỏi thì quả nhiên khi đuổi đến cửa hang thấy lửa, chúng đều
hoảng sợ mà lui bước.
Hơn hai mươi tên cướp bắt được đều bị xẻo tai cắt mũi rồi thả cho về. Từ đó, họ
Thôi và họ Thân uy danh lừng lẫy. Những người tị nạn xa gần theo về như chợ, vì
vậy mà tổ chức được một đoàn dân binh hơn ba trăm người.
Bọn cường hào ở các nơi không dám phạm đến nữa; cả một vùng nhờ đó mà được yên.
Gái Thần
Ðỗ Ngọc Toại dịch
Thư sinh họ Mễ, người đất Mân, người kể chuyện này quên mất cả
tên tuổi, quận ấp. Tình cờ lên quận, uống rượu say, đi giữ phố xá, nghe bên
trong một toà nhà lớn có tiếng sáo, tiếng trống như sấm. Hỏi những người ở gần
đấy thì nói là nhà ấy mở tiệc khao thọ. Thế mà ngoài cửa trong sân vẫn vắng vẻ
lắm. Lắng nghe thì thấy tiếng sênh, tiếng hát vang lừng.
Ðang say, chàng rất lấy làm thích, cũng không hỏi là nhà ai, liền ra ngay đầu
phố mua đồ mừng rồi đưa thiếp ý vãn sinh vào.
Có người thấy chàng mũ áo quê kệch, liền hỏi:
- Anh với ông cụ nhà này họ hàng thế nào?
Ðáp:
- Không đâu!
Người ấy nói:
- Nhà này từ nơi khác đến kiều cư ở đây, không rõ quan tước gì, nhưng rất sang
trọng kiêu kỳ. Ðã không thân thuộc thì vào làm gì?
Chàng nghe mà hối hận, nhưng thiếp đã đưa vào rồi.
Chẳng mấy chốc, hai chàng trẻ tuổi ra đón khách, áo quần choáng mắt, dáng điệu
phong nhã, vái chàng mời vào.
Thấy một ông già ngồi ngoảnh mặt về hướng Nam; phía Ðông, phía Tây bầy mấy trăm
mâm cỗ;
Thấy chàng đến, đứng cả lên, làm lễ, ông già cũng chống gậy đứng dậy.
Chàng đứng lâu, đợi ông cụ rước mời, mà cụ vẫn không rời khỏi chiếu.
Hai chàng trẻ tuổi đỡ lời, nói:
- Phụ thân chúng tôi già yếu, đứng dậy vái rất khó, anh em tôi xin thay mặt tể
ơn bậc cao hiền hể cố đến chơi.
Chàng khiêm tốn đáp tạ lại. Liền sai đặt thêm một cỗ ở phía trên, liền chỗ ông
cụ. Một lát, nữ nhạc dạo ở dưới. Ðằng sau phòng tiệc, có bày chiếc bình phong bằng
lưu ly, để che cho người trong nhà.
Trống sáo nổi lên rầm rĩ, khách trong tiệc không thể trò chuyện nữa.
Tiệc sắp tàn, hai chàng trẻ tuổi đứng dậy, mỗi người một cốc to mời khách, cốc
đựng chừng ba đấu. Chàng có ý ngại nhưng thấy khách nhận nên cũng nhận. Chốc
lát, trông bốn bên, chủ khách đều uống cạn cả. Chàng bất đắc dĩ phải cố uống hết.
Chàng trẻ tuổi rót nữa, chàng thấy mệt quá, đứng lên mà cáo lui. Chàng trẻ tuổi
cố nắm vạt áo giữ lại. Chàng say quá, ngã xuống đất, chỉ biết có người lấy nước
lạnh rưới vào mặt; bàng hoàng tỉnh lại, dậy nhìn thì khách khứa đã đi hết, duy
chỉ có một chàng trẻ tuổi xốc cánh tay đưa ra. Liền chào mà về. Sau đó chàng lại
qua cổng, thấy đã dời đi chỗ khác.
Ở quận về, tình cờ đi qua chợ, một người từ trong quán bước ra, mời chàng vào uống
rượu. Nhìn thì không quen, nhưng cũng cứ theo mà vào. Thấy trên tiệc đã có người
làng là Bão Trang ngồi trước. Hỏi người đó thì ra họ Chư, làm nghề mài gương
trong chợ. Hỏi:
- Sao biết đến nhau?
Ðáp:
- Người khao thọ hôm trước, ông có biết là ai không?
Chàng đáp:
- Không biết.
Chư nói:
- Tôi ra vào nhà ấy nhiều lần, ông cụ họ Phó, nhưng không rõ quê quán và quan
tước ra sao. Lúc tiên sinh vào mừng thọ, tôi đang ở dưới thềm, cho nên nhớ được.
Chiều tối, bữa rượu tan. Bão Trang về đêm, bị chết ở dọc đường. Người bố của
Trang không biết họ Chư, cứ kêu tên chàng mà kiện. Khám thấy xác Bão Trang có vết
thương nặng, cho rằng chàng mưu sát, khép vào tội chết, chàng bị cùm xích đủ mọi
đường. Vì chưa bắt được Chư, chưa có đủ chứng cứ nên việc kiện còn treo đấy.
Hơn một năm sau, quan trực chỉ đi tuần tra các nơi, xét biết chàng bị oan, mới
tha cho ra.
Trong nhà, ruộng nương, của cải đã mất hết, mà mũ áo sinh viên đã bị lột, nhưng
cũng mong có thể lấy lại được, nên lại xách khăn gói lên quận.
Trời đã về chiều, chân đi đã mỏi, liền ngồi nghỉ ở ven đường. Từ xa thấy một
chiếc xe nhỏ đi lại, hai cô gái áo xanh đi kèm hai bên.
Ðã qua chỗ chàng rồi, bỗng bảo dừng xe lại. Không biết trong xe nói gì. Một lát
thấy một nàng áo xanh đến hỏi chàng:
- Có phải chàng họ Mễ không?
Chàng giật mình đứng dậy nói phải.
Hỏi:
- Sao nghèo túng đến thế?
Chàng kể nguyên do. Lại hỏi:
- Ðịnh đi đâu bây giờ?
Chàng lại nói cho biết. Nàng áo xanh bỏ đi, ghé vào trong xe nói chuyện; một
lát lại trở lại, mời chàng đến trước xe. Trong xe có một bàn tay thon thon thò
ra vén màn, liếc trông thì ra một giai nhân đẹp tuyệt trần. Nói với chàng rằng:
- Chàng không may mắc phải cái vạ gió, nghe thấy mà buồn quá. Ngày mai, dinh
quan Đốc Học chẳng phải là nơi kẻ hai bàn tay trắng có thể ra vào được. Giữa đường
không biết lấy gì tặng...
Bèn rút ra một đoá hoa ngọc trai trên mái tóc đưa cho chàng, nói:
- Vật này có thể bán được một trăm đồng vàng, xin cầm lấy mà dùng.
Chàng chắp tay vái tạ. Ðịnh hỏi cửa nhà gia thế thì xe đi rất nhanh, đã cách xa
rồi, không biết là ai nữa. Cầm hoa nghĩ ngợi, thấy trên có nạm ngọc trai, biết
không phải vật thường, liền trân trọng cất giấu mà đi.
Ðến quận, đưa đơn vào, bị trên dưới vòi vĩnh hạch sách rất khó. Giở hoa ra ngắm,
không nỡ bán đi, đành quay về. Về rồi mà không có nhà ở, phải dựa vào anh chị.
May được anh là người hiền, trông nom lo liệu cho, nên nghèo mà vẫn không phải
bỏ học.
Năm sau, chàng lên quận thi khoa đồng tử, nhầm đường lạc vào trong núi sâu. Gặp
tiết thanh minh, người đi chơi rất đông. Mấy người con gái cưỡi ngựa đi tới,
trong đó có một cô, chính là người ngồi trong xe năm ngoái. Thấy chàng thì dừng
cương lại, hỏi đi đâu? Chàng cứ thực nói. Cô gái kinh ngạc hỏi:
- Khăn áo sinh viên chàng còn chưa lấy lại được ư?
Chàng thẹn, rút ở dưới áo đoá hoa ngọc trai ra, nói:
- Không nỡ bỏ vật này nên vẫn còn là đồng tử vậy.
Cô gái đỏ bừng mặt. Ðoạn bảo ngồi đợi ở góc đường, dong ngựa ung dung mà đi.
Giây lâu, một con hầu ruổi ngựa tới, trao cho chàng một cái gói, nói:
- Nương tử bảo, ngày nay cửa quan Đốc Học chỉ là cái chợ, xin tặng hai trăm đồng
bạch kim để làm vốn tiến thủ. Chàng từ chối, nói:
- Nương tử làm ơn cho tôi đã nhiều! Tự nghĩ thi đỗ khoa đồng tử cũng không khó,
nên món tiền to này không dám nhận. Chỉ xin được nương tử cho biết họ tên, để vẽ
một bức hình, đốt hương tưởng bái, thế là đủ rồi.
Con hầu không nghe cứ đặt tiền xuống đất mà đi. Từ đấy chàng chi dùng đầy đủ,
nhưng chung quy vẫn không thèm lân la cầu cạnh ai. Sau đó được đỗ đầu vào trường
học của huyện.
Liền đưa tiền cho anh trai. Anh khéo kinh doanh, trong ba năm, cơ nghiệp cũ lấy
lại được hết.
Gặp lúc quan Tuần Vũ tỉnh Mân là học trò của ông nội chàng, thường giúp đỡ cho
rất nhiều, hai anh em trở nên giàu to.
Nhưng chàng vốn là người thanh cao, cứng cỏi.
Tuy quen thuộc lâu đời với vị quan lớn, mà vẫn chưa từng đến yết kiến cầu xin
gì.
Một hôm có một người khách mặc áo cừu, cưỡi ngựa đến cổng, cả nhà đều không ai
quen. Ra xem thì ra công tử họ Phó. Chàng chắp tay mời vào, cùng nhau hàn
huyên. Chàng sai bày rượu thết đãi. Khách lấy cớ bận từ chối, nhưng cũng không
nói đến chuyện đi.
Rồi khi cơm rượu đã bày, công tử bèn đứng dậy xin nói chuyện riêng. Hai người
cùng vào nhà trong, công tử liền lạy rạp xuống đất.
Chàng kinh ngạc hỏi chuyện gì, công tử ủ dột nói:
- Phụ thân mắc vạ lớn, muốn nhờ quan Tuần một chút, ngoài anh ra, không ai giúp
được.
Chàng từ chối nói:
- Ông ta tuy là chỗ quen biết lâu đời, nhưng lấy việc riêng ra cầu cạnh với người,
thực từ thuở sinh bình đến nay, tôi chưa hề làm bao giờ.
Công tử nằm phục xuống đất kêu khóc thảm thiết. Chàng nghiêm sắc mặt nói:
- Tiểu sinh với công tử chẳng qua chỉ một bữa tiệc mà quen biết nhau, sao lại cố
ép người ta làm việc mất danh tiết như vậy?
Công tử hổ thẹn quá, đứng dậy từ biệt rồi đi.
Hôm sau nữa, đương ngồi một mình, có một nàng áo xanh đi vào. Chàng nhìn thì ra
chính là người đưa tiền tặng mình ở trong núi ngày trước.
Chàng giật mình đứng dậy. Người áo xanh nói:
- Chàng quên đoá hoa ngọc trai rồi chăng?
Chàng nói:
- Dạ dạ, không dám quên.
Lại nói:
- Công tử đến đây hôm qua, tức là anh ruột nương tử tôi đấy.
Chàng nghe thấy, mừng thầm, giả cách nói:
- Ðiều đó khó tin lắm. Nếu được nương tử thân đến đây bảo với một lời, thì dẫu
vạc dầu cũng xin nhảy vào; nếu không, không dám vâng lời.
Người áo xanh bước ra, nhảy lên ngựa mà đi. Canh khuya, lại trở lại, gõ cửa bước
vào nói:
- Nương tử đã đến.
Nói chưa dứt lời thì cô gái rầu rĩ bước vào, ngoảnh mặt vào vách mà khóc, không
nói một câu. Chàng vái chào, nói:
- Tiểu sinh không có nương tử, không lấy đâu ra có ngày nay. Có điều gì sai bảo,
dám đâu không vâng lời?
Cô gái nói:
- Kẻ được người ta cầu cạnh thường hay khinh người, kẻ đi cầu cạnh người thường
phải sợ người. Nửa đêm bôn ba, sinh bình nào đã biết cái khổ này, chỉ vì sợ người
đấy thôi, còn biết nói gì?
Chàng an ủi nói:
- Sở dĩ tiểu sinh không nhận lời ngay là vì sợ xong việc này, được gặp nhau một
lần nữa là khó. Làm cho nương tử đêm hôm phải xông pha sương tuyết, thực đã biết
tội.
Liền cầm ống tay áo cô gái len lén xoa. Cô gái giận nói:
- Anh thực là người tệ, không nghĩ đến cái nghĩa ngày trước, lại còn muốn định
thừa cơ người ta nguy ngập nữa. Tôi nhầm rồi! Tôi nhầm rồi!
Nói xong vùng vằng mà ra, lên xe toan đi. Chàng đuổi theo ra, tạ lỗi, quỳ xuống
chắn đường. Người áo xanh cũng khuyên giải thêm. Cô gái ý đã nguôi nguôi, liền
ngồi trong xe nói với chàng:
- Nói thực với chàng, thiếp không phải là người mà là thần nữ. Phụ thân làm
quan Đô Lỳ Ty ở Nam Nhạc, ngẫu nhiên thất lễ với địa quan, sẽ đến tai Thượng đế;
không có ấn tín của quan đầu hạt đây thì không thể gỡ được. Nếu chàng không
quên nghĩa cũ, thì kiếm một tờ giấy vàng, vì thiếp mà xin cho một cái dấu.
Nói đoạn xe chuyển bánh đi.
Chàng trở về, lo nghĩ mà không thôi. Bèn mượn cớ điều trừ ma, nói với quan Tuần
Vũ.
Tuần Vũ bảo làm việc đó giống như việc đồng cốt, bùa ngải, không chịu.
Chàng đem nhiều tiền đút cho những người tâm phúc của ông ta, chúng nhận lời
nhưng chưa kịp có dịp nào tiện. Về đến nhà thì người áo xanh ngồi đợi ở cửa,
chàng nói thực cho biết, bèn im lặng đi ra, hình như có ý oán chàng không hết
lòng.
Chàng chạy theo tiễn nói:
- Về nói với nương tử, nếu việc không xong, tôi xin liều mạng chết theo.
Quay vào, suốt đêm trằn trọc, không tìm ra được kế gì. May gặp lúc trong dinh
có người vợ lẽ yêu của quan muốn mua ngọc trai, chàng liền lấy đoá hoa ngọc
trai đem cho.
Người vợ lẽ thích lắm, liền ăn cắp dấu đóng vào giấy cho chàng.
Mang về đến nhà, người áo xanh cũng vừa tới. Chàng cười, nói rằng:
- May không đến nỗi lỗi mệnh. Nhưng cái vật mà mấy năm nay, dù nghèo khó phải
đi ăn xin cũng không nỡ bán, thì ngày nay lại vì chủ nó mà phải bỏ nó rồi!
Liền kể tình đầu, lại nói:
- Vàng vứt đi tôi cũng không tiếc, nhưng nhờ nói với nương tử, đoá hoa ngọc
trai thì phải đền mới được.
Qua mấy hôm, Phó công tử đến nhà tạ ơn, biếu một trăm lạng vàng. Chàng sầm nét
mặt nói:
- Sở dĩ làm như vậy là vì lệnh muội đã giúp đỡ tôi một cách vô tư mà thôi. Nếu
không thì dù vạn lạng vàng cũng không dễ gì đổi danh tiết tôi được.
Cố ép, thì lời nói, nét mặt chàng càng gay gắt. Công tử thẹn mà đi, nói:
- Việc này chưa xong được.
Ngày hôm sau nữa, người áo xanh vâng mệnh cô gái, đem biếu chàng một trăm hạt
ngọc trai, nói rằng:
- Thế này đã đủ đền đoá hoa ngọc trai chưa?
Chàng nói:
- Tôi trọng đoá hoa ấy không phải vì tham quý ngọc trai. Nếu không thì vật báu
vạn dật tặng tôi ngày trước, tôi đã đem bán đi làm một anh nhà giàu rồi, còn cất
giấu nâng niu, cam chịu nghèo khó làm gì nữa? Nương tử người thần, tiểu sinh
nào dám mong gì khác kia. Nay may đã đền ơn sâu được trong muôn một, chết cũng
không ân hận.
Người áo xanh để ngọc trai lên án, chàng liền vái rồi trả lại.
Qua mấy hôm nữa, công tử lại đến, chàng sai bày tiệc rượu. Công tử cũng bảo kẻ
theo hầu xuống bếp nấu nướng. Hai người đối nhau uống rượu thỏa sức, vui như một
nhà. Gặp khi có người khách biếu rượu nếp đắng, công tử khen ngon, uống luôn
trăm chén, mặt đã hơi đỏ, bèn nói với chàng:
- Anh là người chính trực thanh cao, tôi và em trai tôi đều mê muội không biết
sớm, thực đáng xấu hổ với kẻ quần thoa nhiều lắm. Phụ thân tôi cảm đức lớn,
không thấy gì báo đền được, muốn cho em gái tôi kết duyên với anh, chỉ sợ anh
hiềm nỗi u minh khác nẻo vậy.
Chàng mừng mừng sợ sợ, không biết trả lời thế nào. Công tử từ biệt mà về, nói rằng:
- Ðêm mai, mồng 9 tháng Bảy, lúc trăng lưỡi liềm vừa lên, Thiên Tôn có con gái
gả xuống trần, đáy là giờ tốt, nên sửa soạn phòng hoa.
Ðêm sau, quả đưa cô gái đến, mọi cái không khác gì người thường. Sau ba ngày,
cô gái đối với anh chị dâu, cho đến kẻ hầu người hạ, đều có quà tặng. Lại rất nết
na, thờ chị dâu như mẹ chồng.
Mấy năm sau không đẻ, khuyên chàng lấy vợ lẽ, chàng không nghe. Vừa khi người anh
đi buôn ở Giang Hoài về, mua cho chàng một người thiếp trẻ tuổi.
Thiếp họ Cố, tên là Bác Sĩ, dáng người cũng thanh nhã. Vợ chồng đều mừng. Chợt
thấy trên mái tóc có cài đoá hoa ngọc trai giống hệt như vật cũ năm trước, rút
xuống xem, quả đúng. Thấy lạ liền hỏi.
Ðáp rằng:
- Trước đây người thiếp yêu của quan Tuần Vũ chết, thị tỳ của bà ta ăn trộm bán
ở chợ. Cha thiếp thấy rẻ mua về, thiếp rất thích. Cha thiếp không có con trai,
chỉ có một mình thiếp, nên xin gì cũng được. Sau, cha thiếp mất, nhà cửa sa
sút, thiếp phải sống gửi ở nhà bà họ Cố. Bà Cố là vai dì của thiếp, thấy ngọc
trai, nhiều lần muốn đem bán. Thiếp nhảy xuống giếng toan tự tử, vì thế đến nay
vẫn còn.
Vợ chồng cùng nói:
- Vật mười năm, lại về chủ cũ, chẳng phải là số ư?
Cô gái bàn rút ra một đoá hoa ngọc trai khác nói:
- Vật này đã lâu không có đôi rồi!
Nhân tặng cả cho người thiếp và tự tay cài lên mái tóc cho. Người thiếp lui xuống,
hỏi gia thế cô gái rất kỹ, người nhà đều không dám nói. Nàng nói vụng với chàng
rằng:
- Thiếp trông nương tử không phải là người trần. Ở khoảng mắt và lông mày có thần
khí. Hôm qua, lúc cài hoa, thiếp được nhìn gần, thấy vẻ đẹp từ bên trong da thịt
toát ra, không phải như người thường, chỉ hơn nhau ở chỗ trắng đen bên ngoài mà
thôi!
Chàng cười. Nàng lại nói:
- Xin chàng đừng nói gì, để thiếp thử xem. Nếu là thần thì mình muốn gì, cứ ở
chỗ vắng người, đốt hương cầu khắn là nương tử khắc biết.
Cô gái vốn có đôi tất thêu rất đẹp, Bác Sĩ vẫn thích mà chưa dám nói, ngay lúc ấy
bèn vào buồng đốt hương cầu khấn. Cô gái bèn dậy sớm, bỗng mở hòm lấy đôi tất,
sai con hầu đem cho Bác Sĩ.
Chàng thấy thế bật cười. Cô gái hỏi cớ sao, mới nói thật. Cô gái nói:
- Con bé ấy linh mẫn thật!
Nhân thấy Bác Sĩ thông minh, càng yêu thương. Mà Bác Sĩ càng cung kính, cứ tờ mờ
sáng tất tắm gội để lên hầu.
Về sau, Bác Sĩ đẻ một lần hai con trai, hai người chia nhau nuôi.
Chàng đã tám mươi tuổi, mà diện mạo cô gái vẫn như người chưa lấy chồng. Chàng
mắc bệnh, cô gái thuê thợ đóng cỗ quan tài rộng, to gấp đôi cỗ thường. Chàng mất,
cô không khóc.
Các con vừa đi ra chỗ khác, thì cô đã tự chui vào áo quan mà chết rồi. Vì vậy
cùng chôn chung. Ðến nay vẫn truyền tụng là 'ngôi mộ quan tài to'.
Ðảo Tiên
Trần Thị Băng Thanh dịch
Vương Miễn tên chữ là Mẫn Trai, người Linh Sơn có văn tài,
nhiều lần đứng đầu trường văn, tâm khá kiêu, hay trách mắng, nhiều người bị nhục.
Một hôm tình cờ gặp một đạo sĩ, nhìn Vươm
Tướng ông cực quý nhưng bị nghiệp khinh bạc chiết trừ gần hết rồi. Trí tuệ như
ông, nếu biết sửa mình mà tu đạo thì còn có thể được vào sổ tiên.
Vương cười nhạt:
- Chuyện phúc trạch thực tình còn chưa biết, trên đời này há lại có tiên sao?
Ðạo sĩ nói:
- Sao ông nhìn thấp thế? Chẳng cần tìm đâu xa, tôi chính là tiên đây!
Vương càng cười nhạo lời khoác lác ấy. Ðạo sĩ liền bảo:
- Tôi chẳng đáng nói gì. Nếu đi theo tôi thì vài mươi vị chân tiên, thấy ngay tức
khắc.
Vương nói:
- Ở đâu?
Ðạo sĩ nói:
- Chỉ gang tấc!
Nói rồi kẹp gậy vào khoảng giữa hai đùi, đưa một đầu cho Vương bảo cưỡi như
mình, dặn Vương nhắm mắt, xong quát lên một tiếng:
- Bay!
Vương cảm thấy gậy to ra như chiếc túi đựng năm đấu gạo, bay vụt lên không. Ngầm
sờ vào gậy xem thì thấy vẩy cứng, xắp từng lớp, sợ quá không dám cựa quậy. Lát
sau lại nghe quát:
- Ðỗ lại!
Tức thì rút gậy ra, hạ xuống một khu nhà lớn, lầu gác trùng điệp tiếp nối, như
cung điện bậc đế vương. Có một đài cao hơn một trượng, trên đài có mười toà điện
rộng rãi, đẹp đẽ không gì bằng.
Ðạo sĩ kéo khách lên, sai tiểu đồng bày tiệc mời khách . Trên điện đặt mấy chục
bàn tiệc, bầy biện hoa mắt. Ðạo sĩ thay quần áo tề chỉnh đứng chờ.
Không bao lâu, khách từ không trung tới. Vật cưỡi hoặc là rồng, hoặc là hổ, hay
chim loan, chim phượng, không một loại nào nhất định. Mỗi người đều có mang
theo nhạc cụ.
Khách có con gái, có đàn ông, có người đi chân đất. Trong số đó chỉ có một cô
gái đẹp cưỡi chim phượng sặc sỡ, ăn mặc kiểu cung cầm, có đứa hầu nhỏ ôm theo
nhạc cụ, dài năm thước trở lại, không ra đàn cầm, cũng không ra đàn sắt, chẳng
biết tên gọi là gì. Tiệc rượu bắt đầu, thức ăn quý bày xen nhau, bỏ vào miệng
thơm ngon, toàn là những món khác thường.
Vương lặng lẽ ngồi im, duy chỉ chăm chăm nhìn người đẹp; đã yêu người lại muốn
nghe nhạc, chỉ sợ nàng không đàn lần nào. Rượu tàn, một ông già khởi xướng :
- Ðược Thôi chân nhân nhã gọi tới, hôm nay có thể nói là ngày hội lớn, mọi người
nên hết lòng vui. Xin mời những ai mang nhạc cụ giống nhau vào cùng một đội để
hoà .
Thế là ai vào đội nấy, tiếng đàn tiếng sáo vọng tận sông Ngân. Riêng cô gái cưỡi
phượng, tài đàn không có ai cùng sánh. Khi mọi âm thanh trên điện đã dứt, đứa hầu
nhỏ mới mở túi gấm đặt ngang cây đàn trên kỷ, cô gái duỗi tay ngọc như chơi đàn
tranh, âm lượng của nó vang gấp mấy lần đàn cầm; khi mãnh liệt khiến người nghe
mở lòng mở dạ, khi êm đềm khiến hồn phách phiêu diêu. Ðàn khoảng chừng nấu chưa
chín nồi cơm, cả điện lặng phắc, không một tiếng ho. Hết khúc, một tiếng trong
vắt vang lên như gõ vào khánh đá. Cử toạ đều trầm trồ.
- Tài đàn của Vân Hoà phu nhân tuyệt diệu thay!
Mọi người đều đứng dậy cáo biệt; hạc kêu, rồng gầm, chỉ một lát đã tản đi hết.
Ðạo sĩ đặt giường ngà chăn gấm chuẩn bị chỗ cho Vương ngủ. Còn Vương vừa thấy
người đẹp lòng đã xao xuyến, sau lúc nghe đàn, càng mệt vấn vương. Vốn nghĩ tài
mình, áo tía, đai xanh dễ như lượm cỏ; khi phú quý rồi muốn gì chẳng được. Chốc
lát, trăm mối nghĩ suy rối như cỏ bồng. Ðạo sĩ dường như đoán biết, bảo Vương :
- Ông kiếp trước là bạn học với tôi, sau nhân vì chí không bền nên sa lưới tục.
Tôi vốn không coi ông là người ngoài, thực lòng muốn đưa ông ra khỏi chốn vẩn đục.
Không ngờ mê muội đã sâu, mơ màng không thể giác ngộ được. Nay sẽ đưa ông về,
chưa hẳn không có ngày gặp lại; song muốn làm tiên trên trời thì phải đến kiếp
sau .
Ðạo sĩ bàn chỉ phiến đá dài dưới chân bảo Vương nhắm mắt ngồi lên, lại dặn kỹ
không được nhìn, sau đó lấy roi quất vào hòn đá. Ðá bay lên, tiếng gió rót ào
ào bên tai, chẳng biết đã đi được bao nhiêu dặm.
Chợt nghĩ cảnh vật bên dưới chưa biết thế nào, Vương bèn trộm hé hai mí nhỏ như
kẻ chỉ, thấy biển lớn bao la mênh mông tuyệt không bờ bến. Sợ quá nhắm mắt lại
nhưng cả người đã theo đá rơi tõm xuống nước, chìm nghỉm như chim âu lặn. May
trước kia Vương ở gần biển nên biết bơi bì bõm chút ít.
Chợt nghe tiếng người vỗ tay reo:
- Ngã nhào đẹp quá!
Ðang lúc nguy cấp, một cô gái cứu Vương lên thuyền, và nói:
- May thật, may thật! Tú tài 'trúng cấp' rồi!
Vương nhìn, cô gái khoảng mười sáu, mười bảy, nhan sắc xinh đẹp. Vương lên đến
thuyền, rét run, xin đốt lửa sưởi. Cô gái nói:
- Theo tôi về nhà sẽ thu xếp ổn thoả. Nếu vừa , chớ quên sẽ thu nhé!
Vương đáp:
- Sao cô lại nói thế! Tôi là bậc tài tử ở Trung Nguyên, chợt gặp chuyện quẫn
bách. Qua được đận này, xin lấy thân đền đáp, chứ đâu có không quên mà thôi!
Cô gái cầm sào đẩy thuyền đi nhanh như mưa bay gió cuốn, chỉ một loáng đã đến bờ.
Cô gái mang từ trong khoang ra một bó sen mới hái, dẫn Vương đi cùng.
Chừng nửa dặm, vào thôn, thấy ngôi nhà cửa son mở về hướng Nam. Qua mấy lần cổng
cô gái đi nhanh vào trước. Lát sau, một người đàn ông khoảng ngoài bốn mươi tuổi
bước ra vái chào, mời Vương lên thềm, sai người hầu lấy mũ áo giầy tất cho
Vương thay, sau đó hỏi đến nhà cửa quê quán. Vương đáp:
- Chẳng dám nói khoe, tài danh của tôi, chắc ông có nghe qua. Tôi từng được
Thôi chân nhân quyến luyến rất mực, đã vời lên cõi trời. Song tự nghĩ công danh
dễ như trở bàn tay, vì thế không muốn ẩn dật.
Người đàn ông kính cẩn nói:
- Nơi đây gọi là Ðảo tiên, cách xa hẳn cõi người. Tôi tên Văn Nhược, họ Hoàn,
trải mấy đời sống nơi hẻo lánh, may mắn làm sao lại được gặp bậc danh tài.
Thế rồi ân cần mời rượu, lại thung dung nói:
- Tôi có hai đứa con gái. Ðứa lớn tên là Phương Vân, mười sáu tuổi, đến nay
chưa gặp người xứng đôi, muốn cho cháu hầu hạ bậc cao nhân, được chăng?
Vương đoán hẳn là cô gái hái sen nên đứng dậy rời khỏi bàn tiệc cảm tạ. Ông
Hoàn cho mời vài ba vị tuổi cao đức cả trong làng đến, nhìn quanh một lượt rồi
sai gọi con gái.
Chốc lát, hương lạ nức thơm, hơn mười cô gái đẹp đỡ Phương Vân ra, rực rỡ dễ
thương như bông sen tắm trong nắng sớm. Nàng vái chào rồi ngồi xuống, các cô
gái xếp hàng đứng hầu, cô gái hái sen cũng trong số đó. Rượu vài tuần, một cô
bé bỏ tóc xoã từ trong buồng chạy ra, mới chừng hơn mười tuổi mà dáng vẻ đã
xinh đẹp, tươi cười dựa vào khuỷu tay chị, sóng mắt long lanh. Hoàn nói:
- Con gái không ở trong phòng, ra đây làm gì?
Rồi ngoảnh sang khách nói:
- Ðây là Lục Vân, con gái nhỏ của tôi. Cháu khá thông mình, nhớ được sách vở điển
phần.
Nhân đó bảo ngâm thơ cho khách nghe. Cô bé bèn đọc ba chương Trúc Chi từ, giọng
đọc êm ái dễ nghe.
Ông Hoàn cho phép Lục Vân ngồi cạnh chị, rồi nói:
- Anh Vương là bậc thiên tài, thơ làm trước đây hẳn rất nhiều, có thể cho kẻ
hèn này nghe mà học hỏi chăng?
Vương hăng hái đọc một bài cận thể rồi kiêu hãnh nhìn mọi người. Trong bài thơ ấy
có hai câu:
Một thân còn chút mày râu đó,
Cạn chén cho tan khối bất bình.
Ông già ngồi cạnh đọc đi đọc lại hai ba lần. Phương Vân bèn mách khẽ:
- Câu trên là Tôn Hành Giả rời động Hoả Vân, câu dưới là Trư Bát Giới qua sông
Tử Mẫu.
Cử toạ đều vỗ tay. Ông Hoàn mời Vương đọc thêm bài khác, chàng bèn đọc bài thơ
Chim Nước:
Ðầu dầm kêu kíu kít
Bỗng nhiên quên mất câu tiếp theo. Còn đang trầm ngâm thì Phương Vân ghé tai em
thầm thì rồi che miệng cười.
Lục Vân thưa với cha:
- Chị ấy làm hộ anh rẽ câu tiếp theo đấy ạ. Câu thế này:
Mông chó vãi bùm bùm
Mọi người trong tiệc lại cười ồ. Vương cả thẹn, ông Hoàn lừ mắt nhìn Phương
Vân.
Khi sắc mặt Vương đã bình tĩnh lại, ông mời Vương nói tài nghệ văn chương của
mình.
Vương cho rằng người ngoài cõi trần hẳn không biết nghề văn 'bát cổ' bèn khoe
tài văn chàng đã chiếm giải quán quân; đầu đề là hai câu 'Hiếu thay Mẫn Tử
Khiên'; phá đề là 'Thánh nhân khen lòng hiếu đức của bậc đại
Lục Vân quay sang nhìn cha nói:
- Thánh nhân không gọi học trò mình bằng tên tự. Câu 'Hiếu thay...' ắt là lời của
nhân gian.
Vương nghe được mất cả hứng. Ông Hoàn cười:
- Trẻ con biết gì! Không nói về điều ấy, chỉ bàn văn thôi.
Vương lại đọc tiếp. Cứ được vài câu hai chị em lại thì thầm với nhau, dường như
bình phẩm về người, nhưng các cô nói lúng búng không nghe rõ.
Vương đọc đến đoạn hay, thuật lại cả lời bình, có nói rằng: 'Từng chữ, từng chữ
đều thống thiết'.
Lục Vân thưa với cha:
- Chị con bảo nên bỏ chữ 'Thiết' đi.
Cử toạ đều không hiểu. Ông Hoàn sợ con nói năng khinh mạn không dám gạn hỏi.
Vương đọc xong, lại thuật lời tổng bình, trong có câu: 'Trống yết đánh một tiếng,
muôn hoa đều nở'.
Phương Vân lại che miệng nói vào tai em, hai chị em cười đến nỗi không ngẩng
lên được.
Lục Vân lại nói với cha:
- Chị bảo trống yết phải đánh bốn tiếng.
Mọi người vẫn không hiểu. Lục Vân mở miệng định nói tiếp, Phương Vân nín cười
quát:
- Con ranh mà nói, tao đánh chết!
Cử toạ càng nghi ngờ, bàn đoán riêng với nhau. Lục Vân không nhịn được lại nói:
- Bỏ chữ 'thiết' đi, nói 'thống' tức là 'bất thông'. Ðánh bốn tiếng trống thì
tiếng vang là 'Bất thông lại bất thông' vậy.
Mọi người cười phá lên, ông Hoàn nổi giận quát con, nhân đó đứng dậy rót rượu,
tạ lỗi mãi.
Vương ban đầu tự khoe là bậc tài danh, dưới mắt mình thực chẳng coi ai ra gì; đến
lúc này thần khí tiêu tan sạch, mồ hôi đầm đìa.
Ông Hoàn bàn an ủi lấy lòng:
- Vừa nghĩ được một câu xin các vị trong tiệc cùng đối: 'Vương tử thân biên vô
hữu nhất điểm bất tự ngọc'.
Chưa ai kịp nghĩ thì Lục Vân đã đọc ngay. 'Mẫn ông đầu thượng tái trước bán tịch
tức thành quy' .
Phương Vân cười sặc lên véo vào sườn em ba bốn cái, Lục Vân giẫy ra bỏ chạy,
quay lại bảo:
- Việc gì đến chị? Chị mắng anh ấy bao nhiêu thì không cho là trái; người ta
nói hộ một câu không được phép à?
Ông Hoàn quát lên, cô bé mới cười rồi đi.
Các ông già láng giềng cũng cáo từ.
Ðám thị nữ dẫn đôi vợ chồng vào phòng ngủ, trong đó đèn nến giường màn đã sắp đặt
tinh khôi, đầy đủ.
Vương nhìn phòng tân hôn, thấy sách đầy giá, không thiếu một loại nào, hỏi qua
những chỗ khó, Phương Vân đều trả lời được trôi chảy, tường tận. Bấy giờ Vương
mới thấy hết nỗi xấu hổ của kẻ đứng trước biển khơi.
Vợ chàng gọi 'Minh Ðang!' thì cô gái hái sen ban chiều chạy đến, nhờ vậy Vương
mới biết tên nàng.
Sau nhiều lần bị chế giễu nhục nhã, Vương sợ chốn khuê phòng cũng không được
coi trọng. May sao Phương Vân tuy nói năng xấc xược nhưng trong chốn phòng the,
tình vợ chồng rất đằm thắm.
Vương ở yên vô sự, bàn ngâm nga.
Vợ bảo:
- Thiếp có lời hay muốn nói, chẳng biết chàng có chịu lắng tai không?
Hỏi điều gì, thì bảo:
- Từ nay chàng đừng làm thơ nữa! Ðó cũng là một cách để che giấu cái vụng của
mình vậy.
Vương lấy làm thẹn, bỏ hẳn chuyện bút mực. Lâu dần càng quấn quít với Minh
Ðang, bèn nói với Phương Vân.
- Minh Ðang đối với tiểu sinh, có cái ơn cứu mạng, mong ít khi phải cau mặt, nặng
lời với nàng.
Phương Vân bằng lòng. Thường mỗi khi vợ chồng vui chơi trong phòng, cũng cho
nàng cùng dự.
Hai bên vì thế càng say nhau, thường liếc mắt, đưa tay thay lời.
Phương Vân thoáng biết, trách móc nhiều lần, Vương chỉ liến láu cãi ngượng cho
qua chuyện.
Một đêm hai vợ chồng đối ẩm, Vương kêu vắng vẻ, khuyên vợ gọi Minh Ðang.
Phương Vân không nghe, Vương bảo vợ:
- Sách gì nàng cũng đọc, sao chẳng nhớ mấy chữ 'độc lạc nhạc' nhỉ?
Phương Vân nói:
- Thiếp nói chàng bất thông, nay càng nghiệm. Cách chấm câu còn chưa biết hay
sao? 'Riêng mình thì lấy người làm lạc thú, nhưng nói đến lạc thú, hỏi có ai
không, lại đáp rằng không'.
Chàng bật cười đành bỏ ý định .
Gặp buổi hai chị em Phương Vân y hẹn sang chơi nhà cô bạn hàng xóm. Vương được
dịp liền dẫn ngay Minh Ðang vào, ái ân hết mực.
Ðến tối chàng thấy đau ở bụng dưới, hết đau thì dương vật sưng lên. Vương sợ
quá nói với vợ.
Vân cười đáp:
- Chắc hẳn đã báo cái ơn của Minh Ðang rồi?
Vương không dám dấu, cung khai hết. Phương Vân bảo:
- Tự gây ra hoạ, thực không còn cách nào. Nếu không đau đớn, ngứa ngáy thì kệ
thế cũng được.
Mấy ngày sau không khỏi, Vương lo lắng kém vui. Phương Vân biết nhưng không hỏi
han gì, chỉ đăm đăm nhìn chồng, đôi mắt như hồ thu đầy đặn, sáng tựa sao mai.
Vương nói :
- Nàng có thể gọi là người 'trong lòng ngay thẳng nên tròng mắt sáng'.
Phương Vân cười:
- Còn chàng, có thể gọi là người 'trong lòng không ngay thẳng nên tròng mất
sáng'.
Bởi hai chữ 'mất', dân gian cũng đọc gần như chữ 'Mắt' nên nàng đem chữ đó ra để
đùa chồng.
Vương bật cười, van nài xin chữa cho. Nàng nói:
- Chàng không nghe lời nói phải, trước đây vị tất không nghĩ là em ghen, đâu biết
rằng con hầu đó vốn không thể gần gũi được. Lúc trước thực rất yêu chàng, nhưng
chàng chỉ như gió xuân thổi qua tai ngựa nên em ghét mà bỏ mặc. Nếu không đã chữa
cho rồi. Nhưng thầy lang phải xem kỹ chỗ đau đã!
Bàn sờ tay vào trong áo rồi đọc chú rằng:
- Chim vàng, chim vàng, chớ đậu cành gai.
Vương bất giác cười rộ, cười xong thì bệnh khỏi.
Mấy tháng sau Vương vì cớ cha già con dại thường nhớ nhà không nguôi. Chàng đem
tâm sự nói với vợ. Nàng nói:
- Về nhà thì không khó, chỉ không có ngày sum họp nữa thôi.
Vương nước mắt lã chã, xin nàng về cùng. Phương Vân nghĩ ngợi hồi lâu mới bằng
lòng.
Ông Hoàn bày tiệc tiễn đưa, Lục Vân xách làn vào nói:
- Chị sắp ra đi, chẳng có gì tặng chị. Chỉ sợ khi đến Hải Nam không có nhà mà ở
nên đêm qua đã làm hộ chị lầu gác, xin đừng chê bai là sơ sài.
Phương Vân cảm ơn em rồi nhận lấy. Ðến gần xem thì thấy dùng loại cỏ nhỏ kết thành
lầu gác, toà lớn thì như quả thanh yên, toà nhỏ thì như quả quất, tất cả chừng
hơn hai chục toà. Trong mỗi toà kèo cột rui mà đều phân minh đầy đủ; lại có giường
phản ràm tường, mỗi thứ chỉ to bằng hạt vừng.
Vương xem như đồ chơi con trẻ, lòng thầm khen cô em vợ khéo tay.
Phương Vân nói:
- Nói thật với chàng, bọn em là tiên dưới đất, vì có túc duyên nên được theo
bên chàng. Em vốn không muốn đặt chân tới cõi trần, nhưng chỉ vì chàng còn cha
già, không nỡ trái lời. Ðợi khi cha đủ tuổi trời, chúng ta nên trở lại đây.
Phương xin vâng, ông Hoàn hỏi:
- Muốn đi thuyền hay đi xe?
Phương sợ sóng gió nguy hiểm xin đi đường bộ. Ra đến cửa thì ngựa xe đã chờ sẵn,
vợ chồng từ biệt lên đường. Ngựa phi nhanh vun vút, chỉ thoáng chốc đã đến bờ
biển, Vương trong lòng lo không có đường đi.
Phương Vân đem ra một tấm lụa trắng ném về phương Nam, lập tức hoá thành con đê
dài, mặt đê rộng vừa một trượng, trong nháy mắt xe ruổi qua, đê cũng thu lại dần.
Ðến một nơi, nước triều tràn qua, bốn phía mênh mông, Phương Vân bảo dừng lại.
Nàng xuống xe lấy những đồ bằng cỏ ra, rồi cùng với bọn Minh Ðang mấy người sắp
xắp bày đặt đúng theo phép tắc, chỉ trong nháy mắt đã hoá thành ngôi nhà lớn.
Vợ chồng cùng vào, cởi bỏ hành lý, thì toà nhà không khác chút nào với nơi đã sống
trên đảo, giường ghế đều y nguyên như phòng tân hôn lúc trước.
Trời đã xẩm tối, nhân nghỉ lại qua đêm. Sáng hôm sau, Phương Vân bảo Vương còn
về đón cha mẹ. Vương sai đóng ngựa ruổi về làng cũ.
Ðến nơi thì nhà cửa đã thuộc về nhà họ khác. Hỏi người làng mới biết mẹ và vợ
đã chết, chỉ còn cha già. Con trai đam mê cờ bạc, ruộng vườn gia sản hết sạch,
ông cháu không thể có chỗ trú chân, hiện nay tạm ở căn nhà thuê bên thôn Ðoài .
Vương lúc mới trở về, nghĩ về công danh vẫn còn vương vấn, kịp khi nghe tin nhà
như vậy, âu sầu buồn bã, tự nghĩ giàu sang nếu có được thì so với những ảo ảnh
trong khi hoa mắt nào có khác gì.
Chàng quất ngựa sang thôn Ðoài, thấy cha quần áo rách rưới, già sọm, thật đáng
thương. Cha con gặp nhau khóc lạc cả tiếng; hỏi đến đứa con bất hiếu, còn đi
đánh bạc chưa về.
Vương bèn chở cha quay về. Phương Vân lạy chào xong, nấu nước mời bố chồng tắm,
đưa quần áo gấm cho ông thay, để ông nghỉ ngơi trong ngôi nhà thơm ngát. Sau đó
nàng sai mời các ông bạn già cũ tới cùng cha trò chuyện, phụng dưỡng hơn cả các
nhà thế tộc.
Một hôm con trai Vương tìm đến, chàng dứt tình không cho gặp, chỉ cho hai chục
đồng vàng và sai người dặn: 'cầm lấy mà mua vợ, rồi lo làm ăn. Nếu còn đến nữa
sẽ đánh chết tươi'. Con trai khóc mà đi .
Vương từ khi trở về không hay tiếp khách, nhưng nếu bạn bà cũ tình cờ đến thăm
thì đón tiếp lưu luyến, khiêm nhường, khác hẳn thuở trước. Riêng có Hoàng Tử Giới
bạn đồng môn thuở trước cũng là một bậc anh tài lận đận, được Vương lưu lại rất
lâu, thường kể cho nghe nhiều chuyện kín và biếu tặng rất hậu.
Ðược ba bốn năm Vương ông mất, Vương bỏ vạn bạc chọn đất chôn, làm ma theo đúng
lễ.
Bấy giờ con trai Vương đã lấy vợ; con dâu quản chồng rất nghiêm, nhờ thế con
cũng đỡ cờ bạc.
Ngày vào đám, nàng dâu mới đến chào bố mẹ chồng.
Phương Vân thoạt gặp con dâu đã thấy người giỏi việc nhà, bèn cho vợ chồng ba
trăm đồng vàng để mua sắm điền sản.
Hôm sau chàng Hoàng cùng con Vương đến thăm thì lâu đài nhà cửa đã không thấy nữa,
chẳng biết ở đâu.
Cô Gái Áo Xanh
Trần Thị Băng Thanh dịch
Chàng họ Vu tên Cảnh, tự là Tiểu Tống, người Ích Ðô, ở nhờ
chùa Lễ Tuyển để học. Ban đêm Cảnh đang giở sách ra đọc, bỗng một cô gái đứng
ngoài song cửa khen:
- Vu tướng công chăm học làm sao!
Vu tự nghĩ ở chốn núi sâu làm gì có con gái. Còn đang nghi ngại, cô gái kia đã
đẩy cửa bước vào cười bảo:
- Chăm học làm sao!
Vu sửng sốt đứng dậy, nhìn xem thì thấy một nàng áo xanh, váy dài, mềm mại xinh
xắn không ai sánh được. Vu biết không phải là người, cố vặn hỏi quê quán, nàng
đáp:
- Chàng nhìn thiếp chẳng phải là kẻ cắn nuốt người, việc gì phải hỏi đến cùng
cho mệt!
Vu lòng thấy mến, bèn ngủ chung. Cởi đến chiếc áo lót bằng lụa thì eo lưng nàng
nhỏ chưa đầy hai chủt tay. Ðêm gần tàn, nàng đã nhẹ nhàng ra đi. Từ đó không
đêm nào không tới. Một đêm cùng uống rượu, trong lúc chuyện trò cô gái tỏ ra rất
sành âm luật. Vu nói:
- Giọng nàng nhỏ mượt, nếu ca một khúc ắt khiến người nghe tiêu hồn!
Cô gái cười:
- Chẳng dám ca, sợ tiêu mất hồn chàng mà thôi!
Vu cố nài, nàng nói:
- Thiắp chẳng tiếc sén gì đâu, chỉ sợ người khác nghe được. Nếu chàng đã thích
thì xin dâng chút tài mọn, nhưng chỉ hát nhỏ để tỏ thôạ nhé!
Nói rồi gót sen nhà nhẹ gõ nhịp vào chân giường mà hát rằng:
Cành cữu tiếng chim kêu,
Giữa đêm em chạy tản,
Chẳng hờn ướt giày thêu,
Chỉ sợ chàng không bạn.
Tiếng hát khẽ như tiếng nhặng, nghe kỹ mới nhận biết được. Nhưng lắng nghe thì
giọng hát uyển chuyển trơn ấm, tai nghe mà lòng rung động. Cô gái hát xong, mở
cửa nhòm ra, bảo:
- Ðề phòng ngoài song có người.
Lại đi vòng quanh nhà xem xét rồi mới trở vào. Chàng hỏi:
- Sao nàng lại lo ngờ quá thế ?
Cười đáp:
- Ngạn ngữ có câu: Ma sống trộm thường sợ người , thân phận thiếp là thế đấy!
Lát sau đi ngủ, buồn bã không vui, nói:
- Chút phận bình sinh có lẽ chấm dứt ở đây chăng?
Vu vội hỏi han, cô gái nói:
- Thiếp thấy lòng hồi hộp quá, lộc của thiếp e hết rồi.
Vu an ủi:
- Hồi hộp trong lòng hay máy mắt là chuyện bình thường, sao vội nói thế ?
Cô gái hơi yên lòng bèn cùng nhau ân ái. Ðêm tàn, nàng khoác áo bước xuống giường.
Ðang định mở cửa thì cứ bồn chồn vào ra, nói:
- Không hiểu sao lòng thiếp tự nhiên thảng thốt khiếp sợ, xin tiễn thiếp ra khỏi
cửa.
Vu trở dậy, đưa nàng ra tận ngoài cửa. Nàng dặn:
- Chàng đứng đây trông cho thiếp. Thiếp vượt khỏi tường này rồi hẵng vào.
Vu đáp:
- Ðược rồi.
Trông thấy nàng vừa ngoặt khỏi hành lang đã bặt tăm, không thấy đâu nữa. Vu
đang định quay vào ngủ thì nghe nàng kêu cứu rất gấp. Vu vội chạy đắn nhìn
quanh, không thấy đâu, nhưng tiếng kêu vọng ra từ mái hiên. Ngẩng đầu nhìn kỹ
thì một con nhện to bằng viên đạn đang chộp bắt một sinh vật nhỏ; tiếng kêu vo
ve đau đớn. Vu phá mạng nhện, khều xuống, gỡ bỏ những sợi tơ nhện chằng trói,
thì ra là một con ong xanh thoi thóp sắp chết. Mang về phòng, đặt ở đầu bàn.
Con ong hồi tỉnh, một lúc mới bò được; nó thong thả leo lên nghiên, nhúng chân
vào mực rồi leo ra đậu trên tràng kỷ, bò thành chữ "tạ" rồi chớp cánh
mấy lần mới xuyên qua cửa sổ mà bay đi, từ đó không trở lại nữa.
Thanh Mai
Ðỗ Ngọc Toại dịch
Thư sinh họ Trình ở Bạch Hạ là người lỗi lạc, không câu thúc.
Một hôm, ở ngoài về, cởi thắt lưng, thấy đầu dây nằng nặng như có vật gì bám
vào. Nhìn xuống không thấy gì. Ngoảnh đi ngoảnh lại có người con gái từ sau áo
hiện ra, vén tóc mỉm cười, xinh đẹp tuyệt trần. Trình ngờ là ma. Cô gái nói:
- Thiếp không phải là ma, mà là hồ đây.
Trình nói:
- Ðã là giai nhân thì ma cũng không sợ, huống chi là hồ.
Bèn cùng nhau giao hoan. Hai năm sau, nàng sinh được đứa con gái, đặt tên là
Thanh Mai.
Nàng thường khuyên Trình:
- Ðừng lấy vợ, tôi sẽ sinh con trai cho anh.
Trình tin lời bèn không lấy ai nữa.
Họ hàng bạn hữu đều chê cười, Trình xiêu lòng, lại lấy người con gái họ Vương ở
Hồ Ðông.
Hồ nghe tin, tức giận, đến cho con gái bú rồi giao cho Trình nói:
- Ðây là món hàng phải bù tiền của anh, để nó sống hay giết nó đi đều tuỳ anh,
tôi việc gì đi làm vú nuôi cho người?
Ðoạn ra cửa đi thẳng.
Khi Thanh Mai lớn lên thông minh, linh lợi, mà vẻ người thanh tú y hệt như mẹ.
Ðược ít lâu, Trình bị bệnh chết, Vương thị cũng tái giá, gửi nuôi Thanh Mai ở
người chú họ. Chú phóng đãng vô hạnh, định đem bán để kiếm lợi. Gặp có ông tiến
sĩ họ Vương, còn ở nhà chờ bổ, nghe tiếng nàng thông minh, liền bỏ ra một món
tiền lớn mua về để hầu hạ con gái là A Hỷ.
Hỷ vừa mười bốn, dung nhan tuyệt thế, thấy Thanh Mai vừa lòng lắm, cho ngủ
chung một giường.
Thanh Mai cũng khéo léo hầu hạ, thường đón biết chủ, nên cả nhà đều yêu thương.
Trong vùng có chàng thư sinh họ Trương, tên là Giới Thụ, nhà nghèo xác, không
có chút sản nghiệp, phải ở thuê căn nhà của ông Vương. Nhưng chàng nết na, hiếu
thuận, không cẩu thả, lại chăm học.
Một hôm, Thanh Mai tình cờ sang nhà, thấy chàng ngồi trên một hòn đá ăn cháo tấm,
vào nhà trong nói chuyện với mẹ chàng thì thấy trên bàn có cái dò lợn. Lúc ấy
người cha đang ốm, chàng vào nâng cha dậy đi tiểu, nước tiểu dây bẩn ra áo
chàng. Sợ ông cụ thấy sẽ ân hận, chàng vội giấu vết bẩn, tự ra ngoài giặt giũ.
Mai thấy thế lạ lắm, về kể chuyện đó rồi nói với cô chủ:
- Người khách thuê nhà của nhà ta không phải là người tầm thường, nương tử
không muốn lấy người chồng xứng đáng thì thôi, còn muốn lấy được người xứng
đáng thì chàng Trương chính là người ấy.
Cô gái sợ cha mẹ chê chàng nghèo, Mai nói:
- Không phải, việc này là do ở nương tử, nếu thấy được, em sẽ bảo riêng với cậu
ấy để nhờ người làm mối. Phu nhân tất gọi nương tử đến bàn, bấy giờ nương tử chỉ
vâng một tiếng là tốt đẹp thôi.
Cô gái lại sợ sau này nghào mãi, sẽ bị người ta chê cười. Mai nói:
- Em cam đoan là biết xem tướng kẻ sĩ trong thiên hạ, nhất định không nhầm.
Hôm sau, sang nhà nói chuyện với mẹ Trương.
Bà cụ hoảng hốt, cho lời cô gái là triệu chẳng lành. Mai bảo:
- Tiểu thư nghe nói đến công tử nhà, khen công tử là người có đức, cháu đã nhòm
biết tứ như vậy, nên mới nói. Người mối đến, hai chúng tôi sẽ giúp thêm thì việc
có thể xong. Bằng không được thì đối với công tử cũng có gì là nhục đâu?
Bà cụ nói : Ðược.
Bèn nhờ bà bán hoa, họ Hầu đến hỏi. Phu nhân nghe xong, buồn cười, nói lại với
Vương. Vương cũng cười to. Gọi con gái đến, kể lại Hầu nhị. Cô gái chưa kịp trả
lời, Thanh Mai đã hết sức tán tụng chàng là người hiền đức, quyết phải quý hiển.
Vương phu nhân lại hỏi rằng:
- Ðây là việc trăm năm của mày, nếu có thể ăn cơm hẩm gạo lức được thì ta cũng
bằng lòng cho.
Cô gái cúi đầu một lúc lâu, ngoảnh mặt vào vách nói:
- Giàu nghèo là số, nếu số tốt thì có nghèo cũng chẳng lâu, mà lâu dài sẽ không
còn nghèo. Còn như số đã xấu thì tuy gấm vóc vương tôn mà có phải ít người
không thước đất cắm dùi đâu? Việc này xin tuỳ thầy mẹ.
Lúc đầu Vương bàn với con gái cũng chỉ là muốn mua một trận cười, đến khi nghe
thấy con nói vậy thì bụng không vui, nói:
- Mày muốn lấy gã họ Trương ư?
Cô gái không đáp. Lại hỏi, vẫn không đáp. Giận nói:
- Con này cốt cách bần tiện, chẳng muốn khá, định xách bị làm vợ thằng ăn mày,
không biết xấu chết quách đi!
Cô gái đỏ mặt, uất giận, cố cầm nước mắt bước ra, bà mối cũng trốn mất.
Thanh Mai thấy việc không xong, muốn tự làm mối cho mình. Mấy hôm sau đang đêm
đến nhà Trương. Chàng đang đọc sách, giật mình hỏi đến làm gì thì lời lẽ thổ lộ
có phần úp mở. Chàng liền nghiêm nét mặt mà từ khước.
Mai khóc nói:
- Thiếp là con nhà tử tế, không phải là gái dâm bôn, chỉ vì thấy chàng là người
hiền đức nên muốn đem thân để nương tựa.
Chàng nói:
- Nàng yêu tôi, bảo tôi là người hiền đức, mà việc đêm hôm ám muội, kẻ tự trọng
cũng không làm nữa là người hiền đức ư. Trước lăng nhăng mà sau thành vợ chồng,
người quân tử cũng cho là không nên, nữa là việc không thể thành được thì sau
này hai bên đối xử với nhau thế nào?
Mai nói:
- Nếu vạn nhất mà thành được, thì có ra ơn cưu mang được không?
Chàng nói:
- Ðược người như nàng, lại còn mong gì hơn nữa. Nhưng có ba điều không thể, và
không biết làm thế nào, nên không dám khinh dị mà nhận lời.
Mai hỏi:
- Là những gì?
Ðáp:
- Nàng không có khả năng tự chủ, nên không thể, thì biết làm thế nào? Dù có tự
chủ mà thầy mẹ tôi không bằng lòng thì cũng không thể, vậy biết làm thế nào? Dù
thầy mẹ tôi bằng lòng mà thân nàng cao giá, tôi nghèo không sao chuộc được, thì
lại càng không thể, và biết làm thế nào? Thôi nàng về ngay cho, cái hiềm gốc mận
ruộng dưa thật đáng sợ.
Mai sắp đi, lại dặn rằng:
- Nếu chàng có lòng thì xin cùng nhau lo toan.
Chàng nhận lời. Mai về, cô chủ hỏi đi đâu, bàn quỳ mà tự thú. Cô gái giận là
dâm bôn, toan đánh. Mai khóc, biện bạch rằng không có điều gì khác, nhân mới kể
thực tình. Cô gái thở dài nói:
- Không đi lại cẩu thả, thế là người có lễ; hỏi cha mẹ, thế là người có hiếu;
không khinh dị mà nhận lời, thế là người có tín. Có ba đức tốt ấy, trời tất sẽ
giúp. Người đó không lo nghèo đâu.
Ðoạn lại nói:
- Mày định thế nào?
Thanh Mai đáp:
- Làm vợ anh ấy.
Cô gái cười nói:
- Con ngây, mày tự chủ được ư?
Mai nói:
- Không được thì chỉ còn chết thôi.
Cô gái nói:
- Ta sẽ làm cho mày được như nguyện.
Mai cúi đầu mà vái. Lại vài hôm sau, nói với cô gái rằng:
- Hôm nọ cô nói là đùa chăng? Hay quả có lòng thương em thực? Nếu quả là thương
thì còn việc nhỏ này nữa, xin rủ lòng thương cho trọn.
Cô gái hỏi việc gì. Ðáp:
- Chàng Trương không có tiền cưới mà tì này cũng không lấy gì để tự chuộc mình
ra được. Nếu ông bà đòi nhiều tiền thì có gả em cũng như không gả thôi.
Cô gái trầm ngâm rồi nói:
- Việc này thì sức ta không làm nổi. Ta cho mày đi lấy chồng sợ còn chưa được,
huống chi là bảo không đòi tiền chuộc, thì tất ông bà không nghe, mà ta cũng
không dám nói đâu.
Thanh Mai nghe nói thế, nước mắt ròng ròng, chỉ xin nàng thương mà cứu vớt. Cô
gái nghĩ lúc lâu, nói:
- Thôi thì ta còn để dành được một ít vàng, sẽ dốc túi ra giúp mày vậy.
Mai vái tạ, nhân lẻn sang bảo với Trương. Mẹ Trương mừng lắm, cố vay mượn khắp
nơi, cộng được số tiền kha khá, cất đi đợi tin mừng.
Vừa gặp lúc Vương được bổ làm quan tạ ở Khúc ốc, Hỷ thừa dịp nói với mẹ:
- Thanh Mai tuổi đã lớn, nay nhà ta sắp chuyện đến nơi thầy trị nhậm, chi bằng
cho nó ra.
Phu nhân vốn thấy Thanh Mai khôn ngoan quá, sợ lại dẫn con gái vào đường bất
nghĩa, cũng định đem gả đi mà sợ con gái không vui. Nay nghe con nói, mừng quá.
Hai hôm sau, có bà mối đến tỏ bày định của Trương Thị. Vương cười nói:
- Nhà đó thì xứng đôi với thị tỳ nhà ta rồi; trước kia sao lại càn rỡ thế.
Nhưng nếu bán nó làm tỳ thiếp ở cửa nhà quan thì được giá gấp đôi hồi mua đấy.
Cô gái vội bước lên nói:
- Thanh Mai hầu hạ con đã lâu, nếu đem bán nó làm hầu thiếp, thì thật không nỡ.
Vương bàn truyền cho nhà họ Trương mang tiền trả nguyên số sẽ gả Thanh Mai cho
chàng.
Khi đã về nhà chồng, nàng hầu hạ cha mẹ chồng rất hiếu, chiều chuộng còn hơn cả
con trai chiều bố mẹ, làm lụng rất siêng năng, ăn rau cám không lấy làm khổ. Vì
thế cả nhà ai cũng yêu kính Thanh Mai. Mai lại làm thêm nghề thêu thùa, bán chạy
lắm người mua đợi ở cửa chỉ sợ không mua được. Ðược thêm món tiền, nhà cũng đỡ
túng. Nàng lại thường khuyên chàng chớ lo việc nhà mà lỡ việc học, nhà cửa cứ
phó mặc cho nàng. Nhân ông chủ đi nhậm chức, nàng sang tiễn A Hỷ, Hỷ trông thấy
khóc mà nói:
- Em được toại nguyện rồi, ta cũng không bằng.
Mai đáp:
- Ðược thế này là ai cho em mà dám quên, nhưng cô đừng bảo là không bằng con hầu,
e lại giảm tuổi thọ của con hầu đi đấy.
Bèn khóc mà biệt nhau.
Vương đến đất Tấn được nửa năm thì phu nhân chết, quan tài quàn ở trong chùa. Lại
hai năm sau, Vương vì tham tang bị cách chức, phải bồi thường hàng vạn, dần dần
nghèo túng, không đủ ăn, đầy tớ cũng bỏ đi. Bấy giờ bệnh đậu lan rộng, Vương mắc
bệnh rồi chết, chỉ còn một vú già ở với cô con gái; chẳng bao lâu vú già cũng
chết nốt. Nàng càng lênh đênh cơ khổ. Có bà cụ hàng xóm khuyên đi lấy chồng,
nàng nói:
- Ai chôn cất được cha mẹ tôi, tôi sẽ xin theo.
Bà cụ thương tình tặng cho mấy đấu gạo rồi đi. Nửa tháng sau lại đến nói:
- Tôi đã hết sức giúp nương tử, nhưng việc này khó quá! Người nghèo thì không
sao chôn cất được, mà kẻ giàu thì chê cô là con gái của một gia đình sa sút, biết
làm thế nào. Có một cách này, chỉ sợ nương tử không theo được thôi.
Nàng hỏi:
- Cách gì?
Nói rằng:
- Ở gần đây có một chàng họ Lý, muốn lấy vợ lẽ; nếu được trông thấy dung nhan
thì dầu có bảo tống táng thật linh đình, hền cũng chịu cáng đáng mà không tiếc.
Nàng khóc oà lên, nói:
- Thiếp là con nhà quan, mà phải đi làm lẽ người ta ư?
Bà cụ không nói gì, bỏ đi. Sau đấy, mỗi ngày chỉ được một bữa, gắng sống để chờ
xem có ai hỏi không, nhưng ở được nửa năm thì không chịu được nữa. Một hôm bà cụ
đến, nàng khóc lóc nói:
- Khốn đốn thế này, vẫn chỉ muốn chết, còn dùng dắng sống tạm bợ đây là vì hai
cỗ quan tài còn đó. Nếu đã đâm đầu xuống ngòi xuống rãnh rồi thì ai thu nhặt nắm
xương cho cha mẹ? Cho nên nghĩ lại chẳng bằng nghe lời bà vậy.
Bà cụ dẫn Lý đến. Thoáng trông thấy nàng, anh ta thích lắm, tức thì bỏ tiền ra
lo việc tống táng, cả hai cỗ quan tài cũng đưa đi, xong rồi mới đón nàng về.
Vào nhà chào vợ cả, vợ cả vốn hung hãn, lại cả ghen, lúc đầu Lý cũng chưa dám
nói là thiếp, chỉ nói thác là mua tỳ. Ðến khi thấy nàng thì nổi giận đùng đùng,
liền vác gậy đuổi thẳng không cho vào nhà. Nàng rũ tóc, nước mắt giàn giụa,
không biết tiến thoái đằng nào. Có một ni sư già đi qua, rủ về cùng ở.
Nàng mừng bèn theo về.
Ðến am, nàng vái xin làm lễ cắt tóc, bà sư không cho nói:
- Tôi trông nương tử không phải chịu đày đoạ lâu trong cảnh phong trần. Am đây
dưa muối gạo lức, kham khổ cũng đủ no, hẵng cứ tạm ở để đợi thời, thời đến
nương tử khắc sẽ đi!
Ở được ít lâu, bọn vô lại trong chợ dòm thấy nàng đẹp, cứ đến đập cửa, buông lời
trêu ghẹo làm vui. Bà sư không ngăn được. Nàng kêu khóc toan tự tử. Bà sư đến cầu
xin ông nọ ở bộ Lại yết thị nghiêm cấm, lũ thiếu niên ác nghịch kia mới hơi né
tránh. Sau đang đêm có kẻ đào tường vào nhà chùa, bà sư kêu lên bộ, bắt được đứa
cầm đầu, đưa về quận phạt đòn, mới dần dần được yên.
Lại được hơn một năm, có một công tử thế gia đi qua am thấy nàng, kinh ngạc lắm,
ép bà sư dỗ dành nàng, lại đem nhiều tiền đến đút lót cho bà sư. Bà sư mềm mỏng
nói rằng:
- Người ấy con nhà trâm anh, không chịu làm lẽ, công tử cứ về đi, rồi thong thả
xin bẩm lại.
Lúc y đi rồi, nàng toan uống thuốc độc tự tử, bỗng đêm nằm mộng thấy cha đến, mặt
mày đau khổ, nói rằng: Ta không theo con, để con đến nỗi này, ăn năn thì đã muộn
rồi, nhưng con hãy khoan, đừng chết vội, ước nguyện của con còn có thể đạt được.
Nàng lấy làm lạ. Trời sáng, rửa mặt xong, bà sư trông thấy giật mình nói:
- Trông sắc mặt nương tử, trọc khí đã tiêu hết, tai ương không đáng lo nữa.
Phúc sẽ lại đến, đừng quên thân già này nhé.
Nói chưa dứt lời, nghe có tiếng gõ cửa, nàng sợ thất sắc, nghĩ bụng tất là đầy
tớ nhà công tử nọ. Bà sư mở cửa, quả thế thực. Bọn đầy tớ xúm lại hỏi việc mưu
tính thế nào. Bà sư ngọt ngào đon đả, xin hoãn ba ngày nữa. Chúng thuật lại lời
chủ:
- Nếu việc không xong, bắt bà nói thế vào.
Bà sư vâng dạ chúng mới đi. Cô gái đau đớn lắm, lại muốn tự tử, bà sư ngăn lại.
Nàng lo rằng ba ngày nữa chúng trở lại sẽ không biết nói thế nào. Bà sư nói:
- Còn thân già này đây, chém giết tôi xin chịu.
Hôm sau, trời vừa trưa thì mưa như trút nước. Bỗng nghe có mấy người đập cổng,
réo gọi ồn ào; nàng tưởng lại có biến, khiếp sợ không biết làm thế nào. Bà sư đội
mưa ra mở cổng, thấy chiếc kiệu đỗ lại, một đám thị tỳ đỡ một người đẹp bước
ra, kẻ hầu người hạ thầy tớ oai vệ, mũ lọng rất lộng lẫy. Kinh ngạc hỏi thăm;
đáp rằng:
- Ðây là bà nội tướng quan tư lý tạm vào tránh mưa.
Bà dẫn vào trong điện, chuyển sập mời ngồi; bọn người nhà thị tỳ chạy vào các
phòng trai tìm chỗ nghỉ. Vào trong buồng thấy nàng, cho là đẹp, liền chạy ra bẩm
với phu nhân.
Một lúc mưa tạnh phu nhân đứng lên xin đi thăm thiền xá trong am. Bà sư bèn đưa
vào. Trông thấy cô gái kinh ngạc quá, cứ nhìn chằm chằm, không chớp mắt, nàng
cũng nhìn lại rất lâu. Thì ra phu nhân không phải là ai khác, chính là Thanh
Mai. Hai người đều khóc nức nở, nhân mới cùng kể lại sau xưa. Mới biết Trương
ông đã ốm mà mất. Chàng Trương sau khi hết tang, đỗ liền thi hương, thi hội, được
bổ làm quan tư lý. Chàng rước mẹ cùng đi, sau lại dời cả gia quyến đến.
Cô gái than thở nói:
- Hôm nay trông nhau mà sao như một trời một vực!
Mai cười, đáp:
- Cũng may nương tử gặp bước gian truân, chưa lấy ai, chính là trời muốn cho
chúng ta sum họp đấy thôi. Nếu không bị mưa cản thì làm gì có cuộc gặp gỡ bất
ngờ này? Trong việc này có quỷ thần chứ không phải sức người làm được.
Liền lấy mũ ngọc, áo gấm, giục cô gái thay. Nàng cúi đầu bỡ ngỡ. Bà sư cũng
khuyên thêm. Nàng sợ cùng ở chung thì danh không được thuận. Mai nói:
- Danh phận đã có từ trước, thiếp đâu dám quên đức lớn, vả nghĩ chàng Trương
đâu phải là người phụ nghĩa? ép thay quần áo rồi từ biệt sư bà mà đi.
Về đến nơi, mẹ con đều mừng. Nàng sụp xuống lạy nói:
- Ngày nay không còn mặt nào dám trông thấy mẹ!
Mẹ cười khuyên giải; nhân mới bàn chọn ngày làm lễ hợp cẩn. Cô gái nói:
- Nếu trong am mà còn đường sống, dù chỉ bằng sợi tơ, thì cũng không theo phu
nhân đến đây; ví như còn nghĩ đến tình cũ, thì xin cất cho một túp lều để đặt tấm
bồ đoàn niệm Phật, thế là đủ rồi.
Mai cười mà không nói gì. Ðến ngày, ôm các thứ trang sức lộng lẫy, nàng loay
hoay không biết là thế nào. Giây lát bỗng nghe tiếng nhạc nổi lên, nàng càng
không tự chủ được. Mai sai thị tỳ, u già ép nàng mặc áo rồi xốc tay đỡ đưa ra.
Thấy chàng mũ áo đứng vái, nàng bất giác cũng ngơ ngẩn vái theo. Lễ xong, Mai
kéo nàng vào động phòng, bảo rằng:
- Ngôi vị này bỏ trống, đợi chị đã lâu rồi.
Rồi lại ngoảnh vào chàng nói đùa:
- Ðêm nay được dịp đền ơn, phải làm cho tròn nhé.
Quay ra toan đi. Cô gái nắm lấy quần. Mai cười nói:
- Ðừng giữ em lại, việc này không thể làm thay nhau được.
Rồi gỡ tay thoát ra.
Thanh Mai đối xử với cô gái rất kính cẩn, không dám giành riêng phần ân ái. Mà
cô gái vẫn thẹn thùng không yên tâm. Vì vậy, bà mẹ bắt gọi cùng nhau là phu
nhân, nhưng Thanh Mai rốt cục vẫn giữ lễ tỳ thiếp, không dám lơ là.
Ba năm sau, Trương được triệu vào kinh đô, đi qua am cũ của bà sư, đem năm trăm
lạng vàng để tạ ơn sư bà; bà sư không nhận, cố ép mới nhận hai trăm lạng để dựng
đền đại sĩ và lập bia cho Vương phu nhân. Sau Trương đến làm thị lang. Trình
phu nhân sinh được hai trai, một gái. Vương phu nhân sinh được bốn trai, một
gái. Trương dâng thư trần tình, hai người đều được phong làm phu nhân.
Thạch Thanh Hư
Trần Văn Từ, Nguyễn Chí Viễn dịch
Hinh Vân Phi, người Thuận Thiên, thích đá, thấy đá đẹp, không
tiếc tiền mua giá cao. Tinh cờ đánh cá ở sông, có vật vướng vào lưới, lặn xuống
lấy thì được một tảng đá bề ngang bảy thước, bốn mặt long lanh, núi non trùng
điệp kỳ tú. Hinh mừng lắm, như bắt được của báu. Trở về lấy gỗ đàn hương tía chạm
thành cái đế bày ở đầu bàn. Mỗi khi trời sắp mưa thì các lỗ đá đùn mây, nhìn xa
như bông đùn kín lỗ hổng.
Có nhà thế hào nọ, đến cửa xin cho xem, đoạn trao ngay cho một đứa đầy tớ khoẻ
mạnh vác lấy, quất ngựa đi mất, Hinh không làm thế nào được, chỉ dậm chân uất ức
mà thôi. Ðứa đầy tớ vác đá đến bờ sông nghỉ vai ở trên cầu, chợt tuột tay, đá
rơi xuống sông. Nhà hào phú giận, lấy roi đánh đầy tớ, rồi bỏ ngay tiền ra,
thuê người lặn giỏi, tìm đủ cách mò lên được, rút cuộc không thấy đâu cả. Từ
đó,người mò đá ngày ngày kéo đến đầy sông, mà chẳng ai thấy được.
Sau đó, Hinh đến chỗ đá rơi, nhìn dòng sông mà than thở thì thấy nước trong suốt
đáy, tảng đá vẫn ở dưới đó. Hinh mừng quá, cởi áo lặn xuống, ôm đá lên. Về nhà
rồi không bày ở nhà sảnh nữa, dọn sạch phòng trong, đặt ở đó.
Một hôm, có một ông cụ gõ cửa xin xem đá. Hinh nói thác rằng đã mất đã lâu. Cụ
cười mà rằng:
- Ở phòng khách không có sao?
Hinh bèn mời vào phòng khách, để chứng tỏ là không có thực. Vào đến nơi thì rõ
ràng tảng đá này ở trên kỳ, ngạc nhiên không biết nói sao.
Ông cụ vỗ vào tảng đá nói rằng:
- Ðây là vật cũ của nhà tôi, mất đã lâu, vẫn còn ở đây à? Nay đã thấy xin cho lại.
Hinh quẫn quá, bèn tranh với ông cụ làm chủ tảng đá.
Ông cụ cười mà hỏi:
- Ðá là của nhà ông, lấy gì làm bằng?
Hinh không trả lời ra sao được. Ông cụ nói:
- Tôi thì biết rõ, trước và sau tảng đá có chín mươi hai lỗ, trong lỗ lớn có
năm chữ: Thanh Hư Thiên Thạch Cung .
Hinh xem kỹ, trong lỗ ấy quả có hàng chữ nhỏ như hạt gạo, rán hắt sức nhin mới
có thể thấy được; lại đếm lỗ, đúng như số ông cụ nói; Hinh không trả lời được,
nhưng cũng cố chấp không chịu đưa. Ông cụ cười mà nói rằng:
- Của nhà ai mà ông đòi làm chủ ư?
Chắp tay vái chào đi ra. Hinh tiễn ra đến ngoài cửa, quay vào thì đá đã biến
đâu mất. Hinh vội đuổi theo, thấy ông cụ thủng thỉnh bước đi cũng chưa xa, chạy
tới kéo vạt áo mà van xin. Ông cụ nói:
- Lạ chưa, tảng đá bảy thước, há có thể cầm lấy giấu trong tay áo hay sao?
Hinh biết là thần, cố kéo về nhà, quì xuống van xin. Ông cụ bèn hỏi:
- Ðá đó thực là của nhà ông hay là của nhà tôi?
Hinh đáp:
- Quả là của nhà cụ, chỉ xin cụ dứt tình mà cho tôi.
Ông cụ nói:
- Ðã vậy thì đá vẫn ở đó.
Vào đến phòng trong thì đá vẫn nguyên chỗ cũ. Ông cụ nói:
- Của báu trong thiên hạ nên để cho người biết quý . Ðá này có thể tự chọn lấy
chủ, tôi cũng mừng. Nhưng nó vội xuất hiện, ra mắt hơi sớm, ma kiếp chưa trừ,
tôi thực muốn mang nó đi, đợi ba năm nữa mới đem tặng ông. Nếu muốn giữ nó ngay
thì phải giảm tuổi thọ ba năm, nó mới có thể ở mãi với ông được. Ông có bằng
lòng không?
Hinh đáp:
- Bằng lòng.
Ông cụ bèn lấy hai ngón tay đặt vào một lỗ đá, thấy đá mềm như bùn, theo ngón
tay mà vít kín lại. Lần lượt vít ba lỗ. Ông cụ nói:
- Số lỗ trên đá là tuổi thọ của ông.
Xong rồi từ biệt mà đi. Hinh hết sức giữ lại, ông cụ nhất định từ chối; hỏi họ
tên, cũng không nói, rồi đi ngay.
Ðược hơn một năm, Hinh có việc đi vắng, đêm có kẻ trộm vào buồng, chẳng lấy cái
gì, chỉ lấy tảng đá mà mang đi. Hinh về tiếc tưởng chết, dò hỏi thuê tìm, tuyệt
không ra vết tích. Ðược vài năm, tinh cờ vào chùa Báo Quốc, thấy có người bán
đá, thì ra là vật cũ của minh, bèn nhận lấy. Người bán đá không chịu, nhân đó
vác đá đến cửa quan.
Quan hỏi:
- Lấy gì làm bằng?
Người bán đá nói đúng số lỗ. Hinh hỏi còn gì khác nữa, người bán đá không nói
được. Hinh bèn nói năm chữ trong lỗ, với ba vết ngón tay, lý ngay được tỏ.
Quan toan phạt đánh người bán đá, người ấy khai là mua ở chợ mất hai mươi đồng
vàng, bèn tha.
Hinh lấy được đá về, lấy gấm bọc lại, cất vào trong rương, thỉnh thoảng mới lấy
ra ngắm nghía một lần, đốt trầm trước rồi mới lấy đá ra.
Có ông thượng thư nọ đem một trăm đồng vàng đến mua. Hinh bảo:
- Dẫu là vạn lạng, cũng không đổi .


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét