Ai cũng biết, văn học dùng ngôn từ
làm chất liệu kiến tạo hình tượng. Loại chất liệu này có khả năng đánh thức ở
con người kinh nghiệm về đường nét, màu sắc, hình khối. Nhờ thế, nó có thể tạo
ra những hình tượng giàu tính tạo hình khiến hội họa, điêu khắc lắm khi cũng phải
bất lực. Nhưng từ trong bản chất, hình tượng và lời nói là những phạm trù khác
nhau. Hình tượng là khách thể hữu hình, ngôn từ là chất liệu vô hình, phi vật
thể. Hình tượng mở ra trong không gian, lời nói có tuyến tính, vận động trong
thời gian. Lời nói là sự kết hợp của các đơn vị rời rạc, hình tượng là chỉnh thể
nguyên hợp… Sử dụng ngôn từ làm chất liệu, văn học có thể tổ chức hình tượng
theo hai hướng giống như hai thái cực. Ở cực thứ nhất, hình tượng trở thành một
biểu tượng đầy tính ước lệ; cái được biểu đạt, tức là ngữ nghĩa, có quan hệ hết
sức tự do với cái biểu đạt. Ở cực thứ hai, hình tượng chỉ là một hình ảnh thị
giác, là đối tượng chiêm ngưỡng thuần túy của mắt; cái được biểu đạt, tức là ngữ
nghĩa, hoàn toàn lệ thuộc vào hình ảnh thị giác này. Trong văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa trước năm 1975 ở Việt Nam, hình tượng được mã hóa chủ yếu theo hướng
thứ hai.
Rất dễ nhận ra hình tượng thị giác trong văn học trước 1975,
vì ở đây, hình tượng thường được kiến tạo theo nguyên tắc vẽ tranh, đầy màu sắc
và đường nét. Tố Hữu thấy “Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh” (Trên đường
thiên lí). Ông mời gọi “Anh họa sĩ làng Hồ, lại đây anh mà vẽ” (Bài ca xuân
71). Nguyễn Tuân lại hào hứng vẽ “áp-phích”. Trong Đường lên Tây Bắc, ông viết:
“Bây giờ thì khác quá đi rồi. Cuộc đời có tổ chức, có trật tự, công khai có Đảng
có kế hoạch, cuộc đời mới đang bén rễ đâm chồi mạnh, và nơi đây đang kết tinh
nhiều giống hoa say nồng chưa nở một lần nào trên đồi lũng Thái Mèo. Trong tôi
đang hình thành lên một tấm áp-phích đòi tuyên truyền (1) bằng được cho Tây Bắc
giàu có sáng tươi và hồn hậu”. Vẽ tranh, dựng áp-phích dĩ nhiên phải chuyển nội
dung thẩm mỹ từ trong tư duy ra bên ngoài thành màu sắc, dấu vết, hình bóng…
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận xét rất tinh tế về ngôn ngữ
giàu hình ảnh và màu sắc trong thơ Tố Hữu. Ông phát hiện hình ảnh ngôn từ trong
thơ Tố Hữu thể hiện một thế giới đang bừng sáng, bốc cháy, nóng bỏng. Tố Hữu
thích nói đến “mặt trời chân lí”, “mặt trời lên”, “đỏ như sao Hỏa, sáng sao
Kim”, “chói lọi khối sao băng”, “cả địa cầu thành ngôi sao”, “muôn vạn vì sao dẫn
đường”… Tố Hữu thích dùng những hình ảnh nóng cháy như “ngọn đuốc thiêng
liêng”, “tim ta làm ngọn lửa”… Bởi vậy, thế giới trong thơ Tố Hữu, ngoại trừ những
thế lực hắc ám, tất cả đều phát sáng (2). Nhưng thơ Tố Hữu không phải là ngoại lệ.
Trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trước 1975, liệu có nhà văn, nhà thơ
nào không so sánh “Đảng ta”, “lãnh tụ ta”, “cách mạng ta” với “mặt trời”, “bó
đuốc”, “ngọn lửa”? Cho nên, tôi nghĩ, huy động tối đa sức mạnh của ngôn ngữ
hình ảnh và màu sắc chói sáng nhằm tạo ra một hiện thực thị giác là đặc điểm
chung của cả một thời đại văn học. Chỉ cần đọc Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa
ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972) của Chế Lan
Viên, hoặc Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân, ta đã có thể nhận ra điều đó.
Trong những tác phẩm vừa kể của Chế Lan Viên có sự xuất hiện với tần số rất cao những hình ảnh sáng chói rực rỡ như “mặt trời”, “ánh đuốc”, “ngọn lửa”... Hay trong Sông Đà, Nguyễn Tuân miêu tả thiên nhiên như những kỳ quan. Để miêu tả kì quan, nhà văn sử dụng tầng tầng lớp lớp các kỳ ảnh, kì hình đầy âm thanh, ánh sáng và màu sắc. Hãy xem tấm “áp-phích” được ông vẽ trong Đường lên Tây Bắc: “…Thấy mong muốn có một cuộc thi vẽ tem dán thư (...). Với những phong cảnh bao la một màu lãng mạn xã hội chủ nghĩa, Tây Bắc xứng đáng in hình tem lên nhiều lá thư gửi tới ức triệu cánh tay miền ngược miền xuôi đang hào hứng bước lên đường xây dựng. Trong lòng tấm áp-phích sẽ thu bé lại để in tem, tôi muốn vẽ một con đường hồng hào vắt vẻo trên một cái nền màu lam, một màu lam sâu sắc và chung thủy nó diễn tả đúng cái chất của triền núi Tây Bắc, trên chóp núi hiện lên một cái mũ trắng bông kết bằng cái áng mây yêu đời của thơ ca Thái; phần dưới hình tem là cái khuôn mặt có hạnh phúc nhãn tiền của người đàn bà Tây Bắc cổ điển”. Hoặc xem cái cách Nguyễn Tuân tả con sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện giữa mây trời Tây Bắc đang bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương”, màu nước sông thay đổi theo mùa, khi thì “xanh một màu xanh ngọc bích”, khi thì “lừ lừ chín đỏ”, lúc lại “ánh lên cái màu nắng tháng ba Đường thi”… thì sẽ rõ ngôn ngữ tạo hình lấp lánh đường nét, sắc màu đậm chất điện ảnh và hội họa có vị trí quan trọng như thế nào trong sáng tác của nhà văn này.
Trong những tác phẩm vừa kể của Chế Lan Viên có sự xuất hiện với tần số rất cao những hình ảnh sáng chói rực rỡ như “mặt trời”, “ánh đuốc”, “ngọn lửa”... Hay trong Sông Đà, Nguyễn Tuân miêu tả thiên nhiên như những kỳ quan. Để miêu tả kì quan, nhà văn sử dụng tầng tầng lớp lớp các kỳ ảnh, kì hình đầy âm thanh, ánh sáng và màu sắc. Hãy xem tấm “áp-phích” được ông vẽ trong Đường lên Tây Bắc: “…Thấy mong muốn có một cuộc thi vẽ tem dán thư (...). Với những phong cảnh bao la một màu lãng mạn xã hội chủ nghĩa, Tây Bắc xứng đáng in hình tem lên nhiều lá thư gửi tới ức triệu cánh tay miền ngược miền xuôi đang hào hứng bước lên đường xây dựng. Trong lòng tấm áp-phích sẽ thu bé lại để in tem, tôi muốn vẽ một con đường hồng hào vắt vẻo trên một cái nền màu lam, một màu lam sâu sắc và chung thủy nó diễn tả đúng cái chất của triền núi Tây Bắc, trên chóp núi hiện lên một cái mũ trắng bông kết bằng cái áng mây yêu đời của thơ ca Thái; phần dưới hình tem là cái khuôn mặt có hạnh phúc nhãn tiền của người đàn bà Tây Bắc cổ điển”. Hoặc xem cái cách Nguyễn Tuân tả con sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện giữa mây trời Tây Bắc đang bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương”, màu nước sông thay đổi theo mùa, khi thì “xanh một màu xanh ngọc bích”, khi thì “lừ lừ chín đỏ”, lúc lại “ánh lên cái màu nắng tháng ba Đường thi”… thì sẽ rõ ngôn ngữ tạo hình lấp lánh đường nét, sắc màu đậm chất điện ảnh và hội họa có vị trí quan trọng như thế nào trong sáng tác của nhà văn này.
Cùng với màu sắc là “hình”, “bóng”. Thơ Tố Hữu để lại trong
kí ức độc giả rất nhiều “bóng người”. Bài Bà má Hậu Giang được khép lại bằng
“bóng má”: “Nước non muôn quý ngàn yêu/ Còn in bóng má sớm chiều Hậu Giang”.
Trong bài Lên Tây Bắc có cái bóng rất kỳ vĩ của anh Vệ quốc quân: “Rất đẹp hình
anh lúc nắng chiều/ Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo”. Về lại quê mẹ Tơm, “bâng
khuâng chuyện cũ”, Tố Hữu không thể quên “Đêm đêm chó sủa… làng bên động/ Bóng
mẹ ngồi canh lẩn bóng cồn”, “Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non”… Ông xót xa “Ôi
bóng người xưa đã khuất rồi/ Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi”.
Gắn liền với “bóng” là “dấu”, “hình” và “dáng”. Văn nghệ hiện
thực xã hội chủ nghĩa trước năm 1975 ghi “dấu”, tạo “dáng”, tạo “hình” cho những
khái niệm rất trừu tượng như con người thời đại, Tổ quốc, quê hương. Nguyễn
Minh Châu viết Dấu chân người lính (1972), Thanh Hải viết Dấu võng Trường Sơn
(1977), Thanh Thảo viết Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Lê Anh Xuân viết Dáng đứng
Việt Nam” (1968). Đây là lời thơ và điệu nhạc tha thiết trong Dáng đứng Bến Tre
của Nguyễn Văn Tý: “Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió (…)/ Ơi, những
cây dừa để lại cho ta bóng quê/ Ơi, tóc ai dài để lại dáng đứng Bến Tre”. Thơ Tố
Hữu thường xuyên nói tới “bước đi”, “dáng đứng”: “Yêu biết mấy, những bước đi,
dáng đứng” (Mùa thu mới). Chế Lan Viên tạo ra tứ thơ nổi tiếng: Người đi tìm
hình của nước (1960): “Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước (…)/ Bác reo lên một
mình như nói cùng dân tộc:/ Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!/ Hình của Đảng lồng
trong hình của Nước”.
Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trước 1975 không thua hội
hoạ trong việc vẽ tranh. Nó cũng không chịu thua điêu khắc trong nghệ thuật tạc
tượng đài. Tượng đài là sự biểu hiện rõ nhất của hình tượng thị giác. Ấn tượng
thị giác đầu tiên mà tượng đài để lại trong cái nhìn của người chiêm ngưỡng là
sự hoành tráng, uy nghi của các mảng khối. Chẳng hạn, trong thơ Tố Hữu có rất
nhiều tượng đài, tượng đài nào cũng lộng lẫy, uy nghi, hoành tráng: “Bác ngồi
đó, lớn mênh mông/ Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non (…)/ Bác Hồ đó, ung
dung châm lửa hút/ Trán mênh mông thanh thản một vùng trời” (Sáng tháng Năm);
“Mong manh áo vải, hồn muôn trượng/ Hơn tượng đồng phơi những lối mòn” (Bác
ơi!)…
Tượng đài còn để lại ấn tượng thị giác đậm nét trong cái nhìn
của người chiêm ngưỡng qua chất liệu vật chất bằng đá, đồng, kim loại quý gợi
lên sự bền bỉ, bất hoại, trường tồn của nó. Về phương diện này, tôi nghĩ, nghệ
thuật ngôn từ trước 1975 tỏ ra hơn hẳn nghệ thuật điêu khắc của dân tộc. Ta biết,
từ những năm 70 của thế kỉ 20 đổ về trước, những tượng đài điêu khắc đầu tiên
được sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như Nam Ngạn
chiến thắng ở Thanh Hóa, Du kích làng Nguyễn ở Thái Bình, Kép ở Bắc Giang, Chiến
thắng Sông Lô ở Phú Thọ, Chiến thắng Núi Thành ở Quảng Nam… đều được làm bằng
bê tông. Nhưng trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, mọi tượng
đài đều được dựng lên sừng sững như những thành đồng, vách sắt. Những ai từng đọc
Hòn Đất của Anh Đức hẳn không thể quên những dòng viết về mái tóc chị Sứ khi chị
bị thằng Xăm chém đầu bằng con dao Mỹ: “…Cả ba nhát dao đều chém không đứt đầu
chị. Thằng Xăm chùn tay, thở hồng hộc. Hắn liếc nhìn lưỡi dao, ngờ vực. Nhưng
đây nào phải vì lưỡi dao Mỹ không bén! Đây tại bởi tóc chị Sứ dày quá. Đây
chính bởi lưỡi dao chạm phải một suối tóc tốt tươi nhất, suối tóc của hai mươi
bảy tuổi đời con gái, vừa mượt vừa dày, gồm muôn ngàn sợi bền chặt rủ từ đỉnh đầu
bất khuất đó rủ chấm xuống sát đôi gót chân bất khuất đó”. Và đây là tượng đài
người chiến sĩ Giải phóng quân trong thơ Lê Anh Xuân: “Anh tên gì hỡi Anh yêu
quý/ Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng/ Như đôi dép dưới chân anh giẫm
lên bao xác Mĩ/ Mà vẫn một màu bình dị sáng trong” (Dáng đứng Việt Nam).
Đọc thơ Tố Hữu ta sẽ thấy ông là nghệ sĩ bậc thầy của nghệ
thuật khắc hoạ chân dung theo nguyên tắc tạc tượng đài. Hãy xem Tố Hữu tạo
không gian và sử dụng nhạc điệu, hình ảnh tài tình thế nào để tạc tượng đài “chị
lao công”: “Những đêm đông/ Khi cơn giông/ Vừa tắt/ Tôi đứng trông/ Trên đường
lạnh ngắt/ Chị lao công/ Như sắt/ Như đồng/ Chị lao công/ Đêm đông/ Quét rác”
(Tiếng chổi tre). Nhà thơ này không chỉ dùng “sắt”, “đồng” truyền thống mà còn
lấy cả “mây”, “suối”, “giông”, “chớp lửa”… làm chất liệu tạc tượng đài. Đây là
tượng đài chị Trần Thị Lý - “người con gái Việt Nam”: “Em là ai? Cô gái hay
nàng tiên/ Em có tuổi hay không có tuổi/ Mái tóc em đây, hay là mây là suối/
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông/ Thịt da em hay là sắt là đồng?” (Người
con gái Việt Nam). Và đây là tượng đài “Đảng ta”: “Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt/
Đảng ta đây, xương sắt da đồng” (Ba mươi năm đời ta có Đảng).
Có một đặc điểm tối quan trọng: trong văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa trước 1975, tranh vẽ, tượng đài bao giờ cũng tạo nghĩa theo các “vai”
cổ mẫu có gốc gác từ huyền thoại. Vai cổ mẫu vừa là hạt nhân đồng nhất ngữ
nghĩa trong tạo hình, vừa thể hiện nguyên tắc cấu trúc của chỉnh thể văn bản.
Vì thế, trường nghĩa của mỗi hình tượng, cũng như của toàn văn bản, luôn luôn bị
cột chặt vào hệ thống vai cổ mẫu huyền thoại. Chẳng hạn, ứng với trật tự trong
không gian nhà binh, tượng đài nhân vật trong thơ Tố Hữu sẽ được phân thành vai
“ta” và vai “địch”: “Thực dân địa chủ một bầy/ Chúng là thú vật, ta đây là người”
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta). “Ta” thì “Mỗi con người nhấp nhánh một ngôi sao”
(Với Lênin); “địch” thì “Mắt mèo hoang, mũi chó, râu dê” (Bà má Hậu Giang). Hoặc,
ứng với tôn ti trong không gian dòng tộc, tượng đài nhân vật “chúng ta” lại được
Tố Hữu phân thành các vai “Cha”, “Mẹ” và “Chúng con”. “Cha” là lãnh tụ: “Bác Hồ,
cha của chúng con” (Sáng tháng Năm). “Vai” của “Cha” là soi đường dẫn lối: “Người
ngồi đó với cây chì đỏ/ Vạch đường đi, từng bước, từng giờ” (Sáng tháng Năm).
Phẩm chất lớn nhất của “Cha” - người “vạch đường đi” - là anh minh: “Người
trông gió bỏ buồm, chọn lúc/ Nước cờ hay xoay vạn kiêu binh” (Theo chân Bác),
hoặc “Lênin nằm nhắm mắt (…)/ Để thấy trước những bước đi lịch sử” (Trước Krem-lin).
Sứ mệnh “vạch đường đi” và phẩm chất anh minh của “Cha” bao giờ cũng được mã
hóa bằng các chi tiết tạo hình: tư thế ung dung, trán rộng, mắt sáng, giọng nói
vang vọng… Đây là nét tạo hình chân dung Lênin: “Mái tóc giả che vầng trán rộng/
Như bóng mây giấu ánh mặt trời” (Lều cỏ Lênin). Đây là nét tạo hình chân dung
Bác Hồ: “Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút/ Trán mênh mông thanh thản một vùng
trời/ Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười” (Sáng tháng Năm); “Nhớ Người những
sáng tinh sương/ Ung dung yên ngựa trên đường suối reo” (Việt Bắc)...
“Mẹ” là Tổ quốc, là đất nước. “Vai” của “Mẹ” là đùm bọc, chở
che, nuôi dưỡng: “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con” (Trần Đăng Khoa, Mẹ ốm);
“Buồng mẹ - buồng tim - giấu chúng con” (Tố Hữu, Mẹ Tơm); “Cho con nào áo nào
quà/ Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi” (Tố Hữu, Bầm ơi)… “Mẹ” gắn liền với
hình ảnh gốc lúa, bờ tre, nương dâu, bãi mía. Phẩm chất của “Mẹ” là phẩm chất của
đất nước, quê hương: lam lũ, nghèo cực mà tảo tần, son sắt thủy chung: “Sống
trong cát chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời!” (Tố Hữu, Mẹ
Tơm). Phẩm chất và “vai” của “Mẹ” thường được tô đậm bằng hai chi tiết tạo
hình: vóc gầy và áo bạc, ví như: “Mẹ ta không có yếm đào/ Nón mê thay nón quai
thao đội đầu/ Rối ren tay bí tay bầu/ Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa” (Nguyễn
Duy, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa).
“Chúng con” là “chiến sĩ đồng bào”, vây quanh “Cha” và “Mẹ”.
Thử lấy bài thơ Sáng tháng Năm của Tố Hữu làm ngữ liệu. “Vai” của “Chúng con”
là “chiến đấu hi sinh” (“Chúng con chiến đấu hi sinh/ Tấm lòng son sắt, đinh
ninh lời thề”), phẩm chất cơ bản của chúng con là anh hùng. “Vai” và phẩm chất
đó của “Chúng con” được tạo hình bằng những chi tiết hành động. Các anh du kích
thì “Nửa đêm bôn tập diệt đồn”; các chiến sĩ nông thôn thì “Bắt sỏi đá phải
thành sắn gạo”; các anh thợ thì má “vàng thuốc pháo”, cánh tay “đầy sẹo lửa
gang”; những em nhỏ thì “đốt đuốc đến trường làng”; những chị dân công thì “mòn
đêm vận tải”… Đây là hệ thống nhân vật hành động chủ chốt tạo nên nội dung trần
thuật trong hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh và văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa trước 1975 ở Việt Nam.
Lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa đề cao nguyên tắc mô tả hiện
thực chân thực, cụ thể - lịch sử trong tiến trình vận động cách mạng. Nhưng thực
tiễn chứng tỏ, trước năm 1975, phê bình bao giờ cũng lấy bốn “vai” tượng đài:
Cha anh minh, Mẹ Tổ quốc, Chúng con anh hùng và Kẻ thù bầy thú dữ làm chuẩn mực
để đánh giá mức độ chân thực của hình tượng nghệ thuật. Cho nên, ta không ngạc
nhiên khi có ý kiến phê phán Nguyễn Đình Thi vì trong Vỡ bờ, nhà văn đã để Phượng,
một cô gái lãng mạn, con nhà tư sản, ngồi may cờ cách mạng. Ta cũng hiểu vì
sao, kể từ bài Sáng tháng Năm (1952) về sau, hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu
có sự điều chỉnh rất đáng kể so với hình tượng lãnh tụ trong bài Hồ Chí Minh
(1946). Trong bài Hồ Chí Minh, Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh/ Người lính già” (…)/
Làm tên quân cảm tử đi tiên phong (…)/ Cờ đã phất, phải gương cao, quyết tiến!
Người xông lên” (…)/ Tiếng Người thét/ Mau lên gươm lắp súng!”. Chi tiết nào
trong bài thơ cũng gợi ra hình ảnh một nhân vật hành động, anh hùng quả cảm, mà
hình ảnh này chỉ hợp với vai “Chúng con chiến đấu hi sinh”, không hợp với vai
lãnh tụ. Tức là ở đây có sự “lạc vai”. Từ bài Sáng tháng Năm trở đi, Bác Hồ
trong thơ Tố Hữu “…là Cha, là Bác, là Anh/ Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”,
không còn là “Người lính già” nữa. Bác không “thét” bằng giọng như “sấm trên
cao”, mà tâm tình thủ thỉ: “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng
tiếng, ấm vào lòng mong ước...”. Tố Hữu đã “chỉnh sửa” hình tượng Bác Hồ sao
cho thật tương thích với “vai” lãnh tụ.
Cho nên, diễn đạt theo cách của Nguyễn Tuân, trước 1975, do
quy định của bối cảnh lịch sử - xã hội, văn học phải tạc tượng đài, vẽ tranh, vẽ
áp-phích “đòi tuyên truyền bằng được” cho “phong cảnh bao la một màu lãng mạn
xã hội chủ nghĩa”, nên có thể nói, giới cầm bút đã mở ra một xu hướng nghệ thuật
kiểu mới. Tôi gọi đó là chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học.
1. Tất cả các chỗ in nghiêng trong bài viết (trừ tên tác phẩm)
đều là do Lã Nguyên chủ ý nhấn mạnh.
2. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới,
Hà Nội, 1987, tr. 256-257.
Lã Nguyên






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét